-
Trương Vĩnh Ký – Nhà Giáo Dục Yêu Nước Của Việt Nam
Trương Vĩnh Ký – Nhà Giáo Dục Yêu Nước Của Việt Nam.
Nguyễn Quang Duy
Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường.
Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.
Sau 30/4/1975, khi ngôi trường trung học Petrus Trương vĩnh Ký bị đổi tên và bức tượng bán thân giữa sân trường bị dời đi, học sinh chúng tôi thường tranh luận về “công và tội” của Petrus Ký khi mượn tay người Pháp giúp nền văn học nước nhà.
Chúng tôi thường kết thúc bằng ngạn ngữ được Pétrus Ký dùng nhiều lần khi viết thư “Sic vos non vobis”.
Hồi ấy chúng tôi hiểu câu ngạn ngữ trên là “Ở với họ mà không theo họ”, vừa tránh dẫn đến chuyện bị quy kết “phản động”, vừa tỏ bày tâm sự “Ở với cộng sản mà không theo cộng sản”.
Gần đây tôi mới biết câu ngạn ngữ tiếng La Tinh “Sic vos non vobis” có 2 nghĩa và dịch như trên là hoàn toàn sai ý Pétrus Ký.
Winston Phan Đào Nguyên phổ biến trên trang Nghiên Cứu Lịch Sử bài “Minh oan cho Pétrus Trương Vĩnh Ký về câu ‘ở với họ mà không theo họ’ ”, theo tác giả thì Pétrus Ký dùng một nghĩa khác của ngạn ngữ là “Làm điều lợi cho người khác chứ không cho chính mình.”
Tác giả đã trình bày rất rõ và rất thuyết phục triết lý sống của Pétrus Ký là mỗi người phải làm tròn vai trò hay số phần trong đời để làm cho xã hội của mình tốt đẹp hơn.
Cuộc đời của Pétrus Ký đã chứng minh triết lý sống này đặc biệt là sự cống hiến ông dành cho chữ Quốc ngữ và nền Quốc văn hiện tại.
Hoàn cảnh xã hội…
Pétrus Ký sinh ra cuối triều vua Minh Mạng, khi ấy nhà vua dầu muốn nhưng thất bại trong việc canh tân đất nước, triều thần chỉ toàn những nhà Nho biết làm thơ phú chứ không có ai có khả năng trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật.
Vua Minh Mạng lại thường hành xử thiếu công minh, nhất là đối với kẻ công thần, nhiều người giỏi đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh nẩy nở mỗi ngày một nhiều, quan tham mỗi ngày một tăng.
Các vua nhà Nguyễn còn ra lệnh bế môn tỏa cảng không giao thương với nước ngoài, cấm đạo Công giáo, dân tình đói khổ, loạn lạc khắp nơi, để cuối cùng đất nước lọt vào tay Pháp cả trăm năm.
Petrus Ký là người công giáo, Pétrus là tên Thánh, theo học trường dòng ở Mã Lai về nước đúng lúc thực dân Pháp đem quân sang xâm chiếm nước ta.
Pháp tấn công Đà Nẵng ngày 1/9/1858 không thành nên chuyển sang tấn công 3 tỉnh miền Đông Nam Phần. Ngày 18/2/1859 Pháp chiếm thành Gia định.
Việc cấm đạo Công giáo trở nên gay gắt hơn. Petrus Ký phải trốn lên Sài Gòn và được Giám mục Dominique Lefèbre giới thiệu làm thông ngôn cho Pháp, nên từ đó bị kết tội là tay sai cho giặc.
Pétrus Ký, nỗi oan thế kỷ …
Sau 30/4/1975, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn giữ độc quyền đánh giá “công và tội” của Petrus Ký.
Năm 1993, ông Nguyễn Văn Trấn, một đảng viên Cộng sản từ hồi 1930, được Ban Khoa học xã hội thành ủy Tp HCM cho phép phát hành quyển “Trương Vĩnh Ký, Con Người Và Sự Thật” nhưng sách đã bị tịch thu sau khi in mà không biết lý do.
Đầu tháng 1/2017, cuốn “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” do nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu soạn đã được Cục Xuất bản cho phép lưu hành, nhưng chỉ ít ngày trước khi phát hành thì một “lệnh miệng” được ban xuống yêu cầu hủy bỏ buổi ra mắt sách.
Ông Nguyễn Đình Đầu cho trang BBC tiếng Việt biết ông đã phát hiện một tư liệu nói về sự hợp tác của ông Trương Vĩnh Ký với người Pháp từ đầu đã không có suôn sẻ như người ta vẫn tưởng:
“Trong những lời đối đáp khi chính quyền Pháp yêu cầu Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn, có những văn thơ chứng tỏ là Trương Vĩnh Ký rất bất mãn trong chuyện người Pháp cư xử với người Việt Nam, cho nên ông không muốn hợp tác.“.
Bức thư giả ký tên Petrus Key…
Còn ở hải ngoại từ năm 1996, nhà nghiên cứu sử Vũ Ngự Chiêu cho phổ biến nhiều bài viết về một lá thư ông Chiêu cho là do chính Petrus Ký viết, bằng tiếng Pháp, với chữ ký là Petrus Key.
Trong lá thư Petrus Key cầu khẩn quân Pháp đến giải cứu cho những người An Nam theo đạo Thiên Chúa ở Nam Kỳ.
Mặc dù kết tội Petrus Ký nhưng ông Chiêu chưa bao giờ cho công bố lá thư gốc bằng tiếng Pháp nên không thuyết phục được nhiều người.
Nhưng nhiều nhà nghiên cứu sử trong nước lại dựa vào các bài viết không chứng cớ của ông Vũ Ngự Chiêu để tiếp tục kết tội Petrus Ký là tay sai cho Pháp.
Cũng trên trang Nghiên Cứu Lịch Sử, Winston Phan Đào Nguyên cho phổ biến một công trình nghiên cứu sử với tựa đề “Petrus Key và Petrus Ký – Chuyện một lá thư mạo danh Trương Vĩnh Ký vào thế kỷ 19”, gồm 3 bài viết.
Trong bài thứ nhất ông Nguyên cho biết đã tìm thấy lá thư ký tên Petrus Key, mà ông Vũ Ngự Chiêu bấy lâu nay giữ kín, tại Văn Khố Service Historique De La Defense ở Chateau Vincennes, Paris, Pháp.
Ông Nguyên so sánh văn phong, nội dung, hình thức, chữ viết, chữ ký… để kết luận rằng đây không phải là bức thư của Pétrus Trương Vĩnh Ký và đã có người mạo danh Petrus Ký viết lá thư này.
Trong bài thứ hai ông Nguyên cho biết kiếm thấy một lá do chính tay Petrus Trương Vĩnh Ký viết cho các bạn học ở Penang vào ngày 4/2/1859 bằng tiếng Latin khi Petrus Ký đã vào tới Sài Gòn lánh nạn cấm đạo.
Trong lá thư Petrus Ký đã kể về việc ông trốn quan quân nhà Nguyễn truy lùng và cho biết quan điểm về việc cấm đạo cũng như quan điểm về cuộc xâm lăng của liên quân Pháp và Tây Ban Nha.
Theo Petrus Ký, sự bắt đạo, tuy rất tàn ác, nhưng lại là một điều tất yếu phải xảy ra, cũng như một cơn mưa bão trước một sự yên bình, hay nói cách khác, là một thử thách của Chúa.
Nhưng ông hoàn toàn phản đối sự can thiệp bằng vũ lực của Pháp. Với ông, cách dùng vũ khí và bạo lực để can thiệp của quân Pháp là một giải pháp còn tệ hơn là bạo lực bắt đạo của vua quan nhà Nguyễn.
Trong bài thứ 3, Winston Phan Đào Nguyên chứng minh chính bà Pauline Jaricot người sáng lập ra Hội Truyền Bá Đức Tin đã mạo danh Pétrus Trương Vĩnh Ký để viết thư lá thư ký tên Petrus Key.
Công trình nghiên cứu của Winston Phan Đào Nguyên bổ sung cho một cách nhìn khác về việc truyền đạo Công giáo vào Việt Nam và cả việc thực dân Pháp xâm chiếm Đông Dương.
Công trình nghiên cứu còn cho thấy ngay từ ban đầu Trương vĩnh Ký đã không có ý định theo Pháp nhưng vì hoàn cảnh không thể tránh được.
Chữ Quốc ngữ giữ văn hóa nước nhà
Về việc giữ gìn tiếng Việt trong sách giáo khoa sử An Nam bằng tiếng Pháp xuất bản tại Sài Gòn năm 1875 (Cours d’histoire annamite à l’usage des écoles de la Basse-Cochinchine, Impr. du Gouvernement, Saigon, 1875) trang 13 Pétrus Trương Vĩnh Ký đã nhận xét (được dịch) như sau:
“Sĩ Nhiếp đã du nhập toàn bộ văn học Trung Hoa, cùng đạo lý Khổng Tử, ép buộc dân An Nam phải tiếp nhận làm văn hóa của mình, và cấm dân An Nam dùng thứ chữ viết phiên âm đặc biệt riêng của người An-nam.
Vì biện pháp nghiệt ngã ấy mà người An-nam đã hoàn toàn mất đi thứ chữ viết riêng của mình”.
Sĩ Nhiếp (137–226) là một người Việt gốc Hán được triều đình Trung Hoa phong Thái Thú cai trị Quận Giao Chỉ.
Sĩ Nhiếp được sử sách chính thống các triều đại Việt Nam đánh giá rất cao vì đã dạy cho dân ta chữ Hán, văn hóa, phong tục và văn minh Trung Hoa.
Vừa là sử gia vừa là nhà ngôn ngữ học Trương Vĩnh Ký đã đánh giá Sỹ Nhiếp là người hủy diệt chữ viết cổ của người Việt, đồng thời áp đặt cách cai trị và văn hóa của người Hán giết chết văn hóa cổ của người Việt Nam.
Điều này cho thấy ông hiểu rất rõ khi phải mượn tay người Pháp phổ biến chữ Quốc ngữ để cạnh tranh và loại bỏ ảnh hưởng tiếng Hán và cả tiếng Pháp, để giữ gìn văn hóa, phong tục và ngôn ngữ Việt Nam.
Pétrus Ký tổ báo chí Việt ngữ.
Năm 1864, Pétrus Ký được cử là Hiệu trưởng trường Thông ngôn (Collège des Interprètes) và theo lời đề nghị của ông người Pháp cho lập tờ Gia Định báo bằng tiếng Việt.
Để phân biệt với tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Nôm, Pétrus Ký gọi cách viết tiếng Việt theo kiểu La Tinh là chữ Quốc ngữ còn văn học thì được gọi là Quốc văn.
Gia Định báo phát hành số đầu tiên ngày 15/4/1865 tại Sài Gòn dưới hình thức một tờ Công Báo do ông Ernest Potteaux làm chánh tổng tài (chủ nhiệm hay tổng biên tập) và ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.
Ngày 16/9/1869, thống đốc Nam Kỳ G. Ohier ký quyết định số 189 giao tờ Gia Định Báo cho ông Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài và ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.
Gia định báo gồm các văn kiện và quyết định của nhà cầm quyền bằng tiếng Pháp do Nha nội vụ cung cấp và được ông Trương Vĩnh Ký dịch ra chữ Quốc ngữ. Và những bài viết tiếng Việt về thời sự, về lịch sử, về luân lý dân gian giúp truyền bá chữ Quốc ngữ.
Trên Gia Định báo và nhiều tài liệu khác ông lấy bút hiệu là Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký. Trong số 11 ra ngày 8/4/1870 ông kêu gọi cộng tác viên như sau:
“Lời cùng các thầy thông ngôn, ký lục, giáo tập… đặng hay: Nay việc làm Gia Định Báo tại Sài Gòn ở một chỗ nên không có lẽ mà biết các việc mới lạ các nơi trong sáu tỉnh mà làm cho thiên hạ coi; nên xin các thầy cứ mỗi tuần hay là nửa tháng hãy viết những chuyện mình biết tại chỗ, tại xứ mình ở như: ăn trộm, ăn cướp, bệnh hoạn, tai nạn, rủi ro, hùm tha, sấu bắt, cháy chợ, cháy nhà, mùa màng thể nào, tại sở nghề nào thạnh hơn…“.
Cũng như đoạn văn trên, đa số các bài viết tiếng Việt trên Gia Định báo đều bằng văn xuôi, ngắn gọn, đơn giản, dễ đọc, dễ hiểu, viết theo cách nói của người miền Nam, viết một cách đàng hoàng theo lễ giáo Việt Nam.
Ông giữ vai trò chánh tổng tài đến năm 1872 thì giao lại cho ông Ernest Potteaux không rõ vì lý do gì.
Như vậy, Trương Vĩnh Ký chính là chủ nhiệm báo Việt ngữ đầu tiên và theo cách ông hướng dẫn làm báo thì ai cũng có thể làm báo, không khác gì cách làm báo mạng ngày nay.
Năm 1888, Trương Vĩnh Ký cho xuất bản tạp chí Thông Loại Khóa Trình, như vậy ông cũng là chủ báo tư nhân đầu tiên tại Việt Nam.
Thông Loại Khóa Trình là một tạp chí văn học sưu tập nhiều văn thơ, câu đối, câu hò, câu hát dân gian, nhằm cổ vũ phong tục cổ truyền, phổ biến văn hóa dân tộc có cả thơ văn chống Pháp và lịch sử Việt Nam.
Thông Loại Khóa Trình cho thấy tinh thần yêu nước của Petrus ký với nhiều bài viết về các nhân vật lịch sử có tài chống ngoại xâm của Việt Nam, như Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt, Mạc Đĩnh Chi, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản…
Thông Loại Khóa Trình còn phổ biến những bài thơ chống Pháp của Bùi Hữu Nghĩa, những bài vè như vè Khâm sai và cả hịch chống Pháp của Nguyễn Tri Phương.
Cộng tác với Thông Loại Khóa Trình có các ông Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Trần Chánh Chiếu, Lương Khắc Ninh, và nhiều người yêu nước khác.
Những người đọc báo biết chữ quốc ngữ khi ấy đều là công chức Pháp hay học sinh trường Pháp nên nhà cầm quyền Pháp tìm cách tẩy chay, báo không bán được.
Thiếu vốn, Thông Loại Khóa Trình chỉ ra được 18 số đến tháng 10/1889 thì đóng cửa. Trong số báo này Trương Vĩnh Ký cho biết: “Nay vì bởi không có vốn cho đủ in luôn Thông Loại Khóa Trình nữa nên ta cực chẳng đã, phải đình in”.
Petrus Trương vĩnh Ký ông Tổ báo chí Việt Nam qua đời 1/9/1889 trong nghèo khó và nợ nần.
Tạo nền tảng Quốc văn và giáo dục…
Ngay từ năm 1866 Trương Vĩnh Ký đã cho in ấn phẩm văn xuôi đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ là cuốn Chuyện Đời Xưa.
Từ đó ông không ngừng viết và để lại một di sản văn học với ít nhất 119 tác phẩm cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp.
Các tác phẩm đều là những công trình soạn thảo một cách cẩn thận và khoa học nhưng dễ hiểu, dễ quảng bá, bao trùm mọi thể loại từ ngôn ngữ, tự điển, sách giáo khoa lịch sử, địa lý, pháp luật, dân tộc học, kinh tế, chính trị, sinh học và văn học.
