• Dương Viết Điền,  Văn Thơ

    KÝ SỰ CỦA NV DƯƠNG VIẾT ĐIỀN

    Ký Sự Du Lịch Pháp Quốc

    “…Mà thật thế, đứng ở tầng thứ hai của tháp Eiffel nhìn xuống, chúng tôi thấy toàn cảnh của thành phố Paris đẹp tuyệt trần! Xa xa, Điện Versailles, Bảo tàng viện Louvre, Điện Champs Elysees như nổi bật một góc trời. Đẹp nhất và nên thơ nhất là dòng sông Seine chảy qua thành phố Paris đang uốn khúc giữa nắng chiều. Bởi mùa thu đang về trên nước Pháp, vì trời thu đang ngự trị giữa thành phố Paris nên lá vàng từ trên một số cây dọc hai bên bờ sông Seine đang bay nhè nhẹ rồi từ từ rơi xuống dòng sông. Nhìn dòng sông Seine đang uốn khúc giữa nắng chiều thu, nhìn lá vàng bay là đà rồi rơi trên dòng nước biếc, lòng tôi bỗng xúc động đến ngậm ngùi, rồi bâng khuâng nhớ đến những thi nhân của nước Pháp cứ mỗi độ thu về đã từng dệt nên những vần thơ thật lãng mạn, đa tình, thật nghẹn ngào, nuối tiếc! Một Guillaume Apollinaire với L’Adieu thật nức nở sầu thương, một Alphonse de Lamartine với Le Lac thật hoang vắng đơn côi, một Paul Verlaine với Chansons D’automne thật ê chề đau đớn, đầy ắp những kỷ niệm nghẹn ngào! Bất giác tôi ngâm bài thơ Chansons D’automne của Paul Verlaine khi thấy nắng chiều đang trải dài trên dòng sông Seine tuyệt đẹp:

    Les sanglots longs

    Des violons

    De l’automne

    Blessent mon coeur

    D’une langueur monotone

    Tout suffocant

    Et blême, quand

    Sonne l’heures

    Je me souviens

    Des jours anciens

    Et je pleure

    Et je m’en vais

    Au vent mauvais

    Qui m’emporte

     Deçà delà

    Pareil à la

    Feuille morte

    “Tiếng đàn ai đó lê thê 

    Vĩ  cầm réo rắt ê chề lòng đau

    Bơ vơ chuông đổ đồng hồ

    Lòng như héo hắt thu tàn năm xưa

    Bao kỷ niệm, theo gió đưa

    Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót xa

    Bao năm lữ thứ xa nhà

    Giang hồ phiêu bạt lá vàng tả tơi…” (Lãng Du dịch)

    Bỗng tiếng bà xã tôi thúc giục bên cạnh làm tôi trở về với thực tại:

    – Anh, chuẩn bị mà xuống kẻo ông trưởng đoàn du lịch và anh em du khách chờ.

    Đáng lẽ chúng tôi định mua vé để lên tầng cao nhất của tháp Eiffel nhìn tiếp, nhưng vì thời gian của ông trưởng đoàn cho quá eo hẹp nên vợ chồng tôi đành phải từ giả tháp Eiffel. Nếu là thanh niên, tôi sẽ cầm tay bà xã tôi đi bộ từ từ theo những bậc thang từ tầng thứ hai của tháp Eiffel mà đi xuống, để vừa đi vừa nhìn chầm chậm quang cảnh thành phố Paris và dòng sông Seine cho thỏa thích một lần cuối; nhưng vì tuổi tác của chúng tôi cũng đã xế chiều, vã lại, tôi bị bệnh đau lưng đã mấy năm rồi nên đành phải tốc chiến tốc thắng đi theo thang máy để xuống cho kịp với đoàn du lịch đang đợi chờ dưới chân tháp Eiffel. Lúc đứng trên thang máy đang di chuyển xuống chân tháp, tất cả du khách đều reo hò lên như ngày hội vì chúng tôi cảm thấy quá thích thú khi thấy thành phố Paris và dòng sông Seine mỗi lúc một lớn dần, lớn dần, để rồi mấy phút sau xuất hiện trước mắt mọi người vì thang máy đã chạm mặt đất. Như giấc mơ của Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên, chúng tôi cũng vừa lạc vào một thế giới huyền ảo trên bầu trời của thành phố Paris thủ đô nước Pháp, khi đứng trên tháp Eiffel nhìn xuống dòng sông Seine đang uốn khúc giữa dòng đời.

    Để níu kéo thêm thời gian đong đầy kỷ niệm bên dòng sông Seine, tôi cầm tay bà xã tôi vừa đi vừa hát bản nhạc “Hoa thạch thảo” do Phạm Duy phổ nhạc theo ý bài thơ L’Adieu của Apollinaire ngày nào:

    Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo.

    Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi

    Mùa thu đã chết em nhớ cho, mùa thu đã chết em nhớ cho  

    ………………………………………………………….

    Bất giác, tôi ngâm mấy vần thơ trong bài L’Adieu của Apollinaire để giả từ mùa thu trên dòng sông Seine giữa thủ đô Paris:

    J’ai cueilli ce brin de bruyère

    L’automne est morte souviens-t’en

    Nous ne nous verrons plus sur terre

    Odeur du temps brin de bruyère

    Et souviens-toi que je t’attends.

    Tôi vừa đi vừa ngâm thơ nên khi đến gần xe buýt lúc nào cũng không biết. May nhờ bà xã tôi đi bên cạnh bảo lên xe buýt gấp tôi mới tỉnh táo và bước lên xe ngay.”

    Trích đoạn từ tác phẩm “Ký Sự Du Lịch Âu Châu Và Hạ Uy Di” của Dương viết Điền xuất bản năm 2009).

    Dương viết Điền
                 Thơ

    Vĩnh Biệt!

    Thôi thế thì thôi mình xa nhau

    Thương chi thêm khổ chuốc thêm sầu

    Nhạc tình réo rắt buồn vời vợi

    Vạn kiếp nghìn năm lỡ nhịp cầu!

    Thôi thế thì thôi mình xa nhau

    Khổ lụy từ đây đẫm lệ sầu

    Quằn quại bên dòng đời hiu quạnh

    Tiếc thương giờ đã lỡ chuyến tàu.

    Thôi thế thì thôi mình xa nhau

    Nắng sớm chiều mưa những nghẹn ngào

    Có nhớ nhau thì hôn trong gió

    Cho tình ngang trái bớt sầu đau.

    Thôi thế thì thôi mình xa nhau

    Vĩnh biệt từ đây nắng qua cầu

    Đớn đau đau đớn tình hai đứa

    Nức nở nghìn năm giọt lệ sầu.

    Tháng 07,1997.

    Hạ Ái Khanh

    (Trích từ thi phẩm Nghẹn Ngào xuất bản năm 2000)

    Farewell!

    Well! My sweetheart, we two parted!

    Love was miserable and broken-hearted

    Love music was shrilled sadly

    For one thousand years, it has been half-way already!

    Well! My sweetheart, we two parted!

    From now on, we have been so afflicted

    We have writhed by the side of deserted life

    Love and regret have got for nothing, right?

    Well! My sweetheart, we two parted!

    Morning sun and evening rain have made us heart-rending

    We would kiss in the wind if missing

    To make the sorrow of our illegimate love abated!

    Well! My sweetheart, we two parted!

    Farewll! From now on, the sun has passed by the bridge

    Our love has been suffering

    For one thousand years, we have shed tears in sorrowing!

    July 1997,

     By Duong viet Dien

    (Trích từ thi phẩm Speechless xuất bản năm 2000)

  • Cáo phó - Phân Ưu,  Khánh Lan,  Tin tức

    ĐÔI LỜI CẢM TẠ

    Mạnh Bổng & Khánh Lan chân thành cám ơn Quý Thầy Cô, Qúy Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị em và thân hữu đã gởi lời chia buồn đến tang gia của chúng tôi trong những ngày qua. Tang gia chúng tôi xin ghi nhớ mãi những lời chia sẻ thân tình ấy trong tâm khảm. Mạnh Bổng & Khánh Lan cũng xin cám ơn NV Việt Hải đã bỏ nhiều thời gian để đăng tải tin buồn và phân ưu trên facebook và các website. Đặc biệt cám ơn GS Phạm Thái đã thiết kế những poster cáo phó và phân ưu thật đẹp cho cố TS Việt Cường Lưu Tấn Lâm, thân phụ của Mạnh Bổng & Khánh Lan.

    NT VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM (1930-2022)

    Mạnh Bổng & Khánh Lan vô cùng cảm động và ghi nhận sự hiện diện của GS Dương Ngọc Sum, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, NV Nguyễn Quang và các anh chị em trong Liên Nhóm NVNT & TTG: Thanh Châu & Hoài Anh, Tuyết Nga, Thanh Hương, Thụy Lan, Hùng Ngọc, Ngọc Quỳnh, John Tạ, Minh Nguyễn, Henry Lương. Các anh chị cựu sinh viên của trường Đại Học Kinh Thương Minh Đức, Saigon: Các anh Nguyễn văn Viễn, Ninh Anh Nguyễn; Các chị: Tố Đoan Ngọc Phượng, Hoa Vinh. Các anh em & bạn hữu: Bá Thu & Ánh Tuyết, Hạnh Nguyễn, Vee Hương, Tú Anh, Mỹ Hạnh, Gia Quang, Rũng Trương & Ngoan Nguyễn, Tam Quang, Minh Tuấn & Ngọc Phượng, Chiêu & Ngọc, Thanh Toàn, Thành (con trai NS Dương Hồng Anh) trong ngày Lễ Cầu Siêu tại Chùa Phổ Đà. Đặc biệt cám ơn đến Cô Kiều Mỹ Duyên đã thông tin cáo phó trong chương trình Ana Real Estate của Cô trên đài Little Saigon TV.

    Trong lúc tang gia bối rối, nếu chúng tôi có điều gì sơ xuất xin Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu thông cảm và bỏ qua cho gia đình chúng tôi.

    Mạnh Bổng & Khánh Lan cùng tang gia kính chào.

    LƯU MẠNH BỔNG
    Tang Gia: Anthony, Alex, Thanh Lan, Stephen Chong, Thiên Kim, Khánh Lan,
    Tú Anh, Vee Hương, Mạnh Bổng, Tam Quang, Ngoan Nguyễn, Chiêu Lưu, Ngọc.

    LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN

    Mạnh Bổng, Khánh Lan, Thanh Châu, Hoài Anh.
    John Tạ, Khánh Lan, Ánh Tuyết, Bá Thu.
    Hùng Ngọc, Tuyết Nga, Khánh Lan, GS Dương Ngọc Sum
    Hạnh Nguyễn, Khánh Lan, GS Dương Ngọc Sum,
    NS Dương Hồng Anh, NV Nguyễn Quang
    Từ trái sang phải: NV Nguyễn Quang, Ngọc Quỳnh, John Tạ, GS Dương Ngọc Sum, Thanh Hương, Khánh Lan, Henry Lương, Minh Nguyễn, Hùng Ngọc.

    CỰU SINH VIÊN KINH THƯƠNG MINH ĐỨC, SAIGON

    Từ trái sang phải: Nguyễn Văn Viễn (K5), Tố Đoan (K2), (K4) Ngọc Phượng, Hoa Vinh, An Ninh.

    GIA ĐÌNH

    Từ trái sang phải: Gia Quang, Thanh Toàn, Ngoan Nguyễn, Rũng Trương,
     Stephen Chong, Thiên Kim, Mỹ Hạnh, Minh Tuấn, Ngọc Phượng.
  • Cáo phó - Phân Ưu,  Khánh Lan,  Tin tức,  Việt Hải

    VĨNH BIỆT NHÀ THƠ VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM

    NHÀ THƠ VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM (1930-2022)

    Vài hàng về nhà thơ Việt Cường-Lưu Tấn Lâm.

    Thi nhân Lưu Tấn Lâm lấy bút hiệu là Việt Cường, ông sinh năm 1930 tại làng Hương Cát, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Việt Nam. Ông sáng tác thơ từ thuở lên 10 và gồm nhiều thể loại thơ khác nhau như thơ lục bát, thơ thất ngôn bát cú, thơ tự do và Đường thi. Năm 1954, ông cùng vợ và các con di cư vào Nam, an cư lập nghiệp tại phố Hòa Hưng, Sài Gòn. Năm 1992, ông sang đoàn tụ tại miền Nam California và sống cùng với vợ chồng người con trai lớn là Lưu Mạnh Bổng.

    Ông là em trai út trong gia đình có năm chị em, với bốn người chị lớn. Mẹ ông mất sớm từ khi ông mới bốn tháng tuổi và vợ ông mất năm bà 49 tuổi khi ông ở tuổi 53. Chính vì vậy mà trong thơ của ông luôn phần nào phảng phất sự mất mát và hình bóng của người mẹ với sự khao khát tình mẫu tử và nỗi lòng thương tiếc người vợ hồng nhan bạc phận… Thi nhân có 8 người con và 22 đứa cháu nội & ngoại.

    Ngày 26 tháng 01, 2022, thi nhân qua đời trong giấc ngủ an bình lúc 1:50 chiều trên tay người con trai trưởng Mạnh Bổng và sự hiện diện của con dâu Khánh Lan, khiến người viết chạnh nhớ đến một bài thơ ông sáng tác năm 1988 với tựa đề “CHẾT” trích trong Tuyển tập 30 Nhà thơ Việt Nam, do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian ấn hành được cho là bài thơ định mệnh của Nhà thơ Việt Cường-Lưu Tấn Lâm.

    CHẾT

    Xuôi tay nhắm mắt thế là thôi

    Danh trả non sông, lợi trả đời

    Thân thể chẳng còn vương tục lụy

    Tâm hồn chắc hẳn thoát trần ai

    Không gian vơi dịu không yêu ghét

    Chẳng nợ nần chi, chẳng khóc cười

    May, rủi, hơn, thua không dại hết

    Thiền quang phó mặc tháng ngày trôi.
    (Tháng Năm, 1988)

    Thi nhân tưởng nhớ đến người vợ bạc mệnh qua bài thơ “Tấm Ảnh”.

    NGƯỞI VỢ NĂM NAO

    TẤM ẢNH

    Vẫn là tấm ảnh năm nào

    Quê hương hai chữ nói sao nên lời

    Gần thì gang tấc đó thôi

    Quan san cách trở phương trời xa xăm

    Mẹ hiền nay đã biệt tăm

    Ánh tà dương mãi chiếu nhằm trước sân

    Chậu hoa đó phong trần mấy độ

    Cụm phong lan dãi gió dầm mưa

    Ra đi để lại vần thơ

    Bao nhiêu năm trước bây giờ còn đây.

    NT VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM & CÁC CON

    Trong những ngày xa vắng các con (1975-1992) thi nhân ở lại Việt Nam khi các con đã vượt biên và định cư tại Hoa Kỳ, trong nỗi thương nhớ các con ông đã sáng tác nhiều bài thơ, bài “Nhớ Con” là một trong số ấy. Đây là bài thơ ông viết ngày mùng sáu Tết 1983, viết cho Mạnh Bổng khi con trai đi di tản tháng Tư 1975.

    NHỚ CON

    Gửi trong câu hát tiếng đàn

    Nỗi tâm tư với muôn vàn nhớ mong

    Chiều chiều tựa cửa ngóng trông

    Chim trời cá nước trăng lồng bóng sân

    Trăng ơi trăng sáng vô ngần

    Nhớ con nhớ cả dấu chân hôm nào

    Bạn cố tri ơi! hỡi con ơi!

    Ra đi chẳng được một lời hỏi han

    Ngồi đây nước mắt chứa chan

    Thương mình thì một, thương con thì mười

    Thôi thế cũng xong một kiếp người, Việt Hải thay mặt toàn thể các thành viên trong Liên nhóm NVNT & TTG, nguyện cầu hương linh bác sớm an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.

    Việt Hải, California Jan. 28, 2022

    LÁ THƯ CẢM TẠ TỪ MẠNH BỔNG & KHÁNH LAN  

    Kính Thưa Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu,

    Chúng em, Mạnh Bổng & Khánh Lan vô cùng cảm động và chân thành cám ơn Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh chị Em và Thân Hữu đã gởi lời chia buồn cũng như gọi phone cho chúng em để chia sẻ với chúng em về sự mất mát lớn lao trong gia đình. Thân phụ chúng em, tức nhà thơ Việt Cường Lưu Tấn Lâm đã ra đi trong an bình thanh thản trên tay của anh Mạnh Bổng lúc 1:50 chiều ngày 26 tháng 01, 2022. Nhà thơ Việt Cường đã chung sống với chúng em gần 20 năm nay, Cụ rất khỏe mạnh và không hề có bệnh gì cho đến khoảng một năm nay, sức khỏe của Cụ yếu dần nhất là một tháng trước khi mất.

    Những lời chia buồn, những điện thoại gọi đến chia sẻ thân tình của Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh chị Em và Thân Hữu là nguồn an ủi tinh thần sâu đậm đối với gia đình chúng em mà chúng em sẽ luôn ghi nhớ mãi trong ký ức.

    Christmas 2021 là bữa tiệc cuối cùng Nhà thơ Việt Cường đến chung vui cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Có lẽ đây cũng là lời từ biệt của Nhà thơ Việt Cường gởi gấm đến tất cả chúng ta bởi khi còn sinh tiền, Cụ rất yêu mến Liên Nhóm và nhắc đến chúng ta luôn.

    Mạnh Bổng & Khánh Lan xin gởi đến Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu tấm hình sau cùng nhà thơ Việt Cường chụp trong bữa tiệc Christmas 2021 của Liên Nhóm.

    NVNT & TTG’S CHRISTMAS PARTY 12/12/2021 (Khánh Lan, Mạnh Bổng, NT Việt Cường)

    Trong ba ngày qua đã có rất nhiều email gởi đến, thông báo trên TV, Radio, Báo chí và điện thoại từ mọi nơi gọi chia buồn cũng như Cô Kiều Mỹ Duyên đã cho phát thanh trên đài Little Saigon TV. Tất cả lời phân ưu thân tình của quý GS, quý Văn Thi Sĩ, các anh chị em và thân hữu đều quý và quan trọng đối với Mạnh Bổng & Khánh Lan, MB & KL xin khắc ghi vào tâm khảm. Tuy nhiên, nếu ghi nhận hết tất cả các email phân ưu vào trang Website này thì không đủ chỗ, vì thế Mạnh Bổng & Khánh Lan chỉ xin chia sẻ và ghi lại đây hai bài thơ “tiễn đưa” vô cùng cảm động, chắc hằn lời và ý thơ trong hai bài này sẽ làm rơi lệ những người con vừa tiễn bước chân CHA hoặc MẸ về nơi an nghỉ ngàn thu.

    Mạnh Bổng & Khánh Lan xin cám ơn đến những thân tình của bạn bè & thân hữu đã dành cho gia đình chúng tôi.

    NV Việt Hải là bạn đồng môn với Mạnh Bổng tại trường Đại Học Kinh Thương Minh Đức, Saigon từ năm 1972-1975 và họ giữ mãi tình bạn cho đến nay, thấm thoát đã 50 năm qua (1972-2022). NV Việt Hải rất mến NT Việt Cường bởi nụ cười hiền hòa, thân thiện luôn nở trên môi, bởi những dòng thơ “Có hồn” chứa chất vị ngọt ngào, tha thiết của yêu thương. Phải nói họ rất hợp nhau về lãnh vực thơ phú. NV Việt Hải đã nhiều lần trao đổi về ý thơ với NT Việt Cường và ông cho rằng: “Áng thơ của thi sĩ Việt Cường rất có ý nghĩa.”

    Dưới đây là hai bài thơ TIỄN BIỆT BÁC VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM/TIỄN BÁC VIỆT CƯỜNGcủa NV Việt Hải:

    TIỄN BIỆT BÁC VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM

    Tiễn chân từ giả vạn sầu

    Biệt ly xa cách nhớ nhau nghìn trùng

    Bác đi thanh thản ung dung

    Việt Nam quê mẹ trùng phùng kiếp sau

    Cường nhân thi phú thuở nào

    Lưu danh chữ nghĩa thơ trao thi tài

    Tấn Lâm, kính bác chia tay

    Lâm danh thi sĩ hôm nay giã từ!

    TIỄN BÁC VIỆT CƯỜNG

    Tiễn Bác quá cửu thập niên qua

    Luật trời sinh ký tử quy gia

    Âm dương cách biệt nay giã từ

    Một kiếp vui buồn chỉ sát na

    Sinh bệnh lão tử thiên thu định

    Nghiệp duyên ba sinh kiếp gần xa

    Đời vô thường phù vân phiêu lãng

    Khấn nguyện bác khỏi chốn ta bà.

    Việt Hải, California Jan. 28, 2022

    Nhà thơ Việt Cường thứ #2 hàng ngồi bên phải (đội mũ nồi/béret casquette plate), giữa Lưu Mạnh Bổng và Trần Việt Hải.

    NT Tha Nhân đã họa bài thơ “VÔ THƯỜNG AI BIẾT” để tiễn đưa Hương Hồn thi nhân về cõi vĩnh hằng.

                  Kính Gởi Thi Nhân Việt Cường Hưởng Đại Thọ 92 Tuổi

    Trước nỗi mất mát to lớn này của KHÁNH LAN và Phu Quân Lưu Mạnh Bổng. Tha Nhân thành thật chia buồn với gia đình hai em cùng tang quyến. Nguyện cầu Hương Linh cụ Ông Việt Cường LƯU TẤN LÂM sớm về cõi vĩnh hằng.

    Trong phần Tiểu Sử của cụ ông nhà thơ VIỆT CƯỜNG, có bài thơ thất ngôn Đường luật ’Ngày Xuân Khai Bút’’, Tha Nhân rất thích vì đã có những đồng cảm nên không thể không họa.Bởi vậy Tha Nhân có bài họa sau đây, như một nén tâm nhang đưa tiễn Hương Hồn Cụ VIỆT CƯỜNG về cõi vĩnh hằng:

    Bài xướng:

    NGÀY XUÂN KHAI BÚT

    Xuân về khai bút để mua vui

    Cũng chẳng ham khen, chẳng ngại cười

    Phú quý tặng riêng phường trắng mắt

    Uy quyền chớ để bọn thâm môi

    Ngựa cày không nhuyễn, trâu chê dở

    Trâu chạy chưa hay, ngựa bảo tồi

    Trái ngược chuyện đời xuân có biết?

    Xuân tô nhân thế bớt màu vôi

    (Việt Cường-Lưu Tấn Lâm)

    Bài họa:

    VÔ THƯỜNG AI BIẾT!!

    Đôi chữ chào Xuân chúc cứ vui

    Nghe qua bỏ hết miệng mỉm cười!

    Công danh gió thoảng ngoài tầm mắt

    Phú quí mây bay thoáng nhếch môi

    Ghen ghét thói đời hay hóa dở

    Thị phi nhân thế giỏi thành tồi

    Vô thường cõi tạm nào ai biết

    Mọi chuyện đỏ đen chẳng khác vôi!!

    (Tha Nhân Kính phụng họa Cam thành Jan 27th, 2022)

    Một lần nữa Mạnh Bổng & Khánh Lan chân thành cám ơn Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu.

    Kính Quý,

    Mạnh Bổng & Khánh Lan

  • Khánh Lan,  Văn Thơ

    Nhà thơ Việt Cường-Lưu Tấn Lâm.

    NHÀ THƠ VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM

    Thi nhân Lưu Tấn Lâm lấy bút hiệu là Việt Cường, sinh năm 1930, ông được 90 tuổi, gốc người Nam Định. Năm 1954 di cư vào Nam, an cự tại phố Hòa Hưng, Sài Gòn. Sang Hoa Kỳ ông định cư tại miền Nam California.

    Ông sáng tác nhiều thơ, các loại thơ như thơ lục bát, thơ thất ngôn bát cú và thơ tự do. Trong tuyển tập này, Ban Biên Tập chọn đăng 8 bài thơ của thi nhân, gồm hai bài thơ xuân, một bài về Chùa Hương, một bài về Huế, một bài về Nhớ Con, một bài về Việt Nam Quê Hương Tôi, một bài về nhớ người phối ngẫu, và một bài về một mai khi ra đi.

    Vài hàng về tác giả Việt Cường-Lưu Tấn Lâm:
    Ông sinh năm 1930 tại làng Hương Cát, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Việt Nam. Ông là em trai út trong gia đình có bốn chị em, với ba người chị lớn. Mẹ mất sớm từ khi ông mới chín tháng tuổi, vợ ông mất năm bà mới 49 tuổi và ông 51 tuổi, nên trong thơ của ông có phản ảnh phần nào sự mất mát đó…
    Ông di cư vào miền Nam với gia đình năm 1954 sống ở Sài Gòn và sang định cư tại Mỹ năm 1992; ông hiện đang sống ở Anaheim, California.

