-
Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học của nhà văn Khánh Lan
Khi duyệt qua tác phẩm thứ nhất, mang tên “Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học” của nhà văn Khánh Lan, sách này có thể chia ra làm 4 loại khuynh hướng như sau:
- Bàn luận về nghệ thuật văn chương trong văn học: “Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học” (trang 01):
Nếu nghĩ đến tự bản chất tư tưởng của nghệ thuật của văn chương thì nó đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ qua. Theo quan điểm nho học của Khổng Tử và các nhà nho thuở xưa về sự kiện “Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”, xuất hiện sau gần 15 thế kỷ, vào đời Tống. Đây là một nguyên lý về bản chất và nhiệm vụ xã hội của văn học thuở xưa phiến diện, tiêu cực và như sự áp đặt. “Văn” nghĩa ở đây chỉ là văn chính luận. Còn “Đạo” là “luân lý học” của thuở Tống Nho, kết tinh một cách sẵn có những mặt tiêu biểu đạo đời theo tam giáo như Khổng giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Và văn “chở” cái đạo có sẵn như “phương tiện chuyên chở vật chất“, nghĩa là hoàn toàn tách rời giữa nội dung và hình thức; hay một cách suy nghĩ khác giữa ý nghĩ nội tâm và ý muốn trong đời sống chúng ta.
Trong nhận thức về sự bất phân giữa văn và sử, văn và triết ở thời kỳ đầu sự phát triển của văn chương. Ví dụ những người theo ý tưởng áp đặt Mác-xít cũng đặc biệt nhấn mạnh bản chất tư tưởng của văn chương, coi văn chương và nghệ thuật nói chung là một hình thái ý thức xã hội, một công cụ nhận thức, một khí cụ của tư tưởng. Tất nhiên cách nhận thức cuộc sống, tác động tư tưởng của văn chương nghệ thuật có những nét riêng, có tính đặc thù, so với các hình thái ý thức xã hội khác, như triết học, đạo đức, tôn giáo…
Trong khi văn chương vốn dĩ mang bản chất phóng khoáng, nhân bản không ràng buộc do yếu tố tư duy. Một xu hướng tiếp cận khác bên trời Âu lại chú trọng bản chất nghệ thuật của văn chương, mối liên hệ mật thiết giữa văn chương và nghệ thuật, coi văn chương là một loại hình nghệ thuật. Đây là cách xem xét của Aristote trong quyển Thi ca học có lúc gọi là Nghệ thuật thi ca. Đặc biệt ở các nhà mỹ học Đức từ cuối thế kỷ XVIII, theo lập luận Kant và Hegel, bản chất nghệ thuật của văn chương càng được nhấn mạnh, và họ coi nghiên cứu văn chương, thi ca học là một bộ phận của mỹ học. Theo hướng tiếp cận này, người ta lưu ý nhiều đến mối liên hệ giữa văn chương với âm nhạc, với bản sắc tư duy lãng mạn.
Cho nên bài văn “Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học” chuyên chở ý niệm về Nghệ thuật vị Nghệ thuật do thi sĩ Théophile Gautier hay Oscar Wilde cổ suý việc đề cao quan điểm riêng tư, mang tư duy lãng mạn. Ngược lại, xu hướng trên là “Nghệ thuật vị nhân sinh” thường được hiểu là nghệ thuật giữ vai trò hay mang nhiệm vụ phụng sự xã hội, kinh tế, quyền lực và tất cả nghệ thuật. Như vậy nghệ thuật chỉ là công cụ cho phạm vi kinh tế, xã hội hay chính trị. Do đó nghệ thuật vị nhân sinh (l’art pour la vie hay art for life) là lý thuyết khẳng định bản chất phạm vi xã hội của nghệ thuật, chủ trương nghệ thuật gắn bó với đời sống xã hội, chính trị, chống lại các khuynh hướng nghệ thuật và thoát ly khỏi ý tưởng lãng mạn trong cuộc sống. Bài viết đơn cử cho ý tưởng văn chương phục vụ nhu cầu xã hội điển hình qua những tiểu thuyết của Harriet Beecher Stowe, hay Mark Twain. Phía văn chương Việt Nam có 2 hệ phái tranh cải nhau kịch liệt như nhà văn Hải Triều chủ trương Nghệ thuật vị nhân sinh và nhà văn Hoài Thanh chủ trương Nghệ thuật vị nghệ thuật.
- Chủ đề Tiểu thuyết Xã hội về Thân phận con người:
Phần này có 3 bài như sau: Những Kẻ Khốn Cùng (trang 27), Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (trang 99) và Ngư Ông và Biển Cả (trang 133).
- Những Kẻ Khốn Cùng (Les Misérables) là tiểu thuyết của văn hào Pháp Victor Hugo, được xuất bản năm 1862. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nền văn học thế giới thế kỷ 19. Tác phẩm Những người khốn khổ là câu chuyện về xã hội nước Pháp trong khoảng hơn 20 năm đầu thế kỷ 19 kể từ thời điểm Napoléon I lên ngôi và vài thập niên sau đó. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Jean Valjean, một cựu tù khổ sai tìm cách chuộc lại những lỗi lầm gây ra thời trai trẻ.
Bộ tiểu thuyết không chỉ nói tới bản chất của cái tốt, cái xấu, của luật pháp, mà tác phẩm còn là cuốn bách khoa thư đồ sộ về lịch sử, kiến trúc của Paris, nền chính trị, triết lý, luật pháp, công lý, tín ngưỡng của nước Pháp nửa đầu thế kỷ 19. Chính nhà văn Victor Hugo cũng đã viết cho người biên tập rằng: “Tôi có niềm tin rằng đây sẽ là một trong những tác phẩm đỉnh cao, nếu không nói là tác phẩm lớn nhất, trong sự nghiệp cầm bút của mình“. Những người khốn khổ cũng nổi tiếng vì đã được chuyển thể nhiều lần thành các vở kịch, bộ phim, trong đó nổi tiếng nhất phải kể tới vở nhạc kịch mang cùng tên.
Les Misérables bản dịch đầu tiên tại Việt Nam của Nguyễn Văn Vĩnh xuất bản năm 1926, với tên “Những kẻ khốn khổ“, của nhà Trung Bắc Tân Văn ở Hà Nội in song ngữ dài 10 tập khoảng 3000 trang.
- Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (The Adventures of Tom Sawyer) là một quyển sách được nhà văn Mark Twain viết với bút pháp độc đáo, miêu tả tâm lý, cử chỉ, hành động của một chú bé sống tại một ngôi làng nghèo bên sông Mississippi. Tác giả đã miêu tả xuất sắc tính cách, tâm lý, hành động của chú bé thông minh, nghịch ngợm nhưng dũng cảm và có một tấm lòng nhân hậu giàu tình nghĩa. Ý tưởng hay từ bài viết như sau:
Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer là tiểu thuyết của Mark Twain(1835 – 1910), ông là một nhà văn trào phúng nổi tiếng của Mỹ, những tác phẩm của ông, với tính chất châm biếm sâu sắc, tâm lý xã hội, chống sự áp bức thống trị của bọn cầm quyền phong kiến tư bản, nhất là chống cái chính sách dã man phân biệt chủng tộc đối với người da đen ở Mỹ.
Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer kể về cậu bé Tom Sawyer nghèo khổ, lớn lên trong một thị trấn nghèo cạnh dòng sông Mississippi, St. Petersburg, Missouri. Tom Sawyer là một cậu bé yêu thiên nhiên, hiếu động, tinh nghịch, giàu trí tưởng tượng, thích các trò mạo hiểm, nghịch ngợm, nhiều khuyết điểm nhưng rất thông minh và nhiều tình cảm.
“Đó là một lời nói dối cao thượng rộng lượng và hào hiệp,
lời nói dối đáng để người ta ngẩng cao đầu đi vào lịch sử.”
Câu nói của ngài thẩm phán Thatcher khi ông nghe cô con gái của ông là Becky kể rằng Tom đã nói dối để gánh chịu trận đòn chuyển từ lưng Becky qua lưng Tom. Thẩm phán Thatcher lại càng lấy làm khâm phục và cho rằng Tom không phải là một cậu bé tầm thường, đó là một bản chất can đảm và lòng dũng cảm khi cậu bé đã cứu con gái của ông ra khỏi hang động. Ông nói:
“Một ngày kia, Tom sẽ trở thành một luật gia lớn
hay một chiến sĩ vĩ đại.”
- Ngư ông và Biển cả (The Old Man and the Sea): là truyện tiểu thuyết do Ernest Hemingway sáng tác ở Cuba năm 1951 và xuất bản năm 1952. Đây là truyện ngắn dạng viễn tưởng cuối cùng được Hemingway viết (và được xuất bản khi ông còn sống), là tác phẩm nổi tiếng và là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Tác phẩm đoạt giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 1953. Nó cũng góp phần quan trọng để nhà văn nhận Giải Nobel văn học năm 1954. Trong tác phẩm này ông đã triệt để dùng nguyên lý mà ông gọi là “tảng băng trôi“, chỉ mô tả ba phần nổi còn lại bảy phần chìm, khi mô tả sức mạnh của con cá, sự chênh lệch về lực lượng, về cuộc chiến đấu không cân sức giữa con cá rất dữ với ông già. Tác phẩm ca ngợi con người, sức chịu đựng và khát vọng của con người.
Xét về nội dung thì câu chuyện về nếp sống đánh cá lênh đênh, gian nan của ông lão người Cuba, Santiago, người đã cố gắng chiến đấu trong ba ngày đêm với một con cá kiếm khổng lồ trên biển vùng. Gulf Stream (Vịnh Hải lưu) khi ông câu được nó. Sang đến ngày thứ ba, ông dùng lao đâm chết được con cá, buộc nó vào mạn thuyền và mang về nhưng đàn cá mập lại đánh hơi thấy mùi của con cá mà ông bắt được nên đã ùa tới, ông cũng rất dũng cảm đem hết sức mình chống chọi với lũ cá mập, phóng lao và thậm chí dùng cả mái chèo để đánh. Cuối cùng ông giết được khá nhiều con và đuổi được chúng đi, nhưng cuối cùng khi ông về đến bờ và nhìn lại thì con cá kiếm của mình, nó đã bị rỉa hết thịt và chỉ còn trơ lại một bộ xương trắng.
- Chủ đề Tiểu thuyết với nét Triết tính:
Phần này có 3 bài như sau: Hermann Hesse, Một bậc hàn lâm văn chương (trang 45), Khung cửa hẹp (trang 87) và Đi tìm thời gian đã mất (trang 115).
- Hermann Hesse, Một bậc hàn lâm văn chương: là một nhà thơ, nhà văn và họa sĩ người Đức. Năm 1946 ông được tặng Giải Goethe và Giải Nobel Văn học. Tác giả kể ông là bạn thân tri kỷ với nhà văn Thomas Mann. Tình bạn giữa Hermann Hesse và Thomas Mann đã tạo ra những chủ đề về tương quan hiện diện trong dòng văn triết học của Hesse và Mann.
Những tiểu thuyết của Hermann Hesse chứa đựng những ý tường, nhân sinh quan về đời sống phương Đông với các tôn giáo thần bí; về tâm lý của các nhân vật của ông; phong cách đạo đức như triết gia Nietzsche. Bài viết đi sâu về tác phẩm Câu Chuyện Dòng Sông (Siddhartha) là một cuốn tiểu thuyết mang tính cách ngôn của Hermann Hesse kể về hành trình tâm linh của một người Ấn Độ tên là Siddhartha trong thời đại của Thích Ca, Hesse gọi là Hoàng tử Siddhartha Gautama. Sách được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1922, sau khi Hesse trải qua một thời gian ở Ấn Độ trong thập niên 1910. Sách được xuất bản ở Mỹ năm 1951 và trở nên có ảnh hưởng lớn vào thập niên 1960. Tác phẩm kể lại chuyện xảy ra ở Ấn Độ vào thời cổ đại vào khoảng thời gian của Đức Phật ở thế kỷ thứ 6 TCN. Truyện bắt đầu khi Siddhartha, con của một Brahmin, bỏ nhà ra đi để tham gia những nhà tu khổ hạnh cùng với người bạn thân là Govinda. Cả hai đều ra đi để tìm sự khai sáng. Câu Chuyện Dòng Sông đã đi qua một chuỗi các thay đổi và tự nhận thức khi anh cố gắng đạt được mục đích này.