Kho tàng văn học này là căn bản định hình cho một nền Quốc văn với chủ trương gìn giữ đạo lý văn hóa dân tộc nhưng học hỏi văn minh Tây Phương để cải cách đất nước, mở mang dân trí giúp nước nhà độc lập và giàu mạnh.
Để truyền bá chữ Quốc ngữ và tư tưởng canh tân, Trương Vĩnh Ký còn chọn việc dạy tiếng Việt và đào tạo hằng ngàn thanh niên theo tân học tạo nền tảng cho Phong trào Duy Tân và Đông Du sau này.
Ảnh hưởng triết lý và tư tưởng của Trương Vĩnh Ký đến nền văn hóa và giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là lấy nhân bản, dân tộc và khai phóng làm căn bản.
Nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn…
Trong chuyến đi sứ sang Pháp cùng Phan Thanh Giản năm 1863, Petrus Ký gặp và làm quen với nhà bác học Paul Bert.
Ông Paul Bert là giáo sư khoa học đại học Bordeaux và Paris, ông tham gia cách Mạng Pháp năm 1870 và trở thành Tổng trưởng Giáo dục và Nghị sĩ Quốc hội Pháp.
Tháng 2/1886, ông được bổ nhiệm Thống sứ triều đình Huế. Ông chủ trương tiến bộ và muốn thực hiện cải cách nên đã đích thân thăm và mời Trương vĩnh Ký ra Huế giúp vua Đồng Khánh.
Nhà vua phong Petrus Ký chức Hàn lâm viện thị giảng học sĩ và dạy cho vua Đồng Khánh tiếng Pháp.
Năm 1887, Petrus Ký có dâng vua Đồng Khánh 24 điều để đối phó với Pháp. Trong đó ông có đề cập việc cải cách giáo dục, bỏ dạy chữ Hán, dạy chữ Quốc ngữ và học hỏi văn minh Tây phương.
Đến cuối thời vua Thành Thái các đề nghị của Petrus Ký mới được nhà vua ban sắc lệnh cho thi hành.
Chính sắc lệnh này đã dẫn tới phong trào Duy Tân, dùng chữ quốc ngữ để thoát Hán được trình bày khá rõ trong bài viết trước “Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn”.
Nhà giáo dục Trương Vĩnh Ký với triết lý sống chẳng vì mình nên không cần chúng ta phải “minh oan”.
Ngược lại chúng ta cần tìm ra sự thật, cần hiểu biết sự thật và cần phổ biến sự thật để qua đó chúng ta có thể ghi nhận ân đức cũng như học hỏi từ Trương Vĩnh Ký và những bậc tiền bối những người đã có công đóng góp cho nền văn học nước nhà.
Đồng thời chúng ta cần tiếp tục giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, văn hóa và phong tục để truyền lại cho con cháu chúng ta.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
6/12/2018
Winston Phan Đào Nguyên, 2017, Minh oan cho Pétrus Trương Vĩnh Ký về câu ‘ở với họ mà không theo họ’, Nghiên Cứu Lịch Sử.
Winston Phan Đào Nguyên, 2018, “Petrus Key và Petrus Ký – Chuyện một lá thư mạo danh Trương Vĩnh Ký vào thế kỷ 19”, gồm 3 bài viết trên Nghiên Cứu Lịch Sử.
Nguyễn Quang Duy, 2018, Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn, BBC tiếng Việt.
(https://www.bbc.com/vietnamese/forum-45407297)
Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các Vua nhà Nguyễn.
Nguyễn Quang Duy
Tìm hiểu lịch sử là công việc vô cùng thiết yếu vì có hiểu người xưa, có hiểu được lịch sử mới hiểu được vận mệnh nước nhà mà khôi phục lại.
Trên Diễn đàn BBC nhà báo Nguyễn Giang đưa ra một cách nhìn khá mới lạ để ghi công và đánh giá những nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ.
“Các vị truyền giáo có công tạo ra bộ mẫu chữ, nhưng việc này không có gì quá độc đáo hay quá khó khăn và giả sử nếu không có họ thì việc đó cũng có thể làm được sau này.“
Ý kiến cũng nói rằng Trung Hoa, Thái Lan, Ấn Độ, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều quốc gia khác đều đã có những văn tự bằng tiếng La Tinh nhưng chưa bao giờ trở thành chữ Quốc ngữ của họ.
Cũng theo nhà báo Nguyễn Giang, Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ xóa hàng rào cản tâm lý quá lạc hậu để giới sỹ phu yên tâm dùng chữ Quốc ngữ.
Và rằng chính nỗ lực tiên phong quảng bá Quốc ngữ là của trí thức miền Nam và nhờ chính sách tiến bộ, khoa học của chính quyền Pháp tại Đông Dương tạo đà cho chữ Quốc ngữ lan tỏa.
Nhưng tôi nghĩ cũng lạ tại sao ba nước Việt, Miên và Lào có chung hoàn cảnh, đều là thuộc địa của Pháp mà Miên và Lào lại không sử dụng La Tinh làm chữ Quốc ngữ.
Ở đây cần xem công lao các vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, dù họ không thực sự nắm quyền thời Pháp thuộc.
Sắc lệnh của Vua Thành Thái
Theo sử gia Liam Kelley (2016) vào đầu thế kỷ XX cả người Pháp lẫn những nhà cách mạng đều không đủ quyền lực để chữ Quốc Ngữ có thể lan sâu rộng xuống đến tận cấp độ làng quê.
Qua nghiên cứu những nguồn tài liệu trong giai đoạn này, sử gia Liam kết luận chính nhà Nguyễn mới đi đầu trong công cuộc cải cách giáo dục.
Trong bài “Emperor Thành Thái’s Educational Revolution”, sử gia Liam Kelley (2016) đã công bố sắc lệnh của vua Thành Thái được lưu trữ trong sách Đại Nam Hội Điển Sử Lệ Tục Biên.
Bài viết được Nguyễn Hồng Phúc lược dịch có đoạn như sau:
“Hoàng đế Thành Thái đã tuyên bố trong một sắc lệnh rằng vào năm trị vì thứ 18 của ông (năm 1906), cha mẹ có thể quyết định việc cho con theo học một trường ấu học Hán văn hoặc một chương trình giảng dạy Nam âm (Quốc ngữ).
Với những người học theo chương trình Hán văn, sẽ có một cuốn sách giáo khoa được soạn ra nhằm giới thiệu những từ chữ Hán theo cấp độ khó dần. Nó cũng bao gồm một danh mục các Hán tự kèm theo phiên âm và định nghĩa bằng quốc ngữ được dùng trong tài liệu.
…Trong khi, một cuốn sách giáo khoa bằng quốc ngữ khác sẽ được soạn ra để dạy những người theo chương trình học ‘Nam âm’ nhằm giới thiệu cho họ những thông tin cơ bản về xứ Đông Dương, thiết chế cai trị của nó, những phong tục tập quán…
Thêm vào đó, cũng có thêm một cuốn sách nữa được dịch từ Hán văn sang Nam âm nhằm cung cấp những loại thông tin mà học viên đang luyện thi khoa cử cần biết. Bản dịch này được soạn ra cho những người không muốn thi khoa cử, nhưng nó vẫn được đưa vào chương trình để cho họ biết thêm về những gì mà những người đang luyện thi khoa cử phải học…”
Sắc lệnh này vô cùng quan trọng vì khi nhà vua ra lệnh sử dụng chữ Quốc ngữ là nhà vua đã công khai ý định muốn thấy tầng lớp quan lại và sỹ phu phải thoát khỏi ảnh hưởng Trung Hoa trong giáo dục, văn hóa, và nhất là tư tưởng.
Vừa thoát Trung vừa chống Pháp
Xin nhắc lại về cuộc đời vị vua trẻ tuổi.
Vua Thành Thái lên ngôi năm 1889, đến năm 1907 bị Pháp ép thoái vị. Ngài bị quản thúc ở Vũng Tàu rồi đến năm 1916 bị đày sang đảo Réunion.
Vua là người cầu tiến, học tiếng Pháp, có hiểu biết khá toàn diện, cắt tóc ngắn, mặc âu phục, phong cách của người theo tân học.
Nhà Vua thường xuyên tiếp xúc với sỹ phu và dân chúng, đồng thời trọng dụng nhiều nhân tài, thanh liêm, đức độ với hy vọng khôi phục và canh tân đất nước.
Sắc lệnh cho dạy quốc ngữ chính là văn bản ủng hộ Phong Trào Duy Tân (1906) và Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) thúc đẩy việc theo tân học và dùng chữ quốc ngữ.
Cắt tóc ngắn trở thành một dấu hiệu của người theo tân học.
Nhiều thanh niên lúc ấy sắm cho mình một cái kéo, đi tuyên truyền, vận động cắt tóc và vận động canh tân.
Đến khi Vua bị người Pháp ép thoái vị năm 1907 hình ảnh một vị vua yêu nước, chống Pháp, cắt tóc ngắn nhanh chóng lan tỏa xuống đến tầng lớp nông dân.
Tháng 3 năm 1908, bắt đầu từ tỉnh Quảng Nam, nông dân đầu cắt tóc ngắn lũ lượt kéo đến các phủ huyện đòi giảm sưu giảm thuế.
Tất cả đều hớt tóc ngắn đi thành đoàn, phong trào mở rộng vào Nam đến Bình Định, Phú Yên và ra Bắc đến Nghệ An, Hà Tĩnh.
Pháp và triều Nguyễn gọi cuộc biến động này là Giặc cắt tóc, ở Bình Định gọi là Giặc đồng bào, sau nầy được đổi lại là cuộc Dân biến Trung kỳ.
Đây là cuộc đấu tranh bất bạo động đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và đoàn biểu tình lấy biểu tượng là Vua Thành Thái một vị vua yêu nước, theo tân học và chống Pháp.
Như vậy ngay từ đầu thế kỷ thứ 20, người Việt đã công khai thực hành phương pháp đấu tranh bất bạo động với biểu tượng vua Thành Thái, có tổ chức, có chiến thuật, có mục tiêu và có chiến lược một cách rất rõ ràng.
Cuộc đấu tranh bất bạo động bị Pháp đàn áp dã man. Nhiều người tổ chức và tham dự bị bắt, phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục bị dập tắt.
Các vị Vua tiếp tục cải cách
Năm 1907 vua Duy Tân tiếp nối việc cải cách giáo dục bằng cách cho thành lập Bộ Học nhằm cai quản việc học hành và thi cử.
Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục là một nhà giáo dục cổ vũ thực học, thực tài, bỏ đi kiểu học từ chương, xa rời thực tế và chủ trương phát triển nền giáo dục “không học vì bằng cấp” mà phải học lấy thực tài để ra giúp dân, giúp nước.
Đáng tiếc ông lại hết sức bài bác chữ Quốc ngữ, nhưng không phải vì thế mà chữ Quốc ngữ bị đưa ra khỏi nền giáo dục.
Theo Trần Gia Phụng từ năm 1909, chương trình thi Hương bắt buộc thí sinh phải làm các đề thi luận văn bằng cả chữ Hán lẫn chữ Quốc ngữ.
Ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ (tức ngày 28/12/1918) vua Khải Định ra đạo dụ chính thức bãi bỏ khoa cử kiểu Hán học.
Năm 1919 là năm cuối mở khoa thi Hương ở Huế, từ đó chữ Quốc ngữ thành chữ viết chính thức của người Việt Nam.
Vai trò của các ông giáo trường làng
Bên cạnh các trường công do triều đình và người Pháp lập ra là một hệ thống trường tư do các thầy đồ sau chuyển thành thầy giáo làng giảng dạy.
Mỗi làng có khi lên đến vài ba trường, hoặc dạy ở nhà thầy, hoặc ở nhà người giàu có nuôi thầy cho con ăn học và cho con các nhà lân cận trong làng theo học.
Thầy đồ đa số là những người có học, có người đỗ tú tài, có người là quan hồi hưu mở lớp dạy học.
Thầy đồ hoàn toàn tự do không chịu sự giám sát của triều đình.
Mặc dầu được tự do mở lớp giảng dạy giới thầy đồ vẫn giữ lòng trung với các vua nhà Nguyễn và với sách Thánh hiền.
Các thầy đồ quyết liệt chống lại các chính sách giáo dục của nhà cầm quyền Pháp với quan niệm chữ Quốc ngữ là sản phẩm của ngoại bang và là công cụ của các nhà truyền giáo.
Với họ, chữ Hán giáo dục về luân lí, về lịch sử, là chữ Thánh hiền còn Quốc ngữ chỉ để đọc báo, đọc Kinh Thánh, những sản phẩm của quân xâm lược, biết đọc chẳng ích lợi gì.
Nhưng khi sắc lệnh cho dạy Quốc ngữ của vua Thành Thái được ban ra thì chính các thầy đồ đã thay đổi đã tự học chữ Quốc ngữ để truyền dạy lại cho học sinh.
Ba lớp Đồng ấu học trước khi học sinh vào tiểu học đều do các thầy giáo trường làng dạy hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ.
Nhờ thế chữ Quốc ngữ trở thành phổ thông đại chúng.
Những bộ sách giáo khoa như Sử ký địa dư giáo khoa thư, Luân lý giáo khoa thư, Quốc văn giáo khoa thư, được học giả Trần Trọng Kim và các cộng sự biên soạn để dạy lớp ấu học trường làng.
Bộ sách giáo khoa ‘Việt Nam Sử lược’ được học giả Trần Trọng Kim soạn để dạy các lớp cao hơn và đã hoàn toàn chỉ cho những người đã biết Quốc ngữ.
Lên lớp nhì và lớp nhất ở trường chính phủ, mỗi tuần chỉ dạy chữ Quốc ngữ một giờ rưỡi và bậc trung học chỉ dạy ba giờ.
Thời gian còn lại học sinh được dạy bằng tiếng Pháp và hầu hết do người Pháp dạy.
Từ đó ta thấy được căn bản tiếng Việt, sử địa, luân lý, văn hóa về Việt Nam của học sinh hầu như đều thu nhận được từ các thầy giáo trường làng.
Vua Bảo Đại là người Tây Học
Tốt nghiệp trường Khoa học Chính trị Paris về nước, vua Bảo Đại bắt tay ngay vào việc cải cách đất nước, mong từng bước khôi phục lại chủ quyền quốc gia.
Ngày 10/12 năm 1932, vua Bảo Đại cho công bố đạo dụ nước ta theo chế độ Quân chủ Lập hiến, nhà vua sẽ trực tiếp điều khiển nội các và cho cải cách hành chính, giáo dục và tư pháp.
Một nội các mới đã được thành lập gồm những người trẻ theo tân học như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Đệ…
Bộ Học được đổi tên thành Bộ Giáo dục và giao cho Phạm Quỳnh từng là chủ nhiệm báo Nam Phong một người luôn tha thiết với chữ Quốc ngữ điều hành.
Các cuộc cải cách của vua Bảo Đại đều bị người Pháp cản trở, riêng cải cách về giáo dục nhờ Phạm Quỳnh được người Pháp tin nên ít bị cản trở.
Chữ Quốc ngữ được tăng giờ dạy ở các trường công.