    Ngày Xuân Khai Bút

    Xuân về khai bút để mua vui
    Cũng chẳng ham khen, chẳng ngại cười
    Phú quý tặng riêng phường trắng mắt
    Uy quyền chớ để bọn thâm môi
    Ngựa cày không nhuyễn, trâu chê dở
    Trâu chạy chưa hay, ngựa bảo tồi
    Trái ngược chuyện đời xuân có biết?
    Xuân tô nhân thế bớt màu vôi

    Việt Cường-Lưu Tấn Lâm.

    Thơ Xuân

    Xuân ở trong tôi của đất trời
    Xuân về ngàn vạn đóa hoa tươi
    Xuân trên đầu bút, trên trang giấy
    Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ rồi

    Việt Cường-Lưu Tấn Lâm.

    Đi Chùa Hương

    Mỗi lần về lại thủ đô
    Nhớ dòng sông Hát, nhớ chùa Hương Sơn
    Điệp trùng nước nước, non non
    Nhớ mơ bến đục, nhớ thôn chùa Trò
    Xa xa dăm bẩy cánh cò
    Trên sông qua lại con đò năm xưa
    Sống vui cứ tưởng trong mơ
    Hương Sơn quê mẹ bây giờ là đây
    Thoắt trông đã tới chùa ngoài
    Thiên Trù tên gọi, hỡi ai đợi chờ
    Xôn xao ta kéo lên bờ
    Nghỉ chân ta lại đi vào chùa Trong
    Nước mây hòa lẫn ráng hồng
    Non xanh nước biết cánh đồng trải xa
    Qua hang động lúc chiều tà
    Thần tiên mấy thủa cho ta ngắm nhìn
    Chẳng đi thì nhớ, thì thương
    Ra đi mến cảnh chùa Hương quên về
    Một là vui thú sơn khê
    Hai là đã trót lời thề với ai…?

    Việt Cường-Lưu Tấn Lâm

    Hà Nội xuân Bính Tý tháng Hai, 1996

    Huế Nhớ

    Đẹp thay chiếc nón bài thơ,
    Huế ơi soi bóng bên bờ sông Hương,
    Tháp cao Thiên Mụ ngân chuông,
    Đông Ba khói tỏa mờ sương bao chiều?
    Trường Tiền càng ngắm càng yêu,
    Một mình thầm lặng nhớ điều chi đây?
    Trăng lên nghiêng ngả hàng cây
    Ngự Bình cùng với vơi đầy thế nhân!
    Phương xa lữ khách dừng chân
    Bâng khuâng Huế mộng, nát lòng nhớ thương
    Bao Vinh, Thành Nội, Thọ Xương
    Khi xa mới thấy vấn vương Huế nhiều
    Đêm về Huế thật là yêu
    Giọng hò Vĩ Dạ mỹ miều không gian

    Việt Cường-Lưu Tấn Lâm
    Bài này đã được nữ nghệ sĩ Bích Thuận ngâm tại hội quán Tao Phùng
    buổi tối ngày 3 tháng 12 năm 1994.

    Việt Nam Quê Hương Tôi

    Quê tôi gạo trắng nước trong
    Quê tôi một khúc nhạc lòng thiên thu
    Từ khi tạo dựng cơ đồ
    Rừng vàng biển bạc đợi chờ cháu con
    Đất yêu đất nở hoa thơm
    Anh hùng hào kiệt nhiều hơn cây rừng
    Bốn ngàn năm, bao đoạn trường
    Một dân nhược tiểu, anh hùng năm châu
    Từ ngàn xưa đến ngàn sau
    Việt Nam mãi mãi đứng đầu nhân văn
    Tình đồng loại, chí quật cường
    Hai bà Trưng đã mở đường khai thông
    Tiếp theo Mai, Đinh, Lý, Trần
    Họ Lê, họ Nguyễn góp phần vinh quang
    Hưng Đạo trận Bạch Đằng giang
    Nhận chìm thuyền giặc, đầu hàng nước Nam
    Tự hào hai tiếng Việt Nam
    Máu đào xương trắng viết trang sử hùng

    Việt Cường-Lưu Tấn Lâm.

    Nhớ Người Khuất Bóng

    Người vợ tôi yêu khuất bóng rồi,
    Nay còn chỉ biết tiếc thương thôi!
    Đêm đêm đứng lặng nhìn chân ảnh
    Thương cảnh, thương mình, thương con côi…
    Đất nước ngày nay nối lại rồi
    Còn tôi với mợ lại chia đôi
    Ưu tư mợ gởi miền tiên cảnh
    Để lại đàn con phần cút côi
    Càng thương càng nhớ lúc gian lao!
    Biển bắc, rừng nam, nám má đào,
    Những tưởng nương nhau ngày đầu bạc,
    Ai hay đứt gánh giữa đèo cao!
    Còn một mình tôi giữa chợ trưa
    Hàng còn nhiều lắm khách đong đưa
    Đường chiều thương nỗi mình đơn lẻ!
    Lại ớn đêm về gió lạnh… mưa!

    Việt Cường-Lưu Tấn Lâm
    ngày 7 tháng 3 năm 1983.

    Chết

    Xuôi tay nhắm mắt thế là thôi
    Danh trả non sông, lợi trả đời
    Thân thể chẳng còn vương tục lụy
    Tâm hồn chắc hẳn thoát trần ai
    Không gian vơi dịu không yêu ghét
    Chẳng nợ nần chi, chẳng khóc cười
    May, rủi, hơn, thua không dại hết
    Thiền quang phó mặc tháng ngày trôi

    Việt Cường-Lưu Tấn Lâm
    Tháng Năm, 1988.

    Nhớ Con

    Gửi trong câu hát tiếng đàn
    Nỗi tâm tư với muôn vàn nhớ mong
    Chiều chiều tựa cửa ngóng trông
    Chim trời cá nước trăng lồng bóng sân
    Trăng ơi trăng sáng vô ngần
    Nhớ con nhớ cả dấu chân hôm nào
    Bạn cố tri ơi! hỡi con ơi!
    Ra đi chẳng được một lời hỏi han
    Ngồi đây nước mắt chứa chan
    Thương mình thì một, thương con thì mười

    Việt Cường-Lưu Tấn Lâm
    Mùng sáu tết 1983
    Con trai đi di tản tháng tư 1975.

    Tấm Ảnh

    Vẫn là tấm ảnh năm nào
    Quê hương hai chữ nói sao nên lời
    Gần thì gang tấc đó thôi
    Quan san cách trở phương trời xa xăm
    Mẹ hiền nay đã biệt tăm
    Ánh tà dương mãi chiếu nhằm trước sân
    Chậu hoa đó phong trần mấy độ
    Cụm phong lan dãi gió dầm mưa
    Ra đi để lại vần thơ
    Bao nhiêu năm trước bây giờ còn đây.

    Ước Gì Còn Mẹ

    Cuối đông trời lạnh se se
    Có đôi chim nhỏ nằm nghe chim về
    Ước gì cánh én chao đưa
    Để heo may báo giao thừa tới nơi
    Ước gì chiếc lá đừng rơi
    Lá rơi tôi nhớ tới người ngày xưa
    Ước gì nghe tiếng gà trưa
    Nằm đong đưa võng mẹ vừa hát con
    Mẹ như trăng sáng mùa thu
    Tay dìu con vướt sương mù ra khơi
    Mỗi lần vấp ngã trên đời
    Ước gì còn mẹ ôm tôi vào lòng
    Chim kêu ríu rít hoàng hôn
    Chim bay về tổ, tôi buồn cô đơn

    Việt Cường-Lưu Tấn Lâm
    1988

  • Khánh Lan,  Văn Thơ

    Bạn có tin vào “TIẾNG SÉT ÁI TÌNH” không?

    Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!

    Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều.

    Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,

    Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…

                                          (Thơ Xuân Diệu)

    Tiếng sét ái tình (Love at first sight) luôn được coi là một thứ cảm giác gì đó, rất khó để thốt lên thành lời và không dễ để giải thích. Dẫu vẫn biết rằng mỗi chúng ta, trong tình yêu đôi lứa, gặp được nhau đều có nguyên do, có khi là vì cơ duyên nào đó không hẹn mà gặp. Thậm trí, có người cho rằng đó là “duyên tiền định” hay “định mệnh đã an bài”. Phải chăng tình yêu là một cái gì huyền bí, nó để lại trong ký ức chúng ta những kỷ niệm vui buồn lẫn lộn mà chẳng thể phai nhòa theo năm tháng. Thế các bạn đã có bao giờ thực sự “Falling in Love” chưa? Hay chỉ là “cú sét ái tình” nhất thời? hoặc bi thảm hơn nữa, bạn có bao giờ rơi vào hoàn cảnh “Tình yêu đơn phương”?

    Trước hết, chúng ta cùng bàn luận về thế nào là “tiếng sét ái tình” nhé.

    Tiếng sét ái tình là tình yêu của từ cái nhìn đầu tiên với những cảm xúc đột xuất khiến bạn choáng váng như thể đang lạc vào cõi u mê. Bạn bị thu hút bởi cái vẻ đẹp thể hiện qua ánh mắt, nụ cười chẳng hạn như vẻ mặt liêu trai hay cái vẻ điển trai kiểu Alain Delon, Omar Sharif, v.v… Trong các cuốn tiểu thuyết tình cảm xã hội bình dân, bạn thường thấy tác giả dùng những từ ngữ như “tiếng sét ái tình“, hoặc “yêu từ cái nhìn đầu tiên” để tả về tình yêu trai gái. Chính vì vậy mà cho ngày nay, nhiều người vẫn lầm lẫn và tin vào chỉ có một loại tình yêu duy nhất mà người ta goi nôm na là “Cú sét ái tình”.

    “Yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên”, thoạt nghe bạn cảm thấy thật lãng mạn như trong movie, có nhiều đôi trai gái cho rằng ngay phút giây đầu gặp gỡ, họ đã biết rằng đó là người trong mộng, là “tiếng sét ái tình” và họ sẽ không thể sống được nếu thiếu người ấy. Một nghiên cứu của nhà khoa học Florian Zsok, thuộc Đại Học Zurich (Thụy Sĩ) thực hiện chung với Đại Học Groningen (Hà Lan) qua một cuộc thăm do ý kiến (survey). Kết quả cho thấy. 

    Trong số 396 người tham gia khảo sát, 60% là phụ nữ. Những câu hỏi trong bản khảo sát được người tham gia khảo sát trả lời về mối quan hệ yêu đương hiện tại và họ được cho xem một số hình ảnh của những đối tượng khác phái, chưa từng gặp mặt, để xem họ đánh giá sự hấp dẫn của họ thế nào, dựa theo 3 tiêu chuẩn: thích thú, cảm giác thân mật và cảm giác gắn kết. Quan trọng nhất là những người tham gia cuộc khảo sát phải xác định là họ có yêu đối tượng trong hình từ cái nhìn đầu tiên hay không? Và kết quả cho thấy, “tình yêu sét đánh” không có liên hệ với niềm đam mê hay cảm giác thân mật, mà chỉ đơn thuần là “cảm giác hấp dẫn giới tính”. Đó chỉ là sự hấp dẫn và đam mê lúc ban đầu và điều đặc biệt là “tình yêu sét đánh” này chỉ diễn ra từ một phía.

    Tuy nhiên, có nhiều người tham gia nghiên cứu đang có người yêu, họ cũng bày tỏ rằng bản thân đã yêu đối phương ngay từ lần gặp đầu tiên. Chính thế mà Florian Zsok cho rằng có thể “tình yêu sét đánh” (love at first sight) đã đặt nền tảng cho những mối quan hệ sâu đậm hơn sau đó của họ. Nói tóm lại, nền tảng cho một tình yêu lâu bền là sự thấu hiểu và cảm thông lẫn nhau, vì vậy để có được một tình yêu thực sự, hãy yêu thương và cùng sẻ chia nhiều hơn. Đó mới là nguyên tắc căn bản vững chắc cho hạnh phúc trọn đời.

    Vậy câu hỏi được đặt ra ở đây là “Tiếng sét ái tình” và “Khao khát ái tình” (Love at first sight / Lust at first sight).

    “Khao khát ái tình”làkhi bạn bị thu hút bởi cái vẻ đẹp lồ lộ thể hiện qua thể xác bên ngoài chẳng hạn như vẻ mặt khuyến rủ, thân hình hấp dẫn như Jennifer Lopez, Sophia Loren, v.v… ánh mắt đa tình như Clark Gable, Brad Pitt, v.v… chẳng hạn. Bạn bị khuyến rũ bởi cái nóng bỏng của thân xác, bạn như bị lôi cuốn vào mê hồn trận, bạn khao khát yêu đương và bạn lầm nghĩ đó là “Cú sét ái tình”. Nhưng bạn hỡi, dựa vào những nghiên cứu của các nhà tâm lý học Châu Âu thì tình yêu phát xuất từ cái nhìn đầu tiên của “Khao khát ái tình”, thực chất không hề tồn tại mà các nhà tâm lý học đã chứng minh được rằng: Nó chỉ đơn thuần là sự ham muốn của xác thịt, của tình dục mà thôi.

    Theo bác sĩ Jill Murray, bà viết trong quyển “BUT I LOVE HIM” thì “… tình yêu không phải là một sự cảm xúc mà chúng ta không thể kiểm soát được, tình yêu có sự lưạ chọn và làm gì có cái gọi là “Tiếng sét ái tình”, mà đó chỉ là sự khao khát ái tình của lúc ban đầu mà thôi …”  (No love at first sight but lust at first sight). Theo Murray thì hầu hết những mối quan hệ tình cảm giữa trai gái đều bắt đầu từ những loại tình yêu sau đây:

    1. Tình yêu cuồng dại và say đắm: (Infatuation Love):  Là một loại tình yêu trong đó biểu hiệu sự hứng thú, kích động và lãng mạn, đồng thời tạo ra những cảm xúc rất mãnh liệt, khiến hai người yêu nhau không muốn rời xa nhau, họ có thể nói chuyện hằng giờ bằng điện thoại, họ luôn mơ tưởng đến nhau và chỉ nuốn giữ độc quyền cho hết khoảng thời gian họ ở gần bên nhau.  Loại tình yêu này phải trở thành tình yêu tự nhiên (Nature Love) trong tương lai, thì sự quan hệ tình cảm trai gái mới tồn tại và bền vững được.
    • Tình Yêu Đam Mê: (Ađictive Love):  Trong quan hệ tình cảm này, cả trai lẫn gái tin tưởng rằng họ không thể nào sống xa nhau được, họ cảm thấy thất vọng và hoảng sợ nếu không được sống gần nhau.  Loại tình yêu này có thể đưa đến sự lạm dụng đáng lo ngại như:  Sự lạm dụng ma túy, đối xử tệ bạc với gia đình (thể xác và lời nói), có người trở thành kẻ lừa đảo, nói giối và có đời sống tình dục bừa bãi, liều mạng. Đối với các em còn nhỏ tuổi thì điểm học xuống thấp.  Những em gái thì có nguy cơ rất lớn là sẽ bị bạn trai ngược đãi về thể xác và tình dục.
    • Tình Yêu Tự Nhiên: (Nature Love):  Loại tình yêu này đặt nền tảng trên thực tế (Reality) và sự quan hệ tình cảm lành mạnh (Healthy relationship), trong đó cả hai người yêu nhau luôn luôn hỗ trợ, khuyến khích lẫn nhau, để cùng phát triển, trưởng thành và đi đến thành công.  Họ cùng hòa mình (hay riêng rẽ) để chung vui với bạn bè và tham gia những sinh hoạt xã hội.  Cả hai cùng cảm thấy yên tâm và tin tưởng lẫn nhau trong tình yêu đôi lứa, không có những hờn ghen vô cớ, không cần phải cố gắng trở thành hoàn hảo để lấy được sự chú ý của người yêu.  Cả hai cùng từ từ tìm hiểu lẫn nhau và không cần bào chữa cho những thói quên xấu của mình, cùng học hỏi và cùng nhau giải quyết những vấn đề nan giải để cùng đi đến một quyết định tốt đẹp.

    PHÂN LOẠI TÌNH YÊU

    1. Si tình, say mê: (Fantasy, passion, normal chemicals: hormones) Đó là một thứ tình yêu mà người ta sống trong ảo tưởng, đam mê và ước mơ được gặp một người bạn khác phái. Lý do chúng ta có những ước mơ đó là do sự hoạt động của một hợp chất trong cơ thể chúng ta gọi là “Học Môn”. (Hormones). Thí dụ: Con trai thường bị thu hút và say mê bởi vẻ đẹp của một cô gái với mái tóc óng mượt, lời nói dịu dàng, thân hình cân đối. Trong khi phái nữ thì say mê và si tình vì vẻ hào hoa phong nhã, giọng cười cởi mở yêu đời, ý tưởng hay, cách nói chuyện thu hút, và có chút hài hước của phái nam.

    Trong cuộc tình si mê này, cả hai người cứ muốn tạo cơ hội để gặp mặt hay gọi điện thoại cho nhau. Họ luôn luôn mơ tưởng tới nhau cả ngày (Day dreaming), họ thấy hồi hộp và hứng thú mà không thể diễn tả bằng lời nói được…chẳng hạn như thích bạn của cha mẹ, thày giáo, bạn học cũ, cô hàng xóm, v.v…

    • Sự hấp dẫn: Xẩy ra khi chúng ta để ý đến một người nào đó vì mái tóc, vóc dáng, cách ăn mặc, nụ cười và muốn dành đôi chút thời gian với người đó.

    Sự hấp dẫn này có thể đưa đến những đam mê mù quáng và có một sức mạnh đưa người ta đến quan hệ bồ bịch, lấy nhau, tình dục và có con với nhau.  Nó được coi là một món ăn khai vị của dục vọng.

    SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TÌNH YÊU VÀ TÌNH BẠN TRI KỶ

    1. Tình bạn bè:

    Sự hấp dẫn và thu hút xảy ra khi hai người bạn đồng hành hay hai người bạn có cùng một sở thích, tâm đầu ý hiệp về một bộ môn nào đó.  Thí dụ:  Computer games, thích đạp xe đạp (Ride a bike).  Và từ đó, phát triển một sự gắn bó và tin tưởng lẫn nhau.  Tình bạn này có thể kéo dài đến cả năm và có khi đến cả một cuộc đời.  Chúng ta có thể cho đây là:  Tình bạn tri kỷ.

    2. Tình yêu lãng mạn:

    Đó là một sự si tình, rung động từ con tim (heart of crushes), theo sau là những cảm giác hứng khởi (exciting feeling).  Tuy nhiên những rung động bất chợt này lại tàn phai rất mau chóng (quickly wear-off), làm cho người ta có khuynh hướng thường xuyên thay đổi người yêu.

    Tình yêu có sự cam kết, còn được gọi là tình yêu   vĩnh cửu.  Tình yêu này rất mạnh mẽ và bền bỉ (strong & enduring), trong đó có sự hy sinh, cho nhiều hơn là nhận, đến những người mà chúng ta yêu thương, mặc dù những vật cho đi rất là quan trọng đối với chúng ta.  Thí dụ:  Tình yêu của cha mẹ cho con cái.  Tình yêu của Thiên Chúa cho nhân loại.  Tình yêu vợ chồng.  Loại tình yêu này bao gồm sự chia sẻ giúp đỡ, thông cảm và hỗ trợ lẫn nhau, dù không nhận lại gì cả.  

    Nếu tình yêu có sự cam kết (Commitment love) mà cộng thêm tình bạn tri kỷ, đồng hành (Friendship love) hay tình yêu lãn mạng (Romantic love) thì sẽ trở thành một sự quan hệ thật là kỳ diệu.

    Khánh Lan

    California, New Year eve 2021

  • Sinh Hoạt,  Viet-Hải

    Tiệc Hội Ngộ Giáng Sinh 2021 Của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    Tiệc Giáng Sinh của Liên Nhóm NVNT & TTG tại nhà hàng Dianond Seafood Palace 3, ngày 12 tháng 12, năm 2021

    “Silent night” đã được dịch thành hàng trăm thứ tiếng và được cất lên hàng triệu triệu lần vào những dịp cuối năm. Bài hát này vang vọng từ những ngôi nhà thờ nhỏ bé ở Andes cho đến những thánh đường hoành tráng ở Antwerp hay La Mã. Ít ai biết được “Silent Night” lôi cuốn bao người có một nguồn gốc kỳ lạ… Câu chuyện bắt đầu từ 11-12-1792, tại Salzburg, Áo. Cậu bé Joseph Mohr sinh ra trong gia đình một thợ đan nghèo, cha bỏ đi. Đến ở với bà ngoại nghèo khổ túng thiếu, mỗi khi đói rét, Joseph thường lang thang đâu đó để quên đi. Chính những lần cuốc bộ đó đã làm thay đổi cuộc đời cậu và cả cách thức chào đón Noel trên thế giới. Một lần, Joseph ghé vào một nhà thờ trong làng và gặp ông Johann Hiernle, người chỉ huy dàn hợp xướng. Joseph bắt đầu tham gia sinh hoạt cộng đồng. Nhận thấy tài năng thơ ca, âm nhạc của Joseph, khi cậu đủ tuổi, Hiernle cho cậu vào học tại một trường ngữ văn nổi tiếng tại Kremsmnster. Rồi Joseph tốt nghiệp trường dòng, được phong linh mục khi vừa 23 tuổi. Về một nhà thờ ở miền núi xinh đẹp, Joseph sáng tác rất nhiều bài thơ. Xúc cảm từ một mùa Noel tuyết trắng phủ không khí yên ắng của đất trời trong một buổi sáng nọ.
    Joseph ngồi xuống chiếc bàn gỗ và viết một mạch bài thơ ngắn mang tên “Stille Nacht! Heilige Nacht!” (tiếng Anh có nghĩa là “Silent Night! Holy Night!”; tạm dịch “Đêm thinh không! Đêm linh thiêng!). Rồi Joseph chuyển đến nhà thờ Thánh Nicholas. Đêm trước Noel 1818, cây đàn dương cầm bị hỏng. Không thể để ngày Noel thiếu lễ nhạc, cha Joseph nảy ra ý định cho ca đoàn hát cùng với tiếng đệm guitar. Thời gian cấp bách, ông nhớ lại bài thơ ngắn “Stille Nacht! Heilige Nacht!” và đề nghị Franz Gruber (người chơi đàn cho nhà thờ) lo phần nhạc, Joseph đệm guitar và hát giọng nam cao, Franz hát giọng trầm và cứ sau mỗi đoạn thì ca đoàn của nhà thờ sẽ hòa chung phần điệp khúc. Vào gần nửa đêm, giáo dân trong vùng tưởng như thường lệ người chơi đàn đại phong cầm tấu lên những bài ca mừng Noel hùng tráng… Nhưng không, chỉ nghe thánh thót luyến láy tiếng đàn guitar nhẹ nhàng nâng giai điệu Silent Night phảng phất âm hưởng dân ca vùng nông thôn nước Áo chầm chậm lan tỏa ra trong tĩnh lặng thinh không của một thời khắc thiêng liêng…. 

    Một Noel thật đáng nhớ. Sau đó Joseph Mohr được thuyên chuyển đến nơi khác và trong suốt 7 năm sau đó Silent Night đã chẳng bao giờ được cất lên. Tình cờ một người thợ tên Karl Mauracher đến sửa đàn cho nhà thờ Thánh Nicholas. Sửa xong, Mauracher mời ông Gruber thử đàn. Khi Gruber lướt phím xướng cho đoạn nhạc mở đầu của Silent Night, Mauracher cảm ngay vẻ đẹp bài hát nên xin đem cả nhạc và lời của “Silent Night” về làng Kapfing. Hai gia đình ban nhạc nổi tiếng Rainers và Strassers được mời thưởng thức và liền bị cuốn hút, quyết định đưa bài hát mới vào các lễ hội âm nhạc mừng Noel. Sau đó nhà Strasser đã đưa Silent Night vòng quanh Bắc Âu. Đến năm 1834, họ biểu diễn cho Đức vua Frederick William đệ IV của nước Phổ, quá ấn tượng, vua truyền lệnh ca đoàn của cung đình phải xướng bài hát này vào mỗi dịp Noel. Gia đình Rainers thì lại sang Mỹ vào năm 1839 và đã biểu diễn Silent Night bằng tiếng Đức ngay tại Đài tưởng niệm Alexander Hamilton ở bên ngoài khuôn viên nhà thờ Trinity của New York. Năm 1863, Silent Night được Jane Campbell và John Young dịch sang tiếng Anh… Mỗi đêm Giáng sinh, giai điệu bài thánh ca kinh điển lại tạo nên những khoảnh khắc thiêng liêng, ấm áp, đưa con người xích lại gần nhau hơn. Đêm Giáng sinh năm 1818, giáo dân tại một ngôi làng nhỏ ở Oberndorf thuộc Áo kinh ngạc khi lần đầu tiên lắng nghe một ca khúc lạ lẫm, được trình bày với đàn guitar thay cho đàn organ như thường lệ. Họ không ngờ rằng gần 200 năm sau, ca khúc đó đã trở nên nổi tiếng khắp thế giới, được dịch ra ít nhất 140 thứ tiếng. Đó chính là khúc ca Silent Night kinh điển, được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại hồi tháng 3/2011.