- Khung cửa hẹp (La porte etroite): là tiểu thuyết của văn hào Pháp André Gide được coi là một cuốn tiểu thuyết kinh điển và còn là một trong những tác phẩm nổi tiếng trên thế giới. Cuốn tiểu thuyết được dịch giả Bùi Giáng dịch sang Việt ngữ, xuất bản bởi NXB An Tiêm năm 1966.
Năm 1946, André Gide được bầu làm Giáo sư Danh dự trường Đại học Oxford và được tặng giải Nobel năm 1947. Đây là một cuốn tiểu thuyết viết về tình yêu lãng mạn, để cao lòng trinh bạch, sự hy sinh và những đấu tranh nội tâm giữa cõi thực và hư vô trong đạo giáo của xã hội Tây Phương thời ấy. André Gide đã dùng một lối viết cầu kỳ, ngôn ngữ khó hiểu, nó kén chọn người đọc ở một trình độ cao và thấu hiếu về lý thuyết đạo giáo cũng như triết học hiện sinh và lý thuyết nhân sinh quan.
- Đi tìm thời gian đã mất (À la recherche du temps perdu): là bộ tiểu thuyết gồm 7 tập của nhà văn Pháp Marcel Proust, được viết từ 1908-1909 đến 1922 và xuất bản từ 1913 đến 1927, trong đó 3 tập cuối chỉ được xuất bản sau khi tác giả qua đời. Tiểu thuyết này được xếp vào trong danh sách mười cuốn tiểu thuyết được thanh niên Pháp ưa thích nhất trong thế kỷ XX. Tạp chí Time cũng chọn Đi tìm thời gian đã mất trong danh sách mười cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại.
Qua nội dung của tác phẩm “Đi tìm thời gian đã mất” là loại tiểu thuyết tự truyện với nhân vật chính là người kể chuyện về chuyện tình của mình với những ước mơ, dằn vặt qua mối tình đẩu với Gilberte, rồi đến mối tình thơ mộng và đau xót với Albertine sống trong cái thiên đường của một xã hội thượng lưu giả dối và nhạt nhẽo, rồi chết một cách thảm thương.
“Thời gian lại tìm thấy” có nghĩa là tìm tìm ra lẽ sống của mình, là cống hiến cuộc đời cho nghệ thuật. Tất cả những hoạt động xã hội chỉ là “thời gian đã mất” và biến cái thời gian đã mất ấy thành một hành động sáng tạo như Proust đã viết: “Những thiên đường thật đó là những thiên đường đã mất“. Cốt truyện của “Đi tìm thời gian đã mất” có giá trị ở lối kiến trúc diễn đạt thâm sâu, phân tích suất sắc, nặng phẩn mộng tưởng, cho ta những cảm giác dào dạt và thu hút người đọc.
“Đi tìm thời gian đã mất” đã mở đầu cho loại tiểu thuyết mới trong thế kỷ XX và có giá trị cao đượm nét triết tính, với những câu văn dài bất tận như dòng suy tư, cấu trúc ngữ pháp đặc biệt tạo nên những lớp thời gian chồng chất lên nhau, hoài niệm chồng chéo lên hoài niệm, hồi ức kéo theo hồi ức, những thể nghiệm được mô tả theo tốc độ tiệm tiến tương ứng với thời gian của chuyện kể. Câu chuyện tưởng như chỉ xoay quanh những chủ đề mang tính chất riêng tư của một nhân vật, nhưng khi đọc lại cho ta một cảm giác lùi về thời gian đáng kể ở dĩ vãng.
Chính các nhà văn thế kỷ XX thừa nhận, dù thích hay không thích thì tác phẩm này cũng đã là một biểu tượng cụ thể buộc các nghệ sĩ hiện đại phải thay đổi cách nhìn của mình về thế giới hiển nhiên và cách biểu hiện thế giới bên ngoài. “Đi tìm thời gian đã mất” vì thế trở thành một cột mốc trong hành trình thời gian của tiểu thuyết hiện đại của thế kỷ XX.
- Chủ đề Tiểu thuyết Tình cảm Chiến tranh:
Phần này có 2 bài như sau: Một thời để yêu và một thời để chết (trang 13) và Bác sĩ Zhivago (trang 167).
- Một thời để yêu và một thời để chết (A Time to Love and a Time to Die): của Erich Maria Remarque là tình yêu giữa chiến tranh đầy máu lửa, đắng cay, nuớc mắt và hoài vọng với lời viết đậm nét vị tha, nhân đạo, an phận, yêu quê hương và chấp nhận số mệnh của một người thanh niên trót sinh ra trong thời chiến. Tình yêu và chiến tranh là những tiếng khóc của trái tim, là xót xa cho thân phận và là rạo rực của nhớ mong. Qua lời văn của Erich Maria Remarque đã đưa người đọc hình dung ra được một chiến trường khốc liệt với xác người không vẹn toàn, xình thối, vùi chôn dưới từng lớp tuyết, những cảnh điêu tàn, những nóc nhà cháy, những bức tường đổ nát, những đống gạch vụn.
- Bác sĩ Zhivago (Dr. Zhivago): “Cánh tay phải của tôi. Lau nước mắt giùm tôi.” Đó là hai câu trong một bài thơ của Boris Leonidovich Pasternak đã viết để diễn tả những uẩn khúc trong tim khi tác phẩm Bác sĩ Zhivago ra đời năm 1957, bị cấm xuất bản cũng như lưu hành tại Nga, nhất là khi nội dung của tác phẩm bị nhà nước cho là bôi nhọ chính sách và buộc ông phải từ chối nhận đề cử lãnh giải thưởng Nobel văn chương năm 1958, với lý do sự việc này làm giảm uy tín của Đảng Cộng Sản Liên Xô.
Trong tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago, Boris Pasternak “Chống Xô Viết”, chỉ trích rất tế nhị các chế độ “Stalin-nít”, chế độ “tập thể hóa”, cuộc “Đại Thanh Trừng” (the Great Purge) và Quần Đảo Ngục Tù (the Gulag). Tác phẩm Bác sĩ Zhivago còn bị nhà cầm quyền gán cho tội nói xấu cuộc Cách mạng Xô viết. Tháng 12 năm 1989, người con trai của Văn Hào Boris Leonidovich Pasternak tên là Yevgenii Borisovich Pasternak đã được phép đi tới thành phố Stockholm để nhận lãnh Giải Thưởng Nobel Văn Chương của cha cậu.
Tác phẩm Bác sĩ Zhivago nhận định một cách rõ ràng về số phận và lựa chọn của người trí thức trong sự xoay vần của thời cuộc bên cạnh chuyện tình yêu ngang trái giữa Yury Zhivago và Lara Guishar. Một chuyện tình đau đớn của những người tình lạc nhau trong chuyến tàu định mệnh, chiến tranh tạo nên sự chia ly, đặt con người trong chấp nhận hy sinh và số phận con người-tình yêu trong những dòng xoáy của lịch sử.
- Chủ đề Tiểu thuyết Tinh yêu Lãng mạn:
Phần này có 2 bài như sau: Trà Hoa Nữ (trang 75), Chuyện Tình Yêu (trang 147).
- Trà Hoa Nữ (La Dame aux Camélias/The Lady of the Camellias): Alexandre Dumas, Jr. là tiểu thuyết gia, nhà soạn kịch nổi tiếng người Pháp), ông được vào Viện Hàn lâm Pháp năm 1874 và được trao huân chương Bắc Đẩu Bội tinh năm 1894. Trà Hoa Nữ là một tiểu thuyết được viết bởi Tác giả Alexandre Dumas Jr. năm ông 23 tuổi và được xuất bản lần đầu vào năm 1848. Tiểu thuyết Trà hoa nữ đã khẳng định tài năng và đem lại vinh quang rực rỡ cho Alexandre Dumas Jr., nhất là sau khi tác phẩm được ông chuyển thể thành kịch, trình diễn vào năm 1852 ở Paris, tại Nhà hát de Vaudeville, Paris.
Theo tài liệu cho biểt, trước năm 1975, nhà soạn kịch/nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã chuyển thể cuốn truyện Trà Hoa Nữ và được trình diễn lần đầu tiên tại Sài Gòn, Việt Nam. Vở kịch này lại được trinh diễn thêm hai lần nữa do ban kịch Kim Cương (2002) tại Sài Gòn và ban kịch Sống (2013) tại California, Hoa Kỳ. Tác phẩm Trà hoa nữ được dịch ra nhiều loại ngôn ngữ, lan truyền rộng rãi trong lãnh vực phim ảnh, kịch nghệ ở nhiều quốc gia, được người xem hâm mộ và ưu ái đón nhận.
Cốt truyện Trà Hoa Nữ dựa trên bối cảnh tại nước Pháp vào giữa thế kỷ 19, cuốn tiểu thuyết kể về chuyện tình đau thương, một bi kịch cuộc đời của nàng kỹ nữ xinh đẹp Marguerite Gautier và một nhà trí thức trẻ tuổi, luật sư Armand Duval. Tác phẩm Trà hoa nữ không những được coi là một tác phẩm lãng mạn, trữ tình, cảm động mà còn chứa đựng nhiều yếu tố hiện thực, đảm bảo được nghệ thuật văn chương, có giá trị tinh thần, lòng nhân đạo và sự hy sinh cao cả cho tình yêu, đầu tiên và duy nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của nàng kỹ nữ vắn số Marguerite Gautier.
Cuốn sách ghi lại câu chuyện qua lời kể của Armand Duval về một mối tình ngang trái, một tình yêu đích thực mà Armand đã dâng hiến cho nàng kỹ nữ trẻ Marguerite. Chính tình yêu chân chính ấy, đã cứu vớt tâm hồn Marguerite và đưa nàng về với cuộc đời mới, thanh cao, trong sạch. Marguerite đã quyết định từ giã cuộc sống xa hoa, vật chất, nhung lụa đầy ô nhục để đổi lấy một cuộc sống lương thiện, dẫu biết rằng con đường ấy sẽ đầy chông gai và phải chịu nhiều đau khổ.
- Chuyện Tình Yêu (Histoire d’Amour/Love Story): là tiểu thuyết của Erich Segal, ông là một nhà viết tiểu thuyết, kịch bản gia và là giáo sư văn học Hy Lạp và Latinh tại Đại học Harvard, Đại học Yale (1958), Princeton University, Dartmouth College ở Hoa Kỳ, Oxford University, Anh quốc, University of Munich, Đức quốc và lấy bằng Tiến sĩ Văn học Thế giới vào năm 1965. Erich Segal là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về hài kịch thời La-mã, năm 1967 bắt đầu viết kịch bản cho phim ảnh và chuyển thể cuốn truyện Yellow Submarine thành cuốn phim ca nhạc có cùng tựa của ban The Beatles. Cuối thập niên 1960, Erich Segal viết kịch bản cho cuốn phim Love Story, rồi chuyển thể thành cuốn tiểu thuyết có cùng tựa, đạt thành công rực rỡ.