Nhờ thế sau khi Nhật đảo chánh Pháp, trao trả độc lập cho Việt Nam, chỉ trong vòng 5 tháng chính phủ Trần Trọng Kim đã thực hiện thành công cuộc cải cách lấy chữ Quốc ngữ làm ngôn ngữ chính trong giáo dục.
Bộ trưởng Giáo dục Hoàng Xuân Hãn có công lao lớn khi soạn cả sách toán và kỹ thuật bằng tiếng Việt Quốc ngữ để dạy ngay trong niên học 1945-46 tại miền Bắc và miền Trung.
Từ 1948 đến 1955, chính phủ Quốc gia Việt Nam tiếp tục lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy đến hết bậc trung học.
Bắt đầu từ chuyển biến tư tưởng thời Thành Thái
Học tiếng Pháp, theo tân học thoát khỏi tư tưởng Trung Hoa nên vua Thành Thái đã hiểu rõ những khái niệm về tự do, dân chủ, quốc gia, dân tộc, quân chủ, cộng hòa… hiểu từ sách Pháp không phải từ sách Trung Hoa.
Thay đổi quan trọng nhất của nhà vua là về mặt tư tưởng, về ý thức đất nước không còn của nhà vua nữa mà là của quốc gia của dân tộc.
Quốc gia là một thực thể độc lập có chủ quyền thoát khỏi tư tưởng thuộc địa hay chư hầu Trung Hoa.
Khái niệm ‘quốc gia’ bắt đầu được sử dụng đối nghịch với ‘thuộc địa’, ‘chư hầu’.
Mặc dù không có quyền lực trong tay các vua triều Nguyễn đã thực hiện thành công cải cách từ giáo dục, văn hóa, đến chính trị đưa đất nước thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa.
Bài học các vua triều Nguyễn đã thực hiện là nếu muốn cải cách giáo dục phải bắt đầu bằng thay đổi tư tưởng cho chính mình.
Vì thế, theo tôi, nhu cầu thiết yếu của đất nước ngày nay không phải là cải cách tủn mủn về phát âm, ký tự Quốc ngữ mà phải vừa thoát khỏi ý thức hệ cộng sản, vừa thoát Trung để khôi phục các nền tảng cơ bản cho Việt Nam.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
4/9/2018
Tài Liệu Tham Khảo
Liam Kelley (2016), Cải Cách Giáo Dục Của Vua Thành Thái, Nguyễn Hồng Phúc lược dịch.
Nguyễn Giang, Những người giúp chữ Quốc ngữ ‘làm nên’, BBC World Service
Trần Gia Phụng, Lịch sử chữ Quốc Ngữ.
-
NGUOI-VIET phỏng vấn Nhà văn Ngọc Cường

Click here to see video: https://www.nguoi-viet.com/tv-phong-van/ra-mat-cuon-sach-thu-ba-cua-tac-gia-ngoc-cuong-co-tua-bang-khuang-1/
Click here to see video: https://www.nguoi-viet.com/tv-video-duoc-xem-nhieu-nhat/ra-mat-cuon-sach-thu-ba-cua-tac-gia-ngoc-cuong-co-tua-bang-khuang-2/ -
‘Bâng Khuâng’ – Cuốn sách thứ ba của tác giả Ngọc Cường, sắp ra mắt
Nguồn: NGUOI-VIET.COM

WESTMINSTER, California (NV) – Nếu như ai đã từng biết đến nhà văn Ngọc Cường hẳn sẽ quan tâm tới tác phẩm thứ ba sắp ra mắt của ông. Sau khi xuất bản hai tác phẩm đầu tay là “Bèo Giạt” (năm 2014) và “Hệ Lụy” (năm 2016) được nhiều bạn bè thân hữu, các tạp chí, nguyệt san đón nhận, ông tiếp tục cho ra đời cuốn sách thứ ba, có tựa là “Bâng Khuâng” cũng do Nhà Xuất Bản Người Việt ấn bản và phát hành.
[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”]
Tác giả Ngọc Cường tên thật là Nguyễn Tường Cường, sinh năm 1947 tại Hà Nội nhưng theo gia đình di cư vào Nam năm 1951. Ông từng tình nguyện nhập ngũ trường Võ Bị Thủ Đức, sau đó phục vụ trong các đơn vị Quân Ðội VNCH. Cũng như bao chiến sĩ VNCH khác, sau năm 1975 ông bị Cộng Sản bắt đi tù, ông đã lần lượt bị giam trong 6 trại tù khác nhau tại phía Bắc Việt Nam. Năm 1981 ông vượt biên và định cư ở Ohio.
Nhà văn Ngọc Cường cho biết: “Sau khi viết một số truyện ngắn, tôi nhận thấy rằng cuộc sống này, ai cũng có những lúc vui, có lúc buồn. Nếu dùng một từ để tóm gọn lại cuộc sống này thì có lẽ từ ‘bâng khuâng’ là thích hợp hơn cả. Và một số mẩu chuyện trong cuốn sách này, có các nhân vật cũng mang một tâm trạng ưu tư, buồn vui lẫn lộn. Cho nên tôi đặt tên cuốn sách là ‘Bâng Khuâng.’”
Nói về sự khác biệt giữa cuốn sách mới ra và hai cuốn trước đây, tác giả cho biết: “Cuốn ‘Bèo Giạt’ là những mẩu chuyện về cuộc đời những người mà tôi đã gặp, có gây cho tôi những suy tư, xúc động. Thân phận họ trôi dạt như cánh bèo, tưởng là bản thân có thể quyết định được cuộc sống của mình, nhưng rồi họ cũng bị dòng đời xô đẩy, buộc phải trôi theo. Còn cuốn ‘Hệ Lụy’ lại là những mẩu chuyện nói về những mối ràng buộc giữa người này với người kia. Họ chi phối, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, khiến cuộc đời họ gắn kết liên quan tới nhau như là một ‘hệ lụy.’”
“Còn cuốn ‘Bâng Khuâng’ tôi bắt đầu viết sâu hơn về tâm lý nhân vật và chú ý đến những vấn đề tiêu biểu của đời sống, ví dụ như tương quan giữa các anh em đồng hao, tình yêu đơn giản của vợ chồng, vấn đề phản bội (ở trong tù cũng như ngoài xã hội), vai trò của người lính cũ trong môi trường mới khi qua ở nước Mỹ,” ông nói tiếp.Cuốn sách “Bâng Khuâng” dày gần 200 trang, gồm 9 mẩu chuyện ngắn về các đề tài như tác giả nêu trên. Đáng chú ý là phần mở đầu, có tiêu đề “Đôi giòng về nghệ thuật” là phần mạn đàm khá sâu sắc của ông về: tác giả, tác phẩm và độc giả. Ông cho rằng, chỉ khi độc giả đón nhận một cuốn sách, thì cuốn sách đó mới đáng được gọi là một “tác phẩm” và khi đó, người viết cuốn sách đó mới đáng được gọi là tác giả. Ông viết: “Như vậy chính tác phẩm đã tạo nên tác giả, chứ không phải người viết.” Tác giả Ngọc Cường cũng cho rằng: “Hãy để cho trí tưởng tượng riêng của những người thưởng ngoạn đưa họ vào thế giới của nghệ thuật, đừng xen vào chút lý luận giải thích.”
Tác giả đã lấy bức tranh nổi tiếng có tựa “Đêm đầy sao ở Saint Rémy” của họa sĩ Van Gogh làm trang bìa của cuốn sách “Bâng Khuâng.” Như để giải thích lý do về việc này, ông dành hẳn phần phụ lục để nêu lên hoàn cảnh của họa sĩ Van Gogh khi sáng tác bức tranh đó. Vào năm 1888, khi đang trải qua một cơn khủng hoảng thần kinh, Van Gogh đã tự ghi danh vào nhà thương điên tại một làng quê, để chữa bệnh tâm thần. Ông đã vẽ bức tranh này mà theo các chuyên gia, phần lớn là vẽ bằng trí tưởng tượng.
Nhà văn Ngọc Cường cho rằng, có lẽ tâm trạng Van Gogh vào thời điểm đó, cũng đang nhiều xúc cảm, bâng khuâng, buồn vui lẫn lộn đến mức hoài nghi về bản thân và cuộc đời mình. Chính Van Gogh nghĩ rằng bức tranh này là một “thất bại” trong sự nghiệp sáng tác của ông. Nhưng không ngờ, sau này giới thưởng thức tranh lại đánh giá đây là tác phẩm “có sức lôi cuốn mãnh liệt,” khiến tên tuổi Van Gogh trở nên danh giá. Như vậy là Van Gogh được nổi tiếng là nhờ vào khán giả thưởng thức tranh của ông, chứ chính ông lại hoài nghi, đánh giá thấp về tác phẩm của mình. Nội dung và hoàn cảnh ra đời của bức tranh này đã khiến nhà văn Ngọc Cường tìm thấy nét tương đồng với cuốn sách của ông, nên bức tranh đã được chọn là trang bìa.
Buổi giới thiệu sách sẽ diễn ra từ 1 giờ trưa đến 4 giờ chiều, Chủ Nhật, 9 Tháng Mười Hai, tại Hội Trường Việt Nam Tương Tế, số 7621 Westminster Blvd, Westminster, CA 92683.
Buổi ra mắt sách được tổ chức bởi Hội Nhân Văn Nghệ Thuật, có sự góp mặt của nhà văn Trần Việt Hải, nhà văn Bùi Bích Hà, Giáo Sư Trần Mạnh Chi và nhiều bạn bè thân hữu. (Tâm An)
[/read]
-
Ông Khai Trí của “Sài Gòn, một thời vang bóng”

Ông Khai Trí đứng bên kệ sách nhà ông 
Ông Khai Trí ngồi bên giường đầy sách Cách đây 13 năm khi nghe tin ông chủ nhà sách Khai Trí Nguyễn Hùng Trương mất đi, giới yêu sách Sài Gòn ai cũng bùi ngùi thương mến. Ngày 4 tháng 11, 2018 vừa qua, người vợ đầu ấp tay gối của ông Khai Trí cũng đã mãn phần theo gót ông về cõi tịnh, cùng ông an giấc ngàn thu. Cụ bà Phùng Thị Bông hưởng thọ 89 tuổi, mất tại Little Sài Gòn vào cuối mùa thu.
Tôi đến viếng tang lễ của cụ bà và gặp gỡ những người thân của đại gia đình họ Nguyễn. Những tấm ảnh slide show chiếu trên màn hình nhà tang lễ đã ghi lại những kỷ niệm đẹp của gia đình và cụ ông, cụ bà như một nhắc nhở ân cần đến hình bóng của kẻ ra đi.
[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”]
Tôi được dịp trò chuyện với người con trai thứ của cụ là anh Nguyễn Hùng Tâm và tỏ lòng ngưỡng mộ cụ ông Khai Trí cùng đức độ của cụ khi còn sinh thời. Tiếng vang thơm ngát về lòng yêu thiếu nhi và mối tình gắn bó của cụ với sách vở đã khiến tôi quý trọng con người cụ dù tôi chưa gặp cụ bao giờ.
Dù đang có tang chế anh Hùng Tâm vẫn vui vẻ nghe tôi trò chuyện và hỏi han về những kỷ niệm đẹp còn lưu dấu của song thân anh, hai người đã khuất. Anh kể:
- Đối với cha tôi, những điều tôi trân trọng, lưu giữ trong trí, mến quí và yêu nhất là những giờ phút cuối của cụ. Trong 2 tấm hình chụp ông cụ trên giường, tôi thấy lúc nào quanh ông cũng tràn đầy sách vở. Hình ông cụ ngồi có một cái võng vắt ngang, sách vở cũng đầy giường tủ. Cụ luôn luôn miệt mài cùng sách vở kể cả những phút lâm chung.
- Đối với mẹ tôi, bà là người vợ lúc nào cũng tận tụy với chồng kể cả từ những ngày ban đầu mới thành lập nhà sách Khai Trí. Thuở hàn vi, dẫu không có người làm phụ giúp, bà vẫn hết lòng cùng chồng gánh vác những khó khăn, gian khổ buổi đầu. Những cuốn sách nào có giá trị cha tôi lúc nào cũng đưa cho bà đọc để có cùng một chí hướng với chồng và cùng tạo dựng sự nghiệp.
Anh Nguyễn Hùng Tâm nguyên là chủ nhân và hiệu trưởng của một trường đại học “TTL College” ở San Jose, CA. Anh tâm sự, sở dĩ anh mở trường đại học kỹ thuật này là do dòng máu văn hoá VN của cha anh để lại. Do đó anh muốn thành lập một trường chuyên môn dạy nghề hầu giúp cho người Việt hải ngoại có 1 cái nghề để sinh sống không những cho bản thân mà có thể giúp đỡ gia đình nữa. Ngoài ra anh còn muốn giúp cho những người Việt mới định cư và những người muốn thăng tiến nghề nghiệp có được một trình độ cao hơn. Các giáo sư trong trường đều là người VN.

Bài vị Bà Khai Trí 
Gs. Ts. Trần Huy Bích, ThụyVy (đại diện cho nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật) và anh Nguyễn Hùng Tâm (con ông Khai Trí) 
Toàn gia đình ông bà Khai Trí Khi chụp hình tang lễ, tôi nhận ra gia đình cụ Khai Trí là một đại gia đình như đa số các gia đình VN với nhiều người con. Tôì trộm nghĩ đây có lẽ là lý do cụ rất yêu thiếu nhi và bỏ nhiều tâm huyết vào việc mở mang trí tuệ cho các thế hệ măng non VN trước năm 1975. Để trả lời câu hỏi của tôi về tình yêu thiếu nhi, anh Hùng Tâm cho biết:
- Lúc đương thời, ông cụ luôn có chí hướng muốn tiến lên mãi và muốn làm cái gì đó cho thế hệ mai sau . Quan trọng nhất là thế hệ thiếu nhi nên cụ bỏ ra rất nhiều thì giờ vào thế hệ này. Cụ đã để 1 gian hàng sách thiếu nhi cho những đứa trẻ vào đọc mà không cần phải mua. Khi cụ thấy các em đứng đọc trông thật tội nghiệp, cụ cho lập 1 hàng ghế để các em ngồi đọc thoải mái từ sáng tới chiều. Những em nào không có tiền mua sách, có thể đến gặp cụ, cụ viết cho một tấm thiếp có tên cụ, giống như một tấm chi phiếu. Lúc nào cần sách cứ tới gặp nhân viên, họ sẽ đưa sách đem về nhà mà không cần phải trả tiền. Trên con đường tiến xa hơn nữa, nguyên thủy nhà sách Khai Trí có hai căn, cụ đã mua thêm hai căn sát bên với mục đích nối liền 4 căn với nhau để có diện tích rộng gấp hai nhà sách cũ. Với dự án xây lầu cao hơn, cụ dành một tầng cho sách tiếng Việt, 1 tầng cho sách ngoại quốc và 1 tầng cho sách thiếu nhi. Ước vọng của ông cụ không chỉ có thế, cụ còn có chương trình thành lập bộ sách “Encyclopedia” cho VN. Cụ thấy các quốc gia khác có, tại sao VN chưa có. Cụ đang chuẩn bị để thành lập với những người cộng tác và họ sẽ được cụ trả lương ngồi viết cho đến khi bộ sách hoàn tất. Tuy nhiên những ước mơ của cụ đã bị ngưng vào năm 1975.
