• Tin tức

    NHỮNG BÀI VIẾT CỦA BA TÁC GIẢ: TRẦN VIỆT HẢI – HUY ANH – NGUYỄN AN NINH

    Vào ngày chủ nhật 25 tháng 5 , năm 2025, nhóm Hoàng Đình Khuê và thân hữu  tổ chức buổi hội thảo với chủ đề “50 năm Quốc Hận Nhìn Về Lịch Sử Việt Nam”
    với 3 diễn giả nặng ký người Hoa Kỳ là giáo Sư Stephen Young, tác giả của tác phẩm Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War; tác giả Frank Scotton của tác phẩm Uphill Battle; và diễn giả thứ ba là tác giả Frank Snepp của tác phẩm Decent Interval. Đây là buôi hội thảo về chiến tranh Việt Nam, và sự kết cuộc của nó, hầu rút tỉa kinh nghiệm những gì xảy ra, để những thế hệ về sau hiểu rõ lịch sử, về những rủi ro, những sai lầm nên tránh. Hội trường Việt Life studio với sự hiện diện khá đông những gương mặt chính giới quen thuộc và dồng hương vốn gắn bó với chuyện Việt Nam, những u buồn của tháng năm ly hương, xa xứ.

    Sơ lược lý lịch và nội dung thảo luận, bài viết ghi nhận như sau:

    Tiểu sử của Stephen B. Young:

     Ông tốt nghiệp Đại học Havard và Trường Luật Havard. Ông từng là Trợ lý Trưởng khoa Trường Luật Havard và là Trưởng khoa của Đại Học Luật Hamline; là Giám đốc Điều hành Toàn cầu của tổ chức Bàn Tròn Caux (CRT) về Chủ nghĩa Tư Bản Đạo Đức., một mạng lưới quốc tế gồm các nhà lãnh đạo doanh nghiệp giàu kinh nghiệm, những người ủng hộ cách tiếp cận nguyên tắc về kinh doanh trong nền kinh tế toàn cầu. Trong cuốn sách xã hội Những người tạo ra ra sự khác biệt: Cách các doanh nhân xã hội và thể chế xây dựng phong trào trách nhiệm doanh nghiệp của Tiến sĩ Sandra Waddock thuộc Đại học Boston. Ông Young được công nhận là một trong 23 người đã tạo ra phong trào trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trong chiến tranh Việt Nam, ông Young phục vụ trong Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USIA) tại Nam Việt nam từ 1968 đwến 1972 trong Chương trình Bình Định và Phát triển Nông thôn.Ông từng giữ chức vụ Trợ Lý Đặc biệt chuyên trách về Kinh tế thuộc Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Vào tháng 4 năm 1975, ông Young bắt đầu đề xuất môt chương trình định cư người tỵ nạn Nam Việt Nam tại Hoa Kỳ.Năm 1978, Ủy ban Công dân về Tỵ nạn Đông Dương-mà ông Young là thành viên -đã thuyết phục thành công Chính phủ Carter và Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Tỵ nạn 1980, cho phép Tuyền nhân Việt Nam và Lào Campuchia được định cư tại Hoa Kỳ. Giáo sư Stephen B. Young đã cùng Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy viết sách Truyền thống Nhân Quyền tại Trung Quốc và Việt Nam, xuất bản năm 1989. Ông Young và vợ là Bà Phạm Thị Hòa đã dịch sang Anh ngữ tác phẩm “Đỉnh Cao Chói Lọi” của Dương Thu Hương.

    Professor Stephen B. Young

    Giáo Sư Stephen Young, với tác phẩm Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War. Sau dây là những trích doạn và links liên quan đến quyển sách của tác giả Stephen Young. Mời theo dõi như sau…

    Hòa đàm Paris đã bắt đầu từ năm 1968, nhưng hiệp định là kết quả cuộc thương lượng bí mật giữa ông Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Thống Richard Nixon, và phái đoàn CSBV do ông Lê Đức Thọ, ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) cầm đầu. Phía VNCH bị gạt ra ngoài các cuộc đàm phán bí mật do có quan điểm hoàn toàn trái ngược với ý đồ của ông Kissinger. Hiệp Định Paris 1973 có chín chương và 23 điều. Nội dung chính là Hoa Kỳ rút toàn bộ quân đội ra khỏi miền Nam trong vòng 60 ngày, chấm dứt hoạt động quân sự chống miền Bắc, đổi lại CSBV trả tự do cho tất cả tù binh Mỹ cũng trong 60 ngày. Trong khi đó CSBV vẫn tiếp tục được duy trì 140,000 bộ đội ở miền Nam – trái với lập trường của VNCH là các lực lượng bên ngoài (Hoa Kỳ và Bắc Việt) đều phải rút ra khỏi miền Nam cùng lúc. Một hiệp định như vậy rõ ràng là “án tử” cho VNCH, đặt căn cứ cho cuộc thôn tính miền Nam của các lực lượng cộng sản trong hơn hai năm sau đó. Đảng CSVN đánh giá Hiệp Định Paris là một “thắng lợi vĩ đại,” năm nào cũng tổ chức ăn mừng và tuyên truyền rầm rộ, nhưng thực chất thắng lợi của cộng sản là do quyết định của ông Henry Kissinger.
    Mục đích chính của ông Kissinger tại hòa đàm Paris là rút hết quân Mỹ “trong danh dự” và để đạt được điều đó ông sẵn sàng nhượng bộ cộng sản tối đa. Bản thân ông Kissinger biết rõ sự nhân nhượng ấy gần như là một sự phản bội” (sell-out) như bản ghi cuộc đối thoại Nixon-Kissinger ngày 14 Tháng Mười Hai, 1972 mới được giải mật cho thấy, nhưng ông ấy vẫn theo đuổi. Cuộc đối thoại này cũng tiết lộ ông Kissinger và ông Nixon biết Hiệp Định Paris không phải là “một văn kiện hòa bình mà là văn kiện cho một cuộc chiến tranh vĩnh viễn ở miền Nam Việt Nam, là Hoa Kỳ giúp áp đặt một chính phủ cộng sản lên người dân miền Nam Việt Nam trái với ý chí của họ.”

    Đặng Tiểu Bình Và TT Jimmy Carter

    Theo Giáo Sư Stephen Young, cựu khoa trưởng Khoa Luật, đại học Hamline University ở Minnesota, trong cuốn sách sắp phát hành “Sự phản bội của Kissinger: Hoa Kỳ thua cuộc chiến Việt Nam như thế nào,” ý đồ đi với cộng sản của ông Kissinger đã có từ lâu nhưng ông cố che giấu, cả với Tổng Thống Nixon.

    Cuối Tháng Giêng, 1971, đại sứ Liên Xô tại Hà Nội chuyển cho thủ tướng CSBV báo cáo của ông Dobrynin kèm theo chỉ thị của Moscow: “Nếu Hoa Kỳ cam kết rút toàn bộ lực lượng trong một thời hạn nhất định và có thể không yêu cầu rút đồng thời các lực lượng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khỏi miền Nam Việt Nam thì Bắc Việt phải cam kết tôn trọng lệnh ngừng bắn trong thời gian Hoa Kỳ rút quân cộng với một một thời gian nhất định, không quá dài… Nếu sau đó lại nổ ra chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam thì cuộc xung đột đó sẽ không còn là chuyện của Hoa Kỳ nữa.”. Sau khi được Moscow chỉ dẫn, CSBV đã sử dụng một cựu quan chức thuộc địa của Pháp, ông Jean Sainteny, để thông báo cho ông Kissinger trong bữa ăn trưa ngày 25 Tháng Năm, 1971 rằng Hà Nội chấp nhận đề nghị của ông. Ông Kissinger báo cáo với ông Nixon rằng ông đã gặp ông Sainteny nhưng không nói chi tiết nội dung cuộc trò chuyện. Ngày 31 Tháng Năm, 1971, trong cuộc gặp bí mật với ông Lê Đức Thọ tại Paris, ông Kissinger đưa ra đề nghị CSBV không cần phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam và kết thúc bài phát biểu của mình bằng câu nói: “Khi các lực lượng Hoa Kỳ cuối cùng rút đi, tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam sẽ phải được giao cho người Việt Nam.” Ông Kissinger đã không báo cáo đề nghị này với ông Nixon.

    Tháng Bảy, 1971, ông Kissinger bí mật đến Bắc Kinh gặp Thủ Tướng Chu Ân Lai để sắp xếp cho chuyến đi lịch sử của Tổng Thống Nixon gặp Chủ Tịch Mao Trạch Đông. Nhân tiện, ông Kissinger nói với ông Chu Ân Lai đề nghị mà trước đó ông tiết lộ với đại sứ Dobrynin. Trang số 5 trong tài liệu tóm tắt của ông Kissinger chuẩn bị cho cuộc gặp với ông Chu có đoạn: “Thay mặt Tổng Thống Nixon, tôi muốn trân trọng bảo đảm với thủ tướng rằng Hoa Kỳ sẵn sàng thực hiện một cuộc dàn xếp sẽ thực sự giao sự phát triển chính trị của Việt Nam cho người Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng rút toàn bộ lực lượng vào một ngày ấn định và để cho thực tế khách quan định hình tương lai chính trị đó.”.

    Henry Kissinger và Lê Đức Thọ

    Ông Kissinger đã không báo cáo với Tổng Thống Nixon cam kết của ông với những người Cộng Sản Trung Quốc. Ở lề trái của trang đó, ông Kissinger viết: “Chúng tôi muốn có một khoảng thời gian hợp lý.”
    Điều trái khoáy là thỏa thuận để CSBV tiếp tục duy trì lực lượng ở miền Nam Việt Nam được ông Kissinger thông báo rất sớm tới Moscow, Bắc Kinh, và Hà Nội trong khi chính quyền Hoa Kỳ chưa hay biết gì cả. Trong suốt năm 1971, Tổng Thống Nixon vẫn trình bày công khai quan điểm của Hoa Kỳ là các lực lượng Hoa Kỳ và CSBV đều phải rút ra khỏi miền Nam, để cho người dân miền Nam quyết định tương lai của họ qua đàm phán. Lập trường của ông Nixon đã nhiều lần được đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, ông Ellsworth Bunker, thông báo cho chính phủ VNCH để thuyết phục Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử phái đoàn tham gia hội nghị Paris.

    Chính phủ VNCH và ông Nixon không biết đầy đủ về thủ đoạn tráo trở của ông Kissinger cho đến Tháng Mười, 1972, sau khi ông Kissinger được CSBV đồng ý về văn bản của hiệp định và trình bày dự thảo ấy cho hai tổng thống Thiệu và Nixon. Đến thời điểm đó, ông Nixon không thể rút lại sự nhượng bộ của ông Kissinger nữa. Phải ký Hiệp Định Paris nhưng ông Nixon đã cố gắng một cách tuyệt vọng để vừa sửa đổi dự thảo hiệp định theo cách có thể gia tăng khả năng chống cự của VNCH vừa thúc đẩy Quốc Hội Mỹ phê duyệt các khoản viện trợ quân sự mới…. Sau cùng Bắc Việt xua quân xé hiệp ước xâm chiếm miền Nam.

    Lý lịch của Frank Scotton

    Frank Scotton được gởi đến Sài Gòn-Việt Nam năm 1962 với tư cách là Cán bộ ngoại giao đặc biệt ở Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USIA).
    Tuy nhiên ông còn phụ trách nhiều nhiệm vụ quan trọng tùy theo nhu cầu của Chánh quyền Mỹ như nhân viên CIA, cố vấn lãnh đạo cấp cao, phụ tá Giám đốc USIA khu vực Đông Á, phụ tá Robert Komer tổ chức MACV/CORDS, phụ tá William Colby Giám đốc CORDS (1970), làm việc với John Paul Van, Trung tướng cố vấn Tư lệnh Quân Đoàn II, được mời điều hành và huấn luyện Nhóm Lực Lượng Đặc Biệt (Special Force) số 5, với công tác đặc biệt ở Cao nguyên Trung phần và 4 Vùng Chiến thuật.Ông đã thực hiện nhiều công tác nguy hiểm, hành quân với các đơn vị Biệt kích, chạm súng với Việt Cộng và rớt Trực thăng …
    Ông cũng nhận nhiệm vụ ở Đài Loan, Mã Lai, Miến Điện, Thái Lan, Trung quốc.
    Ông nói thông thạo tiếng Việt, Trung hoa và Lào…Ông cũng là tác giả cuốn Hồi ký “UPHILL BATTLE”, (Cuộc Chiến Leo Thang)- 1962: Đến Sài Gòn, Cán bộ đặc biệt Ngoại giao (USIA)- 1963: Làm việc tại Quy Nhơn.- Tháng 8/1963: Chuyển đến Đàlạt tổ chức cuộc họp giữa Đại sứ Cabodge Lodge và Tổng thống Ngô Đình Diệm.
    – Tháng 12/1963: Lãnh đạo cuộc khảo sát đầu tiên Thôn Ấp ở Long An.
    – 1964: Tổ chức các đơn vị ở Quảng Ngãi, tiền thân của các Đội Hành Động CIA.
    – 1965: Tổ chức huấn luyện các đơn vị Lực Lượng Đặc biệt của Quân đoàn III và
    Quân Đoàn IV. – 1966: Tiếp tục huấn luyện với Nhóm Số 5 Lực Lượng Đặc Biệt (biên giới Châu Đốc- 1967: Phụ tá Robert Komer tổ chức MACV/ CORDS, tuyển mộ và thuyên chuyển Lực Lượng Đặc Biệt về MACV/CORDS
    – 1970: Phụ tà đặc biệt cho William Colby (Headquarter MACV/CORDS)
    – 1972: Trợ Lý Giám Đốc USIS/Sài Gòn.- 1976-1998: Công tác ở các quốc gia khác, làm việc ở Washington, Fort Bragg và USSOCO. NGHỈ HƯU: Sống ở California.

    Tác giả Frank Scotton và tác phẩm Uphill Battle

    Những dòng sau giới thiệu tác giả cùng tác phẩm như sau,… Sách Uphill Battle: Reflections on Viet Nam Counterinsurgency” (Cuộc Chiến Leo Dốc: Suy nghiệm về Chiến tranh Chống du kích tại Việt Nam) là hồi ký của Frank Scotton. Ông đã đến làm việc tại Việt Nam từ năm 1962 đến 1975, hoạt động như một ký giả săn tin nhưng cũng nhận công tác biệt phái mỗi khi có yêu cầu của các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ – như Phái Bộ Quân Viện MACV, Sở Tình Báo, Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Frank Scotton đã đi khắp bốn vùng chiến thuật, tiếp xúc với người dân ở các thôn ấp, ngủ chung với Dân Vệ, vào các buôn làng Thượng để sinh hoạt với các dân tộc thiểu số. Nếu cảm thấy cần thiết, ông không ngần ngại tự lái xe đi qua những vùng không an ninh, hay nhảy trực thăng xuống một tiền đồn đang bị bao vây để tìm hiểu tình hình, có khi băng rừng qua những đường mòn không hề được vẽ trên bản đồ mà ở đó có thể bị chính “phe ta bắn lầm”. Tác phẩm này là quyển sách Uphill Battle – Reflections on Viet Nam, khi Uphill Battle cùng bản dịch là Cuộc chiến leo thang, Cuộc chiến nhọc nhằn. Trả lời cho câu hỏi về nguyên nhân thảm bại của Mỹ và VNCH trong Chiến tranh Việt Nam nhiều quyển sách, bài viết, báo chí đã nhắc đến sự bất lực, không có khả năng của nhà cầm quyền Miền Nam thời đó và ảnh hưởng của các vận động Phản Chiến trong giới Truyền thanh, báo chí cùng Thành phần thứ ba.