Bộ phim từng nhận được nhiều thưởng Oscar: Giải thưởng Golden Globe Award for Best Screenplay-Motion Picture, Guggenheim Followship for Humanlities, US & Canada. Giải Quả cầu vàng cho Bộ phim xúc động nhất, Giải Quả cầu vàng cho Diễn viên nữ đóng cảm động nhất dành cho Ali MacGraw. Giải Quả cầu vàng cho Đạo diễn xuất sắc nhất dành cho Arthur Miller. Giải Oscar cho Âm nhạc hay nhất dành cho Francis Lai. Giải Quả cầu vàng cho Âm nhạc hay nhất dành cho Francis Lai. Giải Quả cầu vàng cho Kịch bản phim hay nhất dành cho Erich Segal, cùng 11 đề cử khác. Nổi bật câu nói bất hủ trong cuốn tiểu thuyết đã trở thành tuyên ngôn kinh điển của tình yêu.
“Yêu có nghĩa là không bao giờ nói lời hối tiếc”.
Love Story thuộc loại tiểu thuyết tình cảm xã hội, lãng mạn, trữ tình, một là câu chuyện tình đích thực, nồng cháy nhưng lại quá thảm sầu của một mối tình bất điệt, đã làm thổn thức và tê tái không biết bao nhiêu trái tim khán giả. Khởi đầu câu chuyện với chuyện tình của một cô gái mới lớn đi song song với bản tính năng động, tự lập, cao ngạo, tự hào của một chàng sinh viên Harvard thuộc gia đình thượng lưu và nổi tiếng. Sự tranh đấu cho tình yêu không cùng giai cấp, người giầu và kẻ nghèo, đưa đến những thử thách để bảo vệ hạnh phúc cho một tình yêu đích thực và tận cùng là bệnh tật & sự chết…
Điều đáng kể trong tác phẩm là tác giả Erich Segal đã nêu rõ sự kỳ thị của một xã hội định kiến Mỹ trong thế kỷ 20, nơi mà sự phân biệt giai cấp vẫn tồn tại. Sự thủ cựu trong quan niệm sống mà thế hệ trẻ của thập niên 1970 không còn tin tưởng vào quan niệm cũ kỹ già nua trong xã hội phong kiến và nó không còn thích hợp với suy nghĩ của giới thưởng ngoạn đang nuôi dưỡng một quan niệm sống mới: Tự quyết, tự lập, tự hành động cụ thể và tự áp dụng dựa theo tiếng gọi của con tim.
xXx
Tóm lại, tác phẩm Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học của nhà văn Khánh Lan ra đời có thể nói là để đóng góp vào kho tàng văn học chữ Việt nói chung được chút nào đó phong phú hơn, nhất là ở khía cạnh bàn luận về nghệ thuật của văn học; cũng như giới thiệu một số tác phẩm đã đi vào lịch sử văn học của thế giới. Tác phẩm này gồm những bài viết trình bày đôi nét chính của những danh tác lẫy lửng như kiến thức chung của con người ở mọi thế kỷ.
Đọc tác phẩm Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học của nhà văn Khánh Lan giúp cho những ai muốn theo một khoá văn học thu gọn ít tốn kém thời gian đi sưu tập nhiều tác phẩm thời danh qua nét nhận định của nữ bỉnh bút Khánh Lan. Theo ý tưởng của nhà văn người Anh Edward Morgan Forster cho là: “Điều tuyệt vời về văn học vĩ đại là nó biến người đọc nó trở thành tình trạng của người đã viết tác phẩm.” (E. M. Forster: What is wonderful about great literature is that it transforms the man who reads it towards the condition of the man who wrote.); Đọc những danh tác giá trị, sự vĩ đại của những danh tác giúp cho kiến thức con người phong phú hơn.
Thật vậy.
Trần Hoàng Nam.
-
Gió Đông Xuân
-
Đôi Lời Phi Lộ
Dương viết Điền.

Ai đã từng đọc những chuyện trinh thám đều biết rằng, bất kỳ câu chuyện nào cũng làm cho chúng ta say mê nhờ nội dung của các câu chuyện quá kỳ bí, hồi hộp, ghê rợn và lắm lúc kết cuộc thật đau lòng. Vì vậy, các tác giả của những chuyện trinh thám phải là những nhà văn có những đặc tính như thích phiêu lưu mạo hiểm, thích dấn thân, thích tò mò và nhất là trí tưởng tượng rất mạnh đến tuyệt vời, lắm lúc hơn cả tuyệt vời!. Họ thường rất thông minh, lanh lẹ, năng động, hoạt bát. Lắm lúc họ xông xáo vào đời một cách liều lĩnh, nhiều lúc rất ngoạn mục. Nhờ thế những tác phẩm của họ được thai nghén bằng những dữ kiện thật kỳ bí, hấp dẫn, thật ly kỳ và hồi hộp. Thế nên lắm lúc đọc các tác phẩm trinh thám của họ, ta cảm thấy như bị nghẹt thở, sởn da gà, cảm thấy như dựng tóc gáy, rụng rời tay chân!
Tuy nhiên, cho dù những người nào có năng khiếu thiên phú đi nữa, nhưng một khi muốn hành nghề thám tử để điều tra tôi phạm, người ta phải học qua những khoá học chuyên môn về nghiêp vụ này. Thế nên ngay từ đầu, tác giả đã cố ý trang bị cho nữ thám tử Lê Minh trong cốt chuyện bằng những khoá học như phải tốt nghiệp Cao học Criminal Justice, hoàn thành khoá đào tạo của Học viện Cảnh sát và sẽ gia nhập Lực Lượng Tư Pháp Tội Phạm Sát Nhân.
Điểm qua một số nhà văn trên thế giới với những tác phẩm của họ viết về chuyện trinh thám, ta thấy rất nhiều nhà văn nam cũng như nữ, đã để lại cho đời những tác phẩm thật hấp dẫn và lâm ly, thật ngoạn mục và hồi hộp đến toát mồ hôi hột. Chẳng hạn như văn sĩ người Anh Ian Flaming với điệp viên 007 lừng danh nhất thế giới, văn sĩ Conan Doyle với tác phẩm nổi tiếng Sherlock Holmes, nữ văn sĩ Agatha Christie với tác phẩm Án Mạng Trên Sông Nile, nhà văn Da Brown với tác phẩm Mật Mã Davinci, tác giả Lôi Mễ với tác phẩm Đề Thi Đẫm Máu, nữ văn sĩ Gillian Flyn với Cô Gái Mất Tích, nhà văn Shannon Mc Kenna với Đứng Trong Bóng Tối, nhà văn Thomas Harris với Sự Im Lặng Của Bầy Cừu, nhà văn Thuỵ Điển Stieg Larsson với Cô Gái Có Hình Xăm Rồng, nhà văn Truman Capote với Máu Lạnh, nhà văn Nhật Minato Kanae với Thú Tội, nhà văn Nesbo với Chim Cổ Đỏ, nhà văn Việt nam Phạm cao Cũng với Chiếc Gối Đẫm Máu, Vết Tay Trên Trần, nhà văn Thế Lữ với tác phẩm Lê Phong và Mai Hương, Gói Thuốc Lá, Đòn Hẹn, Tay Đại Bợm.
Đặc biệt trong bài đôi lời phi lộ này, tôi muốn đề cập đến những nhà văn nữ viết về chuyện trinh thám. Ai cũng biết rằng phái nữ thường được mệnh danh là phái liễu yếu đào tơ với những đặc tính nhu mì, hiền hậu thường chỉ thích đọc và viết về những chuyện tình yêu lãng mạn, những chuyện tình buồn vời vợi, khi thì nức nở sầu thương, khi thì giận hờn tiếc nuối để rồi biệt ly và xa nhau, chứ ít khi viết về những chuyện đánh đấm, võ thuật, múa may quay cuồng, đâm chém giết nhau, thịt rơi máu đổ; hay những tác phẩm liên quan đến hình sự, điều tra tội phạm, nói chung là các chuyện phản gián, chuyện gián điệp, chuyện tình báo.v v…Vậy mà trong những nhà văn nữ của thế giới nói chung và của Việt nam nói riêng, có một nữ văn sĩ Việt nam ở hải ngoại đã dấn thân bất chấp thân phận là liễu yếu đào tơ đã quyết chí hoàn thành một tác phẩm về chuyện trin
Nhà văn Tess Gerritsen với tác phẩm Call after Midnight, Peggy Sue Got Murdered, The Bone Garden. Xin xem hình kèm bên dưới.
Nhìn chung, tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám” này là một tác phẩm rất có giá trị cho ngành tội phạm hình sự theo đó, những ai mới bắt đầu vào nghề hay đang hành nghề thám tử, gián điệp, cần nên đọc để trau giồi thêm kiến thức nghề nghiệp và rút tỉa kinh ngiệm quý báu trong lúc hành nghề.
Tóm lại, với tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám”, nữ văn sĩ Khánh Lan đã để lại cho đời một kiệt tác về văn chương Việt nam tại hải ngoại, đặc biệt trong lãnh vực về chuyện trinh thám, rất hấp dẫn, thật hồi hộp, đọc xong sẽ nổi da gà và dựng tóc gáy ngay. Tôi xin trân trọng giới thiệu với độc giả khắp năm châu tác phẩm trinh thám thật tuyệt vời này.
California, ngày 20 tháng 02 năm 2021.
Dương viết Điền.
(Hình ảnh trong bài lấy từ Wikipedia).
California, ngày 20 tháng 02 năm 2021.
Dương viết Điền.
(Hình ảnh trong bài lấy từ Wikipedia)
Daphne Du Maurier 
Camilla Läckberg 
Tess Gerritsen 
Nữ văn sĩ Khánh Lan
-
Mùa Xuân Xứ Xa – Yên Sơn
-
Cô Gái Xuân

-
Tác giả
Khánh Lan
-
Vui Cùng Mùa Xuân Mới
-
Đón Mùa Xuân Thắm – Nhạc & Lời: Yên Sơn
-
Xuân Xa Quê Hương

-
Classic Hits
Glen Campbell – If You Go Away (Rare clip)
-
Vòng Đai Xanh
-
Tự Hào hai chữ SÀI GÒN

Chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu.
SAIGON – cái tên địa danh 1 trong 40 thành phố nổi tiếng trên thế giới được khắc tên trên mặt đồng hồ Thụy Sỹ từ những năm 1953. Chiều qua uống cafe với đứa em, buôn chuyện khắp thế giới mới biết em cũng cùng sở thích mê đồng hồ (mình chỉ mê thôi nha). Em gởi hình cái đồng hồ và hỏi có biết tin thú vị này không ? Xem xong thật sự mình rất rất ngạc nhiên xen lẫn tự hào cái tên SAIGON được khắc trên mặt đồng hồ của một thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới – PATEK PHILIPPE – model 2523 của Thụy Sỹ. Tin quá hay và quá thú vị không phải ai mê đồng hồ cũng biết.
***
Tối mình về nhà lật đật “lục tung” internet tìm hiểu mới càng “nổi da gà”, khi biết nó được sản xuất năm 1953, khi miền Nam lúc đó do Pháp đô hộ, nhưng thành phố SAIGON được khắc tên 1 trong 24 múi giờ thế giới.
Cái tên được ngạo ngễ đứng chung với 40 thành phố nổi tiếng đại diện trên thế giới: Sydney, Montreal, Moscow, New York, California, Rio De Janeiro, London, Paris, Geneva, Tokyo,…..có cả Singapore (mình hơi thắc mắc nước Singapore thành lập năm 1965, nhưng đồng hồ này lại được sản xuất năm 1953 ?).
Tương truyền, vào năm 1876 sau khi lỡ chuyến tàu ở Ireland, kỹ sư đường sắt người Scotland – Mr.Stanford Fleming bắt đầu tìm cách chuẩn hóa thời gian. Phát biểu trước Viện Hoàng gia Canada ở Toronto năm 1879, ông đề xuất chia trái đất thành 24 múi giờ, mỗi múi cách nhau một tiếng với thời gian chung cho từng múi giờ riêng lẻ. Ý tưởng của ông đã vấp phải sự phản đối đáng kể từ các chính phủ và cộng đồng khoa học nhưng sự kiên trì của ông đã được đền đáp khi khái niệm mang tính cách mạng của ông cuối cùng được thông qua vào năm 1884 tại Washington, khi 25 quốc gia tham gia hội nghị Kinh tuyến Quốc tế quyết định rằng kinh tuyến gốc của kinh độ 0 ° sẽ đi qua Greenwich, nước Anh.