    Hàng 1: Từ trái sang phảiÁnh Nhật, anh chị Hoài Phương, Tuyết Nga, Mạnh Bổng, Nina. Hàng 2: Từ trái sang phải: Tố Anh, Khánh Lan, Mai Hương, Thanh Châu.

    Sáng thứ hai ngủ nướng khét nghẹt, thức dậy trễ, bà chủ nhà, madam landlord đánh thức ăn cơm chiều 5PM, vì dêm hôm qua đi party Giáng sinh về nhà 12:30am, ngủ 5 giờ thôi, long thể như còn ngấy ngủ, ôi sao con bệnh ham vui nó bám hồn, nó hành hạ ta mãi oải tuổi già. Hình như niên kỷ ta sát mí cổ lai, đã ngữi mùi đất rồi…, Nghe như tri thiên mệnh thì cũng hơi hơi trừu tượng nhỉ, có lúc ta cười thi sĩ Việt Cường khi Mạnh Bổng đút chè cho bố Việt Cường 92 niên kỷ, Mạnh Bổng lau mồm cho Bố, Bố xơi chậm rãi trong tiếng nhạc techno chách chùm “I want to wish you a Merry Christmas, I want to wish you a Merry Christmas, I want to wish you a Merry Christmas, from the bottom of my heart…”. Chả bao lâu sau mama Ngọc Hà đút xmas cake cho bé Việt Hải, và mama Kiều My lau mồm babe của bé, bố Việt Cường 92 cười lại bé Vìệt Hải 69, Bố từng học trường tây tại Lycée Albert Sarraut; Hà Nội, bố Việt Cường bỏ nhỏ: “Tu n’es pas meilleur que moi, mon jeune ami, pas du tout, hihi… Riez des gens, ne riez pas longtemps, riez la veille, le lendemain, le lendemain !”, khiến bé VIệt Hải wê wá xá….hihi. Giời ơi “Cười người chớ vội cười lâu, cười người hôm trước hôm sau người cười.

    Mở dầu nhà văn Khánh Lan cũng đã lược sơ các hoạt động trong quá khứ 7 năm của liên nhóm như tổ chức các buổi ra mắt sách, những buổi chương trình âm nhạc, những hoạt sinh nội bộ liên nhóm. Ngoài phần tường trình sinh hoạt 7 năm là phần văn nghệ sinh động với những nhạc khúc mừng Giáng Sinh hợp ca và đơn ca do nhóm Tiếng Thời Gian và thân hữu cùng trình diễn. Phần dạ vũ vui tươi, sống động “leg exercise”,….

    Nhà Văn Việt Hải và Khánh Lan

    Trên sân khấu, emcee Bích Trâm intro chapeau bài ca: The Little Drummer Boy. “Một trong những ca khúc Giáng sinh kinh điển được mọi người yêu chuộng là bài Chú Bé Đánh Trống (The Little Drummer Boy), còn được biết đến với tên gọi “Carol of the Drum” được nữ nhạc sĩ Katherine K. Davis sáng tác vào năm 1941. Bài hát nổi tiếng không chỉ bởi giai điệu du dương trầm bổng mà còn vì ý nghĩa thâm sâu, thấm đẫm trong từng lời nhạc. Bài hát kể về câu chuyện của một cậu bé nghèo. Vào đêm Giáng sinh đầu tiên, khi ba nhà thông thái từ phương Đông đến mừng Chúa Jesus ra đời, họ gọi cậu theo. Các nhà thông thái kia ai cũng mang những món quà quý giá như trầm hương và vàng. Còn cậu chỉ là một đứa bé nghèo khó nên chẳng có gì để làm quà ngoài chiếc trống của mình. Sau khi được Mẹ Maria cho phép, cậu đã sử dụng chiếc trống của mình để tấu lên điệu nhạc trọng thể, làm quà kính dâng ngày Chúa giáng sinh. Tiếng trống của cậu, là bản nhạc cậu đã chơi với cả tấm lòng đơn sơ. Kỳ diệu thay, Chúa Jesus mặc dù chỉ vừa mới sinh ra, có vẻ như hiểu, ngừng khóc và mỉm cười với cậu bé đánh trống tỏ vẻ hài lòng. Câu chuyện cậu bé nghèo không có quà gì cho Chúa Jesus ngoài tấm lòng thành kính đã làm cho nhiều người cảm động và cảm thán. Đâu cứ phải có nhiều vàng bạc, của cải thì mới là quà cho Chúa, cũng chưa chắc Chúa đã mỉm cười và nhận những thứ đó. Chỉ cần một tấm lòng thành kính và một trái tim thuần khiết thôi cũng khiến Ngài mỉm cười rồi. Ca khúc được viết với giai điệu đơn giản nhưng vẫn quyện vào nhịp 4/4 với tiết tấu rộn ràng. Bài hát chỉ là một đoạn nhạc, câu nhạc lại ngắn gọn, nhưng được lặp đi lặp lại. Sau môi câu ngắn đều có tiếng “gõ” theo nhịp trống: Pa-rum-pum-pum-pum. Tuy đơn giản nhưng bài ca đã đi vào huyền thoại và được nhân loại biết đến như một lời cầu nguyện khi dịp Giáng sinh về.

    Từ trái sang phải: Lệ Hoa, Minh Thư, Thụy Lan

    Bộ ba Con Cá Vàng là mamas Ái Liên, Ngọc Quỳnh, Lâm Dung gõ trống mồm y chang như NS. Trần Quang Hải gõ muỗng mồm, 3 mamas đệm thêm trống soundtrack. Nghe nè nhé….
    “Come they told me, Pa rum pum pum pumA new born king to see, Pa rum pum pum pumOur finest gifts we bring, Pa rum pum pum pum
    To lay before the king, Pa rum pum pum pum,Rum pum pum pum, Rum pum pum pum
    So to honor him, Pa rum pum pum pumWhen we come, Pum pum pum pumPa rum pum pum, Pum pum pum pumPa rum pum pum, Pum pum pum pumPa rum pum pum, Pum pum pum pum pa rum
    Little baby, Pa rum pum pum pumI am a poor boy too, Pa rum pum pum pum….”
    GS. Sum qua sang tôi hỏi: ” Ai làm nhạc gì mà nghe “Pum pum pum pum Pa rum pum pum, Pum pum pum pum Pa rum pum pum, Pum pum pum pum Pa rum pum pum, Pum pum pum pum pa rum… hoài dzậy ? Uýnh trống mà hỏng thấy lân múa ông địa quạt gì hết trơn…!!!”Emcee Bích Trâm hồi đáp qua micro: “Thưa giáo sư: Pum pum pum pum Pa rum pum pum,… là bài hát do NS. Katherine Kennicott Davis năm 1941 khi em chưa thấy mặt trời ạ !”

    Ta nghe bộ ba Con Cá Vàng Ái Liên, Ngọc Quỳnh, Lâm Dung (The Gold Fish 3) cất giọng nhắc nhở không khí Noël về…Rồi sân khấu vang lên: “Mon histoire C’est l’histoire d’un amour Ma complainte C’est la plainte de deux cœurs Un roman comme tant d’autres Qui pourrait être le vôtre Gens d’ici ou bien d’ailleurs C’est la flamme Qui enflamme sans brûler C’est le rêve…” Người ta nhận ra đôi song ca như nhóm Brigitte duo (gồm 2 ca sĩ Sylvie Hoarau và Aurélie Saada) trong tình khúc Câu chuyện về một cuộc tìnhHistoire D’un Amour (Paroles Dalida) By Misso D’Egitto:Histoire D’un Amour (English Lyrics) By Misso D’Egitto

    Từ trái sang phải: GS Phạm Hồng Thái, GS Quyên Di, Nhà Văn Nguyễn Quang,
    Nhà văn Việt Hải, GS Dương Ngọc Sum

    Thầy Quang của MĐHT của tác phẩm Ốc Mượn Hồn (loại œuvres existentielles) nâng ly vang đỏ do ca sĩ Hùng Ngọc chôn ở sân sau nhà, 30 năm mới đào lên mừng Festive Xmas 2022. Emcee ThuỵVy đọc xướng âm brand name với chuẩn giọng accent italien: “Casanova di Neri Brunello di Montalcino Tenuta Nuova Casanova di Neri Brunello di Montalcino Tenuta Nuova 1992.da Montalcino, Toscana, Italia.”Kế đến Nhóm Ba Bà Sui (3 Mamas-in-law) nhún nhảy techno mừng giây phút Chúa Cha ra đời.
    “Mary’s boy child Jesus Christ was born on Christmas DayAnd man will live for evermore because of Christmas DayLong time ago in Bethlehem, so the Holy Bible saidMary’s boy child Jesus Christ was born on Christmas DayHark, now hear the angels sing, a king was born todayAnd man will live for evermore, because of Christmas DayMary’s boy child Jesus Christ was born on Christmas Day While shepherds watch their flocks by night They see a bright new shining star They hear a choir sing a song, the music seemed to come from afarHark, now hear the angels sing, a king was born todayAnd man will live for evermore, because of Christmas Day For a moment the world was aglow, all the bells rang outThere were tears of joy and laughter, people shouted”Let everyone know, there is hope for all to find peace”
    Oh my Lord You sent Your son to save us Oh my LordYour very self You gave usOh my Lord That sin may not enslave usAnd love may reign once moreOh my Lord When in the crib they found HimOh my Lord A golden halo crowned Him Oh my Lord They gathered all around HimTo see Him and adoreThis day will live forever…”

    Việt Hải, Dec. 2021

  • NV Nguyễn Quang,  Văn Thơ,  Việt Hải

    Nhà văn Nguyễn Quang

    Nhà Văn Nguyễn Quang

    “nhà văn Nguyễn Quang là một trí thức nhân bản và một đàn anh dễ thương, đúng là một gentleman Parisien hiếm có thời buổi này!”. Nhà văn Nguyễn Quang lớn lên ở vùng đất Sóc Trăng, thuộc đất Chân Lạp xa xưa. Sóc Trăng cũng như Bạc Liêu, Trà Vinh, Châu Đốc, Rạch Giá,… những nơi đươc thiên nhiên ưu đãi, nông ngư sản phì nhiêu và trù phú, bản chất.người dân thực thà, chất phác. 
    Trong tác phẩm Ông Giáo Làng, Nguyễn Quang mô tả những cánh đồng lúa vàng cò bay thẳng cánh, những buổi tát đìa, đi nơm cua cá tôm,… Đấy đời sống nơi thôn dã thư thái hình thành buổi thiếu thời của Nguyễn Quang. Rồi tác phẩm Ốc Mượn Hồn, Nguyễn Quang kể về giai đoạn xuất dương du học với khu La Tinh (Quartier Latin), xóm học Paris với ký túc xá kỷ niệm của nhiều sinh viên Đông Dương, Nhà Đông Nam Á (Maison de l’Asie du Sud-Est), mà trước đây là Nhà Đông Dương (Maison de l’Indochine), là một trong những nhà cổ nhất của Ký túc xá Quốc tế Paris, Cité International Universitaire de Paris (CIUP), Ký túc xá Quốc tế Paris, hay vẫn được sinh viên Việt mình gọi tắt là “Cité”, nằm trong quận 14, đối diện với công viên xinh đẹp Montsouris. Nguyễn Quang sang du học bên Anh, tai Đại học Cambridge. Âu châu sau đệ nhị thế chiến, phong trào existentialisme bùng phát ảnh hưởng dến sinh hoạt xã hội. Nguyễn Quang kể sinh hoạt sinh viên sống theo khuynh hướng tự do, gột bỏ nếp thủ cựu, bảo thủ. Ông là chứng nhân giai đoạn existentialisme lan tràn vào thơ văn nghệ thuật. 

    Đọc Nguyễn Quang chút gì đó của miệt lục tỉnh có Ông Giáo Làng, rồi bung ra văn học phương tây, nhuốm nét Guy de Maupassant, William Somerset Maugham, D.H. Lawrence, Gustave Flaubert, Françoise Sagan,… Thế hệ chúng ta phần đông đi hàng hai, văn xuôi kết cấu nội dung nửa âu nửa á. Nửa theo Tự Lực Văn Đoàn (gốc bự gia đình anh) và nửa phong thái theo nhóm Maugham-Maupassant, như ngày xưa tôi đọc Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam thuở trung học say mê, khi lên đại học đọc Guy de Maupassant, William Somerset Maugham, D.H. Lawrence, Mark Twain, Ernest Hemingway, Charles Dickens, Alexandre Dumas, Victor Hugo,… dù ở thư viện Centre Culturel Français Saïgon, Alliance Française de Saïgon, Hội Việt Mỹ hay tại các Campus Hoa Kỳ… lại mê say văn học xứ người. Như tương tự Nguyễn Quang tâm sự đi chơi với các bà đầm Paris hay Cambridge, nhưng rồi “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. I feel the same thing. Khi sang Mỹ quen đầm Mỹ vui vui, l’amour c’est pour rien, tình cho không biếu không. Nhưng rồi lại lưu luyến nét e ấp thẹn thùng của ao ta, sau cùng ao nhà vẫn hơn.

    http://www.ninh-hoa.com/VietHai-NguoiVoThuyChung.htm
    http://www.ninh-hoa.com/dacsan-2012/DS2012_VHai-MuaXuanAnhYeuEm.htm
    http://www.ninh-hoa.com/VietHai-BanTinhCaMuaXuan.htm
    http://www.ninh-hoa.com/VietHai-VanCuYeuEm.htm

    Nhà văn Nguyễn Quang được nhiều người quý mến vì bản tánh hiền hoà, khiêm nhường.và luôn sinh hoạt với Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Ông đỗ Cử nhân Toán ở đại học Paris, và Cao học Kinh tế tại Cambridge, làm phó chủ bút cho tờ Paris Match. Ông ghi tiểu sử trên sách vài dòng, không ghi bằng cấp, khác với một số ít người có thói quen selfie trọng bằng. Gia đình tôi họp mặt anh em tôi mời ông dự. Các em tôi quý ông, mời ông ăn lunch hay dinner. Ông sang năm mới được 91 tuổi. Mộng Thuỷ mở hàng buổi tiệc họp mặt mừng tuổi ông. Trong năm 2021, bạn bè Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian mừng sinh nhật ông đến những 4 lần, tư gia Khánh Lan mở party, bạn bè không quên ông. 
    Vâng, Nhà văn Nguyễn Quang được nhiều người quý mến vì bản chất xuề xòa, hiền hậu và luôn lo cho bạn bè.

    http://www.ninh-hoa.com/dacsan-2018/DS2018_VietHai-EmConNhoMuaXuan.htm
    Vậy Ngoại tình là gì ?

    Ngoại tình là sự kiện khi ta đề cập đến việc một người đã kết hôn có hành vi trao đổi va chạm thể xác hay có hành động dục tính với người khác không phải là người phối ngẫu của họ. Nhìn từ một khía cạnh khác, từ ngữ này có thể áp dụng cho một người độc thân có liên hệ tình dục với một người đã kết hôn.http://www.ninh-hoa.com/VietHai-TieuThuyetNgoaiTinh.htm

    Vì sao con người lại ngoại tình ?

    Có nhiều lý do như bị ép buộc, tự mạo hiểm, tìm vui, đổi chác, tham vọng (vì tiền bạc, quyền lực, cạm bẩy),… đa phần do ham muốn thể xác mà trong y học là do hormone kích dục điều tiết ra, theo cơ chế sinh học nẩy sinh tình yêu, hay do bản năng tự nhiên dục tính. Xét về những hoạt động của não người khi đang yêu và kết luận rằng có ba yếu tố khác nhau dành cho việc kết đôi và sinh sản. Như thế do 3 yếu tố chính là nỗi ham muốn, tình yêu lãng mạn và sự gắn bó lâu dài. Mỗi yếu tố trên đều có liên quan đến những hoạt động khác nhau của hormone, mà đấy chính là nguyên nhân tạo ra các thay đổi cụ thể trong hành vi lẫn cảm xúc của những người đang ham muốn. Khi nhìn vào tình yêu theo ba yếu tố chính này, ta có thể đoán biết được một người đang yêu ở giai đoạn nào, và đồng thời dễ hiểu các hành động của họ hơn. Ái tình ham muốn dục vong ở cơ thề sẽ tạo ra những kết quả do các hormone hay nhóm hóa chất cụ thể và quá trình vận hành của não trạng trong một số vùng nhất định. Thế nên tình yêu được sinh ra do sự kết hợp của các hóa chất có trong não bộ, bao gồm dopamine, oxytocin, testosterone, oestrogen và norepinephrine. Do đó khi con người ham muốn thì não bộ tiết ra một lượng lớn chất dopamine, norepinephrine, khiến đương sự có cảm giác như mình đang đắm say trạng thái ham muốn, khát khao. Điều tương tự cũng xảy ra ở những loài động vật khác có vú. Khi ham muốn, sự đòi hỏi dục tính khao khát sẽ trải qua những phản ứng hóa học làm gia tăng nhanh chóng của các chất dopamine và norepinephrine….

  • Ngọc Cường,  Văn Thơ,  Việt Hải

    Truyện Ngắn: Ba Chị Em và Hai Buổi Chia Tay Ở Gare Du Nord Của Ngọc Cường.

    Nhà Văn Ngọc Cường

    Duyệt qua tác phẩm mới Ba Chi Em Ngọc Cường đề cập về 2 cổ thụ văn học, một ngườ Anh, một Pháp, là Guy de Maupassant, William Somerset Maugham. Cả 2 nổi tiếng về lãnh vực truyện ngắn. Với William Somerset Maugham, khi tôi học lớp văn chương Anh tại đai hoc Cal State Northridge,  tôi đọc truyện Mưa (Rain), cùng những truyện ngắn của W.S. Maugham thu hút tôi vì truyện ông chất chứa đầy triết lý và tiêu biểu bởi cái kết thúc bất ngờ, hình như truyện nào cũng vậy. Về lịch sử văn học Anh, khoảng về cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tên tuổi Maugham thường được đặt bên cạnh những tên tuổi danh giá G. B. Shaw, J.Galsworthy, H.G. Wells, E.M. Forster, tức những tác giả cự phách trong dòng hiện thực phê phán. Bản thân Maugham lại rất nể phục Balzac, Tolstoy, Dostoievsky… và ông từng viết riêng một cuốn sách về các bậc thầy văn học này.

    Ngọc Cường nhắc cây cổ thụ Pháp Guy de Maupassant, tôi biết ông qua Une Vie, Bel Ami, Pierre et Jean, và Notre Coeur, thuở ở Alliance Française Saigon. Bạn bè trao đổi về sách ông. .Maupassant vốn là môn đệ của văn hào Gustave Flaubert cho nên Guy de Maupassant chịu nhiều ảnh hưởng sâu sắc của thầy mình về hai phương diện nghệ thuật và tư tưởng. Cũng từ các ảnh hưởng nghệ thuật của Flaubert, ông đã tiếp nhận tư duy khách quan hiện thực (pensée objective réaliste) và cung cách hành văn gọn gàng, nhưng trong sáng và sự tinh tế của bút pháp nghệ thuật mô tả nội dung truyện. Sở trường đặc biệt về truyện ngắn của Maupassant phải nói ông đã vững chãi khai thác từng khía cạnh cụ thể trong mỗi một thể loại truyện về nghệ thuật  trong những giới hạn số trang ông ấn định. Do vậy nên ông được xem là bậc thầy về truyện ngắn của thế giới.

    “Có thể quý độc giả cho chúng tôi là lẩm cẩm khi đặt ra câu chuyện vớ vẩn như trên. Sở dĩ câu hỏi được đặt ra với mục đích giới thiệu vấn đề chính của bài viết này: đó là lý do nào, khiến người ta ưa chuộng một sáng tác ? Trong cả ngàn văn nhân, thi  sĩ, biết chọn ai đây, đứng trước một vườn hoa, biết hái bông nào ? Do đó, vấn đề dựa vào tiêu chuẩn khách quan nào để có thể đánh giá ( phê bình) một tác phẩm?

    Trong cuốn Viết Và Đọc Tiểu Thuyết, Nhất-Linh đề nghị ra hai tiêu chuẩn: theo ông, một áng văn hay là qua được sự thử thách của không gian và thời gian. Nếu bất cứ ai, dù ở đâu và lúc nào đọc cũng thấy hay, tất là có gía trị lâu dài.  Sáng tác của Maugham rõ ràng đã qua 2 thử thách trên , bởi vậy, dù là người Việt, nhưng chúng tôi đã không ngần ngại chọn nhà văn người Anh này, sau khi đọc một cách thích thú một số lớn tác phẩm của ông. Văn của Maugham vừa mang tính lãng mạn và nhân hậu, vừa lôi cuốn người đọc, đưa độc giả về miền quá khứ xa xôi, và tạo cơ hội cho chúng ta lọt vào các nơi chốn xa lạ, từ Âu sang Á, y như đang sống thật trong câu chuyện của tác giả. Ông diễn tả sâu sắc tâm lý nhân vật, như hiểu thâm sâu  con người, câu chuyện sát với sự thật, như đưa người đọc đi lạc vào mê hồn trận của cuộc đời! Sống đến 91 tuổi, cuộc đời của tác giả cũng lâm ly và bi đát không kém…hơn nữa, ông có cả trăm tác phẩm xuất bản, sẽ giúp chúng tôi tiêu pha thời gian sống trên hoang đảo cô đơn ! Tuy nhiên, chúng tôi ngạc nhiên là ông không đoạt được giải Nobel về văn chương dù là một tác giả ăn khách nhất của Thế Kỷ XX? Có thể, giải thưởng đó không tương xứng với ông, và nếu được chọn, ông cũng sẽ khước từ, vì coi mọi giải thưởng là có ràng buộc, như J.P. Sartre đã làm năm 1964? Về lý do từ chối giải thưởng, Sartre nói “ một nhà văn không nên trở thành một định chế “. Tuy nhiên, có lời đồn đãi là: sau đó, Sartre muốn lãnh số tiền thưởng và bị Hội Đồng giải Nobel khước từ? Triết gia và nhà văn người Tây này có thể cao siêu về Triết Lý, nhưng lại ngây thơ về chính trị, đã tin tưởng vào sự tốt đẹp của chủ nghĩa Cộng Sản. Điển hình thuộc loại chính  trị gia salon,  Sartre thường la cà ở các quán cà-phê khu Montmartre ( với bà Simone de Beauvoir, một đồng chí, và có khi là tình nhân ), ngồi tán dóc chuyện triết lý, khạc ra những lời ca tụng chủ nghĩa Duy Vật, trong khi ( ngu si hay hèn nhát ) không lên tiếng bênh vực cho cả trăm ngàn tù nhân vô tội đang đói khổ trong các Trại tù Cộng Sản!

    Theo Maugham, một nhà văn cần vượt lên trên dư luận và viết đúng sự cảm nhận của mình ( độc lập và không chịu ảnh hưởng của bất cứ ai ) ?

    Không phải là một người đọc nhiều, và hiểu rộng, nhưng chúng tôi cũng xin mạo muội có nhận xét: ảnh hưởng của Maugham vượt ra ngoài nước Anh, lan tràn khắp thế giới, như văn chương là ngôn ngữ chung của loài người. Chính cả các nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn của chúng ta cũng đã chịu ảnh hưởng của Maugham (và thêm Guy de Maupassant, một tác giả người Pháp 1850-1893). Chẳng thế, có sự tương đồng rất đậm nét giữa cuốn Đời Mưa Gió của Nhất-Linh viết chung với Khái-Hưng và  Of Human Bondage của Maugham… và trong nhiều tác phẩm khác, chúng tôi nhận thấy phảng phất tính lãng mạn, tình tiết éo le bất ngờ trong văn của cả ba người. Riêng Nhất Linh, trong cuốn Giòng Sông Thanh Thủy, có đoạn đã nêu đích danh Maugham trong một cảnh miêu tả một đêm trăng. Trong một  bài tiểu luận về sáng tác (A Traveller In Romance, Uncollected Writings, 1901-1964, tr 93 ) Maugham có một lời khuyên đến những kẻ tập tành viết văn ( xin lược dịch ) như sau :

     “bạn nên viết về những điều mình biết…bởi vì , nếu viết về những thứ quý vị không biết, sẽ đưa đến lỗi lầm khôi hài…”, rồi căn dặn thêm: “ nhà văn nên viết lên sự thật như họ đã nhìn thấy, về những  điều họ biết…dù cho đó là đề tài cũ…nhưng nếu người viết có cá tính,  nhìn nó với một nhận thức riêng, vẫn gây cho độc giả sự chú ý…một tác giả có thể luôn luôn muốn ở vị trí khách quan, nhưng tâm tính, thái độ riêng của họ với đời sống, vẫn là cá biệt, và sẽ tô đẹp quan điểm của mình.”

    Chúng tôi Nguyễn Quang, Ngọc Cường, Khánh Lan và bút tôi đọc Maugham và Maupassant trong thích thú. Sách mới “Ba Chị Em” hay Tuyển tập truyện ngắn của Ngọc Cường sẽ do Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian giới thiệu. Hẹn Chủ Nhật ngày 4 tháng 10, cuối năm 2021.

