• Tin tức

    Lệ Thu ơi, chào bạn

    Khánh Ly

    Đà Lạt 1963

    Tôi đã ở đây gần một năm. Đà Lạt thời gian này còn hoang sơ, sạch sẽ và êm ả. Mừng vì có việc làm. Được hát và có tiền. Lại nữa gia đình bên nội của con tôi cũng có cơ ngơi ở đây. Tôi có chỗ nương thân. Tôi quên mau những ngày tháng Sài Gòn đèn xanh, đèn đỏ. Tôi quên ngôi nhà có bà nội với tiếng đọc kinh rầm rì mỗi đêm. Quên cái buồng trống trên hở dưới trên dòng kinh nước đen như mực bên chợ Đa Kao. Căn buồng có chiếc giường mà nằm xuống là tôi có thể thấy mông của người nào đó vừa ngồi. Sài Gòn chỉ là thoáng nhớ mơ hồ trong tôi. Không vui, không buồn, không chờ mong. Tôi chẳng có gì, chẳng có ai để nhớ.

    Rất tình cờ tôi gặp lại Anh. Anh là người tôi đã gặp ở phòng trà Anh Vũ đường Bùi Viện bây giờ. Anh có vẻ ngạc nhiên, thích thú khi thấy ở đâu ra một con bé quê ệch mà lại biết và hát Chiều vàng (Nguyễn Văn Khánh), Con thuyền không bến (Đặng Thế Phong)... Anh bảo tôi đừng bao giờ quên nụ cười. “Vì nó sẽ mở ra cho em nhiều cánh cửa”, anh nói. Tôi thích Anh. Nhưng Anh thì không.

    Chúng tôi đi bên nhau trên con đường đất nhỏ. Anh ôm vai tôi như ôm một đứa em trai và nói: “Này Mai. Về Sài Gòn đi em nếu em muốn đeo đuổi nghề này”. “Em không về đâu. Anh biết đó. Về Sài Gòn em sống làm sao. Nhà không. Tiền không. Việc làm không. Sài Gòn không có chỗ nào cho em”. “Vậy em có gì ở đây? Về Sài Gòn em sẽ có nhiều cơ hội khá hơn”.

    Anh nói thêm: “Hiện nay có một ca sĩ mới nổi, hát bài Tiễn em (Phạm Duy – Cung Trầm Tưởng) hay lắm. Em có nghe Lệ Thu hát bao giờ chưa?”. “Em không biết. Em ở trên này làm sao mà nghe”.

    Tôi chia tay Anh và mau chóng quên những gì Anh vừa nói về Lệ Thu. Tên của cô ca sĩ đó không gợi cho tôi một chút nhớ gì. Mấy năm sau tôi mới biết Lệ Thu chính là cô bé đã khóc sau khi hát một nhạc phẩm của Lam Phương, lúc chúng tôi cùng trong ban Hoa Xuân.

    Tôi chắc Lệ Thu không nhớ đến con bé đen đủi đã chủ động đến hỏi han rồi tự giới thiệu: “Đằng ấy là Lệ Thu, còn tớ là Lệ Mai”. Bấy giờ, cô ấy đã là một tên tuổi được chú ý, được đánh giá cao. Chưa thể nào bằng Lệ Thanh, Thanh Thúy, nhưng Lệ Thu chen chân được ở đất Sài Gòn này cũng được coi là hay lắm rồi. Trong khi tôi vẫn chỉ là một bé con ngây ngô, nhút nhát chỉ muốn mãi mãi bám lấy Đà Lạt và coi như thế là nhất.

    Khánh Ly (phải) bên Lệ Thu trong bức ảnh cuối cùng bên nhau vào tháng 11/2020. Khánh Ly sinh năm 1945, Lệ Thu sinh năm 1943. Ảnh: Jimmy Nhựt Hà.

    Lệ Thu và tôi có một tình bạn không thân không sơ, lúc gần lúc xa trong suốt nửa thế kỷ. Tình bạn chúng tôi không hoàn toàn êm ấm, có thể có những điều không ưng ý nhau. Nhưng chúng tôi đã cùng trải qua vui buồn nửa thế kỷ. 50 năm. Ôi, một đời người thử hỏi được mấy lần 50 năm.

    Khi tôi vẫn làng nhàng trong giới sinh viên học sinh quân đội, Lệ Thu đã là “bà hoàng” của vũ trường, là tiếng hát sang cả của một tầng lớp quý tộc khoa bảng, những người nhiều tiền. Họ yêu tiếng hát Lệ Thu bởi chất giọng lành lạnh, kiêu kỳ. Tiếng hát của đỉnh cao vực sâu. Tiếng hát sắc lạnh như một vết chém. Dứt khoát. Không nương tay. Vết chém ngọt ngào.

    Nhiều lần hát chung, đứng bên cánh gà nhìn ra, tôi bồn chồn xốn xang nghe Lệ Thu hát, nghe những tràng pháo tay như sấm rền dành cho chị. Chưa đến lượt mình, tôi đã muốn tắt giọng. Đành là hồn ai nấy giữ, nhưng đứng trước Lệ Thu, tôi không còn một miếng tự tin nào.

    50 năm tình bạn, có lần tôi cũng nói xấu nàng. Tôi đã kể cho mọi người nghe chuyện chị ta làm biếng nấu cơm, rồi còn kể lể nào là vì là con một nên không biết nấu ăn, nào là do đẻ thiếu tháng nên được gia đình làm cho hết.

    Khoảng 20 năm trước, trong một lúc cao hứng tôi hứa sẽ kho cá cho nàng. Lời hứa thì phải ráng giữ. Nhưng rồi vì bận chồng con, tôi quên. Thu không nhắc suốt 20 năm. Cách đây chừng ba tháng, tôi kho một nồi cá xong rồi chia cho bà con. Nhờ Jimmy đưa hộp cá kho cho Thu. Nàng kinh ngạc vì chính nàng cũng không nhớ lời tôi hứa.

    Tháng 11/2020, một chương trình ở Mỹ mời cả hai quay chung. Lệ Thu và tôi đều quý cậu dẫn chương trình, lại được dịp hội ngộ, chúng tôi đồng ý ngay. Quay xong, vừa coi, Quang Thành hét tướng: “Hai cô trang điểm xấu quá, không được, phải quay lại”.

    Dù có tuổi phải giữ hình ảnh đẹp nhất trước công chúng chứ. Tôi thì dễ, quay lại thì quay, nhưng mọi người ngại nhất là “giọng ca vàng mười” Lệ Thu. Nàng vốn làm việc đâu ra đó, bỏ đi làm lại biết nàng có đồng ý, có thời gian không. Ấy vậy mà nàng đồng ý ngay mới lạ. Ngày quay, Jimmy đến đón tôi, rồi hai cô cháu tới đón chị Lệ Thu tại nhà riêng của chị đường Bolsa. Cả ba thẳng tiến phòng thâu. Đúng lúc chuẩn bị ghi hình, Lệ Thu hét tướng: Áo dài đâu rồi? Áo ở đâu ai biết. Thì ra, nàng để quên ở nhà. Cả đám nhìn nhau cười. Thằng bé Jimmy phóng như bay về nhà Lệ Thu lấy áo.

    Ai biết được đó lần cuối chúng tôi gặp nhau. Ai biết được ký ức cuối cùng chúng tôi giữ về nhau chỉ là câu chuyện nhỏ như thế.

    Lệ Thu đã bỏ đi. Lần trước quên áo. Lần này quên lời hứa với tôi, với Quang Thành. Lời hứa một tour xuyên Việt cho chương trình Vòng tay Nhân ái vào mùa hè tới ở Việt Nam. Nhiều người cho rằng hai cô ca sĩ này có ưa nhau bao giờ. Mọi người không biết rằng: Đối thủ của nhau lại chính là tri kỷ của nhau đấy chứ.

    Thu ơi. Tôi nhớ Thu lắm. Mọi người nhớ Thu. Thương tiếc Thu. Cả một đời, Thu hát cho người. Giờ Thu mang theo tiếng hát ấy đi, mang theo nụ cười ấy. Thu đi nhé. Chào bạn.

  • Tin tức

    Nhân lần Lam Phương ra đi, nghĩ về những kẻ viết nhạc bằng máu lệ người Nam

    Dẫn nhập: Trong hơn năm mươi năm (từ 1968) xử dụng chữ nghĩa, tôi hầu như không đề cập đến người và việc của giới ca nhạc, cho dẫu đã tham dự sinh hoạt ca hát trong phong trào Hướng Đạo mà những ca khúc yêu nước, nhạc thanh thiếu niên của thập niên 1940, 1950 là chất men nuôi dưỡng, phát triển, gìn giữ nên tâm chất của bản thân cũng như thế hệ chúng tôi từ năm tháng xa xưa kia cho đến hôm nay. Chỉ một lần duy nhất năm 1972, do thân quen với Trần Thiện Thanh qua những người bạn lính trong đơn vị nhảy dù (điễn hình với Trần D. Phước, Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù, danh hiệu truyền tin “Phước Thiện -Tên hai người ghé lại”, tử trận cuối năm 1969 tại Tây Ninh, và lần người niên trưởng Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo tử trận tại Cao Điểm Charlie, Kontum (12/4/1972), nên mới cộng tác với Nhật Trường thực hiện CD ca nhạc: “Người Ở Lại Charlie” do Trung Tâm Tiếng Hát Đôi Mươi của TTT sản xuất. Năm 2005, tại hải ngoại lập lại thêm một lần cũng với “Người Ở Lại Charlie” trong DVD ASIA 50 kỷ niệm Nhật Trường với lời hát và âm nhạc vĩnh cửu Anh Không Chết Đâu Anh. Sự thiếu vắng “Nhạc Tính” nơi những nội dung sáng tác dài lâu từ 1968 của tôi đã được một người bạn, anh Phg “râu”, (chuyên trình diễn ca nhạc tài tử từ Đà Lạt trước 1975 nay ở San José, California) tinh tế nhận xét và nói lên lời bình phẫm. Và tôi cùng đánh chấp nhập sự thiếu sót nầy với cách giải thích rất nhiều thành thật (cũng có phần hài hước): Đi lính năm 17 tuổi, chỉ có hai cái bằng Nhày Dù và Biệt Động Quân, nên cao lắm là biết violon làn đàn để trên vai (như Hg Th Thao) và guitar thì ôm trong tay (như TTT)! Sự thiếu sót trầm trọng kia sau 1975 khi đi tù mới vỡ ra.. Đêm Giao Thừa 1975 qua 1976 không hẹn mà tất cả trại tù nơi Miền Nam đồng cất tiếng Việt Nam! Việt Nam tên gọi vào đời! Và “Ta như nước dâng dâng hoài không bao giờ tàn…” Cuối cùng dần chuyển qua một cách rất có ý thức.. Cờ bay! Cờ bay… Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu Tiếng hát dũng mãnh phơi phới bay cao, vượt qua chấn song sắt trại giam, bất chấp sự đe dọa đòi bắn bỏ của đám vệ binh cộng sản Miền Bắc. Và sau 1976 nơi những trại tù Miền Bắc, hàng ngàn con người đói khổ, tuyệt vọng đã đồng bặt im lặng, nghẹn thở khi nghe âm vọng từ cây đàn tự chế dạo lời hát trầm buồn thăm thăm.. Mẹ ơi! Xuân nầy con không về.. Ôi biết ra thì đã quá muộn! Hóa ra đã quá vô tâm sau bao nhiêu năm trước 1975 người Miền Nam/Người Lình Miền Nam đã được tặng hiến hàng hàng chuỗi minh châu, ngọc kết, được an ủi, nâng đở bởi vô vàn tiếng hát lời ca từ Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang, Lê Minh Bằng, Trầm Tử Thiêng, Trịnh Lâm Ngân, Nhật Trường, Duy Khánh, Hoàng Anh, Ngọc Minh.. Và chung cho tất cả là Lam Phương như một ngọn lửa ấm áp mà người nông dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đốt lên trên cánh đồng đất ẩm mùi phù sa trãi dài mênh mông tận chân trời sau mùa mùa lúa mới gặt xong, chất lên những rơm khổng lồ nằm im lặng dưới trăng.. Hò lơ..hò lơ.. Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát. Biết ra thì đã quá muộn màng. Xin cho lời Ân Tạ như một cách xin lổi, hàm ân.                          

    Một. Ngày 30 Tháng 4 năm 1975 là một biến cố vô cùng lớn lao đối với tất cả các giai tầng xã hội Nam Việt Nam. Tuy nhiên trong số đông người Việt miền Nam hiện có mặt khắp nơi trên thế giới hôm nay có thể nói văn nghệ sĩ miền Nam là tập thể phải hứng chịu cơn chuyển đổi mạnh mẽ sâu xa nhất. Bởi khả năng nghệ thuật, tri thức nghề nghiệp của họ khó phát triển được nơi xứ lạ mà trở ngại cụ thể trước tiên là không thể nào vượt qua hàng rào ngôn ngữ dù cố gắng cải tiến tới đâu. Điễn hình như bộ môn cải luơng không cách gì chuyển sang tiếng ngoại quốc. Tuy nhiên, tập thể nghệ sĩ người Việt ra đi từ miền Nam vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển với những sáng tác của họ trong rất nhiều lãnh vực sau cuộc đổi đời khốc liệt 1975. Cụ thể là Nhạc Sĩ Lam Phương với những khúc hát đã một thời vang dội khắp miền Nam mà dẫu sau 45 năm (từ 1975), tiếng nhạc của người nghệ sĩ thuần hậu chân chính nầy vẫn tiếp tục tồn tại như thanh âm bất diệt của đất, nước, con người Miền Việt dù cách biệt bao xa, dù đã bao lâu.

    Cần trở lại từ đầu, ngày còn rất trẻ khi chưa đến 20 tuổi, Lam Phương đã dựng nên Khúc Ca Ngày Mùa (KCNM).. Đây là một bức tranh toàn bích về đời sống thanh bình, tươi sáng, hạnh phúc của nông thôn miền Nam sau 1954.. Bài hát đã vang dội khắp xóm làng, thành phố, nơi quán hàng, rạp chớp bóng, nhà ga, bến xe, bến bắc.. Nghĩa là nơi đâu có người hát và người nghe nhạc.. Thật kỳ lạ, vì người nhạc sĩ đã tạo dựng được cảnh tượng thôn dã sống động ấy khi đang sống tại Đa-Kao, Sàigòn trong một khu lao động lầy lội! Chúng ta không nói lời xưng tụng quá đáng, vì KCNM đã trở thành một bài hát của người Miền Nam và là cảnh sắc Miền Nam chứ không phải của một nơi nào khác. Và điều cảm động hơn hẳn là LP không chỉ là người tài hoa chuyên miêu tả cảnh sắc đồng quê như qua KCNM, mà ông còn là một nghệ sĩ với tâm chất sâu lắng thắm thiết qua bản Kiếp Nghèo và một người đã nghệ thuật hóa sự kiện chính trị lần chia cắt đất nước năm 1954 với nhạc phẩm Chuyến Đò Vĩ Tuyến dẫu không hề có sinh hoạt chính trị, thời sự – Đây là hai ca khúc có cấu trúc nhạc kỹ thuật cao với lời ca giàu cảm tính nghệ thuật mà ông đã sáng tạo nên vào lúc tuổi còn rất trẻ trong khu xóm nghèo ở Sài Gòn với thực tế hoàn toàn thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần, tâm lý..

    Hai. Biến cố 30 Tháng 4, 1975 đối với một số người có thể chỉ gây tác động bình thường tương đối, nhưng chắc đã quá lớn lao tàn nhẫn đối với một nghệ sĩ như Lam Phương, người nghệ sĩ có tâm chất vô cùng nhạy cảm hiện thực qua hơn 200 tác phẩm (mà đúng ra là 217 theo như tài liệu thống kê) đề cập đến tất cả tình huống, cảm xúc, tâm trạng của con người trong cuộc nhân sinh. Con người bình thường, nhỏ bé như tất cả chúng ta giữa cuộc sống khốc liệt của chiến tranh khởi động từ người, đảng cộng sản Hà Nội dài theo hậu bán Thế Kỷ 20 qua những biến cố 1954, 1968, 1972, 1975 và cao điểm là cảnh nước mất nhà tan lần sụp vỡ Miền Nam, 1975. Trong một bài báo phổ biến trước đây, nhà báo chuyên về sinh hoạt sân khấu âm nhạc Trường Kỳ đã một lần đề cập đến tâm lý bi quan, u uất của LP từ thuở hàn vi khó nhọc đến lúc thành nhân, thành công trước 1975, càng hiện thực hơn sau 1975 nơi hải ngoại.. Phải chăng dẫu đang lúc thành công rực rỡ nhất kéo dài trong hai thập niên sau 1954 đến 1975 ấy, LP đã linh cảm nỗi bi thảm không phải chỉ riêng cho cá nhân ông mà chung cho cả miền Nam, với hết Việt Nam. Điều nầy phản ảnh cụ thể qua những ca khúc có chủ đề “CHIỀU” chiếm một số lượng lớn rất rõ nét.. Cụ thể như bài nhạc đầu đời, Chiều Thu Ấy, và những bài sau 1975 như Chiều Hoang Đảo, cho dẫu Chiều Hành Quân trước 1975là bản nhạc nói về cuộc tình của Người Lính Miền Nam.. Tất cả những buổi chiều trong cấu trúc nhạc của Lam Phương đều mang hình tượng của những buổi chiều chia ly, tan vỡ, nhạt nhòa.. Điễn hình cụ thể nhất là Chiều Hoang Vắng vớinhững hình ảnh xa xót như:Có những chiều mưa buồn giăng giăng khắp lối. Có những chiều giá lạnh tím cả hoàng hôn. Tôi đi qua thôn xa heo hút lưng đèo. Rừng cây hoang vắng tiêu điều.. Với cảm tính nghệ sĩ cao độ, ông đã thấy trước những buổi chiều tàn tạ của quê hương, chiều hấp hối kiệt cùng của đất nước từ cuộc đổi đời khốc hại sau 30 Tháng 4, 1975! Chiều Tây Đô của Cần Thơ sau 1975 là điễn hình rõ nét với tính bi kịch cao độ về lần tan vỡ quê hương Miền Nam qua câu hỏi xa xót cay đắng: Bao năm giải phóng như thế nầy phải không anh?

    Với hơn 200 nhạc phẩm, LP đã đề cập hết tất cả những gì con người đã sống qua hạnh phúc lẫn khổ đau trong cuộc đời vô vàn nầy.. Mà theo như cảm quan thông thường, giới thưởng ngoạn xếp hạng những nhạc sĩ vào một thứ hạng chung nhất dễ phân loại như Vũ Thành An, Từ Công Phụng chuyên về tình ca; Trầm Tử Thiêng nghiêng về các vấn đề xã hội.. Nhưng quần chúng yêu nhạc LP hầu như đều băn khăn trước hằng hà tác phẩm của ông mà khó định hình, xếp hạng vào một thể loại nhạc nhất định. Điều nầy thể hiện qua sự kiện: Là một người miền Nam thuần chất nên ông vẽ lại đủ cảnh tượng thôn quê miền Nam trong KCNM là một điều dễ hiểu, hợp lý.. Nhưng tại sao, từ đâu ông lại viết nên Tình Cố Đô với những ca từ vô vàn thắm thiết: Buồn nhìn về xa xôi, Hà Nội ơi đã xa thật rồi. Mịt mùng ngàn trùng khơi, thành phố cũ lắng sau núi đồi. Đâu Thăng Long năm xưa, cùng tháp cũ rêu phai mờ. Còn tìm đâu nên thơ, cành liễu úa rũ bên ven hồ..Cũng bởiNhạc Sĩ Anh Bằng chỉ có thể viết nên lời xúc động: ”Tôi xa Hà Nội.. do đã hứng chịu cảnh chia ly của năm 1954, còn Lam Phương hoàn toàn không liên hệ với nơi chốn Hà Nội kia, cũng không mảy may dính dấp đền cuộc chia ly không hề có. Thế nên, quả là một điều bí ẩn kỳ diệu mà chỉ từ tấm lòng thuần hậu, thắm thiết của một (Thật) Nghệ Sĩ mới cấu tạo nên những ca từ chân thực và cấu trúc nhạc tuyệt vời như thế kia.  

    Cũng thế, chỉ từ một tấm lòng chân chất mến thương mới cảm nhận đủ Nỗi Đau qua lần chia ly Người Mẹ kính yêu, nên LP mới viết nên lời rất đỗi chân thành trong Khóc Mẹ – Người Mẹ Việt Nam với nỗi hy sinh thầm lặng vô bờ mà các nhạc sĩ Thu Hồ, Y Vân mới viết nên lời xưng tụng ân tạ. Cũng thế, chỉ từ Người Con-Lam Phương mới viết nên những giòng Khóc Mẹ cảm xúc.. Cát bụi này mẹ vừa yên thân. Sau bao năm nước mắt chảy xuôi. Con ra đi trong giờ mẹ hấp hối. Để muôn đời (con) thành kẻ vong ân.

    Không được có mặt với mẹ trong lần ra đi lần cuối, biến động 1975 còn giáng xuống đời ông sự mất mát tình cảm ngang trái – Không phải là tình cảnh riêng của gia đình Nhạc Sĩ Lam Phương mà cũng là đỗ vỡ chung của rất nhiều gia đình khác do từ lần đổi thay tàn nhẫn 1975. Tuy  nhiên cuối cùng cuộc đời vẫn không phụ kẻ có lòng, sau lần chịu đựng khổ nạn chung với toàn dân tộc, gánh riêng cảnh ngang trái trong cuộc sống tình cảm cá nhân, gặp phải tai nạn bệnh tật.. Nhạc Sĩ Lam Phương vẫn là, luôn là đối tượng thương yêu quý trọng của toàn gia đình gồm những người em với danh tính Anh Hai vô cùng kính mến. Ông vĩnh hằng là Nhạc Sĩ Lam Phương của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, những người lớn lên, ra đi từ Miền Nam.. Những người đã cùng ông chia xẽ Nắng Đẹp Miền Nam, đã sống trong những con hẻm đường về đêm nay vắng tanh nơi Đa Kao, Phú Nhuận.. Những người đã cùng ông lắng nghe đêm Sàigòn mưa rơi tí tách..

    Thưa cùng Nhạc Sĩ Lam Phương, xin nhận lời ân tạ chân thành của chúng tôi, thành phần người Miền Nam, Người Lính Cộng Hòa đã cùng ông gánh chịu cơn Thật Chết Với Quê Hương khi bầy đàn cướp nước “Tiến về Sàigòn ta quyết diệt giặc thù.. “, những kẻ gọi là “giải phóng” đến từ Miền Bắc, từ đầm lầy bưng biền Miền Nam. Vĩnh biệt nha Anh Hai! 