    “Việt Nam Cuộc chiến leo dốc” là tiếng nói trung thực của người trong cuộc đứng lên nhận lỗi về chính mình, những sai lầm của người Mỹ với các chiến dịch đưa ra hầu như được vẽ trong văn phòng thật cẩn thận, chi tiết, nhưng khi đem ra áp dụng ở thực địa đã cho thấy đổ vỡ ngay từ đầu, vì không phù hợp với tình hình địa phương. Làm thế nào chiến thắng được “ Việt cộng” một khi ngay trong các “Ấp chiến lược “ gần như đã có mặt của Việt cộng khắp nơi, thậm chí không chỉ có người dân đi theo Việt cộng, mà một số cấp chỉ huy và binh sĩ VNCH cũng đã “ngã” về phe Việt cộng hay sợ phải đối đầu cùng Việt cộng? Điểm quyết định thua cuộc tệ hại hơn nữa, là khi phải cùng chiến đấu với nhà cầm quyền đầy dẫy tham nhũng, lũng đoạn và cấu kết bao che cho nhau. Sau 75 có nhiều bài viết đã oán trách người Mỹ bỏ rơi bạn đồng minh, bỏ rơi VNCH. Nhưng có bao nhiêu bài viết từ những người thuộc VNCH viết lên được những điều VNCH đã làm sai, để dẫn đến việc thua trận trong cuộc chiến ? Qua quyển Uphill Battle, Frank Scotton đã chỉ ra được rằng Chính phủ VNCH chưa bao giờ vận động được sự ủng hộ của toàn thể dân chúng và không giúp binh sĩ sử dụng vũ khí có hiệu quả và đấu tranh chính trị quá thua kém trước một đối thủ đầy bản lĩnh trong lĩnh vực này. Qua đó cho thấy, cuộc chiến thất bại vì không được toàn dân ủng hộ và sai lầm của người Mỹ và VNCH là chỉ tin vào lực lượng vũ trang mà quên đi sức mạnh của nhân dân quần chúng. Qua đó cho thấy cách nhìn sáng suốt của TT Ngô Đình Diệm khi cương quyết tránh xa sự can thiệp của người Mỹ vào Việt Nam. Và có thể nói VNCH trong chiến tranh Việt Nam đã lãnh phần chiến bại ngay từ sau cái chết của VNCH đệ nhất. Qua cách kể chuyện về những sinh hoạt hàng ngày của tác giả trong Uphill Battle khiến nhớ đến tựa đề quyển sách “ Người Mỹ trầm lặng”. Có còn bao nhiêu người Việt Nam nhớ đến những “người Mỹ thầm lặng” khi xưa ở Việt Nam? Về sự sụp đổ của Nam Việt Nam, tác giả thẳng thắn bày tỏ:

    “Mục đích của một cuộc chiến là bắt đối phương phải phục tòng ý mình. Mục đích của chúng ta ngay từ đầu là giữ vững miền Nam, không để miền Bắc thống nhất đất nước theo điều kiện Cộng sản. Sau nhiều năm chiến đấu, chúng ta đã ký một hiệp định cho phép quân đội miền Bắc hiện diện ở miền Nam. Chúng ta rút lui vì không còn ý chí. Chúng ta thua.”

    Tiểu sử FRANK SNEPP

    Frank Snepp – Nhà phân tích CIA, chuyên viên thẩm vấn, người dự đoán ý định của Địch ở Việt Nam. Ông tốt nghiệp Trường Bang giao Quốc tế của Đại học Columbia.

     Sơ lược về tác giả sách “Khoảng Khắc Thích Họp”, mời xem như sau:

    Frank Snepp sinh ngày 3 tháng 5 năm 1943 tại Kinston, bang North Carolina, Hoa Kỳ. Sau khi  xong trung học, ông vào Đại học Columbia học Văn chương Anh và tốt nghiệp cử nhân vào năm 1965. Sau một năm làm việc cho hãng tin CBS News, anh trở về Đại học Columbia, học cao học ở Trường Quan hệ quốc tế và chính sách công School of International and Public Affairs và tốt nghiệp năm 1968. Năm 1968, Philip Mosely, phó khoa trưởng School of International and Public Affairs, đã giúp Cục Tình báo Trung ương CIA tuyển dụng ông.  Ông được phái sang châu Âu, trở thành chuyên gia phân tích các vấn đề của NATO và an ninh ở châu Âu, nhưng chỉ một năm sau được phái sang Việt Nam, làm chuyên gia phản gián và phân tích tình báo ở Đại sứ quán Mỹ tại Saigon. Ông được giao nhiệm vụ hỏi cung những tù binh Cộng sản và thu thập tin tức tình báo vào thời kỳ cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chuyển sang một bước ngoặt sau Tết Mậu Thân 1968.

     Sau khi trở về Mỹ vào năm 1971 làm việc trong Vietnam Task Force ở tổng hành dinh của CIA, ông trở lại Việt Nam vào tháng 10 năm 1972, tiếp tục làm chuyên gia phân tích tình báo cho tới tháng 4 năm 1975, là một trong những người Mỹ cuối cùng lên máy bay trực thăng di tản khỏi Đại sứ quán Mỹ tại Saigon.
    Trở về Mỹ, vào tháng 12 năm 1975, ông được tặng thưởng huy chương vì có công  trong ngành tình báo, nhưng đến tháng 1 năm 1976, ông nghỉ việc ở CIA, cáo buộc giới lãnh đạo của CIA đã không thừa nhận những sai lầm của họ ở Việt Nam và cáo buộc Chính phủ Mỹ đã bỏ mặc số phận của nhiều người Việt đã từng hợp tác hay có mối liên hệ với người Mỹ, trong đó có người vợ Việt và đứa con nhỏ của ông đã tự sát khi ông không thể đến cứu họ vào những ngày cuối cùng tháng 4 năm 1975.

    Năm 1977, ông cho in cuốn sách “Decent Interval” (Thời hạn chấp nhận được) được viết suốt 18 tháng dựa theo một bản báo cáo mà ông đã gởi cho CIA nhưng không được chấp nhận. Sau khi cuốn sách ra mắt, Giám đốc CIA lúc ấy là Stansfield Turner đã kiện anh ra tòa về tội không tôn trọng cam kết không tiết lộ những bí mật của CIA trong thời gian công tác. Tổng thống Jimmy Carter cũng đứng về phía Giám đốc CIA, cáo buộc anh đã tiết lộ “những bí mật của quốc gia”. Phiên tòa thượng thẩm vào năm 1980 đã xử Stansfield Turner thắng kiện, toàn bộ tiền tác quyền cuốn sách “Decent Interval” là 300.000 đô la phải chuyển hết cho CIA. Sau năm 1980, anh viết cho các báo như The New York Times, The Washington Post, Village Voice và thực hiện các chương trình truyền hình như World News Tonight (1987–1992) cho đài ABC và các chương trình cho đài CBS (2003–2005) và đài NBC. Đến cuối thập niên 1980, anh dạy môn báo chí ở Đại học California và năm 2001 cho in cuốn sách “Irreparable Harm” (Sự tồn hại không thể cứu vãn) kể về cuộc chiến pháp lý với CIA.

    Trần Việt Hải

    Huy Anh comemnted:

    Tham dự buổi hội thảo ngày 25 tháng 5, 2025 tại Vietlife TV với chủ đề 50 Năm Quốc Hận: Nhìn Lại Việt Nam, tôi nhận thấy có nhiều điều thú vị và cũng học thêm kiến thức lịch sử về Cuộc Chiến Việt Nam. Có lẽ hai vị đứng ra tổ chức (Hoàng Đình Khuê & Trần Việt Hải) bỏ nhiều thời gian và được sự hổ trợ của nhóm bạn nên sự kiện này có ý nghĩa và hào hứng.

     Cô MC Mộng Thủy mở đầu chương trình ngắn và gọn, gồm có quốc ca và giới thiệu tiểu sử vắn tắt của ba diễn giả – Frank Scotton, G. Stephen Young, và Frank Snepp. Ba vị này chia sẻ những kinh nghiệm và nhận xét của họ về Cuộc Chiến Việt Nam. Từ ông Frank Scotton, người đã làm việc nhiều với quân đội, tôi đã học được rằng chương trình Ấp Chiến Lược ở Việt Nam gặp những khó khăn vì địa lý các miền khác nhau, đặc biệt ở miền Nam sông rạch nhiều nên khó lập ấp chiến lược mà không ảnh hưởng tới đời sống của người dân. Tuy nhiên, cả 3 diễn giả đều nhận xét rằng chương trình Ấp Chiến Lược không phải là yếu tố chính đưa đến kết quả của cuộc chiến. Yếu tố chính là số quân lớn và số vũ khí lớn được Bắc Việt điều động vào miền Nam. Yếu tố thứ nhì là đa số truyền thông tại Mỹ phản chiến và không ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa.

    Ông Frank Snepp nói về người điệp viên tài ba Võ Văn Ba trong khía cạnh lịch sừ. (Quý vị có thể tìm hiểu thêm về điệp viên Võ Văn Ba qua Youtube clip này): Jackie Bong – South Vietnam’s Greatest Spy Vo Van Ba / Ex-CIA Frank Snepp kể về Điệp viên Võ Văn Ba. Ông Stephen Young nói về sự phản bội của ông Henry Kissinger góp phần vào sự thua cuộc của miền nam… Bình luận gia Nguyễn Kim Bình thông dịch các câu hỏi và trả lời và làm việc tốt đẹp.

     Có lẽ vì buổi hội thảo có ý nghĩa nên sau 3 tiếng (sau 4 giờ) mà còn khoảng 80% của người tham dự còn ở lại… Tôi đã chứng kiến một số người mua sách của Gs. Stephen Young với tác giả ký tên tại chỗ, trong số đó có nhà văn Kiều My của chúng ta.

    Huy Anh.

    Mr. Hoàng Đình Khuê, Mr. Scotton, Mr. Young, Mr. Snepp

    Những Nhận Xét, Ghi Nhận Của Cử Tọa Nguyễn An Ninh:

    FRANK SCOTTON

    Cha đẻ của Ấp chiến lược là đứa con tinh thần của Ngài Robert Thompson. Ông từng là cố vấn cho 5 đời tổng thống Mỹ. Chiến dịch Hamlet Chiến lược đã thất bại vì người Mỹ không hiểu văn hóa Việt Nam. Hầu hết người Việt không muốn rời xa quê hương và những ngôi mộ tổ tiên thân yêu của họ. Mặt trận Cách mạng Dân tộc (MTGPMN) đã sử dụng điều này để tuyên truyền rằng chính phủ Diệm đã đưa bạn vào nhà tù mở và sử dụng những bức ảnh có hình ảnh tàn bạo rằng người Mỹ đã thực dân hóa đất nước chúng ta giống như người Pháp. Những người đàn ông địa phương muốn ở gần nhà để họ có thể gần gia đình ông ta, đó là lý do tại sao họ tham gia NFRVN (MTGPMN).

    Theo Stuart Herrington, chương trình Phoenix đã bị các thành viên nhỏ lạm dụng. Họ đã sử dụng chương trình này để tống tiền và hãm hiếp phụ nữ bằng cách cáo buộc họ là những người ủng hộ cộng sản. Trong cuốn sách của mình, Scotton tuyên bố John Paul Vann đã chết trên trực thăng do thời tiết xấu, nhưng tôi nghi ngờ điều đó vì tôi nghe từ một người có câu chuyện khác mà tôi không biết.

    NFRVN đã sử dụng tuyên truyền để truyền bá mục đích của họ vì hầu hết mọi người sống sau bức màn tre của làng để xác định ranh giới từ thôn này sang thôn khác với khả năng giao tiếp hạn chế.

    Pro. Stephen Young và Ô, Hoàng Đình Khuê

    Trong cuốn sách “Những năm tháng biến động” của Kissinger, Giáo sư Young quên không nhắc đến việc Kissinger đã yêu cầu học trò của mình là người Pháp sắp xếp một cuộc hẹn với Bắc Việt để giải quyết chiến tranh Việt Nam. Khó khăn nhất là khi người Mỹ rút khỏi Việt Nam không gặp phải sự kháng cự nào từ Nam Việt Nam. Khi người lính TQLC cuối cùng rời khỏi Việt Nam thì Gerald Ford và Kissinger ôm nhau và mỉm cười vì nhiệm vụ đã hoàn thành.

    Chúng ta có thể lên án Kissinger bán rẻ Việt Nam với tư cách là công dân Việt Nam, nhưng xét theo quan điểm của người Mỹ thì Kissinger đã hoàn thành nhiệm vụ mà Tổng thống Nixon giao phó. “Hòa bình trong danh dự”

    Người lính TQLC trẻ nhất tên là Dan Bullock đã hy sinh ở Việt Nam khi mới 15 tuổi vì McNamara đã gửi gần 300.000 binh lính với trình độ học vấn 7-8 không thể dạy được. Khi chúng tôi ở Việt Nam, chúng tôi thấy hầu hết binh lính là người Mỹ gốc Phi, người Mỹ Latinh và một số ít người da trắng.

    Westmoreland phản đối việc cung cấp súng trường M-16 cho binh lính Việt Nam. Cuối cùng, ông đã cung cấp Thủy quân lục chiến và M-16 Nhảy dù vào cuối năm 1967. Khi Thượng nghị sĩ Hollings từ tiểu bang Nam Carolina đến thăm VN, Westmoreland tuyên bố 10:1 nghĩa là chúng ta giết được mười VC và chỉ mất một. Thượng nghị sĩ Hollings trả lời ông rằng “Tôi chỉ quan tâm đến một”.

    Vào năm 1975, hầu hết người Việt Nam không biết chính phủ Hoa Kỳ hoạt động như thế nào, ngay cả với những người dân của chúng ta tốt nghiệp từ các trường danh tiếng, nhưng họ không sống ở Hoa Kỳ đủ lâu để hiểu được điều đó.

    Chiến tranh Việt Nam được hỗ trợ bởi Nghị quyết nhưng không phải là Đạo luật vì Quốc hội Hoa Kỳ chỉ cung cấp tiền và muốn cắt bất cứ lúc nào họ cắt.

    Westmoreland: Vị tướng bị đổ lỗi là đã đánh mất Việt Nam, nhưng vấn dề lại do sự điên rồ của BTQP McNamara: Việc sử dụng quân đội có chỉ số IQ thấp trong Chiến tranh Việt Nam.

    Mr. Young, ĐGM Nguyễn Thành Vân, Gs Dương Ngọc Sum

    FRANK SNEPP

    Snepp đã nói về Võ Văn Ba, một điệp viên người Mỹ. Ông đã cung cấp hầu hết thông tin từ phía đối phương. Frank Snepp dựa vào thông tin của mình để phân tích động thái tiếp theo của Nam Việt Nam.

    Võ Văn Ba đã mắc phải một sai lầm chết người là thói quen xấu khi uống Budweiser và hút thuốc lá Salem. Hãy tưởng tượng khi bạn thở ra mùi thuốc lá sẽ bốc lên trong không khí và mọi người có thể ngửi thấy. check DNA xác định danh tính của điệp viên.


    Nguyễn An Ninh

  • Tin tức

    TRÍ TUỆ NHÂN TẠO: ỨNG DỤNG, TÁC ĐỘNG VÀ TƯƠNG LAI.

    thaiphamacademy.com

    Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại. AI là lĩnh vực khoa học điện toántập trung vào việc phát triển các hệ thống phần mềm có khả năng thực hiện những nhiệm vụ đòi hỏi trí thông minh của con người, như học tập, suy luận, phân tích dữ liệu và đưa ra các quyết định thông minh, chính xác. (Đọc tiếp…)

  • Cao Xuân Thanh Ngọc

    Vu Lan Mất Mẹ 

    Cao Xuân Thanh Ngọc

    Gió đưa cuộc sống chòng chành

    Con nay bỗng chốc hóa thành mồ côi

    Bông hồng cài áo đỏ tươi

    Bốn bảy năm đời có Mẹ đã xa

                        .

    Công ơn dưỡng dục hôm qua

    Vu Lan Thắng hội, con là chẳng quên 

    Diễm phúc đó đã buồn tênh

    Bông Hồng tang trắng, cài lên mái đầu 

                        .

    Lòng nghẹn ngào, mắt trũng sâu

    Vòng tay ôm ấp còn đâu nữa rồi

    Cảm ơn Mẹ cảm ơn Trời

    Được làm con Mẹ, được đời Mẹ thương

                      .

    Mẹ Diệu Minh, Mẹ ngát hương

    Ẵm bồng con trẻ suốt đường con đi 

    Đường thiên lý nẻo thiên di

    Tuổi thơ trẻ dại, vu quy trưởng thành

                       .

    Từ học vấn đến công danh

    Ngày sầu đau khổ, ngày lành tốt tươi

    Muôn nẻo đất, vạn nẻo trời

    Bóng hình của Mẹ phủ đời con đi

    Nay Mẹ mất, con còn gì?

    Nửa hồn trống vắng, nửa thì xót xa

    Nhân sinh thiên địa một nhà

    Cớ sao chẳng thể cùng ta đồng hành

                        .

    Gửi lòng lên áng trăng thanh

    Gửi lòng về chốn cao xanh chập chùng

    Lòng con trẻ chẳng thể dừng

    Gửi về bên Mẹ xin đừng bỏ con

                       .

    Ba nén hương, một linh hồn

    Hòa cùng trời đất càn khôn vĩnh hằng

    Cúi đầu khấn nguyện thành tâm

    Tiếng kinh khấn vái hương trầm thoảng bay

                       .

    Linh hồn Mẹ, ở đâu đây

    Xin ôm con trẻ vào tay của người

    Quỳ trên đất, dưới bầu trời

    Con nguyện nhớ Mẹ suốt đời, Mẹ ơi!

                       .

    5.20.2023

    Ngày tôi mồ côi Mẹ 

    Christina N. Cao, PharmD, MBA

  • Kiều My

    Mẹ Ơi!