    BTC: Khánh Lan, Lâm Dung, Mộng Thuỷ, Mai Hương, Vi Khiêm và Quyên Di.

    Ngoài tác phẩm của nhà văn Ngọc Cường buổi RMS còn giới hiệu tác phảm mới Hồi Tưởng của nhà văn Từ Dung (gia đình Hoàng Đạo).

    Việt Hải (October 2021)

    Phụ chú:

    Với nhà văn Ngọc Cường, tôi quý anh tự bản chất. Cái giá trị của con người Ngọc Cường là những đặc tính đáng quý như: sự thân thiện, hoà nhã, bình dị, cộng thêm sự khiêm cung, tránh ngã tôn, ngã chấp, hay “le moi ç’est pour rien”. Trong tình bạn văn chương, tôi quý anh, anh theo hai khuynh hướng: văn học truyện ngắn, phong thái như các cụ Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, những đại thụ văn học xứ ta, mà tuổi thơ của anh vốn gấn gũi. Và khuynh hướng khác tôi cảm nhận gần gũi với văn phong Ngọc Cường, anh còn theo văn học phê bình, nhận định nghệ thuật, tiểu luận văn học, hay bình luận văn học (critique littéraire, jugement artistique, essais littéraires, commentaire littéraire). Mỗi khi đọc sách mới Ngọc Cường, tôi xoáy tâm tư vào đề tài này. Ngọc Cường viết về Guy de Maupassant, William Somerset Maugham, J.P. Sartre, Fyodor Dostoyevsky, Mikhail Bakhtin, Roland Bathes, “Đôi dòng về nghệ thuật”, “Nghệ Thuật Là Gì”, Leo Tolstoy, Van Gogh, Édouard Manet,… Anh vốn có thú thưởng ngoạn văn học và hội hoạ…. Nhiều tiểu huyết của Ngọc Cường xây dựng trong bối cảnh Paris, một kinh đô văn học, nơi có đồi Montmartre, một tụ điểm nổi danh của nghệt thuật hội hoạ Âu châu.

    http://www.ninh-hoa.com/VietHai-DocThuBanVeKhiaCanhNgheThuatQuaBaiCuaNgocCuong.htm

    https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/3907992309291410

    Cám ơn nhà văn Ngọc Cường cho tôi một tình bạn văn học cùng goût văn, cùng jeu viết.

    Việt Hải Los Angeles, Jan. 2nd, 2022.

    Từ trái: Nhà văn Khánh Lan, Lệ Hoa, Bích Điệp,
    Ngọc Cường, Việt Hải và Mạnh Bổng.
    Từ trái: Nhà văn Phạm Quốc Bảo, Ngọc Cường, Việt Hải,
    Khiếu Long,
    Dương Viết Điền và Ngọc Tuấn.
  • Sinh Hoạt,  Trần Quang Hải

    NHỮNG KỶ NIỆM VỚI NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI

    TRẦN QUANG HẢI VỚI HÁT HAI GIỌNG, ĐÀN MÔI, GÕ MUỖNG ….

    Posted by dam trung phan on 29/09/2013

    Trên đường đi tham dự Họp Mặt của các cựu học sinh Petrus Ký tại Montreal, Canada,vào cuối tháng 9, 2013, Nghệ Sĩ kiêm Giáo Sư Trần Quang Hải đã ghé thăm Toronto. Tối hôm Sept. 24, 2013, một số bạn hữu chúng tôi đã được anh chị Nghiêm Phú Phúc-Mỹ Lan mời đến ăn cơm tối để có dịp gặp lại anh Trần Quang Hải mà chúng tôi đã có dịp gặp mặt lần đầu tiên vào năm 1992 tại Toronto.

    Anh Hải và hầu hết nhóm chúng tôi tuổi đời cũng chẳng cách nhau bao xa và tất cả chúng tôi cũng đã từng là cựu học sinh của những trường công lập tại Miền Nam Nước Việt ngày xưa như: Petrus Ký, Gia Long, Chu Văn An, Trưng Vương, Võ Tánh … nên cả khách phương xa lẫn chủ nhân và bạn hữu gặp nhau nói chuyện ồn ào như trong giờ ra chơi của thuở học trò ngày xưa vậy.

    Năm 1992, cộng đồng người Việt quốc gia vùng Toronto đã tổ chức một “Đêm Văn Nghệ Bạch Yến và Trần Quang Hải”. Ban Tổ Chức gồm có sự tham gia tích cực của các anh chị em trong Hiệp-Hội-Chuyên-Gia-vùng Nam Ontario của chúng tôi với sự yểm trợ của rất nhiều hội đòan khác. Mục đích của Đêm Văn Nghệ đó là để giới thiệu văn hóa Việt Nam tới người dân và các quan khách của Canada, quê hương thứ hai của người Việt đang sinh sống tại đây. Ban Tổ Chức chúng tôi ai nấy đều bận rộn nên không may mắn được ngồi yên nghe anh chị Trần Quang Hải – Bạch Yến trình diễn trong sự hoan hô vang dội của khán giả. Sau đó, chúng tôi chỉ được xem phần văn nghệ qua cái băng VHS mờ mờ ảo ảo mà thôi, không được thỏai mái cho lắm.

    Vì lẽ đó, trong lúc ngồi ăn uống, anh chị em chúng tôi đã đề nghị anh Trần Quang Hải “diễn lại tích xưa”: biểu diễn cách hát hai giọng, nhiều giọng, đàn môi, gõ muỗng và nhất là lối nói/hát theo tiếng Tầu, tiếng Nhật, tiếng Đại Hàn … Kỳ này, chính cá nhân tôi đã đứng dựa tường để thu hình cho rõ để rồi sẽ đưa lên Youtubes cho bà con cùng coi lại. Tôi vừa thu hình, vừa dựa tường mà cùng cười với bạn bè và anh Hải.

    Xin mời Quý Vị vào “Xem phim Ciné”, tha hồ mà cười:

    http://www.youtube.com/watch?v=q550OiBtLeQ

    GS TS TRẦN QUANG HẢI – BẠCH BẠCH YẾN NÓI CHUYỆN VỀ ÂM NHẠC VIỆT NAM VÀ BIỂU DIỄN ĐÀN MÔI, ĐÀN MUỖNG TẠI TRUNG TÂM VĂN HÓA PHÁP VÂN – THÀNH PHỐ MISSISSAUGA , CANADA – JUNE 12, 2016.

    Đầu thập niên 1990, các anh chị em chúng tôi trong Hiệp Hội Chuyên Gia Việt Nam vùng Ontario, Hội Phụ Huynh Học Sinh Việt Nam Toronto … đã đứng ra tổ chức một đêm văn nghệ để cặp danh tài Trần Quang Hải- Bạch Yến trình bầy một số bài hát dân gian Việt Nam và đặc biệt GS Trần Quang Hải đã trình diễn một số nhạc cụ trông rất đơn giản, không tốn kém nhưng lại là những nhạc cụ rất linh động.

    Đêm hôm đó,  vì phải lo công việc nên ngừơi viết bài này không có cơ hội để đứng xem hết chương trình, thấy tiếc hùi hụi. Tuy chúng tôi có thu hình nhưng hồi đó dụng cụ thu hình không được rõ nét như bây giờ.

    May mắn thay, năm 2013, nhân dịp anh Trần Quang Hải ghé thăm Toronto, nhóm “già đầu” chúng tôi đã có dịp gặp lại anh Trần Quang Hải tại nhà AC Nghiêm Phú Phúc. Sau bữa ăn ngon đầy tiếng cười đùa “ngộ cố tri”, anh Hải hứng chí mang “đồ nghề” ra biểu diễn và bác phó nhòm nhà ta bèn đứng yên một chỗ để mà thu hình cho bằng được. Sau khi thu hình, cắt xén, ghép hinh, chúng tôi đã đưa lên mạng buổi trình diễn “bỏ túi” hôm đó:

    Ngày 12 tháng 6, 2016, thợ quay phim Đàm Phán lại có cái may gặp lại AC Trân Quang Hải – Bạch Yến tại Trung Tâm Văn Hóa Pháp Vân để chụp hình và quay video dùm cho Hội Phụ Nữ Việt Nam Toronto và Hội Người Việt Toronto, đồng tổ chức buổi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam ngày hôm đó .

    Xin mời Quý Vị vào xem hình ảnh và Video trong 2 links dưới đây:
    https://plus.google.com/photos/110033572606660377857/albums/6296646357287220001

    (Hình ảnh trong Google Plus)

    Theo lời Giáo Sư TQ Hải, hai ông bà đã trình diển dân ca Việt Nam cũng như các dụng cụ âm nhạc cổ truyền Việt Nam trong rất nhiều năm qua với mục đích truyền bá âm nhạc Việt Nam tới thế hệ những người Tây Phương đầu tiên để rồi từ đó, họ sẽ tiếp tục truyền bá cho những thế hệ Tây Phương mai sau.

    Văng vẳng bên tai, tôi còn nghe thấy âm hưởng của nghệ nhân, học giả tài ba Trần Quang Hải: “Nhạc Việt còn, nước ta còn”. Mong lắm thay!

    June 2016

  • Khánh Lan,  Văn Thơ

    Bác sĩ Zhivago, tham luận bởi Khánh Lan

    Boris Leonidovich Pasternak (1890–1960)

    “Cánh tay phải của tôi. Lau nước mắt giùm tôi“.

    Ðó là hai câu trong một bài thơ của Boris Leonidovich Pasternak đã viết để diễn tả những uẩn khúc trong tim khi tác phẩm Bác sĩ Zhivago ra đời năm 1957, bị cấm xuất bản cũng như lưu hành tại Nga, nhất là khi nội dung của tác phẩm bị nhà nước cho là bôi nhọ chính sách và buộc ông phải từ chối nhận đề cử lãnh giải thưởng Nobel văn chương năm 1958, với lý do sự việc này làm giảm uy tín của Đảng Cộng Sản Liên Xô.  Tháng 12 năm 1989, người con trai của Văn Hào Boris Leonidovich Pasternak tên là Yevgenii Borisovich Pasternak đã được phép đi tới thành phố Stockholm để nhận lãnh Giải Thưởng Nobel Văn Chương của cha cậu.  Vào buổi lễ, nhạc sĩ hồ cầm danh tiếng (cellist) người Nga và cũng là người ly khai chế độ Cộng Sản, tên là Mstislav Rostropovich, đã trình diễn một bản Serenade của J. S. Bach để vinh danh ông.

    Văn Hào Boris L. Pasternak qua đời ngày 30 tháng 5 năm 1960 vì bệnh ung thư phổi tại nhà riêng của ông ở Peredelkino. Nấm mộ của Boris Pasternak đã trở nên ngôi đền thờ chính cho các hội viên của phong trào phản kháng Xô Viết. Năm 1980, một hành tinh nhỏ do nhà thiên văn Xô Viết Lyudmila Geogievna Karachkina khám phá đã được đặt bằng tên Pasternak (minor planet 3508 Pasternak).

    Tóm tắt nội dung:

    Sau đám tang của bà Marya Nikolaevna Zhivago, Yuri Andreievich Zhivago trở nên mồ côi cả cha lẫn mẹ từ khi chàng mới 10 tuổi, Yuri được người cậu ruột là cha Niklai Nikolaevich Vendenyapin gởi chàng cho gia đình ông bà Alexandrovich Gromeko & Anna Ivanovna Gromeko nuôi dưỡng, Tonya là con gái của ông bà Gromeko.  Yury theo học y khoa tại trường đại học Moscow và biết được cha của chàng có một người con trai với Princess Stolbunova-Enrizzi tên là Eugraf Zhivago.  Sau khi Yuri ra trường y khoa và Tonya trở về từ Paris, Yuri xin cưới nàng làm vợ và họ có với nhau một đứa con trai tên Sasha. 

    Larisa Fyodorovna (Lara) là con của bà góa phụ Amalia Karlovna Guichard hiện đang làm quản lý cho hãng may Komarovsky.  Luật sư Victor Ippolitolitovich Komarovsky nổi tiếng là một thương gia “khát máu” (cold blooded businessman) và là ân nhân cũng như tình nhân của bà Guichard, nhưng h(a)́n lại để ý đến Lara và trong một phút yếu lòng, Lara đã nghe theo lời dụ dỗ của Komarovsky và hiến thân cho hắn.   Lara bị bó buộc trở thành tình nhân của gã quý tộc thô cằn, đê tiện ấy vì Komarovsky luôn buông lời hăm dọa sẽ bêu xấu nàng với mọi người nếu nàng từ chối lời yêu cầu của hắn.  Sáu tháng trôi qua, Lara sống trong cơn tủi nhục cuồng nộ và trong một buổi tiệc Giáng Sinh tại nhà bà Sventitsky, Lara lén đi đến đó và nh(a)́m bắn vào Komarovsky nhưng không may lại bắn trúng công tố viên tòa án Moscow, ông Kornakov (Prosecutor of the Moscow court) và gây thương tích nhẹ cho ông, nhưng ông không khởi tố nàng ra tòa.  Sau đó, Lara nhận lời kết hôn với Pavel Pavlovich (Pasha), người tình đầu của nàng và họ có một cô con gái tên Katenka.Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, Pasha từ giã vợ và con gái gia nhập quân đội Hoàng Gia Nga (Imperial Russian Army) và đột nhiên bị mất tích.  Yuri cũng nhập ngũ với tư cách làbác sĩ quân y cho một bệnh viện ngoài chiến trường thuộc tỉnh Meliuzeeva. Tại đây, Yuri được tin là Thiếu uý Pasha Pavlovich chưa chết, anh bị quân đội Hung Gia Lợi Austro (Austro-Hungarian Army) b(a)́t làm tù binh.  Về phần Lara, nàng không tin là Pasha đã chết nên gởi con cho bạn bè rồi lên Galicia với hy vọng tìm kiếm ra tông tích của chồng.  Lúc ấy, Yuri là bác sĩ quân y và Lara là y tá thiện nguyện, cả hai được bổ nhiệm công tác chung tại một nhà thương ở tỉnh nhỏ Galicia.   G(a)̣p lại Lara, Yuri không lấy làm ngạc nhiên cho l(a)́m vì đây không phải là lần đầu tiên họ gặp nhau.   Lần thứ nhất, Yuri g(a)̣p Lara khi Yuri tới nhà của một phụ nữ đã tự tử nhưng được cứu thoát ở thành phố Montenegro với một người đàn ông lớn tuổi tên Komarovsky.  Lần thứ hai Lara đã bắn ông Komarovsky tại một buổi tiệc Giáng Sinh của bà Sventits.  Lần thứ ba khi chàng vào thăm vợ sanh đứa con trai đầu lòng tại trạm quân y khi Tonya sanh đứa con trai đầu lòng của chàng và lần sau cùng là nơi đây, nơi mà một tình yêu ngang trái đã âm thầm nẩy nở, nhưng cả hai đều e dè vì họ đều đã có gia đình. 

    Khi Chiến tranh kết thúc, họ chia tay và trở về với gia đình của mình.   Yuri trở về chức vị bác sĩ tại nhà thương ở Moskva nhưng với bản tính yêu chuộng tự do và bình quyền, chàng thường bị bạn bè cho là thiếu tinh thần cách mạng. Khi cuộc cách mạng tháng mười (October Revolution) và chiến tranh dân sự (Russian civil war) với những xung đột chống chủ nghĩa Marx bùng nổ, hầu hết người dân ở Moscow đều đi tản về vùng quê để tránh chiến tranh, Yuri cùng gia đình chạy về Urals, một vùng đất yên bình thuộc tỉnh Varykino gần Yuriatin và định cư ở nông trại mà trước kia là của ông nội Tonya nhưng bây giờ đang được tập thể hóa.  Trên chuyến đi này, Yuri nhận thức được nỗi khổ của nông dân, tù binh và những nạn nhân của cuộc chiến.  Chàng bất mãn với những hành động và tư tuởng quá cứng rắn, thiếu tình người của những người theo cách mạng. 

    Tại Urals, Yuri cùng gia đình khai đất làm ruộng, những lúc rảnh rỗi chàng làm thơ.  Tại đây, Yuri và Lara vô tình gặp lại nhau trong thư viện Yuriatin và cũng chính tại nơi này, họ bị lôi cuốn và ngọn lửa tình yêu bùng cháy, họ yêu nhau, bất chấp mọi ràng buộc và mặc cảm tội lỗi… Nhưng rồi cuộc tình ấy cũng ch(a)̉ng bền vững, kết thúc trong dang dở và bị chia cắt bởi chiến tranh….Yuri sau hai tháng chung sống với Lara, chàng luôn bị dày vò giũa hai mối tình:  Với Tonya và Lara. Trên đường về nhà, Yury quyết định cắt đứt liên lạc với Lara và sẽ thú nhận tất cả với vợ, nhưng khi đi được nửa đường, chàng bị một nhóm du kích vốn trung thành với nước Liberius do truong nhom du kich Forest Brotherhood, the botshevik guerrilla band bắt cóc và bị bắt buộc làm bác sĩ y tế cho đạo quân này. 

    Sau hai năm, cuối cuộc chiến tranh giữa quân Bạch Nga (the Tsarist Whites) và quân Cộng Sản Đỏ (the Communist Reds), Yuri trốn thoát và trở về Yuriatin để tìm kiếm Lara và biết được là gia đình chàng đã trở về Moscow sau khi Tonya sanh đứa con gái.  Lara là người giúp đỡ đẻ cho Tonya và họ trở thành đôi bạn thân thiết.  Trong thời gian này, Lara được tin Pasha còn sống với một tên mới là Strelnikov (Pasha), hiện là một thủ lãnh trong miền núi Urals nhưng lại là người đang bị truy nã. Lara cũng đang bị lùng b(a)́t nên để tránh không bị chỉ điểm, Yuri và Lara quyết định trốn sang một nông trại khi xưa gia đình chàng từng canh tác và hai người sống những ngày hạnh phúc bên nhau trong nhiều tháng.  Yuri tiếp tục làm thơ ghi chép lại những thăng trầm của cuộc đời mình, những lo sợ mỗi đêm và tình yêu chàng dành cho Lara. 

    Lá thư của Tonya đến trễ năm tháng, nàng cho Yuri biết là cha vợ của chàng, ông Gromeko, Tonya và hai đứa con của  chàng đã bị trục xuất khỏi Nga và hiện đang sinh sống tại Paris. Trong thư Tonya viết:  “Anh Yuri yêu quý, em yêu anh l(a)́m, nhưng anh ch(a)̉ng hề yêu em, có lẽ chúng ta ch(a)̉ng nên gập lại nhau làm gì.  Lara là một người đàn bà tốt”.  Lời nói trong thư của Tonya đã làm cơn đau tim của Yuri bùng lên và chàng ngất đi…   Trong lúc Yuri và Lara đang sống trong những ngày hạnh phúc thì Komarovsky xuất hiện và khuyên họ nên đi lánh nạn về phía đông với ông để tránh bị giết, nhưng Yuri nghĩ đến sự an toàn cho Lara, chàng quyết định để Lara ra đi một mình, chàng đã lừa dối Lara và Katenka để họ cùng đi với Komarovsky.  Còn một mình ở lại Varykino, Yuri bắt đầu say sưa uống rượu để tìm quên trong nỗi nhớ Lara.  Một buổi tối, Strelnikov (Pasha) đột nhiên trở về Varykino tìm g(a)̣p Lara nhưng chỉ thấy Yuri, họ uống rượu và tâm sự rất lâu.  Sau khi biết chuyện Lara ngoại tình với Yuri, Strelmikov quá đau khổ và anh đã tự sát, sángt hôm sau Yuri đã tìm thấy xác của Strelmikov.

    Yury trở lại thành phố Moscow và kiếm sống bằng nghề viết sách, Yuri gập lại các bạn cũ là Misha và Nick.  Yuri thuê một căn phòng nhỏ và chàng bắt đầu sống chung với Marina Vico, người con gái của chủ nhà và họ có hai đứa con gái.  M(a)̣c dù đang sống chung với Marina, nhưng tâm trí của Yuri vô cùng bất an vì hình bóng của Lara nên chàng không tìm được hạnh phúc bên Marina. Yuri nhận thấy rõ một điều là chàng và Lara yêu nhau bằng một tình yêu chân thật, say đắm dù tận cùng là tuyệt vọng, chàng quyết định rời xa Marina. Yuri gặp lại người em khác mẹ Eugraf zhivago hiện là Thiếu tướng trong quân đội Nga và nhờ Eugraf tìm cho chàng một chức vụ bác sĩ tại bệnh viện ở Moscow, nhưng trên đường đi làm, Yuri đã qua đời vì chứng đứng tim.

    Lara từ Irkutsk lên Moskva và đi cùng với Thiếu tướng Eugraf Zhivago tới nhà liệm, nàng nhờ Eugraf tìm lại đứa con đã bị thất lạc trong chiến tranh, đứa trẻ ấy, phải chăng là kết quả của mối tình tuyệt vọng và bi thảm của Yuri và Lara.  Trong nhà liệm, xác của Yuri được đ(a)̣t trên một cái bàn dài, đ(a)̣t giữa phòng.  Lara đứng l(a)̣ng người nhìn chăm chú vào m(a)̣t Yuri, chàng đang n(a)̀m yên nghỉ trong quan tài, bình thản và l(a)̣ng lẽ… Còn một mình trong căn phòng v(a)́ng vẻ, Lara bước gần đến bên xác của Yuri, những giọt nước m(a)́t đang tuôn trào, lăn dài trên má làm ướt cả m(a)̣t chàng.  Lara cúi xuống và hôn nhẹ lên môi Yuri thì thầm:  “Yuri yêu dấu, hãy hôn em, nụ hôn cuối cùng”…Sau ngày ấy, tin Lara mất tích và không ai thấy nàng đâu nữa, có lẽ nàng đã bị bắt đi trại tập trung và đã chết ở đó.  (chế độ “tập thể hóa”, cuộc “Đại Thanh Trừng” (the Joseph Stalin’s Great Purge) và Quần Đảo Ngục Tù (the Gulag)).

    Nhiều năm về sau, Misha và Nicky cùng chiến đấu trong Thế Chiến Thứ Hai và họ gặp một cô gái làm nghề giặt ủi tên là Tanya, cô đã kể lại cho họ nghe về cuộc đời của cô, họ nghĩ rằng Tanya chính là con của Yuri và Lara…Khi người con gái trẻ tên Tanya được gọi lên để  g(a)̣p vị Thiếu tướng  Eugraf Zhivago và kể cho ông nghe về cuộc đời của của cô thì ông không thể nào phủ nhận r(a)̀ng người con gái trẻ đang ngồi trước m(a)̣t ông thật giống Yuri, từ cái cầm nhọn, cái mũi cao và con m(a)́t biết cười ch(a)̉ng khác gì Yuri… Eugraf lẩm bẩm một mình:  Có thể đây là đứa con gái bị thất lạc của Yuri và Lara.  Eugraf Zhivago mỉm cười:  “Có thể ta đã tìm được cháu, ta sẽ cho cháu vào trường đại học, ta sẽ chăm sóc cháu, ta sẽ g(a)̣p cháu nhiều hơn”….

    Phim chuyển thể:

    Omar Sharif là nhân vật chính trong phim và thủ vai Yuri Zhivago, một bác sĩ y khoa và là một nhà thơ. Truyện kể về cuộc đời của Bác sĩ Zhivago qua những éo le tình ái cùng hai phụ nữ Tonya và Lara bao quanh cuộc cách mạng Nga năm 1917. Cuốn phim Bác sĩ Zhivago đã trở nên một phim bán chạy nhất trên khắp thế giới nhưng chỉ tới được nước Nga sau phong trào Cởi Mở Perestroika. Lịch sử nước Nga trong những năm đầu thế kỷ 20 cho đến sau đại chiến thứ hai, hình ảnh nhân vật Yury Zhivago cùng Lara Guishar đã vẽ lên một bức tranh về số phận bi thảm của con người sống trong giai đoạn lịch sử đau thương này.  Họ là nạn nhân của chiến tranh nhưng họ đã vượt lên trên tất cả khắc nghiệt của cuộc sống cho một chuyện tình yêu lãng mạn, một mối tình đẹp đẽ nhưng đầy nước mắt và khổ đau. 

    Omar Sharif và Julie Christie trong phim Bác sĩ Zhivago

    Tác phẩm Bác sĩ Zhivago là tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Nga Boris Leonidovich Pasternak và đã được chuyển thể thành phim năm 1965, do David Lean đạo diễn, tài tử chính là Omar Sharif và Julie Christie.  Cuốn phim Bác Sĩ Zhivago đã được chiếu ở Sài Gòn trong những năm 1960-1975, nhưng ở Nga, mãi đến năm 1994, phim này mới được trình chiếu. Ấn bản TV Nga năm 2006 về Bác sĩ Zhivago, do đạo diễn Alexander Proshkin và thủ vai Zhivago là tài tử Oleg Menshikov, được coi là trung thực với tác phẩm của Văn Hào Pasternak hơn là cuốn phim năm 1965 của đạo diễn David Lean.