Đồng hồ giờ thế giới dường như ít được các tín đồ đồng hồ quan tâm cho đến khi nhà chế tác đồng hồ thiên tài Mr.Louis Cottier thiết kế một bộ máy đồng hồ bỏ túi có giờ địa phương với kim giờ và kim phút ở trung tâm, được liên kết với một vòng xoay 24 giờ và được bao quanh bởi một vòng quay số cố định bên ngoài với tên của các thành phố khác nhau được ghi trên đó. Đồng hồ bỏ túi giờ thế giới, tiền thân của tất cả đồng hồ giờ thế giới, hiển thị đồng thời mọi múi giờ trên thế giới, đồng thời cho phép xem giờ địa phương dễ dàng và chính xác, và tất cả trên một mặt số duy nhất.
Cottier đã thu nhỏ phát minh của mình vào cuối những năm 1930, xuất hiện trên chiếc Patek Philippe model 1415. Đến năm 1953, Patek Philippe model 2523 có hệ thống hai núm vặn mới, một để lên dây cót và một ở vị trí 9h để điều khiển đĩa các thành phố. Khi được giới thiệu ra thị trường, đồng hồ hai núm mới này không thành công về mặt thương mại, nên rất ít sản phẩm được sản xuất. Chỉ có 7 cái được chế tác bằng vàng hồng, 5 cái có bản đồ thành phố Âu châu và Bắc Mỹ. Trong đó, 1 trong 2 cái duy nhất dùng bản đồ Âu Châu & Á châu có mặt sứ màu xanh nước biển, khi lặn xuống nước màu trên mặt có một chiều sâu như dưới biển. Đồng hồ duy nhất này có cả 2 thứ trên mặt mà các nhà sưu tập đồng hồ mong muốn là mặt bằng men Enamel (loại sứ trên cái mặt tròn ở giữa) phải nung 2 lần mới thành. Và mặt trang trí vói những pattern bằng máy (do huyền thoại Louis Cottier phát minh, sau đó hãng Patek Philippe sử dụng). Đặc biệt được sản xuất trong thập niên 50 thế kỷ trước, thập niên hoàng kim của chế tạo, thiết kế, kỹ thuật điêu luyện của đôi tay những bậc thầy.
Và…..chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu. Nghe nói đâu vài triệu đô chứ mấy ?!? Ahihi…!
Minh Hoà Photographer (SaiGon – Nov. 16, 2020)
-
Từ Thu tiếng hát lên trời- Thanh âm còn lại bên người tài hoa
Nguyễn văn Lập

Tiếng hát bay trên hàng phố bâng khuâng ngày nào giờ đã đi vào cõi miên viễn chiêm bao, tin Lê Thu nằm xuống trong cơn đại dịch để lại bao bàng hoàng thương tiếc cho người ái mộ giọng hát vàng mười của chị, cả trong và ngoài nước đã có rất nhiều giọt nước mắt tiếc thương rơi xuống khi thần tượng của mình đã không còn nữa.
Lệ Thu là một trong hai nữ danh ca được ái mộ nhất Việt Nam, người kia là tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh, con chim sơn ca của làng âm nhạc Việt Nam, nếu Thái Thanh là người có gọng hát bay bướm lãnh lót với điệu hót như chim tuyệt vời trong bản Giòng Sông Xanh lời Việt của Phạm Duy và Buồn Tàn Thu của Văn Cao, hay diễn tả nỗi nhớ thương ray rức trong lòng người chinh phụ ôm con chờ chồng rồi hóa đá nghe muốn khóc trong trường ca Hòn Vọng Phu của Nguyễn văn Thương, thì Lệ Thu bằng giọng soprano vô cùng rạng rỡ và trong như pha lê với giọng ngân cao vút cuối câu tưởng như có thể kéo dài đến bất tận, mà ít ai quên được giọng ca vừa oán than vừa ray rức lòng người trong một buổi chiều nắng tơ vàng qua tình khúc đong đầy nổi nhớ thương nàng Quỳnh Như từ xa xưa hiện về trong bản Hương Xưa của Cung Tiến, và dầu khóc cho một cuộc tình đã tan như đời mình mà làn điệu vẫn lúc nào cũng rạng rỡ sang trọng trong bản Mười Năm Tình Củ của Trần Quảng Nam, hay ngọt ngào nỗi nhớ, muộn phiền nỗi đau qua bản Mắt Lệ Cho Người của Từ Công Phụng
Thông thường, mỗi ca sĩ thường nổi bật với một hoặc hai bản ruột làm nên tên tuổi của mình thí dụ như Bạch Yến với bản Đêm Đông của Nguyễn văn Thương, Hoàng Oanh với bản Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, Phương Dung với bản Nổi Buồn Gác Trọ của Thanh Sơn, Mai Hương với bản Chiều, thơ của Hồ Dếnh nhạc Dương Thiệu Tước, giọng hát liêu trai Thanh Thúy với bản Nữa Đêm Ngoài Phố của Trúc Phương, Nguyên Khang với bản Riêng Một Góc Trời, Nguyễn Hưng với giọng ca nức nỡ, Ngọc Lan với giọng hát não nùng ai oán, Khánh Ly với giọng khàn đục thì nổi tiếng nhờ nhạc Trịnh Công Sơn.
Còn Lệ Thu hát bất cứ bản nhạc nào của bất cứ nhạc sĩ nào đều hay, và nhiều nhạc sĩ thêm nổi tiếng nhờ giọng hát Lệ Thu, thực sự là như vậy, vì thế Nhà thơ Nguyên Sa người có những dòng thơ bay bướm nhất nước đã gọi Lệ Thu là Tiếng Hát Vàng Mười, nghĩa là tinh chất không vẫn đục, nghĩa là không chê vào đâu được, và khó ai có thể bắt chước giọng ngân trong vắt này được. Lệ Thu đến với âm nhạc từ năm 16 tuổi rất tình cờ khi cùng cô bạn đến Nhà hàng Bồng Lai trên đường Lê Lợi Saigon nghe nhạc, và được mời lên ca góp vui bằng bản nhạc Dang Dỡ tức Tà Áo Xanh của Đoàn Chuẩn, rồi từ đó bắt đầu đi vào lòng khán giả nhờ tài năng thiên phú mà không qua một trường lớp nào về âm nhạc, càng không phải nổi tiếng nhờ các bài hát của nhạc sĩ sáng tác để tặng riêng mình, Lệ Thu ít khi hát nhạc thời trang và hầu như chỉ hát những tình khúc hay nhạc tiền chiến, nói chung là nhạc thính phòng, bằng giọng ca êm như hạt ngọc long lanh – trong như nước biếc đầu gành trăng soi như trong bài Tiếng Sáo Thiên Thai của Văn Cao, đã thu hồn khán thính giả, và đã nhanh chóng nổi tiếng có cát-sê cao nhất trong các phòng trà tại Saigon thời bấy giờ.
Lúc bấy giờ tại đài phát thanh Saigon, chương trình Nhạc Chủ Đề của Nhà văn nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn phụ trách, rồi sau này do Duy Trác đãm nhiệm với lời dẫn chương trình hết sức văn hoa và truyền cãm ấm áp của Nguyễn Đình Toàn và Đào Trường Phúc với các giọng ca chủ lực của Mộc Lan, Kim Tước, Quỳnh Giao, Anh Ngọc, Ngọc Long, Duy Trác, Mai Hương, Thái Thanh, Lệ Thanh qua các bản nhạc tiền chiến hay những tình khúc bất hủ của nền âm nhạc Việt Nam đã làm nhóm anh em CVA cùng lớp chúng tôi hết sức ái mộ gọi là tuyệt tác văn chương trong nền âm nhạc Việt khiến ai cũng mê, đến nổi tôi còn nhờ anh bạn Hoàng Quốc Bảo thu âm cho chương trình này lại để khi đi hành quân về mở nghe, và người tôi mong nhất được nghe tiếng trong chương trình này, chính là tiếng hát Lệ Thu nhưng ít khi được nghe, vì Lệ Thu rất bận vừa đi thu âm cho các trung tâm băng nhạc, vừa trình diễn nên không còn nhiều thì giờ.
Nếu bất cứ người nào yêu nghệ thuật hội họa đều thích nụ cười bí ẩn của nàng Mona Lisa trong tranh của Leonardo Da Vinci, nếu bất cứ ca nhạc sĩ nào của người Việt hải ngoại đều háo hức muốn về Little Saigon, thủ phủ của người Việt tỵ nạn tại nam California để ra mắt CD hay DVD đầu tay hoặc nhiều lần, hoặc làm một hay vài chương trình kỷ niệm một thời ca hát của mình, thì riêng Lệ Thu vẫn lặng lẽ bên đời, không hề tranh đua với đồng nghiệp, trên hai chục năm mới làm một chương trình cho mình, vì thế khán giả càng yêu thích tính cách của Lệ Thu hơn. Thỉnh thoảng mới thấy Lệ Thu xuất hiện trong các show ca nhạc của Thúy Nga Paris của Asia, hay các buổi đi show, mà tôi đã có dịp thực hiện rất nhiều bài viết về các đêm ra mắt các chương trình văn nghệ này tại nam Cali và nhiều nhất là tại vũ trường Majestic của anh Quốc & Phi Khanh. Trong đó đặc biệt là đêm tái ngộ khán giả của Lệ Thu vào cuối năm 2003, trước khi tôi về Dallas, mới đó mà đã gần 18 năm. nhưng những kỷ niệm về Lệ Thu vẫn đong đầy.
Em từ hoang sử bước ra
Thơm môi một nét kiêu sa giửa đời
Chắp tay xin tạ ơn trời
Tự nhiên bổng có một thời si mê (NVL).
Tôi mê giọng ca Lệ Thu như mê người tình của mình thuở còn chưa biết làm thơ yêu em, và chưa biết hết cái đẹp của âm nhạc, cho đến khi tôi làm phóng viên cho nhiều cơ quan truyền thông báo chí tại nam Cali, và hàng tuần vào tối Thứ sáu thường đến vũ trường Majestic thực hiện các bài văn nghệ suốt nhiều năm trời, lúc đó, tôi đã gặp hầu hết các ca nhạc sĩ thượng thặng nhất của làng âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại và viết về họ như một quý mến tài năng làm đẹp cho đời của anh chị em nghệ sĩ. Tôi đã có dịp gặp Lệ Thu thường xuyên, và giửa báo chí với nghệ sĩ thường coi như anh em một nhà khá thân tình, nên nhiều việc buồn vui chúng tôi thường chia sẻ với nhau.