    Kết Từ.  Bài viết như trên thoạt tiên nghĩ rằng tạm đầy đủ để nói về Lam Phương, nhưng nhân có sự kiện sau đây liên hệ đến với một thành phần viết nhạc nơi Miền Nam khác, chúng tôi xin kể ra để làm sáng tỏ hơn tư cách nhân hậu cao thượng của Lam Phương. Tháng 11 năm 2019 trên diễn đàn văn học của Đài VOA có phổ biến nhận định của ký giả Mặc Lâm như sau.. “Có những câu nói bị xua đuổi, những câu nói bị phỉ nhổ, và cả những câu nói bị cho là thiểu năng nhưng khi ông nhạc sĩ Trần Long Ẩn nói nền Văn Học Nghệ Thuật của Miền Nam đáng bị “đóng đinh” thì nó trở thành câu nói bị khinh bỉ nhiều nhất từ xưa tới nay! Chuyện gì đã xẩy ra đối với một người gọi là “nhạc sĩ Trần Long Ẩn”, mà quả tình chúng tôi, người lính Miền Nam lần đầu tiên mới nghe đến tính danh, 2019. Ký giả Mặc Lâm giải thích tiếp: Sự khinh bỉ (đối với Ẩn-Pnn) đến từ người dân cả hai miền Nam-Bắc, từ cán bộ (Cộng sản-Pnn) đến nhân viên (Trong nước-Pnn) quèn trong công sở, từ thị dân tới người nông phu căng mình dưới ruộng bởi nó dính liền tới ý thức cảm nhận cái đẹp của con người. Đọc thêm những bài viết khác, chúng tôi dần hiểu ra câu câu chuyện.. Nguyên Trần Long Ẩn là một người gốc ở Bình Định năm 1966 vào Sảigòn theo học Đại Học Văn Khoa. Những Ẩn không học văn khoa mà lại vào khu theo cộng sản; năm 1970 Ẩn được đưa ra Hà Nội học nhạc lý theo tinh thần và nội dung xã hội chủ nghĩa. Sau 1975, Ẩn về Nam viết những ca khúc có tên Tình Đất Đỏ Miền Đông, Đi Qua Vùng Cỏ Non, Một Đời Người Một Rừng Cây..để ca ngợi lần toàn thắng cuộc chiến cướp nước của lực lượng cộng sản Miền Bắc có tiếp tay đắc lực/tối thậm vô nghĩa của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tóm lại, thành tích của Ẩn là hành vi trả ơn đối với Đảng Cộng Sản của một văn công (hạng thừa hành) mà ngay chính những kẻ có lương tri, lương năng tối thiểu cũng đồng im bặt.. Cho dù kẻ ấy là loại văn công được trả giá cao của chế độ Hà Nội như Văn Cao, Phạm Nhuận.. hoặc trong lãnh vực văn học như Chế Lan Viên, Tô Hoài.. Nhưng tại sao Ẩn “..tỏ ra cay cú đến gần như mất trí khi nói đến nền Văn Học Nghệ Thuật của vùng đất (của Miền Nam/VNCH-Pnn) mà trước đây ông ta được nuôi lớn lên, được học hành tới nơi tới chốn ngay giữa lòng Sài Gòn  (Mặc Lâm ibid). Bài viếtcủa một tác giảtrong nước nói rõ “sự cay cú như mất trí của Ẩn” có nguyên nhân là do:  Trong Hội nghị giao ban Quý III/2019 của Hội Đồng Lý Luận Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật TP.HCM, ngày 10/11 ông Trần Long Ẩn cho biết: “Chúng tôi đề xuất phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó (của VNCH-Pnn) xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa. Tại hội nghị của Hội Đồng Lý Luận Phê Bình nầy, Ẩn kêu gào.. “..phong trào cách mạng ở miền Nam (trước 1975-Pnn) trong văn học, nghệ thuật rất dữ dội, rất lớn thì (LẠI-Pnn) không biểu dương, không tôn vinh, không học tập, không nhân rộng mà lại đòi xóa nhòa không còn khái niệm âm nhạc cũ trước giải phóng (Âm nhạc Miền Nam/VNCH-PNN) nữa”. A hóa ra là vậy, tức là Người Miền Nam (cũng bao gồm người Miền Bắc) không hát, không nghe thứ gọi là “nhạc giải phóng, nhạc cách mạng” trong đó có những bài hát “nổi  tiếng” của Ẩn, của một văn công thứ cấp gọi là “nhạc sĩ Năm Ẩn”.

    Thế nên, coi như Năm Ẩn không hiểu, không nhận ra sự vất bỏ của quần chúng đối với “tác phẩm: âm nhạc của đương sự, chúng tôi từ tinh thần khách quan của người ngoài giới nghệ thuật sân khấu âm nhạc, cũng từ tinh thần đơn giản của Người Lính Miền Nam có nhận định sau đây căn cứ từ một bài  hát “nổi tiếng/nổi tiếng nhất” của Ẩn: Một Đời Người Một Rừng Cây.. Khi nghĩ về một đời người. Tôi thường nhớ về rừng cây… Và rừng sẽ lên xanh rừng giữ đất quê hương! Xin hát về bạn bè tôi. Những người sống vì mọi người. Ngày đêm canh giữ đất trời..Trích dẫn về nhạc và lời của “nhạc sĩ Năm Ân” đến đây coi như đủ để hỏi về một điều cụ thể: Nầy Năm Ẩn  (tên phổ thông của Ẩn ở Thành Ùy TP?HCM-Pnn) anh hãy chỉ cho chúng tôi “MỘT NGƯỜI/MỘT NGƯỜI THÔI HẲN ĐỦ/MỘT NGƯỜI CANH GIỮ ĐẤT TRỜI” nơi bộ chính trị đảng cộng sản ở Hà Nội?! Bởi vì nơi ấy từ rất lâu chỉ vang vang những lời chỉ đạo khẳng định: Để Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung Quốc giữ vẫn tốt hơn để bọn Mỹ-Ngụy – Lời Trường Chinh, nhân lần Hải quân Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, 19/1/1974. Nơi ấy cũng khắc ghi công ơn to lớn: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô. Đánh cho Trung Quốc.”. Nếu nhắc đến những người và việc kể trên trên e có phần xưa cũ, xa xôi vượt khỏi hiểu biết, khả năng, trách nhiệm của nhạc sĩ Năm Ẩn, nên chúng tôi xin kể ra những vụ việc của thời đại hôm nay, tại thời điểm những bài hát của Năm Ẩn được rầm rộ phổ biến (nhưng không người hát/không ai nghe).. đấy là lời: “Khai thác Bâu-xít là chủ trương lớn của Đảng”, của kẻ được gọi là thủ tướng Dũng khi đồng thuận cho nhà thầu Trung Cộng phá hủy toàn bộ thảm thực vật vùng Đồng Nai Thượng mà thiên nhên ngàn năm đã xây dựng trên quê hương Cao Nguyên Trung Phần. Đấy là xác nhận: “Formosa là điễn hình tiên tiến” của Tổng Bí Thư Trọng trước thảm họa rộng khắp lâu dài vùng biển Hà Tỉnh do nhà thầu formosa gây nên! Đấy là nhận định từ một chị ả người Bến Tre được đưa ra Hà Nội giữ chức vị “chủ tịch quốc hội”: “Trung ương (BCT-Pnn) đã quyết định, quốc hội chỉ biểu quyết thành luật!”đối với lần thuận nhượng ký kết cho tư bản nước ngoài (chủ yếu là tư bản TC) khai thác ba Đặc Khu Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc trong vòng 99 năm! Chúng tôi có thể kể ra một danh sách bất tận những “bạn bè” của Năm Ẩn.. Những người sống vì mọi người. Ngày đêm canh giữ đất trời?! Từ sáu tỉnh biên giới phía Bắc nay dùng bạc giấy in từ Bắc Kinh và nghe đài phát thanh tiếng Hoa đến cực Nam đất Mũi Cà Mâu với những bí thư tỉnh ủy, giám đốc công an tỉnh được bổ nhiệm bởi Bộ Chính Trị Hà Nội có quyền ký giấy cho người Hoa thuê đất rừng 50, 90 năm, và bảo vệ cho tư bản TC chiếm đất lập tô giới người Hoa trên đất Việt ở Đông Đô Đại Phố Bình Dương, ngay tại Sài Gòn, ở Thủ Thiêm nơi Năm Ẩn đang ngồi lập lý luận, phê bình văn hóa nghệ thuật “độc hại” của VNCH qua nhạc Boléro!       

    Nầy nhạc sĩ Năm Ẩn, anh không thể, không có quyền bắt người Việt trong nước hát lời ca ngợi.  Không thể hát lời ca ngợi kẻ bán nước. Không thể hát lời xưng tụng đứa sát nhân! Nhũng bài hát viết từ máu lệ Miền Nam – Cũng bao gồm “Huyền Thoại Mẹ” máu me, giả trá của Trịnh Công Sơn và rất nhiều, rất nhiều nhân sự thuộc tập đoàn “cộng sự sát nhân” với đảng cộng sản Hà Nội. Đối với đám nhân sự độc hại hạ tiện nầy, Anh Hai Lam Phương trung hậu và cao quý biết bao nhiêu.

    Phan Nhật Nam

    Sinh Nhật 77 tuổi

    28/12/1942-2020 

  • Khánh Lan

    Hải Âu Viễn Xứ

    Cầm mảnh bằng tú tài toàn phần trong tay, Khoa đi thẳng đến Trung Tâm Tuyển Mộ Hải Quân điền đơn xin gia nhập khóa 21 Sĩ Quan Hải Quân, mặc cho sự ngăn cản của bố mẹ.  Từ thuở ấu thơ Khoa đã yêu biển xanh cát trắng và khi khôn lớn anh yêu nếp sống hải hồ, phóng khoáng và mênh mông của đại dương bao la.  Chính vì vậy mà Khoa luôn ước mơ trở thành một chiến sĩ trong binh chủng Hải Quân, bộ quân phục màu trắng như có một mãnh lực thu hút tâm trí anh.  Ngày Khoa được Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ) nhận đơn gia nhập khóa 21 Sĩ Quan Hải Quân, mẹ anh đa khóc rất nhiều, nhưng bố anh với nét mặt nghiêm nghị khuyên anh. 

    • Con đã nghĩ kỹ rồi đấy chứ?  Đây là một quyết định quan trọng cho cuộc đời và tương lai của con. 
    • Vâng, thưa bố.  Con đã nghĩ rất kỹ.
    • Thế thì được. 

    Khóa 21 có 3 đại đội đi thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung gồm các đại đội 18C, 19D và 20E thuộc tiểu đoàn Trương Tấn Bửu, liên đoàn B, trại Châu Văn Tiếp, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.  Trại Châu Văn Tiếp và Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung thì chẳng có gì xa lạ đối với Khoa vì gia đình anh đã sống trong trại gia binh dành cho gia đình sĩ quan hiện đang phục vụ tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung hơn 8 năm.  Trại lính và nhà Khoa chỉ cách nhau một con đường nên thường ngày anh đã nhìn thấy những sinh hoạt của các chú lính.  Chẳng những thế, thỉnh thoảng Khoa vẫn thường là cậu bé đưa thư của mấy chú lính bên kia hàng rào kẽm gai cho chị Thu An.  Do đó ước mơ trở thành người lính đã in sâu trong tâm khảm của anh từ khi bố anh thuyển chuyển về vùng ngoại ô thành phố Sài Gòn và nhận chức trưởng trại ở đây.  

    Khoa thuộc đại đội 19D nên Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ) gửi đi học tại quân trường Bộ Binh Thủ Đức.   Sau 5 tháng khổ cực nơi quân trường, trải qua những giai đoạn huấn luyện về căn bản quân sự và kiến thức cá nhân chiến đấu đã đào tạo Khoa thành trung đội trưởng bộ binh gồm tấn công, phòng thủ, độn thổ, phục kích, dạ hành, vượt sông và nhị thức Bộ Binh Thiết Giáp.  Những bài học về địa hình gồm vòng cao độ, các loại đồi yên ngựa, đồi trọc, đường thông thủy, xác định điểm đứng bằng phương giác từ, lệnh hành quân và tham mưu cấp tiểu đoàn, v.v…

    Ngày ra trường đã đến, chiếc xe GMC Hải Quân thả Khoa và các đồng đội của anh xuống trại Bạch Đằng II, Khoa vẫn mang quân phục tác chiến Bộ Binh và Alfa Thủ Đức, đầu đội mũ sắt đen với huy hiệu “Cư An Tư Nguy”, Khoa theo bạn bè đi mua cặp lon.  Ngày mãn Khóa, bạn nào có vợ hoặc tình nhân thì được phép đến gắn lon cho tân khóa sinh, Khoa chưa có bạn gái nên chị Thu An đại diện gia đình lên gắn lon cho anh. 

    Tháng 8 năm 1970, khóa của Khoa tập họp tại Câu Lạc Bộ Nổi để chọn đơn vị, đơn vị Khoa bị chỉ định theo nhu cầu ra Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang (TTHLHQ/NT) nhưng phòng Tổng Quản Trị gọi Khoa về học khóa Communications Officer do Hải Quân Mỹ huấn luyện.  Mãn khóa truyền tin, Khoa thuyên chuyển về Duyên Đoàn 28 (ZD 28) tại Phan Thiết.  khóa là sĩ quan tuần tiễu.  Từ ngoài biển, qua ống nhòm nhìn xa, Khoa có thể dễ nhận ra các đỉnh núi, các mũi hay hòn đảo, những khu rừng trùng điệp, các loại đồi yên ngựa, đồi trọc, các khe suối cao.  Những năm tháng chiến đấu trên các sông ngòi nguy hiểm đã biến Khoa trở nên một chiến sĩ dày dạn với phong sương và không còn vẻ ngơ ngáo của một anh tân khóa sinh như những ngày đầu tạm trú ở Bạch Đằng II.  

    Ở Duyên Đoàn 28 (ZD 28) một thời gian, lúc ấy Khoa mang lon trung úy, anh xin xuống Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư, HQ 4.  (Chiến hạm HQ 4 mới về từ đảo Guam, vừa oanh liệt bắn chìm chiếc tàu mang số 645 của Bắc Việt giữa vùng biển Phú Quốc và đảo Thổ Châu).  Khoa xin thuyên chuyển qua chiến hạm HQ 4 vì HQ 4 có một đội ngũ nhân viên cơ hữu rất hùng hậu và gương mẫu; các sĩ quan trưởng phiên đều thâm niên và kinh nghiệm; các hạ sĩ quan giỏi về chuyên nghiệp; nhân viên rất kỷ luật và thuần thục.  Chiến hạm HQ 4 là chiến hạm lớn, một trong hai khu trục hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, hải quy và truyền thống hải quân được áp dụng triệt để và nghiêm chỉnh trên chiến hạm HQ 4.  Trục tuần tiễu của chiến hạm tuần dương thường xa đất liền và Khoa có dịp đặt chân lên nhiều hòn đảo xa xôi của Việt Nam như Cù Lao Thu, Cù Lao Ré, quần đảo Côn Sơn, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

    Cuối tháng tư 1975, Khoa trở về Sài Gòn trong hoang mang lo sợ anh liên lạc với gia đình và nhắn chị Thu An mang bố mẹ ra bến tàu để cùng đi, nhưng Bố Khoa là sĩ quan trưởng trại nên ông không thể bỏ trại và binh lính của mình.  Mẹ Khoa và chị Thư An quyết định ở lại chờ cùng đi với bố Khoa.  Khoa biết mình không thể ở lại Việt Nam nên anh quyết định ra đi với đồng đội.  

    Tháng Tư, 1975 khi thủ đô Sài-Gòn và đất nước Việt-Nam-Cộng-Hòa hoàn toàn toàn sụp đổ, các chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa rời bến, khởi hành từ Sài Gòn lúc 7:00 giờ tối ngày 29 tháng 4 năm 75 đến và tập trung tại Côn Sơn chiều ngày 30 tháng Tư.  Khi các thủy thủ đoàn và các chiến hạm thi hành lệnh tập trung tại Côn Sơn thì việc đi di tản hay trở lại Sài Gòn chưa thành một vấn đề nan giải.  Nhưng từ lúc Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố buông súng thì tình hình trở nên sôi động vì mọi người nhận ra rằng đây là chuyến đi sau cùng của hạm đội và sẽ không có ngày trở lại.   

    Chiều ngày 30 tháng 4, ngay sau khi đến Côn Sơn, một buổi hội đã được triệu tập trên HQ 3 gồm các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp có mặt tại điểm tập trung và có quyết định:    

    1. Về mặt cá nhân:  Những cá nhân không muốn rời Việt Nam và muốn trở lại Sài Gòn sẽ được cung cấp phương tiện về lại Sài Gòn.  Một hỏa vận hạm được chọn đến từng tàu bốc người muốn trở về và được chuyển vận trở về Vũng Tàu. 
    2. Về mặt chiến hạm gồm thủy thủ đoàn sẽ không di tản, mà ở lại Việt Nam.   

    Sau khi xem xét tình hình chính trị và tình trạng hạm đội, mọi người đồng ý liên lạc với Hoa Kỳ và nhà giúp đỡ.   Sáng sớm ngày 1 tháng 5, ông Armitage đại diện Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đến HQ 3, Hoa Kỳ đồng ý tiếp nhận hạm đội Việt Nam và đề nghị hạm đội di chuyển đến Căn cứ Hải quân Hoa Kỳ tại đảo Guam đem theo tất cả những ai muốn di tản cùng hạm đội khởi hành đi Subic Bay.

    Từ Côn Sơn đến Guam xa gần 2 ngàn 500 hải lý sẽ gặp một số trở ngại về tình trạng kỹ thuật và chở quá đông dân chúng di tản, (ước lượng khoảng 30 ngàn người) sẽ gặp nhiều khó khăn về thực phẩm.  Do đó Bộ tham mưu đề nghị đưa hạm đội đến Subic Bay xa chỉ khoảng trên 900 hải lý.  Mặc dù ông Armitage nhấn mạnh là phải đi Guam, nhưng Phó Đô đốc quyết định đi Phi Luật Tân.

    Ngày giờ khởi hành di tản là sáng ngày 1 tháng 5 chấm dứt những hoang mang của mọi người trên chiến hạm.  Trưa ngày 1 tháng 5, 1975, hạm đội khởi hành đi Subic Bay, Phi Luật Tân sau khi nhận tiếp vận đầy đủ dầu, nước và thực phẩm trước khi rời Sài Gòn.  Đây là chuyến hải hành cuối cùng của Hải Quân VNCH mang theo được hơn 30,000 người Việt di tản.  Hôm ấy, nhờ thời tiết tốt, sóng yên, biển lặng nên chuyến di tản thuận buồm xuôi gió.  Hải quân Hoa Kỳ nhận lời trợ giúp phần thực phẩm và y tế trong trường hợp thật cần thiết với dự định sẽ đến Phi Luật Tân vào chiều ngày 7 tháng 5, 1975.

    Sau vài ngày hải hành, khi sắp gần đến Phi Luật Tân thì nhận được tin là chính phủ Phi Luật Tân không chấp thuận cho hạm đội VNCH vào vịnh Subic và ra lịnh người tỵ nạn Việt Nam phải rời khỏi Phi Luật Tân.  Các Hạm đội Hải Quân Việt-Nam-Cộng-Hòa cũng không được phép cập bến vì còn treo cờ vàng 3 sọc đỏ.  Bộ tham mưu Hải Quân họp và đưa ra giải pháp là hạm đội đi Guam trong đó Hoa Kỳ đưa 30 ngàn đồng bào đến Guam bằng các tàu dân sự.  Nhưng Bộ tham mưu đề nghị là Hạm đội của Hải quân VNCH nên trao trả chiến hạm cho Hải quân Hoa Kỳ vì như thế các chiến hạm Hoa Kỳ sẽ được vào căn cứ Hải quân của mình tại Subic Bay với điều kiện:   

    • Tất cả đạn dược phải được ném xuống biển.  
    • Cờ VNCH phải được thay bằng cờ Hoa Kỳ.

    Hoa Kỳ phải tổ chức làm lễ bàn giao các chiến hạm của Hải Quân VNCH lại cho Hải Quân Hoa Kỳ.  Mỗi chiến hạm sẽ tiếp nhận một toán sĩ quan liên lạc Hoa Kỳ và thực hiện lễ hạ quốc kỳ VNCH và trương quốc kỳ Hoa Kỳ.   Lễ hạ cờ VNCH được cử hành cùng một lúc trên tất cả chiến hạm vào đúng 12 giờ trưa ngày 7 tháng 5 năm 1975.  Buổi lễ hạ cờ lịch sử trong không khí trang nghiêm và đầy xúc động, xóa bỏ danh hiệu và danh số Việt Nam.   Chiều ngày 7 tháng 5, hạm đội VNCH vào thả neo trong vịnh Subic Bay.  Chuyến di tản an toàn và bình yên, 30 ngàn người di tản được các viên chức Hoa Kỳ hướng dẫn sang các thương thuyền để chuyển sang đảo Guam.  

    Sau 10 ngày ở đảo Guam, Khoa và một số bạn trong cùng đơn vị được chuyển đến trại tị nạn Ford Chafee, tiểu bang Kansas chờ ngày phỏng vấn để được bảo trợ đi định cư tại Hoa Kỳ.  Một tháng sau, Khoa được một nhà thờ tin lành ở tiểu bang Washington DC bảo trợ và giới thiệu đi làm cho một du thuyền của Âu Châu, Regal Princess.  Có lẽ đây là việc làm thích hợp nhất với Khoa trong lúc này vì anh không có kinh nghiệm gì khác ngoài việc “Làm lính thủy “.  Vả lại, làm việc trên du thuyền Khoa có thể để dành được một khoản tiền khá lớn cho những dự định trong tương lai.  

    Công việc đầu tiên của Khoa trên du thuyền là rửa chén, dọn bàn và đổ rác.  Những đống chén, đĩa, nồi, chảo thì cao như núi và rửa cả ngày lẫn đêm vẫn không hết.  Những thùng rác khổng lồ nặng và to gấp mấy chục lần Khoa nên anh phải dùng rất nhiều sức để có thể di chuyển nó.  Những hôm trời mưa to gió lớn thì việc di chuyển những thùng rác là một cực hình vì cái thùng sắt khổng lồ này cứ trượt lên trượt xuống trên sàn tàu, đưa đẩy theo luồng gió và sóng biển đánh khá mạnh vào mạn tàu.  Có những lúc Khoa cũng phải bật cười khi một vài người khách trên du thuyền cho anh xem những đoạn video clip của họ.  Trong video clip, Khoa đang mặc poncho màu trắng, phủ kín thân thể anh từ đầu đến chân và anh thì đang cố gắng đẩy một thùng rác khổng lồ.  Tối hôm ấy, trời mưa mặng hạt, biển động nên sóng lớn và gió thổi khá mạnh khiến áo poncho của anh tung bay trong gió, còn anh và cái thùng rác thì cứ chạy lên chạy xuống trên sàn tàu trơn trượt, chập chờn như một bóng ma.  Xem xong video clip, Khoa vừa buồn cười vừa cảm thấy tủi thân.   

    Trên du thuyền lúc nào cũng có việc để làm và làm luôn tay, cả ngày Khoa cứ loanh quanh với công việc của mình, từ sửa soạn đến dọn dẹp cho bốn bữa sáng, trưa, chiều, tối là hết ngày.  Có những lúc Khoa mệt đờ người và buồn ngủ khủng khiếp, nên phấn lớn khi hết giờ làm việc anh vùi đầu vào giấc ngủ và không còn thì giờ để nhớ nhà hay suy nghĩ vẩn vơ.  Đã nhiều lần, Khoa bỏ cả bữa ăn để ngủ bù, chính vì vậy mà anh đã xụt mất gần 5 ký trong hai tháng đầu, nhưng sau đó anh quen dần với công việc, giờ giấc và tự luyện tập cho thân thể của mình thay đổi để thích hợp với thời khóa biểu làm việc trên du thuyền…

    Sau 24 tháng làm việc trên du thuyền Regal Princess, Khoa để dành được một số vốn, anh xin nghỉ việc và quyết định dọn về tiểu bang California.  Tại Orange County, Khoa nộp đơn xin học tại đại học California State University, Long Beach đồng thời anh liên lạc được với hai người bạn cùng đơn vị và rủ nhau mướn một căn hộ (apartment) trong chung cư  gần trường.  Khoa cùng hai người bạn chung tiền mua một chiếc xe hơi hiệu Pinto cũ để tiện việc đi lại.  Ngoài việc xin học bổng của tiểu bang (Basic Grant) Khoa còn xin làm việc trong trường (Work Study) nên cuộc sống của Khoa trở nên dễ dàng và thoải mái hơn.   Sau bốn năm, Khoa ra trường với bằng kỹ sư cơ khí (Mechanical Engineer) và được nhận vào làm việc cho hãng máy bay Boeing ở thành phố Irvine, tiểu bang California.  Từ khi đi làm, Khoa miệt mài với công việc và cố dành dụm tiền để giúp gia đình còn ở lại Việt Nam nên quên cả nghĩ đến bản thân, Khoa lại vốn có tính hơi nhát gái nên anh chẳng quen ai, mặc dù anh đã gần 40.  Ngoài giờ làm việc, Khoa gặp bạn bè, đi coi hát, đọc sách và chơi tennis vào cuối tuần… 

    Thủy Tiên là em họ của Toại và là bạn cùng phòng (Roommate) với Khoa từ thời cả hai còn học tại đại học California State University, Long Beach.  Thủy Tiên còn độc thân, nàng bắt đầu sự nghiệp hơi trễ vì nàng vượt biển qua Mỹ năm 1982.  Thủy Tiên kém Khoa 5 tuổi nhưng nàng nhìn rất trẻ so với số tuổi 34 của nàng.  Thủy Tiên không đẹp nhưng xinh xắn, duyên dáng, da trắng, má lún đồng tiền và thân thiện.  Thỉnh thoảng Khoa vẫn đi theo Toại và gặp Thủy Tiên trong những bữa tiệc Giáng Sinh hay cuối năm tại nhà nàng, nhưng chưa bao giờ anh dám ngỏ lời làm quen với Thủy Tiên; mặc dù anh rất mến nàng.  Một hôm Toại hỏi đùa với Khoa.

    • Này Khoa, mày định ở vậy suốt đời thật đấy à?
    • Không… nhưng có ai muốn lấy tao đâu?
    • Có, để tao làm mai cho mày… được không?
    • Được, nhưng mà là ai mới được chứ?
    • Còn ai vào đây nữa?  Con bé em họ tao, Thủy Tiên ấy. 
    • Nhưng biết Thủy Tiên có muốn lấy tao không?
    • Tao nghĩ, muốn chết đi được là cái chắc kẻo không chỉ vài năm nữa thì… 
    • Thì sao?
    • Thì ế… chổng mông lên mà gào chứ còn sao nữa.  Gớm, sao mà mày ngây thơ thế?