    Tháng Năm lại về, mang theo nắng nhẹ và hương thơm của những cành hoa mẫu đơn – loài hoa tượng trưng cho tình mẹ. Giữa cuộc sống nơi xứ người, lòng con luôn hướng về Mẹ – người đã âm thầm nuôi con khôn lớn bằng cả một đời hy sinh. Dù Mẹ còn hay đã khuất, Mẹ vẫn là hình ảnh thiêng liêng không gì sánh bằng, hình bóng Mẹ vẫn luôn là nơi bình yên nhất trong trái tim con.

    “Tình Mẹ” thật thiêng liêng và sâu lắng! Có lẽ trên đời này, không có tình cảm nào dịu dàng, bền bỉ và bao la như tình mẹ. Dù ta lớn lên, đi xa hay trải qua bao sóng gió, thì vòng tay và trái tim của mẹ vẫn luôn là nơi chốn bình yên nhất.

    Khi con lớn khôn rời xa vòng tay Mẹ, đi đến những chân trời xa lạ rộng mở, con cảm thấy thấm thía nỗi nhớ mỗi lần nghe giọng Mẹ qua điện thoại, mỗi lần thấy bóng dáng ai đó giống Mẹ giữa chợ đông người. Những lời Mẹ dặn con năm nào, giờ đây vang vọng mãi trong tâm hồn con, như ngọn hải đăng soi lối giữa giông tố cuộc đời. Mẹ ơi, nếu có điều gì con luôn muốn nói – ấy là: Con thương Mẹ và con biết ơn từng phút giây được làm con của Mẹ. Dù Mẹ đã ra đi, con vẫn tin rằng tình yêu của Mẹ  luôn dõi bước con đi trên đường đời đầy chông gai này và chở che con như thuở nào. Ngày Mother’s Day, con thầm nói: “Mẹ ơi… con thương Mẹ và nhớ Mẹ thật nhiều!”

    Ngày Hiền Mẫu, để nhớ về người Mẹ đã ra đi trong nỗi ngậm ngùi– Người đã để lại trongcon một khoảng trống không gì lấp đầy; nhưng cũng là suối nguồn thương yêu bất tận, sống mãi trong tim con. Con nhận ra: Mẹ đã không còn nữa, Mẹ đã về cõi vĩnh hằng; nhưng tình yêu Mẹ để lại vẫn còn nguyên vẹn trong con như ngày nào. Con nhớ Mẹ  từng khoảnh khắc sống trong đời, là khi con nấu món canh chua Mẹ từng ưa thích, nghe bài hát Mẹ hay hát không trọn vẹn, hay những câu nói ví von của Mẹ… Những điều nhỏ bé ấy cứ âm thầm nhắc con về Mẹ – về một hình bóng dịu dàng, thân thương mà vĩnh viễn con không thể gặp lại lần nữa.

    Có những nỗi nhớ không thể gọi thành tên, chỉ biết rằng từ thẳm sâu trong tâm hồn, con luôn có một chỗ dành cho Mẹ – không ai có thể thay thế. Và con tin, ở một nơi nào đó thật bình yên và thanh thản, Mẹ vẫn dõi theo con. Mỗi lần con vấp ngã, con vẫn cảm nhận được bàn tay Mẹ vô hình đỡ con dậy. Mỗi lần con làm được điều tốt, dường như có nụ cười của Mẹ thoáng hiện trên nền trời mây trắng.

    Ngày Mother’s Day, con không thể tặng Mẹ một bó hoa, không thể ôm Mẹ thật chặt; nhưng con có thể thắp lên một ngọn nến, một nén nhang và thì thầm với trời xanh: Mẹ ơi, con nhớ Mẹ vô cùng… và con sẽ sống sao cho xứng đáng với tình yêu Mẹ dành cho con cả một đời.

    Ngày Hiền Mẫu, tôi nhớ lại ngày tôi rời nhà, Mẹ không khóc trước mặt tôi, đôi mắt Mẹ đỏ hoe và Mẹ nắm chặt tay tôi hơn thường lệ. Mẹ dặn dò đủ thứ –“Qua đó nhớ giữ gìn sức khỏe và cẩn thận mọi sự việc nơi xứ lạ quê người, nghe con…”; rồi Mẹ gói ghém từ cái áo ấm đến thuốc cảm cúm đặt trong giỏ xách cho tôi.  Biết Mẹ lo, nhưng cũng biết Mẹ tự dặn lòng phải mạnh mẽ, để không làm tôi chùn bước. Mẹ tôi không biết nói những lời triết lý cao siêu, không giỏi thể hiện bằng những câu thơ văn, Mẹ chỉ lặng lẽ yêu thương bằng những chăm sóc chu đáo cho tôi. Tình Mẹ tưởng như giản dị mà hóa ra thiêng liêng vô cùng. Nhưng những ngày ấy đã lùi xa vào ký ức. Dù vậy, tôi biết tình mẹ chưa bao giờ xa tôi. Nó vẫn ở đây, trong từng nhịp thở, từng dòng chữ tôi viết, từng đêm trăn trở nhớ mẹ giữa mùa đông lạnh.

    Ngày mẹ ngã bệnh, tôi đang ở xứ người và phải lo toan nhiều việc. Mẹ nói: “Đừng về vội, con à. Mẹ còn chịu được.” Tôi nghe mà nhói lòng, vì biết Mẹ  sợ tôi lo lắng và bận tâm. Tôi cứ ngỡ còn thời gian một tháng nữa, hai tháng nữa, hay lâu hơn nữa… Rồi bỗng một ngày điện thoại reo giữa đêm khuya… Tôi lặng người! Thời gian không chờ ai, và Mẹ tôi… đã không chờ đợi được nữa!

    Chuyến bay trở về nhà  hôm ấy là chuyến đi dài nhất trong đời tôi. Không phải vì khoảng cách địa lý, mà vì lòng tôi nặng trĩu. Tôi không dám khóc giữa sân bay đông người, nhưng trong tim tôi, nước mắt đã chảy từ lâu – chảy từ khoảnh khắc tôi biết mình đã không kịp trở về, để nhìn Mẹ lần cuối và nghe Mẹ trối trăn!

    Tôi đứng trước bàn thờ Mẹ, gục đầu, thì thầm: “Mẹ ơi, con về rồi đây… Nhưng muộn quá phảikhông Mẹ?”Mẹ lặng thinh! Chỉ có khói nhang bay lên di ảnh của Mẹ làm nhạt nhòe mắt Mẹ như ánh mắt Mẹ ngày tôi xa lìa gia đình. Từ ngày ấy, tôi sống với một vết thương không thể lành – vết thương của sự xa cách cuối cùng. Nhưng cũng từ đó, tôi hiểu sâu hơn về “tình mẹ”: đó là tình yêu không cần sự có mặt, vẫn âm thầm nâng đỡ tôi mỗi ngày, dù Mẹ đã đi xa. Giờ đây, mỗi khi nhìn lên bầu trời, tôi lại khẽ nói: “Mẹ ơi, con nhớ mẹ nhiều lắm.”Và tôi tin đâu đó, Mẹ vẫn mỉm cười nhẹ nhàng như những năm tháng xưa – khi Mẹ đứng trước cửa chờ tôi về, mái tóc bạc lấp lánh trong nắng chiều.

    Mẹ –là hình dáng của tình yêu vĩnh cửu. Trong dòng đời hối hả, có một điều luôn âm ỉ cháy không tàn, đó là “ tình yêu của mẹ.” Tình yêu ấy không cần lý do để bắt đầu, cũng không chờ điều kiện để tồn tại. Mẹ là tiếng gọi đầu tiên ta thốt lên, là bóng hình cuối cùng ta giữ mãi trong tim. Có nhiều đại văn hào trên thế giới cũng đã từng ca ngợi “Tình Mẹ” như Bernard Shaw từng nói: “Vũ trụ có rất nhiều kỳ quan; nhưng kỳ qua vĩ đại nhất là trái tim người Mẹ”

    Victor Hugo viết: “A mother’s arms are made of tenderness and children sleep soundly in them.”

     (Vòng tay mẹ được dệt bằng sự dịu dàng, và trong đó con trẻ ngủ giấc bình an.)

    Mẹ không chỉ là người sinh ra ta — mà còn là người chắp cánh cho ước mơ, dạy ta biết yêu thương, biết vươn lên giữa giông bão. Dù thời gian có đưa Mẹ đi xa, thì tiếng gọi “Mẹ ơi” vẫn mãi là lời thì thầm thiêng liêng nhất đời người.

    Plato đã từng nói: “There is no greater love than that of a mother.”

    (Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của một người mẹ.)

    Trong mắt Mẹ, ta luôn là đứa trẻ nhỏ cần được vỗ về, dù ta đã là người trưởng thành giữa cuộc đời. Mẹ âm thầm lo lắng khi ta đi xa, thầm lặng vui mừng mỗi lần ta trở về. Mẹ cười sau lưng những thành công của ta, và khóc lặng lẽ cho những tổn thương mà ta chẳng hay biết.

    Có một câu nói khuyết danh, nhưng hàm chứa một chân lý sâu xa:

    “God could not be everywhere, and therefore he made mothers.”

    (Thượng đế không thể có mặt ở khắp nơi, vì thế Ngài đã tạo ra người mẹ.)

     Mother’s Day không chỉ là dịp để tặng hoa, gửi quà, mà là một khoảnh khắc để ta lắng động tâm hồn, gởi đến Mẹ một lời cảm tạ từ trái tim. Dù Mẹ còn trên đời hay đã về bên kia thế giới, tình mẹ vẫn là nơi ta hướng về, mỗi khi đời bão giông.

    Abraham Lincoln đã nói:

    “All that I am, or hope to be, I owe to my angel mother.”

    (Tất cả những gì tôi có được, hay hy vọng đạt tới, tôi đều nhờ người mẹ thiên thần của tôi.)

    Cùng một nỗi niềm chung về “Tình Mẹ”, ngay trong thế giới âm nhạc mênh mông không biên giới, cũng vẫn có chỗ cho những bài hát ca tụng “Tình Mẹ”. Như hai ca khúc tiêu biểu: Maman oh Maman và Lòng Mẹ – hai bản nhạc cảm động đến tận cùng trái tim, tuy đến từ hai nền văn hóa, địa ly khác nhau; nhưng lại cùng chan chứa một tình yêu vĩ đại; đó là: tình mẫu tử.

    “MAMAN OH MAMAN” – LỜI GỌI TỪ TRÁI TIM

    Maman oh Maman là một ca khúc Pháp nổi tiếng, một bản tình ca dành cho Mẹ với tất cả yêu thương và biết ơn. Giai điệu của bài hát mộc mạc, dịu dàng như lời thủ thỉ của một đứa con nói với mẹ, nhưng lại chứa đựng cả một trời yêu thương và khát khao. Ca khúc này vượt thời gian và biên giới vì nó chạm đến sợi dây thiêng liêng nhất của con người – đó là tình mẹ. Mỗi lần nghe, người ta như được trở về thuở ấu thơ, được nép vào vòng tay yêu thương nhất, nơi không có lo toan, chỉ có hơi ấm và tiếng ru ngọt ngào.

    Maman oh Maman, toi qui m’as donné. Tant de tendresse depuis tant d’années

    Tu le sais bien, quand je serai grand. Je penserai à toi, Maman

    Maman oh Maman, le jour et la nuit. Je veillerai toujours sur ta vie

    Je serai là à tout les instants. Pour te protéger, Maman…

    LÒNG MẸ” – BẢN THÁNH CA CỦA TÌNH MẸ

    Nếu Maman oh Maman là lời hát của đứa con dành cho mẹ, thì Lòng Mẹ – một ca khúc bất hủ của nhạc sĩ Y Vân – là khúc ngợi ca cao nhất tình mẹ Việt Nam: sâu như biển Thái Bình, bao la như trời lồng lộng. Với những hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp:

    “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào

    Tình Mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…

    “Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu

    Tình Mẹ âu yếm như làn gió đùa mặt hồ…”

    Bản nhạc Lòng Mẹ rất tha thiết, mỗi khi âm điệu của bản nhạc cất lên làm rung động cả con tim và giọt lệ chợt ứa trong khóe mắt. Tình Mẹ sao quá đỗi ngọt ngào, Mẹ hy sinh cả một đời cho con, Mẹ luôn là người duy nhất không bao giờ bỏ rơi con, dù con thành công hay thất bại, giàu sang hay nghèo khó. Giai điệu ca khúc nhẹ nhàng, da diết, tràn đầy cảm xúc như lời ru vọng lại từ ký ức; khiến không ít người khi cất lên bài hát này đã không thể cầm được nước mắt.

    Dù khác ngôn ngữ, khác văn hóa, nhưng Maman oh Maman và Lòng Mẹ đều chạm đến sâu thẳm trái tim người nghe. Mama oh Maman – như tiếng con trẻ nói với  Mẹ với tất cả yêu thương hồn nhiên; Lòng Mẹ là tiếng hát thành kính, dạt dào như khúc thánh ca dâng lên người Mẹ hiền đã hy sinh cả cuộc đời cho con. Hai ca khúc – hai thế giới – nhưng chung một tình yêu: – đó là Tình Mẹ vĩnh cửu.

         (Kính tặng những người Mẹ – còn đó hay đã xa…)

    Trên đường đời con bước,
    Có dấu chân ai quen…
    Âm thầm như hơi thở,
    Nhưng ấm từng bước lên.

    Có Mẹ là có nắng,
    Chợt một ngày đông tan.
    Có Mẹ  là tiếng hát
    Ru con suốt tháng năm.

    Mẹ xa rồi trăng khuyết,
    Hương bếp cũ mơ hồ,
    Bóng Mẹ như trong gió
    Về bên cửa đợi chờ…

    Con ngồi nghe mưa rớt
    Trên mái nhớ ngày xưa
    Từng bữa ăn đạm bạc,
    Mẹ nhường con hơn thừa.

    Dẫu Mẹ còn hay khuất,
    Trong tim con vẫn đầy
    Một vầng trăng không tắt,
    Dẫn con suốt tháng ngày…

    Kiều My

    Trong cuộc đời viễn xứ, đôi khi chúng ta không ngờ rằng giây phút chia xa cuối cùng với Mẹ lại đến quá đột ngột. Những dòng hồi tưởng này chan chứa nỗi ngậm ngùi của một người con sống xa quê nhà, mang trong tim nỗi ray rứt không thể ở cạnh Mẹ trong những ngày cuối đời của Mẹ. Nhưng cũng từ đó, ta nhận ra rằng tình mẹ vẫn luôn hiện hữu – âm thầm, bao la, và vĩnh viễn không rời xa. . Dù Mẹ còn trên đời hay đã đi xa, tình mẹ vẫn luôn là ánh sáng dịu dàng dẫn lối  trong suốt hành trình của đời ta.

    Kiều My

    California, Mother’s Day 2025

  • Kiều My

    Sài Gòn – Một Thời Để Nhớ.

    Kiều My

    Có những thành phố ta ghé qua một lần rồi chìm vào quên lãng. Có những nơi ta đi qua như một cơn gió thoảng. Nhưng có những nơi, dù thời gian trôi qua bao năm tháng, vẫn còn ở đó – nguyên vẹn trong tim ta – như một mảnh ký ức không thể phai mờ. Với tôi, nơi ấy chính là SàiGòn. Không phải Sài Gòn ồn ào náo nhiệt của những năm qua – mà là Sài Gòn củamột thời đã xa, một thời để nhớ, để thương, và để mãi mãi ẩn giấu trong vùng ký ức… như giữ gìn một ca khúc xưa cũ, chỉ cần ngân lên một nốt nhạc là lòng đã chùng xuống.

    Tôi viết những dòng này không phải để níu kéo quá khứ, mà để gợi lại hình ảnh một thành phố đã để lại trong tôi biết bao nhiêu kỷ niệm của một thời áo trắng, những mái trường xưa – từng là nguồn hun đúc, nuôi dưỡng bao ước mơ của tuổi trẻ và lưu giữ biết bao kỷ niệm tuổi học trò; để nhớ lại một Sài Gòn với  nhà thờ Đức Bà trầm mặc, Bưu điện cổ kính, dinh Độc Lập uy nghiêm, Thảo Cầm Viên mát xanh bóng lá, chợ Bến Thành nhộn nhịp, và bến Bạch Đằng lộng gió…

    ◊ ◊ ◊

    Nhà thờ Đức Bà – Biểu tượng linh thiêng giữa lòng Sài Gòn

    Nhà thờ Đức Bà

    Nằm giữa giao lộ Tự Do, Duy Tân, Nguyễn Du, và Thống Nhất; nhà thờ Đức Bà, hay Vương Cung Thánh Đường, là một trong những biểu tượng nổi bật của Công giáo và cũng là niềm hãnh diện của Sài Gòn. Nhà thờ mang phong cách kiến trúc Romanesque kết hợp Gothic, theo thiết kế của kiến trúc sư người Pháp J. Boutard, với hai tháp chuông cao vút và mặt tiền bằng gạch đỏ, mô phỏng theo nhà thờ Notre – Dame De Paris, Pháp quốc. Những sáng sớm Sài Gòn xưa, ánh nắng dịu dàng len qua hàng me rọi xuống mặt đường còn vương sương sớm, tiếng chuông nhà thờ Đức Bà ngân vang như một bản thánh ca dịu dàng đánh thức thành phố còn ngáy ngủ. Ngôi thánh đường uy nghi, mái ngói đỏ giữa lòng đô thị, là điểm hẹn quen thuộc cho những giáo dân, và cũng là nơi của bao đôi lứa hẹn hò trong không gian linh thiêng và lặng lẽ ấy.