Khi biết tôi sắp xuất giá tòng thê sắp dọn về Dallas, tôi nói đùa với Lệ Thu như thế, Lệ Thu bảo tôi, ông khoan về đã, giúp Thu ra mắt khán giả tại Majestic lần đầu tiên trên hai chục năm nay (khi xưng hô với bạn bè, Lệ Thu thường xưng tên bằng một chữ Thu). Một phần vì là bạn bè, một phần vì rất thích giọng hát Lệ Thu, nên tôi đã nhận lời đồng ý về Dallas trễ một tuần và còn bàn ra rằng, tôi chưa bao giờ đến nhà một ca sĩ để làm phóng sự sinh hoạt đời thường, tôi sẻ làm một cuộc phỏng vấn Lệ Thu tại nhà về các sinh hoạt thường nhật cũng như tại sao trên hai chục năm nay mới làm một chương trình văn nghệ kỷ niệm trong khi các ca sĩ khác hết ra mắt CD này đến CD khác, thì Lệ Thu trả lời nói tại mình nhớ khán giả. Sau đó tôi đến nhà Lệ Thu làm một album ảnh đời thường trên nhiều khía cạnh như tập thể dục, chăm sóc nhà cửa, hoa cỏ, nấu nướng, và trang điểm… Lúc đó trời đã về chiều, khi thấy Lệ Thu bắt đầu vẽ lông mày, tôi thầm nghĩ, Lệ Thu khởi nghiệp từ bài hát Dang Dỡ, có lẻ nghiệp dĩ nó vận vào mình nên nên đã có ba lần gã Vô Kỵ đã vụng về không vẽ được lông mày cho một nàng Triệu Minh, tiếc thật. Sau đó Lệ mời tôi dùng bữa tối tại nhà hàng Sushi của người Nhật tại thành phố Hungtington Beach. Đàn bà coi nhan sắc như tính mệnh, nghệ sĩ là người của công chúng thì càng thận trọng hơn nữa, lúc nào cũng mong khán giả yêu mến mình nên sớm tối gì khi ra đường đều make-up cẫn thận. Lệ Thu cho biết ăn kiêng đã lâu, ăn uống tự nấu tại nhà, ít khi đi ăn ngoài trừ khi đi show, giữ gìn sức khỏe là chính, ăn rất nhiều rau, thảo nào mới có làn da mịn đẹp như thế, và thanh âm giọng hát tồn tại lâu dài như thế.
Đêm Lệ Thu ra mắt khán giả có vài ca sĩ đến giúp như Caroll Kim cùng với các ca sĩ thường trực của Majestic, cả vũ trường không còn chổ ngồi, tôi tiếc nếu không phải về Dallas thì tôi sẻ quay phim làm cho Lệ Thu một DVD ghi nhận những lúc Lệ Thu xúc động nhận những tràng pháo tay hay những cành hoa ái mộ của khán giả sau hơn hai chục năm tái ngộ qua các tình khúc để đời của các nhạc sĩ nổi tiếng như bản Chiếc Lá Cuối Cùng của Tuấn Khanh, Ngậm Ngùi thơ Huy Cận nhạc của Phạm Duy, Hoài Cãm của Cung Tiến, Nữa Hồn Thương Đau của Phạn Đình Chương, Tình Khúc Thứ Nhất thơ Nguyễn Đình Toàn nhạc Vũ Thành An, Thu Hát Cho Người của Vũ Đức Sao Biển, Xin Còn Gọi Tên Nhau của Trường Sa… Thông thường một ca sĩ hát trong chương trình riêng của mình đều hát trên chục bài, nhưng Lệ Thu chỉ hát giới hạn một số bài, còn lại để dành cho ca sĩ bạn, rất khiêm nhượng, vì thế mới được khán giả thương yêu nhiều.
Tôi đã gửi bài viết về buổi tái ngộ khán giả này của Lệ Thu cho các tờ nhật báo, tuần báo, và tạp chí văn hóa nghệ thuật tại nam Cali mà tôi đang cộng tác như một lời cãm ơn của Lệ Thu đến quý cơ quan truyền thông báo chí và độc giả.
Lần tôi gặp Lệ Thu sau cùng vào tháng 11/2019 trong chương trình văn nghệ hai ngày kỷ niệm ngày thành lập của Teletron tại Dallas, tôi đã tặng bài thơ “Thu Vạn Cổ Sầu” cho Lệ Thu và nói cứ xem tôi như một khán thính giả ái mộ làm thơ tặng danh ca Lệ Thu, bài thơ này đã được hai Ca nhạc sĩ, Hoàng Lan phổ nhạc theo điệu Tango và Hà Lan Phương phổ nhạc theo điệu Valse & Rumba cũng để riêng tặng Lệ Thu. Tôi đã mail cho Lệ Thu bài thơ này, còn hai bản nhạc thì sẽ gửi sau khi đã hoàn chĩnh, và Lệ Thu đã không bao giờ còn nhận được. Trước đây đã có ba nhạc sĩ viết nhạc riêng tặng cho Lệ Thu nay đã lên 5 người. Cũng tại nơi này, tôi đã chở Nam Lộc và Chí Tài ra phi trường về lại Cali sau buổi trình diễn, thì nay Chí Tài cũng đã mất trước Lệ Thu trên một tháng.
Từ nay về sau muốn nghe lại tiếng hát vàng mười của Lệ Thu thì chỉ còn biết tìm lại trên internet, nhưng hương xưa vẫn sẻ cùng thời gian đọng lại trong tình người viễn xứ, và dầu hoa tàn tình tan theo không gian, nhưng tiếng hát Lệ Thu với hương thơm phảng phất khói trần nhiễu nhương này sẻ còn để lại cho đời một giọng ca dĩ vãng đã một thời làm lòng người mê muội.
Lệ Thu đã giả từ cõi tạm, hôm nay nhớ lại bài viết về Lệ Thu cách đây 18 năm trong buổi tái ngộ với khán giả năm xưa, với hai câu thơ mở đầu bài viết này như trên để thương tiếc giọng ca một thời xuân sắc trên đỉnh cao nghệ thuật cùng những cuộc tình đã qua, mỗi mùa thu đến rồi đi mang theo biết bao nỗi nhớ thương u uất cùng với bao lần đưa tiễn không mong lại về, để rồi mỗi khi thu về lại nhớ đến giọng hát của Thu.Thu Vạn Cổ Sầu
Nắng nghiêng vàng bước chân ngày
Gió hiu hiu những đêm dài phương đông
Lá rơi trên ngọn thu phong
Hồn theo nổi nhớ, sầu trông héo người
Nằm nghe mưa đổ xuống đời
Len vào song cửa, bên ngoài gió lay
Lá vàng rụng xuống chưa thay
Lá xanh hiu hắt, sương mai lạnh lùng
Thu sao buồn đến não nùng
Dưới chân lá cỏ úa từng nổi đau
Trăng thu viển xứ cổ sầu
Hồn thu thổn thức trên lầu nghinh phong
Thu xưa tím cả nổi lòng
Bao lần đưa tiễn, không mong, lại về
Nghìn trùng vạn lý sơn khê
Thiên thu vọng nguyệt, tứ bề vấn vương
Ta xin đời có vô thường
Vì ai tấu khúc đoạn trường, nhớ quê.(NVL)
-
THƯƠNG TIẾC NHÀ VĂN VŨ VĂN TÙNG
-
Trăng 14, Trước Tết
Trăng đẹp hôm nay, trăng mười bốn
Trời xanh bát ngát ở trên cao
Lòng đã lạnh rồi mà vẫn rộn
Những ý tình xuân rất ngọt ngào.Nhớ buổi xuân thì ngày xưa ấy
Rạo rực lòng trai buổi trăng về
Ngây ngất hương trời người con gái
Bờ môi trót nếm rượu đam mê.Trăng lên vời vợi ngang đầu núi
Trăng tàn bờ lạnh dải ngân hà
Một bóng chim trời bay rất vội
Về nơi viễn phố nẻo sương pha.Là lúc qua rồi thời xuân sắc
Chén đời đã cạn rượu đam mê
Những lúc đêm về ngồi trầm mặc
Quên cả trăng xanh phủ bốn bề.Hôm nay gặp lại trăng mười bốn
Như gặp người xưa thả tóc thề
Chẳng hẹn mà buồn như lỗi hẹn
Đường đời quên cả lối quay về.Thôi, ngắm trăng suông, xin bù lại
Những khi lòng lạnh, bếp tro tàn
Xin khóc cho một lần trẻ dại
Thả những giọt buồn xuống dương gian.Quyên Di
-
Nghe “Đền Em” Cung Trầm Tưởng – diễn ngâm bởi Hoàng Khai Nhan- Tiếng hát Thái Thanh.
Source: PK-Nguoi Viet NW
Seattle -NVTB – (24-1-2021) Buổi chiều hôm nay thời tiết nắng đẹp- còn hơn nửa tháng là đến Tết ta. Tin thời tiết báo sang tuần có tuyết – Thôi thúc đi uống cà phê ngoài phố trước những ngày sẽ… lạnh; nhân thăm tiệm café rang xay tại chỗ, hạt cafe từ Pleiku -Ban Mê Thuột, gửi hãng chuyên aromé tại Seattle; và còn được uống “Trà Lá Xanh – Lâm Đồng”..
Dù trong thời Covid Vũ Hán hoành hành, nhóm trẻ Friends Of Little Sài Gòn vẫn mới vừa khai trương khai trương, sau hai năm chuẩn bị thiết kế… mang tên: “Café Hello Em” , sắp xếp chung trong tòa nhà “Creative Space” của The Friends of Little Saigon, tại 1227 S. Weller St., Seattle.
Trước đó trên đường tới Seattle, nhân tiện tạt ngang một vòng dạo quanh đảo Mercer Island, vòng quanh đường bờ hồ Washington… nhớ lại kỷ niệm một ngày nơi này có mấy anh chị em đến chuẩn bị cho vài tiết mục cống hiến vào “Ngày 30-4-2015″.. nhắc đến các bài thơ tù Hoàng Liên Sơn, trong đó có cả “Nguyện Cầu Mùa Thu” thơ CTT, “Hoa Trắng” Nguyễn Văn Thu (*) …
Cười cười vì cái tên khá ngộ nghĩnh với .. “Hello Em Café“, rồi lại thấy có một tiệm phở khác trong Mercer Island lại cũng có tên “Em” đó lại là “Phở Em”… Sau một ngày vui với nắng, gió… Rồi khuya về, nghe một bài hát… qua cel phone lại thấy một Youtube trên FaceBook, thấy giới thiệu tiếng thơ “diễn ngâm bởi Hoàng Khai Nhan”.. Bài “Đền Em” – thơ Cung Trầm Tưởng viết từ năm 1956, và tiếp nối bằng ca khúc phổ nhạc bởi Phạm Duy qua tiếng hát Thái Thanh.
Bài thơ này đã xuất hiện trên tạp chí Trẻ năm 1959- của thế kỷ 20. Trình bày đẹp tập tặng không (phát hành toàn quốc – song hành với nguyệt san Thế Giới Tự Do Cơ Quan Viện Trợ Văn Hóa Hoa Kỳ (USAID) (**)
Lắng nghe, và thao thức mất ngủ, với “Đền Em.” . Tiếng “Em” ngọt ngào qua text của gọi tắt : – “Em” hay “M” v.v…
Đền Em chỉ giản dị – là những điều còn nợ nhau – có khi bị “bắt đền” hay tự nguyện- mà hỏi có cách nào “để trả được món nợ” đây. Hay còn có đền bù, hoặc chỉ cụt ngủn “Bù” – là muốn “lắp đầy” giúp “ai đó” vươn tới một ước mơ- từ người mình thân yêu, tha thiết, cho người muốn đạt tới một chỗ vinh quang, bay cao xa hơn!
Nghe Hoàng Khai Nhan diễn ngâm bài thơ ngắn của Cung Trầm Tưởng, mà tưởng như ai đó đang khẩn khoản những lời xin lỗi, lấp liếm đi “những hò hẹn với ước mơ không với tới”, trong đó có cả khí phách của một người thanh niên muốn học thành đạt cống hiến cho “quê hương” còn trẻ (nhớ về Non sông bóng mẹ sầu u– Mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái sầu ) … Khi nghe sáng tác, tưởng chỉ là một chuyện tình đẹp, hát khi đã buông xuôi… mà ta gọi là “hò hẹn với mai sau“, hay “Kiếp sau”, hoặc còn được gọi là “Thiên Thu” lại là một lời nhắn gửi khác với … (mòn trông ngưỡng cửa- chiều lu mái sầu)
Nghe mãi video “Thi Nhạc Giao Duyên”, để thấy niềm vui thời tươi trẻ hẹn với non sông, khi bao người mới rời đất Bắc vào Nam, Rồi lại một lần nữa rời miền Nam sang đến đất Mỹ v.v.. và khúc hát đi với thơ nhạc mang một cảm giác mênh mang buồn như thời còn nghe Tao Đàn.. còn sống chết thề nguyền.., và mường tượng ra thấy mình gần gũi biết bao với “các món nợ”, mà dẫu mình chẳng hề vay xin – mà đã là để đời chưa trả hết…
Cũng xin được Đền được Bù ở kiếp mai ..