    Chỉ có thế mà một ngày đẹp trời của mùa xuân năm sau, Thủy Tiên nhận lời cầu hôn của Khoa và đám cưới được tổ chức trên một du thuyền tại cảng Long Beach vài tháng sau đó.  Đám cưới xong, Khoa đưa vợ đi hưởng hai tuần trăng mật ở Âu Châu và để tạo một ngạc nhiên bất ngờ cho Thủy Tiên, Khoa đặt mua vé trên du thuyền Regal Princess, chiếc du thuyền mà anh đã từng làm việc khi mới qua Mỹ.   Nhưng lần này, Khoa sẽ cùng Thủy Tiên vui hưởng những giây phút êm đềm hạnh phúc và thưởng ngoạn những phong cảnh hữu tình của những thành phố cổ kính Âu Châu, nhất là ghé thăm thủ đô ánh sáng Paris, thành phố của tình yêu… 

    … Hai năm sau, Thủy Tiên và Khoa hân hoan chào đón đứa con trai đầu lòng, Nam Phong sau một thời gian dài chờ đợi và lo lắng vì Thủy Tiên đã lớn tuổi.  Nam Phong sanh ra thật hoàn mỹ, khỏe mạnh và giống Khoa như hai giọt nước, nhưng lại thừa hưởng hai cái lúm đồng tiền và đôi mắt to đen của Thủy Tiên.  Sau khi sanh Nam Phong, Thủy Tiên quyết định nghỉ làm việc một vài năm để ở nhà và có nhiều thời gian chăm sóc con.   Thấm thoát đã 5 năm trôi qua, Nam Phong vào lớp mẫu giáo và Thủy Tiên cũng chuẩn bị đi làm trở lại. 

    Đầu năm 1987, một số cơ quan du lịch do người Mỹ làm chủ đã tổ chức những chuyến du lịch về Việt Nam nhưng Khoa cũng chưa dám nghĩ đến những chuyến du lịch mạo hiểm này.  Vinh là một trong hai người bạn cùng phòng với Khoa trước kia quyết định về thăm gia đình vì anh ấy còn kẹt vợ và con ở Sài Gòn trước năm 1975.  Khoa nhờ Vinh chuyển một ít tiền kèm theo một lá thơ về cho bố mẹ và chị Thu An.  Từ khi biết tin về gia đình, Khoa bắt đầu làm thủ tục giấy tờ để bảo lãnh bố mẹ và chị Thu An qua Mỹ đoàn tụ cùng vợ chồng anh.  Bố của Khoa cũng đã trở về sống với gia đình sau 12 năm tù đày và chị Thu An vẫn chưa lấy chồng. 

    Như thường lệ, mỗi năm, Khoa và Thủy Tiên thường xin nghỉ phép vài tuần để đưa Nam Phong đi nghỉ mát trong mấy tháng hè.  Lần này, Khoa mua vé xe lửa đi xuyên tiểu bang chơi, ngắm cảnh và tiện thể thăm vài người bạn còn đang sống ở tiểu bang Washington DC.  Nhưng Khoa đâu biết rằng đó là chuyến tàu định mệnh đã cướp đi một nửa đời anh.  Chuyến xe lửa bị trật đường rầy và lật xuống vực thẳm mang theo hơn 100 hành khách trong đó có Thủy Tiên.  Khoa bị văng ra khỏi toa xe và bị thương nặng trong lúc Nam Phong may mắn còn kẹt lại trong toa.  Khoa bị thương nhưng anh vẫn còn tỉnh đủ để có thể quan sát và nhận thức chuyện gì đang xảy ra.  Nằm bất động trên lề đường, Khoa thấy Nam Phong đang cố đẩy khung cửa sổ của toa xe như đang tìm cách để thoát ra ngoài với nét hoảng sợ và tái nhợt hiện rõ trên mặt.  Khoa muốn đứng dậy để giúp con nhưng toàn thân anh cứng dơ và tay chân anh không thể cử động được.   Khoa cố gọi tên con nhưng cổ họng anh như nghẹn lại, cố gắng lắm anh mới thều thào được hai tiếng “Nam Phong” nhưng giọng anh lại bị át đi bởi tiếng la hét chen lẫn tiếng khóc của hành khách và những nạn nhân kém may mắn như gia đình anh… Tiếng ồn càng lúc càng nhỏ dần… nhỏ dần rồi tắt lịm…

    Khi Khoa tỉnh dậy, anh biết mình đang nằm trong bệnh viện, tay và ngang lưng băng bột cứng đơ.  Bắc sĩ cho Khoa biết anh bị gãy tay và xương sườn phía bên trái, còn Nam Phong đang được tạm nuôi dưỡng trong trung tâm giữ trẻ.  Thủy Tiên đã không qua khỏi, nàng trút hơi thở cuối cùng trên trực thăng và trên đường đến bệnh viện. 

    Sau đám tang của Thủy Tiên, Nam Phong được ông bà ngoại đem về nuôi dưỡng trong thời gian Khoa chưa lành hẳn.   Sau sáu tháng điều trị Khoa đã hoàn toàn bình phục và đi làm trở lại, tuy nhiên Nam Phong vẫn được ông bà ngoại chăm sóc ban ngày nhưng Khoa đến đón con về nhà mỗi tối.  Mất mẹ khi Nam Phong còn quá bé nên Khoa muốn dành hết tình thương cho con, anh giữ vai trò vừa là cha vừa làm mẹ nên không còn thời gian để nghĩ đến bản thân.   Càng lớn, Nam Phong càng trở nên yếu đuối về mặt tinh thần, dễ bị hốt hoảng, hay xúc động, sợ bị bỏ rơi, luôn bám sát theo người lớn và nhất là không muốn ở một mình trong phòng hay ngồi trong xe hơi đóng kín cửa.  Nam Phong thường xuyên bị ám ảnh bởi những giấc mơ kinh dị nên Khoa quyết định đưa con đi gặp một cố vấn tâm lý chuyên môn cho trẻ em và nhờ bà giúp.  Bác sĩ cố vấn tâm lý cho biết là Nam Phong có triệu chứng Chứng Rối Loạn Do Căng Thẳng Sau Chấn Thương (Post-Tramatic Stress Disorder), một hội chứng của những nạn nhân từng chứng kiến những chuyện bi thương hay những việc chẳng an lành trong quá khứ.   Biết rõ về bịnh trạng của Nam Phong đã giúp Khoa hiểu và có thể hỗ trợ tinh thần cho con một cách hữu hiệu hơn.  Thương con, Khoa đã gạt bỏ mọi đam mê vật chất, hy sinh cả những tình cảm riêng tư của mình để chú tâm vào việc chăm sóc và nuôi dưỡng Nam Phong.  Phần Nam Phong, mỗi khi biết Khoa có bạn gái thì Nam Phong lại tỏ vẻ buồn bã, giận hờn và đôi khi còn nổi nóng với Khoa, nên Khoa thầm nhủ:  Đã hy sinh thì hy sinh cho trọn, Khoa quyết định “Độc thân tại chỗ” và giữ trọn vẹn ý tưởng “Gà trống nuôi con”…

    …15 năm sau, khi Nam Phong 18 tuổi và tốt nghiệp trung học thì Khoa đã ngoài 60.  Nam Phong nộp đơn và được nhận vào trường đại học Johns Hopkins, một đại học tư chuyên về lãnh vực nghiên cứu ở Baltimore, Maryland.  Có lẽ đây là lúc mà Nam Phong cảm nhận ra sự ích kỷ của mình và sự hy sinh cao cả của Khoa trong bao năm qua.  Như thường lệ, hai cha con Khoa hay đi ăn, đi nghe hòa nhạc vào tối thứ sáu, đi coi phim vào cuối tuần, v.v… Một hôm, đang ăn bữa tối với Khoa, Nam Phong buông đũa nhìn bố.   Khoa thấy lạ, anh cũng ngừng ăn và hỏi con.

    • Nam Phong, con có chuyện cần bàn với bố à?
    • Bố ạ, có lẽ đã đến lúc bố cần tìm cho mình một “Lady”.

    Khoa không trả lời con, anh nhìn con mỉm cười.  Thấy Khoa ngồi im lặng, Nam Phong nói. 

    • Thật đấy, một tuần nữa là con đi Maryland rồi. 
    • Thì có sao đâu. 
    • Từ nay bố sẽ ở nhà có một mình thôi đấy, con đi học xa, ít nhất là 4 năm. 
    • Nam Phong sợ bố cô đơn à? 

    Nam Phong ngồi im không trả lời Khoa.  Khoa cũng ngồi trong yên lặng, đã từ lâu anh không nghĩ đến hạnh phúc của riêng mình, bỗng hôm nay khi nghe Nam Phong hỏi, Khoa giật mình.  Một nỗi buồn da diết kéo đến trong tâm tư đánh thức cái cảm giác cô đơn, lẻ bóng từ bấy lâu nay đã ngủ yên khiến anh rùng mình.  Phải, 15 năm trôi qua như một giấc mơ, Khoa vì quá bận rộn với công việc tại sở làm và lo chu toàn trách nhiệm làm cha ở nhà, anh đã không có dư thời gian để đối diện với cuộc sống cô quạnh, đơn độc, trống vắng và thiếu hình bóng của người phụ nữ trong tim. 

    …Căn nhà trở nên trống vắng từ ngày Nam Phong rời nhà, bây giờ Khoa lại có quá nhiều thời gian rảnh rỗi mà không biết làm gì cho hết.  Đi ra đi vào cũng chỉ có một mình, coi TV, nghe nhạc mãi cũng chán, Khoa sách xe chạy lòng vòng quanh phố rồi ghé tiệm café Starbuck ngồi ngắm ông đi qua bà đi lại cho đỡ buồn.  Ngồi không chẳng có ai quen để tán gẫu, Khoa đảo mắt nhìn quanh và dừng lại nơi cuối phòng.  Trong một góc tối, người đàn bà trẻ đang ngồi nhìn ra ngoài song cửa kính, ly café trước mặt còn đầy nguyên, mái tóc dài ngang vai, rũ xuống che gần nửa khuôn mặt.  Thỉnh thoảng Khoa thấy nàng đưa khăn lên lau những giọt nước mắt đang lăn dài trên khuôn mặt xinh đẹp thoáng nét buồn.  Tò mò, Khoa quan sát nàng kỹ hơn, mắt anh như bị thu hút bởi hình dáng của người đàn bà trẻ ấy, nàng trông hao hao giống Tố Đoan em gái của Huy, bạn học của anh thời còn là sinh viên ở trường đại học Khoa Học tại Sài Gòn. 

    Do dự cả nửa tiếng Khoa đánh bạo tiến đến gần phía bàn của người đàn bà trẻ rồi dừng lại trước mặt nàng.  Người đàn bà trẻ vẫn ngồi yên, mắt vẫn không rời khoảng không gian tối đen như mực bên ngoài khung cửa kính và hình như nàng cũng chẳng hề quan tâm đến sự hiện diện của Khoa. 

    • Xin lỗi… trông cô quen quá, có phải tên cô là Tố Đoan em gái Trần Quang Huy không? 

    Người đàn bà trẻ quay lại, lau vội giọt nước mắt còn đọng trên khóe mắt. 

    • Vâng, Tố Đoan đây, anh là bạn anh Huy?
    • Anh Khoa đây, Đoan nhớ không?

    Tố Đoan đứng bật dậy, giọng reo vui.

    • Anh Khoa, Pham Nam Khoa? 
    • Đúng.  Anh Khoa “Cồ” đây. (Khoa có biệt hiệu Khoa “Cồ” vì anh to con)
    • Bao năm không gặp lại anh nên Đoan không nhận ra.
    • Đoan nhìn vẫn vậy, chi bớt xí xọng thì phải.

    Gặp lại Tố Đoan, Khoa mừng lắm, anh tự kéo ghế ngồi xuống đối diện với nàng.  Hình ảnh cô bé có mái tóc đuôi gà, nghịch ngợm, lén lỉnh, vòi vĩnh, thích làm nũng và làm dáng hiện ra trong ký ức Khoa.  Ngày ấy, mỗi lần đến học thi với Huy, Khoa không thể nào quên được nụ cười tươi tắn nở trên khuôn mặt trái soan của cô bé.  Có những lúc trái tim Khoa như bị rung động bởi vẻ đẹp ngây thơ trong trắng của Tố Đoan, nhưng anh giữ kín tình yêu đơn phương ấy vì “Tuổi nàng chỉ mới 13“. 

    Lần cuối Khoa gặp lại Tố Đoan, cách đây ít nhất hơn 10 năm, khi nàng cùng chồng đi dự buổi hòa nhạc của ca đoàn Ngàn Khơi, tổ chức tại Saigon Performing Arts Center, thành phố Fountain Valley, California.  Hôm ấy Khoa đi nghe nhạc cùng với vợ chồng Huy, anh không nhận ra Tố Đoan vì nàng không còn là cô bé tuổi 13 mà trước mặt anh, một Tố Đoan vô cùng xinh đẹp, quý phái và thanh nhã.  Mái tóc dài ngang vai, khuôn mặt thanh tú, ánh mắt đa tình và nụ cười như thu hút người đối diện khiến Khoa lại một lần nữa giấu kín mối tình đơn phương…

    …Thấy Tố Đoan ngồi một mình trong quán café, Khoa hỏi.

    • Phương đâu mà Đoan lại ngồi ở đây một mình thế này?

    Tố Đoan không trả lời, nàng đưa mắt nhìn ra cửa sổ như để che dấu giọt nước mắt đang muốn tuôn trào trong khóe mắt thoáng nét buồn.  Một lúc sau, Tố Đoan quay lại, nụ cười như muốn khóc nở trên môi. 

    • Đoan và anh Phương ly dị một năm nay rồi anh ạ.
    • Anh xin lỗi Đoan, Huy không nói gì nên anh không biết. 
    • Anh Huy không hề biết là Đoan và anh Phương xa nhau.  Em không muốn anh Huy buồn vì anh ấy rất quý Phương. 

    Cả hai im lặng một lúc thật lâu, Khoa trở nên lúng túng, vụng về, anh không biết phải làm gì, nói gì để xoa dịu vết thương trong tim Tố Đoan, một lúc sau, anh nói trong ngập ngừng.

    • Đoan ạ, em đừng buồn nữa, chuyện gì rồi cũng sẽ qua đi.  Phải mạnh mẽ lên thì mới có thể vượt qua những khổ đau và vết thương trong lòng mới lành lại được. 

    Tố Đoan vẫn ngồi yên, nét hồn nhiên yêu đời của ngày xưa đã biến mất để nhường chỗ cho vẻ u sầu bi thương trên khuôn mặt mệt mỏi.  Khoa ngồi yên lặng nhìn Tố Đoan, anh cảm thấy xót xa cho thân phận của những người con gái mang kiếp”Hồng nhan“.  

    • Trời đã khá khuya, Đoan có muốn anh đưa em về không?
    • Cám ơn anh, Đoan về một mình được. 
    • Đoan cho anh xin số điện thoại để tiện việc liên lạc được chứ? 
    • Vâng. 

    Trao đổi số điện thoại xong.  Khoa cùng Tố Đoan đi ra xe, anh đợi cho xe Tố Đoan đi khuất sau rặng thông nơi cuối đường rồi lặng lẽ bước vào xe.  Ngồi trong xe, Khoa không nổ máy xe ngay, đầu anh cứ luẩn quẩn hình bóng của Tố Đoan…

    Sau buổi tối hôm ấy, Khoa thường xuyên gặp và trở nên gần gũi với Tố Đoan hơn, nhưng chưa bao giờ nàng kể cho anh nghe về sự đổ vỡ giữa nàng và Phương.  Phần Khoa, anh cũng chẳng thắc mắc duyên cớ vì sao họ xa nhau, mà anh chỉ nhận thấy Tố Đoan rất dễ bị xúc động khi nàng nhắc đến tên Phương.  Đã một năm trôi qua nhưng Khoa vẫn e dè và chưa dám vượt qúa ranh giới của tình bạn.  Khoa cảm thấy như giữa anh và Tố Đoan có một khoảng cách vô hình ngăn cản bước tiến của hai con tim cô độc.  Điều mà Khoa biết rõ là càng lúc anh càng bị thu hút bởi vẻ u sầu, buồn bã và lạnh lùng của Tố Đoan.  Ở Tố Đoan như toát ra một vẻ quyến rũ lạ kỳ mà anh không thể nào giải thích được.  

    Mỗi tuần Khoa đều đón Tố Đoan đi dạo phố, đi ăn hoặc đi ngắm cảnh, những buổi gặp nhau như thế Khoa đều kín đáo quan sát Tố Đoan, anh nhận thấy Tố Đoan như một người với hai bản tính hoàn toàn trái ngược nhau, có những lúc nàng yêu đời, duyên dáng và cười nói líu lo như con chim họa mi nhưng đôi khi nàng trở nên trầm ngâm, dè đặt và xa vắng như một kẻ xa lạ.  Rõ ràng nhất là những buổi tối cùng anh đi dạo mát trên biển, là những lúc Tố Đoan trở nên dụt dè như một con sên thu mình trong vỏ ốc và hình như nàng không màng nhận biết đến sự hiện diện của anh đang đi bên cạnh.  Có lẽ đây là giây phút mà Tố Đoan nhớ lại những kỷ niệm êm ái giữa nàng và Phương, chỉ nghĩ đến điều ấy đã làm tim Khoa thắt lại, anh lặng lẽ bước bên Tố Đoan và cảm thấy thương cho mối tình đơn phương của mình.  Đã bao lần Khoa tự hỏi lòng mình, phải chăng anh chỉ là bóng mát khi trời đổ nắng, là mái trú an toàn trong cơn bão ái tình để Tố Đoan nương tựa trong những khoảng khắc cô đơn?  Và phải chăng Khoa chỉ là cái phao ngoài đại dương cho Tố Đoan bám víu trong trận cuồng phong?  Nhưng điều này cũng không mạnh đủ và làm cho Khoa dũ áo ra đi, có lẽ anh đã thực sự yêu Tố Đoan với một tình yêu thanh cao, một tâm hồn trong sạch.  Những suy nghĩ ấy khiến Khoa mỉm cười vu vơ và tự hỏi.   Đã ngoài 60 mà sao anh vẫn còn khờ khạo đến thế nhỉ?

    Phần Tố Đoan, nàng biết Khoa yêu mình tha thiết nhưng nàng không thể không nhận ra con tim mình đã chẳng cùng nhịp đập với Khoa.  Có nhiều lúc Tố Đoan cảm thấy hối hận vì hình như mình đang dùng tình cảm chân thành của Khoa để lấp đầy khoảng trống và nỗi cô đơn trong tâm hồn, nhưng Tố Đoan không hiểu tại sao nàng không thể dừng lại hoặc từ chối lời mời của Khoa.  Tại sao Đoan không thể chấp nhận được tình yêu của Khoa, chẳng lẽ nàng vẫn còn yêu Phương?  Hay chỉ vì Phương là người đầu tiên và duy nhất đi qua cuộc đời nàng?  Hay vì sự phản bội của Phương đã giết chết niềm tin nơi Đoan?  Với Khoa, Tố Đoan coi anh như một người bạn tri kỷ mà nàng có thể chia sẻ mọi cảm xúc, tâm tư mà không sợ hiểm nguy hay đau khổ, anh là tia sáng của những ngày u ám, là cơn mưa trên cánh đồng khô cạn và là niềm vui, sự vỗ về an ủi cho Tố Đoan trong cơn ác mộng “Nửa chừng xuân”…

    Khánh Lan 

    California, December 2020

    Tài liệu:

    1. Hải Quân VNCH Di Tản Sau 30 Tháng Tư 1975, Phó đề đốc Đinh Mạnh Hùng.
    2. Phạm Viết Khiết, Đại Đội 19D, Tiểu Đoàn Trương Tấn Bửu, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (năm 1970)
    3. http://www.nytimes.com/…/thieu-is-reported-arriving-in-taip…
    4. https://dongsongcu.wordpress.com/…/khi-sa-co-moi-biet-ai-l…
  • Khánh Lan

    THỦY CHUNG

    Uyển Diễm soi bóng mình trong gương một lần cuối trước khi bước ra cửa, chiều nay nàng có hẹn cùng Vy Hương đi xem buổi diễn binh nhân ngày Quân Lực 19 tháng 06 tại đại lộ Trần Hưng Đạo.  Anh Hùng, anh của Diễm đang theo học khóa 27 của trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.  Vy Hương là bạn thân của Diễm từ khi còn học lớp đệ tam trường Thiên Phước.  Ba má Vy Hương là bạn của bố mẹ Diễm nên ông bà coi nàng như con cháu trong nhà và nàng thường xuyên đến nhà Vy Hương chơi.  Trái hẳn với bản tính ngổ ngáo, vui vẻ, mạnh mẽ và lanh lẹn của Vy Hương, Uyển Diễm lại qúa nhút nhát, hay mằc cở và yếu đuối nên Vy Hương luôn luôn là người “bảo vệ” Diễm những lúc có ai đó “ăn hiếp” nàng.  Hai đứa thân nhau như hình với bóng, nơi đâu có Vy Hương là nơi ấy có Diễm, có nhiều lúc anh Hùng nói, “Lạ thật, hai đứa bay tính tình như mặt trời với mặt trăng mà sao lại có thể thân nhau như thế nhỉ?”  

    Vừa quẹo chìếc xe Yamaha vào sân nhà Vy Hương, Diễm đã nghe cô nàng la lên.

    • Nhanh lên Diễm, đi sớm dành được chỗ tốt.”
    • Ba má Hương không đi à?  Diễm hỏi.
    • Không, nắng qúa, bà “Bô” sợ bịnh, còn ông “Bô” tao còn phài đi đặt tiệc cho bữa chiều, anh Hùng được phép về nhà chơi tối nay.

    Nói xong, hai đứa chạy ra đường rồi nhảy vội vào chiếc taxi đang đậu chờ khách bên đường.  Đúng như Vy Hương nói, hai đứa đến sớm nên dành được chỗ đứng xem thật tốt, ngay phía đằng trước.  Vy Hương nói như hét vào tai Diễm.

    • Tí nữa thấy ông Hùng, mày hét phải hét to lên nhé.

    Càng gần đến giờ diễn hành, con đường Trần Hưng Đạo chật cứng người đến xem, chen chúc xô đẩy nhau, Diễm như càng lúc càng bị đẳy lùi ra phía sau.  Vy Hương nắm chặt tay Diễm kéo ngược về phía nàng, miệng lẩm bẩm, giọng đanh đá.

    • Mấy người này làm gì mà chen lấn dữ vậy.  Đến sau thì ra sau mà đứng, tôi xí chỗ này từ sáng sớm mà.

    Một tiếng sau, từng binh chủng diễn hành chen lẫn tiếng nhạc quân hành nối tiếp nhau đi qua chỗ Hương và Diễm đứng.  Những lá cờ tung bay trong gió, những tìếng hát vang trời và những tiếng giầy oai hùng nện vang trên đường, Diễm thấy lòng mình xúc động trong niềm hân hoan.  Diễm ngẩn người nhìn theo đoàn thanh niên đang đi theo tiếng gọi của tổ quốc làm nhiệm vụ của người trai trong thời loạn, chấp nhận thử thách lớn lao trong giai đoạn đầu của cuộc đời binh nghiệp.  Diễm bùi ngùi nhớ câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm. 

                “Chàng trẻ tuổi vốn dòng hào kiệt

                Xếp bút nghiên theo việc đao cung.”

    Khi trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt đi ngang, Diễm không rõ là Vy Hương có nhìn thấy anh Hùng không, nhưng miệng cô la to nhất.  Diễm đưa mắt nhìn theo những chàng trai trẻ oai hùng trong bộ quân phục của trường, màu trắng oai nghiêm với cầu vai và giây lưng viền đỏ kiên cường, nét mặt cương quyết khiến nàng như bị mê hoặc.  Có lẽ đây là lần đầu tiên Diễm bị thu hút bởi hình ảnh của người chiến sĩ.  Tấm huy hiệu của trường Võ Bị thật đẹp với hình thể dải đất hình chữ S nổi bật trên một tấm kiên màu xanh đậm.  Ôm vòng theo bản đồ Việt Nam là hình một con rồng màu vàng trên khung viền màu đỏ, hàm răng con rồng ngậm chật thanh kiếm.  Thật là một huy hiệu rất có ý nghĩa.

    Sau buổi diễn hành, Vy Hương rủ Diễm ở lại để dự bữa cơm gia đình tại nhà hàng Đồng Khánh và cũng chính bữa tiệc này đã là chiếc cầu định mệnh nối liền cuộc đời của nàng và Bảo.  Buổi chiều hôm ấy, anh Hùng về nhà mang theo một người bạn cùng khóa, Trịnh Gia Bảo với ý định giới thiệu cho em gái Vy Hương.  Chiều hôm ấy, Vy Hương và Diễm đang ngồi trong phòng học nghe nhạc và tâm sự thì anh Hùng và Bảo bước vào.  Vy Hương thật tự nhiên, nàng đứng lên tươi cười bắt tay Bảo theo lối tây phương vì Vy Hương theo học chương trình pháp thời trung học đệ nhất cấp nên rất dạn.  