    Bưu điện Sài Gòn – Giao lộ giữa ký ức và thời gian

    Bưu điện Sài Gòn trước 1975

    Bưu điện Sài Gòn nhìn qua nhà thờ Đức Bà, cách một con đường rộng, như đang chiêm ngưỡng vẻ đẹp nguy nga của nhà thờ Đức Bà vậy– Bưu Điện được xây dựng do công trình của kiến trúc sư người Pháp Gustave Eiffel thiết kế – Người đã tạo nên những kiến trúc nổi tiếng thế giới như: tháp Eiffel, tượng nữ thần Tự Do, cầu Tràng Tiền v.v … Bưu điện Sài Gòn được xây dựng vào cuối thế kỷ 19, tòa nhà mang phong cách kiến trúc tân cổ điển với mái vòm cao, cửa sổ lớn và các nét họa trang trí tinh xảo. Trước 1975, đây là nơi người dân đến gửi thư, điện tín và là biểu tượng của sự kết nối trong thời đại “đánh dây thép.”

    Dinh Độc Lập – Chứng nhân lịch sử

    Dinh Độc Lập trước 1975

    Từ nhà thờ Đức Bà ta có thể tản bộ ngang qua một công viên nhỏ để đến Dinh Độc Lập ở điểm giao thoa giữa đường Công Lý và đại lộ Thống Nhất – là nơi ở và làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Dinh thự mang phong cách kiến trúc hiện đại phối hợp với các yếu tố truyền thống Việt Nam.​ Dinh Độc Lập, uy nghi giữa công viên xanh mướt, là biểu tượng quyền lực nhưng cũng là chứng nhân của những biến động thời cuộc. Tôi vẫn nhớ hàng phượng vĩ trước Dinh luôn đỏ rực vào mùa hè, thắp lên vẻ đẹp rực rỡ của màu cam phượng vĩ, gợi lên phút chia tay bạn học mùa bãi trường của thời học sinh.

    Thảo Cầm Viên – Lá phổi xanh giữa lòng thành phố

    Thảo Cầm Viên trước 1975

    Từ Dinh Độc Lập đi sâu hơn một chút trên đại lộ Thống Nhất là Thảo Cầm Viên hay Sở Thú, hiện ra như một miền cổ tích, được thành lập vào năm 1864, là một trong những vườn thú lâu đời nhất thế giới. Nơi đây là điểm đến yêu thích của người dân thành phố, đặc biệt là vào dịp cuối tuần. Với không gian xanh mát, có nhiều loài động thực vật. Thảo Cầm Viên là nơi lưu giữ nhiều ký ức tuổi thơ qua bao thế hệ.​ Trẻ con ríu rít chạy theo bầy chim công, người lớn thì thong dong dưới những tàng cây sao, cây dầu cao vút. Ở đó, tiếng cười hòa trong tiếng lá lao xao, trong hương nắng nhè nhẹ và mùi đất ẩm mỗi khi mưa về.

    Chợ Bến Thành – Trái tim thương mại của Sài Gòn xưa

    Chợ Bến Thành trước 1975

    Khi nhắc đến Sai Gòn, không thể không nhắc đến chợ Bến Thành – biểu tượng bất diệt của Sài Gòn. Mái chợ đỏ, chiếc đồng hồ bốn mặt, và dòng người tấp nập sáng chiều là minh chứng cho một thành phố thương mại sống động, nhưng cũng rất đỗi thân quen. Những tà áo dài lướt qua những quầy hàng như một bức tranh sinh động của đời sống thường nhật. Chợ Bến Thành, được xây dựng vào năm 1912, với kiến trúc độc đáo và những chiếc đồng hồ lớn ở bốn cửa: Đông, Tây, Nam, Bắc, là nét đặc biệt lâu đời của chợ Bến Thành. Nơi đây không những là trung tâm mua sắm, mà còn là nơi để thưởng thức những món ăn thuần túy dân tộc ba miền.

    Bến Bạch Đằng – Dòng sông ký ức lặng lẽ của Sài Gòn

    Bến Bạch Đằng xưa

    Và kia là bến Bạch Đằng, nơi bến nước giao duyên cùng bầu trời rộng mở. Những chuyến phà qua lại giữa dòng sông – kết nối thành phố Sài Gòn hoa lệ với xã Thủ Thiêm còn mang nét mộc mạc của đồng quê. Bến Bạch Đằng được tô điểm thêm nét quyến rũ với những tà áo dài của các cô gái Sài Gòn bay bay trong chiều lộng gió bên cạnh người tình. – Tất cả là những nét dịu dàng của thủ đô Sài Gòn –   một thành phố biết sống chậm, biết yêu và biết nhớ; là biểu tượng của Việt Nam Cộng Hòa – là Hòn Ngọc Viễn Đông trước 1975.

    Tượng đài Đức Trần Hưng Đạo nổi bật ở đoạn giữa bến tại công trường Mê Linh hình bán nguyệt. Khung cảnh thơ mộng và nhộn nhịp của bến Bạch Đằng đã trở thành một phần không thể thiếu trong ký ức của người Sài Gòn xưa. – Vì nơi đó không chỉ là một địa danh, mà là một ký ứclặng lẽ của Sài Gòn xưa, là một góc trời mà những ai từng sống, từng yêu, từng bước qua Bến Bạch Đằng trước 1975 chắc hẳn đều giữ riêng cho mình một kỷ niệm khó quên.

    Đêm xuống, Bến Bạch Đằng khoác lên mình một vẻ lãng mạn khó tả. Ánh đèn từ phía khách sạn Majestic phản chiếu trên mặt sông lấp lánh như hàng vạn vì sao sa xuống.​ Bến Bạch Đằng – với tôi – không chỉ là bến tàu. Đó là bến của những ký ức, những mối tình dang dở, những buổi chiều không hẹn mà gặp, và những đêm không ai gọi mà vẫn về…

    ◊ ◊ ◊

    Với tôi, Sài Gòn còn là những mái trường – nơi lưu giữ giấc mộng tuổi học trò. Những trường nữ trung học khuôn mẫu không chỉ nổi tiếng về học vấn mà còn là biểu tượng của nét duyên thầm, kín đáo của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Những tà áo dài trắng tinh khôi, những bước chân nhẹ nhàng trên sân gạch đỏ, vẫn còn ẩn khuất đâu đây trong ký ức. Ngoài ra, còn nhiều trường nổi tiếng dành cho nam sinh, nơi đào tạo nhiều nhân tài đủ mọi ngành nghề phục vụ cho đất nước.

    Trường Pétrus Ký

    Với sân trường rộng và hàng cây xanh mát, nơi bao thế hệ nam sinh đã lớn lên cùng sách vở và hoài bão. Được thành lập năm 1927, trường Pétrus Ký là một trong những trường trung học danh tiếng nhất Sài Gòn, dành cho nam sinh. Trường nổi bật với kiến trúc Pháp cổ kính và là nơi đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước.

    Trường Jean-Jacques Rousseau

    Trường Jean-Jacques Rousseau, trước đó là Collège Chasseloup-Laubat, là một trong những trường trung học lâu đời nhất Sài Gòn, nằm giữa ba con đường trung tâm là Chasseloup Laubat, Testard và Palais. Trường nổi tiếng với chương trình giảng dạy theo hệ thống Pháp và là nơi học tập của nhiều học sinh ưu tú.

    Trường La San Taberd

    Trường La San Taberd, nằm tại số 53 đường Nguyễn Du, Quận 1, là một trong những trường trung học lâu đời nhất Sài Gòn, do Hội truyền giáo La San thành lập. Trường nổi tiếng dưới sự giảng dạy và kỷ luật nghiêm ngặt của  những giáo sư chuyên nghiệp.

    Trường Nguyễn Bá Tòng

    Là trường tư thục do Giáo hội Công giáo điều hành, dạy cả nam lẫn nữ. Trường nổi tiếng với chương trình giảng dạy kết hợp giữa giáo dục phổ thông và giáo lý Công giáo, góp phần đào tạo nhiều thế hệ học sinh có đạo đức và tri thức.​

    Riêng tôi, Sài Gòn xưa còn nằm gọn dưới mái trường Nguyễn Bá Tòng thân thương – nơi tôi đã đi qua một thời áo trắng đầy mộng mơ. Ngôi trường nằm bên con đường rợp bóng cây, cổng vào đơn sơ nhưng ấm áp như vòng tay mẹ. Mỗi sáng, tiếng chuông báo vào lớp ngân lên như một khúc nhạc quen thuộc; còn tôi, tay ôm cặp sách cùng bạn nhanh nhẹn đi vào  lớp. Những dãy hành  lang dài, những lớp học với bàn ghế  gỗ đã  ngả màu thời gian;

    Trường Nguyễn Bá Tòng

    nơi đó tôi từng lặng im nghe thầy giảng bài, từng cười khúc khích với các bạn trong giờ ra chơi, hoặc qua nhà thờ Huyện Sĩ kế bên ngồi chuyện trò khi được nghỉ hai giờ sau. Thật thú vị lúc giờ tan trường đến, khi cánh cổng sắt mở toang –xuất hiện các chàng trai trong quân phục đủ mọi binh chủng hớn hở chờ đón người yêu áo trắng. Nguyễn Bá Tòng không chỉ là trường học, mà là nơi chắp cánh cho tôi bay vào đời – với hành trang là tri thức, lòng nhân ái, và một niềm tin vững chãi vào Chân, Thiện, Mỹ. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, chưa phai mờ.

    Trường La San Đức Minh

    Tọa lạc trên đường Hiền Vương, con đường nổi tiếng với những tiệm phở gà ngon và nổi tiếng, Lasan Đức Minh, thuộc về hội Truyền giáo Lasan, là một trong những trường tư thục Công giáo nổi tiếng tại Sài Gòn trước 1975, Lasan Đức Minh gồm cả hai bậc Tiểu học và Trung học, nổi bật với kiến trúc Pháp cổ kính, sân trường rộng rãi, hàng cây xanh mát, là nơi học tập của nhiều thế hệ học sinh Sài Gòn. Trường nổi tiếng với kỷ luật nghiêm khắc, chương trình giảng dạy song ngữ Pháp – Việt, chú trọng rèn luyện đạo đức và nhân cách.

    Trường Saint Paul

    Trường Saint Paul là một trường học dành cho nữ sinh, do các nữ tu Công giáo dòng Saint Paul điều hành. Trường nổi tiếng với môi trường học tập nghiêm túc và chương trình giảng dạy kết hợp giữa giáo dục phổ thông và giáo lý Công giáo, theo nền giáo dục Pháp quốc.

    Trường Gia Long và Trưng Vương

    Trường Gia Long và Trưng Vương dành cho nữ sinh, là những trường trung học công nổi tiếng nhất Sài Gòn trước 1975. Trường nổi bật với kiến trúc đẹp với môi trường học tập nghiêm túc  và chương trình giảng dạy tốt , góp phần đào tạo nhiều thế hệ nữ sinh ưu tú.​

    Trường Marie Curie

    Trường Marie Curie, dành cho nữ sinh, là một trong những trường trung học nổi tiếng của Sài Gòn. Trường nổi bật với kiến trúc đẹp và chương trình giảng dạy tiếng Pháp, góp phần đào tạo nhiều thế hệ nữ sinh ưu tú.​ Ngôi trường được bao phủ bởi những hàng cây cao xanh mát, có những không gian mang nhiều hoài niệm của một thời vàng son.

    Tất cả những ngôi trường danh tiếng của thành phố Sài Gòn như những đóa hoa thơm trong khu vườn giáo dục; mỗi ngôi trường là một vết son trong lịch sử giáo dục miền Nam, nơi hội tụ không chỉ tri thức mà còn tinh thần tự do, cởi mở và nhân bản.

    ◊ ◊ ◊

    Trước năm 1975, Sài Gòn được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Dông”. Trung tâm Sài Gòn là khu vực sầm uất, hội tụ những biểu tượng văn hóa, kiến trúc, giải trí và thương mại sầm uất, tạo nên sắc thái riêng biệt cho thành phố này. Dưới đây là những điểm nổi bật tiêu biểu:

    Nhà sách Khai Trí

    Người dân Sài Gòn rất quen thuộc với nhà sách Khai Trí, một nhà sách nổi tiếng trên đường Lê Lợi, là “thiên đường sách” của học sinh, sinh viên và dân trí thức Sài Gòn, nơi cập nhật sách báo mới nhất trong và ngoài nước. Chủ nhân tiệm sách là ông Nguyễn Hùng Trương, người say mê đọc sách đã đặt hết tâm hồn vào tài lực cũng như nhân lực, để hình thành một không gian “tri thức” cho mọi tầng lớp xã hội, nhất là trẻ em. Chủ nhân đã tạo cho những người hiếu học có cơ hội học hỏi và trau dồi kiến thức qua những loại sách vỡ lành mạnh trong nhiều lĩnh vực, kể cả sách trau dồi ngoại ngữ như Anh, Pháp, Hoa ngữ, Latin v.v…

    Rồi những buổi tối cùng các bạn lang thang trên những con đường rực sáng dưới ánh đèn vàng của những con đường Tự Do, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Lê Thánh Tôn…nghe tiếng nhạc từ quán cà phê vọng ra. Mỗi bài hát như gợi nhớ về một kỷ niệm, một người…đã thật xa!

    Rạp hát Eden

    Rạp Eden là một trong những rạp chiếu bóng nổi tiếng nhất Sài Gòn trước 1975, nằm trong khu thương xá Eden, mặt hướng về công viên Đống Đa, khách ghiền ciné có thể vào từ các đường Tự Do, Lê Lợi hoặc Nguyễn Huệ. Rạp được xây dựng theo kiến trúc cổ điển kiểu Pháp, có hai balcon, trong đó balcon 1 là vị trí ngồi lý tưởng nhất. Đặc biệt, balcon 2 nhỏ hơn, cao hơn và thường được gọi vui là “chuồng bồ câu” (pigeonnier). Eden từng là nơi ca sĩ Pháp Dalida biểu diễn khi đến Sài Gòn.

    Rạp hát Rex

    Rạp Rex tọa lạc trên đại lộ Nguyễn Huệ, đối diện công viên Đống Đa, nổi bật với thiết kế hiện đại, sang trọng nhất thời bấy giờ. Trên lầu thượng là khách sạn Rex, từng là điểm đến của nhiều du khách quốc tế và giới thượng lưu Sài Gòn. Rạp Rex là nơi trình chiếu những bộ phim nổi tiếng và là biểu tượng của đời sống văn hóa đô thị Sài Gòn.

    Phòng trà Maxim’s

    Maxim’s là một trong những phòng trà, vũ trường nổi tiếng nhất Sài Gòn. Sau nhiều lần đổi chủ, Maxim’s vẫn giữ được vị thế là nơi giải trí sang trọng dành cho giới công chức, trí thức và cả người nước ngoài. Những năm cuối thập niên 1960, Maxim’s nổi bật với các chương trình ca vũ nhạc, đặc biệt là đoàn ca vũ Hoàng Thi Thơ. Cho đến nay, Maxim’s vẫn là địa điểm mang đậm dấu ấn hoài niệm của Sài Gòn xưa.

    Khách sạn Caravelle

    Khách sạn Caravelle tọa lạc tại trung tâm Sài Gòn, bên cạnh Trụ sở Hạ Nghị Viện. Caravelle là nơi lưu trú của các chính khách, ký giả quốc tế và là địa điểm họp mặt, tiệc dạ vũ sang trọng của giới trí thức, chính trị gia Sài Gòn. Trên sân thượng tầng 10, khách có thể ngắm toàn cảnh thành phố. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của nhiều hãng truyền thông quốc tế như CBS, ABC, New York Time, và cũng là chứng nhân cho nhiều sự kiện lịch sử, văn hóa, chính trị mang tầm vóc quốc tế.

    Thương xá TAX

    Đây là trung tâm thương mại sầm uất, nổi tiếng lâu đời nhất Sài Gòn, được xem là biểu tượng của sự phát triển đô thị và thương mại từ cuối thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, góp phần tạo nên hình ảnh “Hòn ngọc Viễn Đông” của thành phố. Thập niên 1960, thương xá chính thức mang tên TAX và thuộc sở hữu của Tổng giáo phận Sài Gòn trước khi bị tịch thu sau đảo chính 1963.Thương xá TAX là nơi mua sắm quen thuộc của người dân và du khách, đồng thời là điểm hẹn văn hóa, thương mại trung tâm của Sài Gòn xưa.