Tiếng “Bù” cho ta tưởng tượng ra ý nguyện muốn tự nguyện “lắp đầy”, khi nhận ra những thiếu vắng khẩn thiết của em, của con, của người thân, và với Cung Trầm Tưởng còn “đền bù” với cả “Non Sông- Bóng Mẹ Sầu U” nữa. Và còn muốn đền bù, cho cả người đã không có chút đầm ấm từ cha hay mẹ, của cả Em bé thơ bị gửi vào ký túc xá, như trong phim: “Les Dimanches de Ville d’Avray – (Sundays and Cybele) – thực hiện năm 1962, mà những gì cô bé xin (rất thân yêu) cũng nhỏ nhoi như những viên kẹo, con búp bê bằng vải có khuôn mặt nhọ lem, hay con gà trống đồng trên đỉnh tháp nhà thờ d’Avray… em từng “khẩn khoản” muốn được! – Mà ai đó trong chúng ta khó cầm lòng, với ao ước “lắp đầy” muốn tặng không- cho em đạt ước muốn bay cao , bay xa trong những mơ ước lẻ loi, vốn em cưu mang đôi cánh cháy….
Muốn bù cho em, đền cho em và lắp đầy những mơ ước của Em- chỉ vì đôi mắt em tha thiết được bay ra khỏi cảnh tội nghiệp và bay cao xa, như mọi ước mơ được chắp cánh. Ảnh trên là một bích chương quảng cáo ở SàiGòn Việt Nam, cuốn phim đen trắng, chàng cựu Không Quân phi hành, trầm cảm từ giã chiến trường lang thang, gnhìn qua hàng rào cổng tòa nhà khó kín , nạn nhân của hoàn cảnh, phải sống trong (viện Dục Anh- hay ký túc xá- chỉ được về nhà khi có thân nhân.
Thật tình trong cuộc đời: Cả khi ta không: vay, nợ hay xin – và cả khi Em cũng chẳng bao bao giờ “bắt đền”, để phải lo “Đền Bù Em“..
***
Trong bao nỗi niềm đó, cảm xúc yêu mến: những dòng thơ Cung Trầm Tưởng, những dòng thơ phổ thành ca khúc của Phạm Duy, những hình minh họa và nét chữ viết nhan đề ca khúc của Ngy Cao Uyên – có từ 65 năm qua- lơ lửng như đám mây trắng- bàng bạc trở về. để nhắc nhở một chút gì đã mượn, đã đón nhận, từ Em, cho cả đến món nợ quê hương – Xin được Đền – Bù, Lắp Đầy cho nhau qua tác phẩm: “Đền Em”

“Thơ Đền Em”- hay “Kiếp Sau”, là bài hát thứ hai trong số 5 ca khúc phổ nhạc từ 13 bài trong tập thơ Cung Trầm Tưởng, minh họa Ngy Cao Uyên
Xuất hiện trên tạp chí Trẻ do USAID ấn hành thời xa xưa… Thi Sĩ Cung Trầm Tưởng, (trái) Nhạc Sĩ Phạm Duy (giữa), và Họa Sĩ Ngy Cao Uyên,, chính là một đột phá từ sinh hoạt nghệ thuật Hoa Kỳ vào xứ sở vốn yêu thi ca-nhạc.
Xin bấm vào mũi tên trong video YouTube bên dưới để thưởng thức: Nhạc Phạm Duy, Thơ Cung Trầm Tưởng, Tiếng hát Thái Thanh, Hình ảnh Trần Công Mỹ & Phần diễn ngâm cùng dàn dựng video bởi: Hoàng Khai Nhan:

Hoàng Khai Nhan, diễn ngâm và giới thiệu “Đền Em” qua music video.
“Đền Em” được nhắc tới nhiều, như là một ca khúc hay vượt trội hơn cả trong kết hợp thơ nhạc, từ bài thơ rất ngắn (1956) mang dáng dấp như ca dao đứng đầu 13 bài trong thi tập “Tình Ca” (chữ viết tay đẹp lạ của Ngy Cao Uyên)….
5 bài được phổ nhạc trong tập thơ “Tình Ca” ngày xưa ấy với minh họa kèm theo các bài thơ và music sheets của Ngy Cao Uyên, đó là:
- Mùa Thu Paris
- Kiếp Sau (phổ từ bài thơ Bù Em- ngắn ngủn với 6 câu lục bát, như lục bát ca dao…). Trong bài hát này, nhạc sĩ đã không đánh mất hai câu thơ ý nghĩa nhất, được mang vào phần kết thúc: “Non sông bóng mẹ sầu u, Mòn trông ngưỡng cửa, chiều lu mái sầu…”
- Về Đây
- Khoác Kín
- Chưa Bao Giờ Buồn Thế (từ bài thơ Khép Kín)
Hai chữ mở đầu của bài thơ “Bù em” sau khi ở lại, vì Sài Gòn từ 1975 thất thủ, rồi nhà thơ chịu tù đầy 10 năm, bao gồm cả những tháng Hoàng Liên Sơn, Hoàng Liên Sơn – nơi cựu Trung Tá Không Quân, Cung Trầm Tưởng có bài thơ dành cho mẹ sầu Quê Hương mang tên “Nguyện Cầu Mùa Thu” (1977).
(Source: PK-Nguoi Viet NW)
Chú thích:
(*) Ghi chú phần bổ sung lạc ra ngoài đề tài:
(*) Có những nhắc nhớ ghi lại cảm xúc thời mới nhìn thấy “Tình Ca”, Khác hẳn cảm xúc sau khi chính mình cũng là một người đồng cảnh tù… Trước đó trên đường tới Seattle, nhân tiện tạt ngang một vòng dạo quanh đảo Mercer Island, vòng quanh đường bờ hồ Washington… nhớ lại kỷ niệm một ngày nơi này có mấy anh chị em đến chuẩn bị cho vài tiết mục thơ nhạc Mẹ Quê Hương mòn trông và Tù Đầy.. cống hiến vào “Ngày 30-4-2015”..
Mùa này đi trên đường vắng của East Mercer Way (ven bờ đảo) không thấy có hoa trắng rơi rải trắng lấm tấm khắp trên vài con đường vắng – như trong ký ức tôi 65 năm xưa… thảm hoa trắng nhỏ từ một cây vú sữa “già cội” rải khắp sân, của chủ phố Louis Lê Cang Đảm (cháu nội của cụ “Nhất Sỹ” -Lê Phát Đạt, ông ngoại của Nam Phương Hoàng Hậu– Nhà này ở gần nhà thờ Huyện Sĩ, “khi mới Di Cư Từ Bắc Vào Nam”, nơi gia đình tôi may mắn được cho “ở đậu” tá túc mà có thể cũng là người giúp cho có việc làm đầu tiên ở Phòng Thông Tin Usaid, sau này in báo Trẻ và Báo Thế Giới Tự Do..?, còn lưu lại trong ký ức từ 1955-1956.. Rồi mãi mươi năm sau bạn học tôi ở các năm trung học lại chính là con trai ông, tên anh là Louis Đảm, và 16 năm trước cha của anh cũng lại là học trò của Sư Huynh Phạm Ngọc Hóa trường Taberd (là anh ruột của bố tôi)… Tôi phải dài dòng thế, vì rất thích Báo Thế Giới Tự Do và Tạp Chí Trẻ, chính nơi đây đã tặng Free kèm theo báo Trẻ, insert tập “Tình Ca”, in giấy trắng láng- chữ “Tình Ca” mực đen in cùng size với tạp chí Trẻ để insert trong báo – được cơ quan USAID tâng không… vào thời điểm đó… Kể lại dài dòng chỉ vì vậy thôi! Bài thơ này đã xuất hiện trên tạp chí Trẻ năm 1959- của thế kỷ 20. Trình bày đẹp tập tặng không (phát hành toàn quốc – song hành với nguyệt san Thế Giới Tự Do Cơ Quan Viện Trợ Văn Hóa Hoa Kỳ (USAID)
(**) Bài thơ này đã xuất hiện trên tạp chí Trẻ năm 1959in trong một số báo chủ đề “Phạm Duy – Cung Trầm Tưởng và Họa Sĩ Ngy Cao Uyên”. Nhớ nhiều đến bố có việc làm công nhân viên ở đấy, và ông mang về nhà rất nhiều sách in bìa giấy trắng dầy của nhà xuất bản Phượng Giang, Tự Lực Văn Đoàn, Sáng Tạo cũng từ nơi này “hỗ trợ ” phổ biến (?), cũng chỉ để mang tặng không cho người quen… (PK)
-
Xuân Về Trên Quê Em
-
MẮT LỆ GIÃ TỪ
-
Nguyện Cầu Đầu Xuân
-
Vòng Đai Xanh, Tác Phẩm Qua Các Nhận Định Vương Trùng Dương
LTS: Nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa số 134, tháng 10, 2020 đăng bài viết: Đọc sách “Mặt Trận Ở Sài Gòn” của Ngô Thế Vinh của Nguyễn Văn Tuấn. Trong phần Lời Tòa Soạn đã nhắc đến tác phẩm Vòng Đai Xanh (VĐX) của nhà văn Ngô Thế Vinh, nhà xuất bản Thái Độ ấn hành năm 1970 được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 71. Đây là tác phẩm thứ tư sau Mây Bão (1963), Bóng Đêm (1964), Gió Mùa (1965) từ thời sinh viên y khoa. Tác phẩm VĐX nầy đã gây xôn xao trong giới cầm bút ở Sài Gòn và giới chức chính quyền vì nhận thức khác nhau vào thời điểm đó.
Tốt nghiệp Y Khoa năm 1968, Ngô Thế Vinh, bác sĩ trưng tập, gia nhập quân y, phục vụ tại binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt và sau đó giữ chức vụ Y Sĩ Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.
Nhà văn Trang Châu, tác giả bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến, tác phẩm được trao giải Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1969; Tốt nghiệp Y Khoa năm 1966, bác sĩ trưng tập, phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù.
Đầu thập niên 60, nguyệt san Tình Thương của sinh viên Đại Học Y Khoa Sài Gòn không thuần túy về lãnh vực chuyên môn mà với những bài viết văn học nghệ thuật rất giá trị. Hai con chim đầu đàn của tờ Tình Thương là Trang Châu và Ngô Thế Vinh, được 4 năm thì bị đóng cửa vào năm 1966 vì lý do chính trị.
(Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc là giải thưởng do Phủ Tổng Thống trao tặng nên còn gọi là Giải Văn Chương Tổng Thống. Sau năm 1970, Giải này do Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa tổ chức. Có các bộ môn tranh giải tùy theo năm về Hội Họa, Âm Nhạc, Điện Ảnh, Thơ, Truyện (truyện ngắn truyện dài)…
*
Sau 1975, Ngô Thế Vinh bị 3 năm tù ở Suối Máu, Trảng Lớn, Phước Long, Bù Gia Mập… Ra tù, về Sài Gòn, thời gian sau trở lại làm việc tại Trung Tâm Phục Hồi Bà Huyện Thanh Quan và Vật Lý Trị Liệu Sài Gòn. Năm 1983 được định cư tại Hoa Kỳ (vợ vượt biên và bảo lãnh).
Trong thời gian ở Sài Gòn, anh là chứng nhân của giai đoạn lịch sử nên khi ở Hoa Kỳ, ấn hành tuyển tập Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa gồm 18 chân dung (có Cao Xuân Huy & Phùng Nguyễn được biết sau nầy). Và, hai tác phẩm Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch như lời cảnh báo mà hiện nay đang xảy ra.