    Trái ngược hẳn với Diễm, nàng được giáo dục bởi gia đình nho giáo nên rụt rè và nhút nhát.  Diễm đứng dậy, mặt đỏ gay, cúi đầu chào anh Hùng và Bảo rồi e thẹn ngồi xuống, thu gọn người vào một góc ghế sa-lông.  Suốt cả buồi chiều hôm ấy, Diễm chẳng biết nói gì nên ngồi cười trừ để Vy Hương tha hồ ngồi đấu khẩu cùng Bảo và anh Hùng…Và sau lần gặp gỡ ấy, Diễm lần lượt nhận được những lá thơ của Bảo từ Đà Lạt gởi về và chẳng bao lâu, Diễm trở thành người yêu của Bảo.  Đó là lý do Vy Hương thường đùa với Diễm câu:  “Tình Hương duyên Diễm” là thế.

    Từ đầu năm thứ ba, trường Võ Bị bắt đầu phân chia thành ba quân chủng, Hải, Lục và Không quân.  Anh Hùng và Bảo chọn đại đội Lục Quân đảm nhiệm công tác thông tin chiến tranh chính trị tại quân khu 1.  Chương trình rút gọn trong 4 tháng để có thể tốt nghiệp đúng ngày đã quy định nên các sinh viên phải học cả ngày thứ Bảy và Chủ Nhật.  Chương trình gồm chiến thuật và vũ khí trang bị cấp đại đội, súng cối, pháo binh, viễn thám, huấn luyện nhẩy dù, hành quân không trợ, v.v…nên Bảo rất bận rộn và không có thì giờ nhiều dành cho người yêu.  Diễm đón nhận những lá thư viết vội, ngắn nhưng chan chứa yêu thương và nhung nhớ mà không hề kêu ca hay trách móc người yêu.  Cuối năm 1973, Diễm thi đậu tú tài toàn phần và xin bố mẹ lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ lý do chính là để được ở gần Bảo. 

    Năm thứ ba cũng là năm mà các sinh viên sĩ quan của trường Võ Bị tổ chức lễ trao nhẫn truyền thống kỷ niệm thời gian thụ huấn tại trường.  Trong ngày hôm ấy các sinh viên sĩ quan được quyền chọn người trao nhẫn cho mình.  Diễm như chìm đắm trong niềm hân hoan và xúc động khi Bảo báo tin và mời nàng lãnh nhận nhiệm vụ cao qúy ấy.  Tháng 02, 1974, khóa 27 tiểu đoàn 1 về Sài Gòn học khóa 329 nhảy dù và nhảy biểu diễn tại sân Cù Đà Lạt.  Nhưng Diễm và Bảo ít được gặp nhau vì Bảo bận học.  Tuy nhiên, những dịp đặc biệt như thế, Diễm và Vy Hương luôn có mặt để khích lệ Bảo và anh Hùng.

    Ngày 27 tháng 12, 1974 là ngày lễ tốt nghiệp và mãn khóa của các sinh viên Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt tại Vũ Đình Trường Lê Lợi dưới sự chủ tọa của cố TT Nguyễn Văn Thiệu và được đặt tên là khóa Chuẩn Tướng Trương Hữu Đức.  182 tân sĩ quan tốt nghiệp, được cấp bằng cử nhân khoa học ứng dụng và văn bằng tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, gồm 24 sĩ quan Hải Quân, 148 sĩ quan Lục Quân và 10 sĩ quan Không Quân.   Trong ngày mãn khóa, các sinh viên sĩ quan được gắn cấp bậc Thiếu Úy, trao kiếm và cung tên, được tuyên dương công trạng trước quân đội Võ Bị Quốc Gia Việt Nam và gắn anh dũng bội tinh với nhành dương liễu cho quân kỳ của trường.  Ngày Bảo tốt nghiệp trường Võ Bị, Diễm là khách mời danh dự của trường vì Bảo đậu thủ khoa.  Bảo bước ra nhận lon thiếu uý và đại diện cho khóa 27 sĩ quan Võ Bị đọc bài diễn văn khai mạc.  Bảo oai phong, chững chạc trong bộ quân phục đại lễ.  Còn Diễm, nàng như chìm đắm trong niềm hãnh diện.  Những sinh viên tốt nghiệp trong lãnh vực văn hóa, quân sự, thể chất và lãnh đạo chỉ huy, họ sẵn sàng lên đường phục vụ tổ quốc, quân đội và dân tộc.  Diễm bỗng rùng mình qua bốn chữ “sẵn sàng phụ vụ”, nó có nghĩa là nàng có thể mất Bảo qua hòn tên mũi đạn.  Hai câu thơ trong bài thơ “Phận Làm Trai” của Nguyễn Công Trứ như xoáy vào tim óc Diễm, khiến Diễm không ngăn được xúc động, hai hàng nước mắt lăn dài trên má từ bao giờ.

                “ Có trung hiếu nên đứng trong trời đất

                Không công danh thà nát với cỏ cây.”

    Diễm giật mình quay lại khi nhận thấy một bàn tay đặt nhẹ lên vai nàng, Bảo đã đứng sau lưng nàng tự bao giờ, thấy mắt Diễm mờ lệ, anh ôm bờ vai gầy của Diễm, hôn nhẹ lên tóc người yêu, thì thầm như chỉ đủ để nàng nghe.

    • Em khóc đấy à?

    Diễm lau vội những giọt nước mắt, quay lại nhìn Bảo, nàng tựa đầu vào vai Bảo, mặc cho con tim mình thổn thức…

    …Bảo chọn Sư Đoàn 25/Bộ Binh,06 Biệt Cách 81 nhẩy dù và sau khi thụ huấn những khóa huấn luyện có liên quan đến binh chủng của mình.  Ngày 31 tháng 12, 1974 Bảo cùng 144 tân binh sĩ Lục Quân lên đường đến Dục Mỹ, Nha Trang để thụ huấn một khóa hành quân biệt động rừng núi, sình lầy trong vòng 4 tuần và khóa bảo trì quân trang quân dụng thêm một tuần trước khi kết thúc khóa học ngày 04 tháng 01, 1975.  Rời Dục Mỹ, Nha Trang các sĩ quan khóa 27 Lục Quân trở về Sài Gòn tham dự khóa phát triển hiệu năng quân lực thêm ba tuần nữa từ ngày 20 tháng 02 đến ngày 12 tháng 03, 1975.  Tại đây, các khóa sinh được phát bằng cử nhân khoa học ứng dụng, chứng chỉ tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Bằng nhảy dù.  Sau ngày ra trường, Diễm run lên vì sợ khi nghe Bảo quyết định gia nhập binh chủng “BIỆT HẢI”, phòng 7, nha kỹ thuật, nhưng đó là giấc mơ của Bảo, nên nàng đành in lặng.  Chỉ vài ngày sau, Bảo từ giã gia đình và Diễm để ra đơn vị.

                “Ra trường danh lợi vinh liền nhục

                Vào cuộc trần ai khóc trước cười”

                         (Con đường làm quan, Nguyễn Công Trứ.)

    …Đầu tháng tư năm 1975, tình hình chiến tranh càng ngày càng căng thẳng.  Những trận chiến ác liệt diễn ra hàng ngày và khắp nơi.  Bố mẹ Diễm muốn nàng trở về Sài Gòn và khi miền Nam Việt Nam thất thủ, đơn vị của Bảo cũng được lệnh tan hàng, anh tìm đường trở về Sài Gòn gặp Diễm.  Đám cưới của Bảo và Diễm tổ chức giản dị trong lúc đất nước đang trong cơn loạn lạc, chỉ hai tuần trước ngày biến cố 1975.  Diễm lại chính là người khuyên chồng nên ra trình diện vì nàng tưởng Bảo chỉ phải đi học tập cải tạo có một tháng rồi về, như lời hứa của chính phủ Bắc Việt trên máy phóng thanh.  Diễm có ngờ đâu, đó cũng là lần cuối cùng hai vợ chồng được ở bên cạnh nhau…

    …Lần cuối cùng Diễm đi thăm chồng ở trại tù cải tạo tỉnh Thanh Hóa, Bắc Việt, Diễm làm một cái bánh ga-tô, nàng nhét vào đó một ít tiền và vài chỉ vàng để Bảo tiêu dùng trong thời gian xa vắng Diễm.  Bảo ra hiệu cho Diễn nên theo gia đình đi vượt biên và hẹn gặp lại nàng sau khi mãn tù.  Bảo trao cho Diễm một chiếc lược bằng nhôm mà anh đã khéo léo mài gọt trong nhưng ngày trong lao lý, trên cán của chiếc lược, anh khắc hai chữ Bảo & Diễm.  Đó là kỷ vật và cũng là lần cuối cùng Diễm gặp chồng trước khi rời Việt Nam…

    …15 năm chờ đợi đã được đền bù thật xứng đáng.  Diễm như người sống trong mộng ảo khi nghe tin Bảo trốn thoát khỏi trại tù cải tạo, vượt biên và đang ở trại tị nạn bên Philippine.   Diễm vội vã đáp máy bay đi thẳng qua Philippine để làm thủ tục bảo lãnh cho chồng.  Gặp chồng, Diễm đứng lặng người, Bảo sau bao năm tù đầy, chàng đã thay đổi khá nhiều.

    Ba tháng trôi qua, Diễm đếm từng ngày, mong từng giờ, sửa soạn và chuẩn bị từ tâm hồn đến thể xác, chờ ngày ra phi trường đón Bảo.  Nghĩ đến ngày đoàn tụ, Diễm thầm cám ơn Thương Đế, nàng nhắm mắt để tận hưởng những giây phút hạnh phúc tuyệt vời xắp sửa đến cho cuộc đời mình.

    Mùa xuân đến thật đúng lúc, những bông hoa muôn mầu nở rộ trên khắp đường phố, cũng như những cánh hoa yêu thương đang nhảy múa trong lòng Diễm, khi nàng được tin Bảo sẽ đáp chuyến bay quốc tế Boeing 747, rời Philippine và sẽ đến phi trường LAX lúc 11 giờ sáng ngày mai.  Diễm muốn hét lên thật to, “Thôi nhé Uyển Diễm, giã từ những ngày cô đơn lẻ bóng.”  Diễm lục tung tủ áo, cẩn thận chọn cho mình một cái áo dài thật đẹp, mầu tím hoa tigon nhạt mà cả hai đứa vẫn yêu.  Cả đêm hôm ấy, Diễm thao thức và không thể nào nhắm mắt được, nàng chỉ mong trời mau sáng để được ngã vào vòng tay yêu thương của Bảo, đền bù cho những ngày xa cách…

    …Một năm sau, Bảo và Diễm hân hoan chào đón đứa con trai đầu lòng, cả hai đều đồng ý đặt tên con là Trịnh Bảo Gia Đoàn,có nghĩa là sự kết hợp giữa hai dòng họ Trịnh & Đoàn và cũng là để ghi nhớ ngày đoàn tụ (Gia Đoàn là gia đình đoàn tụ) của vợ chồng Diễm và Bảo.

    20 năm trôi qua, Gia Đoàn đã 20 tuổi và đang theo học ngành y khoa tại trường đại học UCLA.  Diễm không còn muốn ao ước thêm gì nữa, vì nàng biết, vợ chồng nàng đang chìm đắm trong hồng phúc mà Thượng Đế đã ban cho gia đình nàng.  Nào ngờ, hai tháng sau ngày kỷ niệm ngày cưới của hai vợ chồng, Diễm bàng hoàng khi nghe bệnh viện báo hung tin là Bảo bị đột khụy ngay trong sở làm và đang nằm trong phòng hồi sinh (ICU).  Diễm vội vã bỏ sở chạy thẳng đến bệnh viện.  Trong phòng hồi sinh, Bảo nằm bất động trên giường, hai mắt nhắm chật, trên người chàng chẳng chịt những giây, máy thở, máy trợ tim.  Diễm lao người đến bên giường của Bảo, nâng bàn tay của chồng lên, áp nhẹ vào má, hai hàng nước tuôn trào trên má như một dòng suối.

    Hơn sáu tháng điều dưỡng ở trung tâm phục hồi, sức khỏe của Bảo có phần khả quan hơn, nhưng cơn tai biến mạch máu đã ảnh hưởng đến một phần thân thể và trí nhớ của Bảo, chàng trở nên ngây ngô như một đứa trẻ thơ.  Diễm quyết định mang Bảo về nhà, nàng xin nghỉ việc và ở nhà để tự mình chăm sóc cho chồng… 

    …Đã bao năm trôi qua, sáng nào Diễm cũng đẩy chồng trên chiếc xe lăn, đưa chồng tới một công viên gần nhà, đến bờ hồ năm xưa, nơi mà Diễm và Bảo thường hay đi dạo mỗi buổi chiều để ngắm hàng cây phượng tím cạnh bờ hồ, để nhìn theo đàn thiên nga tung tăng bơi lội, đùa vui trên mặt hồ.  Đây cũng là nơi đã chôn vùi bao nhiêu kỷ niệm của hai vợ chồng khi Bảo còn khỏe.  Diễm dua Bảo đến đây mỗi ngày với hy vọng phục hồi lại  trí nhớ của Bảo, nhưng có lẽ đó chỉ là một giấc mơ trong Diễm vì càng ngày bịnh mất trí nhớ của Bảo lại càng nặng thêm.  Phải, chứng bịnh “Alzheimer” quái ác kia đã tàn phá hoàn toàn bộ óc của Bảo, chàng không nhận biết những gì xẩy ra quanh mình.  Thậm trí, Bảo không còn nhớ Diễm là vợ của anh nữa…

    Tiếng hát của cô ca sĩ hàng xóm, Tuyết Hồng từ phía nhà bên cạnh vọng ra bài nhạc kích động.

                “Nếu có yêu tôi 

                Thì yêu tôi bây giờ

                Đừng để ngày mai

                Đến lúc tôi qua đời…”

    Bảo đang ngồi trên ghế chờ vợ, anh lắng tai nghe, mắt nhìn về hướng có tiếng hát vọng lại, thỉnh thoảng mỉm cười một mình.  Diễm từ trong phòng ngủ bước ra, nàng đỡ Bảo ngồi lên chiếc xe lăn rồi với tay lấy cái mũ “phớt” đội lên đầu chồng, xong nói nhỏ vào tai Bảo.

    • Em đưa mình đi dạo mát nhé. 
    • Đi chơi à. 
    • Vâng, đi xuống đồi hóng gió cho khỏe anh ạ.

    Không thấy Bảo trả lời, Diễm với tay lấy cái giỏ trên bàn, khoác lên vai, rồi đẩy chiếc xe lăn của chồng ra khỏi nhà.   Chỉ khoảng năm phút sau là họ đến một công viên ở gần đấy.  Diễm đẩy chiếc xe lăn về hướng hồ sen, tiến gần đến một băng ghế dài đặt dưới gốc cây phượng tím.  Diễm dừng chiếc xe lăn lại, rồi đi vòng ra phía trước của chiếc xe lăn, nàng cẩn thận khóa cái thắng của xe lăn lại trước khi ngồi xuống cạnh bên chồng.  Diễn đưa tay gỡ cái nón trên đầu Bảo, vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trên trán chồng, nàng cầm nón, phe phẩy trước mặt chồng cho mát, rồi ghé tai Bảo, nhẹ nhàng nói:  

    • Mình ngồi đây cho mát, anh nhé.

    Bảo ngước mặt lên nhìn vợ, tay chàng giữ chật lấy cánh tay Diễm, với một giọng run run, lo lắng, Bảo hỏi. 

    • Chỗ này là chỗ nào vậy chị?  Tôi chưa đến đây bao giờ. 

    Diễm mỉm cười, gỡ tay Bảo ra, rồi với tay lấy trong giỏ sách một bình nước lọc nhỏ, đưa cho Bảo.  Giọng dịu dàng. 

    • Anh uống nước cho đỡ khát. 

    Bảo đưa tay đỡ lấy chai nước, đưa lên miệng. 

    • Đây là Parata park gần nhà, mình ra đây mỗi buổi sáng, anh không nhớ sao?
    • Thế à…

    Rồi Bảo quay mặt ra phía hồ nước, không nói gì, mắt nhìn đăm đăm vào khoảng không.  Diễm đưa mắt nhìn dọc theo con đường nhỏ chạy vòng quanh bờ hồ, hàng cây phượng tím vẫn nở rộ, phản chiếu trên mặt hồ tạo nên một bức tranh thủy mạc tuyệt đẹp.  Trên mặt hồ, từng cặp thiên nga đang bơi cạnh nhau như những cặp tình nhân đang thưởng ngoạn phong cảnh hữu tình, gợi nhớ trong tâm trí Diễm những ngày thơ mộng và hạnh phúc của hai vợ chồng tựa như một cuốn phim đang quay chậm, nàng buông tiếng thở dài.  Bỗng tiếng nói của Bảo, khiến Diễm giật mình quay lại.

    • Đây là đâu vậy chị? 
    • Mình đang ở ngoài công viên gần nhà, anh không nhớ à? 
    • Thế à. 
    • Vâng, anh có nhớ chúng mình vẫn hay đi dạo ở đây mỗi buổi chiều để ngắm hàng cây phượng tím.

    Diễm chỉ tay về phía hàng cây phượng vĩ.  Bảo nhìn theo chỉ tay của Diễm.

    • Thế à…
    • Có khi, đúng ngày rằm, khoảng 15 tháng 10, rằm Trung Thu, anh hay đưa em ra đây ngắm trăng.

    Ngừng một chút, Diễm nói tiếp giọng nàng nghẹn lại như muốn khóc.

    • Hoặc ngày Bốn tháng Bẩy là ngày lễ Độc Lập, mình cũng hay ra xem pháo bông ở đây.  
    • Thế à.
    • Vâng, anh có nhớ chúng mình hay ngồi ở cái ghế này, ngắm đàn thiên nga đang bơi đó…
    • Thế à.

    Hai người lại ngồi yên trong lặng lẽ, bỗng dưng Bảo quay lại, đập nhè nhẹ vào tay Diễm hỏi. 

    • Chị ơi, chỗ nầy là ở đâu?

    Như đã quen với những câu hỏi của Bảo và như đã thuộc lòng câu trả lời.  Diễm trả lời chồng như một cái máy đã được ghi âm sẵn. 

    • À, mình đang ngồi tại bờ hồ của Parata Park đấy. 
    • Thế à.

    Ngừng một chút, Diễm quay sang Bảo, khẽ nói. 

    • Nắng đã lên cao, mình về thôi anh ạ.  

    Không thấy Bảo nói gì, Diễm đứng dậy, đội cái mũ lên đầu cho chồng, rồi đẩy chiếc xe lăn hướng về nhà.  Về gần đến nhà, Diễn gặp hai vợ chồng hàng xóm cũng trên đường ra công viên.   Họ dừng lại chào Diễm và Bảo.  Người vợ vui vẻ chào Diễm 

    • Chào chị Diễm, chị đưa anh đi hóng gió?

    Diễm mỉm cười, đứng lại trả lời hai vợ chồng Hưng và Tuyết Hồng, nàng nói. 

    • Vâng, hôm nay ông bà được nghỉ làm hay sao mà đi “dung giăng dung dẻ” thể này?
    • Vâng, lâu lâu tụi em lấy một ngày nghỉ ở nhà cho thoải mái. 

    Trong lúc Diễm đang nói chuyện với người vợ, Hưng đi vòng lên phía trước xe lăn của Bảo, anh cúi hẳn người xuống, bắt tay Bảo.  Họ chào hỏi và trao đổi một vài câu chuyện xong từ giã Diễm và Bảo rồi tiếp tục đi về phía bờ hồ.  Diễm cũng đi lại sau lưng Bảo, đẩy nhẹ chiếc xe lăn đi về nhà. 

    Về đến nhà, Bảo quay lại nhìn Diễm, hỏi. 

    • Lúc nẫy chị nói chuyện với ai vậy?
    • À, anh Hưng và cô ca sĩ Tuyết Hồng ở cạnh nhà mình đấy. 
    • Thế à. 
    • Cô bé ấy ca hay đáo để, anh vẫn nghe cô ta nghêu ngao mỗi ngày ngoài patio sau nhà đấy thôi.
    • Thế à, tôi chưa nghe cô ấy hát bao giờ?
    • Ồ, tại anh không nhớ đấy thôi. 

    Hơn 10 năm chăm sóc cho Bảo, Diễm không còn nghĩ đến mình, cả ngày nàng quanh quẩn bên Bảo và cắt dứt tất cả liên lạc với bạn bè.  Diễm muốn dành tất cả thời gian còn lại ở bên chồng và không nhờ sự giúp đỡ của gia đình.  Có lẽ chính vì vậy mà sức khỏe của Diễm càng ngày càng kiệt quệ, nàng không còn đủ sức để lo cho chính mình.  Diễm điện thoại gọi cho con, nhắn Gia Đoàn về gấp.  Diễm nhờ vợ chồng một người bạn HO của Bảo, anh Tâm chăm sóc cho Bảo và vợ anh, chị Thu giúp việc nhà.  Tin Diễm bịnh nặng đã làm gia đình Diễm và bạn bè từ xửng xốt đến bàng hoàng.  Chỉ vỏn vẹn vài tháng sau, Diễm qua đời…

    Từ ngày Diễm qua đời, Gia Đoàn trở về sống với bố, những khi anh phải đến trường hoặc vắng nhà, vợ chồng anh Tâm ở lại coi sóc Bảo.  Phần Bảo, sự ra đi vĩnh viễn của Diễm cũng không có gì khác lạ đối với anh, thỉnh thoảng, anh nhìn tấm di ảnh của Diễm nhưng chẳng nói năng gì.  Có lẽ Bảo cũng không biết tại sao Diễm không đến đưa anh đi dạo mát mỗi buổi sáng. 

    Cũng như mọi ngày, Bảo ngồi bất động trên chiếc xe lăn, mắt chàng như dán chật vào tấm di ảnh của Diễm, bỗng nhiên hôm nay, anh lăn chiếc xe tiến đến gần bàn thờ của vợ.  Khi chiếc xe chạm vào mép bàn, Bảo đưa tay với lấy tấm ảnh của Diễm trên bàn thờ, ngắm nhìn tấm ảnh một lúc thật lâu, rồi ôm vào lòng.  Một lúc sau, Bảo như chợt nhớ ra điều gì, anh lẩm bẩm thật nhỏ trong miệng, xong anh đặt tấm di ảnh của Diễm xuống đùi, lăn bánh xe thẳng về phía cửa ra vào.  Bảo dừng xe lại trước ngưỡng cửa, hai tay ôm chật tấm di ảnh của Diễm, mắt nhìn ra hướng bờ hồ, đoạn anh đưa tấm ảnh lên môi, hôn nhẹ lên mặt kiếng của tấm hình rồi hạ tấm hình xuống ngực.   Bảo ghì chật tấm ảnh vào lòng, anh nhắm mắt lại, hai giọt nước mắt lăn dài trên má.   Bảo đưa hai tay ôm lấy ngực, có lẽ cơn đau tim kéo đến dồn đập, tấm di ảnh của Diễm rơi xuống đất, mặt kiếng vỡ tan tạo nên âm thanh dòn dã.  Đầu Bảo từ từ gục xuống, rồi ngã hẳn về phía trước, hai tay anh buông thõng, bất động…

    Chiều nay, ông Tâm vừa nấu xong bữa cơm chiều, từ dưới bếp chạy lên nhà trên mời Bảo vào ăn cơm chiều, nhưng quá trễ, Bảo đã gục chết từ bao giờ…

    Bên nhà hàng xóm, tiếng hát của ca sĩ Vũ Khanh vang lên, nghẹn ngào như tiếng khóc.

    Yêu em như thuở nào
    Tình yêu còn biên đầy trang giấy
    Yêu em như thuở nào
    Tình yêu còn đong đầy trang sách.

    Dù biết trái tim đã già
    Mà những thiết tha chẳng nhòa
    Tình cũ vẫn nghe ấm nồng
    Gọi tên nhau lúc cô đơn
    Để nghe sưởi ấm tâm hồn.

     Em ơi đây tiếng đàn,
    Lời ca dệt ân tình năm tháng
    Câu ca hay khúc nhạc
    Tình yêu còn đong đầy khao khát.

    Dù có cách xa mỏi mòn
    Mà những dấu yêu mãi còn
    Sưởi ấm xác thân héo gầy
    Tình yêu như gió đem mây
    Gọi mưa giăng kín khung trời.

    Này em hỡi, ta mơ ngày sẽ tới

    Khi tương phùng, em khóc cho niềm vui vì hạnh phúc.
    Ngọt hay đắng, trong cuộc đời mưa nắng
    Ta luôn cười trong giấc mơ hạnh phúc xưa tuyệt vời
    Riêng ta nơi núi rừng
    Về đêm càng nghe hồn băng giá
    Câu ca hay khúc nhạc
    Càng thêm sầu cho tình tan nát.