    Thương Xá Eden

    Thương xá Eden

    Passage Eden cũng là lối vào rạp ciné Eden nổi tiếng, cửa chính hướng ra đường Tự Do và hành lang thông qua các đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, thu hút đông đảo sinh viên, viên chức trung lưu và các cặp tình nhân đến xem phim và hẹn hò.

    Tầng trệt thương xá Eden có quán cà phê Givral nổi tiếng, nơi tụ họp của giới văn nghệ sĩ, nhà  báo và chính trị  gia, cũng là địa  điểm văn  hóa lịch  sử quan  trọng của Sài Gòn xưa.

    Thương xá TAX và Passage Eden là hai biểu tượng thương mại và văn hóa tiêu biểu của Sài Gòn trong giai đoạn 1970–1975, phản ảnh đời sống đô thị sôi động, phong cách phương Tây và nét đặc trưng của thành phố trước biến động lịch sử.

    Crystal Palace

    Còn được gọi là Thương xá Tam Đa, là một trung tâm thương mại nổi tiếng và hiện đại bậc nhất Sài Gòn trước 1975. Tòa nhà này tọa lạc tại vị trí dắt đỏ được bao bọc bởi các đường Công Lý, Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực và Lê Thánh Tôn, trung tâm Quận 1.

    Crystal Palace được thiết kế bởi kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, nổi tiếng với nhiều công trình lớn như Dinh Độc Lập. Khác với các thương xá trước đó, Crystal Palace là nơi buôn bán mỹ phẩm, thời trang cao cấp và cũng là điểm hẹn của giới yêu văn hóa, nghệ thuật. Tầng trệt và các tầng trên có nhiều quầy hàng đa dạng, trong đó nổi bật là quầy sách của các nhà văn nổi tiếng, quầy băng nhạc của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, và phòng thu băng hiện đại của Jo Marcel – nơi sản xuất những cuộn băng nhạc trẻ được giới trẻ Sài Gòn ưa chuộng thời đó.

                Crystal Palace (Thương xá Tam Đa) trước 1975 là một trung tâm thương mại hiện đại, đa chức năng, nổi bật với kiến trúc đẹp, không gian văn hóa – nghệ thuật sôi động, là điểm đến quen thuộc của người dân Sài Gòn và là một phần không thể thiếu trong ký ức đô thị thời kỳ này. Passage Eden là dãy hành lang mua sắm nằm trong khu thương xá Eden, một khu tứ giác thương mại nổi tiếng ở trung tâm Quận 1, giới hạn bởi bốn con đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Lê Thánh Tôn và Tự Do.

    Khách sạn Continental

    Đây là vị trí trung tâm và sầm uất bậc nhất Sài Gòn xưa, nơi hội tụ của giới thượng lưu, trí thức, nghệ sĩ, nhà báo quốc tế và các chính khách.

    Kiến trúc khách sạn mang đậm phong cách Pháp cổ điển: mái ngói, tường gạch dày, trần cao, các cửa sổ lớn hướng ra phố hoặc sân vườn, tạo không gian thoáng mát phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Khuôn viên khách sạn hình chữ nhật, ở giữa là sân vườn rộng với ba cây hoa sứ được trồng từ năm 1880, đến nay vẫn xanh tốt và tỏa bóng mát. Continental là nơi lưu trú sang trọng, trung tâm gặp gỡ của giới trí thức, nhà báo, văn nghệ sĩ và các doanh nhân trong và ngoài nước. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, khách sạn là nơi lui tới của nhiều phóng viên quốc tế, các nhà ngoại giao, trở thành “trung tâm thông tin” không chính thức về tình hình Sài Gòn và miền Nam.

    Buổi sáng, thực khách có thể thưởng thức bữa sáng kiểu Pháp hoặc Việt Nam trong không gian cổ kính, nhìn ra tòa nhà Quốc Hội – một nét đặc biệt của Sài Gòn thời ấy.

    Khách sạn Continental là một phần không thể thiếu trong đời sống đô thị Sài Gòn trước 1975, gắn liền với hình ảnh con đường Tự Do nhộn nhịp, sang trọng. Đến nay, Continental vẫn giữ gần như nguyên vẹn dáng dấp kiến trúc xưa, là điểm đến hoài niệm cho những ai muốn tìm lại không khí Sài Gòn của một thời vàng son.

    Với một một công trình kiến trúc di sản, Khách sạn Continental còn được coi như một nhân chứng sống cho lịch sử, văn hóa và nhịp sống của Sài Gòn từ cuối thế kỷ XIX đến tận ngày nay. Marc Phillip Yablonka, phóng viên chiến trường Mỹ từng làm việc tại Sài Gòn, đã nhận định: “Nếu những bức tường của khách sạn Continental biết nói, chúng sẽ kể cho bạn rất nhiều điều”.

    Nhà hàng Brodard và Quán Kem Nguyễn Huệ

    Nhà hàng Brodard trên đường Tự Do là nơi nổi tiếng với các món bánh Âu châu, cà phê và không gian sang trọng, thường lui tới bởi giới trí thức, doanh nhân, nghệ sĩ. Quán kem trên đường Nguyễn Huệ (như tiệm Pôle Nord) nổi tiếng với kem ly ăn trong phòng máy lạnh, là điểm hẹn lý tưởng của giới trẻ và gia đình Sài Gòn trong mùa hè oi bức.

    Và không thể không nhắc đến Sài Gòn mùa mưa – những cơn mưa đổ bất chợt khiến người ta phải tấp vào mái hiên trú tạm; nhưng cũng là những cơn mưa khiến tim ai đó se lại. Có những mối tình chết lặng dưới cơn mưa như thế, mà những giọt mưa là những giọt nước mắt chia xa; thế rồi, hai bóng lặng lẽ quay lưng đi và không bao giờ gặp lại…

    Sài Gòn… Một thời để nhớ – không phải vì nó hoàn hảo, mà vì nó đã là một phần đời của tôi. Những con đường xưa với hàng cây xanh rợp bóng, mái trường thân yêu, tiếng nhạc gợi nhớ, hay những cơn mưa ướt đẫm… tất cả đã hòa vào nhau, thành một bản giao hưởng ký ức. Và dù tôi có đi đến đâu, sống bao nhiêu năm xa xứ, trái tim tôi vẫn ở lại nơi ấy – Sài Gòn của một thời tuổi thơ, một thời yêu thương và một thời để nhớ…

                                                                            ***

    Như một nốt lặng giữa những dòng hồi tưởng, Kiều My xin gửi đến quý độc giả bài thơ mộc mạc về Sài Gòn – thành phố của yêu thương, của ký ức, của những ngày xưa êm đềm. Vâng, một chút nắng, một chút gió, cũng đủ để Sài Gòn mãi là nơi để nhớ...

    SÀI GÒN, MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

    Thương lắm… Sài Gòn một thuở xa
    Tiếng rao khuya lạc giữa mưa sa
    Rơi tí tách vang trong đêm vắng
    Ánh đèn khuya thấp thoáng hiên nhà

    Áo dài ai thấp thoáng sân trường
    Ve ngân nga gợi nhớ tình thương
    Nhà thờ Đức Bà vang chuông sớm
    Bước chân quen một thuở thân thương.

    Thảo Cầm Viên, Bưu điện vàng son
    Dinh xưa đứng giữa lối mỏi mòn
    Gió từ Bến Bạch Đằng hiu hắt
    Nghe trong tim phố cũ vẫn còn…

    Dẫu xa xôi, lòng ta vẫn nhớ
    Một trời hương nắng thuở mộng mơ
    Sài Gòn đó – tiếng cười năm cũ
    Ru đời nhau theo gió hững hờ

    Và cũng trong tâm tình đó, Kiều My xin mời quý độc giả thưởng thức nhạc phẩm “Sài Gòn Ngày Ấy” của anh Thái Phạm.

    Kiều My

    California, một ngày buồn tháng 4-2025

  • Lê Nguyễn Nga,  Vương Trùng Dương

    Happy Valentine’s Day

    Hôm Nay, Happy Valentine’s Day! Lời Chúc Lễ Tình Yêu 2025!

    Nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết:

    “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!   

    Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều.   

    Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,.   

    Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu!”

    Không ai định nghĩa được Tình Yêu cả! Thậm chí là không biết có thật hay không? Vì không ai thấy, không ai rờ, không ái nếm được cả! mơ hồ như thế, vậy mà thế giới vẫn dành một ngày đặc biệt, hôm nay! mừng cho thứ tình cảm này, mà mọi người đều công nhận, nó là thứ tình cảm êm ái, ngọt ngào, cần thiết nhất trong đời sống!

    Hôm nay, Thứ Sáu, ngày 14 tháng 2, là Ngày Lễ Tình Yêu! Happy Valentine’s Day! Đây là một trong những ngày Lễ mà giới trẻ Mỹ yêu thích nhất, vì ý nghĩa của nó! Giờ thì đã lan ra khắp thế giới!

    Tình Yêu, là món quà quý báu nhất, mà Thượng Đế ban cho con người. Nơi nào có tình yêu, nơi đó có an bình, hạnh phúc. Ngược lại, hận thù, chỉ gây chết chóc, chiến tranh!

    Cuộc đời, tình yêu, cần như hơi thở. Chính vì thế mới có câu: “Người không có tình yêu, khác gì…xác chết! mà…biết thở!”

    Nhân ngày Lễ Tình Nhân, xin gởi lời chúc tốt đẹp nhất, ngọt ngào, hạnh phúc nhất, cho những cặp tình nhân đang yêu nhau. Nhưng đây chỉ là nghĩa hẹp, mở rộng hơn, là tình yêu thương giữa con người và con người, tình cảm cao quý này, mang lại niềm vui hạnh phúc, an bình cho cuộc sống. Cần thiết nhất trong thời điểm hiện tại, vì bất cứ lúc nào, thế giới cũng có thể bùng nổ chiến tranh. Chỉ vì con người, vẫn còn thiếu chất tình yêu thương nhau. Ý nghĩa này, mới là cốt lõi, thông điệp của ngày lễ!

    Chúc Mừng Ngày Lễ Tình Yêu 2025!

    Lê V Hải

    Dù Trời Mưa Như Trút Nước, Nhóm Mõ Nhân Ái, Vẫn Tưng Bừng Ăn Mừng Ngày Valentine Với Khách Không Nhà! (Homeless!)

    -Sáng hôm qua, Thứ Năm, ngày 13 tháng 2/2025, Nhóm Mõ Nhân Ái (Lê văn Hải, San Jose, CA) đã có một sinh hoạt đặc biệt Mừng Ngày Lễ Tình Nhân, với những mảnh đời khốn khổ không nhà, trong bữa cơm nóng phục vụ hàng tuần. Trước đó trời mưa, nhưng giờ sinh hoạt, lạ lùng, thì lại tạnh!

    Khách Không Nhà vui mừng khi được tặng quà, đó là 2 bao lì xì trong có chút tiền mặt. Một bà vui mừng ôm lấy anh trưởng nhóm tâm sự: “chồng con tôi, cũng quên ngày này, mà Nhóm lại nhớ! Điều này, làm tôi cảm động quá! cám ơn!”

    Đây là mục đích hoạt động của Nhóm, đưa các không khí ngày lễ đến với họ, như một món quà tinh thần an ủi, những mảnh đời bơ vơ, không một người thân bên cạnh. Mà Nhóm đã bền bỉ thực hiện biết bao nhiêu năm nay. (trên 30 năm!) Sau đây là một vài hình ảnh:

    Hình Ảnh Rộn Ràng, Tưng Bừng Mừng  Valentine Trên Khắp Thế Giới!

    – Ngày Valentine giờ đây không còn là nét văn hóa riêng của phương Tây. Ở khắp nơi trên thế giới, các bạn trẻ khắp các quốc gia, chào đón lễ tình yêu theo cách riêng của mình.

    Hàng trăm cặp đôi ở Đài Loan đã tham gia cuộc thi hôn tại Đài Bắc nhân kỷ niệm ngày Valentine. Cặp đôi nào hôn lâu nhất sẽ nhận được một phần thưởng là cặp vé du lịch sang Hong Kong.

    Không khí ngày lễ tình yêu tràn ngập mọi góc phố của thủ đô Baghdad, Iraq.

    Một cặp đôi trẻ người Iran đang chọn những món quà nhân dịp Valentine.

    Tham gia cuộc thi hôn cũng là cách các cặp đôi trẻ ở Thượng Hải, Trung Quốc chọn để kỷ niệm ngày lễ tình nhân.

    Bóng bay hình trái tim được bày bán khắp nơi trên các đường phố ở Lahore, Pakistan.

    Cuộc thi hôn tại Pattaya, Thái Lan

    Chiếc giày làm bằng chocolate cao 2m và dài 3m được trưng bày ở thủ đô Seoul, Hàn Quốc nhân dịp lễ tình nhân năm nay

    Một cửa hàng bán quà tặng Valentine tại Libăng

    Lễ cưới tập thể được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan đúng vào ngày 14-2

    Một công nhân tại Straelen, Đức nâng những giỏ hoa hồng chuẩn bị cho lễ tình nhân

    Những lời yêu thương ngọt ngào như True love (Tình yêu thật sự), Kiss me (Hôn tôi đi), hay I’m yours (Em là của anh)… được in trên bóng bay bán tại đường phố Seoul, Hàn Quốc

    Vườn thú ở Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã quyết định tổ chức lễ cưới cho Chunzi, một con hươu cái, và Changmao, một con cừu đực, đúng vào dịp Valentine

    Nhân Lễ Tình Nhân, giới thiệu những mẫu truyện ngắn hay về tình yêu, rung động trái Tim!

    Tình yêu là không thể chờ đợi

    Có một chàng trai thầm yêu cô gái chung lớp đã lâu, nhưng không dám bày tỏ. Chàng trai nhờ bạn bè và họ gợi ý chàng nên mua hoa và xếp thành hình trái tim trước sân trường và chờ cô gái đi học về rồi tỏ tình.

    Chàng đã mua rất nhiều hoa hồng và làm theo gợi ý của bạn mình, nhưng sau khi xếp xong chàng trai lại quá nhút nhát, khi người yêu đi qua, không dám gọi tên người mình yêu. Những sinh viên tò mò đứng xem chật kín hành lang của trường đại học. Cuối cùng để phá đi không gian tò mò ngày một đông kia, chàng trai bèn đổi giọng nói: “Có ai mua hoa không?”.

    Lỡ một lời tỏ tình có khi lỡ nhau cả đời! cô gái ấy lẽ ra là của chàng trai rồi, nhưng cuối cùng lại chỉ lướt qua nhau như người xa lạ mà thôi. Vì thế hãy nắm chặt lấy tình yêu của mình khi nó đến. Đừng để vuột mất cơ hội mà tiếc nuối cả đời bạn nhé. Biết bao nhiêu cuộc tình vuột mất, chỉ vì không dám nói! 

    -Ngày lễ Tình nhân dành cho những người yêu nhau – nhưng bạn không cần một người bạn tâm giao lãng mạn để ăn mừng.

    Ngày lễ là cơ hội để xem xét mọi hình thức tình yêu phong phú, đa dạng và có lợi như thế nào trong trải nghiệm của con người, cho dù tình yêu đó đến từ gia đình, bạn bè, thú cưng, hàng xóm hay cộng đồng của bạn.

    Ba chuyên gia đã chia sẻ cách nuôi dưỡng tình yêu dưới mọi hình thức khi cô đơn là một “đại dịch”, chính trị gây chia rẽ và việc chuyển sang kỹ thuật thường dễ dàng hơn trong các tương tác xã hội ngoài đời thực.

    Bạn Cần Nhiều Hơn Là Chỉ “Tình Yêu ấy” của Cuộc Đời Mình

    Tình yêu lãng mạn – mối quan hệ sâu sắc, thân mật với một người hoặc nhiều người khác – là một phần giá trị của cuộc sống. Nhưng các chuyên gia cho biết chúng ta nên nhớ rằng chúng ta cần có nhiều nguồn kết nối.

    “Đặc biệt là khi chúng ta già đi, chúng ta nhận ra rằng không có mối quan hệ nào có thể cung cấp cho chúng ta mọi thứ”, bà Mikaela Frissell, một nhân viên xã hội của UT Health Austin nói.

    Tình yêu cũng không phải là thứ có thể dễ dàng được xác định bằng một định nghĩa hoặc hành vi duy nhất.

    Theo nhà dịch tễ học Tyler VanderWeele, người chỉ đạo Chương trình Phát triển Con người của Đại học Harvard,nói. Là một động từ, tình yêu có hai tác dụng. Nó có thể là cả hai hoặc “hợp nhất” – nghĩa là bạn mong muốn và muốn ở bên người hoặc vật mà bạn yêu – hoặc “góp phần”, nghĩa là bạn muốn đóng góp thêm vào điều tốt đẹp của người mình yêu.