Nghe anh H Tâm kể, tôi cảm thấy sững sờ và kính phục cụ Khai Trí với nhiệt tâm và công sức của chỉ một cá nhân mà vẫn muốn thực hiện những dự án lớn lao như Encyclopedia. Anh H Tâm kể tiếp:
- Sau năm 1975, cha tôi bị đi tù. Khi ở trại cải tạo về, ông lại có ý định trở lại với ngành sách vở. Ông đã bỏ ra thì giờ, tiền bạc, đi tìm mua lại những sách cũ đã bị thất lạc, bị tịch thu hay thất thoát ra ngoài đem về cất giữ. Lúc nhận được giấy bảo lãnh qua Mỹ, ông đã có trong tay trên 3000 cuốn sách thuộc nhiều loại khác nhau. Ông đã cố gắng chuyển số sách ấy ra hải ngoại với mục đích mang tiếng Việt ra hải ngoại cho người Việt. Ra đến hải ngoại ông đi thăm tất cả các tiệm sách ở đây và nhận ra 90% số sách ông mang qua đều đã được tái, xuất bản và đang bày bán. Ông vô cùng thất vọng, vì cảm thấy không còn làm gì được nữa đành phải trở về lại VN. Lần này, ông đi mua tất cả những cuốn sách được xuất bản ở hải ngoại sau 75 trong kỳ vọng đem về cho dân trong nước có cơ hội được đọc sách hải ngoại. Tuy nhiên khi về đến VN, ông bị chận lại và bị bắt bỏ tù lần nữa. Tất cả số sách ông mang về bị tịch thu và ông vào tù với tội danh “mang văn hoá đồi trụy vào trong nước”.
Vào những giờ phút bất lực cùng cực, ông vẫn chưa chịu thua, ông tiếp tục tự mình soạn ra những cuốn sách để lại cho hậu thế. Đó là cuốn “Thơ tình Việt Nam và thế giới”. Ông tập trung những lá thư tình của VN và thế giới, Bắc, Trung, Nam về để soạn thảo. Ông muốn nói lên một điều là thơ tình hay tình yêu không phân biệt quốc gia hay cộng sản. Ông đã yêu cầu được in và xuất bản tại Sài Gòn. Buổi ra mắt sách được tổ chức tại Thư Viện Quốc Gia VN tại Sài Gòn vào dịp kỷ niệm 300 năm thành lập Sài Gòn. Trong ngày ra mắt sách, ông đã yêu cầu không có chào cờ cộng sản và những người lên lãnh giải cho cuốn sách ấy là những người đã từng ngồi tù trong trại cải tạo. Mục đích ông muốn cho họ thấy, là họ làm việc có chính nghĩa và trong đất cộng sản họ vẫn được quyền lãnh quyển sách được trao giải đó. Đây là việc làm đáng giá và đáng ghi nhớ ở VN, tại 1 quốc gia cộng sản không có tự do mà ông cụ vẫn làm, mà làm được. Đằng sau cuốn sách có ghi tên ông, chủ nhà sách Khai Trí soạn và xuất bản.
Ngoài ra còn một việc làm thứ hai mà ông đã làm được ở VN là đi đòi tiền bản quyền cho 1 số tác giả viết trước 1975 mặc dù các tác giả đã xuất ngoại, nhưng ông vẫn đòi được. Ông đã gởi tiền đòi được qua cho tôi ở hải ngoại và tôi cầm tiền trao lại cho các tác giả ấy.
Câu chuyện anh H Tâm kể về cụ Khai Trí làm tôi vô cùng xúc động. Không biết tỏ nỗi cảm phục nào hơn, tôi chỉ biết thắp nén huơng lòng gởi đến cho cụ ông, cụ bà Khai Trí và cầu nguyện cho hai cụ mãi mãi thong dong ở cõi yên bình.

Ông Khai Trí trong Tòa soạn báo Thiếu nhi (trước 75) 
Phòng khách Khai Trí 
Ông Bà Khai Trí 1983 Trịnh Thanh Thủy thực hiện
[/read]
-
Tường trình buổi tổ chức giới thiệu hai đứa con tinh thần của Yên Sơn
Tuyển tập truyện ngắn “Mưa Nắng Bên Đời” và CD Nhạc “Góp Chút Hương Cho Đời”
Tại Quận Cam, California ngày 11 tháng 11 năm 2018.
Orange County, thủ phủ Sài Gòn Nhỏ, là Cộng Đồng người Việt đông hàng thứ hai ở hải ngoại, chỉ sau thành phố San Jose, Cali và trước Houston, Texas. Vì thế, cuối tuần nào cũng có những sinh hoạt cộng đồng rất nhộn nhịp, chưa kể tất cả các việc quan hôn tang tế của chúng ta đều phải đợi cuối tuần.
Riêng ngày 11/11/2018, từ 1g trưa, chung quanh tâm điểm Phước Lộc Thọ trên đường Bolsa cũng có rất nhiều sinh hoạt Cộng Đồng; nhưng đặc biệt lễ kỷ niệm 30 Năm ngày thành lập Little Saigon, và tổ chức họp mặt tất cả các trung tâm Việt Ngữ trong vùng đã thu hút rất nhiều quan khách, thi văn hữu, bạn hữu. BTC đã rất lo lắng cho buổi tổ chức giới thiệu hai tác phẩm mới của Yên Sơn từ mấy tuần trước. Dù vậy, nhờ sự giúp đỡ hết lòng của BTC và các nhóm bạn bè, nhất là Việt Hải, Trần Mạnh Chi và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật đã liên tục phát sóng trên các đài truyền hình địa phương và phương tiện FB cũng như internet.
Hôm nay là một ngày đẹp trời như thường lệ của vùng nắng ấm Cali. Trong lòng vui với cảnh vật chung quanh nhưng không khỏi hồi hộp. Buổi sáng gọi điện thoại cho chủ nhân hội trường để xin được nhận phòng sớm hơn dự định vì trong thiệp mời ghi giờ tiếp tân cùng lúc với giờ nhận phòng. Cũng may được Duy Nhật vui vẻ chấp thuận và hẹn tôi sẽ đến lúc 10g30.
Vừa đến nơi đã thấy bạn Trần Mạnh Chi cười tươi. Anh em đứng chờ không bao lâu thì vài người bạn học, bạn KQ và anh Quy cũng đã có mặt. Thêm một lúc nữa DN đến mở cửa là anh em rộn ràng lo việc “treo đèn kết hoa”. Hội trường là một tụ điểm nổi tiếng đối với bà con “hát cho nhau nghe” và “nhảy đầm dưỡng sinh” trong vùng. Hội trường tự nó đã rất khang trang, sang trọng với sàn nhảy rộng rãi, ghế bàn rất tươm tất, trang nhã xếp sẵn vài lớp chung quanh tường. Theo DN, đã có sẵn hơn 120 chỗ ngồi và cho chúng tôi toàn quyền xếp đặt theo ý muốn. Chúng tôi chỉ thay đổi một số bàn ghế gần podium và xin DN mở kho cho mượn thêm mấy chục chiếc ghế nữa để xếp thành mô hình lớp học trước bục trình diễn.
Sau hơn nửa tiếng thì mọi việc đâu vào đó, từ banner trên sân khấu, trước cửa đến đồ ăn, thức uống. Các phu nhân của bạn đồng khoá 4/69 KQ đã giúp cho một bữa ăn nhẹ nhưng rất thịnh soạn, thừa đủ cho 200 khách mời; chỉ tiếc 20 chai rượu vang không được vào cửa.
Dù Thiệp Mời để giờ tiếp tân là 11g, nhưng trên các phương tiện thông tin chúng tôi thông báo giờ tiếp tân và ăn nhẹ từ 12g đến 1g chiều. Thế mà lúc 11g đã có rất đông khách đến. Trong số nầy có nhiều bạn bè và thân hữu đến từ những nơi xa như San Jose, Fresno, San Diego… Và vì có nhiều người cần phải rời sớm để đi tới những tổ chức quan trọng khác như Thị trưởng Tạ Đức Trí, Nghị viên Tony Lâm, và một số nhân sĩ tên tuổi trong vùng trong đó có vài diễn giả của chương trình nên vừa lúc 12g30 chúng tôi buộc phải bắt đầu phần giới thiệu tác phẩm chính thức.
Lúc đông nhất thấy gần chật hội trường có sức chứa 180 chỗ ngồi. Nhưng liên tục có kẻ đến người đi. Có nhiều người đi luôn cũng có người đi rồi trở lại chung vui. Nói chung, không khí rất đầm ấm, thân tình. Ngoài số đông tôi có thể nhận ra, số còn lại là những khách mời rất đặc biệt của BTC cũng như do sự vận động của anh chị em, bạn hữu, văn thi hữu tại địa phương.
Thành phần tham dự gồm (xin lỗi không nhớ hết):
– Chính quyền sở tại: Thị trưởng Westminster Tạ Đức Trí và phu nhân, nghị viên Tony Lâm.
– Giáo sư: Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Nguyễn Song Thuận, Ngọc Loan, Phạm Thị Huệ, Cao Văn Hở, Phạm Trần Anh, Quyên Di, Lê Thị Đường, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Hữu Thời…
– Văn Thi Hữu địa phương: Lê Thị Việt Nam, Tha Nhân, Y Cao Nguyên, Nguyễn Ninh Thuận, Trúc Giang, Hoàng Vinh, Tony Phước, Võ Ý, Lê Văn Sáu, Triều Lam Hồ…
– Võ Thuật: Võ Sư Trần Như Đẩu, Võ Sư Tom Võ.
– Trường, Nhóm: LTTH Long Khánh, LTTH Quảng Ngãi, Học Bổng Nguyễn Thái Học, Văn Đàn Thời Đại, VH Nam Cali, CHS Gia Long, CLB Tình Nghệ Sĩ, Nhân Văn Nghệ Thuật, Tiếng Thời Gian…
– Cựu Quân Nhân: KQ Miền Trung Cali, Võ Bị, Thủ Đức, Khoá 4/69, quý niên trưởng KQ.
– Ca nghệ sĩ: Ngọc Quỳnh, Trần Thạch, LD Phú, Phạm Thuỵ, PKNhựt & Ái Liên, Bích Ty…
– Truyền thông: Du Miên, Nguyễn Văn Chuyên, Bích Ty, Thụỵ Vi, Ngô Vân Quy, Trần Mạnh Chi, Việt Hải.
– Diễn giả: Trần Huy Bích, Quyên Di, Nhóm Tiếng Thời Gian, Võ Kỳ Phong, Tạ Đức Trí.Chương trình rất hài hoà, sống động với hai MC Ngô Vân Quy và Mộng Thuỷ. Các diễn giả ngắn gọn, súc tích, đầy đủ cộng với Ban nhạc Duy Nhật và các ca sĩ đã trình bày những nhạc phẩm trong CD rất tuyệt vời, được quan khách tán thưởng bằng những tràng pháo tay không ngớt.
Chương trình chính chấm dứt khoảng 3g chiều; tiếp theo sau là phần văn nghệ tự do rất sôi nổi, giống như dạng “hát cho nhau nghe”, kéo dài tới 5g chiều cho dù hầu hết quan khách lần lượt ra về. Chương trình chấm dứt bằng những bản hợp ca hùng mạnh, vui nhộn với gần 20 ca sĩ lẫn ca lẻ, đứng chật cả podium rộng lớn. Cuối cùng, khách mời còn lại cùng với BTC khoảng 40 người đã chụp với nhau nhiều pô hình kỷ niệm. Sau đó một số anh chị em thân hữu gần 20 nhân mạng đã kéo nhau đến nhà hàng Bò 7 Món Hồng Ân để níu kéo cuộc vui dài thêm vài tiếng đồng hồ trước khi “lưu luyến chia tay”.
Buổi tổ chức được nhiều văn thi hữu địa phương đánh giá là rất thành công, so với những buổi ra mắt sách thời gian sau nầy, trong một ngày có rất nhiều tổ chức quan trọng. Xin trích một vài đoạn trong hai bài viết của hai bạn Việt Hải và Trần Mạnh Chi.
Việt Hải viết:
Buổi giới thiệu tác phẩm mới của thi sĩ và nhà văn Yên Sơn Trương Nguyên Thuận, từ Houston sang diễn ra thành công tốt đẹp. Tuyển tập truyện ngắn “Mưa Nắng Bên Đời” và CD Nhạc “Góp Chút Hương Cho Đời” được tổ chức tại:N T Studio, Westminster, California.Address: 15436 Brookhurst St, Westminster, CA 92683Ngày 11 tháng 11, năm 2018, lúc 11AM.
Cô Võ Minh Phượng đã cảm tác 4 câu thơ tặng tác giả tại chỗ:
Bâng khuâng mưa nắng trải bên đời
Lời thơ man mác, bóng chiều rơi
Về theo thương nhớ trong cung nhạc
Góp chút hương xưa gửi cho đời.
MPVà Giáo Sư Nguyễn Song Thuận, Chủ tịch Hội Hùng Sử Việt cũng gửi tặng 4 câu với lời phi lộ, “Chân thành cám ơn anh Trần Việt Hải và Ban Tổ Chức đã giúp buổi RMS của bạn tôi, nhà văn, nhà thơ Yên Sơn từ Texas xa xôi, tới quận Cam… Thật tuyệt vời!
“Mưa Nắng Bên Đời”… tôi đã hay
Mùa thu tuyệt diệu mới qua đây!
Quận Cam, “Góp Chút Hương” thơm ngát,
Thân tặng Yên Sơn, nhớ mãi ngày…
STNhiều bạn bè, chiến hữu của Yên Sơn cũng như giới tao nhân mặc khách từ nhiều nơi tham dự, chung vui cùng buổi họp mặt văn học và dòng nhạc của Yên Sơn, họ đến từ San Diego, Houston, Dallas, Fresno, San Jose, Los Angeles, Ventura, Arizona, Bakersfield… Cách đây 16 năm, 2002, Yên Sơn cũng đã cho ra thi phẩm thứ ba “Một Đời Tưởng Tiếc” tại đây và bạn bè đến chia vui cùng anh, cũng đông không kém. Yên Sơn xã giao rộng, bạn bè anh nhiều là một yếu tố thành công…
Trần Mạnh Chi viết:
Hôm 11 tháng 11 năm 2018 là ngày ra mắt giới thiệu sách Tuyển Tập Truyện Ngắn “MƯA NẮNG BÊN ĐỜI’ và CD nhạc “GÓP CHÚT HƯƠNG CHO ĐỜI” do nhà văn, nhà thơ Trương Nguyên Thuận với bút hiệu “YÊN SƠN” được tổ chức tại NT Studio thuộc thành phố Westminster, California. Chúng tôi trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian là một trong thành phần hỗ trợ cùng một nhóm Cựu Nữ Sinh Gia Long San Diego và nhóm Cựu Sĩ Quan Không Quân VNCH đã liên hợp với nhà văn YÊN SƠN cùng anh Ngô Văn Quy, chị Bích Ty, Mộng Thuỷ cùng host chương trình này.
Lần đầu tiên một chương trình ra mắt sách rất được thành công trên mọi phương diện cả hình thức cũng như nội dung.