    Tham luận tác phẩm:

    Tác phẩm Bác sĩ Zhivago được hoàn tất vào năm  1956 nhưng vì quan điểm của tác giả về cuộc Cách mạng tháng 10, nên không được xuất bản ở Nga.  Năm 1957 bản thảo của truyện được in ra sách b(a)̀ng tiếng Nga tại Ý do nhà xuất bản Feltrinelli.  Năm 1958 ấn bản tiếng Ý và tiếng Anh ra đời, được đề nghị nhận giải Nobel văn chương nhưng chính quyền Nga ép ông phải từ chối.  Năm 1988, Tác phẩm Bác sĩ Zhivago mới được cho in và xuất bản tại Nga. Tại Việt Nam từ năm 1959-1988 có ít nhất sáu bản dịch ra tiếng Việt.  Tác phẩm Bác sĩ Zhivago trở thành một cuốn sách “best-seller” và được dịch ra 24 thứ tiếng trên toàn thế giới.

    Theo người cháu ruột của Boris Pasternak, nhà văn Anna Pasternak viết về tác phẩm của ông, bà nhận định rằng tác phẩm Bác sĩ Zhivago đã ghi lại những sự kiện lịch sử, tôn giáo, triết học của nước Nga vào thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến sau đại chiến II trong bối cảnh chiến tranh và cách mạng. Tác phẩm nhận định một cách rõ ràng về số phận và lựa chọn của người trí thức trong sự xoay vần của thời cuộc bên cạnh chuyện tình yêu ngang trái giữa Yury Zhivago và Lara Guishar dựa theo chuyện tình yêu của Boris Postermak với Olga Ivinskaya, người đã tạo cho ông nguồn cảm hứng để viết tác phẩm này.   Trong một lá thư gửi một người tên R. Schweizer đề ngày 7 tháng Năm, 1958, Boris Pasternak đã viết: “Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tôi đã gặp một phụ nữ trẻ, tên là Olga Ivinskaya… Nàng chính là Lara trong cuốn tiểu thuyết mà tôi bắt đầu viết chính vào thời kỳ đó… Nàng là hiện thân của niềm yêu đời và đức hy sinh… Nàng biết rõ đời sống tinh thần của tôi và mọi công việc văn chương của tôi”. Nhân vật Lara trong tác phẩm Bác sĩ Zhivago chính là hình bóng của Olga Ivinskaya và Yury không khác hơn là tác giả.  Olga Ivinskaya gặp Boris Pasternak năm 1946, một góa phụ 34 tuổi đang làm việc cho tạp chí văn học Novy Mir, tại tòa soạn “Thế giới mới”. Olga là một phụ nữ rất quyến rũ với đôi mắt sâu thẳm, xanh biếc và suối tóc vàng trong khi Boris khi đã 56 tuổi và là một nhà thơ chịu nhiều vùi dập của nhà cầm quyền thời bấy giờ bởi chính những quan tâm của ông tới hạnh phúc cá nhân nhiều hơn là phúc lợi của xã hội. Trong cuốn tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago, Boris Pasternak nhác đến “chống Xô Viết” cũng như các lời chỉ trích rất tế nhị các chế độ “Stalin-nít”, chế độ “tập thể hóa”, cuộc “Đại Thanh Trừng” (the Great Purge) và Quần Đảo Ngục Tù (the Gulag) trong các đoạn văn của ông. Không những thế, tác phẩm Bác sĩ Zhivago còn bị nhà cầm quyền gán cho tội nói xấu cuộc Cách mạng Xô viết. Năm 1949, Olga bị bắt và bị lưu đày ở trại cải tạo lao động 4 năm thời Liên Xô (Gulag) vì nghi ngờ là gián điệp và có liên hệ với Boris Pasternak. 

    Đó là một bi kịch đối với Olga và Boris và là tình sử éo le cho hai người, điều này tương tự mhư chuyện tình của Yuri và Lara trong Bác sĩ Zhivago, tình yêu của họ cũng bị xã hội Xô viết cấm đoán. Dù cho ngay cả trong truyện hay ngoài đời thực, hai mối tình ấy đều không có tương lai và bi thảm mặc dù đó là những mối tình lãng mạn làm say mê lòng người. Một cuộc tình chứa đựng nhiều đau khổ, ám ảnh và hạnh phúc, một tài năng bị vùi dập trong xã hội; một chế độ độc tài luôn cản trở tình yêu đích thực của họ.  OlgaIvinskaya cũng nhắc lại mối tình của bà và Boris Pasternak như sau: “…Cuốn tiểu thuyết ấy đã bắt đầu quyết định cả số phận của hai chúng tôi. Nó như một thứ bùa mê. Nó đem đến niềm hạnh phúc điên cuồng cùng nỗi đau khổ ghê gớm. Càng gần đến cái chết của nhân vật, đến dấu chấm cuối cùng, thì đoạn kết của cuộc đời chúng tôi càng gần lại”. Cuộc tình của Boris Pasternak và Olga Ivinskaya kéo dài đến khi ông qua đời vào năm 1960 và Olga Ivinskaya qua đời vào ngày 8 tháng Chín, 1995 tại Mạc Tư Khoa.

    Sau khi Thế Chiến II chấm dứt, chính quyền Cộng Sản lại xiết chặt việc kiểm duyệt, một số tiểu thuyết gia bị khai trừ khỏi Hội Nhà Văn nên không phải chỉ có tác phẩm Bác sĩ Zhivago bị kiểm soát và cấm xuất bản mà từ tháng 11 năm 1917, đảng Cộng Sản Bolshevik lên nắm chính quyền tại nước Nga và đã kiểm soát mọi hoạt động văn hóa, kiểm duyệt chặt chẽ các tác phẩm văn chương, mọi nhật báo, tạp chí và văn hóa phẩm, ấn loát, nhiều nhà in bị đóng cửa, số lượng sách báo giảm hẳn đi đồng thời chính quyền đã khuyến khích các nhà văn, nhà thơ phải sáng tác một thứ văn chương của giai cấp vô sản, các tác phẩm văn học phải phục vụ quyền lợi của giới công nhân và nông dân. Sự kiểm duyệt và chỉ đạo của chính quyền đã bóp nghẹt các sáng tác văn học khiến cho trong giai đoạn 1917-1920, không có nhiều tác phẩm được viết. Tới thập niên 1920, chính quyền Cộng Sản đã nới lỏng một đôi phần tự do, các phê bình văn học xuất hiện một số nhà thơ, nhà văn mới bắt đầu từ đấy. Năm 1953, Stalin qua đời, bắt đầu một thời kỳ dễ thở trong nền văn học, trong thập niên 1960 đã có một số nhà văn trẻ, cấp tiến hơn, cổ động cho tự do và tính sáng tạo trong đời sống văn nghệ, chẳng hạn như hai nhà thơ trẻ Yevgeny Yevtushenko và Andrei Voznesensky. Năm 1968, tác phẩm “Vòng Tròn Thứ Nhất” (The First Circle) của Alexander Solzhenitsyn mô tả đời sống của các tù nhân chính trị trong thời đại Stalin, Solzhenitsyn được trao Giải Thưởng Nobel 1970 về Văn Chương nhưng rồi bị trục xuất khỏi Liên Xô vào năm 1974, điều này chứng tỏ rằng không phải chỉ có Boris Pasternak là người duy nhất bị cấm nhận Giải Thưởng Nobel.

    Tóm lại, tôi hoàn toàn đồng ý với nhà biên khảo Phạm Văn Tuấn đây là bộ tiểu thuyết sử thi vĩ đại bởi nó đặt ra vấn đề số phận con người – tình yêu trong những dòng xoáy của lịch sử, sự dằn vặt của lương tri về tính thiện của con người. Tác phẩm Bác sĩ Zhivago là một chuyện tình đau đớn của những người tình lạc nhau trong chuyến tàu định mệnh, chiến tranh tạo nên sự chia ly và đặt con người trong chấp nhận hy sinh.

    Tiểu sử và sự nghiệp văn chương:

    Boris Leonidovich Pasternak sinh ngày 10 tháng 2 năm 1890 tại thành phố Moscow, trong một gia đình giàu có người Nga gốc Do Thái, ông là nhà thơ, tiểu thuyết gia và dịch giả người Nga. Boris Pasternak chịu ảnh hưởng của nhạc sĩ Scriabin nên ông có ước vọng trở một nhạc sĩ, ông ghi tên theo học Nhạc Viện Moscow (the Moscow Conservatory), học về bộ môn sáng tác nhạc trong 6 năm. Năm 1910, Boris thôi học nhạc, ông sang Ðức theo học tại Ðại Học Marburg, tại nơi này ông theo học các nhà triết học thuộc trường phái Kant-Mới (Neo-Kantian) là các Giáo Sư Hermann Cohen và Nicolai Hartman.

    Tại Moscow, Boris Pasternak đã thán phục các nhà văn biểu tượng A. Blok và A. Bely nên vào năm 1913, đã tham gia vào nhóm thi sĩ thuộc trường phái “Tương Lai” (futurism) có tên là “Ly Tâm” (Tsentrifuga) và do ở trong nhóm thi sĩ này, Boris Pasternak đã cho ra đời tập thơ đầu tay có tên là “Người sinh đôi ở trong Mây” (The Twin in the Clouds, 1914). Trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Nhất, Boris Pasternak dạy học và làm việc tại một xưởng hóa chất tại Vsevolodovo-Vilve, ông xuất bản các thi tập tiếp theo: “Vượt qua các trở ngại” (Over the Barriers, 1917), “Chị tôi, Cuộc Ðời” (My sister, Life, 1922), trong đó có phần phản ảnh triết học của Immanuel Kant, cũng như ảnh hưởng của các nhà thơ như Rilke, Lermontov, Pushkin và các nhà thơ lãng mạn Đức và “Sinh lần thứ Hai” (Second Birth, 1932). Boris Pasternak tiếp tục viết văn và phiên dịch các tác phẩm ngoại quốc, nhưng vào khoảng giữa năm 1918, các nhà văn hầu như không thể xuất bản các tác phẩm một cách dễ dàng bởi vì các văn hóa phẩm đều bị chính quyền Xô Viết kiểm soát chặt chẽ, tiếp theo Boris Pasternak sáng tác tập thơ trữ tình “Ðứt Ðoạn” (Rupture).

    Cũng vào thập niên 1920, Boris Pasternak bắt đầu hai tập thơ dài nói về Cuộc Cách Mạng Nga Năm 1905 (the Russian Revolution of 1905). Ông chuyển sang viết văn xuôi và nhiều truyện tự thuật, đặc biệt là hai tác phẩm “Thời Niên Thiếu của Luvers” (The Childhood of Luvers) và “Cách Cư Xử An Toàn” (Safe Conduct). Sau năm 1932, chỉ có hai tập thơ của Boris Pasternak xuất hiện: “Trên Chuyến Tầu Sớm” (On Early Trains, 1943) và “Khoảng Trống Ðịa Cầu” (The Terrestrial Expanse, 1945), tác phẩm cuối cùng là “Khi thời tiết trở lại quang đãng” (When the Weather Clears, 1959). Vào mùa hè năm 1959, Pasternak bắt đầu viết vở kịch “Vẻ Ðẹp Mù”, một trong bộ ba vở kịch nói về thời gian trước và sau khi Sa Hoàng Alexander II hủy bỏ chế độ nông nô tại nước Nga. Các bản dịch sang tiếng Nga của Boris Pasternak về các vở kịch của Johann Wolfgang von Goethe, Friedrich Schiller, Pedro Calderon de la Barca và William Shakespeare, các bản văn của Juliusz Slowacki và Pedro Calderon de la Barca. Trong khi dịch Calderon, Pasternak nhận được sự yểm trợ bí mật của Nicolai Mikhailovich Liubimov, một nhân vật cao cấp của bộ máy văn chương của Ðảng.

    Sau khi Boris Pasternak qua đời, Olga Ivinskaya đã bị nhà cầm quyền Xô Viết bắt giam lần thứ hai cùng với cô con gái là Irina Emelyanova. Các tài liệu và các bức thư của ông Pasternak viết cho bà Ivinskaya đều bị mật vụ KGB tịch thu. Sau đó, KGB đã âm thầm thả cô Irina một năm sau, 1962, và thả bà Olga vào năm 1964. Năm 1978, hồi ký của bà Olga Ivinskaya đã được đưa lén lút ra nước ngoài và được xuất bản tại Paris. Bản dịch tiếng Anh do Max Hayward, đã được phổ biến cùng năm dưới nhan đề: “Thời Gian bị Cầm Tù: Các Năm của tôi với Pasternak” (A Captive of Time: My Years with Pasternak). Bà Olga Ivinskaya chỉ được khôi phục lại thanh danh vào năm 1988. Sau khi Liên Xô bị tan rã vào năm 1991, bà Ivinskaya đã kiện chính phủ Nga để đòi lại các bức thư và các tài liệu mà KGB đã chiếm giữ vào năm 1961 nhưng Tối Cao Pháp Viện Nga đã xác nhận rằng các giấy tờ này phải được lưu giữ trong văn khố quốc gia. Bà Olga Ivinskaya qua đời vì bệnh ung thư vào ngày 08 tháng 9 năm 1995.

    Khánh Lan, California July 2020

  • Khánh Lan,  Văn Thơ,  Việt Hải

    KHÁNH LAN-NHỮNG BƯỚC ĐẦU Ở NGƯỠNG CỬA VĂN CHƯƠNG

    Khánh Lan

    Tôi còn nhớ trước tháng 10, năm 2019, nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian dự trù có 2 chương trình huấn luyện về khóa văn học do GS. Quyên Di giảng dạy và lớp âm nhạc do GS. Phạm Đức Huyến phụ trách, nhưng sau đó nạn dịch Covid-19 bùng phát dữ dội, vì thế nên mọi sinh hoạt nhóm phải ngưng hết vì tình thế. Nhưng điều kỳ lạ là Nghệ sĩ Khánh Lan vẫn viết văn lai rai.

    Tôi đọc các bài viết rất hay nên tôi khuyến khích Khánh Lan viết tiếp. Nhờ những ngày bị giới nhiêm vì Covid 19 và nếp sống hưu trí, Khánh Lan đã dành thời gian sáng tác liên tục, từ 10 tác phẩm nhảy lên 20, 30, 40, 50, 60… Đã thế, Khánh Lan lại viết văn với nhiều thể loại khác nhau, một sự việc thật đáng khích lệ.

    Thế là 2 anh em tôi khởi đầu khóa học bằng cách liên lạc qua email và phone. Thời gian trôi, mỗi lúc Khánh Lan tỏ ra đầy tự tin và tự vươn lên. Khánh Lan có những lợi điểm trong quá khứ để phát triển theo ngành văn, vì thuở nhỏ gia đình Khánh Lan có tiệm sách nên cô phụ mẹ trông nom cửa tiệm, cô đọc khá nhiều sách, những kiến thức thu nhận qua sách vở từ bao năm trước, vô hình chung đã nhập tâm và tiềm ẩn trong tâm hồn Khánh Lan. Cộng thêm 2 ngành toán học và triết học là 2 môn Khánh Lan vốn thích, lên đại học cô học và đỗ văn bằng cử nhân kế toán quản trị (managerial accounting), xong đỗ tiếp cao học tâm lý xã hội (socio-psychology). Chính 2 khoa học này phần nào giúp cho kỹ năng lý luận sắc bén (logical thinking skills) và óc phân tích sự kiện, bố cục đề tài vững (creative-thinking, sharp reasoning, interpreting data, fact analysis ability, topic brainstorming development,…) Phải nói Khánh Lan tiến bộ khá nhanh trong nỗ lực viết văn do yếu tố thông minh, bén nhạy phân tích đề tài.

    Xét cho cùng yếu tố thông minh, nhạy cảm nhận chân ra vấn đề hướng dẫn ngòi bút của mình, tôi nghĩ, đây là điểm son về phẩm chất khởi đầu của Khánh Lan khi theo ngành văn chương mang nét nghệ thuật. Và do sự khởi đầu với nhiều lợi thế sẵn có, cho đến khi đem ra áp dụng cho văn chương là công việc vô cùng thích hợp. Tôi thiển nghĩ khả năng, phẩm chất đã kéo theo lòng yêu nghề cầm bút khiến cho Khánh Lan là một ngòi bút với nhiều triển vọng và tài hoa. Ngoài tình yêu với văn chương ra, Khánh Lan rất tận tuỵ với bút pháp, trau đồi kỹ năng văn phẩm của mình.

    Văn chương vốn dĩ được coi như một loại sinh hoạt mang nét thanh tao về tinh thần, một phạm vi cao quí, không phải ai cũng có đủ phẩm chất và năng lực để bước chân vào địa hạt này. Mà hình như nó chỉ là lãnh vực của những tài năng, những nhà tư tưởng, những người có sứ mệnh dấn thân có tầm ảnh hưởng đến tư duy trong xã hội.

    Bên trời Tây có Jean–Paul Sartre hay Albert Camus, André Maurois, bên trời Ta có Nhất Linh, Thạch Lam hay Khái Hưng… Nhưng dẫu rằng ở vào thời kỳ nào đi nữa đều được trân trọng, văn chương vẫn luôn mãi được yêu thích và tồn tại cùng với con người. Văn chương là phương diện văn hóa tinh thần của mỗi thời đại nhân bản, ở những xã hội văn minh, khai phóng. 

    Viết văn là công việc lặn lội với chữ nghĩa. Tôi rất vui khi nhìn các bạn trẻ yêu văn chương, những Cung Lan, Alexandre ViAnh, Karen Thanh Thủy, Thuỵ Lan hay Khánh Lan là những người yêu văn học, điều mà dòng suối văn hóa hay dòng sông văn học hải ngoại cần trôi chảy luân lưu một khi thế hệ đi trước khuất núi, như những Võ Phiến, Hoàng Hải Thuỷ, Minh Đức Hoài Trinh, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Xuân Hoàng…

    Trong thời gian vừa qua, Khánh Lan đã cho ra 4 tác phẩm: Những Ý Nghĩ Về Nghệ Thuật Trong Văn Học,Truyện Dài Dĩ Vãng Khôn Nguôi, Tuyển Tập Truyện Ngắn  và Tuyển Tập Truyện Trinh Thám THÁM TỬ LÊ MINH.

    Đọc tác phẩm Những Ý Nghĩ Về Nghệ Thuật Trong Văn Học của Khánh Lan bàn về văn học, tôi nhớ câu châm ngôn của Maxim Gorky cho rằng văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý. Maxim Gorky cho là cái mỹ học của văn chương vốn đem con người về với chân thiện mỹ. Khánh Lan nhận định về bộ truyện “Đi tìm thời gian đã mất” của Marcel Proust. Nhà văn Graham Greene đã gọi Proust là “tiểu thuyết gia vĩ đại nhất thế kỷ 20” và nhà văn William Somerset Maugham đánh giá Đi tìm thời gian đã mất là “tiểu thuyết hay nhất cho đến nay”.

    Đại để nội dung của tác phẩm “Đi tìm thời gian đã mất” là loại tiểu thuyết tự thuật với nhân vật chính là người kể chuyện về chuyện tình của mình với những niềm mơ ước, trăn trở với mối tình đẩu với Gilberte, rồi đến mối tình thơ mộng và đau xót với Albertine sống trong cái thiên đường của một xã hội thượng lưu giả dối và tẻ nhạt, xong chết theo tình một cách thương tâm. Từ đó “Thời gian lại tìm thấy” hàm nghĩa là đi tìm ra lẽ sống của mình, là cống hiến cuộc đời cho thế giới nghệ thuật. Bộ sách này được xem như danh tác quốc tế.

    Ngoài ra, Khánh Lan cũng chia sẻ quyển tiểu thuyết xã hội nói về thân phận con người trong tác phẩm Những Kẻ Khốn Cùng (Les Misérables). Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nền văn học thế giới thế kỷ 19. Những kẻ khốn cùng là câu chuyện về xã hội nước Pháp trong khoảng hơn 20 năm đầu thế kỷ 19 kể từ thời điểm Napoléon I lên ngôi và vài thập niên sau đó. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Jean Valjean, một cựu tù nhân khổ sai tìm cách chuộc lại những lỗi lầm gây ra thời trai trẻ.

    Những dòng văn của Khánh Lan chung quy thì dù sáng tác hay nhận định tác phẩm, tư tưởng văn chương cho thấy yếu tố mỹ học của chân thiện mỹ trong những tác phẩm của cô. Thật vậy, nhà phê bình văn học Charles Du Bos ngôn là: “Văn học tức là tư tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng“.

    Có một dạo nhà văn Maxim Gorky đã từng khuyên một nhà văn nữ trẻ cần phải vượt lên trên những cái tầm thường, vụn vặt để viết về những điều cao thượng đáng viết hơn và đừng biến văn chương thành những thứ tầm thường, đừng làm cuộc đời xấu hơn vì những gì mình viết ra.

    Ở Khánh Lan khi đàm đạo, cô cho ý nghĩ là viết văn cô chú trọng phản ảnh tâm tư, tình cảm của chính mình, chân tâm ý nghĩ con người thật qua lăng kính nghệ thuật của bút văn, càng đạt đích điểm tôn vinh nét đẹp của văn chương, nét sâu sắc của nó, được chừng nào hay chừng đó.

    Con tim tác giả chia sẻ bao nỗi niềm thương cảm trước số phận bất hạnh, đau khổ của  Lara Guishar với một chuyện tình bi thương trong truyện Doctor Zhivago, hay nàng kiều nữ xinh đẹp Marguerite Gautier trong La Dame aux Camélias, hoặc nỗi buồn vơi của cô gái nhà nghèo Jennifer Cavalieri trong Love Story…

    Qua những sáng tác văn học rung động lương tâm con người là đích điểm của văn hào Maxim Gorky nhắn gửi những nhà văn theo sau ông. Tôi rất đồng thuận với nhà văn Khánh Lan là hãy tôn vinh nét đáng yêu chân thiện mỹ của văn chương, hãy tôn trọng và giữ trách nhiệm những gì mình viết ra…

    Thạch Lam cho cảm nhận là “Một nhà văn thiên tài là người muốn cảm nhận mọi vẻ đẹp man mác của vũ trụ“, và “Mỗi tác phẩm phải là mỗi phát minh về hình thức và khám phá về nội dung“, theo câu nói của nhà văn Leonid Maximovich Leonov ghi nhận. Bởi vì mỗi tác phẩm được hình thành là do kết quả thai nghén trong nghệ thuật mỹ học chất chứa đầy tâm huyết của người viết. Vì rằng đó là nơi để nhà văn gửi gấm những tình cảm sâu lắng nhất, những xúc cảm, những ước muốn được trân trọng ký thác vào đấy. 

    Mỗi dòng chữ hay mỗi con chữ sáng tạo bởi nhà văn gói ghém trong tâm tư của người cầm bút. Vì thế nên suy ra cho cùng là viết ra cốt truyện nào hay gửi gấm đề tài gì thì tác phẩm nên cho thấy rõ cung cách suy nghĩ của mình. Cứu cánh của nhà văn vẫn là gửi ra những thông điệp hàm tư tưởng riêng của mình, mang tính chất thẩm mỹ cho xã hội và cho con người nói chung.

    Một khi nhà văn thực hiện công việc sáng tạo văn chương, hãy nỗ lực cống hiến bằng khả năng, tiềm lực của chính mình tạo ra, cho ra đời những tác phẩm có giá trị như ý tưởng của Maxim Gorky quan niệm.

    Georges-Louis Leclerc, Comte de Buffon cho là:

    “Văn là con người.”

    Hay:

    “Le style c’est l’homme meme”

    (The style is the man himself).

    Cho nên, văn học là người bạn đường thân thiết trên mọi nẻo đường, nuôi lớn và làm phong phú tâm hồn của nhà văn, bởi những tình cảm giàu tính nhân bản nhất. Chính vì thế mà văn học không thể đứng riêng lẻ, tách rời mà phải giữ gắn bó với cuộc sống thường nhật của chúng ta.

    Tóm lại, đặc điểm giá trị to tát nhất của văn chương là đi tìm bản sắc của con người, vì con người và bởi con người. Do vậy chỉ có nhà văn trong thiên chức bút pháp qua những tác phẩm của mình, mới có khả năng mang đến tính nét đa dạng của xã hội phức tạp của nếp nhân sinh bao quát. Người viết bài này trải qua nhiều ngày tháng thảo luận cùng tác giả Khánh Lan, chúng tôi chia sẻ quan điểm là không thể có tác phẩm đích thực nếu không có nhà văn đích thực trân yêu tác phẩm.

    Để tạo ra những tác phẩm đích thực, nhà văn phải trải qua cuộc sống, và tính nét viết ra vì con người bằng cả tấm chân tình, bằng sự trân trọng qua nguồn cảm tác do niềm khao khát vì sự sáng tạo. Lịch sử văn chương nhân loại dù bên Đông hay Tây phương, dù truyện Kim Vân Kiều hay Trà Hoa Nữ thì đích điểm cuối cùng như quan điểm của Maxim Gorky, văn học chất chứa sự cao cả của nó, và những câu truyện hay vượt thời gian trong tác phẩm này thiết nghĩ cũng là tấm chân tình của nhà văn Khánh Lan, dành cho độc giả bằng sự trân trọng nhất

    Việt Hải Los Angeles.