Cuốn sách Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn – Người Ði Tìm Mùa Xuân của một nhóm tác giả do Ngô Thế Vinh chủ biên, được ra mắt vào đúng ngày 30 tháng Tư năm 2019. Qua những tác phẩm của Ngô Thế Vinh thể hiện tấm lòng của anh với chiến hữu, đồng nghiệp và quê hương trải qua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử.
Tác phẩm Vòng Đai Xanh được tái bản lần thứ nhất tại hải ngoại vào năm 1986. Tác phẩm được dịch qua tiếng Anh dưới tựa đề The Green Belt (Ivy House Publishing Group 2004). Lần tái bản nầy Vòng Đai Xanh – The Green Belt – Bilingual Viet/English, do Văn Học Press & Việt Ecology Press ấn hành. Sách dày 448 trang. Phần tiếng Việt có 245 trang. Gồm 20 chương và các bài viết về tác giả, tác phẩm. Phần tiếng Anh từ trang 257 qua bản dịch của Nha Trang & William L. Pensinger.

Theo lời nhà xuất bản Văn Học Press đã giới thiu tổng quát về tác phẩm “… Cuốn sách viết về số phận bi đát của những người Thượng sống trên vùng đất mà ngày nay gọi là Tây Nguyên. Sẵn có mối mâu thuẫn với người Kinh, cộng thêm chính sách “Dinh Điền” đầy bất công dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, người Thượng giang rộng vòng tay đón nhận sự trợ giúp của đoàn quân Mũ Xanh Mỹ với niềm hy vọng thiết lập một quốc gia Đông Sơn riêng biệt, hoặc chí ít một vùng đất tự trị bao gồm gần 30 sắc dân khác nhau sinh sống trên suốt dải đất miền cao đó. Giấc mơ của họ đã bị đập tan không thương tiếc, một phần vì họ đã quá ngây thơ…
… Khi chấp nhận cộng tác với lính Mũ Xanh, những người Thượng hiểu rõ họ đã trở thành thù địch của phe Cộng, và khi bị phe lính Mũ Xanh bỏ rơi, thật mau chóng và dễ dàng họ biến thành miếng mồi ngon cho phe Cộng, và đối với phe Cộng hình phạt nhẹ nhất cho kẻ phản bội là chặt đầu, ném xác xuống suối! Nặng hơn thì cả một buôn bản bị tàn sát, không chừa một mống dù là con vật…”
Và, tác hại đắng cay của người Thượng:
“… Sau khi Cộng Sản chiếm trọn miền Nam năm 1975, hàng chục ngàn người Thượng đã bị lùa vào các “trại cải tạo,” lãnh tụ bị hành quyết, buôn bản cô lập, từng đoàn người già trẻ lớn bé phải vượt đường bộ tìm lẽ sống qua cái chết sang tị nạn tại các quốc gia láng giềng. Sự ngược đãi tưởng như chưa sắc dân nào trên thế giới chịu đựng nhiều hơn. Thậm chí gần đây, làn sóng người Thượng tị nạn từ Việt Nam sang Campuchia vẫn không ngưng, mà chỉ chậm lại khi chính quyền Campuchia ra lệnh trao trả lại Việt Nam những người tị nạn đó.
Bởi thế tính thời sự của cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh không hề suy giảm. Nó vẫn nóng bỏng với những chất vấn cho lương tâm nhân loại ở kỷ nguyên hiện đại này”.
Qua hai lần tái bản Vòng Đai Xanh, ghi lại tiêu biểu những dòng chia sẻ, nhận định của các vị thức giả và đồng nghiệp về tác phẩm:
* BS Trần Ngọc Ninh, GS đại học Y Khoa Sài Gòn, Tổng Trưởng Văn Hóa Xã Hội đặc trách Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa,: “Vòng Đai Xanh là một công trình của lương tâm và dấn thân can đảm. Ngay khi xuất bản lần đầu tiên, cuốn sách đã được giới trí thức miền Nam đón nhận rộng rãi và tán thưởng nhưng đồng thời cũng bị chính quyền miền Nam lên án là phá hoại…
… Đối với người Việt, thì thảm kịch của thời đại chúng ta là mọi cuộc chiến tranh hôm nay và cả trong tương lai đều mang mầm mống hủy hoại mà Vòng Đai Xanh như một điển hình đa diện và ở nhiều mức độ khác nhau. Những sắc dân Thượng ấy đã không có tiếng nói. Đến bao giờ thì ‘tiếng nói thầm lặng’ của họ mới thực sự được lắng nghe?”
* Mặc Đỗ, nhà văn, nhà nghiên cứu cùng Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan thành lập nhóm Quan Điểm, và thành viên sáng lập tờ nhật báo Tự Do đầu tiên ở Miền Nam: “Trong cơn lốc bão táp của cuộc chiến tranh Việt Nam đang bị sa lầy, các nhà quan sát như thành phần liên hệ đã đưa ra những quan điểm thiên lệch. Ngô Thế Vinh đã trực tiếp tham dự và Vòng Đai Xanh đã cống hiến chúng ta tất cả những sự kiện”.
* Theo Gerald C. Hickey, tác giả Free in the Forest, Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands, 1954-1976
“Tôi đọc Vòng Đai Xanh với nhiều quan tâm. Cuốn sách đã gợi lại ký ức về Cao Nguyên vào những năm 60 và cả những biến cố liên quan tới Phật Giáo và sinh viên cũng trong giai đoạn bất an đó. Rõ ràng là tác giả Ngô Thế Vinh đã hiểu biết rất rõ về các sắc dân Thượng cùng với những nguyện vọng của họ giữa và sau cuộc chiến tranh. Những tin tức hiện nay mà tôi nhận được từ Cao Nguyên thật đáng buồn. Người Thượng đang phải đối đầu với những mối đe dọa tệ hại hơn bao giờ hết trên nếp sống của họ. Cũng như người Pháp trước đây, người Mỹ đã dùng người Thượng và sau đó đã lạnh lùng bỏ rơi họ. Điều mà người ta có thể làm là cố gắng tạo mối quan tâm từ các nhà lãnh đạo Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn. Hy vọng và vẫn chỉ là hy vọng”.
* Theo Oscar Salemink, tác giả The Ethnography of Vietnam’s Central Highlanders: “Tôi rất xúc cảm về những hiểu biết, tầm nhìn xa và mối từ tâm mà Ngô Thế Vinh đã dàn trải trong Vòng Đai Xanh, cuốn sách được viết từ hơn 30 năm trước. Mặc dầu là một tiểu thuyết nhưng nhiều biến cố mang ‘dấu ấn lịch sử’ và một số nhân vật thì như là rất thật. Đối với những phe phái liên hệ, qua những biến động và nghịch cảnh, thì các sắc dân Thượng luôn luôn là hình ảnh nạn nhân của các chính sách và những cuộc tranh chấp.
* Jose Quiroga, Giám Đốc Chương Trình Các Nạn Nhân Bị Tra Tấn, Los Angeles: “Các sử gia, nhà báo, chính trị gia, các nhà quân sự và tiểu thuyết gia đã viết nhiều sách về cuộc chiến tranh Việt Nam. Vòng Đai Xanh là một tiểu thuyết mạnh mẽ, lôi cuốn và đặc sắc do một y sĩ nhà văn viết ra, về những tác hại của cuộc chiến tranh trên con người đặc biệt trên thiểu số những người Thượng sống trên các vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam và họ là nạn nhân của sự kỳ thị. Do vùng đất ấy vốn là địa bàn chiến lược trong cuộc chiến khiến cho cuộc sống vốn thanh bình của những người Thượng đã bị biến đổi vĩnh viễn. Các điều kiện nhân quyền của những nhóm người Thượng thiểu số cần được sự quan tâm của quốc tế.
* Nhà văn Nhật Tiến: “Đọc Vòng Đai Xanh, để thấy từ hơn ba thập niên trước, Ngô Thế Vinh đã vẽ lại khung cảnh một Cao Nguyên Trung phần Việt Nam với tất cả những khía cạnh bi thảm trong thời chiến, đã phơi bày đâu là cội nguồn của sự bất an và soi rọi ánh sáng của từ tâm vào thân phận của các sắc dân Thượng. Trên 30 năm đã trôi qua, tình cảnh của người Thượng hầu như không đổi khác nếu không muốn nói là tồi tệ hơn. Thế giới bên ngoài hầu như vẫn chưa nhận ra hết hệ quả của những định kiến sai lầm vốn đã góp phần vào những thảm kịch đó.”
* Nhà văn Phan Nhật Nam: “Nỗi đau thương của đất và người – người Việt Nam, người sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên luôn giữ nguyên sắc đột từ bao đời nay. Vận mệnh nước Việt miên Nam chỉ trong vòng 50 năm qua đã được quyết định từ những lần thất thủ, bỏ mất Tây Nguyên. Với tấc lòng tha thiết trung hậu, từ viễn kiến sắc sảo của kẻ sĩ dụng văn, Ngô Thế Vinh trong những năm xa xôi, lúc tuổi còn rất trẻ, đã thấy ra điều bất hạnh của 29 sắc dân thiểu số, viết nên cuốn sách về một vòng đai không hề nối kết được ở Tây Nguyên, “về một cuộc chiến bị lãng quên giữa chiến tranh Việt Nam, được nhắc nhở nhiều nhất trong lịch sử báo chí Mỹ”.
* Nguyễn Sa Mai, Wordbridge Magazine: “Vòng Đai Xanh không phải là một tường thuật về cuộc chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến tranh hao mòn đối với các phe tham chiến cho tới ngày sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975. Vòng Đai Xanh thực chất là chứng nhân cho nỗi thống khổ của con người nói chung, và cho cuộc đấu tranh sinh tồn của các dân cư trong cuộc chiến tranh ấy. Tác giả gọi đó là “cuộc chiến bị lãng quên” với những người Thượng trên Cao Nguyên Trung phần Việt Nam hoàn toàn không được bảo vệ, họ điển hình là những nạn nhân chiến tranh bị kẹt giữa hai làn đạn và không có lối thoát”.
* Ánh Nguyệt, Radio France Internationale: “Có lẽ Vòng Đai Xanh là một trong những tác phẩm hiếm hoi đã tìm kiếm và soi rọi căn nguyên cuộc chiến đấu của những sắc tộc thiểu số ở Tây nguyên . Ít ai nhìn thấy bên trong cái vẻ chất phác của những con người sống gần và sống với thiên nhiên ấy là niềm khao khát tự trị, tự do, giống như một ngọn lửa cháy mãi từ bao nhiêu năm qua mà không cơn cuồng phong nào dập tắt hẳn được. Nhưng khát vọng ấy nếu không bị vùi dập cũng đã bị bao nhiêu thế lực lợi dụng và, cho đến ngày nay tình thế của nguời Thượng vẫn không thay đổi.
… Vòng Đai Xanh vừa là cái nhìn tỉnh táo của một nhà quan sát, vừa là cảm xúc của một nguời cầm bút, là tấm lòng của một con người đối với con người bị áp bức, kém may mắn hơn mình về mọi mặt. Không chỉ ba mươi năm trước mà cho đến mãi mãi về sau, Vòng Đai Xanh vẫn xứng đáng là một tiểu thuyết tiêu biểu của một cuộc chiến đấu dai dẵng vì một khát vọng chính đáng”.
* GS Nguyễn Văn Tuấn, Garvan Institute, Sydney Australia: “Vòng Đai Xanh không phải chỉ là tiêu đề của cuốn tiêu thuyết, đó là một ý niệm quân sự từ Ngũ Giác Đài trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản trên toàn thế giới. Những đơn vị Mũ Xanh đã được thành lập với nhiệm vụ xâm nhập vào các cộng đồng sắc tộc thiểu số trên các vùng rừng núi cao nguyên, trong đó có Việt Nam nhằm biến những người Thượng thành những lực lượng quân sự có khả năng ngăn chặn sự xâm nhập của Bắc quân vào miền Nam Việt Nam, hay nói một cách khác họ tìm cách thiết lập một vòng đai xanh nhằm ngăn chặn cộng quân.