Cũng nhờ tác giả đã từng sinh hoạt lâu dài, sâu đậm trong nhiều lãnh vực và tích cực tham gia trong nhiều môi trường văn học từ trong nước cho ra tới hải ngoại. Nên đã có sự hiện diện của nhiều Giáo Sư, văn thi sĩ, tập thể Cựu Sĩ Quan Không Quân, Nhóm Cựu Nữ Sinh Gia Long, tập thể báo chí ngay cả các giới chức chính quyền sở tại như đương kim Thị Trưởng Tạ Đức Trí và cựu Thị Trưởng Tony Lâm đến tham dự và đã trao bằng tưởng lục của thành phố Westminster cho nhà văn Yên Sơn. Các diễn giả như Giáo Sư Trần Huy Bích, Giáo Sư nhà văn Quyên Di, Giáo Sư Song Thuận gởi gấm chia sẻ cảm tưởng đến sự hăng say, những nỗ lực đóng góp của nhà văn Yên Sơn qua nhiều thập niên…
Kinh nghiệm những lần tổ chức ở các nơi khác, có thể nói đây cũng là buổi tổ chức rất thành công về mọi mặt như lời của anh Trần Mạnh Chị và Việt Hải. Xin cám ơn BTC, cám ơn các bạn hữu, các chiến hữu, quý văn thi hữu… quý mến của tôi; và trân trọng cám ơn đến tất cả quan khách ân nhân đã dành một buổi chiều quý báu đến tham dự và ủng hộ cho buổi tổ chức giới thiệu hai đứa con tinh thần của Yên Sơn.
——————————————————————————
GIỚI THIỆU TRANG NHÀ:
http://thovanyenson.com
http://www.thanphongmartialarts.com[/read]
-
Việt Hải Los Angeles giới thiệu tác phẩm mới

“Bâng Khuâng” là một tập truyện gồm các truyện ngắn được tuyển chọn hệt như một bức tranh lắp ghép mở ra những câu chuyện sống vui buồn, những mảnh đời thăng trầm của người viết từ khi ra nơi tại hải ngoại. Văn phong của Ngọc Cường giản dị, dễ hiểu, không hề có nét bí hiểm nhưng không kém phần sâu sắc. Tôi hình dung về những độc giả sách Ngọc Cường đang đọc, trầm tư, ngẫm nghĩ về những triết tính trong đời sống, Ngọc Cường là người sống nhiều về nội tâm, ông trân quý tình bạn, tình gia đình, văn chương ông chuyên chở những cốt chuyện, những ẩn dụ chất chứa phong văn trong tác phẩm của ông…
[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”]
Tình bạn, tình yêu, những ý nghĩ về cuộc đời chung quanh, tuyển tập văn chương mới này với mười tác phẩm được tác giả khéo léo lồng vào những bài viết như những chuyện ngắn hay bài tùy bút nói lên tâm tư của nhà văn Ngọc Cường, tôi gấp sách sau khi xem qua Yêu và Hận, Người Lính Già, Lưu Vong, Mối Chân Tình, Dưới Ánh Đèn Màu,… còn nữa. Lãng đãng trong tôi kỷ niệm thuở trung học với những Đoạn tuyệt với tình yêu của Dũng và Loan, tác phẩm được ươm mầm với nội dung văn học lãng mạn trong hiện tượng lớp người trẻ dấn thân xã hội, ái tình thương nhớ, rồi chia ly vì phiêu lưu giang hồ mà đôi cặp nam thanh nữ tú dan díu trong một chuyện tình nhiều trắc trở. Nơi trang 13, chuyện tình giữa Long và Thủy éo le, long đong vì chiến cuộc. Chiến tranh cướp đi Long, người chồng sắp cưới của Thủy. Một chuyện tình buồn.
Những ý tưởng của Nhất Linh về Loan và Dũng, tình yêu trải qua bao trắc trở đem tôi về tác phẩm của Ngọc Cường với những xót xa, đoạn trường cho mối tình Long và Thủy, cuộc chiến đẫm máu bi thương nay đã chìm sâu vào trong sách sử xứ tôi.
Vâng, tôi còn nhớ Nhất Linh của những Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Nắng thu, Đôi bạn,… Tưởng cũng nên thêm là nhà văn Ngọc Cường là một hậu duệ của gia đình văn học Nguyễn Tường, tiêu biểu như nhà văn Nhất Linh, một khuôn mặt lớn của nền văn chương Việt Nam.
Bâng Khuâng do Người Việt Books in ấn và phát hành, sẽ ra mắt tại thủ đô Orange County, ngày 9 tháng 12, năm 2018 sắp tới đây. Xin trân trọng giới thiệu sách mới của nhà văn Ngọc Cường đến từ Ohio.
Việt Hải Los Angeles.
-
Hội ngộ Tạ Ơn 2018
Thay mặt BTC Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, chúng tôi xin cám ơn quý đồng hương, quý thân hữu thi văn nhạc, quý bằng hữu nghệ sĩ, truyền thông báo chí đã đến chung vui tham dự buổi hội ngộ Tạ Ơn 2018 vừa qua, 25/11.

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”]
Để đón mừng những ngày cuối năm Noël 2018 và Tết dương lịch 2019, BTC chúng tôi có buổi tiệc tại gia trang của anh chị Lan Bổng tại Anaheim Hills vào tuần sau, với sự phối hợp với tổ chức ROF của ca sĩ Thanh Mỹ, nhân dịp tiếp đón nhà văn Ngọc Cường và phu nhân sang California từ Ohio. Riêng ngày 9 tháng 12, 2018 là ngày Ra mắt tác phẩm mới Bâng Khuâng của Ngọc Cường. Dịp này chúng tôi bắt đầu thu bài cho tác phẩm mới “Tự Lực Văn Đoàn và các ngòi bút hậu duệ”, dự trù ra mắt tại đại học UCLA vào năm 2019.
https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/1948320515258609
Sang đầu năm 2019 dịp Tết âm lịch, Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian phối hợp cùng phân khoa Văn Hóa Ngôn Ngữ đón tiếp GS/TS kiêm Nhạc sĩ Trần Quang Hải sang từ Paris. Buổi lễ có phần thuyết trình về ngành L’ethnomusicologie cùng phần phụ diễn văn nghệ tại hí viện của trường Cal State Long Beach, California (CSULB).
https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/1953280964762564
Mong gặp lại quý bằng hữu văn nghệ sĩ, quý thân hữu hội viên Liên nhóm NVNT và TTG.
tm. Lâm Dung, Trần Mạnh Chi, ThụyVy, Thanh Thanh, Phạm Hồng Thái.
-
Tác phẩm “Mưa Nắng Bên Đời”, Yên Sơn Trương Nguyên Thuận
Hôm 11 tháng 11 năm 2018 là ngày ra mắt giới thiệu sách Tuyển Tập Truyện Ngắn “ MƯA NẮNG BÊN ĐỜI’ và CD nhạc “ GÓP CHÚT HƯƠNG CHO ĐỜI” do nhà văn, nhà thơ Trương Nguyên Thuận với bút hiệu “YÊN SƠN” được tổ chức tại NT Studio thuộc thành phố Westmister, California. Chúng tôi trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian là một trong thành phần hộ trợ cùng một nhóm Cựu Nữ Sinh Gia Long San Diego và nhóm Cựu Sĩ Quan Không Quân VNCH đã liên hợp với nhà văn YÊN SƠN cùng anh Ngô Văn Quy, chị Bích Ty, Mộng Thuỷ cùng host chương trình này.
Lần đầu tiên một chương trình ra mắt sách rất được thành công trên mọi phương diện cả hình thức cũng như nội dung. Cũng nhờ tác giả đã từng sinh hoạt lâu dài ,sâu đậm trong nhiều lãnh vực và tích cực tham gia trong nhiều trong môi trường văn học từ trong nước cho ra tới hải ngoại. Nên đã có sự hiện diện của nhiều Giáo Sư, văn thi sĩ, tập thể Cựu Sĩ Quan Không Quân, Nhóm Cựu Nữ Sinh Gia Long, tập thể báo chí ngay cả các giới chức chính quyền sở tại như đương kim Thị Trưởng Tạ Đức Trí và cựu Thị Trưởng Tony Lâm đến tham dự và đã trao bằng tưởng lục của thành phố Westminster cho nhà văn Yên Sơn. Các diễn giả như Giáo Sư Trần Huy Bích, Giáo Sư nhà văn Quyên Di, Giáo Sư Song Thuận gởi gấm chia sẽ cảm tưởng đến sự hăng say những nỗ lực đóng góp của nhà văn Yên Sơn qua nhiều thập niên.
TMC
Nhiều bạn bè chiến hữu của Yên Sơn cũng như giới tao nhân mặc khách từ nhiều nơi tham dự, chung vui cùng buổi họp mặt văn học và dòng nhạc của Yên Sơn, họ đến từ San Diego, Houston, Dallas, Fresno, San Jose, Los Angeles, Ventura, Arizona, Bakersfield,… Cách đây 16 năm, vào 2002, Yên Sơn cho ra thi phẩm thứ ba là Một Đời Tưởng Tiếc. Bạn bè đến chia vui cùng anh, cũng đông không kém. Yên Sơn xã giao rộng, bạn bè anh nhiều.
Đôi nét về Yên Sơn:
Tên thật là Trương Nguyên Thuận, tuổi Song Ngư, sinh quán tại Quảng Ngãi, Việt Nam. Hiện định cư tại Kingwood, Texas, Hoa Kỳ.
Tốt nghiệp Cử Nhân Quản Trị Kinh Doanh và Computer Engineer (double majors).
Anh đã góp mặt trên văn đàn từ năm 1965 đến nay. Trước 1975, có văn thơ đăng thường kỳ trên các báo Phổ Thông, Thời Nay, Phụ Nữ Diễn Đàn, Trắng Đen. Thành viên Thi Văn Đàn Chim Việt Trà Vinh.Sau 1975 khi ra hải ngoại, Yên Sơn cộng tác thường xuyên với hầu hết các Diễn Đàn Internet Việt ngữ, Đặc san, các Văn Đàn Thi Ca Hải Ngoại, và báo chí Viêt ngữ qua Văn, Thơ, Tùy Bút, Hồi Ký, Phóng sự, Truyện ngắn.
Anh từng giữ chức Cựu Tổng Thư Ký Trung tâm Văn Bút Nam Hoa Kỳ trực thuộc Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, từ 2000-2004. Rồi là Cựu Tổng Thư Ký Ban Chấp Hành Trung Ương Văn Bút Việt Nam Hài Ngoại nhiệm kỳ 2008-2011.
Nguyên Ứng Cử Viên Chủ Tịch VBVNHN nhiệm kỳ 2011-2014. Anh đảm nhiệm vai trò
Cựu Chủ tịch Ủy Ban Định Chế VBVNHN nhiệm kỳ 2011-2013; 2013-2015.Những tác phẩm đã xuất bản:
Có rất nhiều sáng tác phẩm Văn Thơ in chung với nhiều Thi Văn Đàn và Bút Nhóm khác nhau ở Hải Ngoại; ngoài ra, có những tác phẩm riêng như:Tập thơ “Quê Hương và Tuổi Trẻ” in tại Saigon, Việt Nam, tháng 3/1975
Tập thơ “Cho Quê Hương – Tôi – Và Tình Yêu”, phát hành tại San Jose, California, 1998.
Tập thơ “Một Đời Tưởng Tiếc”, phát hành tại Houston, Texas, 2002
Tuyển tập Truyện Ngắn “Mưa Nắng Bên Đời”, phát hành tại Houston, Texas, 2018
Trang Nhà, www.thovanyenson.com, 2009.
Đã thực hiện 2 CD Thi Tuyển cùng với một số thi hữu thân thuộc
Những Giọt Sương Rớt Muộn, 2003
Lối Cũ Vẫn Trong Tim, 2009
và 1 CD Nhạc tự phổ từ thơ của mình:
Gần nhất là CD Nhạc “Góp Chút Hương Cho Đời”, phát hành tại Houston, Texas, 2018Ngoài thơ văn ra anh cũng sáng tác nhạc, cho nên CD “Góp Chút Hương Cho Đời”, đã được trình làng hôm Chủ Nhật vừa qua. Tiêu biểu có 2 bài nhạc của Yên Sơn do ca sĩ Ngọc Quỳnh trình bày. Lâm Dung và Ngọc Quỳnh vốn là đôi song ca quen thuộc tại miền nam California. Song ca phụ nữ hay nam giới có điểm lợi khi họ ca bè bổ túc đệm cho nhau rất hay. Bên Pháp có nhóm ca đôi Brigitte (duo) gồm 2 ca sĩ Sylvie Hoarau và Aurélie Saada; hay nhóm Volo (duo) gồm 2 ca sĩ Frédéric Volovitch và Olivier Volovitch. Ở Mỹ có các nhóm song ca nổi tiếng như The Righteous Brothers (Bill Medley và Bobby Hatfield), Sonny and Cher, The Carpenters (Karen Carpenter và Richard Carpenter), Simon & Garfunkel (Paul Simon và singer Art Garfunkel),… Việt Nam cũng có những đôi song ca Lê Uyên Phương, Minh Xuân – Minh Phúc, Đức Huy -Thanh Tuyền (trước 1975), Từ Dung – Từ Công Phụng (một thuở xa xưa),…
Sáng nay thi sĩ YS làm thơ 6-8 cõng bà ca sĩ, tôi đi theo bắt chước vậy…Ngọc Quỳnh trông đẹp như mơ
Khối giai theo đuổi làm thơ tỏ tình
Cây si có đứa rập rình
Rình cô ca sĩ một mình rinh đi
Xả Hòa lo lắng kể gì (1)
Rằng ai rinh nổi anh Chi cho tiền (2)Notes:
(1): Xả Hòa, anh xả của Ngọc Quỳnh.
(2): Anh PSP TMC cá ai bắt cóc nổi NQ.Hôm nọ post hình Ngọc Quỳnh lên Phây búc, vài bạn facebookers thắc mắc hỏi về Ngọc Quỳnh, bài viết này xin gửi Ngọc Quỳnh lên “Phây” nhé!
Tôi thích bài cổ nhạc kinh điển Dạ Cổ Hoài Lang, trong một bài viết cũ tôi có nhắc đến người nghệ sĩ này. Dạ Cổ Hoài Lang được trình bày qua giọng hát bi ai, thống thiết, với chút sụt sùi, bùi ngùi của nữ nghệ sĩ Ngọc Quỳnh đóng trong vai “Chinh phụ vọng chinh phu”, thui thủi chờ đợi ở khuê phòng cô đơn giá lạnh của nhiệt kế 50 độ Fahrenheit, tương ứng với 10 độ Celsius hay 238 độ trên nhiệt kế Kelvin, khi mà máy sưởi của khuê phòng của madame NQ chỉ độ nhiệt lượng với công suất dưới một ngựa (one horse power) hay 9000 BTU/Hr, khá khiêm nhường theo phép tính của môn Heat Transfer mà Văn Tui còn nhớ bì bõm của năm junior tại đại học của thuở học đại thôi, khuê phòng lạnh giá mà nỗi buồn chờ mong về hình ảnh của đức lang quân từ chiến trường xa xăm khi vinh quang trở về của thi ca: “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”. Ý tưởng ít nhiều liên quan tới bản Dạ Cổ Hoài Lang mà ca sĩ Ngọc Quỳnh đã trình diễn trong ngày Gia Long hội ngộ toàn thế giới năm nào đã qua rồi.