    Ngày 02 tháng 03, năm 2021

  • Văn Thơ,  Viet-Hải

    Thử bàn về khía cạnh Nghệ Thuậtqua bài của Ngọc Cường.

    Nhà Văn Ngọc Cường

    “Cali phố xá đông người

    Bolsa Brookhust một trời sao quên”

    Hình như đất Cali vốn mở ngõ cho nhiều thân hữu, bạn bè đến đây rồi ít nhiêu họ đã bỏ quên con tim đầy ắp kỷ niệm với chốn đất thiêng Bolsa, bằng chứng khi đọc văn của tác giả Hệ Luy tôi yên tâm ý nghĩ mình đúng. Mời xem link bài tham khảo đính kèm.

    https://nhanvannghethuat.com/index.php/2019/05/15/doi-dong-ve-nghe-thuat-%EF%BB%BF/

    Bài viết “Đôi dòng về nghệ thuật” của nhà văn Ngọc Cường đã cho tôi nguồn cảm hứng dâng ngòi bút góp ý cùng anh. Trong tác phẩm Bâng Khuâng mới nhất của anh, sau văn tập Hệ Luy, nơi trang 1 giáo đầu là đề tài mang tính bàn luận, những trang giấy mở hàng bắt mắt tôi nhiều lắm. Ngọc Cường viết:

    “Một điều căn bản khi nói đến nghệ thuật, là xem nó là gì, thường nghệ thuật gồm 6 bộ môn chính như văn học, múa, kiến trúc, hội họa, sân khấu và âm nhạc, và gần đây thêm nghệ thuật thứ 7: ngành điện ảnh . Theo các cuốn từ điển thông dụng, từ nghệ thuật được định nghĩa rất vắn tắt và giản dị là … thực hiện hay diễn tả vẻ đẹp, thực tế … là sản phẩm trí thức và không là khoa học…”

    Trong 7 đề muc của phạm vi nghệ thuật mà anh liệt kê bên trên thì 2 mục văn học và hội họa đươc tác giả ghi nhận qua sách mới Bâng Khuâng. Đây cũng là 2 tiêu đề tôi xin chú trọng trong bài này. Khi nói về nghệ thuật (art) ta sẽ hiểu nó ra sao. Và nghệ thuật thường đi song hành với vẻ đẹp (beauty), trong cung cách nào đó ta cho là nét đẹp của mỹ thuật. Thế thì nghệ thuật là gì ?

    Nghệ thuật theo quan điểm của triết gia J.J. Rousseau (1712-1778) cho là “Nghệ thuật không phải là sự mô tả hay sao chép thế giới ta nhìn thấy, mà là cả một sự trào dâng của nguồn cảm xúc và của niềm đam mê”. Những tư tưởng khác như họa sĩ trường phái lập thể Pablo Picasso ghi nhận: “Nghệ thuật là tất cả mọi thứ bạn có thể tưởng tượng ra là có thật”. Còn theo họa sĩ Edgar Degas thuộc trường phái ấn tượng đồng thời với những vị như Vincent Van Gogh và Edouard Manet thì cho là “Nghệ thuật không phải là những gì bạn nhìn thấy, mà là những gì bạn làm cho người khác thấy được”. Với thi sĩ Oscar Wilde cho là: “Nghệ thuật là điều nghiêm túc duy nhất trên thế giới. Và nghệ sĩ là người duy nhất không bao giờ nghiêm túc”. Trong quan điểm của nhạc sĩ Amy Lowe suy nghĩ như: “Nghệ thuật là ước muốn của con người nói lên bản ngã của mình, ghi lại những phản ứng của ý nghĩ mình với thế giới xung quanh.”

    Riêng với danh họa Ý Agostino Carracci thuộc thời kỳ phục hưng của thế kỷ 16 nhìn vấn đề nghệ thuật là: “Một cái bóng mờ của những gì người nghệ sĩ đang nghĩ về một cái góc nhỏ qua những gì ông ta giữ bên trong tâm hồn”. Chung quy thì quan điểm nghệ thuật xuất phát từ sự suy nghĩ từ tâm hồn khiến nảy sinh ra tác phẩm.

    Nói đến Ngọc Cường hẳn nhiên không thể bỏ qua phạm trù chữ nghĩa hay sách vở, tổng quát hơn thì là khía cạnh văn học. Anh viết về nét văn hóa quanh chữ nghĩa như sau:

    “Sách được bầy bán nhiều quá, đầy trên kệ, còn la liệt trên bàn nữa.Không biết lựa chọn cuốn nào, dở trang đầu, đọc lướt qua mục “Lời Tựa”, tôi nhận thấy ở nhiều tác giả (thường là họ mới có tác phẩm đầu tay), hay nói về lý do cầm bút. Họ giải thích “tôi viết để mà viết …” , hoặc“tôi không dám tự nhận là một nhà văn …”Những câu tâm sự như vậy trở nên như một thông lệ ở phần đầu cuốn sách. Có thể do sự khiêm nhường hay dè dặt của họ, như để “rào trước đón sau”, phòng trường hợp có bị chê thì… vì tôi đâu phải một nhà văn? …Điều này theo tôi đáng tiếc, vì lẽ ít ra họ phải có chút tự tin, và cần được khích lệ vì một khi tác phẩm được xuất bản, hiển nhiên họ là một nhà văn ( theo định nghĩa) ,không nên tự phủ nhận một tất yếu như vậy ; Và một khi bỏ công ra viết là cố gắng hơn nhiều người, là điều đáng được khuyến khích, nếu không nên được khen thưởng? Người cầm bút không nên có mặc cảm. Mong độc giả rộng lượng, lên tiếng khuyến khích. Còn nếu nói viết chỉ để viết thì cũng không trọn nghĩa, vì một khi đã ra mắt , sách là để người khác đọc , nếu không , nên bỏ ở xó nhà chỉ là đống giấy lộn . J. P. Sartre trong bài tiểu luận“Văn Học Là Gì” đã khẳng định là một tác giả chỉ thành một nhà văn khi có người đọc. Thật vậy , tác giả nào chả mong có nhiều độc giả, còn nếu không thì đừng mang tác phẩm ra xuất bản – Sách bầy ra tất sẽ có người mua đọc. Và như vậy , động lực cầm bút (của một nhà văn ) , đầu tiên có thể chỉ là viết để mà viết, nhưng thật ra nó đã chứa đựng tiềm ẩn nhiều nguyên nhân : giải bày một tâm sự, chia sẻ một kỷ niệm .v.v…, và lý do khác như muốn thỏa mãn tự ái, kiếm chút danh vị… Nên, không thể nói : viết chỉ để viết đơn thuần, mà phải là viết cho người khác thưởng thức. Tất nhiên, cũng có nhiều cuốn hồi ký chỉ nhằm vào số nhóm độc giả chọn lọc nào đó ….Một tác phẩm không xuất bản, để quên vùi một xó, không ai biết thì vốn không là một tác phẩm nghệ thuật. Theo Tolstoy: sự thông tin, giao cảm giữa tác giả và người đón nhận tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Nhật ký Ann Frank nếu không được ông bố cô bé đem ra in sau khi cô qua đời, thì cũng sẽ chỉ là một sản phẩm riêng tư, nó trở thành tác phẩm nghệ thuật khi được chia sẻ, có người thưởng thức. Sở dĩ nêu lên khía cạnh này, vì tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của độc giả. Theo tôi, dù tác giả có công sáng tạo, nhưng chính người đọc mới là sở hữu chủ của tác phẩm, ít ra thì đó là dưới quan điểm kinh tế của một cuốn sách. Còn về giá trị, hay hoặc dở là do chủ quan thưởng thức của người đọc quyết định. Một khi cuốn sách được xuất bản, nhiệm vụ nhà văn chấm dứt, như đứa con ( tinh thần ) đã trưởng thành.”

    Đoãn văn trên dùng ý tưởng của JP Sartre. Thật vậy, Jean Paul Sartre viết trong tác phẩm “Văn học là gì?” (Qu’est-ce que la littérature ?) về vai trò của văn học hay của nhà văn cần hai yếu tố: Tự Do và Dấn Thân, đươc tự do viết, dấn thân yêu và trung thành với ngòi bút, đam mê với văn chương.

    Văn học vốn được hiểu như một loại hình thức sáng tạo để nói lên những vấn đề của đời sống xã hội và con người. Cách thức sáng tác của văn học có thể được tạo thành do yếu tố thực sự hay hư cấu, cách thức trình bày nội dung của đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ. Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn. Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh về vẻ đẹp, hoặc tính thẩm mỹ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ. Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng tác phẩm, sự hình thành kết quả qua sự biểu hiện cho đời sống thăng hoa hơn. Vĩ vậy văn học nói chung gồm có những thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thi ca, kịch bản, bình luận biên khảo.

    Chủ điểm quan trọng như nhà văn Ngọc Cường đề cập điều kiện để được gọi là nhà văn hay để được gọi là tác phẩm là vẫn theo Sartre thì tự do tư tưởng, hay như bên trên sự tự do trong văn học là những khái niệm chính của nhà văn, nhà văn phải có hai yếu tố tự do và dấn thân (cam kết, éléments fondamentaux comme la liberté et de l’engagement) cho mục tiêu sáng tạo của nhà văn. Trong sự tự do sáng tạo nhà văn có tinh thần chấp thuận sự lựa chọn và phải ý thức trách nhiệm đối với sự lựa chọn đó. Đây là ý nghĩa của việc chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Tự do tức là dấn thân viết, hay dấn thân trong tự do viết,…. Và nếu nhà văn là người có tự do khi sáng tác, thì người đọc cũng phải là người tự do khi đọc tác phẩm. Và nhà văn là người tự do nói với những người tự do, mà phải có chính đề tự do cần thiết mà thôi. Thế thì tác phẩm nghệ thuật là do giá trị bởi nó là tiếng gọi của nhà văn. Ngọc Cường nói đến yếu tố phê bình văn phẩm. Tác giả rào đón trong bút pháp chân chất, khiêm nhu theo ý tôi…

    “Thường khi cầm bút viết về một đề tài gì, tác giả nếu không qua sự tìm tòi, nghiên cứu thì cũng phải được đào tạo chuyên môn về đề tài đó. Tác giả hẳn có đủ hiểu biết, nắm vững những gì viết ra. Đó là điều kiện tối thiểu, để tôn trọng chính mình và cả độc giả. Độc giả không dễ bị lừa: Bởi qua đôi giòng đầu sách, có thể họ tin vào tác giả mà không cần suy xét sâu xa; nhưng khi càng đọc họ càng thêm khám phá ra những điều sai hay phi lý của toàn bài… Như vậy điều kiện tiên khởi của một tác giả là biết về điều mình viết .

    Xét riêng về cá nhân, tôi đang viết về đề tài văn chương, cống hiến và mua vui quý vị mà tôi chẳng có khả năng chuyên môn gì về văn học nghệ thuật cả ! Tại sao tôi lại dám liều mạng, cả gan đến vậy? Câu trả lời thực sự nằm trong nội dung bài này. Hy vọng rằng khi đọc xong lời bạt , quý vị có được sự thông cảm … và đồng ý với tôi là : riêng nghệ thuật, điều kiện đó là một ngoại lệ , ai cũng có thẩm quyền nêu ý kiến, không riêng gì các nhà nghiên cứu hay văn nghệ sĩ mà thôi.”

    Đọc văn Ngọc Cường như trên, tôi suy nghĩ về tư tưởng sau để góp lời với anh. Lão Tử nói với nhà văn Ngọc Cường rằng: “Bởi vì một người tin vào chính mình, một người không cố gắng thuyết phục dược người khác. Bởi vì một người hạnh phúc với chính mình, một người không cần người khác. Bởi vì một người chấp nhận ra chính mình, cả thế giới chấp nhận anh hoặc cô ấy nhá. “, Lão Tử ngôn (“Because one believes in oneself, one doesn’t try to convince others. Because one is content with oneself, one doesn’t need others’ approval. Because one accepts oneself, the whole world accepts him or her.”, Lao Tzu).

    Nhà văn Katherine Mansfield góp ý với nhà văn Ngọc Cường: “Hãy liều mạng đi nhé! Đừng quan tâm đến ý kiến ​​của những ai khác,… Hãy làm điều khó nhất trên đời này vì ta. Hãy hành động vì chính mình. Hãy đối mặt với sự thật.” (Risk anything! Care no more for the opinion of others … Do the hardest thing on earth for you. Act for yourself. Face the truth.)

    Nhà văn kiêm bác sĩ giải phẫu mắt (eye surgeon) Dr. Roopleen cho lời thật lòng đến nhà văn Ngọc Cường: “Nếu bạn có một giấc mơ, đừng chỉ ngồi đó mà mơ. Hãy gồng hết can đảm để tin chắc rằng bạn có thể thành công và hãy vượt qua bất kỳ trở ngại nào để biến nó thành hiện thực!” (If you have a dream, don’t just sit there. Gather courage to believe that you can succeed and leave no stone unturned to make it a reality!), Dr. Roopleen.

    Thêm nữa nhé. Vị Tổng thống thứ 26 của nước Mỹ Theodore Roosevelt cho ý kiến đến với tác giả Bâng Khuâng: “Hãy tin tưởng rằng bạn có thể dư sức qua cầu và bạn đang ở giữa chừng rồi.” (Believe you can and you’re halfway there.), Theodore Roosevelt.

    Trong tác phẩm Bâng Khuâng tác giả nhà văn Ngọc Cường dùng cả hai lối văn đôc thoại (monologue) như bài “Đôi dòng về nghệ thuật”, và lối văn đối thoai (dialogue), anh dùng khá chuẩn và thành công, ví dụ nhưng trong các bài: Yêu và Hận, Long và Thủy, Dưới Ánh Đèm Màu, Anh em cột chèo,…

    Ngọc Cường nói về văn học, viết văn chương, rồi tản mạn bàn về lý luận và phê bình qua bài tham luân vế nghệ thuật. Anh nói văn học dùng phương pháp khoa học nghiên cứu văn chương, trong khi văn chương thuần túy là sáng tạo do diễn đạt xúc cảm, như định nghĩa của nó. Anh dùng lối hành văn đàm thoại. Khi vận dụng lý thuyết đối thoại, tức theo lý thuyết văn học của Bakhtin. Lý thuyết đối thoại theo Mikhail Bakhtin và những nhà nghiên cứu văn học hậu nhân chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp như Julia Kristeva, Tzvetan Todorov, Roland Bathes, Michel Foucault, Jacques Derrida, … là đã dùng điểm tựa vào lý thuyết đối thoại, để rồi sau này đối thoại thực sự trở thành nguyên lý chi phối toàn bộ văn học ở các nơi, trong đó có chúng ta. Hành văn lối tiểu thuyết là thể loại in đậm dấu ấn của nguyên lý này. Nguyên lý của lý thuyết đối thoại Mikhail Bakhtin xuất phát từ những đặc điểm thi pháp học của thể loại tiểu thuyết. Ngoài ra, trong quá trình phát triển lọai văn này, các nhà phê bình văn học có dịp đào sâu nó trong cung cách sử dụng của các nhà văn hậu bối, cũng để vận dụng lý thuyết Bakhtin qua các trường học, các lớp hậu hiện đại để nghiên cứu về lịch sử văn học.

    Đối thoại là lối văn tiêu biểu những phong cách tân văn kể từ hậu phong trào tiểu thuyết Dostoievski. Vượt qua phạm vi tác giả tiên khởi Dostoievski, văn chương đã đổi mới. Trong ngôn ngữ đối thoại vốn mang tính đa thanh, đa âm giữa các nhân vật trong truyện, điều Bakhtin chú trọng nhất là lời nói. Chính lời nói là đặc trưng tạo nên tính đối thoại rõ nét nhất của tiểu thuyết. Tác phẩm dược tạo ra do công trình sáng tạo văn chương với tính đa thanh, đối thoại của nó diễn ra trong nội dung tư tưởng trong văn bản nói chung ở thể loại thơ (thi ca), hay truyện ngắn ví dụ ngày xưa của nhóm Tự Lực Văn Đoàn và nhiều tác giả khác, hoặc tiểu thuyết qua các phương diện: ngôn ngữ, giọng điệu, cách nhìn vào bố cục văn phong, tương ứng về thể loại văn chương. Ngày nay khi nhìn lại phong trào tiểu thuyết Dostoievski, hay lý thuyết đối thoại Bakhtin là cả một sự tiến bộ cho thế giới văn học nói chung.

    Nói về trường phái ngôn ngữ học xuyên qua lý thuyết Bakhtin được cấu trúc tân tiến như hiện nay, song song ta xét tiếp về văn học do Roland Barthes nói về văn bản, khi ta đi từ tác phẩm văn học sang văn bản (literal texts, literal works hay textes littéraux, œuvres littérales) có thể nói Barthes là người thành công nhất trong việc thực hiện nhiệm vụ chính yếu nói trên. Xem xét lại khái niệm liên văn bản của nhà vặn Julia Kristeva, chính nhờ Barthes đã tạo cho nó một cái tên gọi mới ngắn gọn và mạnh mẽ hơn, đó là “Văn Bản”, mà ý muốn của Barthes cần nhấn mạnh về mặt thuật ngữ. Từ ngữ “văn bản” có nghĩa là “tấm dệt”, “mạng lưới”, “tấm vải”, và nếu vào những năm 1970, nguyên mẫu “văn bản” của Barthes thường là “Thiên Hà của Gutenberg” (Gutenberg’s Galaxy), hoặc dưới tên “Thư viện của Borges” (Borges’s Library) thì ngày nay, hình ảnh thích hợp nhất với nó là “siêu văn bản” qua hình thức các máy vi tính hay điện toán chứa dữ liệu (datafiles) như một “tấm dệt”, hay là “mạng lưới toàn cầu” (world wide web) truyền đi toàn thế giới”.

    Xem tiếp Ngọc Cường qua đoạn kế…

    “Văn học bao gồm cả văn chương nhưng cộng thêm về lý luận và phê bình.Có thể nói văn học dùng phương pháp khoa học nghiên cứu văn chương, trong khi văn chương thuần túy là sáng tạo do diễn đạt xúc cảm , như định nghĩa của nó.Văn chương (thơ và văn xuôi) là nghệ thuật dùng chữ để diễn tả tư tưởng và cảm xúc.Như vậy,trước khi nói đến văn chương, ta thử tìm hiểu rõ thêm xem nghệ thuật là gì?

    Từ lâu, cách đây trên hai ngàn năm, Plato đã tìm về ý nghĩa của nghệ thuật; và từ đó đến nay, nhiều người cũng đã làm công việc này nhưng vẫn chưa ai hoàn thành vì nó phức tạp và khó khăn cho định nghĩa nghệ thuật. Văn hào Tolstoy nước Nga đã viết một cuốn sách nhỏ (Nghệ Thuật Là Gì, Tolstoy,1896), chỉ nhằm định nghĩa hai từ nghệ thuật! Dù vậy, định nghĩa của Tolstoy vẫn chưa toàn hảo,chính xác. Một tiêu chuẩn Tolstoy nêu ra (ngoài rất nhiều chi tiết khác) là : nghệ thuật không phải để giải trí ,mua vui mà là phương tiện giao cảm giữa tác giả và người khác… Điều này ….có vẻ trái với ý của cụ Nguyễn Du nước ta , khi cụ viết :

    “Lời quê chắp nhặt dông dài ,

    Mua vui cũng đươc một vài trống canh.”(câu kết của Truyện Kiều )”.

    Ngọc Cường ghi nhận về văn học hay văn chương qua lăng kính lý luận và phê bình. Khi nói về ý niệm nghệ thuật ta có thể xét qua quan điểm của triết gia Kant cho là “Nghệ thuật vị nghệ thuật” (L’art pour L’art, Art for Art’s Sake, French slogan from the early 19th century, “l’art pour l’art”, and expresses a philosophy that the intrinsic value of art, and the only “true” art, is divorced from any didactic, moral, or utilitarian function), còn được gọi là nghệ thuật thuần túy. Đây là một nguyên lý mỹ học duy tâm, chủ trương nghệ thuật độc lập với đời sống xã hội và chính trị, khước từ sứ mệnh của nghệ sĩ trong sứ mạng đấu tranh xã hội, thường dùng nền tảng lý luận cho các trường phái và khuynh hướng văn học có thái độ bất hòa với những vấn đề hiện thực, tìm lối thoát qua hình thức chủ nghĩa (Formalism). Lý luận này bắt nguồn từ những luận điểm mỹ học của triết gia Immanuel Kant (1724 – 1804), nhà triết học duy tâm cổ điển Đức, cho rằng cái đẹp của nghệ thuật là tự nhiên phát sinh ra, không thể tính toán, vụ lợi trong bất cứ mục tiêu nào khác ngoài chính bản thân nghệ thuật mà thôi. Đến thế kỷ XIX, nhiều nhà lý luận, nhà văn, nhà thơ ở Đức và Pháp đã phát triển tư tưởng này nhằm tách rời văn học nghệ thuật ra khỏi đời sống xã hội, phủ nhận ý nghĩa nhận thức và giáo dục tư tưởng, phủ nhận sự phụ thuộc của nghệ thuật vào những yêu cầu thực tiễn của thời đại. Và từ đó, trước sau sẽ dẫn đến chỗ khẳng định nghệ sĩ phải đươc “tự do” khai phá, hay sáng tác, không có trách nhiệm với xã hội, tức là đến chủ nghĩa cực đoan. Đó là mầm mống của các trường phái văn học ở cuối thế kỷ XX như chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa đa đa (Multiplism), chủ nghĩa số nhiều (Pluralism), chủ nghĩa vị lai (Futurism, Prospectivism),… Ta thấy có quan diểm của JP Sartre (Existentialism), Nhất Linh (Tự Lực Văn Đoàn) trong đề tài.

    Quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” hay L’art pour L’art (Art for Art’s Sake) tương phản với chủ trương của trường phái “Sự tự chủ của nghệ thuật” (Sự tự chế của nghệ thuật, hay Pseudo-Autonomy of Art, Its frame distinguishes art from non-art, provides it with the appearance of autonomy and gives it entry into history. The frame changes the context of art. It removes the painting from the viewer’s world. The space between framed art and viewer is discontinuous). Vì những mâu thuẫn về sự suy nghĩ hay chủ trương nên có dạo lịch sử ghi nhận cả hai hê phái Nghệ thuật vị nhân sinh và Nghệ thuật vị nghệ thuật. Người viết bài hơi ba phải, vì đứng bên nào thấy cũng phải cả, tùy trường hợp nhé. Nếu duy tâm lãng mạn thì vị nghệ thuật. Nếu đương đầu với việc chính trị hay xã hội ta suy nghĩ mất ngủ luôn nhé. Thực ra thì sự phát triển cái nhìn duy tâm về nghệ thuật của những người chủ trương Nghệ thuật vị Nghệ thuật, đã đề cao nghệ thuật thuần túy đều công khai hoặc kín đáo đối với thực trạng xã hội và chính trị theo một cung cách nào đó. Khó nói lắm, uốn lưỡi 7 lần theo nhà hiền triết Socrates mà vẫn bâng khuâng tơ trời như ông Hệ Lụy vậy. Xem tiếp Ngọc Cường ở đoạn cuối qua những ghi nhận về nghệ thuật…

    “Nói chung, nghệ thuật phản ảnh cuộc sống nên cũng mơ hồ, phức tạp như thế; và giá trị của nghệ thuật mang tính chủ quan, không thể chỉ do các nhà phê bình đơn thuần cho là hay hoặc dở, đẹp hay xấu, mà chỉ có nhận định chủ quan của người thưởng ngoạn quyết định. Nếu khai triển thêm ra, nghệ thuật là sáng tạo có tính hấp dẫn: khen chê là do quyết định của người nhận, độc giả, thính giả hay người xem tranh …Trước kia, khi mới được khai sanh,trường phái họa “ấn tượng”ở Pháp đã bị chê bai gắt gao, ngay cả danh hiệu của họ (impressionism, môn phái ấn tượng ) xuất phát từ bức tranh “Ấn tượng, một buổi bình minh” của Claude Monet bị nhà phê bình Louis Leroy gắn cho cái tên “Bọn Ấn Tượng” một cách mỉa mai qua bài đăng trên báo Le Charivari. Không ngờ từ đó Ấn Tượng lại trở thành môn phái quan trọng trong nền hội họa: và gần đây, ở nước ta thấy xuất hiện một văn phái, họ viết rất hấp dẫn, dùng nhiều từ khó hiểu, ra vẻ cao siêu, đầy triết lý mà độc giả bình thường không hiểu nổi. Xin thí dụ một đoạn như sau “….tiểu thuyết Việt-Nam hiện nay, không phải là xác nhận một trở thành đã hoàn tất, mà là theo dõi những chặng đường của một vận động đang tuần tự hình thành. Vận động đó là một vận động của ý thức, một vận động của nghệ thuật…” ( Mai Thảo,1965) : Những luận điểm như trên khó hiểu và dễ làm lẫn lộn, hoang mang người đọc. Họ tự nhận là nhóm sáng tạo, gay gắt với trào lưu văn nghệ tiền chiến, nhưng hình như họ muốn đồng nghĩa khó hiểu với xâu sắc, tối nghĩa với triết lý. Sự thật, chuyện bình thường và giản dị trên đời như tình yêu, gia đình, vui, buồn … là những vấn đề sâu xa nhất của con người. Nhóm sáng tạo là môn phái lập dị thì đúng hơn (Lê Huy Oanh, Về thơ tự do, 1957 ). Dù sao, chỉ có thời gian mới là quan tòa, mới có lời phê phán cuối cùng cho nghệ thuật: Tác phẩm có giá trị khi nó vượt được thử thách của thời gian và không gian ( Nhất Linh,Viết và đọc tiểu thuyết,1958 ).