… Quyền lợi của người Mỹ không nhất thiết liên quan tới quyền lợi của người Thượng. Đó cũng là tấn thảm kịch khi quá lệ thuộc vào quyền lực ngoại bang. Vòng Đai Xanh viết về tấn thảm kịch ấy.
Mặc dầu tiểu thuyết Vòng Đai Xanh đề cập tới tấn thảm kịch của người Thượng ở Cao Nguyên trong cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng vẫn có thoáng xen kẽ vào đó là chuyện tình giữa một nhà báo và một cô gái thành thị trung lưu rất Tây phương và học thức có tên Như Nguyện. Câu chuyện tình ấy được kể bằng một ngôn ngữ rất tượng trưng và rất thơ mộng.
Vòng Đai Xanh sẽ giúp ích cho những ai muốn tìm hiểu về một ‘khía cạnh khác ít biết’ về giai đoạn can thiệp quân sự của người Mỹ ở Việt Nam”.
* Nhà văn Hoàng Mai Đạt: “Vòng Đai Xanh vẫn để lại trong người đọc một nỗi buồn về thân phận các dân tộc thiểu số trên Cao nguyên Việt Nam. Thân phận của họ đã bị dày xéo giữa các thế lực trong chiến tranh cũng như sau thời chiến. Sự tồn tại của dân tộc Thượng đang mỗi lúc một bi thảm hơn, bước dần tới sự diệt vong trong thế kỷ này. Ngô Thế Vinh đã viết Vòng Đai Xanh với phân tích thời sự trong thập niên 60 qua đôi mắt của một bác sĩ chuyên nghiệp, ông cũng viết tác phẩm này với lương tâm của một nhà văn”.
* Nhà văn Nguyễn Quốc Trụ, người bạn vong niên, trong bài viết Đỉnh Cồn, Vòng Đai Xanh, ghi nhận: “Thật kỳ cục, đọc Vòng Đai Xanh, tôi vẫn có cảm giác đây là một cuốn biên khảo, một thứ khảo cổ học (archeology), được sử dụng theo nghĩa của Michel Foucault, không họ hàng gì với địa chất học (geology), hoặc phả hệ học (genealogy). Ở đây là khảo cổ học về nguồn gốc một cuộc chiến (trong một cuộc chiến). Hoặc có thể coi đây là chương mở đầu của một trường thiên tiểu thuyết về cuộc chiến Việt Nam”.
* Tâm tình Ngô Thế Vinh qua Vòng Đai Xanh của Lại Mạnh Cường trong giới Y Khoa, trích đoạn: “Trong vai trò một chứng nhân lịch sử có ý thức thật cao, Ngô Thế Vinh mượn các nhân vật trong Vòng Đai Xanh như một diễn đàn, để phân tích thời cuộc tại Tây Nguyên thật sâu sắc. VĐX làm nhiệm vụ “cái móc áo”, để tác giải diễn đạt tâm tư thầm kín của mình trước tình thế dầu sôi lửa bỏng của quê hương và dân tộc.
… Trong VĐX tác giả nhiều lần dẫn chứng thái độ không nên không phải của người Mỹ đối với phía VN. Người Mỹ thường nói xấu đồng minh thân thiết nhất của mình. Họ chê bai, dè bỉu phía VN vừa lười vừa hay ăn hối lộ, ăn chặn tiền viện trợ… Cố vấn Mỹ lại thường tỏ thái độ trịch thượng, thích bắt chẹt khi phía VN nhờ vả trong bất cứ chuyện gì, kể cả khi cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Đã thế họ còn gieo tiếng xấu cho phía VN…”
*
Năm 1969, tôi về phục vụ tại Tiểu Đoàn 20 CTCT, biệt phái làm Trưởng Ban Điều Hành của Trung Tâm Hành Tâm Lý Chiến Vùng II Chiến Thuật nên có cơ hội đi khắp vùng cao nguyên. Vì ở nơi nầy nên nghe đề cập đến phong trào Fulro nổi dậy rất mạnh ở Cao Nguyên.
Dưới thời Vua Bảo Đại, người Thượng được hưởng quy chế tự trị hưởng đặc quyền, đất của họ được gọi là “Hoàng Triều Cương Thổ”. Nhưng dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, họ bị tước mất các quyền nói trên, nên họ nổi dậy phong trào mệnh danh là “Thượng Tự Trị”, khởi đầu từ năm 1957; và những năm sau cũng là thời cơ cho Thượng cộng tuyên truyền, khích đông lòng hận thù đối với người Kinh qua các vụ thảm sát thân nhân sĩ quan VNCH và cả thường dân.
Trung Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II thuyết phục đồng bào Thượng, hỗ trợ đời sống đồng bào Thượng từ phương tiện du chuyển đến y tế, trường học… và bổ nhiệm các nhân vật người Thương vào cơ quan công quyền. Là vị Tướng có công thu phục phong trào Fulro trong giai đoạn đó.
Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB – ARVNSF) đơn vị quân sự tinh nhuệ của Quân Lực VNCH nhưng sau những biến động chính trị nên bị giải tán.
Khi Mỹ hỗ trợ Lực Lượng Đặc Biệt (Special Forces) chỉ là tổ chức Dân Sự Chiến Đấu (CIDG – Civilian Irregular Defense Group) gồm toàn người Thượng cao nguyên. LLĐB được Mỹ huấn luyện, vũ trang, cung cấp quân nhu, tổ chức thành đơn vị đồn trú tại một số trại lớn rải rác ở miền núi, hành quân dọc theo biên giới giữa cao nguyên Việt Miên Lào. Mỗi trại được đặt dưới quyền chỉ huy của một số sĩ quan Quân Lực VNCH và một số sĩ quan Cố Vấn Hoa Kỳ… Khoảng tháng 9/1969, xảy ra chuyện đổi tiền đô la đỏ, chị tôi nhờ đổi giùm và quen với sĩ quan ở C2 LLĐB đồn trú ở Pleiku, gần Quân Đoàn, tôi mới biết thêm về binh chủng nầy.
Vì vậy khi tác phẩm Vòng Đai Xanh vừa ấn hành, tôi đọc rất thích vì tìm hiểu thêm về vai trò LLĐB và người Thượng cao nguyên trong thời chiến tranh.
Khi đọc tờ Bách Khoa (6/1972) nhà văn Ngô Thế Vinh cho biết: “Tôi đã phải tự cắt xén đi gần một nửa số trang của cuốn sách. Đó gần như một sự phá hỏng tác phẩm với mục đích để được xuất bản…
… Thoạt tiên anh Thế Nguyên chủ trương nhà Trình Bày, nhận xuất bản. Sau anh chịu thua kiểm duyệt. Anh Thế Uyên chủ trương nhà Thái Độ lại nhảy vào vòng tranh đấu và anh kiên nhẫn làm đơn từ lên xuống mãi, rồi sau cùng thì kiểm duyệt nhượng bộ, Thế Uyên thành công và Vòng Đai Xanh được ra đời sau những hậu thuẫn nhiệt thành của các anh em cầm bút trên báo chí”.

Lúc đó, cảm nhận lối hành văn qua bút ký của tác giả lôi cuốn người đọc vào tác phẩm, sự trăn trở, tình cảm sâu xa của tác giả của người Thượng, sự ngạo mạn của sĩ quan Mỹ Green Beret… Có lẽ điều đó bị kiểm duyệt vì sợ đụng chạm đến người bạn Đồng Minh.
Sau nầy khi đọc tác phẩm Khi Đồng Minh Tháo Chạy của TS Nguyễn Tiến Hưng, hồi tưởng lại trong Vòng Đai Xanh viết thời trai trẻ với tâm nhìn quá già dặn, xuất sắc.
Nhận được tác phẩm Vòng Đai Xanh – The Green Belt vừa mới ấn hành do tác giả gửi tặng. Qua email, Việt Hải khơi dòng:
“Nguyên thủy Vòng Đai Xanh không phải chỉ là một tác phẩm xếp dưới dạng loại tiểu thuyết, mà chính ra nó là một tập sách về thời cuộc, dạng xã hội chính trị, loại biên khảo sự liệu giữa nhiều yếu tố như người Thượng cao nguyên sống giữa 3 thế lực: người Mỹ, CS Bắc Việt và VNCH. Sách chỉ qua được sự kiểm duyệt của Bộ Thông Tin, nếu sách được trình bày như một cuốn tiểu thuyết. Bởi lẽ vì những yếu tố ‘nhậy cảm’ bên ‘phe ta’ cần những giới hạn ‘phải giới hạn’. Cho nên tác giả phải ‘ngụy trang’ sách như truyện tiểu thuyết, Khi ta nghiên cứu lịch sử hay chấp bút biên khảo môn nhân chủng về một sắc dân bị đè nén, bị thiệt thòi (có thể bị diệt chủng chẳng hạn), yếu tố công minh tôn trọng sự thật rất cần thiết đối với tình huống cho ngòi bút bị giới hạn bởi sự nhiêu khê, khi ta phải chọn lựa giữa 2 điều khó xử (dilemma of choices). Đề tài trong tác phẩm đã được tác giả nêu ra khéo léo về sự thiệt thòi của người Thượng đáng thương hại, nạn cửa quyền tham ô ăn chận viện trợ của quan ta, nạn hống hách của quan Mỹ, và sự tàn ác của CS.
… Đoc Vòng Đai Xanh tôi trân quý tác phẩm, tôi muốn tôn vinh ngòi bút Ngô Thế Vinh. Ra trường y khoa, một bác trẻ từ bỏ cuộc sống sung sướng của thủ đô với ánh đèn màu, tình nguyện gia nhập binh chủng tác chiến với màu áo camouflage, LLĐB trấn đóng nơi vùng Tam Biên, đèo heo hút gió ở khu vực Tam Giác Vàng, giữa 3 biên giới. Trong thời tiết khắt nghiệt chịu đựng giá rét mưa rào, địa thế ngã ba Đông Dương, giao điểm tiếp giáp Kon Tum (Việt Nam), Attapeu (Lào) và Rattanakiri (Campuchia). Người lính trận chịu đựng những gian nguy, khổ cực. Bao nhiêu người muốn như vậy?”.
Việt Hải nói tôi viết về Vòng Đai Xanh trong tình thế hiện nay… Khởi đầu Chương III, tác giả viết: “Trên khắp cao nguyên tôi ít thấy những người lính Mỹ nói tốt về các đồng minh Việt Nam của họ. Đó cũng là một lối diễn tả được coi là nhẹ nhất khi nói về mối ác cảm của dư luận báo chí Mỹ đối với những khó khăn Kinh Thượng ở cao nguyên…
… Thật không lúc khi chúng tôi đang đứng ở một cứ điểm nóng nhất của cuộc chiến tranh để nghĩ vẩn vơ về một dư luận bên trời Âu hay ở tận nước Mỹ”.
Từ cứ điểm nóng nhất ở đồi Delta năm 1969 đến nay đã hơn nửa thế kỷ ở Little Saigon, báo chí Mỹ hay truyền thông Mỹ đã đánh mất vai trò khách quan, trung thực, chính xác mà John Hohenberg, giáo sư báo chí của Đại Học Columbia đề cập trong quyển The Professsional Journalist. Truyền thông bây giờ càng ngày càng đi vào vũng lầy của dư luận, phe nhóm, đê tiện, dựng chuyện, Fake News… chửi bới lung tung, hạ cấp.
Với tác phẩm Vòng Đai Xanh, nếu tôi viết cũng là sự trùng lặp những dòng chia sẻ, nhận xét của nhiều cây bút đã nêu trên.
Little Saigon, Jan 23, 2021
Vương Trùng Dương