    Dù biết cách xa với đời
    Dù biết thủy chung chẳng rời
    Mà vẫn xót xa tháng  ngày
    Chờ ta chi nữa em ơi
    Còn đâu giây phút tuyệt vời.

    Khánh Lan

    California, November 2020 

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Văn Hóa Vụ trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
    2. Trường Võ Bĩ Quốc Gia Đà Lạt Wikipedia.
    3. Hai người đậu thủ khoa khóa 27 là sinh viên sĩ quan Hoàng văn Nhuận và Lê Mạnh Khoa
  • Khánh Lan

    THÁM TỬ LÊ MINH: Điệp Vụ Thứ Nhất

    Từ thuở nhỏ Lê Minh không hề thắc mắc về cái tên của mình cho đến khi cô bước vào ngưỡng cửa trung học thì hẳn cái tên Phan Lê Minh trở thành một vấn đề và là mục tiêu cho các bạn bè cùng lớp trêu chọc.  Ấy thế, chẳng phải chỉ có một mình Lê Minh có cái tên “nam giới” như vậy mà cô khám phá ra hai đứa bạn cùng trường cũng có cái tên “dễ làm cho người nghe hiểu lầm“.  Đó là Nguyễn Thúy Hùng và La Sơn Hải.  

    Lê Minh hơi bực mình, tức giận và không thể nào quên được ngày tựu trường để vào lớp 6 (Đệ thất), khi cô nhìn thấy tên mình trên danh sách của lớp 6A dành cho nam học sinh và bị tụi con trai chọc ghẹo.  Trong thời gian ấy, lớp học được chia thành lớp 6A và lớp 6B, lớp 6A là cho học sinh nam và 6B dành cho học sinh nữ.  Các nhân viên của trường giải thích là họ xắp xếp học sinh vào lớp học 6A hay 6B dựa theo tên của học sinh.  Chính vì lý do ấy mà Nguyễn Thúy Hùng sẽ đi vào lớp 6B nữ còn Phan Lê Minh và La Sơn Hải sẽ qua lớp 6A nam là lẽ tất nhiên.  Nhưng điều này chẳng làm Lê Minh khó chịu vì cô luôn được ngồi hàng đầu và được chiếu cố tận tình bởi các thầy cô và các bạn nam trong lớp.  Chẳng những thế, Lê Minh lại cảm thấy thích thú với cái tên “ngược đời” của mình vì bỗng nhiên cô trở thành người “được ngưỡng mộ” (popular) nhất trong trường mà ai cũng muốn tìm đến nhìn mặt xem con bé Phan Lê Minh là ai?   

    Lê Minh là con gái út trong một gia đình có 4 anh trai, có lẽ vì vậy mà cô cũng rất là “tinh nghịch như con trai” (tomboyish).  Thoạt nhìn, Lê Minh có vẻ giống như người lai Ấn hơn là người Việt, cô có dáng người dong dỏng cao, nước da bánh mật, đôi mắt phượng to tròn dưới hàng lông mi dài cong vút, cặp lông mày thon đậm, cái mũi dọc dừa, nụ cười tươi tắn giữa hai lún đồng tiền sâu hoắm làm tăng thêm phần duyên dáng trên khuôn mặt trái xoan xinh xắn.  

    Mặc dù là phận nữ nhưng Lê Minh lại chẳng có dáng điệu của một nàng thục nữ, cô ngổ ngáo như một đứa con trai, cô ghét cay đắng nếu phải mặc áo dài, đi giày kiểu, sách bóp đầm, v.v… Đã thế, Lê Minh thích cắt tóc kiểu demi garçon, mặc quần jean, đội mũ đội mũ lưỡi trai (fat cap hay snapback), v.v…

    Lê Minh sống và chơi với các anh trai từ thuở nhỏ nên cô chịu ảnh hưởng cũng như bị lôi cuốn bởi những trò chơi và hay dùng ngôn ngữ bạo miệng của các anh mình.  Lê Minh thích chơi đá banh, bắn súng, đánh võ, xem phim bạo động hay trinh thám (action, detective movies) và đọc truyện chưởng (kiếm hiệp). 

    … Vào học được hai tuần, một hôm Lê Minh đang ngồi xem đá banh trong giờ thực tập thể thao (PE) thì Nguyễn Thúy Hùng và La Sơn Hải đến tìm cô. 

    • Này, bạn là Phan Lê Minh phải không?
    • Ừ, hai bạn là ai?  Mà tìm tôi làm gì?
    • Có làm gì đâu, tụi tui chỉ tò mò muốn biết bạn là ai thôi.   Tui là La Sơn Hải, còn bạn này là Nguyễn Thúy Hùng.    

    Đúng là “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” Lê Minh nghĩ thầm.  Sơn Hải nói xong, cô nàng kéo Thúy Hùng ngồi xuống cái ghé dài cạnh Lê Minh, rồi cả ba chăm chú ngồi im xem trận đấu banh giữa hai trường trung học:  Lý Thường Kiệt và Văn Hóa Quân Đội.  Tuy ngồi coi đá banh nhưng thỉnh thoảng Lê Minh liếc mắt quan sát hai đứa bạn mới để nhận xét xem chúng thuộc thành phần nào?  Hiền lành dễ chịu hay cần phải đề phòng. 

    Cái tên La Sơn Hải thật đúng như con người của cô, với đáng người cao lớn, giọng nói sang sảng, ồn ào vui tính.  La Sơn Hải càng hay nói và nói nhiều bao nhiêu thì Nguyễn Thúy Hùng lại rất hiền, ít nói và nhút nhát bấy nhiêu.  Thúy Hùng với làn da trắng hồng như con gái, lại hay mắc cỡ nhất là mỗi khi bị bạn bè trêu chọc là mặt anh đỏ gay như trái cà chua… Sau phần giới thiệu, ba đứa Minh, Sơn, Hùng  trở thành 3 người bạn thân cho đến ngày gia đình Lê Minh vượt biên qua Mỹ định cư.  Năm ấy, Lê Minh vừa đúng 14 tuổi… 

    … Ngay từ khi qua Mỹ, Lê Minh đã có ý định trở thành thám tử điều tra những vụ án mạng bí ẩn, cô thường theo dõi hằng ngày những tin tức về tội phạm trong xã hội, cô bị thu hút bởi những phim gián điệp như Silence Of The Lamb, Talented Mr. Ripley, The Girl On The Train, v.v… Cô say mê xem những loạt TV Show như Unsolved Mysteries, The American Most Wanted, Forensic Files, v.v… Chính vì vậy mà sau khi tốt nghiệp bằng trung học phổ thông Lê Minh thi tuyển vào University of California, ra trường với bằng cao học Criminal Justice và xin vào làm việc cho Ban Tư Pháp Tội Phạm Sát Nhân (Criminal Justice  Homicide Department).

    Để trở thành thám tử điều tra tội phạm sát nhân (Homicide Detective) Lê Minh phải trải qua rất nhều thời gian luyện tập, bởi cơ quan này thực hiện các công việc quan trọng trong việc thực thi pháp luật như điều tra các trường hợp tử vong do tội phạm gây ra, khám nghiệm hiện trường vụ án, phỏng vấn nhân chứng và truy lùng nghi phạm.  Trước khi gia nhập lực lượng Tư Pháp Tội Phạm Sát Nhân (Criminal Justice  Homicide Department) và để trở thành thám tử điều tra tội phạm sát nhân, Lê Minh phải hoàn thành khóa đào tạo của học viện cảnh sát, sau đó áp dụng những gì đã học vào khóa đào tạo thám tử điều tra tội phạm sát nhân…  

    … Ông bà Lê Phan bàng hoàng đến hoảng hốt khi nghe con gái báo tin là cô được nhận vào khóa đào tạo của học viện cảnh sát thuộc thành phố Los Angeles, Police LAPD Police Academy/Elysian Park.  Sự cương quyết của Lê Minh khiến ông bà Lê Phan đành phải chấp nhận và tôn trọng quyết định của cô.   

    Sau khi Lê Minh tham dự chương trình đào tạo các sĩ quan cảnh sát và thám tử điều tra tội phạm sát nhân tại Học viện Cảnh Sát bao gồm các môn học:  Thực hành và nghiên cứu về thể chất và tâm lý, thực hành điều tra sự việc, thấu hiểu luật lệ giao thông, điều khiển xe cơ giới, quy trình tuần tra, kỹ thuật lái xe khẩn cấp, luật hình sự, chiến thuật phòng thủ và súng.  Tiếp theo, Lê Minh cần phải hoàn thành “chương trình đào tạo” gồm tích lũy kinh nghiệm trong công việc, thực tập và lấy kinh nghiệm thực tế tại đơn vị điều tra tội phạm sát nhân của sở cảnh sát địa phương, hợp tác với các cơ quan khác tùy thuộc vào thể loại vụ án đang điều tra.  

    Ngày Lê Minh tốt nghiệp khóa sĩ quan cảnh sát và thám tử điều tra tội phạm sát nhân, ông bà Lê Phan vô cùng hãnh diện khi thấy đứa con gái út của mình trở thành một sĩ quan cảnh sát đứng hiên ngang trên bục đọc bài diễn văn đại diện cho toàn khoa và tuyên thệ trung thành với tổ quốc, bảo vệ người dân.  Sau buổi lễ ra trường, Lê Minh được bổ nhiệm làm việc tại thị xã Westminster thuộc quận Cam, tiểu bang California, nơi cư ngụ của nhiều người Á đông mà cô lại là người thông thạo cả ba ngôn ngữ:  Việt, Anh và Tây Ban Nha.  Công việc của Lê Minh là cô có thể bắt và giam giữ những cá nhân vi phạm pháp luật, luật giao thông, ứng phó với các trường hợp khẩn cấp và tuần tra các khu vực có tội phạm xảy ra.  

    … Sau vài năm làm việc tại sở cảnh sát và có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực điều tra, Lê Minh mộp đơn để được thăng chức vào vai trò thám tử điều tra tội phạm sát nhân.  Lê Minh được gởi đi học thêm khóa thực thi pháp luật, ghi nhận và tiếp xúc với các tình huống khó lường.   Chức vụ thám tử điều tra tội phạm sát nhân đòi hỏi người thám tử phải phản ứng nhanh, bén nhậy, thông minh, quyết đoán và hiệu quả đích thực khi điều tra một án mạng gây chết người.  Sau khi đã đoạt được các kỹ năng đòi hỏi để trở thành thám tử điều tra tội phạm sát nhân, Lê Minh đoạt được chức vụ mà cô hằng mơ ước:  Thám tử Lê Minh.  

    Sáng hôm sau, Thám tử Lê Minh đến trình diện Ban Tư Pháp Tội Phạm Sát Nhân (Criminal Justice Homicide Department) và bổ nhiệm phụ tá (partner) cho Thám tử McBride.  Thám tử McBride khoảng 50 tuổi, ông đã giữ chức vụ này hơn 20 mươi năm, nổi tiếng là một thám tử suất sắc, thông minh, có khả năng quan sát, đánh giá hiện trường hiệu quả và đích thực.  Thám tử McBride lại có biệt tài phân tích bằng chứng do CSI (Crime Scene Investigator) thu thập được, ông ghi nhận định khu vực, xử lý đúng nghi thức và ghi lại rõ ràng các chi tiết trong tờ báo cáo.  Tuy nhiên, Thám tử McBride cũng nổi tiếng là khó tính, gàn, quyết đoán và bất cần khiến ít ai dám làm thân với ông, mặc dù họ rất kính nể tài năng của ông. 

    Vừa nhận được lệnh đến trình diện Thám tử McBride, Lê Minh không hề nao núng vì cô nghĩ cô có đủ bản lĩnh để đối diện với những người như Thám tử McBride.   Từ sáng sớm, Lê Minh đã chuẩn bị sẵn sàng từ y phục, phong cách đến thực tập những điều cần thiết để trình diện cơ quan điều tra tội phạm sát nhân và gặp Thám tử McBride.  Để không bị trễ giờ, Lê Minh đến sớm nửa tiếng, cô muốn chứng tỏ với Thám tử McBride rằng cô rất đúng giờ và nghiêm túc trong công việc.  Vừa bước vào phòng đợi, Lê Minh chưa kịp nói gì thì anh nhân viên ngồi ở bàn giấy đã giơ tay chào cô và nói. 

    • Chào buổi sáng Thám tử Lê Minh.  Thám tử McBride đang đợi cô trong phòng số 18.
    • Chào buổi sáng hạ sĩ Johnson.  Sao anh biết tôi là Lê Minh. 
    • Thưa, tôi đã được báo cáo của cấp trên về Thám tử từ tuần trước. 

    Lê Minh nhìn đồng hồ, còn 15 phút nữa mới đến giờ hẹn thế mà Thám tử McBride đã có mặt ở đây rồi, không biết ông ta đã đến từ bao giờ?  Nghĩ vậy, Lê Minh đi thẳng vào phòng số 18.  Bước vào phòng số 18, Lê Minh nhận thấy Thám tử McBride ngồi sau cái bàn bừa bộn giấy tờ, hai chân gác lên bàn, hai tay cầm tờ báo đưa lên cao, che khuất khuôn mặt của ông nên ông không hề biết là Lê Minh đang đứng trước mặt. 

    • Lê Minh trình diện Thám tử McBride. 

    Thám tử McBride ngồi nhổm dậy, đưa mắt nhìn Lê Minh một lúc rồi từ từ đứng dậy, ông đưa tay về phía cái ghế đối diện với ông. 

    • Thám tử Lê Minh, cô ngồi xuống ghế đi. 
    • Vâng, cám ơn Thám tử McBride. 
    • Hừ… hừ… từ này gọi tôi là McBride hay Joe.
    • Này Lê Minh, cô biết gì về tôi? 

    Lê Minh chưa kịp trả lời, McBride đã nói tiếp. 

    • Hừ… hừ… những gì cô nghe nói về tôi, kể ra cũng gần đúng đấy, cô có ngại không?  Nếu có, cô có thể xin đổi một người khác, chắc được đấy, cũng chưa muộn lắm đâu. 
    • Thưa ông, điều ấy không quan trọng đối với tôi, tôi thiết nghĩ, tôi sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm hữu ích dưới sự hướng dẫn của ông, tôi hứa tôi sẽ không làm ông thất vọng.  Vả lại, tôi nghĩ, không có gì bỗng nhiên hay tự nhiên từ trời rơi xuống cho ta một cách vô tư.  Mà để đoạt được cái gì hay việc gì ta muốn hay ao ước, thì ta phải trả với một giá rất đắt mới có thể có được.  Đó là sự nhẫn nhục, cố gắng và phải biết nắm giữ lấy cơ hội khi nó đến vì có thể nó sẽ không trở lại với ta lần thứ hai.  Thưa ông. 

    Thám tử McBride gật gù, cười vang:

    • Hahaha… được, tốt, tốt.  Lý luận khá hay đấy.

    Nói xong, ông chỉ tay qua một chồng hồ sơ để sẵn trên một chiếc bàn kê song song với cái bàn của ông. 

    • Lê Minh, đó là bàn làm việc của cô.  Hừ… hừ… chưa thấy ai báo cáo gì cả nên cô có thể coi những hồ sơ tôi để sẵn trên bàn của cô.   Nếu thắc mắc điều gì, cô có thể hỏi tôi, bất cứ lúc nào, cô hiểu chứ? 

    Nói xong, Thám tử McBride bước ra phía cửa, nhưng hình như vừa nhớ ra điều gì, ông ngoái đầu qua phía Lê Minh hỏi. 

    • Này, Lê Minh.  Đã có ai dẫn cô đi lòng vòng, quanh cơ sở này chưa?
    • Thưa ông chưa.  Tôi mới đến là vào gặp ông ngay.
    • Thế thì đi theo tôi. 

    Hai người bước ra khỏi phòng, Thám tử McBride vừa đi vừa nói. 

    • Hôm nay, ta không phải vội vã làm việc gì cả, đợi đến ngày mai cũng chẳng muộn gì.  Cô cứ thư giãn, ngoại trừ ai báo cáo là đang có án mạng xảy ra, lúc ấy, cô sẽ đi với tôi.  Thực hành bao giờ cũng học hỏi được nhiều, gặt hái được những kinh nghiệm hữu hiệu hơn là học như con mọt sách… chán lắm.  Thế cô đã học được những gì trong khóa học vừa qua? 
    • Thưa ông, sau khóa học điều tra tội phạm sát nhân về khả năng để giải quyết vấn đề, tôi đã được học qua lý thuyết về: Tư duy phản biện (Critical thinking); Giao tiếp bằng văn bản (Written communication); Giao tiếp bằng miệng (Oral communication); Hành vi đạo đức (Ethical behavior); Sự chú ý đến chi tiết (Attention to detail); Hiểu biết sâu sắc về hành vi và tâm lý con ngườiProblem solving (Keen understanding of human behavior and psychology).

    Thám tử McBride mỉm cười, gật gù.

    • Tốt lắm.  Kể như cô đã xong phần lý thuyết, nhưng trên thực tế, khi một vụ giết người được báo cáo, đơn vị CSI và các thám tử điều tra tội phạm sát nhân được gọi đến để thu thập bằng chứng và tìm hiểu xem vụ giết người đó diễn ra như thế nào.  Công việc của một thám tử điều tra tội phạm sát nhân thật nghiệt ngã, vất vả, liên quan đến việc đối phó với một số trường hợp hoàn toàn khủng khiếp và không có vụ án nào giống vụ án nào.  Các thám tử điều tra tội phạm giết người phải có khả năng xử lý hiệu quả theo từng tình huống.  

    Nói xong, Thám tử McBride quay sang Lê Minh hỏi.

    • Thế cô đã sẵn sàng đối diện với những thử thách đó chưa?
    • Thưa ông, một khi tôi đã quyết định gia nhập lực lượng cảnh sát, tôi đã tự quyết với lòng mình là phải vượt qua mọi trở ngại để đi đến thành công, không chùng bước trước gian nguy, làm tròn nhiệm vụ được giao phó, trung thành với tổ quốc và bảo vệ tự do, công bằng cho toàn dân.  Đó là lời thề và cũng là ước nguyện của tôi.  Chính vì vậy mà tôi xin thưa với ông rằng:  Lê Minh này không những đã sẵn sàng bắt tay vào việc từ hôm nay mà tôi đã sẵn sàng từ hai ba năm trước.
    • Khá, khá lắm.  Cô thật sự là một người có bản lĩnh.  Chúc mừng cô, tôi rất hãnh diện được làm chung với cô như một người bạn đồng hành (partner).  Chào mừng, chào mừng, hoan hô cô. 

    Nghỉ một chút ông tiếp:

    • Công việc của các thám tử điều tra tội phạm sát nhân bắt đầu tại hiện trường vụ án, nơi họ làm việc cùng với các điều tra viên hiện trường vụ án, chịu trách nhiệm phân tích bằng chứng liên quan được thu thập từ CSI, chẳng hạn như lấy dấu tay để có thể xác định nghi phạm trong các vụ án giết người và thu thập thông tin về tội phạm.  Các thám tử điều tra tội phạm sát nhân dành một khoảng thời gian đáng kể để phỏng vấn các nghi phạm, các nhân chứng và những cá nhân có liên quan đến nghi phạm.
    • Sau đó, các thám tử điều tra tội phạm sát nhân có thể sử dụng thông tin thu thập được để trình bày các giả định hoặc khuyến nghị cho các chuyên gia pháp lý thông qua báo cáo chi tiết.  Trong một số trường hợp, các thám tử điều tra tội phạm sát nhân có thể làm chứng tại các phiên tòa để mô tả các bằng chứng và lời khai đã thu thập được nhằm làm sáng tỏ thêm vụ án.

    Lê Minh đang ngồi nghiên cứu đống hồ sơ trên bàn, cô ngừng đọc, trố mắt nhìn McBride hối hả bước vào phòng với dáng điệu vội vã, nét mặt nghiêm nghị, ông nói như hét.

          –  Lê Minh, đi với tôi ngay, nhanh lên. 

    Xong ông vừa đi vừa nói, giọng khẩn trương.   

    • Tôi vừa được cú điện thoại báo cáo về một án mạng xẩy ra ở quán rượu Majestic tọa lạc trên đường Beach, thành phố Westminster.  Nạn nhân là một người đàn bà Mỹ lai Tây Ban Nha và là chủ một quán rượu, bà Gloria Gonzales.  Tôi không rõ là gia đình có nói tiếng anh không? Có thể tôi cần cô trong việc lấy lời khai của gia đình nạn nhân.  Vào xe đã, chúng ta sẽ bàn tiếp. 

    Trên đường đi đến hiện trường, Lê Minh hỏi. 

    • Thưa ông, ai là người đầu tiên tìm thấy nạn nhân?
    • Juan Martinez, anh là nhân viên quét dọn của quán rượu Majestic, một người Tây Ban Nha cư ngụ tại Mỹ bất hợp pháp.  Chính ra, Jose Lopez mới là nhân viên quét dọn tại quán rượu, nhưng những khi Jose bận không đến làm thì Juan được mướn để làm thế chỗ cho Jose.   Tiếng mỹ của Juan rất giới hạn, tính tình lầm lỳ và ít nói, hình như anh ta không có thân nhân hay người quen ở sống đây.
    • Vậy Juan sống ở đây với ai, thưa ông?
    • Tôi không rõ, nếu tôi không lầm thì hình như anh ta sống nay đây mai đó, hầu như vô gia cư thì phải.
    • Ai đã giới thiệu Juan đến làm cho bà chủ quán rượu?
    • Có thể là Jose.  Ý kiến hay, hy vọng Jose sẽ giúp chúng ta tìm ra manh mối hoặc ít nhất biết thêm về con người của Juan chăng?

    Cuộc đổi thoại bỗng dừng lại và cả hai người đều im lặng, có lẽ họ đang theo đuổi những nghi vấn riêng trong đầu.  10 phút sau, xe dừng lại trước quán rượu Majestic đã được niêm phong bởi những sợi ribon màu vàng.  Xe cảnh sát thuộc thành phố Westminster đã có mặt, xe cứu thương và xe cứu hỏa cũng được gọi đến.   Lê Minh và McBride rẽ đám đông đi vào trong quán rượu.   

    Trên sàn nhà, người đàn bà lõa thể nam co quắp trên một vũng máu, miệng bị dán băng keo màu xám, tay và chân đều bị trói ngược ra phía sau bởi một sợi giây thừng bằng ni-lông màu đỏ thẫm, thi thể được che phủ bằng một tấm vải màu trắng, nạn nhân là bà Gloria Gonzales.  Kết quả ghi nhận bà Gloria Gonzales đã bị quấy nhiễu tình dục và hiếp dâm trước khi bà chết bởi nhiều nhát dao đâm vào ngực, bụng và vết cắt rất sâu nơi cổ.  Có lẽ nạn nhân đã tắt thở bởi mất quá nhiều máu.   

    Tại hiện trường không cho thấy sự đột nhập bất thình lình hay cửa ra vào bị phá, điều này cho biết hung thủ là người quen biết với nạn nhân.  Ly tách, bàn ghế và tất cả mọi đồ vật trong quán không hề bị hư hại.  Cái tủ sắt kê trong phòng làm việc của bà Gonzales còn nguyên nhưng trống rỗng bên trong.  Cái bóp hiệu Louis Vuitton trong ngăn kéo bàn giấy của bà Gonzales có một ít tiền lẻ, đếm được $114.28. 

    Bên cạnh quán rượu Majestic là một tiệm ăn đại hàn do ông bà Choi Kim làm chủ.  Ông bà Choi Kim thỉnh thoảng vẫn hay qua nói chuyện với bà Gloria Gonzales hoặc những khi bà Gloria Gonzales qua ăn trưa.  Theo bà Choi Kim, bà Gloria Gonzales sanh trưởng tại Mỹ, chưa từng lập gia đình nhưng có rất nhiều tình nhân.  Quán rượu Majestic rất đông khách và nổi tiếng là quán rượu tiếp đón nồng hậu, lịch sự và có nhiều chiêu đãi viên trẻ đẹp.  Thường thì giờ mở cửa là từ 4 giờ chiều đến 1 giờ sáng ngoại trừ những ngày lễ lớn thì kéo dài đến 2 giờ sáng.   Mỗi tối, sau khi các nhân viên đã ra về bà Gloria Gonzales là người cuối cùng rời khỏi quán rượu cùng với anh bảo vệ Martin Cruz, nhưng thỉnh thoảng bà Gonzales cũng cho anh bảo vệ về trước.  Bà Choi Kim cho biết bà Gloria Gonzales là một người mẹ độc thân, bà sống một mình tại tiểu bang California và gởi đứa con trai 10 tuổi cho bố mẹ chăm nuôi ở tiểu bang Texas. 