    Các chuyên gia cũng cho biết một định nghĩa và quan điểm mở rộng về tình yêu mở ra khả năng bạn có thể hướng những cảm xúc “thống nhất” và “góp phần” này đến ai và đến điều gì.

    Mối Liên Hệ Giữa Tình Yêu, Sự Cô Đơn và Sức Khỏe

    Vào năm 2023, nguyên Tổng Y sĩ Hoa Kỳ Vivek Murthy đã tuyên bố sự cô đơn là một đại dịch sức khỏe cộng đồng.

    Phúc trình của ông Murthy cho biết một nửa người Mỹ đã từng trải qua sự cô đơn và nó gây ra những rủi ro sức khỏe chết người như hút 15 điếu thuốc mỗi ngày. Nghiên cứu cũng phát giác ra rằng những người có mối quan hệ xã hội kém có nguy cơ đột quỵ và bệnh tim cao hơn, và sự cô lập làm tăng nguy cơ mắc chứng trầm cảm, lo âu và chứng mất trí nhớ của một người.

    Bà Frissell nói, các mối quan hệ xã hội, sự gắn kết và hỗ trợ mạnh mẽ của tình yêu có liên quan đến sức khỏe tốt hơn, vì nó cho phép não bộ báo hiệu với cơ thể rằng bạn an toàn và đưa hệ thần kinh của bạn ra khỏi trạng thái “chiến đấu hoặc bỏ chạy”. Nghiên cứu cho thấy việc ở bên những người thân yêu có thể làm giảm huyết áp, hormone gây căng thẳng, giảm viêm – thậm chí giúp bạn ngủ ngon hơn và kiểm soát cơn đau tốt hơn.

    Nghiên cứu về sự Phát triển của Người lớn của Harvard đang diễn ra, là nền tảng của cuốn sách “The Good Life”, đã chỉ ra giá trị của các mối quan hệ trong suốt cuộc đời.

    Ông Anthony Chambers, một nhà tâm lý học và là Giám đốc học thuật tại Viện Gia đình thuộc Đại học Northwestern, cho biết một trong những phát giác của nghiên cứu Harvard là những người hạnh phúc nhất trong các mối quan hệ của họ ở tuổi 50 là những người khỏe mạnh nhất về mặt tinh thần và thể chất ở tuổi 80.

    “Kết luận là gì? Xây dựng các mối quan hệ có ý nghĩa và thỏa mãn là chìa khóa cho sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta”, ông Chambers, người đã làm việc về nghiên cứu này vào giai đoạn đầu sự nghiệp của mình, nói.

    Làm Thế Nào Tôi Có Thể Nuôi Dưỡng Tình Yêu?

    Các chuyên gia cho biết, nói một cách đơn giản, hãy cố ý tìm kiếm các mối quan hệ trực tiếp.

    Điều không đơn giản là lên kế hoạch cho mọi thứ với người khác. Có thể bạn sẽ thấy không thoải mái khi phải lướt qua lịch để tìm một cuộc hẹn ăn tối với một người bạn bận rộn hoặc gọi điện thoại cho anh chị em của mình, những người không có nhiều điều để nói. Có lẽ sẽ rất ngại khi bắt chuyện với người hàng xóm lớn tuổi mà bạn chưa từng gặp hoặc tham gia một đội bóng.

    Bà Frissell cho biết hãy thừa nhận và thẩm vấn những nỗi sợ hãi hoặc giả định khiến bạn không thể tiếp cận trong những khoảnh khắc đó.

    Cũng có thể làm những điều tốt đẹp cho người khác – ngay cả khi bạn không biết rõ về họ. Bà Frissell thách thức khách hàng khen ngợi ai đó mỗi ngày và sẵn sàng chấp nhận lời khen đáp lại. Bà cho biết lợi ích của việc nhận và trao tình yêu là như nhau.

    Ông VanderWeele khuyên bạn nên thực hiện một bài tập mà ông thực hành: Chọn một ngày trong tuần, trong sáu tuần, để thực hiện năm hành động tử tế. Ông cho biết, điều này buộc bạn phải lên kế hoạch và ưu tiên lòng tốt một cách có chủ đích, giống như bất kỳ nhiệm vụ hàng ngày nào khác.

    Tình Yêu Có Thể Xây Dựng Khả Năng Phục Hồi

    Vào Ngày lễ Tình nhân năm nay, các chuyên gia khuyến khích bạn suy nghĩ vượt ra ngoài các mối quan hệ một-một và suy ngẫm về cộng đồng và thế giới của bạn. Họ nói thêm rằng việc cam kết với một mục đích hoặc nhóm sẽ xây dựng khả năng phục hồi về mặt tinh thần.

    “Tất cả chúng ta đều muốn được hiểu và xác nhận, đặc biệt là trong những thời điểm khó khăn. Và các mối quan hệ được cho là bối cảnh quan trọng nhất để chữa lành cảm xúc”, ông Chambers nói. “Khi thế giới xung quanh chúng ta có vẻ hỗn loạn hoặc chúng ta cảm thấy cô đơn, các mối quan hệ mang đến cho chúng ta cơ hội để cảm thấy được xác nhận”.

    Ông VanderWeele cũng cho biết điều quan trọng là phải “yêu kẻ thù” – những người mà chúng ta không đồng tình hoặc phản đối chúng ta.

    Ông nói: “Mức độ chúng ta yêu thương người khác, yêu thương hàng xóm của mình sẽ định hình nên xã hội mà chúng ta đang sống”.

    Món Quà Valentine Cuối Cùng

    Trời tháng Hai vẫn mang cái lạnh khe khẽ, như một lời nhắc nhở về những ngày Lễ Tình Nhân đã qua. Ngồi bên cửa sổ, nhìn những cặp đôi dắt nhau trên đường, tôi không thể ngăn được cảm giác nhớ thương người đã xa.

    Ngày 14/2/1985, đúng 40 năm trước, tôi có ca trực làm AOD (Administrative Officer of the Day) từ 4 giờ chiều đến 8 giờ sáng hôm sau tại bệnh viện quân đội Hoa Kỳ, Moncrief Army Medical Activity (MAMA), Fort Jackson, SC. Khi ấy, tôi đã gia nhập ngành Y của Lục quân Hoa Kỳ được 5 năm và mang cấp bậc Đại úy. MAMA cũng là nhiệm sở đầu tiên của tôi sau khi hoàn thành khóa huấn luyện quân sự và khóa Thực tập Dinh dưỡng gần hai năm.

    Hôm đó, tôi tranh thủ hoàn thành công việc sớm hơn thường lệ và xin phép về nhà lúc 2:00 chiều để có thể trở lại bệnh viện nhận ca trực AOD lúc 4:00 chiều. Nhà tôi nằm trong khu cư xá sĩ quan, cách bệnh viện chỉ một dặm, nên tôi nhanh chóng về nhà chăm sóc mẹ chồng đang bị cảm (mẹ chồng tôi bị bệnh tiểu đường, áp huyết cao, bệnh tim và bệnh thận), giúp bà uống thuốc và tiêm insulin. Sau đó, tôi nấu sẵn bữa cơm chiều cho bố mẹ chồng và chồng con, rồi vội vã trở lại bệnh viện nhận ca trực trước khi chồng và con tôi đi làm và đi học về.

    Đêm hôm đó, tôi rất bận rộn với trách nhiệm AOD. Ngoài những công việc thường trực, tôi còn lo thủ tục hành chính cho một binh sĩ tự tử bằng thuốc độc cần cấp cứu và hai bệnh nhân qua đời. Mãi đến gần 11 giờ đêm, tôi mới có cơ hội trở về phòng trực để nghỉ ngơi, người mệt nhoài và bụng đói meo vì từ trưa đến giờ chưa được ăn gì. Khi mở cửa phòng, tôi sững sờ ngạc nhiên khi thấy chồng tôi đã ngồi đó từ bao giờ. Bên cạnh anh là một lọ hoa với 12 đóa hồng nhung đỏ thắm, một hộp kẹo chocolate và bữa cơm chiều tôi đã nấu sẵn ở nhà. Anh đứng dậy, dịu dàng ôm tôi vào lòng, nhẹ nhàng hôn tôi và nói: “Happy Valentine vợ yêu của anh, chắc em mệt lắm. Anh đã mang hoa và cơm tối đến cho em đây. Anh đã đợi em từ lúc 7:00 tối để mình cùng ăn cơm với nhau…”

    Tôi ngồi ăn cơm với chàng mà nước mắt cứ ứa ra vì lòng cảm động nghẹn ngào và hạnh phúc. Chúng tôi đã lấy nhau được 16 năm, có với nhau ba con 11, 13 và 15 tuổi, đã định cư ở Mỹ được 10 năm sau ngày miền Nam Việt Nam bị mất vào tay Cộng sản. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhận được hoa hồng trong ngày Lễ Tình Nhân từ chàng. Tôi biết không phải vì anh không yêu tôi – trái lại anh thương yêu tôi tha thiết – mà vì phong tục Việt Nam không có ngày lễ này, anh luôn cho rằng lòng yêu thương chân thành từ trái tim mới là điều đáng quý. Tôi cũng đã quen tính anh, không vì điều này mà buồn giận, cũng không mong nhận hoa hồng vào ngày Valentine.

    Nhưng tôi nào ngờ đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh tặng hoa hồng cho tôi vào ngày Lễ Tình Nhân. Chỉ vài tháng sau đó, định mệnh cướp anh ra khỏi đời tôi vào ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ 4/7/1985, khi anh cố gắng cứu bốn đứa bé (trong đó có con gái út của tôi) bị sóng ngầm cuốn xa trong lần picnic cùng bạn bè bên bờ biển Folly Beach, Charleston, SC.

    Sau khi chàng mất đi, trong ngày Lễ Tình Nhân năm sau, tôi đã mua 12 đóa hồng nhung đặt trên bàn thờ và mộ chàng. Đêm ấy, lần đầu tiên chàng hiện về trong giấc mơ…

    CHIÊM BAO

    Trong giấc mơ anh trở về mờ ảo
    Dáng anh gầy tóc rối mắt hư hao
    Anh nhìn em không nói một lời nào
    Và cứ thế anh dần dần tan biến…

    Trong khói sương dáng anh mờ ẩn hiện
    Em nghẹn ngào níu kéo bóng hình anh
    Một tí thôi tí nữa đừng đi nhanh
    Xin anh đó xin anh đừng đi vội….

    Anh mờ dần tia mắt anh bối rối

    Lẫn ngậm ngùi chua xót và yêu thương

    Anh đi rồi em ôm lấy mùi hương

    Đừng tan mất xin hương đừng tan mất…

    phamphanlang

    Valentine’s Day & Những Tình Khúc


    Pic Valentine.jpg

    Ngày Lễ Tình Yêu – Valentine’s Day đã có từ lâu và trở thành ngày truyền thống được tổ chức khắp nơi trên thế giới vào ngày 14/2 hàng năm. Vào dịp nầy thường tặng cho nhau hoa hồng và chocolate. Hoa hồng biểu tượng cho tình yêu… Phương Tây, chocolate món quà tặng truyền thống cho ngày Valentine kể từ năm 1902. Chocolate được sử dụng rộng rãi trong các lễ đính hôn, tiệc cưới. Những hộp quà trang trí đẹp mắt, bên trong là viên socola nhiều hình dáng xinh xắn mang hình ảnh tấm chân tình của người gửi đến với người nhận. Năm nay vào Thứ Sáu, 14/2/2025, Little Saigon vào ngày mưa “Ðưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa. Ðưa em về dưới mưa, có nhau mà như xa…” (Phạm Duy). Hình ảnh thật lãng mạn, dễ thương nhưng sao lại trớt quớt!

    Với những ca khúc tiêu biểu được các danh ca (-) trình diễn nổi tiếng khắp nơi và rất quen thuộc:

    My Funny Valentine – Frank Sinatra

    My Heart Will Go On – Celine Dion

    I Will Always Love You – Whitney Houston

    Unchained Melody – Righteous Brothers

    Nothing’s Gonna Change My Love For You – George Benson

    And I Love Her – The Beatles

    Still Loving You – Scopricon

    Tonight I Celebrate My Love For You – Roberta Flack & Peabo Bryson

    I Just Called To Say I Love You – Stevie Wonder

    Can’t Take My Eyes Off You – Frankie Valli

    My Love – Westlife (thường hát trong đám cưới)

    Everything I Do (I Do It For You) – Bryan Adams

    My Love – Westlife (thường hát trong đám cưới)

    Nothing Gonna Change My Love For You – Glenn Medeiros

    Love Me Like You Do – Ellie Goulding

    All of Me – John Legend (album Love In The Future)

    Ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 có nhiều ca khúc trữ tình, lãng mạn trong tình yêu.

    Vương Trùng Dương  

    Một Chuyện Tình Thời Chinh Chiến

  • Phạm Hồng Thái,  Văn Thơ,  Video

    Trang Đặc Biệt Mừng Giáng Sinh 2024

    Ý NGHĨA CỦA LỄ GIÁNG SINH

    Lễ Giáng Sinh là ngày Christmas khá trọng đại. Trọng đại vì đây là ngày đã được mọi quốc gia, mọi tôn giáo coi như ngày vui chung của nhân loại, chứ không riêng gì đối với tín đồ Thiên Chúa Giáo. Do đó, có người đã nói, Christmas là một cơ hội hãn hữu để nhắc nhở mọi người  có bổn phận đối với những người mà ta không quen biết cũng như đôi khi không ưa thích.Và đồng thời mọi người cũng hân hoan hát các điệu nhạc Giáng sinh như “We wish you a Merry Christmas”, như “Silent Night”, Đêm Thánh Vô Cùng mừng Chúa Hài Đồng ra đời.

                …Ôi Chúa thiên đàng, cam nếm cơ hàn
                Nhấp chén phiền vương phong trần
                Than ôi Chúa thương người đến quên mình
                Bơ vơ chốn quên nhà lúc sinh thành
                Ai đang sống trong lạc thú
                Nhớ rằng Chúa đang đền bù…

                Theo lời ghi lại thì khi Chúa Jesus cất tiếng khóc chào đời trong một cái máng cỏ ở hang Bethlelem có ba vị Vua phương Đông mang ba món quà đến để bày tỏ sự thành kính của họ. Trong khi đó, những người chăn cừu nghèo khó cũng lòng thành tặng Chúa Jesus hoa quả và những món đồ chơi do chính họ làm ra…

                Lễ Giáng Sinh Christmas là lễ kỷ niệm  ngày sinh của Chúa Jesus. Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Christ là tước vị của Đức Giêsu, chữ Mas là Thánh lễ. Thượng Đế đã gửi con yêu quý của mình xuống thế để chuộc tội và mang lại tình thương, hòa bình, hạnh phúc cho nhân loại. Tuy là lễ riêng của tín đồ Cơ Đốc Giáo, nhưng hầu như mọi người đều trân trọng, chung vui. Với tất cả, Lễ Giáng Sinh là thời gian tuy ngắn ngủi nhưng tràn ngập thương yêu với những gói quà dưới cây Noel, sao sáng lung linh nơi cửa sổ, những cánh thiệp chúc tụng gửi đó đây, những bữa ăn đoàn tụ thân bằng quyến thuộc với tiếng cười nói hân hoan hạnh phúc, với tuyết trắng phủ kín sân nhà, đường phố…

    Cho nên, tinh thần của Lễ Giáng Sinh là chia sẻ, bao dung, thương yêu và giảm thiểu giận hờn.

    Tiểu thuyết gia Oren Arnold gợi ý về quà tặng Giáng Sinh như sau: “Với kẻ thù, cho sự Tha thứ; với đối thủ cho sự Chịu đựng; với bạn bè cho Trái Tim; với khách hàng cho Phục Vụ Chu Đáo; với các cháu bé Làm Gương Sáng để cháu noi theo và với chính mình, cho niềm Tự Trọng”.

    Trong thông điệp gửi cho nhân dân Hoa Kỳ, vị Tổng Thống thứ 30 của quốc gia này là Calvin Coolidge (1872-1933), nhắn nhủ: “Christmas không phải là một thời gian hoặc một mùa nhưng là một tâm trạng. Để chào mừng hòa bình và thiện ý, để có đầy đủ tình yêu thương”.

    Tiểu thuyết  gia nước Anh là Charles Dickens ((1812–1870) cũng đồng ý với “ Tôi luôn nghĩ Christmas như là thời gian vui thú ; một thời gian thân tình, tha thứ, độ lượng, thoải mái; thời gian mà nam cũng như nữ dường như tự do rộng mở trái tim, do đó tôi xin Thượng Đế chúc lành cho Christmas”.

    Tác giả Wilda English viết :”Thượng Đế ban cho ta ánh sáng của Christmas, đó là niềm tin;  ấm áp của Chrismas, đó là tình yêu; rực rỡ của Christmas, đó là sự trong sáng;  chính trực của Christmas, đó là công lý; lòng tin tưởng ở Christmas, đó là sự thật; mọi ý nghĩa của Christmas, đó là Chúa Giê Su”.