    Nếu đồng ý như vậy, ta có thể nói rằng không có tác phẩm nào tuyệt hảo cả: Nói cho cùng thì dù chỉ được một độc giả yêu thích cũng đem niềm vui cho tác giả. Nghệ thuật rõ rệt là chủ quan và phi thời trang nhưng lại mang tính dân chủ (số đông quyết định giá trị). Như trường hợp của Van Gogh, cả một đời vẽ tranh ( rất nghèo lại vắn số, chết sớm) chỉ bán lèo tèo vài bức (dù người em là môi giới hội họa đã cố gắng giúp anh). Thế mà ngày nay, bức“Hoa Diên Vỹ”( Irises,1889) được bán với giá mấy chục triệu đô! Cùng số phận hẩm hiu với Van Gogh là nữ văn hào Emily Bronte, tác giả cuốn “Đỉnh Gió Hú”( Wuthering Heights,1847) khi xuất bản đã không được độc giả hưởng ứng mà phải chờ đến cả trăm năm sau mới có lời khen. Ngày nay, tác phẩm duy nhất này của bà trở thành một tuyệt tác của thế giới, được mọi người, mọi nơi công nhận! Sự kiện tương tự sẽ là niềm an ủi cho nhiều nghệ sĩ không thành công ngày hôm nay ( trong đó có tôi, nói một cách tự an ủi),và hy vọng rằng có thể sau này, vài chục năm nữa, sẽ có người yêu thích? Phải chăng con người bao giờ cũng bám víu và sống với chút hy vọng vào ngày mai tươi sáng hơn hôm nay?

    Thẩm mỹ , hay cái đẹp, – đối tượng chính của nghệ thuật- hiển nhiên là do nhận định chủ quan mỗi người , nhưng liệu ta có thể tìm thấy một tiêu chuẩn, hay mẫu số chung , dựa vào đó , mọi người cùng đồng ý hoặc chấp nhận, dù họ ở đâu và sống ở bất cứ thời đại nào? Lúc trước , khi xem hình ảnh bên Phi Châu chụp mọi cà răng căng tai, ít ai coi đó là thẩm mỹ , mà còn cho là man di mọi rợ , nhưng đâu ngờ , gần đây, ngay ở Bolsa bên Mỹ , lại xuất hiện người đi căng tai , chà răng và đeo vòng ở lưỡi ! Theo tôi, vẻ đẹp (có lẽ) phát xuất từ ấn tượng người tiền sử cảm nhận qua thiên nhiên (tranh vẽ, khắc trên đá, mô tả thú vật ở hang Lascaux, Pháp, khoảng 20,000 ngàn năm trước) và sau này, khi lòai người đã hợp quần thành xã hội), thì từ tình yêu , trước tiên là tình mẫu tử , đôi lứa , vợ chồng …rồi nâng cao, biến dạng trở thành lòng trắc ẩn, thương yêu đồng loại. Không khác gì các giống vật hợp quần (con kiến, loài ong…) để duy trì giống nòi , con người phải hy sinh ; và khi sống cho tha nhân, cảm thấy thỏa mãn vì đó là bản tánh chân thật của mình (Nhân chi sơ tính bản thiện, Khổng Tử, 500 năm trước Công Nguyên).Thâm tâm con người , không một ai muốn gây đau đớn sầu khổ cho người khác. Phải chăng , tội ác do hoàn cảnh gây ra , vì mà có ai thực sự làm chủ được vận mệnh của mình đâu , nếu như vậy : ý chí tự do ( free-will ) chỉ là một ảo tưởng , như người ta thường ví : cuộc đời là một vở kịch hay canh bạc , trong đó , con người đóng một vai hay tùy thuộc vào may mắn ! Vậy tôi là ai ?

    Nếu một tác phẩm là đứa con tinh thần của người sáng tác, thì sự liên hệ giữa tác giả và tác phẩm rất mật thiết, như chuyện của một gia đình:Vì lẽ đó,muốn hiểu thấu đáo bức tranh, hoặc cuốn tiểu thuyết , sự hiểu biết về tác giả giúp ta tận hưởng rõ hơn tác phẩm của họ. Nhưng ta cũng tránh có quan điểm quá khích: như ghét tác giả ( vì lý do gì đó, chính trị chẳng hạn) rồi vơ đũa chê tác phẩm của họ luôn! Ngược lại, cũng đừng tôn thờ tác giả như là một fan của họ (nguyên ngữ từ fanatic ra, nghĩa quá khích).

    Nghệ thuật không là bản sao chép thiên nhiên mà là cách diễn tả cuộc đời qua nhận thức của tác giả- Phải chăng con người nhìn mọi thứ trên đời qua nhận thức chủ quan của mình- Nhưng chính nhờ đó mà tác phẩm trở nên sống động , như được tái sinh, có cuộc sống thứ hai, vì vậy đã đem lại sự thích thú cho người thưởng ngoạn: thu hút họ, làm như chính họ được sống như một nhân vật trong truyện dù câu chuyện đã xẩy ra cả trăm năm trước ; hay chính mình, như họa sĩ, đang đứng trước cảnh của bức tranh , dù ở một nơi ta chưa hề đặt chân tới .Đó là sự kỳ diệu của nghệ thuật,chứ không phải vấn đề triết lý cao siêu.Câu hỏi nên đặt ra, không phải là“con người,cuộc sống là gì?”mà trở thành“Cái gì có thật trên cõi đời này?”(Rainer Rilke,1912 );và đối với người nghệ sĩ thì cảm giác phải là thật (Bạn cứ thử đá chân vào hòn đá thì biết!).

    Để kết luận, có thể nói, nghệ thuật có rất nhiều mục đích, tùy quan niệm của tác giả: như giúp ta trở nên cao thượng, tận hưởng cuộc sống hơn( như nhận xét của Thạch Lam, Nhất Linh), giải bầy vấn đề triêt lý ( như Sartre, Camus) .v.v..nhưng theo tôi, tất cả những mục đích ấy chỉ là phụ, đến sau, không chủ tâm , nhưng xuất hiện như mấy phản ứng phụ của thuốc tây (side effect ) mà có thể lại mãnh liệt hơn cả mục đích chính là mua vui dù là một thú đau thương! Nghệ thuật phải có tính hấp dẫn trước nhất, để giải trí thiên hạ (Nguyễn Du), một món ăn tinh thần cho công chúng. Nếu không có tính hấp dẫn thì nghệ thuật không tồn tại và sẽ không truyền đạt các mục đích khác nữa được.

    Phải chăng,với chủ quan và hiểu biết hạn hẹp,tôi đã vừa liều lĩnh trả lời về điều kiện tối thiểu của người viết nêu ra ở phần đầu : đó là ai cũng có thẩm quyền bàn về nghề thuật cả ? Xin cảm tạ quý độc giả. Ngọc Cường.”.

    Hinh kèm hôm ra mắt sách Bâng Khuâng
    của nhà văn Ngọc Cường và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật 
    và Tiếng Thời Gian.

    Sau cùng nhà văn Ngọc Cường còn có thú thưởng ngoạn bộ môn hội họa. Ở bìa sách Bâng Khuâng và phần Phu lục anh trình bày bức họa nổi danh “La Nuit Etoilée aux Carrières de Lumières” (à Saint-Remy-de-Provence) của họa sĩ Van Gogh. Với những vòng xoáy quyến rũ, bố cục tranh cho vẻ say đắm và màu sắc đầy mê hoặc, Đêm đầy sao (“La Nuit Etoilée”) của Vincent van Gogh là một trong những tác phẩm nghệ thuật được yêu thích và nổi tiếng nhất thế giới. Trong sự sáng tạo và thành công cuối cùng này như nội dung câu truyện có nhiều điều lý thú về Đêm đầy sao này mà khách thưởng ngoạn có thể biết.

    Ôn sơ qua về tiểu sử của Van Gogh, ông sinh ngày 30 tháng 3 năm 1853 – 29 tháng 7 năm 1890, là một danh hoạ Hòa Lan thuộc trường phái hậu ấn tượng (Post-Impressionism). Nhiều bức tranh của ông nằm trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất, được yêu thích nhất và giá đắt nhất trên thế giới. Van Gogh là nghệ sĩ tiên phong của trường phái biểu hiện (Expressionism) và có ảnh hưởng rất lớn tới mỹ thuật hiện đại, đặc biệt là tới trường phái dã thú (Fauvism) và trường phái biểu hiện tại Đức.

    Tranh La Nuit Etoilée mô tả quan điểm của Van Gogh từ một trại tị nạn. Sau khi trải qua một lần ông bị suy sụp tinh thần vào mùa đông năm 1888, van Gogh đã tự mình đến nhà tị nạn Saint-Paul-de-Mausole gần Saint-Rémy-de-Provence. Quan điểm nghệ thuật đã trở thành nền tảng của tác phẩm mang tính biểu tượng nhất của ông. Từ cảm hứng của mình, van Gogh đã viết trong một trong nhiều lá thư của mình cho em trai Theo, “Sáng nay anh thấy đất nước mình từ cửa sổ rất lâu trước khi mặt trời mọc, không có gì ngoài ngôi sao buổi sáng, trông thật to lớn.”

    Các nhà sử học nghệ thuật đã xác định rằng van Gogh có một số quyền tự do với góc nhìn từ cửa sổ phòng ngủ tầng hai của ông, một lý thuyết được hỗ trợ bởi thực tế là studio vẽ mà ông vẽ ở tầng một của tòa nhà. Ông viết: “Qua cửa sổ có rào chắn bằng sắt. Tôi có thể thấy một quảng trường lúa mì kèm theo trên đó, vào buổi sáng, tôi nhìn thấy mặt trời mọc trong tất cả nét vinh quang của nó.”

    Ngôi làng từ hướng cửa sổ của mình, van Gogh sẽ không thể nhìn thấy vùng Saint-Rémy. Tuy nhiên, các nhà sử học nghệ thuật có những nhận xét khác nhau về việc ngôi làng được trình bày trong bức The Starry Night được lấy từ một trong những bản phác thảo than của thị trấn Pháp hay nếu nó thực sự thì có thể được lấy cảm hứng từ quê hương Hòa Lan. Đêm đầy sao cho thấy tỷ lệ tử vong, khi nhìn các ngọn tháp tối ở phía trước là cây bách, loại cây thường liên quan đến nghĩa trang và cái chết. Mối liên hệ này mang một ý nghĩa đặc biệt đối với câu nói của Van Gogh này, “Nhìn những ngôi sao luôn khiến tôi mơ ước. Tại sao, tôi tự hỏi mình, không nên cho những chấm sáng trên bầu trời có thể thêm vào như những chấm đen trên bản đồ nước Pháp? Ngay khi chúng tôi đi tàu để đến Tarascon hoặc Rouen, chúng tôi sẽ chết để đến được một ngôi sao.”, ông viết.

    Tranh Đêm đầy sao nổi tiếng thế giới được vẽ vào năm 1889. Nhưng năm trước, van Gogh đã tạo ra Đêm đầy sao ban đầu của mình, đôi khi được gọi là Starry Night Over The Rhone. Sau khi đến Arles, Pháp vào năm 1888, van Gogh đã bị ám ảnh một chút với việc chụp ánh sáng của bầu trời đêm. Ông đã tìm hiểu mô tả trong tranh Cafe Terrace trên Diễn đàn Place du, trước khi dám thực hiện bản phác thảo Starry Night đầu tiên của mình với tầm nhìn ra sông Rhone.

    Xem thêm các tác phẩm ta biết đến như là tranh Saint-Paul Asylum, loạt tranh vẽ ở Saint-Remy, ông viết cho người em Theo: “Tất cả trong tất cả những điều duy nhất anh xem là tốt mà trong đó là các bức Wheatfield, Mountain, the Orchard, the Olive những cái cây với những ngọn đồi xanh và Chân dung và Lối vào mỏ đá, và phần còn lại không nói gì theo ý anh.”

    Van Gogh vô tình vẽ Venus. Vào năm 1985, nhà sử học nghệ thuật thuộc trường UCLA Albert Boime đã so sánh Starry Night với một trò giải trí trên hành tinh về cách bầu trời đêm sẽ xuất hiện vào ngày 19 tháng 6 năm 1889. Sự tương đồng rất đáng chú ý và đã chứng minh rằng “ngôi sao buổi sáng” của Van Gogh như được đề cập trong bức thư của ông gửi em trai của ông, thực tế là hành tinh Venus.

    Buồn thay cho số nghềo Van Gogh chỉ bán một hoặc hai bức tranh trong cuộc đời của mình và cũng không phải là bức Đêm đầy sao. Một trong những người được biết chắc chắn đã được bán là bức The Red Vineyard tại Arles, ít được biết đến hơn, được hoàn thành vào tháng 11 năm 1888, trước khi sự cố khiến ông phải đi tị nạn. Nghệ sĩ và nhà sưu tập người Bỉ Anna Boch đã mua nó với giá 400 franc tại triển lãm Les XX năm 1890. Ngày nay, bức tranh lịch sử này được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Pushkin ở Moscow. Nhưng có bằng chứng cho thấy van Gogh đã bán bức tranh thứ hai. Trong tiểu sử của mình về nghệ sĩ, nhà sử học Marc Edo Tralbaut đã nói về một lá thư của Theo nói rằng một trong những bức chân dung tự họa của Van Gogh đã tìm đến một đại lý nghệ thuật ở London.

    Bức tranh Đêm đầy sao được hai lần sở hữu bởi góa phụ Theo. Sau cái chết của van Gogh năm 1890, Theo được thừa hưởng tất cả các tác phẩm của em trai của mình. Nhưng khi người em qua đời vào mùa thu năm 1891, vợ của ông là Johanna Gezina van Gogh-Bonger đã trở thành chủ nhân của Đêm đầy sao và những bức tranh khác. Đó là van Gogh-Bonger, người đã thu thập và chỉnh sửa thư từ của anh em ông để xuất bản, và bà được ghi nhận với việc xây dựng danh tiếng sau khi chết của Van Gogh, nhờ vào sự quảng bá rộng rãi của Johanna về thành quả của công việc triển lãm..

    Năm 1900, van Gogh-Bonger đã bán Starry Night cho nhà thơ người Pháp Julien Leclerq, người đã sớm bán nó cho nghệ sĩ hậu ấn tượng Émile Schuffenecker. Sáu năm sau, Johanna đã mua lại bức tranh từ Schuffenecker để bà có thể chuyển nó đến Phòng trưng bày Oldenzeel ở Rotterdam, Hòa Lan.

    Đó là bức tranh van Gogh. Còn ở trang 11 sách Bâng Khuâng, Ngọc Cường cho trưng bức tranh Bữa trưa trên cỏ của họa sĩ Édouard Manet.

    Édouard Manet (1832 – 1883) là một danh họa người Pháp, nổi tiếng với phương pháp vẽ hiện đại trong hội họa. Manet luôn tự nhận mình đi theo trường phái hiện thực. Tuy nhiên, vào năm 1868, sau buổi gặp gỡ với các họa sĩ theo trường phái ấn tượng, Manet quyết định sẽ kết hợp cả hai trường phái lại. Kể từ đó, ông trở thành bậc thầy khi kết hợp 2 trường phái này tưởng chừng chẳng ăn nhập gì với nhau.

    Bữa Trưa Trên Cỏ là một trong những tác phẩm thành công nhất của Édouard Manet và hiện được trưng bày tại viện bảo tàng Louvre nước Pháp. Bữa Trưa Trên Cỏ đáng giá vì nó khác biệt với những bức tranh đương đại cùng thời về bố cục, kích thước và nhân vật trong tranh.

    Về bố cục tranh Bữa Trưa Trên Cỏ được lấy cảm hứng từ hai bức vẽ Italy vào thế kỷ 16 là Buổi Hòa Nhạc Đồng Quê (The Pastoral Concert, Le Concert Pastoral) và Phán Xét Của Paris (The Judgment Of Paris, Le Jugement de Paris).

    Sau cùng, bài viết này được tản mạn lãng đãng từ những ý niệm trong đề tài “Đôi dòng về nghệ thuật” của nhà văn Ngọc Cường ghi nhận về nghệ thuật và những khía cạnh của nó.

    Nhà văn Ngọc Cường viết về những cảm nghĩ chung cuôc về nghệ thuật. Nghệ thuật dù bị áp lực chính trị chi phối hay bị trấn áp, khủng bố, nghệ thuật bị cám dỗ bởi duy tâm lãng mạn cũng hại chúng ta.. Phải chăng nghệ thuật là con dao hai lưỡi. Người nghệ sĩ hãy chọn khuynh hướng sao cho thích hơp cho mình. Đoạn văn dưới đây là phấn kết thúc bài viết chung của hai chúng tôi.

    “Có lẽ phải đợi một trăm năm sau vấn đề chính trị mới không còn ảnh hưởng đến nghệ thuật nữa chăng.. Mục đích của nghệ thuật là mua vui, và đôi khi sự hiểu biết nhiều về tác giả hay tác phẩm cũng chỉ làm giảm thú thưởng ngoạn: Như khi còn trẻ, tình yêu bao giờ cũng đẹp hơn người yêu, có nhạc sĩ than thở: “làm sao giết được người trong mộng!” Là một “fan” hay bị lung lạc bởi tác giả là quan niệm ấu trĩ về nghệ thuật vì, như đã nêu ở trên, chính kẻ thưởng ngoạn làm chủ tác phẩm.. Hãy trả lại chủ quyền cho khán thính giả, cho giới thưởng ngoạn.

    Bàn về nghệ thuật, có lẽ nếu đi sâu quá thì sẽ không cần thiết và lâm vào lãnh vực chuyên môn của mấy nhà khảo cứu triết học. Tuy nhiên, là một độc giả, khán thính giả bình thường, ta cũng nên có một xác định rõ rệt về sở thích của riêng mình. Cũng như khi cầm ly rượu lên uống, không cần biết nó đắt tiền, giá bao nhiêu mà chỉ cần biết là nó ngon với mình, như vậy là đủ rồi.”

    Việt Hải và Ngọc Cường
    6/2019

  • Tin tức,  Việt Hải

    Nhớ Trần Quang Hải

    GS. TS. Trần Quang Hải (1944-2021)

    Tôi xúc động khi Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo thông báo hung tin GS. TS. Trần Quang Hải đã ra đi ở Paris được 3 tiếng, tôi nghe tin mà lòng se thắt, dù biết là căn bệnh anh mang là loại nan y. Tôi và Trần Quốc Bảo trao đổi những kỷ niệm trong chuyến Cali du 2018 do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian mời tham dự buổi lễ vinh danh người nhạc sĩ tài hoa được thế giới công nhận về ngành Âm nhạc Dân tộc học (L’ethnomusicologie). Sự nghiệp âm nhạc học và nghiên cứu âm nhạc học của Giáo sư Trần QuangHải vượt ra ngoài giới hạn của đất nước Việt Nam, nơi ông chào đời. Loại nhạc bao bao gồm Âm nhạc Việt Nam, tức Phương Đông, từ Âm nhạc truyền thống Việt Nam thuộc mọi thể loại, đến nền âm nhạc của người Thượng ở vùng Tây Nguyên Việt Nam. Nhạc đã vượt ra ngoài biên giới xứ sở để phổ biến những khía cạnh tuyệt vời của Di sản âm nhạc của các quốc gia khác nhau trải dài từ Đông Nam Á đến Trung Á để vươn xa đến tận nước Do Thái, rồi Trung Âu đến Tây Âu.

    GS. Phạm Hồng Thái đã phỏng vấn và thu thập tài liệu về GS. Trần Quang Hải để ấn hành bộ sách song ngữ Anh Việt để đời Tran Quang Hai-50 Nam Nghien Cuu Nhac Dan Toc Viet. Book Cover 10-7-18.jpg, by Lulu Printing.

    Ngoài ra GS.Quyên Di của đại học California State University at Long Beach cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi lễ ra mắt sách Trần Quang Hải thật trang trọng.

    cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức

    Ngày ra mắt sách 10 tháng 2, 2019 tại trường đại học CSU-Long Beach, California, USA

    Tháng 2, 2018 Chiều Văn Hóa CSU-LB (Sunday) và vinh danh GS. TQH Paris.

    Ngày 2 thàng 10, năm 2018

    Lời Nói Đầu

    Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm NVNT và TTG đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng  góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới. Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc Việt Nam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu.

    Với cuộc sống ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra dòng chính thế giới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa vào các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo, về những nghiên cứụ và tham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong phạm vi dân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là thành viên SACEM (Society of Authors, Composers and Publishers of Music) và ông cũng được trao tặng bảo quốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp.

    Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón nhận như một tác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người nhạc sĩ độc đáo của chúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầu truyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau. Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần Quang Hải.

    Thay mặt,

    GS. Dương Ngọc Sum, Cố vấn.

    NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN.

    PHAN ANH DŨNG biên soạn : NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019

    Link tham khảo: https://tranvankhe-tranquanghai.com/2020/05/27/phan-anh-dung-bien-soan-nhac-si-tran-quang-hai-ra-mat-sach-o-nam-california-thang-2-2019/

    Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải giúp tôn vinh âm nhạc Việt Nam Trần Quang Hải là một nhạc sĩ tài năng sống ở Pháp và đã tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại 65 quốc gia trên thế giới. Với cha mình, giáo sư nổi tiếng Tiến sĩ Trần Văn Khê, và vợ ông, ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến, ông đã đóng góp trong nhiều năm để nghiên cứu, quảng bá và tôn trọng âm nhạc Việt Nam. Trần Quang Hải sinh ra trong một gia đình có năm thế hệ nhạc sĩ ở miền Nam Việt Nam. Cha của ông, Giáo sư Trần Văn Khê, nổi tiếng vì đã giúp quảng bá âm nhạc Việt Nam truyền thống trên khắp thế giới và tôn vinh nó trong các lĩnh vực nghiên cứu và biểu diễn.

    Ông Hải tốt nghiệp từ Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn trước khi định cư tại Pháp để học tập và nghiên cứu âm nhạc tại Đại học Sorbonne và nhạc dân tộc học tại Đại học Khoa học Xã hội ở Paris. Ông bắt đầu nghiên cứu về âm nhạc phương Đông tại Bảo tàng Man vào năm 1968.

    Năm sau, ông Hải được bổ nhiệm vào vị trí tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia trong khi vẫn còn là sinh viên. Anh quyết định tập trung vào kỹ thuật ca hát âm nhạc, mà anh đã phát hiện vào năm 1969. Nghệ thuật, bao gồm cả việc sản xuất hai âm thanh đồng thời từ cổ họng, khiến anh nổi tiếng trên toàn thế giới như chuyên gia số một trong ca hát âm nhạc.

    « Sau nhiều tháng nghiên cứu, tôi đã phát triển một hệ thống các phương pháp để ca hát âm nhạc, » nhà âm nhạc dân tộc học nói. « Cho đến nay, tôi đã có 8.000 người học cho chủ đề này ở 65 quốc gia. »

    Giáo sư Quang Hải đã nhận được hơn 30 giải thưởng quốc tế cho các nghiên cứu âm nhạc của mình. Năm 2002, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã trao Huân chương Danh dự cho Tiến sĩ Hải để ghi nhận những đóng góp của ông cho nghiên cứu về ca hát âm nhạc trên thế giới. Một bậc thầy về âm thanh, nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng hầu như có thể chơi nhiều nhạc cụ truyền thống Việt Nam như đàn tam thập lục 16, violin hai chord, sáo và thậm chí cả cái muỗng. (Anh ấy đã mang lại rất nhiều cải tiến cho kỹ thuật trò chơi muỗng.)

    Tiến sĩ Quang Hải thấy mình là một sự pha trộn của một số loại âm nhạc – Đông và phương Tây, truyền thống và đương đại. Âm nhạc của anh ấy không có biên giới. Anh nói anh đã tạo ra một tầm nhìn toàn cầu về thế giới và âm nhạc Việt Nam. Nó nhằm mục đích kết hợp tất cả các thể loại âm nhạc truyền thống trong một thế giới âm nhạc điển hình.