    Án mạng tại quán rượu Majestic không có nhân chứng ngoại trừ Juan Lopez là người duy nhất đã phát hiện ra thi thể của bà Gloria Gonzales trong quán rượu.  Vì thế, sau khi mọi thủ tục được ghi nhận, các dữ kiện thiết yếu tại hiện trường đã thu nhập đầy đủ chi tiết.  Juan Martinez được mời về văn phòng để phỏng vấn và lấy thêm chi tiết.  Trước khi ra về, Lê Minh nhận thấy quán rượu Majestic có để hai máy thu hình ở hai góc.  Một cái hướng về phía bãi đậu xe, cái còn lại hướng về phía cửa ra vào và Lê Minh có nhiệm vụ duyệt qua hai cuộn băng trong máy thu hình.  

    Trên đường về sở, Thám tử McBride hỏi.

    • Chúng ta phải tiến hành việc phỏng vấn những người bị tình nghi là có liên quan đến vụ án mạng ngay.  Cô nghĩ gọi ai trước?
    • Còn ai khác hơn là Juan Martinez, nhân chứng duy nhất mà chúng ta có.  Rồi đến Jose Martinez, xong gia đình của bà Gloria Gonzales, tiếp theo là người đi đường, hàng xóm của cô ta, v.v… Cuối cùng có thể phải nhờ đến truyền thanh, báo chí, thậm trí dùng tiền thưởng để mua tin tức…

    Về đến sở, Thám tử McBride và Lê Minh bắt đầu cuộc phỏng vấn với Juan Martinez kéo dài khoảng 4 tiếng đồng hồ.  Juan Martinez là một thanh niên khỏe mạnh và lực lưỡng, không rượu chè hay nghiện hút.  Juan Martinez bị tạm lưu trữ vì anh là dân đi cư bất hợp pháp từ Mexico đến.  Juan Martinez ở nhờ nhà của một người bà con tại thành phố Santa Ana và làm nhiều nghề từ quét dọn vườn, chặt cây, xây tường, v.v… kiếm sống qua ngày.  

    Theo lời khai của Juan Martinez, anh quen Jose Lopez cách đây vài tháng khi anh đang được thuê dọn vườn cho một người hàng xóm cạnh nhà của Jose Lopez.  Hôm đó đang là mùa hè, khí trời rất nóng, Jose Lopez thấy Juan Martinez làm việc cực nhọc, mồ hôi nhễ nhại thì tỏ ra thương hại tình cảnh của người đồng hương, nên Jose Martinez mời anh một lon nước ngọt.  Sau vài lần nói chuyện, Jose Lopez hỏi Juan Martinez là anh có muốn đi làm không?  Nếu Juan Martinez đồng ý thì Jose Lopez sẽ giới thiệu Juan Martinez với bà chủ quán rượu mà anh đang làm để xin việc cho Juan Martinez. 

    Cũng Theo lời khai của Juan Martinez, tối hôm thứ Sáu khoảng 8:00 giờ tối, anh nhận được điện thoại của bà Gonzales bảo anh đến quét dọn quán rượu sáng hôm sau vì Jose Lopez xin nghỉ mấy ngày để về Mexico thăm gia đình.  Hôm sau, khoảng 11:00 giờ sáng Juan Martinez đến quán rượu để làm việc, như mọi khi, bà Gloria Gonzales là người ra mở cửa cho anh vào nhưng sáng nay anh bấm chuông mãi mà không thấy bà Gloria Gonzales ra mở cửa.  Juan Martinez gõ cửa nhiều lần cũng không thấy bà Gloria Gonzales trả lời, tò mò, anh đưa tay xoay cái nắm cửa và ngạc nhiên khi cửa không khóa.  Juan Martinez đẩy cửa, rồi anh lên tiếng gọi nhưng cũng không nghe bà Gloria Gonzales trả lời nên anh bước hẳn vào bên trong và phát hiện thi thể của nạn nhân trên sàn nhà.  Juan Martinez khai, anh không biết xác của ai nằm trên nền nhà, sợ quá anh chạy ra ngoài gọi 911.

    Thám tử McBride hỏi.

    • Thế anh làm việc cho bà Gloria Gonzales được bao lâu rồi?
    • Chỉ khoảng 4 tháng nay, thường là mỗi sáng thứ Bảy và những hôm Jose Martinez xin nghỉ làm. 
    • Lần cuối cùng anh gặp bà Gloria Gonzales là ngày nào?
    • Thứ Bảy tuần trước. 
    • Anh thấy bà Gloria Gonzales thế nào?
    • Bà ta rất tốt với nhân viên, tử tế và rất khuyến rũ. 
    • Anh có bị thu hút bởi vẻ đẹp của bà Gloria Gonzales không?
    • Thú thật, một người đẹp như bà Gloria Gonzales thì ai mà chẳng thích nhìn nhưng tôi thì tôi không bao giờ dám nghĩ đến điều ấy.  Tôi rất quý trọng bà Gloria Gonzales, bà ta giúp đỡ tôi rất nhiều, 
    • Thế tối hôm thứ Sáu, sáng thứ Bảy anh ở đâu và làm gì?
    • Tối hôm ấy, tôi với mấy đứa bạn ngồi ở vỉa hè nhà thằng Luis Cervantes, tụi tôi uống bia với một ít đồ nhậu.  Tôi chưa uống bia bao giờ nên bị say.  Xong rồi ngủ luôn ở đó đến sáng thứ Bảy tôi đến quán rượu quét dọn thì phát hiện ra thi thể của bà Gloria Gonzales. 
    • Anh có đồng ý thử DNA và máy truy tầm nói dối (lie detector) không?
    • Tôi sẵn sàng. 

    Juan Martinez vượt qua thử nghiệm của máy truy tầm nói dối và kết quả của DNA trở về không trùng hợp với DNA ghi nhận tại hiện trường và trên người của bà Gloria Gonzales nên Juan Martinez không bị giam giữ nhưng bị trục xuất về Mexico.  Nhưng nhờ có tin tức của Juan Martinez cung cấp, Lê Minh liên lạc được với Jose Lopez.

    Theo lời khai của bố mẹ cô Gloria Gonzales thì cô là một đứa con gái hư hỏng, có cuộc sống rất hoang đàng, nghiện hút, trốn học và bỏ nhà đi hoang từ khi cô 16 tuổi.  5 năm sau, cô Gloria Gonzales trở về nhà với một đứa bé mới có 2 tháng tuổi, đưa cho bố mẹ nuôi và tiếp tục cuộc sống ngày đây mai đó.  Khi đứa con trai của cô Gloria Gonzales lên 6 tuổi, cô nói với bố mẹ cô rằng cô muốn gởi con cho ông bà nuôi để đi qua tiểu bang California làm ăn.  Thậm chí, bố mẹ cô Gloria Gonzales cũng không hề biết cô là chủ của một quán rượu, ông bà cứ ngỡ là cô Gloria Gonzales đang làm việc cho một cơ quan bất động sản.  Mỗi năm cô Gloria Gonzales về thăm bố mẹ và con trai vào dịp lễ Giáng Sinh nhưng tháng nào cô cũng gởi tiền về cho cha mẹ để nuôi con trai.  

    Bố mẹ cô Gloria Gonzales nói từ khi cô Gloria Gonzales chuyển sang California sinh sống, ông bà rất vui vì cô Gloria Gonzales có vẻ thay đổi khá nhiều và trở nên tốt hơn từ nhân cách đến trang phục, khiến ông bà không hề ngờ vực điều gì và hoàn toàn đặt niềm tin vào con gái mình một cách tuyệt đối, mà ông bà cho là mù quáng và đã đưa đến hậu quả không thể lường được.

    Sáng hôm sau, Thám tử McBride và Lê Minh bắt đầu kiểm soát hai cuộn băng ghi âm an toàn (security video camera) của quán rượu Majestic.  Lê Minh xem lại rất nhiều lần hai cuộn băng nhưng vẫn không có kết quả gì khác lạ.  Trong cuộn băng ghi nhận cô Gloria Gonzales rời quán rượu một mình lúc 2 giờ sáng, rồi đi về phía bãi đậu xe và lái chiếc BMW convertible màu đỏ ra khỏi bãi đậu xe lúc 2 giờ 10 phút sáng.  Trong hình Lê Minh không thể nhìn rõ mặt của cô Gloria Gonzales mà chỉ thấy phía sau lưng của bà. 

    Hôm sau, Lê Minh vào sở và duyệt lại hai cuộn băng vì cô khẳng định rằng người đàn bà trong cuộn băng không phải là cô Gloria Gonzales mà đó chính là kể sát nhân đội lốt cô Gloria Gonzales để đánh lạc hướng cảnh sát và cơ quan điều tra.  Người đàn bà trong cuộn băng mặc một cái áo khoác có mũ màu đen, hai tay bỏ vào túi áo khoác, mái tóc vàng dài ngang vai, chiếc khăn quàng cổ che gần hết khuôn mặt khiến sự nhận diện hình mạo trở nên khó khăn thêm. 

    • Lê Minh, cô có tìm thấy gì lạ không?

    Lê Minh giật mình quay lại. 

    • McBride, ông ngồi xuống đây, tôi muốn ông xem màn hình này.  Rồi cho tôi biết là ông nghĩ gì?
    • Đồ chó má…. nó chính là thủ phạm giả dạng bà Gloria Gonzales .
    • Đúng… nhưng nó là ai?
    • Ông có tin tức gì về chiếc xe BMW của cô Gloria Gonzales không?
    • Tối qua có người báo cáo là nhìn thấy chiếc xe BMW convertible màu đỏ của cô Gloria Gonzales đậu trên một bãi cát hoang trên đường đi Las Vegas, quốc lộ 15.

    Cuộc điều tra về cái chết của cô Gloria Gonzales trở nên bí tắc khi kết quả DNA của Jose Lopez có kết quả âm tính và anh cũng vượt qua thử nghiệm của máy truy tầm nói dối.  Sáu tháng trôi qua, Thám tử McBride và Lê Minh vẫn không nhận được một tin tức gì mới nên hồ sơ về cái chết của bà Gloria Gonzales dành gác lại.  Thám tử McBride và Lê Minh quyết định nhờ cơ quan truyền thông giúp đăng trên TV, báo chí và bảng hiệu được treo lên với giải thưởng $30,000.00 cho ai có tin tức mới về hung thủ. 

    … Một tuần, hai tuần rồi một tháng, hai tháng trôi qua không một ai gọi điện thoại đến văn phòng.  McBride và Lê Minh hoàn toàn thất vọng, cho đến một buổi sáng ngày thứ Sáu, Lê Minh và McBride vừa bước vào phòng làm việc, cả hai chưa kịp ngồi xuống ghế thì điện thoại đã reo lên.  Lê Minh vội vàng chộp lấy cái điện thoại trong lúc McBride vừa đi vừa nhìn Lê Minh, cười lớn như chế nhạo. 

    • Gớm, mới sáng sớm mà cô đã có người gọi mời cô đi ăn trưa chắc?

    Đầu giây bên kia, giọng có vẻ hơi run và ngập ngừng của một phụ nữ.

    • Tôi muốn nói chuyện với Thám tử McBride hay Thám tử Lê Minh. 
    • Tôi, Thám tử Lê Minh. 
    • Thưa Thám tử Lê Minh, tôi có tin tức mới về vụ án mạng xảy ra tại quán rượu Majestic.

    Lê Minh vẫy tay ra hiệu để McBride để ông cùng nghe điện thoại.  Bên đầu giây bên kia, người phụ nữ nói. 

    • Tôi nghĩ chồng cũ của tôi có liên quan đến cái chết của bà Gloria Gonzales. 
    • Thưa bà, chồng cũ của bà tên gì và hiện ông ta đang ở đâu?
    • Tôi không rõ vì chúng tôi đã xa nhau hơn một năm nay.  Tôi hiện đang sống tại thành phố Fountain Valley.  Tôi có một số tang vật mà tôi nghĩ thám tử cần.
    • Vâng, cám ơn bà, chúng tôi đến gặp bà ngay bây giờ được không?
    • Có lẽ để tôi đến gặp hai thám tử thì tốt hơn. 

    Một tiếng sau, người đàn bà đến gặp McBride và Lê Minh, bà tên là Victoria Handerson.  Bà Victoria Handerson khoảng 60 tuổi, dáng người cao to với nét mặt hiền hậu, đem theo với bà là một cái túi da màu đen chứa những tang vật.  Trong đó gồm một bộ quần áo màu đen, một dao nhọn, một cặp găng tay đen, một bộ tóc giả màu vàng, một khăn quàng cổ màu đỏ, một số hóa đơn mua hàng của tiệm Walmart và một chiếc lắc tay bằng vàng với hai chữ viết tắt GG rất nhỏ phía bên trong.

    Theo lời khai của người phụ nữ, chồng cũ của bà là ông Michael Handerson, 55 tuổi.  Bà và ông Handerson ly dị hơn một năm nay, hai đứa con gái đã lớn của ông bà đã có gia đình và ở riêng.  Bà Victoria Handerson lớn hơn ông Michael Handerson 5 tuổi và đã nghỉ về hưu hơn một năm, bà định dọn về tiểu bang Washington State để sống tiện thể chăm xóc cho bố mẹ già.  Trước khi ly dị, ông Michael Handerson và bà Victoria Handerson có mướn một chỗ để chứa đồ không dùng (storage) nhưng bà ít khi đến đó.  Trái lại ông Michael Handerson là người thường xuyên ra vào chỗ để chứa đồ.  Bà Victoria Handerson nói, đôi khi ông Michael Handerson ở đó cả ngày mà bà cũng chẳng thắc mắc vì bà nghĩ ông Michael Handerson chỉ xắp xếp lại mọi thứ cho gọn gàng.   Khi bà Victoria Handerson quyết định dọn về tiểu bang Washington State, bà đến chỗ chứa đồ, dọn dẹp để trả căn phòng cho chủ và không mướn nữa.  Trong lúc dọn dẹp bà Victoria Handerson đã tìm thấy những tang vật này.  

    • Thưa bà Victoria Handerson, xin bà cho chúng tôi biết là bố mẹ của ông Michael Handerson có còn sống và hiện đang ở tiểu bang nào không?
    • Ông cụ vừa qua đời vì bịnh đau tim, còn bà cụ cũng đã lớn tuổi, hiện sống chung với con gái út ở Hawaii.

    Những tang vật do bà Victoria Handerson đem đến đã giải thích rõ ràng về người đàn bà trong cuộn băng ghi hình ở quán rượu Majestic.   Người đàn bà ấy chính là ông Michael Handerson đội lốt của bà Gloria Gonzales, và ông cũng chính là thủ phạm lái chiếc xe BMW của bà Gloria Gonzales và bỏ xe của bà lại ở bãi hoang trên quốc lộ 15.  Vấn đề ở đây là ai đã cho ông Michael Handerson quá giang hay chở ông về lại quận Cam?  Bà Handerson hay ba Webbs?  Động lực gì đã khiến ông Michael Handerson giết bà Gloria Gonzales?  Vì tiền hay vì tình hay vì ghen tuông?  Những tấm hóa đơn trả tiền tại Walmart ghi nhận ông Michael Handerson trả tiền cho cuộn dây thừng bằng ni-lông và cuộn băng keo.  Máy quay phim an ninh tại tiệm Walmart cũng ghi nhận rằng ông Handerson đã đến tiệm Walmart mua các vật dụng trên hai ngày trước khi án mạng xảy ra tại quán rượu Majestic. 

    Kết quả của DNA của những tang vật trở về từ trung tâm khám nghiệm trùng hợp 99.9% với kết quả dương tính.  Trát tòa được ban hành và lệnh truy nã ông Michael Handerson bắt đầu.  Thám tử McBride liên lạc với cơ quan điều tra tội phạm sát nhân ở Hawaii và nhờ sự giúp đỡ của Thám tử Takahashi.   Thế nhưng ba tháng trôi qua, thám tử Takahashi vẫn không có tin tức về ông Handerson, ông cho biết là ông đã phỏng vấn mọi người trong gia đình mà không có kết quả khả quan. 

    Thám tử McBride và Lê Minh quyết định nhờ chương trình American Most Wanted và truyền thông, báo chí đăng tải hình của ông Michael Handerson.  Chỉ trong vòng hai tuần sau đã có rất nhiều người gọi lại cho tin tức về nơi trú ngụ của ông Handerson.   Nhưng chỉ một người đàn bà ở vùng quê hẻo lánh của tiểu bang Kansas là đúng nhất.   Người đàn bà này tên là Doris Webbs, hiện là tình nhân của ông Michael Handerson.  Bà Doris Webbs nói rằng ông Michael Handerson hiện đang sống trong một trung tâm phục hồi ở tiểu bang Kansas, The University of Kansas Health System Acute Inpatient Rehabilitation.  Bà Doris Webbs nói, ông Michael Handerson đang được điều trị tại nhà thương với bịnh ung thư phổi, giai đoạn cuối.  Hai hôm trước, ông Michael Handerson đã thú tội với bà và xin bà tha lỗi cho ông vì ông đã lừa dối bà.  Ông Handerson nói khi ông chết, ông nhờ bà Doris Webbs điện thoại cho bà Victoria Handerson và nhờ bà ấy vào kho chứa đồ đặc không dùng đến, lấy một chiếc lắc vàng rồi tìm cách trả lại cho gia đình của cô Gloria Gonzales hiện đang sống ở tiểu bang Texas.

    Thám tử McBride và Lê Minh vô cùng xửng xốt khi nghe bà Doris Webbs nhắc đến chiếc lắc vàng, vì chiếc lắc vàng này chưa hề được công bố ra ngoài và chỉ có 4 người biết về chiếc lắc vàng này là hung thủ, bà Handerson, McBride và Lê Minh.  Không còn nghi ngờ gì nữa, ông Michael Handerson chính là hung thủ giết chết bà Gloria Gonzales.

    Được tin từ bà Doris Webbs, Thám tử McBride và Lê Minh lấy vé máy bay sáng hôm sau đến Kansas nhưng đã quá muộn và chỉ kịp vuốt mắt ông Micheal Handerson lần cuối trước khi ông từ giã cõi đời… Ông Michael Handerson qua đời đã đem theo với ông nhiều nghi vấn và bí ẩn không giải quyết được (Unsold mystery) và nỗi oan ức của bà Gloria Gonzales không được bạch hóa…

    Khánh Lan  

    California, January 2021

  • Tin tức

    Danh ca Lệ Thu qua đời, hưởng thọ 78 tuổi

    FOUNTAIN VALLEY, California (NV) – Nữ danh ca Lệ Thu vừa qua đời vào lúc 7 giờ tối Thứ Sáu, 15 Tháng Giêng, sau một thời gian bị nhiễm COVID-19, ái nữ của bà xác nhận với nhật báo Người Việt.

    Vì lý do riêng tư, ái nữ của danh ca không muốn nêu tên.

    Trước đó, hôm 29 Tháng Mười Hai, 2020, ái nữ của nữ danh ca Lệ Thu kể: “Mẹ tôi nhiễm COVID-19 và được đưa vào bệnh viện MemorialCare Orange Coast Medical Center, Fountain Valley, khoảng ba tuần nay. Hiện nay, tình trạng sức khỏe mẹ tôi khả quan hơn, đang ăn uống để hồi sức.

    Cô kể tiếp: “Có lẽ mẹ tôi ăn đồ ngọt hơi nhiều, rồi nằm một chỗ, y tá cho biết lượng đường lên đến 400, phải điều trị, hơi phức tạp. Vì mệt quá, nên y tá không tập được, khó thở, nên bắt buộc phải thở bằng máy.”

    Khi được hỏi mong mỏi điều gì nhất lúc này, ái nữ của nữ danh ca nói: “Tôi mong những người hâm mộ mẹ, nếu có nghĩ đến bà, xin cầu nguyện cho bà chóng qua khỏi. Nếu phải ra đi thì đi trong nhẹ nhàng. Cầu mong có một phép lạ nào đó cho bà chóng bình phục.”

    Nữ danh ca Lệ Thu là một trong những tiếng hát nổi tiếng nhất tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975. (Hình: Nguyễn Lập Hậu)

    Nữ danh ca Lệ Thu là một trong những tiếng hát nổi tiếng nhất tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, với các ca khúc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Đoàn Chuẩn-Từ Linh… như “Nước Mắt Mùa Thu,” “Mùa Thu Chết,” “Hạ Trắng,” “Thu Hát Cho Người”…

    Theo Wikepedia, nữ danh ca Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16 Tháng Bảy, 1943, tại Hải Phòng, trong gia đình có tám người con, nhưng trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông.

    Năm 1953, nữ danh ca cùng mẹ vào miền Nam sinh sống.

    Trong khi đang theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers, vào năm 1959, trong một lần đến phòng trà Bồng Lai nghe nhạc, do sự khuyến khích của bạn bè, Lệ Thu bước lên sân khấu trình bày nhạc phẩm “Dang Dở.”

    Ngay sau đó, ông chủ phòng trà mời Lệ Thu ký giao kèo biểu diễn. Cũng từ đó bà lấy nghệ danh Lệ Thu.

    Trong một lần phỏng vấn, Lệ Thu trả lời: “Tôi lấy tên Lệ Thu vì tôi giấu gia đình. Thật ra tên đó nó không có trong tiềm thức của tôi nhưng tự nhiên nó bật ra, tôi không hiểu từ đâu.”

    Sau khi nhận lời cộng tác với phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu vẫn tiếp tục đi học nhưng một thời gian sau quyết định nghỉ học để theo đuổi con đường ca hát.

    Theo sau Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát và kế đó là vũ trường Tự Do vào năm 1962. Thời kỳ đó Lệ Thu thường trình bày những nhạc phẩm lời Pháp và Anh, nổi bật nhất là các bản như “La Vie En Rose,” “A Certain Smile,” “La Mer,” “Love Is A Many Splendored Thing”…

    Lệ Thu dần nổi tiếng và trở thành một ca sĩ quan trọng của các vũ trường lớn ở Sài Gòn. Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do, và Ritz.

    Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ trường Queen Bee.

    Ngoài việc đi hát hàng đêm Lệ Thu còn ký giao kèo thu thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời đi hát.

    Đến giữa năm 1969, Lệ Thu cùng với chương trình Jo Marcel dời về vũ trường Ritz trên đường Trần Hưng Đạo. Năm 1970 Lệ Thu trở lại với vũ trường Tự Do.

    Lệ Thu cũng tham gia các chương trình ca nhạc trên các đài phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội, và Mẹ Việt Nam, và thu âm cho nhiều băng nhạc.

    Cùng với Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu là một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất của Sài Gòn cho tới năm 1975.

    Sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, Lệ Thu gia nhập đoàn kịch Kim Cương để đi trình diễn và hát.

    Tháng Mười Một, 1979, Lệ Thu vượt biển đến Pulau Bidong, Malaysia, sau đó sang Mỹ vào giữa năm 1980.

    Tại Hoa Kỳ, Lệ Thu tiếp tục đi hát, tái ngộ với khán giả trong một buổi trình diễn đặc biệt do nhạc sĩ Nam Lộc tổ chức tại Beverley Hills.

    Sau đó bà cộng tác với nhiều vũ trường, và thực hiện băng nhạc đầu tiên ở hải ngoại, mang tên “Hát Trên Đường Tử Sinh,” và tiếp tục thu âm những bản nhạc từng làm bà nổi tiếng.

    Sau này, bà có về Việt Nam hát một thời gian. (Đ.D.)

    www.nguoiviet.com

  • Tin tức

    Lệ Thu, Chim Oanh Về Cõi Thiên Thu

    Vương Trùng Dương

    Trong thời gian qua, ca nhạc sĩ đã một thời nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam đã vĩnh viễn ra đi: nhạc sĩ Lê Dinh (9/11/2020 tại Canada), nhạc sĩ Lam Phương (22/11), ca sĩ Mai Hương (29/11)… và lần nầy đến ca sĩ Lệ Thu, sau thời gian bị nhiễm Covid-19, vừa qua đời vào 7 giớ tối Thứ Sáu, 15/1/2021 tại Orange County (Quận Cam).

    Là người đam mê âm nhạc, thưởng thức những tiếng hát đã một thời, một đời và đã viết về hình ảnh ca sĩ làm thăng hoa nền âm nhạc Việt Nam trong gần 3 thập niên qua. Để tưởng nhớ Mai Hương, tôi viết bài “Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi!” như lời tạ từ. “Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm vang” (Tô Vũ). Đầu mùa dịch Covid-19, ca sĩ Thái Thanh qua đời vào trưa ngày 17/3/2020 tại Orange County, đêm đó tôi viết: Danh ca Thái Thanh ra đi, gởi lại “Tiếng Hát Vượt Thời Gian & Không Gian”, vì nghĩ đến tang lễ ca sĩ được mọi người ái mộ, tiếc thương do lệnh khắt khe của tiểu bang nhằm tránh sự lây lan của đại dịch nên không đễn tiễn biệt làn cuối. Và, loạt bài “Viết trong mùa đại dịch” của tôi liên quan đến bệnh dịch trong quá khứ và tác phẩm văn học…

    *

    Lệ Thu là một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất giữa thập niên 60 & 70. Trong 6 thập niên, từ trong nước, ở hải ngoại, Lệ Thu đã đi trình diễn khắp nơi, theo thời gian có trên 20 băng nhạc, CD, DVD… đã được thực hiện từ cá nhân đến Sóng Nhạc, Asia, Thúy Nga… Năm 2017, trong tai nạn xe cộ suýt chết, ngưng hát. Trong mùa dịch quái ác Covid-19, bị nhiễm virus, vào bệnh viện Orange Coast Medical Center (Fountain Valley, California, Mỹ). Sau thời gian chữa trị không không thoát khỏi cơn dịch quái ác nầy nên đã vĩnh viễn ra đi!

    Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1943 tại Hải Phòng, nhưng trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông. Về bản thân, Lệ Thu chia sẻ:

    “Trước năm 1945, bố làm một chức quan nhỏ ở Hải Phòng. Mẹ là vợ lẽ, sống dưới quyền của bà vợ cả, phải chịu đựng đủ điều. Bà bắt mẹ cô làm đủ thứ việc. Một sân thóc rộng mênh mông, giữa trưa nắng như đổ lửa, phải phơi, trở thóc, rồi thu dọn, quét sân từ trưa cho đến khi trời xế bóng. Rồi đủ thứ việc, chả bao giờ được nghỉ tay.

    Mẹ cô sinh tám người con, cứ đến 3 tuổi thì mất, duy nhất có cô còn sống. Năm 1953, khi mẹ cô vào Sài Gòn, bố cô không đi vì tiếc của cải.

    Năm 1954, một ngày nọ tôi đi học về, mẹ cô gọi vào và chỉ nói một câu ngắn gọn: “Thầy con mất rồi!”. Từ đó mẹ sống lặng lẽ, không đi bước nữa. Và cũng từ đó cô không hay tin tức gì ngoài đó nữa. Hai mẹ con tôi sống ở chợ Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng”.

    Vì là đứa con gái duy nhất nên được nuông chiều, cũng thích chơi các trò chơi của nam sinh, đánh đáo, u mọi… Theo Lệ Thu “Tôi nhớ lúc 14 tuổi, đã có ngực, mà tôi hồn nhiên đi tắm mưa không mặc áo, cũng không mặc áo ngực…” như con trai.

    Lệ Thu học đàn piano từ nhỏ, khi vào Sài Gòn học đàn guitar và hát với vị thầy cận nhà và được nhạc sĩ Đức Quỳnh chỉ dẫn thêm về ca nhạc. Theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers. Vào đầu thập niên 50, trường Les Lauriers ở Tân Định, giảng dạy chương trình Pháp Việt song song với nhau. Năm 1959, trường dời về đường Đinh Công Tráng, đổi tên là trường Tân Thịnh. Nhạc sĩ Lam Phương đã học ngôi trường nầy. Sau năm 1975 đổi tên trường Đuốc Sống.

    Lệ Thu đến với nghề ca hát hết sức tình cờ rồi trở thành ca sĩ. Theo lời kể Lệ Thu: “Lần sắp thi tú tài, nhân dịp sinh nhật một người bạn tổ chức trên sân thượng phòng trà Bồng Lai, mấy cô bạn trong nhóm của tôi thúc: “Ê Oanh, mày lên hát tặng con Liên một bài sinh nhật đi!”. Tôi liền đứng lên hát bài “Tà Áo Xanh” (Dang Dở) của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Tự dưng giọng hát tôi lọt tai ông chủ phòng trà. Ông bèn ngỏ lời mời tôi đi hát. Ông thuyết phục tôi: “Em có giọng hát rất hay và lạ. Không cần thức khuya đâu. Em cứ đến đây lúc 8 giờ, hát vài bài rồi 9 giờ về. Cứ nói với mẹ là đến nhà bạn học bài”. Kèm theo đó, ông trả cho tôi một số tiền khá lớn so với hình dung của tôi thời ấy. Thế là tối tối, tôi giấu mẹ đi hát. Nhiều khi tôi mặc cả đồng phục ở trường đi hát luôn. Khi ông chủ phòng trà hỏi tôi muốn được gọi như thế nào thì cái tên Lệ Thu lập tức bật ra như được định sẵn trong đầu mình. Kỳ thực, tôi cũng biết chữ “lệ” mang nghĩa buồn lắm, là nước mắt và mùa thu cũng sầu không kém. Thế nhưng “lệ” ở đây còn có nghĩa là mỹ lệ, là một mùa thu rất đẹp. Đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao cái tên này lại bật lên một cách tự nhiên như thế…”. (Lúc đó Ngọc Phu & Hoàng Cầm điều khiển chương trình).

    Khởi nghiệp từ phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát và kế đó là phòng trà Tự Do vào năm 1962. (Trước tháng 11 năm 1963, cấm nhảy đầm, chỉ nghe ca nhạc nên gọi là phòng trà. Sau thời điểm đó, báo chí, giải trí, nhảy nhót… như nắng hạn gặp mưa, sau đó gọi là vũ trường (nơi có khiêu vũ) và sau nầy thường gọi là phòng trà theo thói quen, Trong loạt bài Phòng Trà Ca Nhạc Sài Gòn Xưa của Lê Văn Nghĩa viết tương đối chính xác).

    Kể từ đó, Lệ Thu được nổi tiếng cùng với những ca sĩ tên tuổi ở Sài Gòn. Tiếng hát Lệ Thu hút khách đến với các phòng trà như Queen Bee (năm 1969 của Jo Marcel), Ritz… Tháng 4/1970, Lệ Thu đã về với phòng trà Tự Do. Ông Ngô Văn Cường chủ Tự Do đã dùng giá cao để “giựt” Lệ Thu ra khỏi Ritz của Jo Marcel. Trước đó Jo ký với Lệ Thu là 700.000 đồng hát một năm, cộng tiền cát-sê khá cao, còn ông Cường kêu Lệ Thu trả hợp đồng 1 triệu và tiền hát hằng đêm gấp đôi. Lệ Thu thường ký độc quyền với các phòng trà, hát nhạc Việt và ngoại quốc rất hay nên ăn khách. Ngay cả phòng trà Khánh Ly đã có một thời cộng tác với nhau vẫn sòng phẳng. Và, “một trong những giọng hát tình khúc hay nhất của nền tân nhạc Việt Nam”, nhất là các ca khúc dòng nhạc bán cổ điển (semi-classic), ca khúc thời tiền chiến.

    Giọng ca Lễ Thu được mệnh danh “Giọng Ca Vàng Ròng”, “Tiếng Hát Vàng Mười” nghe không được “bay bổng, sang trọng, lãng mạn” như Thanh Thúy, Thái Thanh… Nếu gọi “Giọng Oanh Vàng Tình Khúc”, vừa mang tên người vừa mang tên loài chim oanh.

    Trong thi phẩm Chinh Phụ Ngâm Chinh Phụ Ngâm của tác giả Đặng Trần Côn (1705-1745) qua bản dịch nhà thơ Đoàn Thị Điểm (1705-1749) có câu

    “Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu

    Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca”

    Chim oanh biểu trưng cho mùa xuân, trong thơ ca cổ hình ảnh này xuất hiện khá phổ biến nhất là trong Đường thi.

    Lệ Thu tham gia các chương trình ca nhạc trên Đài Phát Thanh Sài Gòn, Đài Phát Thanh Quân Đội, Mẹ Việt Nam, Đài Truyền Hình Việt Nam… và được trung tâm sản xuất băng nhạc mời cộng tác thu âm. Hầu hết ca khúc do Lệ Thu hát, được chọn lọc, ngay cả nhạc sĩ sáng tác. Lệ Thu thường chọn những tình khúc buồn, với tà áo dài, vừa hợp với phong cách trình diễn, âm điệu linh động với giọng alto-contralto và mezzo-alto dễ ru vào lòng người. Từ trong nước đến hải ngoại, trong 6 thập niên qua, Lệ Thu vẫn giữ được sự chọn lọc nầy.

    *

    Năm 2010. Nhạc sĩ Cung Tiến ấn hành tuyển tập ca khúc Hoàng Hạc Lâu, gồm 15 ca khúc trước năm 1975 và hải ngoại. Tôi email cho Việt Hải, viết bài về Cung Tiến. Bài viết Cung Tiến: Những Tình Khúc Lãng Mạn Về Cố Nhân của Việt Hải đăng tải trên nhật báo Saigon Nhỏ, số ra ngày Thứ Bảy, 12 tháng 6/2010. Văn Học Nghệ Thuật với chủ đề về Cung Tiến.

    Ca khúc Hương Xưa (1955) trang 18, ghi tặng Khuất Duy Trác, ca khúc Kẻ Ở (1977-1999) phổ thơ Quang Dũng, trang 44, ghi tặng Lệ Thu.

    Tháng 10/2020, trong loạt bài “Viết trong mùa đại dịch”, tôi viết bài Một Thoáng “Hương Xưa” về dòng nhạc đến ý nghĩa của lời ca mang nhiều điển tích. Tình khúc Hương Xưa của nhạc sĩ Cung Tiến hay và đẹp từ giai điệu đến lời ca ẩn chứa điển tích nói lên cái hồn của cung bậc.

    Duy Trác là ca sĩ đầu tiên hát tình khúc Hương Xưa, và Lệ Thu khi hát Hương Xưa theo lời kể:

    “Tôi còn nhớ mãi mỗi đêm ở phòng trà Queen Bee, khi tôi hát Hương Xưa xong, khán giả lặng đi một hồi lâu, như là vẫn còn chìm đắm miên man ở trong dòng cảm xúc của bài hát, chưa biết là bài hát đã kết thúc. Tôi hát câu cuối là “Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…” rất tình cảm và ngân rất dài. Sau khi dứt tiếng đàn, tiếng hát, mọi người im lặng một lúc, sau đó mới ồ lên vỗ tay…”.

    Nghe ca khúc Hương Xưa rồi nghe ca khúc Nửa Hồn Thương Đau của nhạc sĩ Phạm Đình Chương:“Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa… Cho lòng tiếc nuối xót thương suốt đời”… thế hệ chúng tôi sống đời lưu vong cảm nhận như tựa đề tác phẩm “Một Thởi Để Yêu & Một Thời Để Chết” (A Time to Love and a Time to Die) của nhà văn Đức Erich Maria Remarque. Với tác phẩm nầy tôi đã viết Trong Mùa Dịch Covid-19 đọc lại Trăm Năm Cô Đơn (4/2020).

    Với tôi, Hương Xưa là một trong những tình khúc hay nhất của nền tân nhạc Việt Nam và cũng “giới hạn” ca sĩ trình bày. Có thể cho rằng giọng ca nào thành công với Thiên Thai của Văn Cao, Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành, Kiếp Nào Có Yêu Nhau của Phạm Duy, Dòng Sông Xanh (lời Phạm Duy) và Hương Xưa… thì dễ dàng thành công với nhiều tình khúc khác.

    Trong thanh nhạc, kỹ thuật ngân rung (vibrato) xuất phát rất quan trọng đánh giá giọng ca. Hầu hết, ca sĩ đều luyện tập ngân rung cổ họng, Lệ Thu áp dụng từ bụng nên làn hơi được điêu luyện, khỏe hơn.

    Trong cuộc sống ít khi được toàn vẹn, nhất là giới ca sĩ. Trong ca khúc Eternally của Charles Chaplin (Ánh Đèn Màu qua lời Việt của Nguyễn Xuân Mỹ năm 1965) với thân phận:

    “Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui

    Đời son phấn làm mất bao ngày thơ ngây

    … Đời cam sống một bóng lặng lẽ cô đơn

    Đời xa tiếng ca nào ai tiếc thương bẽ bàng”

    Hay trong ca khúc Kiếp Cầm Ca của Huỳnh Anh:

    “Đời ta là bến ai qua ghé thăm đôi lần

    Nhớ chăng tiếng ca cung đàn ngày xưa

    … Mưa đêm vẫn rơi mãi không ngừng

    Có người ca sĩ khóc đời quạnh hiu”

    Trong quyển Thân Phận & Hào Quang của nhà báo Hoàng Nguyên Vũ ấn hành ở Việt Nam năm 2016. Tác giả phỏng vấn các ca sĩ trong nước và các ca sĩ ở Mỹ (Bạch Yến & Họa Mi ở Pháp) về VN trình diễn. Trong đó có bài: “Ca sĩ Lệ Thu: 3 lần đò và những nỗi đau chưa kể”.

    Trích phần Lệ Thu đề cập đến các cuộc tình:

    “… Mẹ tôi sợ có con gái trong nhà như một trái bom nổ chậm, lại theo ca hát nên mẹ sợ ế, và đặc biệt là sợ sa ngã. Tôi đi hát, có gặp một anh chàng không quân thích tôi, gia đình họ đến đặt vấn đề hỏi cưới, thế là mẹ “tống” tôi đi ngay.

    Tôi lấy chồng khi chưa một lần nắm tay người khác giới, chưa bao giờ biết hôn, nên đời sống chăn gối tôi cứ như một… khúc gỗ. Người chồng thất vọng não nề về sự ngây thơ, thậm chí… đần độn như thế. Chỉ được 2 tháng, anh ấy không thể chịu đựng được nên anh quyết định bỏ.

    … Tôi bị chồng bỏ mà vui, hí hửng về với mẹ. Mẹ tôi cũng không buồn vì mỗi lần lên thăm con cũng cảm nhận được cái cảnh cơm nguội canh nhạt ấy. Lạ lùng là bị chồng bỏ mà tôi không thấy đau khổ. Có lẽ vì tôi không yêu. Bởi nếu có một tình yêu đúng nghĩa thì bằng mọi cách tôi sẽ giữ lấy hạnh phúc của mình.

    … Chia tay chừng 5-7 năm, tôi gặp lại anh ấy một cách tình cờ khi tên tuổi tôi cũng đã nổi lắm rồi. Anh ấy cũng là một người hát rất hay, và cũng có đi hát như một đam mê.

    Năm 1963 tôi đi bước nữa. Tôi gặp một người từ bên Pháp về đây chơi. Anh ấy ở Pháp từ nhỏ, đã có vợ có con bên đó nhưng về đây thấy tôi thì mê, và bỏ luôn vợ bên đó.

    Mãi sau này tôi mới biết chuyện này chứ trước đó, nếu tôi biết anh ấy có vợ con rồi thì chẳng bao giờ tôi đến với anh ấy. Sau một năm tìm hiểu chúng tôi tổ chức đám cưới.

    … Tôi từng tính bỏ hát để yên phận cơ mà. Anh ấy không phải là một người đàn ông của gia đình, đúng hơn không phải là người chung thủy. Anh đi chơi rất nhiều mà tôi thì không chịu nổi điều đó và cuối cùng tôi phải bỏ cảnh sống đó dù không cãi vã to tiếng. 7 năm một cuộc hôn nhân như thế, chúng tôi có hai đứa con gái.

    Với cuộc tình thứ ba:

    “Năm 1969, chúng tôi gặp nhau nhưng đến năm 1974 mới chính thức tổ chức đám cưới tại nhà thờ. Cuộc hôn nhân kéo dài 10 năm, chúng tôi có với nhau một đứa con gái, anh ấy cũng rất yêu thương, lo lắng cho tôi.

    Hạnh phúc được thử thách qua những tháng ngày gian khổ, thế nên tôi hoàn toàn yên tâm đó là những gì ngọt ngào có được sau những cay đắng riêng tư. Chúng tôi mất nhau cũng vì lỗi của đàn ông. Và khốn khổ cho tôi, tôi đi Mỹ thì ngay lập tức đã có một người phụ nữ khác vào nhà tôi sống với chồng tôi. Và lần nữa, tôi vẫn là người khờ khạo.

    … Tôi cũng có một cuộc tình rất thắm thiết. Năm 1988 tôi gặp người đó, tôi mới biết rung động thật sự là gì, tình yêu đúng nghĩa là gì, nhưng tôi vẫn khờ khạo không giữ được tình yêu của mình.

    Và từ đó tôi cũng chẳng yêu ai được nữa. Tính tôi vốn nhát và không bao giờ đi tán tỉnh hay giành giật đàn ông dù tôi có thích họ hoặc ước gì họ là người yêu của mình.

    Cả ba người đàn ông đó giờ còn sống, kể cả anh hàng xóm si tình năm ấy, có người ở Mỹ, có người còn ở Việt Nam. Chúng tôi vẫn là bạn và vẫn thăm nhau nếu có dịp.

    … Những người nào đi qua đời mình hay những gì mình trải qua đều là duyên, đều là ngộ. Những gì mình khổ, hay nó vướng bận vào đời mình và cuộc sống của mình, đều là nợ nhau cả và mình phải trả. Trả hết thì thôi”.

    Ở Việt Nam, các cây bút viết về ca sĩ, thường khai thác về tình yêu, tình cảm lăng nhăng hầu đáp ứng tính hiếu kỳ, tò mò của độc giả. Không dẫn chứng ca khúc nào làm nên tên tuổi. Có khi khai thác bí ẩn theo tin đồn để tung ra…

    Ở hải ngoại có nhạc sĩ Trường Kỳ đã ấn hành các Tuyển Tập Nghệ Sĩ. Trong TTNS tập 5 năm 2001, dày 374 trang, bài viết Lệ Thu, Sau 40 Năm Thăng Trầm Trong Âm Nhạc (trang 283-288) vì cùng sinh hoạt trong giới ca nhạc với nhau nên ghi lại chính xác.

    Với tôi, thích nhà văn Hồ Trường An, trong tác phẩm Chân Dung Những Tiếng Hát, quyển I ấn hành năm 2001, dày 446 trang với 52 ca sĩ. Cách viết ví von và nhận xét tinh tế qua từng lời ca, giai điệu, âm sắc… Lệ Thu, Tiếng Ca Khởi Phụng Đằng Giao (trang 127-135) “Năm 1971, tôi có cộng tác với tờ tuần san Minh Tinh, có đến tư thất của Lệ Thu ở đường Trần Quang Khải (Tân Định) để phỏng vấn cô. Thuở đó cô đang chung sống với nhà văn Hồng Dương”… “Người chồng trước của cô (Người ta gọi anh là Tony Sơn). Khi gặp Lệ Thu, nhà văn Hồng Dương ly dị vợ là nữ sĩ Linh Linh Ngọc” (Người chồng thứ ba theo lời kể của Lệ Thu ở trên)…

    Hồ Trường An nêu tên những ca khúc do Lệ Thu hát đã được mọi người ngưỡng mộ. “Tiếng hát Lệ thu làm cho chúng ta nghĩ đến một trái hỏa châu bắn vọt lên không trung để tỏa ngời ánh sáng… Tiếng hát Lệ Thu là tiếng hát hay bay về trời, gợi hình ảnh khởi phụng đằng giao trong tuyện cổ tích, trong huyền thoại”.

    Đạo diễn Nguyễn Long, thuyền nhân định cư tại Quận Cam năm 1992. Trước năm 1975 quen biết nhiều trong giới nghệ sĩ ở Sài Gòn. Làm thân tị nạn, sống lang bạt, làm báo, viết lách. Với chiếc xe truck cà rịch cà tàng, đóng thùng chứa sách báo. Làm chỗ ngủ qua đêm đi vòng quanh nước Mỹ. Anh viết 88 Nữ Ca Sĩ, dày 512 trang. Và tiếp theo với 32 Nữ Ca Sĩ, ấn hành năm 1997. Cuộc phỏng vấn Lệ Thu ngày 15/1/1996 đăng trên trang sách Trang 621-626). Lời chia sẻ của Lệ Thu về cuộc đời, tình trường cũng giống như những gì kể trên.

    Trong các mối tình kể trên cho thấy danh vọng cuộc đời và tình yêu lận đận trong cõi vô thường nầy của Lệ Thu cũng như nhiều nữ ca sĩ khác trên thế gian!

    Hồng Dương gia nhập làng báo rất sớm ở nhật báo Chính Luận thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Cuộc tình của Hồng Dương & Lệ Thu có với nhau con gái út là Thu Uyển. Năm 1978, Lệ Thu có mở một hàng cà phê Thu Uyển ở Tân Định. Đến tháng 11 năm 1979, Lệ Thu cùng Thu Uyển vượt biển đến Pulau Bidong và sang Mỹ vào giữa năm 1980. Đến năm 1982, hai cô con gái lớn của Lệ Thu với người chồng thứ hai (Tony Sơn) cũng vượt biên và đoàn tụ với mẹ tại Nam California.

    Sau tháng 4/1974, Hồng Dương bị tù một năm. Không vượt biên cùng Lệ Thu. Khi mới đến Quận Cam trên đất Mỹ, vả 3 gặp nhau (có Linh Linh Ngọc) rồi “riêng một góc trời” mỗi người có cuộc sống riêng. Để giúp bạn ta có niềm vui trên đất Mỹ, Bùi Xuân Hiến, Long Ân và Ngọc Hoài Phương ra tuần báo Chính Luận, Hồng Dương làm Chủ Bút nhưng được thời gian tờ Chính Luận bỏ cuộc chơi.

    Sau nầy nơi cà phê Mưa Rừng (người thân của Hồng Dương) ở góc đường Brookhurst & Edinger. Thỉnh thoảng anh ra quán gặp bằng hữu. Hồng Dương qua đời ngày 18/1/2018 tại Quận Cam, nên lúc Lệ Thu trả lời phỏng vấn năm 2016, anh vẫn còn sống.

    Cùng là báo giới với nhau, gọi là “tình bạn” giữa “người đó” nhà báo ở Seatlle và ca sĩ mang tính lãng mạn cho đời thêm vui trong cõi tạm. Tôi đã từng được những lời chia sẻ, người đàn bà với ngày tháng còn lại sợ nhất là nỗi cô đơn! Ở Mỹ, con cháu có cuộc sống riêng, hình như “hồn nhiên” trong nỗi buồn đang “gặm nhấm tâm hồn” hoàng hôn của cuộc đời! Cháu nội, ngoại ghé thăm cũng dán mắt vào iPhone… rồi vào chúc sức khỏe trước khi về.

    Trước đây, bạn văn Lâm Tường Dũ (tác giả Tình Sử Nhạc Khúc) cũng vào thời điểm nầy, nhờ tôi viết bài: Lệ Thu, Tình Khúc Với Thu. Tôi thấy đề tài ngồ ngộ vì tên tuổi ca sĩ với những tình khúc liên quan đến Thu đã từng đi vào tâm hồn ngưới ái mộ âm nhạc từ nhạc phẩm của Đoàn Chuẩn, Phạm Duy đến Vũ Đức Sao Biển, Ngô Thụy Miên, Trường Sa… Ở trong nước “Nhạc Vàng” bị cấm, bị đả kích thậm tệ rồi “Nhạc Vàng ngự trị nền âm nhạc cả nước, nhưng tôi tế nhị từ chối, tuy chẳng quan tâm ca sĩ về VN hát hò với cái nghiệp “xướng ca” mà truyền thông Việt ngữ nơi đây đã nêu lên vài trường hợp không mấy hay ho gì. Hát hò là chuyện thường tình nhưng tuyên bố lung tung, chấp nhận bài hát theo “đơn đặt hàng” dễ gây dị ứng trong cộng đồng người Việt tị nạn là chuyện khó chấp nhận. Đã có những lời bình phẩm khi viết về hình ảnh vài tiếng hát đã hy sinh mạng sống, bỏ nước ra đi… rồi quay về ca khúc “Hậu Đình Hoa” mà nhà thơ Đỗ Mục than thở trước vận nước trong bài thơ Bạc Tần Hoài. Chuyện cũ đã qua!

    Với tâm hồn nhân bản của truyền thống Việt Nam từ thời cha ông, nghĩa tử, nghĩa tận. Nhận được tin buồn Lệ Thu vĩnh viễn ra đi trong cơn đại dịch, Orange County trong tình trạng ban bố “stay at home”, tình trạng bi đát đến lúc bệnh viện không có chỗ nhận người già bị nhiễm Covid-19, xác người trở thành “hư vô & cát bụi” quá đau thương cho thân nhân!

    Trước nỗi đau nầy, mượn câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm để tiễn biệt Lệ Thu Bùi Thị Oanh: “Oanh bay đi biền biệt chẳng quay về”.

    Và, tiếng hát đầu tiên của cuộc đời với câu kết trong nhạc phẩm Dang Dở như định mệnh “Hoa tàn nhạc bay theo không gian” tiễn người: Lệ Thu về cõi thiên thu! “Đời xa tiếng ca nào ai tiếc thương bẽ bàng” (Ánh Đèn Màu).

    Little Saigon. January 16, 2021

    Vương Trùng Dương.

  • Tin tức

    Ca-Nhạc sĩ Hạ Đỏ Bích Phượng và sản phẩm âm nhạc, trao tặng yêu thương.