    Kế cận những bên nhau hạnh phúc, Giáng Sinh còn quá nhiều người không mua, không nhận được quà tặng, không lo được bữa ăn ngon, những em bé bán diêm chết cóng trong đêm băng giá, những đứa con bị cha mẹ bỏ rơi, những người bệnh không được thuốc thang chăm sóc…

    Nhưng có Mother Teresa, người được Chúa Jesus kêu gọi để phục vụ những kẻ bất hạnh từ Giáng Sinh năm 1948. Bà từng nói “Mỗi năm tôi khởi  sự việc làm vào ngày Christmas”.

    Vì, theo bà, “Là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta để Thượng Đế thương yêu người khác qua ta…và  là Lễ Giáng Sinh  mỗi khi ta mỉm cười với anh em của ta và cứu giúp họ”.

    Đó là thánh ý Thiên Chúa.

    Mà trong Lễ Giáng sinh, thường thường người ta cũng hay cầu nguyện

    Cầu nguyện không phải chỉ là sự thờ phượng mà còn là một nguồn sinh lực dồi dào, mạnh mẽ mà con người có thể tạo ra. Ảnh hưởng của sự cầu nguyện lên tinh thần và thể chất có thể chứng minh được.  Ảnh hưởng đó được đo lường bằng sự phục hồi thể xác, đưa tới một trí tuệ sáng suốt, một lương tri ổn định và sự thấu hiểu những mặt khàc nhau trong sự giao thiệp giữa mọi người.

    Nếu ta thành thật tạo ra một thói quen cầu nguyện, cuộc sống của ta sẽ thay đổi rõ ràng. Lời cầu nguyện sẽ để lại trong hành động và thái độ của ta những dấu ấn khó xóa nhòa. Một tác phong bình thản, một nét mặt ung dung tự tại ở những ai đã có một nội tâm phong phú. Trong chiều xâu của lương tri là ngọn lửa của nhân ái. Và con người tự nhìn thấy mình. Họ nhìn ra tính ích kỷ, thái độ kiêu hãnh, tâm trạng  sợ hãi, lòng tham lam, những sai lầm ngớ ngẩn của mình. Họ sẽ triển khai một nghĩa vụ đạo đức, một trí tuệ khiêm cung lâu dài.

    Câu nói, “Hãy cầu xin và sẽ được đáp ứng” đã được chứng minh bằng kinh nghiệm của nhân loại.Thực ra, cầu nguyện không thể mang lại sự sống cho em bé đã chút hơi thở cuối cùng hoặc chấm dứt được cơn đau thể chất. Nhưng cầu nguyện, như hạt radium, là nguồn sinh lực tự tạo sáng chói không bao giờ hết. Khi cầu nguyện, ta đã kết nối bản thân với nguồn sức mạnh bất tận đang quay cuồng trong vũ trụ. Ta xin một phần năng lượng đó cho nhu cầu thiếu hụt của ta để tăng cường bổi bổ. Nhưng đừng cầu nguyện Thượng Đế để thỏa mãn lòng ham muốn nhất thời.

    Ta có thể cầu nguyện bất cứ ở đâu, một mình hoặc với người khác. Hãy nghĩ tới Thượng Đế nhiều hơn là hơi thở khiến cho cầu nguyện trở thành một thói quen.Và đừng cầu nguyện vào buổi sáng rồi suốt ngày sống như một con người man rợ độc ác.

                Hơn bao giờ hết, cầu nguyện bây giờ là một gắn bó cần thiết trong nếp sống của con người. Thiếu quan tâm tới ý nghĩa của tôn giáo đã đưa thế giới tới ngưỡng cửa của sự diệt vong. Nguồn sức mạnh xâu sắc, toàn hảo nhất của chúng ta đã bị lãng quên một cách thảm bại. Cầu nguyện phải được tích cực áp dụng trong nếp sống của chúng ta. Vì nếu sức mạnh của sự cầu nguyện được áp dụng trong đời sống thường nhật thì còn nhiều hy vọng rằng những lời cầu nguyện cho một thế giới tốt đẹp hơn sẽ được đáp ứng.

                Để kết luận, xin mượn lời của nhà văn danh tiếng nước Anh Charles Dickens như sau, khi ông nói tới Christmas: “I will honor Christmas in my heart, and try to keep it all the year”, Tôi sẽ tôn vinh Christmas trong trái tim của tôi và trân trọng Christmas suốt năm”.

     Bác sĩ Nguyễn Ý Đức 

    MÙA GIÁNG SINH AN LÀNH, ẤM ÁP ĐẾN NHÂN GIAN

    Lễ Tạ Ơn đã qua, mùa Giáng Sinh lại về. Nhiều nhà thờ được trang hoàng rực rỡ đón Giáng Sinh, nhà nhà chuẩn bị mua cây thông, có người lên rừng đốn cây thông đem về cho gia đình mình, cho bằng hữu của mình. Có một số gian hàng bán cây thông ngoài đường nhưng chúng tôi thích mua cây thông ở nhà thờ hơn vì mua cây thông ở nhà thờ ít nhất mình cũng giúp cho nhà thờ một chút gì đó. Ở Orange County, nhà thờ nào có linh mục Việt Nam, có giáo dân Việt Nam thì nhà thờ đó được trang hoàng rất đẹp, đèn rực rỡ khắp nơi ngoài nhà thờ, cây cỏ ở nhà thờ được chăm sóc một cách cẩn thận, nhất là tượng Đức Mẹ lộ thiên đầy hoa, hoa cúc, hoa lan, hoa vạn thọ, Đức Mẹ đứng giữa rừng hoa. Đức Mẹ đã đẹp, hoa làm cho Đức Mẹ đẹp hơn. Hằng ngày, nhiều  tín đồ đến cầu nguyện Đức Mẹ ban phép lành, người nào (không phân biệt tôn giáo) có tâm sự đều đến cầu xin Đức Mẹ ban cho mình sự bình yên, không phải chỉ có người lớn tuổi cầu xin điều gì đó mà ngay cả những người trẻ tuổi cũng cầu xin.

    Khi đồng hương đến những nơi linh thiêng cầu nguyện thì khuôn mặt rất thành khẩn, rất chân thành, chúng tôi đã gặp nhiều người già ngồi trên xe lăn, người tật nguyền chống gậy đến trước tượng Đức Mẹ cầu nguyện ở nhà thờ Saint Barbara, Santa Ana, nhà thờ Saint Polycap, nhà thờ Westminster, nhà thờ Anaheim, nhà thờ Saint of  Alexandria Temecula, v.v. Khuôn mặt  của những người có niềm tin tôn giáo lúc cầu nguyện rất hiền lành, thánh thiện, lúc đó hình như họ không ở trần gian, mà họ đến nơi nào đó, nơi đó là Thiên Đàng. 

    Chúng tôi còn nhớ năm đầu tiên tị nạn ở Hoa Kỳ dự thánh lễ Giáng Sinh đầu tiên ở một nhà có cổ kính ở thành phố Glendale, Los Angeles County. Tối hôm đó có vài người Việt Nam tham dự, vì ở trại tị nạn thì nóng, sang Hoa Kỳ đêm Giáng Sinh quá lạnh, áo lạnh không đủ ấm, chúng tôi vừa đứng trước tượng Đức Mẹ vừa run, nhà thờ tuy nhỏ mà số người tham dự thì đông, thấy người lạ đến nhà thờ, một bà Mỹ lớn tới nắm tay chúng tôi dẫn vào bên trong nhà thờ. Không khí đêm Giáng Sinh tưng bừng chưa bao giờ thấy, đương nhiên ở trong trại tị nạn làm sao có không khí vui tươi như thế này, ở trong trại tị nạn hồi hộp chờ từng ngày để được định cư.

    Gần tới mùa Giáng Sinh nhà nào cũng đẹp, văn phòng, cơ sở thương mại cũng trang hoàng đẹp hơn ngày thường, cây thông, thiệp Giáng Sinh với ông già Noel để trên cây thông, những chiếc vớ dài thật đẹp để trên lò sưởi. Lúc nhỏ, chúng tôi thường nghe nói nếu mình mơ ước điều gì thì ông già Noel sẽ cho mình, ông già Noel sẽ đi từ ống khói xuống lò sưởi. Ông bà, cha mẹ thường nói những đứa trẻ phải ngoan ngoãn thì ông già Noel mới cho quà, trẻ con thì hay tin lời của ông bà cha mẹ mình nói, dù không ngoan ngoãn nhưng tới ngày gần lễ Giáng Sinh cũng phải ngoan để được quà của ông già Noel. Trên đời này có đứa trẻ nào học giỏi mà không nghịch ngợm đâu chứ? Nghe nhạc Giáng Sinh, mặc áo mới, có quà, trẻ con nào mà không thích mùa Giáng Sinh chứ? Các nhà thờ đẹp, trang hoàng cây thông rực rỡ, bóng đèn đủ màu, cũng nhờ bàn tay của Giáo dân, sân ở nhà thờ không có một lá cây cũng nhờ bàn tay của Giáo dân, của linh mục quan tâm đến nhà thờ của mình.

    Trước lễ Giáng Sinh, tôi thường gọi thăm các linh mục mà chúng tôi quen. Linh mục Vũ Đảo, đã hưu trí, là học trò trường trung hoc Lý Thường Kiệt thập niên 50 lúc người Bắc mới vừa di cư vào Nam. Linh mục Vũ Đảo học rất giỏi, có khiếu văn nghệ, đóng kịch rất xuất sắc, sau này là nhà giáo, rồi là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau 30/4/1975, ngài ở tù 3 năm. Ra tù, ngài vượt biên qua Thái Lan, định cư ở Chicago, Hoa Kỳ. Ngài đi học ở nhà dòng, được thụ phong linh mục ở miền Đông vào tháng 4/1988.

    Cựu học sinh trung học Lý Thường Kiệt ở Quang Trung, quận Hóc Môn rất hãnh  diện về ngài, và không biết đất lành ở trường sao đó mà trường có nhiều dì phước, linh mục và có một giám mục cũng là học trò của Lý Thường Kiệt. Cựu học sinh Lý Thường Kiệt ở California tổ chức chào đón ngài trước khi ngài về Phi Luật Tân làm việc trong các trại tị nạn ở Phi Luật Tân.

    Đến Phi Luật Tân vào tháng 6/1988, linh mục Vũ Đảo giúp rất nhiều đồng hương tị nạn trong trại tị nạn. Phi Luật Tân gồm có 4000 đạo họp lại thành một quốc gia Phi Luật Tân, đạo Công Giáo và Tin Lành phát triển rất mạnh mẽ, các vị lãnh đạo tinh thần được tôn trọng, hằng năm linh mục Vũ Đảo về Hoa Kỳ một lần, ngài được bằng hữu đón tiếp một cách nồng nhiệt, chúng tôi thường gởi sách, báo, nhạc để ngài đem về Phi Luật Tân tặng cho đồng bào tị nạn, ngài cho biết trong trại tị nạn hằng năm vẫn tổ chức lễ Giáng Sinh một cách long trọng.

    Linh mục Vũ Đảo là linh mục bề trên của dòng Ngôi Lời mới thành lập ở Mỹ chừng 50 năm. Ngày xưa ở Việt Nam không có dòng Ngôi Lời, khi biến cố lớn xảy ra ở Lousiana, tượng thánh Louis bị những người nổi loạn cột dây vào đầu và định giựt sập thì linh mục Stephen Schumacher vừa chịu chức chưa được một năm của tổng giáo phận St. Louis, đứng dưới tượng Thánh Louis cùng một số Giáo dân bảo vệ tượng. Nếu họ kéo dây thì tượng Thánh Louis sẽ ngã, linh mục trẻ và một số giáo dân này sẽ chết ngay tức khắc, nhưng nhờ sự khôn khéo của linh mục trẻ này và nhờ Chúa ban phước, linh mục cố kéo dài thời giờ đối thoại để cho cảnh sát đến. Hơn 1 tỷ người trên thế giới theo dõi cảnh đối thoại từng giây từng phút, nhiều người hội hộp và muốn đau tim, người nào đau tim sẵn có thể chết bất cứ lúc nào, thế rồi Cảnh Sát đến giải tán đám biểu tình.

    Tôi gọi ngay linh mục Vũ Đảo, xin số điện thoại và email của vị linh mục trẻ đó, và cuối cùng tôi phỏng vấn được ngài, một linh mục trẻ gan dạ, không sợ chết đứng giữa bão táp phong ba, leo thang cứu tượng Thánh Louis thoát khỏi bị giựt sập.

    Tôi cám ơn linh mục Vũ Đảo, tôi cám ơn những vị lãnh đạo tinh thần đã giúp chúng tôi về mặt truyền thông. Nếu không có linh mục Vũ Đảo thì tôi làm sao có được số điện thoại của vị linh mục anh hùng kia một cách kịp thời.

    Làm phóng sự về sinh hoạt tôn giáo thì những nhà thờ là nơi nên tìm đến, những bài thánh ca đi vào hồn người, những đứa trẻ được bố mẹ bế vào nhà thờ trong những ngày lễ, nhất là đêm Giáng Sinh, đứa trẻ nào lớn lên cũng đam mê âm nhạc và có thể thành ca sĩ, vì âm nhạc đã vào máu rồi.

    Hãy cầu nguyện, cầu nguyện thật nhiều, đời sống sẽ bình yên hơn, lòng sẽ thanh thản. Người nào có niềm tin ở tôn giáo thì đời sống sẽ vui hơn, lạc quan hơn, và sống yêu đời hơn, dù gặp trở ngại trong đời sống cũng sẽ vượt qua một cách dễ dàng.

    KIỀU MỸ DUYÊN, Giáng Sinh 2024

    Một Mùa Giáng Sinh

                                                                            Đào ngọc Phong 

               Thời gian qua mau như giòng sông chảy xiết, nhưng không cuốn trôi mất kỷ niệm vui của tôi về Lễ Giáng Sinh năm 2021.

                Tôi ở trong nhà dưỡng lão được hơn hai năm rồi. Năm tôi sáu mươi chín, bất ngờ bị vấp té, đầu gối tôi yếu hẳn, từ đó đi đứng khó khăn; con trai tôi khuyên mẹ vào nhà dưỡng lão có dịch vụ hỗ trợ sinh hoạt. Căn nhà của mẹ sẽ cho thuê để có tiền trả cho nhà dưỡng lão, tọa lạc quanh vùng Little Sài Gòn, để tôi còn dễ liên lạc với cộng đồng người Việt.

                Chuyện kể thì đơn giản như thế, nhưng hai năm sống một mình trong căn phòng nhỏ của viện dưỡng lão, tôi mới cảm nghiệm nỗi trống vắng mà không một ngoại cảnh nào lấp cho đầy được. Các cô y tá, y công, các nhân viên hành chánh, nhà bếp, ai cũng nhã nhặn dễ thương. Phòng sinh hoạt có TV với đủ mọi chương trình hấp dẫn; hàng tháng có những đoàn thanh niên thiện nguyện đến trình diễn ca hát múa diễn rất hay, phòng sinh hoạt đầy tiếng cười vui. Tôi hòa mình vỗ tay, cười nói vui vẻ với những bạn lão niên đồng viện.

                Nhưng khi trở về phòng một mình, thì tôi lại chìm vào những khoảng trống trong đó tôi lơ lửng như không biết bám vào chỗ nào để đứng vững; có khi tôi cảm thấy bị hút vào một hang sâu, cứ bay đi tuồng như không có đáy cùng; hoặc có khi tôi rơi vào một giòng suối chảy xiết sắp đến bờ dốc trở thành một cái thác mà tôi không sao cưỡng lại được.

                Thường những tâm cảnh đó làm phát sinh những tình cảm sợ hãi, âu lo, hay ray rứt ăn năn một lầm lỡ nào trong quá khứ.

                Để xóa tan hay chạy trốn những tình cảm đó, tôi rời phòng ra công viên, ngồi trên ghế đá. Khung trời  mây vút trên cao, ôm những tàn cây rậm rì, xanh ngắt làm tâm tôi dịu dần, êm ả hơn.  Nhìn những con chim sâu xinh xinh chập chờn bay từ nụ hoa này sang nụ hoa kia, tôi nhớ khu vườn nhà của cha mẹ tôi  trong vùng ngoại ô yên tĩnh của Sài Gòn xưa. Tôi bình tĩnh nhìn rõ tâm mình, tự phân tích tại sao tôi hay bị những khoảng trống làm cho sợ hãi.