Ca nghệ sĩ Ngọc Quỳnh – – – Nữ nghệ sĩ Ngọc Quỳnh là ai?
Nàng là một giọng ca của sân trường Gia Long, gốc gia đình di cư từ đất Hà Thành vào Nam sau biến cố đất nước phân ly 1954, dù sinh trưởng và lớn lên tại Sài Gòn, nhưng giọng nói của cô vẫn đặc sệt chất Bắc. Ngọc Quỳnh có khiếu ca hát, cô xem sở thích cầm ca như thú vui nghiệp dư. Nghề kiếm cơm, dốp thơm dằn bao tử “bread and butter”, dốp chính của cô là dạy học bao năm với phấn trắng bảng đen của sân trường Huê Kỳ. Cô cho biết cô vẫn nhớ về thủ đô Sài Gòn Nhỏ, nơi mà những sinh hoạt văn hóa cội nguồn dân tộc đầy ắp, nên mỗi khi sinh hoạt cộng đồng cô phải lái xe từ Los Angeles xuống Orange County vác ngà voi. Nhờ ông xã dễ chịu, anh Vũ Văn Hòa tâm sự với bần bút, khi bà ấy công tác cộng đồng thì anh ở nhà trông nom, tếch-ke như Mr. Mom cho 3 cháu nhi đồng teenager. Anh Hòa là kỹ sư ngành thiết kế tàu bay chiến đấu cho một công ty lớn về quốc phòng, anh đùa là đi làm kiếm tí tiền còm cho bà nhà đổ xăng cho vợ đi phục vụ thiện nguyện xã hội của cộng đồng ta.
Năng khiếu của Ngọc Quỳnh chính ra về ca nhạc tiền chiến, nhạc thính phòng, nhưng cô còn hát nhạc dân ca Bắc Trung Nam, một lãnh thổ toàn vẹn đất đai, Ngọc Quỳnh hát Ả Đào, Ca Trù, Hò Huế, và cái món tôi chú trọng trong bài này là vọng cổ cải lương. Sau Đêm hát tưởng niệm về nhạc sĩ Trần Trịnh tại Emerald Bay vừa qua, Ngọc Quỳnh tâm sự là cô nghe nói giáo sư Nguyễn Thanh Liêm vốn thích nghe cổ nhạc Nam phần, mà chương trình hôm Mừng Thượng Thọ cho giáo sư Liêm tại đài TV VHN lại chật ních, con kiến bò vào không lọt thì làm sao cô dám đề nghị ca tặng cho cô thầy Liêm. Cô bèn gởi bần bút MP3 bài ca của cụ cố soạn giả Cao Văn Lầu đến Thầy Liêm vậy. Tôi bảo là đợi dịp lễ Cúng Kỳ Yên 2013 của Hội Lăng Ông Lê Văn Duyệt vậy. Ngọc Quỳnh nói hát bài Dạ Cổ Hoài Lang của cụ cố Cao Văn Lầu cần có một vị nam lưu trong vai tướng công “Nhứt tướng công thành vạn cốt khô”, vậy ai thủ vai ấy được <?>,….
Nay tôi xin đề nghị kép trẻ soạn giả cổ nhạc Hà Nguyên Du, nhân dáng anh khôi ngô tuấn tú như Dũng Thanh Lâm, mang giọng ca mùi y như Minh Phụng.
Mới đây hôm buổi dinner tiệc đón tiếp thết đãi gia đình Yên Sơn từ xa về Orange County. GS. Quyên Di đề nghị nên có buổi hát dân ca Bắc phần có âm nhạc quan họ Bắc Ninh và hát ả đào, về âm nhạc Trung phần có tiếng hò cung đình Huế và âm nhạc Nam phần có vọng cổ cải lương. Tôi đề nghị hôm RMS tại CSU Long Beach 2019 có âm nhạc Trần Quang Hải, event show này sẽ thích hợp. Sách Trần Quang Hải đào sâu ý niệm dân ca ba miền. Nhạc sĩ Trần Quang Hải đi chuyên ngành về nhạc dân tộc học (ethnomusicologie), đặc biệt nhạc vùng Á châu, esp. l’Indochine. Nhạc sĩ Trần Quang Hải ca, ngâm, hò 3 miền rất hay và vui. Tôi đề nghị 4 giọng ca ngâm hò tứ trụ: Quyên Di, Trần Quang Hải, Bích Ty và Ngọc Quỳnh sẽ trình diễn một clip ngắn dân ca 3 miền cho vui. Vã lại 4 nghệ sĩ này rất tếu lâm và vui tính.
http://www.ninh-hoa.com/VietHai-DaCoHoaiLang-CaoVanLau.htm
Hôm ra mắt sách Yên Sơn, nghệ sĩ NQ đảm nhận ca 2 bài nhạc mới của thi nhạc sĩ Yên Sơn, cô cho biết vì là nhạc mới mà mấy hôm nay kẹt nhiều show nên khi lên sân khấu Ngọc Quỳnh “quíu” hết trơn. Ấy, ấy gái bắc di cư sống tại Sài Gòn xơi giá sống mòn răng đã lâu ngày rồi, ả ta cứ bình dân như vại, cứ thẳng ruột ngựa như dân nam kỳ cuốc thôi.
Kế đến một cô Gia Long khác, ca sĩ Thúy Anh, đúng ra là nghệ sĩ Thúy Anh cho một kỷ niệm với NS Anh Bằng vui vui. Tôi vốn thích bài thơ trong dân gian “Người Ở Đừng Về”, nên tôi đề nghị NSAB phổ nhạc bài này. Hôm sau thì ông đã hoàn tất bài nhạc, nhanh hơn tôi nghĩ vì phổ chỉ trong một ngày là xong. Ông hỏi tôi đề nghị ai hát <?>. Vì nhóm bạn thường gặp nhau khi đó gồm vợ chồng Thúy Anh và Nguyên Vũ cùng Peter Morita, Quyên Di, NSAB và vợ chồng tôi thường đến thăm NS. Lam Phương, mỗi khi hát hò thì Thúy Anh ca và Nguyên Vũ đánh keyboard. Thế là ca sĩ Thúy Anh nhận lời ca cho hôm RMS NS Anh Bằng. Tôi hỏi Thúy Anh thuộc bài chưa, cô bảo nhạc mới, mới ca lần đầu:”Em hơi run, “teo quá”, “nhưng chơi luôn”!”. Tôi tức cười quá xá vì cô này muôn thuở vẫn vui tính, tinh nghịch, đối đáp lanh lẹ, nói năng duyên dáng, Thúy Anh thích đùa và lém lĩnh. Hình như chút gì đó nhắc nhớ vẻ vui tươi như Joyce DeWitt (casted in The 3 Company), nét dí dỏm như Sally Field (casted in Smokey and the Bandit).
Sau đó Nguyên Vũ cho tôi nghe trial version, Thúy Anh hát, Nguyên Vũ đệm keyboard. Thúy Anh ca ngâm giọng bắc bộ thật xuất sắc. Tôi email cho NSAB là tôi rất tâm đắc, ưng ý với giọng ca của Thúy Anh cho bài hát mới của ông, mà lời bài này trong ý nghĩ riêng tôi thơ chất chứa nét dân gian với chút gì đó rất dễ thương…
“Người ơi người ở đừng về
Người về em vẫn khóc thầm
Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa
Người ơi người ở đừng về
Người về em vẫn trông theo,
Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi
Người ơi người ở đừng về
Người về em nhắn tái hồi
Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai”Phân đoạn sau…
“Mình về, ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành:
Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba.
Chữ Trung thì để phần cha,
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình”.Tóm lại, Thúy Anh và Ngọc Quỳnh là 2 cô gái gốc bắc theo học trường Gia Long, ngôi trường nổi tiếng ở miền nam, 2 người nghệ sĩ này vui tính, luôn đối đáp bạn bè bằng những nụ cười thân thiện, nói năng tíu tít dễ thương,… Về phạm vi trình diễn hay ca hát, cả 2 vốn đa năng, đa tài,… Chúc vui cùng lời chia vui với Yên Sơn và kỷ niệm bạn bè…
Cám ơn Thúy Anh và Ngọc Quỳnh!
Việt Hải Los Angeles.
[/read]
-
RMS “Tưởng niệm Nguyễn Thanh Liêm” và “Sám hối”
Thay mặt liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, tôi xin cám ơn Ban Tổ Chức của quý anh Nguyễn Cao Can, Chinh Nguyên (Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt), Trần Văn Nam (Hội trưởng Petrus Ký Bắc Cali), Lê Bình (Chủ tịch Câu Lạc Bộ Truyền Thông Báo Chí), TS. Nguyễn Hồng Dũng, NS. Phạm Hồng Thái, Quách Đại, nhiều và nhiều bạn bè …. Không quên Ký giả gốc KQ Lê Văn Hải, kiêm Họa sĩ và cũng là Chủ nhân Hội quán “Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương” cung cấp mọi tiện nghi cho buổi RMS; Nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc Giám đốc Việt Museum đã tiếp đón chúng tôi tại trụ sở Việt Museum rất đông vui ấm áp tình đồng hương; Nhạc sĩ Lê Tấn Quốc với buổi văn nghệ ăn tối trong đêm ca nhạc thính phòng gặp gỡ nhiều bạn bè mới cũ, đầy ắp kỷ niệm,… Xin cám ơn tất cả.
Trưởng Ban Tổ Chức Nguyễn Cao Can mong đợi “over full house” 200, 300 khách, khi emcee Nguyễn Hồng Dũng tuyến bố khai mạc bên dưới đầy hàng ghế xếp cho 120 người tham dự. Khách quen khá nhiều, tôi bảo anh Can: “Được lắm rồi. Dưới Nam Cali tụi này tổ chức size nhỏ từ 80 đến 100 khách quen là vui. Quan khách thăm viếng im lặng lắng nghe là God bless BTC…”.
https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/1868816056542389?__tn__=K-R
Tôi có trình bày lý do tại sao có ngày Tưởng Niệm Nhị Vị Văn Nhân Nguyễn Thanh Liêm và Minh Đức Hoài Trinh hôm nay. Số là vì một tuần lễ trước khi GS. Nguyễn Thanh Liêm ra đi nhóm văn chương chúng tôi có tổ chức một buổi tiệc, ông nhắn tôi hãy giúp ông làm một buổi ra mắt sách tại Bắc Cali. Tôi nhận lời thầy và kêu gọi bạn bẻ thi văn và Petrus Ký tiếp tay thực hiện lời nhắn gởi này. Hôm nay RMS, tôi nhìn hàng ghế bên dưới có sự hiện diện của GS. Đào Kim Phụng (San Jose) và TS. Nguyễn Bửu Lâm (từ Berkeley sang), khi bên dưới hàng ghế cử tọa quan khách quen biết thầy khá nhiều và có hình ảnh của thầy tôi. Emcee mời Tiến sĩ Nguyễn Bửu Lâm lên sân khấu phát biểu.Cách đây vài năm khi nhà văn Minh Đức Hoài Trinh lên Bắc Cali, nhân dịp 2 nhà văn Nguyễn Quang và Minh Đức Hoài Trinh tổ chức ra mắt sách ở San Jose, GS. Nguyễn Liệu đã khoản đãi mọi người gồm những thân hữu giới tao nhân mặc khách tại tư gia của ông. Nhà văn Nguyễn Liệu đọc ngâm và diễn giải bài thơ Mẹ Bảo Ta Đừng Nhìn Qua Cửa Sổ của tác giả Minh Đức Hoài Trinh.
http://poem.tkaraoke.com/…/Me_Bao_Ta_Dung_Nhin_Qua_Cua_So.h…
- Nguyễn Liệu nhắn gởi chúng tôi hãy vinh danh nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh. Và chúng tôi đã ra sách cám ơn sự đóng góp quý báu của bà cho đời. Cũng hôm nay tôi nhìn bên dưới hàng cử tọa có sự góp mặt của những thân nhân của gia đình Minh Đức Hoài Trinh như Bác sĩ (kiêm Họa sĩ) Võ Tá Đồng, và phu nhân, Nghệ sĩ Lê Lợi. Xin cám ơn anh chị.
https://www.facebook.com/namhai.tran.75839/posts/157234801843349?__tn__=K-R
Trên sân khấu hai anh em chúng tôi, Việt Hải và ThụyVy đã bàn bạc về tác phẩm Sám Hối. Sám Hối của Minh Đức Hoài Trinh theo cảm quan của tôi hẳn không thua danh tác Bonjour Tristesse của nhà văn Pháp Françoise Sagan. Pas du tout.
Một chuyến đi Bắc Cali thật nhiều kỷ niệm vì RMS văn học, lái xe đường xa du ngoạn Carmel by the Sea, Santa Cruz, Monterey Bay, rồi ghé Santana Row strolling and dining, … VHLA và Nhà văn Nguyễn Quang xin hẹn bạn bè chuyến vacances Hè Âu châu, đi chuyến cruising Monte-Carlo, Marseilles, Barcelona, 2019. Tôi nghe tiếng cười giòn giã okay của Thanh Thanh, ThụyVy, Kim Hương, Phạm Hồng Thái, Topaz, Lệ Hoa, Bích Ty,…
Cám ơn San Jose. Cám ơn Bắc Cali. Không quên anh chị Laura Mạc và thi nhân Mạc Phương Đình với đặc sản bánh ít lá gai và những hình ảnh nhé!
Việt Hải Los Angeles.