    Mặc dù ông đã sống ở nước ngoài được 45 năm, ông Hải luôn nhìn về quê hương của mình với một cảm giác đặc biệt. Ông thực hành lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Phiên dịch viên soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống một cách nhiệt tình mà còn nỗ lực bảo tồn nó. Anh đã tổ chức 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của đất nước. Người đàn ông chuyên dụng cũng đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại Pháp, Ý và Hoa Kỳ.

    Giáo sư Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc các loại, bao gồm ca hát và âm nhạc cho các nhạc cụ truyền thống Việt Nam.

    Nhà khoa học nổi tiếng đã viết nhiều bài báo và sách cho các tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được xuất bản trên từ điển New Grove.

    Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (Mỹ) và Kế hoạch chính thức ( Pháp).

    Xin xem link sau:

    https://tranvankhe-tranquanghai.com/2018/09/28/bia-sachtran-quang-hai-50-nam-nghien-cuu-nhac-viet-dan-toc-do-nhan-van-nghe-thuat-xuat-ban-california-usa-2018/

    Cảm nhận của GS. Quyên Di khi nghe tin:

    Anh Việt Hải ơi,

    Nhớ về anh Trần Quang Hải. Anh thêm giúp tôi ngày tổ chức và những người dự buổi lễ vinh danh anh Trần Quang Hải nhé. Đừng quên Giáo sư Hikoki Tahara bay từ Nhật sang dự lễ.

    “Nhạc sĩ Trần Quang Hải là một nhân tài của nền tân nhạc Việt Nam. Ông xuất sắc cả về lý thuyết âm nhạc lẫn sử dụng nhạc cụ. Ai đọc qua tiểu sử rút gọn của ông cũng thấy ông nhận được quá nhiều giải thưởng quốc tế về âm nhạc.

    Chính vì muốn vinh danh những nhân tài gốc Á châu, phân khoa Nghiên Cứu về Người Á Châu và Người Mỹ Gốc Á Châu của Đại Học CSU Long Beach đã quyết định trao bằng vinh danh Nhạc Sĩ Việt Nam Trần Quang Hải trong một buổi lễ long trọng được tổ chức tại giảng đường khoa Tâm Lý Học vào ngày lễ.

    Bà khoa trưởng, giáo sư tiến sĩ Teri Yamada đã cử tôi đại diện phân khoa trao bằng vinh danh cho ông. Hầu hết các thành viên của liên nhóm Nhân Văn Nghệt Thuật và Tiếng Thời Gian đã có mặt trong buổi lễ vinh danh này, trong đó phải kể đến….”

    Bạn bè ra đi nhiều quá! Buồn!

    Quyên Di, Đại học California State Long Beach.

    Nhà thơ Hà Nguyên Du xem tin buồn trên Facebook kể kỷ niệm vui khi đến thăm NS.Trần Quang Hải tại căn resort house của GS. Trần Mạnh Chi gần biển Huntington Beach, hôm ăn phở 54, uống cà phê Starbucks, những kỷ niệm vui. Nhà văn Nguyễn Quang, Chinh Nguyên, Khánh Lan, Nhạc trưởng Nguyên Hồng kể kỷ niệm. Họp mặt tiếp Trần Quang Hải tại tư gia Melinda Lan và Lưu Mạnh Bông, party tại tư gia NS. Lam Phương, rồi tư gia Nguyễn Quang, tư gia Việt Hải, những hôm chuyện trò bù khú ở cửa tiệm HanaMaru Japanese Sushi Bars, Hủ tiếu Triều Châu, Mì La Cay, Habit Burger Grill,…

    Hôm nay bạn bè được tin anh Trần Quang Hải, anh chị em Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và thân hữu văn nghệ sĩ xúc động, buồn lưu luyến, xin chia buồn cùng chị Bạch Yến và cháu Minh Tâm, cùng anh Trần Quang Minh và gia quyến. Nguyện cầu hương linh anh Trần Quang Hải sớm về cõi Vĩnh Hằng an bình ngàn thu.

    Trần Việt Hải, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    Giáo sư Trần Quang Hải qua đời ở tuổi 78 tại Pháp.

    GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến chụp ảnh cùng Tổng thống Pháp Jacques Chirac năm 2002.

    Theo thông tin từ gia đình Giáo sư – tiến sĩ Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải, giáo sư vừa qua đời lúc 0h ngày 29-12, tại Pháp.

    Kiến trúc sư Trần Quang Minh – em trai Giáo sư, tiến sĩ Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải – thông tin với Tuổi Trẻ Online, giáo sư Trần Quang Hải mất lúc 0h ngày 29-12, tại Pháp, hưởng thọ 78 tuổi.

    Ông Trần Quang Minh cho biết, anh trai ông lúc tối đi ngủ, và ngủ luôn không dậy nữa.

    Giáo sư Trần Quang Hải đang trong thời gian điều trị bệnh ung thư máu. Trước đó, ngày 23-12, trong lễ ra mắt Quỹ học bổng Trần Văn Khê tại Trường đại học Văn Lang (quận Bình Thạnh, TP.HCM) nhân kỷ niệm 100 năm sinh giáo sư Trần Văn Khê; giáo sư Trần Quang Hải có quay clip gửi về Việt Nam chia sẻ về tâm nguyện mong muốn lập quỹ học bổng của cha mình.

    Giáo sư Trần Quang Hải sinh ngày 13-5-1944 tại làng Linh Đông Xã – Gia Định. Ông là con trai trưởng của Giáo sư Trần Văn Khê và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn Trường nữ trung học Gia Long.

    Giáo sư Trần Quang Hải qua đời ở tuổi 78 tại Pháp .

    Ông Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17-6-1978 tại Paris (Pháp). Sau khi thành hôn với ông Trần Quang Hải, bà Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới. Giáo sư Trần Quang Hải là cựu học sinh Trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Sài Gòn với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), ông sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại Trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở Trường cao đẳng Khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales).

    GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến chụp ảnh cùng Tổng thống Pháp Jacques Chirac năm 2002. Giáo sư Trần Quang Hải bắt đầu làm việc cho Trung tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với êkip nghiên cứu tại Viện Dân tộc nhạc học của Viện Bảo tàng con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ năm 1968 cho tới 2009 thì về hưu. Ông đã trình diễn trên 3.500 buổi tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại.

    Giáo sư Trần Quang Hải cũng thực hiện 23 đĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết 3 quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới.

    “Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng, jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ” – Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ trên blog cá nhân của ông.

    Xuất thân trong một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và Trần Quang Hải là nhạc sĩ đời thứ năm, ông đã theo gót cha, Giáo sư Trần Văn Khê, trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học, tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh.

    Giáo sư Trần Quang Hải bị bệnh ung thư máu năm 2017 và tích cực điều trị đến nay. Năm 2019, ông bệnh trở nặng và được chẩn đoán bệnh sưng phổi và suy thận. Bên cạnh đó, ông còn mắc bệnh tiểu đường mãn tính.

    (Tin VN).

  • Tin tức

    Giáo sư âm nhạc Trần Quang Hải qua đời

    Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Hải. Ảnh: Facebook Trần Quang Hải

    Trần Quang Hải sinh năm 1944 tại TP HCM, là hậu duệ đời thứ năm của nhạc sĩ cung đình Huế Trần Quang Thọ. Bố ông là Giáo sư, Tiến sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Trần Văn Khê. Chịu ảnh hưởng gia đình, ông sớm theo đuổi âm nhạc, tốt nghiệp khoa violin trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, sau đó tiếp tục sang Pháp học nâng cao về nhạc cụ này. Ở Pháp, ông chuyển hướng nghiên cứu các loại nhạc cụ dân tộc khác nhau, sau đó lấy bằng tiến sĩ. Ông từng làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người (Musée de l’Homme) ở Paris.

    Nhạc sĩ có nhiều nghiên cứu đặc biệt về hát đồng song thanh, phát triển kỹ thuật gõ muỗng, biểu diễn đàn môi. Ông gắn bó đặc biệt với muỗng, được đặt danh hiệu vua muỗng sau khi chiến thắng một cuộc thi gõ trong khuôn khổ Đại nhạc hội dân nhạc tại Cambridge (Anh) năm 1967. Ông từng biểu diễn gõ muỗng trong hơn 1.000 chương trình. Năm 2012, ông được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục người trình diễn đàn môi tại nhiều quốc gia nhất thế giới.

    Ông Trần Quang Hải bên vợ - danh ca Bạch Yến. Ảnh: Facebook Trần Quang Hải
    Ông Trần Quang Hải bên vợ – danh ca Bạch Yến.
    Ảnh: Facebook Trần Quang Hải

    Ông kết hôn với danh ca Bạch Yến ở Pháp năm 1978. Cùng vợ, ông thực hiện hơn 3.000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới. Ông bà chung sống hòa thuận 43 năm, không có con chung. Ông có một con gái riêng tên Minh Tâm, cũng từng học nhạc.

    Năm 2009, khi về nước biểu diễn, Bạch Yến tâm sự, bà vốn ảnh hưởng văn hóa phương Tây nhưng đam mê nhạc dân tộc nhờ tác động từ chồng. Những năm cuối đời, vợ luôn đồng hành ông chống lại bệnh tật. Dịp kỷ niệm 40 năm ngày cưới năm 2018, ông từng viết thơ tặng vợ:

    “Bốn mươi năm hạnh phúc bên nhau
    Kỷ niệm hôm nay lắm ngọt ngào
    Chồng vợ ngày ngày chung cuộc sống
    Tình yêu gìn giữ suốt đời sau!”.

    Nhật Thu

  • NV Nguyễn Quang,  Sinh Hoạt,  Tin tức

    Đêm Hội Ngộ Mừng Giáng Sinh ngày 12 tháng 12, 2021 Tuyệt Vời của nhóm NVNT & TTG. Một kỷ niệm khó quên.

    Kính thưa quý anh chị em,

    Vui quá. Qúa  vui, vui cùng các anh chị em gần như mệt nghỉ.

    Cho đến hôm nay (12/15/2021) dư âm của buổi Hội Ngộ Mừng Giáng Sinh 2021 vẫn còn vương vấn trong lòng mọi người. Khai mạc cho bữa tiệc, con chim đầu đàn Việt Hải chào mừng quan khách với một trí nhớ phi thường, anh giới thiệu từng nhân vật tham dự và than gia trong đêm Hội Ngộ. Một cách lạ thường, anh đã không hề bỏ sót tên của bất cứ một vị khách nào hiện diện trong bữa tiệc.

    Các vị cố vấn tham dự buổi tiệc gồm có: GS Dương Ngọc Sum, GS Quyên Di, GS Kỹ Thuật Phạm Hồng Thái.

    GS Cố Vấn Kỹ Thuật Phạm Hồng Thái, GS Quyên Di, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hài, GS Dương Ngọc Sum

    Ban Điều Hành & Tổ Chức

    Sau phần tổng kết về những thành quả trong năm 2021 và những dự định trong tương lai cho năm 2022 qua sự trường trình của nhà văn Việt Hải và Khánh Lan, ba MC duyên dáng: Mộng Thủy, Thụy Vy, Bích Trâm phụ trách phần giới thiệu những nhạc phẩm mừng Giáng Sinh và những bản nhạc sống động cho buổi dạ vũ. Số ca sĩ “Cây Nhà Lá Vườn” hùng hậu và một dàn nhạc gồm trống, đàn, keyboard do ban nhạc của anh Thọ Lâm bảo trợ khiến cho đêm Hội Ngộ vô cùng linh động.

    Văn Nghệ Tiếng Thời Gian

    Một chiếc bánh mừng Giáng Sinh 2021 và mừng sinh nhật của toàn thể hội viên thuộc Liên Nhóm NVNT & TTG hòa với tiếng hát mừng một ngày vui. Sau cùng, tôi cũng không quên nhắc đến tám món ăn ngon do nhà hàng Diamond Seafood Palace đảm trách, vừa ngon vừa rẻ ($30 một phần ăn).

    Nói tóm lại, đây là một đêm hội ngộ của NVNT & TTG rất thành công. Tuy nhiên, sự thành công này là do Ban Tổ Chức phải bỏ nhiều công sức và thời gian để thực hiện. Riêng về phần cá nhân tôi, tôi xin gởi đến ban tổ chức một tiếng BRAVO thật to như cái đình.

    LIÊN NHÓM NVNT & TTG

    Nguyễn Quang

    Midway City, Dec. 14, 2021

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt,  Tin tức

    GÂY QUỸ YỂM TRỢ THƯƠNG PHẾ BINH VNCH, ngày 04/12/2021.

    Mời các niên trưởng và các anh chị xem video (Live Stream) thu ngày 04 tháng 12, 2021 tại đài VietMedia, 57.14 do Cơ sở Hy Vọng cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gây quỹ với chủ đề “Một chút quà gởi đến các anh thương phế binh VNCH để bày tỏ lòng tri ân và sự trân trọng của chúng ta đối với các anh chiến sĩ, đã hy sinh cả cuộc đời trai trẻ để lao mình vào chiến cuộc. Dấu giầy của các anh đã in khắp 4 vùng chiến thuật, chốn rừng sâu, đèo cao, dốc hiểm, gian lao khổ cực để bảo vệ mảnh đất tự do miền nam Việt Nam.

    Khánh Lan

  • Dương Viết Điền,  Tin tức

    TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG QUA ÂM NHẠC CỦA NHẠC SĨ LÊ VĂN KHOA

    Nhạc Sĩ Lê Văn KHoa & Nhà văn Dương Viết Điền

    Được biết nhạc sĩ Lê Văn Khoa sinh ngày 10 tháng 06 năm 1933 tại tỉnh CầnThơ. Tháng 05 năm 1975, ông sang tỵ nạn tại Mỹ sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam. Ông là một người đa năng đa hiệu trong nhiều lãnh vực. Vừa là một nhà giáo rất tận tâm, đức độ, vừa là một nhạc sĩ tài ba lỗi lạc đã từng đoạt luôn một lần hai giải thưởng sáng tác âm nhạc toàn quốc năm 1953 và giải văn học nghệ thuật toàn quốc, vừa là một nhiếp ảnh gia xuất sắc của Việt nam đã từng đoạt luôn ba giải thưởng toàn quốc trong ba năm liên tiếp 64-65. Là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, ông là người đứng ra sáng lập Hội Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật năm 1968 tại Việt Nam. Hội này cũng đã đoạt được huy chương vàng tại Áo quốc. Nhiếp ảnh gia Lê Văn Khoa là người Việt Nam đầu tiên có hình ảnh triển lãm tại Quốc Hội Hoa kỳ. Từ năm 1976 đến 1977, ông là giáo sư dạy môn nhiếp ảnh tại đại học Salisbury State College ở Maryland. Để đi vào đề tài, tôi xin được viết riêng phần “Tình yêu quê hương qua âm nhạc” của nhạc sĩ Lê Văn Khoa.

    Nếu nhà soạn nhạc Ludwig Van Beethoven của Đức có rất nhiều bản nhạc ngợi ca tình yêu đôi lứa và mang nặng tình yêu quê hương như Egmont, Wellington’s Victory, Zur Namensfeier, Consecration of the House, hay Franz Peter Schubert của Áo với 600 Lieder, 9 bản Symphonis, nhạc cho Operas và cả 1000 tác phẩm chan chứa tình tự dân tộc, Richard Georg Strauss của Đức với Till Eulenspiegel’s Merry Prank, Also Sprach Zarathustra, Don Quixote, Sinfonia Domestica, An Alpine  Syphony, Salome, Der Rosen Kavaliervv… bàng bạc tình hoài hương, và Dvorak của Tiệp Khắc viết rất nhiều những tấu khúc dành cho quê hương,thì những tác phẩm của nhạc sĩ Lê Văn Khoa cũng biểu lộ rất chân thật tình yêu nồng nàn quê cha đất tổ, tình tự dân tộc, tình hoài hương cũng như thường xuyên khắc khoải âu lo cho tổ quốc, quằn quại nhớ nhung chất ngất quê mẹ Việt Nam qua những tác phẩm trong các tập nhạc như “GỌI NHỚ”, “NHẠC VIỆT MẾN YÊU”, “THE BEAUTIFUL BAMBOO”, và tập “DÂN CA VIỆT NAM”. Đặc biệt trong tập nhạc “HÁT CHO NGÀY MAI” xuất bản năm 1982, ông sáng tác rất nhiều bản nhạc hướng về quê hương dân tộc với những lời ca thật chân tình chứa chan niềm thương nỗi nhớ vô biên về nước Việt Nam yêu dấu. Chẳng hạn như những lời ca “…Nếu có ai hỏi: “Em là người nước nào?” Em sẽ xin thưa rằng: “Em là người Việt nam trong máu xương; hồn linh em, gan, ruột em, óc, tim từng tế bào đây: Việt Nam” trong bài “NẾU CÓ AI HỎI”, hay là những lời như “Diệt hết lũ ác ra oai, phục hồi uy danh đất nước ngày mai. Đem bình an cho đất nước Việt Nam” trong bài “TÔI ƯỚC”, hoặc là những lời ca như “Từ khắp bốn phương trời lớp lớp đi. Tìm đến quê hương về đắp xây. Dù lắm khó khăn nào ai sá chi. Thề quyết hiến dâng tổ quốc mến yêu. Giải phóng quê hương mình”. Ngoài ra, ông còn phổ nhạc những bài ca dao Việt Nam đầy xúc động lòng người, đầy tình tự quê hương tình yêu dân tộc để nhắc nhở mọi người ở quê người đất khách luôn luôn nhớ về quê nhà đã nghìn trùng xa cách. Chẳng hạn như bài “TRÂU ƠI”, bài “CON CÒ MÀ ĐI ĂN ĐÊM”, hay bài “LẠY TRỜI MƯA XUỐNG” v.v… Tuy nhiên ta thấy rất nhiều bài, là một nhạc sĩ, ông sáng tác rất nhiều thể loại như nhạc dân ca, nhạc phổ thông và đặc biệt là những tấu khúc cho ban nhạc Đại Hợp Xướng Ngàn Khơi và Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ trình diễn. Có lẽ ông ta là người đầu tiên lồng nhac Việt Nam vào nhạc Tây phương, để cho nhạc phương Tây quyện với nhạcViệt Nam làm cho thế giới có thể biết nhạc Việt ta như thế nào, Đây là một vấn đề rất khó thực hiện và rất công phu. Ông chuyên môn sáng tác và soạn hoà âm cho dàn nhạc giao hưởng, đại hoà tấu.Vậy mà ông ta đã thành công thật tuyệt vời! Nếu ai đã từng tham dự những đêm hoà nhạc tại Fullerton năm 1978 với bài “SE CHỈ LUỒN KIM”, năm 1979 với bài “VIETNAMESE RHAPSODY”, năm 1995 với bài SYMPHONIC SUITE 1.9.7.5”, năm 1996 và 1997 với hai bài “TRĂNG RẰM” và “NGÀY HỘI” mới biết nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã tốn không biết bao nhiêu công sức để soạn hoà âm như thế nào. Sự vỗ tay hoan hô, tán thưởng nhiêt liệt của tất cả khán giả trong rạp là bằng chứng hùng hồn về sự thành công của nhạc sĩ Lê Văn khoa vậy. Tổng số những tác phẩm của ông trên dưới 600 bài. Đây là một công trình thật vĩ đại. Đặc biệt là “LULLABY” của Nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Ngoại trừ những tác phẩm diễn tả lại tình cảm của cuộc đời, tình yêu nồng nàn của cuộc sống, hai ca khúc “Dawn of my country” và “Dream of Homeland” trong “LULLABY” là những ước mơ, hoài vọng cho một quê mẹ Việt Nam được sáng ngời, một đất nước sẽ được yên vui trong thanh bình thịnh vượng. Tuy nhiên trong dòng nhạc chảy như suối nguồn của nhạc sĩ Lê Văn Khoa, nổi bật và vĩ đại nhất vẫn là SYMPHONY “VIET NAM 1975”, một đại tấu khúc viết nửa chừng rồi lại ngưng, rồi lại viết, rồi lại ngưng. Nhưng với sự quyết tâm và kiên trì theo năm tháng, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã hoàn thành xong tác phẩm vĩ đại này sau 10 năm miệt mài bên đàn piano (1985-1995) và phải đợi thêm 10 năm nữa mới được xuất hiện trên vòm trời âm nhạc hải ngoại. Và những ước mơ, những khắc khoải đêm ngày của nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa đã được toại nguyện khi SYMPHONY “VIET NAM 1975” xuất hiện như diều gặp gió và đã tha hồ lướt gió tung trời trên vòm trời âm nhạc hải ngoại như ta đã thấy; vì Kyiv Symphony Orchestra And Chorus của xứ UKRAINE đã bằng lòng thu thanh CD SYMPHONY “VIET NAM 1975” cho nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Điều nầy đã làm cho tác giả “phỉ chí tang bồng”, hạnh phúc triền miên vì ông ta đã từng ước mơ, đã từng ôm ấp hoài bão này trong một thời gian dài đằng đẳng đến 20 năm trời ròng rã. Vì thế, đây là một niềm hãnh diện vô biên cho nhạc sĩ Lê Văn Khoa nói riêng và cho nền âm nhạc Việt Nam nói chung.

     Từ trái: Dương Viết Điền, Nhạc sĩ Anh Bằng, Việt Hải, nhạc sĩ Lê Văn Khoa.

    Chính vì “Symphony Việt Nam 1975” là một đại tấu khúc tuyệt vời như vậy nên rất nhiều nhạc sĩ ngoại quốc không ngớt ca ngợi. Nhạc trưởng của dàn nhạc Kyiv Symphony Orchestra và dàn nhạc The National Ukranian Opera and Ballet là Alla Kulbaba viết: “Nhạc của Lê Văn Khoa thật tinh vi, đầy xúc động, rất mực nhân hậu thân thiết… Qua tác phẩm “Symphony Việt Nam 1975”, Lê văn Khoa chứng tỏ là nhà viết đại tấu khúc có tài. Ông dùng thể loại Tây phương nhưng đặt trên căn bản nguồn gốc quốc gia”. Riêng Tiến sĩ Nghệ Thuật Âm Nhạc Vũ Tôn Bình, ông nhận xét về nhạc sĩ Lê Văn Khoa như sau: “Đối với người cùng thời, Lê Văn Khoa luôn luôn ở đầu giới tuyến; là người đưa cao ngọn đuốc và ánh sánh của ngọn đuốc ấy sưởi ấm lòng nhiều người ở các ngã rẽ của xã hội và những khúc quanh quan trọng trong lịch sử dân Việt”. Ta hãy nghe thêm một nhạc sĩ nổi tiếng của xứ Ukraine, nữ nhạc sĩ NINA RODIONOVA, nói về nhạc sĩ Lê Văn Khoa như sau: “…You are a talented painter and a composer in one person. Each piece of your album is a picture. When I listen, I see Vietnam with its wonderful rich nature… But most important, in this music I can hear composer’s feelings, I can feel his soul. It always excited me. I’m very thankful to you for your light charming music”. (Trích từ bức thư gởi cho nhạc sĩ Lê Văn Khoa).

    Ai cũng biết rằng, Richard Georg Strauss là một nhà soạn nhạc vĩ đại của Đức. Đến khi Nazi lên nắm chính quyền, rất nhiều nhà soạn nhạc không muốn cộng tác với Nazi. Nhưng Richard Georg Strauss lại hợp tác với chế độ độc tài Nazi tại hạt Third Reich và đã được Joseph Goebbels bổ nhiệm làm giám đốc Âm Nhạc Viện The Reichs-musik-kammer. Thế rồi ông ta chơi thân với các sĩ quan cao cấp của Nazi. Chính điểm này đã khiến cho rất nhiều nhà soạn nhạc không muốn nhìn ông ta nữa. Bởi vậy có lần nhà soạn nhạc đương thời là Arturo Toscanni nói về Richard Georg Strauss như sau:

    “Đối với nhà soạn nhạc Strauss, tôi kính cẩn ngả nón chào. Nhưng đối với Strauss là con người, tôi lại ngoảnh mặt  không nhìn ông ta nữa” (To Strauss the Composer, I take off my hat. To Strauss the Man, I put it back on again”).

    Vậy thì đối với nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa, vì ông ta dứt khoát bỏ nước ra đi tìm tự do ở quê người đất khách, quyết không hợp tác với chế độ độc tài tại Việt Nam. Cho dù ở đất khách quê người, ông vẫn luôn luôn hướng về quê mẹ để rồi ngày đêm sáng tác những ca khúc hiến dâng cho quê mẹ mến yêu. Đã thế ông ta còn chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam với bất cứ giá nào. Vì vậy tôi có thể nói giống như Arturo Toscanni nói về Strauss như đã nêu ở trên, nhưng câu thứ hai thì tôi đổi lại khác hẳn. Tôi xin được trang trọng nói rằng:

    “Đối với nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa, tôi xin kính cẩn ngả nón chào. Còn đối với Lê Văn Khoa là con người, tôi cũng xin được kính cẩn ngả nón chào luôn vậy” (To Khoa Van Le the Composer, I take off my hat. To Khoa Van Le the Man, I take off my hat too).

    California ngày 10 tháng10 năm 2009.

    Dương Viết Điền.