                Cha tôi là bác sĩ quân y cho một đơn vị quân đội, tử trận trong biến cố Mậu Thân 1968, năm tôi mười tám tuổi vừa tốt nghiệp trung học. Mẹ tôi vốn có sẵn một tiệm may quần áo tại nhà, nhưng sức khỏe bà yếu, nên tôi phải bỏ học làm thay bà. Chính nhờ chăm chỉ học nghề của mẹ, vừa theo sáng kiến riêng của tuổi trẻ mà cửa hàng may của mẹ phát đạt. Nhưng năm 1980 bà mất sau một cơn bệnh. Tôi đã ba mươi tuổi rồi, lập gia đình với một kỹ sư cơ khí, vốn cũng là bạn học xưa. Suốt năm năm, vợ chồng tôi chuẩn bị tàu bè máy móc đầy đủ, lại vừa sinh cháu trai đầu lòng, nên quyết định  ôm con ra đi với tàu riêng, chỉ cho vài gia đình thân nhất đi theo. Làm ăn cũng có đồng ra đồng vô, tại sao phải mạo hiểm như thế? Chồng tôi giỏi nghề máy, nhưng có biết gì về  nghề đi biển? Có lẽ tôi bị ám ảnh bởi những câu chuyện mà bố tôi kể lại.

                Bố kể ông nội, vốn xa xưa là lính của cụ Đề Thám, chỉ có vài sào ruộng, nhưng cũng bị đấu tố là địa chủ, chết trong tù. Trong kháng chiến những năm 50, bố bị liệt vào hàng trí thức tiểu tư sản, phải bỏ về thành rồi di cư vào Nam. Về phía chồng tôi, thì cha có cửa hàng máy móc gia dụng cũng bị kết án là tư sản bóc lột, nhà cửa gia sản bị tịch thâu. Chúng tôi đều thấy đời sống bấp bênh, nên quyết định ra đi.

                Nhưng khi đến đảo thì chồng tôi bị bạo bệnh chết. Tôi một mình ôm con sang Mỹ lập lại cuộc đời năm 1990.

                Ôn lại giòng đời đến đây, tôi bỗng thấy một tia sáng lóe lên trong trí. Có lẽ kho nước mắt dùng để khóc ba người thân đã cạn trong tôi rồi. Tâm hồn tôi hình như đã khô như đá tảng, tôi lạnh lùng xử trí với tha nhân, với việc đời.

                Đặt chân lên đất Mỹ, với tiền và tay nghề có sẵn, tôi bắt tay ngay vào việc mở cửa hàng quần áo, may mặc. Tôi làm việc ngày đêm, trước mặt tôi chỉ có tiền và công việc; tha nhân chỉ là công cụ của tôi. Khi cửa hàng mở rộng, tôi  mướn nhân viên làm việc cho tôi như làm việc với một vị tướng. Tôi độc đoán, chỉ ra lệnh cho nhân viên phải thực hiện, không có tranh cãi; tôi luôn luôn bảo vệ, bào chữa cho bản ngã tôi; tôi tự nghĩ mình không bao giờ sai lầm; có gì lầm lỗi, sai trái trong cửa hàng, tôi luôn đổ lỗi trước hết cho một nhân viên nào đó, hay cho một nguyên nhân bên ngoài. Nhân viên nào dám cãi lại lệnh tôi, tôi sa thải liền. Tôi luôn giữ nguyên tắc : một đồng tôi chi ra  thì phải đáng gíá một đồng. Hầu như  ít khi nào tôi khen ưu điểm của một nhân viên, luôn luôn thấy họ có một khuyết điểm gì đó làm hại đến danh tiếng của cửa hàng.

                Có một hôm, một anh nhân viên giỏi, lâu năm, đột ngột nói ngày mai anh ta sẽ đi làm hãng khác, anh ta đã chịu đựng tôi quá lâu. Trước khi giã từ, anh xin phép tôi nói lên vài cảm nghĩ : “Bà chủ là một phụ nữ giỏi, nhưng cầu toàn đến mức phi lý; bà luôn luôn muốn vạn sự như ý của bà. Có người muốn đưa sáng  kiến làm cửa hàng phát triển hơn, nhưng bà gạt phắt; chỉ một lỗi nhỏ mà bà la hét, tuồng như đó là cái cớ để bà tấn công một con người, hay là để trấn áp một mặc cảm gì nặng nề trong tâm bà. Bà tự ban cho mình duy nhất có quyền kết án người khác; chỉ vì bà sợ hãi nhìn lỗi lầm của mình. Bà suy nghĩ đi. Cám ơn bà đã giúp tôi học được một nghề, và cho tôi một bằng cấp tâm lý học thực tiễn không cần học đại học. Xin chào bà.”

                Tôi choáng-váng vì mất một người cộng tác giỏi giang, không kịp kiếm người thay thế. Sau vụ đó, tôi tự phản tỉnh; cách cư xử mềm mỏng hơn, bao dung hơn, tiền thưởng rộng rãi hơn. Nhưng cái tính độc đoán của tôi không chừa được.

                Giòng tâm tư của tôi bị cắt ngang vì một tiếng cười trẻ thơ vang lên từ cổng vào của viện. Hai vợ chồng trẻ đi ngang qua tôi cúi đầu chào, hỏi thăm bác vẫn mạnh khoẻ chứ ạ. Hai năm rồi chúng tôi quen nhau, vì cứ nửa tháng họ vào thăm mẹ đều gặp tôi. Tôi tươi cười cảm ơn hai vợ chồng, cháu trai giơ tay vẫy tôi, cười nhỏn nhẻn. Tôi thầm nghĩ bà cụ có phước, có con cháu thăm nuôi đều. Còn tôi cô quạnh, mặc dù cũng có con trai, có con dâu, có hai cháu nội, một trai một gái.

                Tôi lầm rồi; có lẽ anh nhân viên nói đúng; tôi có một mặc cảm nặng nề; cách xử lý việc đời như trong cửa hàng, tôi lại áp dụng vào con trai tôi. Tôi luôn tự bào chữa, con tôi phải theo lệnh tôi thì đời mới không hư hỏng. Tôi luôn nhắc nhở nó khi lớn lên con phải học ngành y, như ông nội của con, mẹ sẽ nuôi con cho đến khi ra bác sĩ, sau đó phải về Việt Nam tìm vợ.

                Hết trung học, quả là nó vâng lệnh tôi, ghi tên học lớp chuẩn bị cho ngành y ở một tiểu bang khác. Tôi vui lắm, gởi tiền bạc đầy đủ cho con khỏi lo.  Nhưng sau hai năm, tôi bỗng nhận được thư của nó gởi từ một căn cứ hải quân Hoa Kỳ, nói con thấy không thích hợp với nghề y sĩ; từ nhỏ con đã có mộng hải hồ đi khắp thế giới, hiện đang theo khóa huấn luyện cơ bản, kèm vài tấm hình chụp một thanh niên rắn rỏi, da sạm đen trong bộ quân phục.

                Cơn giận bùng lên bất ngờ, tôi xé nát lá thư và những tấm hình. Tôi viết ngay một thư nói con đừng về gặp mẹ nữa; mẹ không coi con là con của mẹ , mẹ cắt mọi thứ tiền bạc.

                Việc đó xảy ra khi tôi 55 tuổi, và con tôi 20 tuổi. Những năm sau đó, quả là nó không về, nhưng cứ vài tháng, tôi nhận được một bì thư, có lá thư thăm sức khỏe mẹ, cùng một xấp hình chụp ở những quốc gia khác nhau. Tôi hết giận con rồi, vì tôi nhớ con vô cùng, mỗi khi nghe người hàng xóm cười nói vui vẻ đón con cháu về những dịp lễ Việt hay lễ Mỹ. Tôi hối hận đã để cơn giận mù quáng khiến tôi viết lá thư từ con. Hối hận như vậy, nhưng tôi vẫn tự bào chữa cái lý của tôi, tự ái, không viết thư trả  lời con. Tôi cất những bì thư của con vào một ngăn tủ cẩn thận, thỉnh thoảng lấy hình con ra coi.

                Những đêm  nằm nhớ con, tôi dần dần thấy tại sao tôi cứ cột chặt vào mình cái tâm tự ái, cao ngạo, cố chấp, ngay đối với con ruột duy nhất của mình. Tôi đã mất cha, mất mẹ, mất chồng, sao nay lại ngu xuẩn đẩy con đi xa, lỡ ra sông nước hiểm nguy… Có phải tôi tự mình làm mình trở thành kẻ cô quả, số mệnh nào đâu, tự mình thôi. Tôi vùng dậy, viết ngay một bức thư dài, gởi cho con, nói mẹ xin lỗi con đã bỏ bổn phận làm mẹ; mẹ có lỗi với ông bà nội, với cha con.

                Một tuần sau, con tôi gọi điện thoại trực tiếp cho tôi, hai mẹ con cùng khóc. Nó nói sẽ sắp xếp về thăm mẹ. Tôi như hồi sinh từ một cơn bạo bệnh. Tôi viết thư thường xuyên cho con, tưởng như nó vẫn ở bên tôi. Nhưng những chuyến hải trình liên tiếp chưa cho nó dịp nào về nhà.

                Tám năm, 2013, đúng là con tôi xa mẹ tám năm rồi, nó đã 28 tuổi, hình như nó đã là một sĩ quan hải quân trong bộ phận truyền tin điện tử. Tôi nhận được một bì thư con tôi báo tin sắp thành hôn với một thiếu nữ Mỹ, con gái của một vị thuyền trưởng. Hình chụp hai đứa đẹp đôi quá, cô gái trông thật xinh đẹp. Tôi mừng rỡ gọi liền cho con, nói mẹ sung sướng được cô con dâu xinh xắn như thế. Tôi quên bẵng khi trước muốn bắt con tôi về Việt Nam tìm vợ. Đúng, nó có cuộc đời riêng của nó, tôi không thể can thiệp vào, theo ý muốn độc đoán của tôi.

                Hai đứa làm đám cưới  ở một quốc gia nào đó; rồi cứ năm này qua năm khác, gởi thư về kèm những hình ảnh hai đứa cháu nội của tôi lớn dần lên ở những hải cảng khác nhau; cho đến khi hai vợ chồng được thuyên chuyển về Mỹ, ổn định đời sống cho hai cháu đi học.

                Tôi chỉ nhìn thấy chúng qua hình ảnh, đúng, nỗi niềm cô quả của tôi là cái giá tôi phải trả cho cơn giận mù quáng của tôi. Đâu có phải như ai nói, nữ tuổi dần chịu cảnh cô quả?

                Thiếu gì quí bà tuổi dần mà con cháu quây quần đầm ấm ?

                Khi tôi vấp ngã trên bậc cầu thang vào năm 69 tuổi, con tôi mới bay về một mình lo cho tôi vào nhà dưỡng lão, lo cho thuê căn nhà. Rồi hơn hai năm nay, tôi vẫn cô đơn trong căn phòng nhỏ của viện dưỡng lão, chỉ sống với con cháu qua hình ảnh.

                                                          *****

                Khi tôi dự thi quốc tịch, tôi đã đổi tên Mỹ là Emma cho dễ dàng trong việc kinh doanh. Trong viện dưỡng lão có một cô y tá người Việt, thường đến chích thuốc cho tôi. Một lần gần Tết, cô mang biếu tôi một hộp bánh đủ thứ mứt kẹo, cô nói : “Bác Emma ơi, cháu thương bác quá, bác không có ai thăm, hai năm rồi “. Tôi cảm ơn cô, nhưng không nói đó là lỗi tại tôi; tôi rơm rớm nước mắt nói con cháu sống ở nước ngoài, khó về thăm mẹ, thăm bà.

                Mùa Giáng Sinh năm 2021. Ngày 23 tháng 12, trong khi các phòng khác tấp nập người thân đến thăm các cụ, thì phòng tôi yên ắng.  Khoảng buổi trưa, cô y tá đến thầm thì với tôi, bác sắp có tin vui rồi, ban giám đốc sẽ tổ chức một buổi lễ tặng quà Giáng Sinh cho những cụ neo đơn. Tôi cám ơn cô đã báo tin, nhưng tôi cảm thấy hững hờ, y như khi tham dự những chương trình văn nghệ của các cháu thiện nguyện mỗi chủ nhật. “Vui là vui gượng kẻo mà”.

                Quả nhiên, vào buổi chiều, bà giám đốc đến phòng tôi, xin phép ngồi ghế đối diện tôi, tươi cười nói : “Thưa bà Emma, ban giám đốc trân trọng mời bà trưa mai 24 đến phòng sinh hoạt dự buổi lễ tặng quà Giáng Sinh. Trong viện chúng ta, có năm cụ lâu không có thân nhân thăm viếng; nên năm nay chúng tôi tổ chức tặng quà, mong đem lại chút niềm vui cho các cụ; 12 giờ trưa mai, nhân viên sẽ đưa bà ra phòng, xin bà vui lòng trang phục đẹp nhá”. Tôi tỏ ra vui vẻ cám ơn nhã ý của ban giám đốc, hứa sẽ ăn mặc thật đẹp. Bà giám đốc cáo từ; bà luôn luôn lịch sự, nhã-nhặn.

                Tôi không cảm thấy nóng lòng chờ đợi buổi lễ, chỉ nghĩ đó là một nghi thức xã giao, hay …..là một cách quảng cáo kinh doanh.

                Phòng sinh hoạt hôm nay được trang trí rực rỡ, với cây Noel sáng choang đèn lấp lánh, những dây hoa xanh đỏ, một hình tượng ông già Noel to như người thật, nhạc Giáng Sinh vui phát ra từ bốn góc tạo nên một bầu không khí lạc quan yêu đời. Có năm chiếc ghế bành bọc vải hoa đủ màu dành cho năm cụ. Không hiểu sao, tôi được ngồi ghế giữa.

    Trên bàn dài đối diện, tôi thấy bày bốn gói quà lớn bọc giấy màu trông hấp dẫn.

    Vì quen với việc buôn bán, tôi tự hỏi, có năm cụ, mà sao chỉ có bốn gói quà. Nhưng ý nghĩ thoáng qua rồi biến đi không có câu trả lời, khi bà giám đốc trong trang phục lễ hội tiến vào cùng với hai cô nhân viên trẻ đẹp. Bà trang trọng chào mừng quí khách, nói lý do buổi lễ, giới thiệu tên tuổi từng cụ, trong những tràng pháo tay vui vẻ. Sau đó bà xin thay mặt ban giám đốc viện trao quà tặng cho từng khách mời.

                Lần lượt bốn cụ hai bên tôi nhận quà từ hai cô nhân viên; bốn gói quà trên bàn đã được trao. Còn lại mình tôi, bà giám đốc bỗng cao giọng nói : “Thưa bà Emma, hôm nay chúng tôi sẽ dành cho bà một món quà đặc biệt”.

                Mọi người ngơ ngác nhìn quanh xem món quà đặc biệt nằm đâu.

                Bỗng cửa phòng phía sau mở ra. Tôi giật thót mình, tưởng như trong mơ. Con trai tôi, Benjamin; vợ nó, Isabella cháu nội trai, Oliver cháu nội gái, Everly xuất hiện trong trang phục lễ hội sặc sỡ dần dần bước tới, cúi chào ban giám đốc, chào bốn cụ, rồi đến trước tôi.

                Tôi chết sững. không biết phản ứng thế nào; thì Isabella, Oliver, Everly chạy tới ôm lấy tôi, nói bằng tiếng Việt lơ lớ giọng Mỹ.

                Isabella  : “Con dâu Isabella chúc mừng mẹ Mùa Giáng sinh an lành vui vẻ”

                Oliver   : “ Cháu Oliver chúc mừng bà nội Mùa Giáng Sinh an lành vui vẻ”

                Everly  :  “ Cháu Everly chúc mừng bà nội Mùa Giáng Sinh an lành vui vẻ”

                Tôi không kềm được cảm xúc, khóc òa, ôm lấy ba mẹ con : “Mẹ, bà nội cám ơn các con, các cháu”.

                Cả phòng rộn lên tiếng vỗ tay, tiếng nhạc, tiếng hát Giáng Sinh; Benjamin nói lời cám ơn ban giám đốc đã đứng ra tổ chức một buổi đoàn tụ gia đình mùa Giáng Sinh thật là cảm động.

                Ban nhà bếp dọn đồ ăn lên. Gia đình tôi ngồi riêng một bàn. Tôi vẫn chưa hết bàng hoàng, xúc động, không cầm muỗng dĩa, mà chỉ nhìn các con các cháu, tràn ngập niềm hạnh phúc mà suốt đời tôi chưa từng cảm nghiệm. Benjamin nói, suốt cả tháng nó đã luyện cho ba mẹ con câu chúc tiếng Việt. Benjamin đã đưa sáng kiến tặng quà cho các cụ neo đơn, đã chi hết tiền bạc nhờ ban giám đốc tổ chức buổi lễ hôm nay.

                Benjamin xin phép ban giám đốc cho  bà Emma vắng mặt nửa tháng để cùng gia đình đi một chuyến cruise trên Thái Bình Dương.

                Giáng Sinh 2022 sắp đến; Benjamin báo sẽ về cùng vợ con, mời mẹ đi du lịch Âu Châu ba tuần. Tôi chỉ biết cám ơn các con, các cháu và cuộc đời đã cho tôi hạnh phúc những năm cuối đời.

              Đào Ngọc Phong