-
Buổi giới thiệu sách “Tưởng Niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm”, và tác phẩm tái bản “Sám Hối”

Cố Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm

Cố Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh
Tiểu Thuyết Sám Hối, một “Bonjour Tristesse” thứ hai. Mùa thu tháng 9 này, năm 2018 nhà văn Nguyễn Quang sẽ cho ra mắt sách Sám Hối (mà lần đầu tiên được ấn hành năm 1967, và sau năm 1975 sách đã tuyệt bản), vì được nhiều độc giả yêu cầu, sách sẽ được trình làng tại San Jose. Tiểu thuyết Sám Hối, có thể xem như một “Bonjour Tristesse” thứ hai theo sự so sánh của tôi. Dù xét về mặt chủ quan hay khách quan thì cả hai tiểu thuyết Sám Hối và Bonjour Tristesse có những điểm tương đồng về loại văn học lãng mạn, về luân lý xã hội, và về văn học hiện sinh. Nhìn trên những tủ sách thế giới văn học, những tác phẩm đề cập về yếu tố phóng khoáng tình ái, sự kiện ngoại tình hay yêu cuồng sống vội trong tình yêu, mà những sách như Yêu (Chu Tử), Vòng Tay Học Trò (Nguyễn Thị Hoàng), Ngoại Tình (Nguyễn Quang), Madame Bovary (Gustave Flaubert), Anna Karenina (Leo Tolstoy), La Dame aux Camélias (Alexandre Dumas), The Pickwick Papers (Charles Dickens), Doctor Zhivago (Boris Pasternak), Lady Chatterley’s Lover (DH Lawrence), The End of the Affair (Graham Greene), Memoirs of a Woman of Pleasure (John Cleland), The Secret Lives of Married Women (Elissa Wald), Endless Love (Scott Spencer), Lust ( Susan Minot),… Những tác phẩm chuyên về chuyện tình yêu, có sách đề cập về yêu, yêu thật bạo. Tuy nhiên, khi xét qua về sách Sám Hối chứa đựng nội dung phản ảnh xã hội trong thời thế khi chiến cuộc tại Việt Nam leo thang mạnh, xã hội có bòng dáng người Mỹ vào cuộc (1967), xã hội đảo lộn khá phức tạp, tác giả Minh Đức Hoài Trinh phần nào tạo dựng nội dung với nhiều yếu tố như vậy, từ những nhân vật được lồng vào cốt truyện này cho thấy sự khéo léo đặt để của tác giả. Tựa sách được mang tên của một nạn nhân bé nhỏ của xã hội. Cháu bé Trần thị Sám Hối được chào đời trong hoàn cảnh nhiêu khê, phức tạp để rồi kết cuộc là sự bi đát để mọi người trong cuộc phải sám hối. Đấy là thông điệp mà tác giả Minh Đức Hoài Trinh muốn nhắn gửi ở phần kết cuộc. Tôi rất thích phần kết cuộc mà tác phẩm của nhà văn Minh Đức Hoài Trinh đưa ra cho ta suy nghĩ: Ai sẽ lả người tội lỗi nhất ? Ai sẽ phải sám hội nhiều hơn cả ? Người con gái Uyển thác loạn tạo ra bé Sám Hối là nguồn gốc của tội lỗi ư? Hay bà mẹ gốc nhà mô phạm với nghề dạy học và bà có những ham muốn riêng tư, đã bỏ bê con gái,… Bà giáo Ảnh sám hối chăng ? Tác giả Minh Đức Hoài Trinh không quy tội, không kết án ai cả. Nhưng nếu bạn là độc giả sách này, kết luận đã cho phần mở, (conclusion ouverte, open conclusion) là dành cho bạn vậy. Sám Hối là một tác phẩm đáng suy ngẫm. Việt Hải Los Angeles
-
TÌNH MUỘN GIỮA TRƯA HÈ RỰC NẮNG – CAO MỴ NHÂN
Thứ Hai, 16 Tháng Bảy 20187:34 SATÌNH MUỘN
Vào buổi xế trưa chủ nhật ngày 15 -7 – 2018 tại Hội Trường Hội Việt Nam Tương Tế , số 7621 đường Westminster, thành phố Westminster Ca 92683, Liên nhóm NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT và TIẾNG THỜI GIAN đã tổ chức buổi ra mắt tập thơ TÌNH MUỘN của ” thi sĩ CAO MỴ NHÂN ” .Liên nhóm nêu trên qui tụ các văn nghệ sĩ giới trẻ sinh hoạt đủ các bộ môn như thi, ca, nhạc, hoạ vv…do nhà văn, thơ VIỆT HẢI kết hợp từ hơn mười năm nay. .theo dự trù mỗi tháng nhóm NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT sẽ giúp anh chị em trong nhóm, và các văn thi sĩ bạn, giới thiệu một tác phẩm văn, thơ, nhạc , hoạ vv…
Kể từ đầu năm 2018 tới nay, Liên nhóm NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT và TIẾNG THỜI GIAN đã thực hiện được việc giới thiệu 3 tác phẩm, gồm :
1/ Tuyển tập văn thơ kỷ niệm về nhạc sĩ LÊ TRỌNG NGUYỄN .
2/ Tuyển tập những bài thơ chưa xuất bản của nữ sĩ MINH
ĐỨC HOÀI TRINH.
3/ Tuyển tập thơ TÌNH MUỘN của Thi sĩ CAO MỴ NHÂN .
Trong khi chờ đợi sẽ ra mắt sách cho các tác giả kế tiếp như:
Giáo sư NGUYỄN THANH LIÊM, Giáo sư ĐÀO ĐỨC NHUẬN,
Nhà Thơ HÀ NGUYÊN DU. ..Hôm nay chúng tôi xin giới thiệu tập thơ mang tên TÌNH MUỘN của CAO MỴ NHÂN vừa ra mắt buổi trưa.
Tập thơ gồm 112 bài viết về cuộc tình muộn nhưng mới mẻ, lãng mạn nhưng trong sáng, đã khiến không khí nóng bức 105 độ cũng dịu hẳn đi.
Hội trường tuy hạn chế chỗ ngồi, nhưng các dãy ghế đã không còn trống, điều mà Ban Tổ Chức cảm thấy ngại ngùng, là sợ trời nóng hầm, đa số quan khách thuộc giới cao niên .
Thế nhưng quý khách vẫn ngồi lại tới bài hát chia tay .
Lý do rất đơn giản, khách mời là các văn thi hữu của Liên nhóm NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT và TIẾNG THỜI GIAN, cùng thân hữu của tác giả .Chúng tôi thấy khách mời thuộc quý vị giáo sư như Giáo sư Dương Ngọc Sum, Giáo sư Đào Đức Nhuận, Giáo sư Lữ Bá Diệp, Giáo sư Lữ Cam Thảo, vv…
Những cây bút hiện đang chống cộng liên tục hàng ngày trên các điện báo như Tha Nhân Trần Đức Lương, Mai Lộc , các hoạ sĩ thành viên trong Liên nhóm như Hoàng Vinh, Phạm Thái từ San Jose xuống, các nhiếp ảnh gia Thiều Minh, Nguyễn Hồng Phương.
Rất đông quý vị cựu nữ sinh Trưng Vương, Thanh Hà, Minh Nguyệt từng là hội trưởng Hội ái hữu Cựu Nữ sinh Trưng Vương, quý vị cựu nữ sinh Gia Long, các nhân vật làm công tác xã hội thiện nguyện như quý ông Phạm Huy Hoàn, bà Cao Minh Tâm Đốc sự Quốc Gia Hành Chánh và thân hữu .Điều đáng ngợi ca là ban nhạc Tiếng Thời Gian với những nghệ sĩ tài tử nhưng phối trí giọng ca thật điêu luyện do ca nhạc sĩ LÂM DUNG, HỒNG TƯỚC phụ trách .
Tất nhiên người viết không thể nào kể được hết tên quan khách, đó là thiếu sót to lớn, nhưng vì trong khuôn khổ một bài viết mà tôi phải kính nhờ Nhà văn thơ Việt Hải tổng hợp .Được nghe quý vị giáo sư diễn giả DƯƠNG NGỌC SUM, ĐÀO ĐỨC NHUẬN giới thiệu tác giả và nhận xét tác phẩm , cùng cảm tưởng của 2 đại diện giới trẻ VIỆT HẢI, và THUỴ VY.
Song nếu TÌNH MUỘN có vẻ trầm tư ướt át qua giọng diễn ngâm của nghệ sĩ BÍCH TY, ca sĩ NGỌC QUỲNH, thì cũng là lúc Cao Mỵ Nhân tác giả tập thơ TÌNH MUỘN hân hạnh giới thiệu mấy vị chiến sĩ VNCH đã gắn liền với quân sử như cựu Thiếu tá PHẠM VĂN HỒNG, người bị Trung cộng bắt trong trận chiến Hoàng Sa cùng trên 40 quân nhân, dân chính, khi chúng tràn lên đảo ngày 19-1-1974, thiếu tá Phạm Văn Hồng là tác giả hồi ký ” Người về từ Trung Cộng ” .Liên nhóm NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT và TIẾNG THỜI GIAN là 2 phần hành chính trong sinh hoạt văn chương nghệ thuật, mà nhà văn thi sĩ VIỆT HẢI đã theo đuổi từ nhiều năm nay, với sự hỗ trợ của nghệ sĩ đảm nhiệm gồm : Giáo sư TRẦN MẠNH CHI phần hành Văn Học, ca nhạc sĩ LÂM DUNG , HỒNG TƯỚC chuyên âm nhạc .
Buổi sính hoạt văn học nghệ thuật giơt thiệu tác phẩm TÌNH MUỘN của CAO MỴ NHÂN đã kết thúc trong không khí vui tươi, êm dịu khi vạt nắng bắt đầu mềm mại trên hành lang Hội Trường Hội Việt Nam Tương Tế hôm nay, chủ nhật 15-7-2018
CAO MỴ NHÂN (HNPD)
Link: https://haingoaiphiemdam.com/…/tinh-muon-giua-trua-he-ruc-n… -
Đọc Yên Sơn, Sách Mới “Mưa Nắng Bên Đời”

Trần Việt Hải
Yên Sơn là bút hiệu của người bạn tôi, cựu phi công máy bay Trương Nguyên Thuận, anh là nhà văn, nhà thơ, gần đây anh cho xuất bản một tác phẩm mới, tuyển tập truyện ngắn “Mưa Nắng Bên Đời”.
“Mưa Nắng Bên Đời” gồm 21 truyện ngắn, là những mảnh đời anh đã trải qua, khi ráp nối lại tạo thành một tác phẩm thẩm mỹ mosaic, hay hình dung cách khác những truyện ngắn này là những mảnh jigsaw puzzle khi ghép lại là một bức tranh nghệ thuật. Giở những trang sách, từ bài mở đầu “Giấc mơ phi công và những chặng đường nghiệt ngã” ở trang 17 cho đến bài cuối là “Muốn nối một nhịp cầu” ở trang 286.
Trước đây có những nhà văn kiêm gốc hoa tiêu lái máy bay như Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh (1930-XXXX), Antoine de Saint-Exupéry (người Pháp, 1900-1944), Samuel Hynes (Hoa Kỳ, 1924-XXXX), Roald Dahl (người Anh, 1916- 1990), Orville Wright (Hoa Kỳ, 1871-1948), Wilbur Wright (Hoa Kỳ, 1867-1912), Harriet Quimby (nữ phi công Hoa Kỳ, 1875-1912), Ernest K. Gann (Hoa Kỳ, 1910-1991)… Đấy là những nhà văn cầm bút và lái máy bay. Tôi xin được vinh dự được kể thêm là còn có bạn tôi, Yên Sơn Trương Nguyên Thuận.
Nhà văn kiêm phi công Samuel Hynes khi bàn luận về viết văn thì chẳng phải là lẽ thường mà một nhà văn có tay nghề cao biết bay đủ để viết về chuyện đó (Author/Pilot Samuel Hynes, “It isn’t often that a writer of superlative skills knows enough about flying to write well about it.”, trong tác phẩm “A Teller of Tales Tells His Own” (Một người kể chuyện thuật về bản thân của mình), in the New York Times, 7 September 1997). Samuel Hynes có phần đúng với Yên Sơn. Vậy Yên Sơn kể chuyện đời mình ra sao?
Truyện “Giấc Mơ Phi Công”, trang 17, tại Trường sinh ngữ Lackland AFB ở San Antonio, Texas; trường bay cho loại Cessna T41 ở căn cứ Randolph AFB. Trường bay này tọa lạc ở thành phố ven đô, Universal City, cách 24 dặm về phía đông bắc của San Antonio. Xong anh lại qua Keesler AFB ở tiểu bang Mississippi (cách San Antonio 9 giờ lái xe) để học bay loại Khu trục T28.
“Giấc mơ phi công và những chặng đường nghiệt ngã”, Yên Sơn kể tiếp:
“Thời ngồi trên ghế nhà trường tôi vẫn luôn ‘nhìn trời cao mà reo, mà mơ ước như diều để níu áo Hằng Nga, nằm bên dải Ngân Hà’. Những mẩu chuyện KQ làm tôi say sưa quên cả sách vở. Thấy các ngài phi công bên súng, bên dao xề xệ trong bộ áo liền quần phởn phơ dưới phố cho tôi mộng mị đêm dài. Nhất là bị ông nhà văn phi công Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh qua cuốn ‘Đời Phi Công’ đưa mơ mộng của tôi vượt lên chín từng trời! Có lần bày tỏ với Mẹ tôi về ước muốn này bị Mẹ át giọng ‘học hành không xong Ba sẽ bắt về đi cày ruộng chứ ở đó mà mơ với mộng’! Mẹ biết tôi rất sợ sống ở ruộng vườn; rất sợ đời sống kham khổ với đất đai, nhất là đất đỏ cao nguyên dẻo quánh, nắng bụi, mưa… trời ơi là một nỗi cực hình! Tôi đã từng nói với Mẹ ‘bằng mọi cách con sẽ vượt ra khỏi nơi này”.Nội dung của bài viết, anh kể lại tác phẩm “Đời Phi Công” cho anh những ấn tượng đẹp đẽ của tuổi thanh niên, anh thích thú khi đọc ngay từ chương một, anh nhớ lại thời gian của đầu thập niên 1960, Không Quân VNCH trên đà thành hình bảo vệ không phận giang sơn miền Nam Việt Nam. Mộng chinh nhân của người trai thế hệ lấy Tổ Quốc Không Gian là lẽ sống với những cánh sắt ru giấc mộng: Cessna T-41 Mescalero, North American T-28 Trojan, Douglas AD-4 Skyraider,… hay trực thăng. Trở về xứ là phi công Gunship Huey, loại phi cơ được trang bị hệ thống hỏa lực khạc đạn súng máy M60, cùng hỏa tiển AS-10 và SS-11, Yên Sơn và Giấc Mơ Phi Công chiến đấu đã được kể lại một thuở chiến chinh.
Nào, hãy nói tiếp về tác giả Yên Sơn. Có một dịp sang Houston, tôi mục kích Võ Sư Trương Nguyên Thuận quán xuyến những lớp võ thuật tại Võ đường Thần Phong (Than Phong Martial Arts Academy), Kingwood, Southwest Houston. Như chúng ta biết, môn phái Taekwondo do chưởng môn đại sư Choi Hong Hi sáng lập, kết hợp giữa Taekkyon và Karaté, cho ta thấy nhiều điểm tương đồng với Karate về bộ pháp nhưng chú trọng vào đòn cước nhiều hơn. Võ sư Yên Sơn (tức Võ Sư Trương Nguyên Thuận) là chủ một võ đường dạy những thế võ Thái Cực Đạo bên Houston, anh dạy võ tại Bắc Cali, rồi dời đô sang Texas. Võ sư Yên Sơn là loài chim ưng tung thủ, phi cước đẹp mắt; những kỹ thuật thủ pháp Subakhi hay những đòn cước pháp Taekkyon anh am tường, một vị thầy võ thuật tôi luyện môn sinh cách đi quyền thái cực đạo, những thế đánh Taekwondo chú trọng đặc biệt vào những đòn chân (chokki, cước pháp), rồi nào những quyền pháp, những pha ngoạn mục của Kim Cương quyền (Keumgang), Thái Bạch quyền (Taebaek), Bát quái quyền (Palgwe Jang),… Do vậy, nói đến một Yên Sơn là sức mạnh cơ thể, kỹ luật đấu pháp đánh đấm. Đòn thế pháp vi thủ (sugi) và đòn thế pháp vi cước (chokki), v.v… Ít khi ta nghĩ Yên Sơn cũng là của thi ca lãng mạn, ướt át như dòng chữ nghĩa sau đây:
Gửi cô bé bên kia dòng nước ngược
Sáng thức dậy lòng buồn nhớ Bé
Biết bao giờ gặp lại Bé ơi
Hai phương trời chẳng mấy xa xôi
Nhưng ngang trái rụng đầy lối nhỏSáng cũng nhớ, trưa chiều cũng nhớ
Rồi đêm về mộng tưởng mơ hoang
Hết đông rồi xuân thắm lại sang
Rồi mùa hạ, mùa thu đi mãiCó những lúc lòng buồn tê tái
Nhìn dòng đời lặng lẽ đi qua
Cây tình si chưa kịp nở hoa
Lá vàng úa rung rinh trước gióKhông biết bây giờ phương trời đó
Bé của anh có nhớ anh không
Mỗi bình minh tư lự hoài mong
Nhìn biển cả chắc lòng xa xótHương tình yêu ngạt ngào ngào ngạt
Giữa cuộc đời ngang trái trái ngang
Gọi ông xanh than thở thở than
Cho vơi bớt nhớ thương thương nhớ…
(thơ Yên Sơn)Chưa hết, đọc sách mới, Tuyển Tập “Mưa Nắng Bên Đời”, trang 86-87, chương Những Khởi Đầu Của Một Gã Tha Hương; tác giả nhận việc làm tại Mỹ nghề dạy võ, bị thách giao đấu Yên Sơn dùng kỹ thuật võ luyện hạ một anh Mễ, một anh Mỹ gốc Phi châu. Tôi xem từ chương 1, trang 19 với bài Giấc Mơ Phi Công và Những Chặng Đường Nghiệt Ngã đến trang 79 với bài Ra Đi Về Phía Mặt Trời Lặn. Một giai đoạn có chiến tranh, những chàng trai thế hệ khoác áo chiến binh. Có Tổ Quốc Không Gian, với Đời Phi Công như sách Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh; có khó khăn nghiệt ngã đường chân trời của biến cố 1975. Khiến cho tôi chút gì liên tưởng về người phi công kiêm nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupéry gập ghềnh trên đường bay tại chiến trường, cuộc chiến chống lại Đức quốc xã, Saint-Exupéry bay qua Địa Trung Hải vì một sứ mệnh thám sát vào năm 1944 của cuộc chiến giải phóng nước Pháp. Yên Sơn cũng có giấc mơ làm phi công như Le petit Prince, L’aviateur, Pilote de guerre hay Vol de Nuit của Saint-Exupéry, xông pha trên bầu trời lửa đạn Bắc Phi, Pháp và Tây Ban Nha. Trang 69, Yên Sơn viết: “Cứ mỗi lần ngồi vào máy computer muốn viết lại vài mẩu chuyện đời lính của mình là một lần cho trí nhớ chạy lang bang, chạy tung tăng trên những chiến trường khắp vòm trời Miền Nam Nước Việt. Những ngày tháng xa xưa đó như một cuộn phim hấp dẫn, rất dài, quay rất chậm rãi… khiến đầu óc lụ mụ với bao nỗi nhớ niềm thương. Đôi khi nước mắt trào dâng khi tưởng tượng những khuôn mặt bạn bè thân thương đã nằm xuống, đã ra đi với bao nỗi ngậm ngùi…”
Trang 154, bài viết “Tiễn Con Đi Chiến Trường Iraq”, tác giả Yên Sơn cảm động kể lại khi người con trai nối nghiệp cha, gia nhập vào nghiệp kaki, “hổ phụ sinh hổ tử”, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, just like father like son dòng máu anh hùng. Cháu PQ nhận nhiệm sở chiến trường sôi động Iraq. Truyện kể này tôi xem trên internet nhiều lần mà tôi vốn thích vì tình phụ tử của anh. “Tiễn Con Đi Chiến Trường Iraq”, Yên Sơn viết,…
“Ðang lái xe, suy nghĩ mông lung trên đường từ nhà đến trường; tiếng reng của cell phone làm tôi giật mình, rung tay lái:
– Ba ơi Ba, con là PQ đây!
Tôi vui mừng nghe tiếng nói của đứa con xa, mặc dù nó mới về phép mấy tuần trước đây để dự đám cưới của chú em trai họ dì cậu của nó. Con cái mặc dù bao lớn, người làm cha mẹ vẫn thấy chúng trẻ thơ, cần được săn sóc:
– Con khoẻ không?
– Dạ thưa Ba con rất khoẻ, con có võ mà, con là Lục quân mà!
Nó cười thành tiếng làm tôi cũng cười theo. Nó thường trả lời chúng tôi như vậy mỗi khi được hỏi về tình trạng sức khoẻ. Nó có tính khôi hài giống tôi, theo lời mẹ nó nói. Cũng theo mẹ nó, như bất cứ bà mẹ nào trên cõi đời này, cái thói hư tật xấu gì của con cũng giống bố; ví dụ như cái tính ham bạn, mê chơi, hút thuốc, uống rượu của nó…
– Con gọi thăm Ba hay có chuyện gì không con?
– Dạ cả hai!
– Chuyện gì quan trọng không con?
– Dạ con đang làm giấy tờ để đi Iraq! Có một cái form cần quyết định của Ba trước khi con điền. Câu hỏi là nếu con bị tử nạn, Ba muốn gia đình tự lo việc chôn cất cho con hay để cho Quân đội sắp đặt theo truyền thống của họ?Tôi nghẹn ngào, thảng thốt! Như có ai vừa đâm sâu một mũi nhọn vào tim dù biết đây chỉ là hình thức giấy tờ tự nhiên. Vậy mà tôi vẫn xúc động, ngay cả lúc này ngồi viết ra những lời đối thoại với con. Dù tôi cũng đã từng sống trên bờ sinh tử trong cuộc chiến năm xưa; dù biết trước sau gì con tôi cũng tham dự chiến trường Iraq, vậy mà tôi cứ lo, cứ buồn. Bạn bè vẫn hỏi tôi có lo lắng gì khi con đi Iraq, tôi vẫn nói dối một cách tỉnh bơ “lo thì được cái gì, cho con đi lính thì phải chấp nhận”… nào là mình đã ở trong lòng cuộc chiến năm xưa, thô bạo hơn, khốc liệt hơn mà mình đâu có sợ!!! Nói chỉ để giữ vững tinh thần cho mẹ và các em nó, che lấp những nỗi lo sợ ám ảnh của một người cha trước mặt mọi người, chứ làm sao an tâm cho được! Chẳng thà chính mình tham dự còn đỡ lo hơn. Tôi chạnh lòng nghĩ tới cha tôi cứ mỗi lần loay hoay trong trách nhiệm làm cha, tôi lại nghĩ đến người! Tôi chỉ có một đứa con đi quân đội, trong khi Ba Mẹ tôi có tới ba người và hai đứa ở tuổi động viên! Tôi nhớ thương Ba Mẹ tôi quá đỗi! Nhớ những năm còn đi học, hai anh tôi trong quân ngũ, tôi đã nhiều lần thấy sự âu lo của Ba Mẹ tôi mỗi khi nghe tin qua đài phát thanh cho biết có đụng trận ở những nơi các anh tôi trú đóng. Nhất là Ba tôi. Bao giờ Người cũng tỏ ra cứng rắn với tinh thần chịu đựng và chấp nhận. Thế nhưng, giữa những đêm thâu tôi tình cờ bắt gặp Người ngồi hút thuốc ngoài hiên, mắt nhìn mông lung về hướng trời xa với những tiếng thở dài đầy ấp âu lo, với bao nỗi băn khoăn, trăn trở.
– Ba! Ba có nghe con nói gì không Ba?
– À, Ba… Ba… Ba cũng không biết nữa tôi ngập ngừng trả lời, trong khi đầu óc như tê điếng trong nỗi muộn phiền.
– Chỉ có một trong hai chọn lựa; hoặc gia đình tự lo hay là Quân Đội họ lo hết!
– Ba không biết Mẹ con muốn sao, theo Ba thì Ba muốn…
Trong đầu óc tôi chớp nhoáng những ý nghĩ đen tối… nếu nhỡ con mình… một ngày nào đó… ôi kinh khủng quá… làm sao đây? Làm sao đây? Mình phải tự lo cho con mình chứ, mình phải được nhìn thấy nó… lần cuối cùng chứ!…”
Anh suy tư về chuyện cũ, lo lắng về chuyện mới, tôi hiểu anh từ ý nghĩ.
“Những người lính Mỹ đã rời chiến trường Việt Nam trong đau thương và tủi nhục hơn ba thập niên trước; tôi cầu mong con trai tôi và hàng trăm ngàn quân nhân Mỹ đang ngày đêm cận kề sinh tử tử sinh sẽ không bị bán đứng bởi lũ chính trị gia ngồi ở văn phòng, hoặc do sự vô trách nhiệm của đám truyền thông báo chí. Tôi cầu mong họ trở về nước từ chiến trường Iraq trong huy hoàng của một chiến thắng rực rỡ và trong niềm hãnh diện và hoan lạc của toàn dân.”Mang hai màu áo như một võ sư trong võ phục Taekwondo hay trong bộ chiến y của một phi công flight jumpsuit, mà thú thật người viết bài rất mê thích một thuở, tác phẩm “Mưa Nắng Bên Đời” cho tôi một sự gần gũi và cảm thông nào đó, vì có không gian bay bổng cùng võ thuật bay cao.
Sang truyện “Một Thoáng Hương Xưa”, Yên Sơn, trang 131. Thu Dung vượt biên sang trại tị nạn Songkhla, Thái Lan. Tuấn cố dỗ giấc ngủ trở lại nhưng không thể nào chợp mắt được. Tiếng kim đồng hồ gõ từng nhịp giữa đêm thanh vắng nghe rõ mồn một làm hắn sốt ruột vô cùng. Hắn ngồi dậy lấy bút viết vội những trào dâng trong tâm khảm:
Ta ngồi chép lại pho tình cũ
Gọi trái tim đau nhỏ mực buồn
Sầu đọng chân mây trời viễn xứ
Vo tròn hoài niệm góc quê hương”Một chuyện tình dang dở, rồi trùng phùng trong bối cảnh không trọn vẹn vì mọi việc đã an bài vì biến cố chia ly. Yên Sơn viết truyện tình éo le.
Nhà thơ Cung Trầm Tưởng làm thơ ru ngủ một thế hệ về mối tình dị chủng trai Việt và gái Pháp, người em gái xóm học Michèle de Paris, tóc vàng sợi nhỏ. Sự thể như truyện tình của nhà văn Marguerite Duras và Léo trong tác phẩm L’Amant. Sự thể cũng như giữa cô gái Mỹ Martha và Chương mà hồn ái ân dâng trào, môi hôn liền môi như trong “Dấu Chân Cát Xóa” của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, trang sách Yên Sơn kể về chuyện tình giữa Tuấn và nàng thiếu nữ Mỹ Deana, họ hẹn nhau chơi môn cưỡi ngựa (thú thể thao equestrian hay horseback rider),…
“Cô nhỏ ngồi áp sát người hắn, với nhịp bước đi của ngựa, hai thân người cọ xát vào nhau làm hắn bấn loạn, hơi thở dồn dập, rúng động trong lòng, tim đập như muốn vỡ tung lồng ngực. Cảm giác lâng lâng, rạo rực như vừa uống vài ba chung rượu mạnh. Vì cô nhỏ tựa sát người nên hắn cũng cảm giác thấy tim cô nhỏ đập chẳng thua gì mình, cô nhỏ chắc cũng đang say sưa như hắn! Tiếng cô nhỏ nhẹ như ru:
– Twan! Anh thích chúng ta đi như thế này không?
– Deana! Tôi thích lắm! – Tiếng hắn nghe đến thì thầm, mơ hồ như sợ khuấy động trời chiều, hoặc sợ làm choàng tỉnh cơn mơ. – Tôi muốn được đi hoài như vầy!
– Twan! Anh muốn hôn tôi không?
Bất giác Deana ghì cương ngựa đứng lại, chồm lên xoay mặt hắn lại rồi hôn vội vã trên môi. Hắn chới với muốn té. Deana buông ra, nhảy xuống ngựa, hắn cũng xuống theo và hai người quấn chặt nhau, môi gắn liền môi bên hông ngựa.”Trang 109, truyện tình dị chủng Một Chút Mặt Trời Trong Ly Nước Lạnh, Yên Sơn dùng tựa đề là tên của một cuốn truyện của cố văn sĩ Pháp Francoise Sagan, nguyên văn là “Un peu de soleil dans l’eau froide” xuất bản năm 1971 và đã quay thành phim. Anh kể “Đọc và xem phim lâu rồi, không còn nhớ nội dung của nó là gì. Cũng không cần thiết vì chắc chắn nó chả dính dáng gì tới bài tôi định viết, đúng ra là sẽ dịch lồng vào với bài viết này. Chỉ chợt thấy là cái tựa hơi có chất lãng mạn này tình cờ có vẻ thích hợp với thực tại, một thực tại thực ra chả có tí lãng mạn nào…”
Người viết xin đề cập một chút về cốt truyện này của Françoise Sagan, vì sự lãng mạn của Yên Sơn không xa Sagan là bao. Quyển Un Peu de Soleil dans l’Eau Froide (Chút mặt trời trong nước lạnh), ta thấy mối tình tay bốn giữa nàng Nathalie Silvener, Nhà báo Gilles Lantier, vị Giáo sư Văn chương Pierre Lacour, ông chồng của Nathalie là Francois Silvener. Anh chàng Gilles Lantier là một gã đào hoa bay bướm, mà nàng Nathalie say mê đắm đuối, sự thể của ngoại tình trong hôn nhân.
Yên Sơn kể truyện với tình tiết…
“Như cuốn phim chiếu thử chớp qua mau lẹ, mớ hình ảnh ngổn ngang, lộn xộn trong đầu… một tuần lễ thoáng qua như giấc mơ choáng ngập đường về. Hắn biết là khó thể quên hình bóng mỹ miều đầy nguy cơ đó trong một ngày một bữa, khó cho giấc ngủ hắn không mộng mị vào những tháng ngày bấp bênh phía trước, ở một nơi chốn mà hắn nghĩ muôn đời vẫn sẽ là người khách lạ! Hắn quyết định không về nhà đêm nay như một trốn chạy cô nhỏ, đưa hai chú em đi thăm gia đình một người bạn ở đó hơn một giờ lái xe mà hắn vừa liên lạc được.
Hắn thở dài khi hình dung khuôn mặt đầy thất vọng của cô nhỏ khi thấy cửa nhà hắn đóng im lìm đêm nay, nhất là sáng mai khi lên xe về lại Houston, cô bé cũng chẳng nghe được một câu giã từ của hắn.
Deana! Cô như tia nắng mặt trời vô tình đậu trong ly nước lạnh đời tôi!”Vì tuổi tác và khác văn hóa khiến kết cuộc là một kỷ niệm đẹp.
Xét về truyện cuối cùng của sách, trang 288, Muốn Nối Một Nhịp Cầu, đây là một truyện tình cảm bắc một nhịp cầu mai mối. Xuân về mang tình yêu đến trùng phùng, kết cuộc có hậu của truyện. Tác giả sử dụng phương ngữ xứ Quảng. Đây là nét đặc trưng của văn phong Yên Sơn.
Chúc mừng nhà văn Yên Sơn với tác phẩm mới “Mưa Nắng Bên Đời”. Xin trân trọng giới thiệu và hẹn nhau ngày ra mắt sách tại California.
Trần Việt Hải, Los Angeles.







































