    Trong từng giây phút, HạĐỏ BíchPhượng luôn tri ân Thượng Đế đã ban cho mình món quà vô giá – Đó là Feeling… là Cảm Xúc – để sáng mắt trong đời thường, biết cảm nhận yêu thương và sáng tác. Đối với HạĐỏBP, Sáng Tác là một sự thách thức của Bóng Tối, là hành trình phiêu lưu can đảm thể hiện khả năng Cảm Xúc của chính mình, là cánh cửa linh hồn mở ra để khám phá Nội Tâm của riêng mình.

    Trải qua một Năm có nhiều biến động tại Hoa Kỳ và trên Thế Giới như ThiênTai, Đại Dịch, Biểu Tình, Bạo Loạn, xung đột Đảng Phái, Bầu Cử… Bạn thấy gì? Bạn nghĩ gì? Riêng HạĐỏBP ở một góc nhìn từ bi, chỉ muốn dùng cọ vàng Âm Nhạc vẽ lên cảm xúc, để nét vẽ khơi dậy tính Nhân Bản đang bị màn đêm vây kín từ một vài sự kiện nghiệt ngã trong năm…Mỗi một bài nhạc là một bức tranh lãng mạn trong hiện thực với ước mong Bạn cảm nhận được tất cả những biểu tượng, thanh âm, nhạc ngữ, vị trí và giá trị của các Notes Nhạc… dù là những Dấu Lặng yếu đuối, bất lực trong sợ hãi và rũ mềm trước sự mất mát / cách ly / thương nhớ vắng xa, trước hình tượng cong queo Môi Sầu khép lại sau vành khẩu trang che đậy…hoặc là những Dấu Thăng / Giảm theo cường độ tỉnh thức giữa những trường canh để các Notes Nhạc nẩy lên cao trào, vươn lên nỗi niềm khát khao, mong tìm Niềm Tin hay Xác Tín cho sự nối kết, chở che từng Mạng Sống…khẩn cầu Thượng Đế tha thứ lỗi lầm cho con người, được bình an, thoát cơn Đại Dịch…Cuối cùng, dù viết cho Tình Yêu hay Tình Người, Nhạc và Lời của HạĐỏ BP luôn có những Âm Sắc đam mê tỏa sáng tình yêu nồng nàn với Tâm Tình sâu lắng…

    Bức Tranh Âm Nhạc của HạĐỏ BíchPhượng là bộ CD thứ tư gồm 2 cds / 24 bài nhạc (Tâm Tình + Lời Cầu Xin Trong Tình Yêu Thương) mang nhiều ý nghĩa, chất lượng, sự kiện, cảm xúc và tư duy.

    Bên cạnh những Ca Sĩ nổi danh như Tuấn Ngọc, Ý Lan , Cẩm Vân, Thanh Hà, Ngọc Anh, Quỳnh Lan, Trọng Bắc… đặc biệt có một số bài nhạc khiến Bạn thích thú, hãnh diện khi nghe tiếng đàn & giọng hát của các em trẻ VStar Kids – thật trong sáng và tinh khiết như những giọt sương bình minh, long lanh, tuyệt đẹp trên cánh đồng cung bậc xanh tươi… HạĐỏ BP xin ân cần trao tặng bộ CD tràn đầy tình cảm này đến những tâm hồn đồng điệu bằng cả tấm lòng trân trọng trong Năm Mới 2021 !

    · Xin mời ủng hộ mua CDs để thưởng thức và tiền ủng hộ của Bạn sẽ giúp Hội Bạn Người Cùi chăm sóc cho Người Bất Hạnh & Phong Cùi.

    Vui lòng liên lạc với: Hội Bạn Người Cùi to order Chị Soi: (714)732- 8162

    hoặc nếu muốn biết thêm chi tiết, please text HạĐỏBP: (714) 293 -1294

  • Tin tức

    Danh Ca Thanh Thúy và Những Mối Tình Đơn Phương

    1. Mở bài

    Ca sĩ Thanh Thúy là một hiện tượng của nền âm nhạc miền Nam trước năm 1975. Nổi bật nhất của chị là giọng hát u buồn như tiếng khóc nức nở, được cho là: “Tiếng Hát Khói Sương”, “Tiếng Hát Liêu Trai”, “Tiếng Hát Lúc Không Giờ” của chị.

    Ngoài tiếng hát đặc biệt đó, Thanh Thúy còn là một người đẹp, được chọn là “Hoa Hậu Nghệ Sĩ”, ca sĩ ăn khách nhất, ca sĩ được ái mộ nhất. Nữ hoàng Bolero.

    Giọng ca, tiếng hát và sắc đẹp đưa Thanh Thúy lên đỉnh cao trong nền âm nhạc Việt Nam thời đó.

    “Thanh Thúy là người tình trong mộng của cả một thế hệ”. Ba mối tình đơn phương đối với Thanh Thúy là, nhạc sĩ Trúc Phương, đạo diễn Nguyễn Long, và mối tình đầu đời của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

    2* Ca sĩ Thanh Thúy

    2.1. Vài nét tổng quát về ca sĩ Thanh Thúy

                               Thanh Thúy và chồng là Ôn Văn Tài

    Tên đầy đủ là Nguyễn Thị Thanh Thúy, sanh ngày 2-12-1943 tại Huế, trong một gia đình 5 chị em. Năm 1964 Thanh Thúy kết hôn với tài tử vừa là phi công Ôn Văn Tài, (Cấp bậc sau cùng là Đại tá Không Quân VNCH).

    Thanh Thúy là một trong 10 ca sĩ có ảnh hưởng lớn trong nền tân nhạc Việt Nam trước năm 1975. Được mệnh danh là Nữ Hoàng trong thể điệu Bolero và Rumba-Bolero.

    2.2. Sinh hoạt ca hát của Thanh Thúy

    nhacsitrucphuong

                                    Thanh Thúy và nhạc sĩ Trúc Phương

    Tên tuổi của Thanh Thúy gắn liền với những ca khúc mà nhạc sĩ Trúc Phương viết riêng cho chị hát. Đồng thời cũng gắn liền với những nhạc khúc tiền chiến, nổi bật nhất là bản nhạc bất hủ Giọt Mưa Thu của Đặng Thế Phong.

    Thanh Thúy được các nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn và diễn viên điện ảnh nổi tiếng, hết lòng ca ngợi bằng những mỹ từ như “Tiếng Hát Khói Sương”, “Tiếng Hát Liêu Trai”.

    Năm 1961. Đạo diễn Nguyễn Long thực hiện cuốn phim “Thúy Đã Đi Rồi” nói về Thanh Thúy. Ngoài cuốn phim nầy, tên tuổi Thanh Thúy còn xuất hiện trên sân khấu kịch và truyền hình.

    Năm 1962. Thanh Thúy được bầu chọn danh hiệu “Hoa Hậu Nghệ Sĩ”.

    Năm 1964. Bản nhạc Chuyến Tàu Hoàng Hôn đã khắc sâu tên tuổi và tài nghệ của chị trong lòng khách mộ điệu.

    Năm 1970. Đoạt giải Kim Khánh của nhật báo Trắng Đen dành cho nữ ca sĩ ăn khách nhất với nhạc phẩm Tình Đời (Duyên Kiếp Cầm Ca) của hai nhạc sĩ Minh Kỳ và Vũ Chương.

    Năm 1972. Đoạt hai giải Kim Khánh dành cho nữ ca sĩ được ái mộ nhất trong năm và show truyền hình được yêu thích nhất của năm 1972 do chị làm trưởng ban.


    2.3. Thanh Thúy và những ca khúc u hoài của cuộc đời



    Nhiều ca khúc nói lên nỗi niềm cay đắng, nghiệt ngã về tâm trạng thương cảm, ngang trái trong cuộc đời và cuộc tình, được dàn trải qua tiếng hát Thanh Thúy tạo dấu ấn sâu đậm trong lòng người thưởng ngoạn.

    Từ nhạc phẩm tiền chiến như Giọt Mưa Thu, Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương, Tan Tác của Tu My (Đỗ Mạnh Cường) , Chuyển Bến của Đoàn Chuẩn, Biệt Ly của Dzoãn Mẫn, Nhắn Gió Chiều của Nguyễn Thiện Tơ, Tiếng Còi Trong Sương Đêm của Lê Trực, Tiếng Đàn Tôi và Thuyền Viễn Xứ của Phạm Duy…cho đến Ngăn Cách, Người Em Sầu Mộng của Y Vân, Lạnh Lùng của Đinh Việt Lang, sang Kiếp Cầm Ca của Huỳnh Anh, Tiếng Ve Sầu của Lam Phương, đến Mộng Chiều của Khánh Băng, Nhạt Nắng của Xuân Lôi, Đường Nào Lên Thiên Thai cửa Hoàng Nguyên… và nhiều ca khúc của Trúc Phương phù hợp với tiếng hát Thanh Thúy đã gắn liền giọng ca và dòng nhạc trong giới yêu nhạc.


    2.4. Tiếng hát Thanh Thúy qua ngòi bút của các văn, thi sĩ.

    Nhà thơ Nguyên Sa viết: “Thanh Thúy là nữ ca sĩ được ngợi ca nhiều nhất trong văn, trong thơ. Thi sĩ Hoàng Trúc Ly, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Viên Linh, nhà văn Tuấn Huy, cũng có những bài ca ngợi Thanh Thúy bởi vì Thanh Thúy chính là người yêu trong mộng của cả một thế hệ, trong đó có những nhà văn, nhà thơ. Tiếng hát Thanh Thúy đã từng được nhà văn Mai Thảo mệnh danh là “Tiếng hát lúc 0 giờ”. Được giải thích là thời gian kéo dài ra, sau 12 giờ và trước 1 giờ. 

    Giáo sư Nguyễn Văn Trung thì gọi chị là “Tiếng hát liêu trai”, là tiếng hát có ma lực tưởng như từ một cõi âm nào đó, cuốn hút khiến người nghe không thể cưỡng lại được. Liêu trai bắt nguồn từ cuốn tiểu thuyết Liêu Trai Chí Dị của tác giả Bồ Tùng Linh, Trung Hoa, có 431 chuyện hư cấu trong đó con người có liên hệ tình cảm với tiên nữ, hồn ma, yêu tinh…

    Nhạc sĩ Tuấn Huy gọi là “Tiếng sầu ru khuya”.

    Nhiều nhạc sĩ, thi sĩ sáng tác ca khúc, bài thơ để dành riêng cho Thanh Thúy hát. Trịnh Công Sơn viết bản nhạc đầu tay “Ướt Mi và Thương Một Người, Tôn Thất Lập sáng tác “Tiếng Hát Về Khuya, Anh Bằng viết ca khúc Tiếng Ca U Hoài để chị hát. Y Vân với “Thúy đã đi rồi” trong phim cùng tên. Và rất nhiều sáng tác của Trúc Phương đều lấy cảm hứng từ tình cảm của ông dành cho Thanh Thúy.

    Nhà thơ Hoàng Trúc Ly đã viết tám câu thơ lục bát nổi tiếng bày tỏ lòng giao cảm với tiếng hát Thanh Thúy, tựa đề “Sầu ca sĩ”.

    Nhà thơ, danh họa Vũ Hối, qua nét bút độc đáo như tranh vẽ dành tặng bốn câu thơ:

    Liêu trai tiếng hát khói sương
    Nghẹn ngào nhung nhớ dòng Hương quê mình
    Nghiên sầu từng nét lung linh
    Giọng vàng xứ Huế ấm tình quê hương.

    Nguyên Sa viết:

    “Từ em tiếng hát lên trời

    Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh.

    Sợi buồn chẻ xuống lòng anh

    Lắng nghe da thịt tan tành hư vô”


    2. 5. Nhận xét về Thanh Thúy của nhà văn Hồ Trường An


    Nhà văn Hồ Trường An viết: “Thanh Thúy là nghệ sĩ có tư cách, có phẩm hạnh. Cô không gây ngộ nhận nào cho nhóm ký giả ưa săn tin giật gân… Trong hàng ngũ các nữ ca sĩ nổi tiếng thuở xa xưa, thì Thanh Thúy, Lệ Thanh và Hoàng Oanh là nhu mì, khiêm tốn, ngoan hiền. Ở chót vót đỉnh cao danh vọng mà Thanh Thúy không hề nói một lời kiêu căng hay một lời làm thương tổn tha nhân, không hề bôi bẩn kẻ vắng mặt, không khoe khoang thành tích của mình khi tiếp xúc với báo chí”.

    Nhìn lại cuộc đời nghệ sĩ, Thanh Thúy được ái mộ từ nghệ thuật đến nhân cách.


    2.6. Những ca khúc dành riêng cho Thanh Thúy:

    • Trúc Phương: “Hình bóng cũ”, “Lời ca nữ”, “Mắt em buồn”, “Tình yêu trong mắt một người”, “Mắt chân dung để lại”
    • Trịnh Công Sơn: “Ướt mi”, “Thương một người”
    • Châu Kỳ: “Được tin em lấy chồng”
    • Hoàng Thi Thơ: “Lời hát tạ ơn”, “Tôi yêu Thúy”
    • Y Vân: “Thúy đã đi rồi” (Nguyễn Long đưa vào phim),
    • Nhật Ngân: “Lời tự tình”
    • Anh Bằng & Lê Dinh: “Phận tơ tằm” (ký Hồ Tịnh Tâm), “Tiếng ca u hoài”, “Chuyện buồn của Thúy”. Minh Kỳ & Vũ Chương: “Tình đời”.Tôn Thất Lập: “Tiếng hát về khuya”
    •  

    3. Mối tình đơn phương của Trúc Phương đối với Thanh Thúy

    1. Đường đời hai ngã

    Trúc Phương yêu Thanh Thúy bằng mối tình trọn vẹn, nhưng có lẽ hai người có duyên mà không có phận.

    Thanh Thúy viết: “Đường đời chia chúng tôi làm hai ngã, hai hướng đi. Anh và tôi không hẹn nhưng đã gặp nhau trên con đường sống cho kiếp tằm nhã tơ. Anh trút tâm sự qua cung đàn, còn tôi, qua tiếng hát. Trong thập niên 60, tên tuổi anh và tôi gắn liền nhau: Nhạc Trúc Phương-Tiếng hát Thanh Thúy.

    Tâm trạng, nổi lòng của người mang tình yêu đơn phương vẫn còn vang vọng qua những bản nhạc: Chuyện Chúng Mình, Hai Lối Mộng, Ai Cho Tôi Tình Yêu, Chiều Cuối Tuần, Buồn Trong Kỷ Niệm, Bóng Nhỏ Đường Chiều, Tàu Đêm Năm Cũ, Hình Bóng Cũ.

    Hình ảnh Thanh Thúy xuất hiện qua những bản nhạc đó. Với Trúc Phương, duyên nợ bẽ bàng nhưng mối giao cảm vẫn còn cao đẹp. Hình ảnh Thanh Thúy vẫn trọn vẹn trong tim Trúc Phương.

    1. Thanh Thúy viết về Trúc Phương

    “Như một định mệnh, tôi vào đời ca hát đúng vào thời điểm anh say mê sáng tác, và tình cờ tôi trở thành sứ giả đem tâm sự của anh đến mọi người.

    Tâm sự về tuổi thơ mộng, về tình yêu dịu dàng của đôi lứa, về chuyện tình dở dang, về cuộc đời…

    Đến khi nhạc phẩm “Nửa Đêm Ngoài Phố” ra đời, tên tuổi anh đã vang dậy khắp nơi. Với thể điệu Rumba quen thuộc, diễn tả tâm trạng đau buồn của một người khi người yêu không đến nữa, “Nửa Đêm Ngoài Phố” đã ăn sâu vào lòng tất cả mọi người, từ những người lớn tuổi, cho đến lớp người trẻ lúc bấy giờ. Bất cứ buổi trình diễn nà, tôi cũng được yêu cầu trình bày “Nửa Đêm Ngoài Phố”, từ các sân khấu phòng trà, khiêu vũ trường, cho đến Đại Nhạc Hội, từ các thôn làng nhỏ bé cho đến các tiền đồn hẻo lánh xa xôi. Ngoài ra, trong những chương trình phát thanh của đài Sài Gòn và đài Tiếng nói Quân đội, vào bất cứ chương trình nhạc nào cũng có bài này…Nổi buồn không nguôi của một khách đa tình, cứ mãi đi tìm một người không hẹn đến. Bi đát thật.

    Lời của bản nhạc Nửa Đêm Ngoài Phố

    Buồn vào hồn không tên,
    Thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời
    Đường phố vắng đêm nao quen một người
    Mà yêu thương trót trao nhau trọn lời..

    Để rồi làm sao quên?
    Biết tên người quen, biết nẻo đi đường về
    Và biết có đêm nao ta hẹn hò
    Để tâm tư những đêm ngủ không yên ..

    Nửa đêm lạnh qua tim
    Giữa đường phố hoa đèn
    Có người mãi đi tìm,
    Một người không hẹn đến
    Mà tiếng bước buồn thêm ..

    Tiếc thay hoài công thôi
    Phố đã vắng thưa rồi
    Biết rằng chẳng duyên thừa
    Để người không gặp nữa
    Về nối giấc mơ xưa

    Ngày buồn dài lê thê
    Có hôm chợt nghe gió lạnh đâu tìm về
    Làm rét mướt qua song len vào hồn
    Làm khô môi biết bao nhiêu lần rồi..

    Đời còn nhiều bâng khuâng
    Có ai vì thương góp nhặt tâm tình này
    Gửi giúp đến cố nhân mua nụ cười
    Và xin ghi kỷ niệm một đêm thôi… 

    “Mỗi lần viết xong một bản nhạc mới, anh đều chạy đến nhà tôi vào sáng sớm, nhất định phải đánh thức tôi dậy cho bằng được để dợt nhạc.

    Anh là một nhạc sĩ đầy nghệ sĩ tính, đầy mộng mơ. Nhạc của anh rất giản dị, thân thiết, và dịu dàng, ngay cả khi anh trách móc, giận hờn người yêu cũ hoặc thói đời. 

    Hình như anh chỉ sống với kỷ niệm, sống cho kỷ niệm. Qua bao nhiêu tác phẩm của anh, lúc nào cũng thấy có kỷ niệm. Anh quý kỷ niệm, anh gìn giữ kỷ niệm, và rồi trân trọng trao gởi vào lời ca, tiếng nhạc. Chỉ cần đọc tên bản nhạc, người ta đã thấy được điều này: “Buồn Trong Kỷ Niệm”, “Đêm Tâm Sự”, “Chuyện Chúng Mình”, “Hình Bóng Cũ”, v.v…


    1. Vài nét về nhạc sĩ Trúc Phương

    Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiện Lộc, sinh năm 1933 tại xã Mỹ Hòa, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

    Cuối năm 1950, ông lên Sài Gòn và vào học lớp nhạc của nhạc sĩ Trịnh Hưng, chung với Đỗ Lễ, Thanh Thúy, Ánh Tuyết…

    Trúc Phương có dáng người cao, lưng hơi khòm, bị cận thị nặng, lãng tay và bị hen suyễn nặng.


    1). Trúc Phương, nhạc sĩ đa tình

    Nhạc sĩ Thanh Sơn kể lại, trong một chuyến đi từ Sài Gòn ra Phan Thiết bằng xe lửa, Trúc Phương tình cờ gặp cô Trần Thị Thắm, 22 tuổi. Chuyện trò qua lại, hai người hợp lòng, hợp ý. Đến Phan Thiết, một tỉnh phía nam Trung Bộ, hai người chia tay và hẹn 3 ngày hôm sau họ sẽ ra ga cùng về Sài Gòn với nhau trên một chuyến tàu. Trúc Phương đến nhà ga, chờ đến 9 giờ tối mà cô gái không đến.
    Đa tình đến nổi không thể quên “mối tình” ngắn ngủi, anh viết bài Hai Chuyến Tàu Đêm.

    “Vẫn biết phút bên nhau sẽ khơi buồn một ngày về/ Và cùng một tàu ấy anh về/ Nhưng tìm đâu tiếng đêm qua cho lòng ấm/ Đêm nay cô đơn nghe gió lạnh rót vào hồn/ Tàu về đường cũ tiếng hai đêm vẫn còn chờ/ Gặp lại người xưa.”

    Hai Chuyến Tàu Đêm

    Lòng buồn rạt rào/ Nhớ hôm nào xuôi miền trung/ Chuyến xe đêm anh gặp em/ Môi em đang xuân nhưng mắt buồn ngấn lệ trần/ Chuyện đời sầu đắng vấn vương đôi má dịu hiền/ Áo em màu tím/ Đậm đà vì là buổi ban đầu ta gần nhau/ Nói nhau nghe câu chuyện cũ/ Tâm tư cho vơi bao nỗi buồn bước vào đời/ Giờ gặp lại nét thắm môi/ Tiếng em hẹn hò tìm lại ngày mơ/ Khi chân đến quê em/ Nắng ban mai hôn nhẹ lên khóm hoa tươi/ Thoáng thấy em cười vì mùa thương vừa chắp nối/ Vẫn biết phút bên nhau sẽ khơi buồn một ngày về/ Và cùng một tàu ấy anh về/ Nhưng tìm đâu tiếng đêm qua cho lòng ấm/ Đêm nay cô đơn nghe gió lạnh rót vào hồn/ Tàu về đường cũ tiếng hai đêm vẫn  còn chờ/ Gặp lại người xưa.

    2). Trúc Phương vượt biên ba lần đều thất bại

    Năm 1976, Trúc Phương vượt biên thất bại, căn nhà số 301 đường Lý Thường Kiệt, quận 11 bị tịch thu. Những năm sau, ông vượt biên thêm hai lần nữa nhưng đều thất bại. 

    Khi ra tù, vợ con ly tán, ông không nhà không cửa, không giấy tờ tùy thân rồi lưu lạc về Trà Vinh, Vĩnh Long và một số nơi khác.

    Năm 1985, ông được thu nhận vào Hội Văn Nghệ Cửu Long, và được cấp một căn phòng ở số 6 đường Trần Hưng Đạo, thị xã Vĩnh Long.

    Ít lâu sau, ông lên Sài Gòn và qua đời ở đó ngày 18-9-1995. 

    Thanh Thúy viết: “Anh Trúc Phương, một ngôi sao sáng của vòm trời âm nhạc Việt Nam vừa vụt tắt. Tin anh qua đời đến với tôi khá đột ngột. Tôi đã bàng hoàng xúc động với sự mất mát lớn lao này.

    Anh đã đến trong cuộc đời này, để lại bao kỷ niệm nhẹ nhàng qua nhiều nhạc phẩm chất chứa ân tình, rồi lặng lẽ ra đi âm thầm thật cô đơn nơi trời Nam xa xôi. Tôi đã mất Anh, nhưng tôi sẽ không bao giờ mất đi những kỷ niệm giữa Anh và tôi, cũng như bao lời ca tôi đã thuộc nằm lòng. Nơi đây, bây giờ và mãi mãi, tôi sẽ vẫn còn cất tiếng hát, đem đến cho đời những lời tâm sự của Anh. Xin Anh hãy yên nghỉ, Anh nhé”.

    Ba lần vượt biên thất bại, ngoài việc tù tội, mất nhà cửa, mất gia đình,  và cũng mất rất nhiều cây vàng. Trắng tay, lại mang bịnh không tiền chữa trị, thật là bi đát.


    3). Lời kể của nhạc sĩ Trúc Phương trên DVD Asia 55 khi ông còn sống.


    “Sau biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rày đây mai đó, “bèo dạt hoa trôi”. Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng nói no thì chẳng có ngày nào gọi là no. Tôi không có một mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng khổ nỗi hoàn cảnh của họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được… Hơn nữa lúc đó vấn đề an ninh rất khe khắt, bạn bè không ai dám chứa tôi trong nhà cả vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người. Tôi nghĩ ra được một cách là tìm nơi nào có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ… 

    Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng Miền Tây thuê một chiếc chiếu. Một chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng. Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng. Nói với anh Nam Lộc trong Asia 55, khổ lắm, hôm nào có tiền đi xe lam ra sớm được, khoảng chừng 5 giờ có mặt ngoài đó thì thuê chiếc chiếu trải được ở chỗ lịch sự, tương đối vệ sinh một chút, còn hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết những chỗ sạch sẽ vệ sinh mất rồi, tôi đành phải trải chiếu gần chỗ “có mấy thằng cha đi tiểu vỉa hè”, cũng phải nằm thôi. 

    Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát mà lẽ ra nên buồn cho hoàn cảnh. Nhưng không bao giờ tôi buồn. Tôi nghĩ còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…”.

    4). Lời phát biểu của Trúc Linh, con trai của Trúc Phương


    Trúc Linh, con trai của Trúc Phương, hiện định cư ở Mỹ cho biết: “Ba tui không bao giờ uống rượu. Ba lấy má tui năm 1950. Má tui là con nhà gia giáo, gia đình cũng khá giả ở Bến Tre. Bài Chiều Làng Em là ba tui viết cho má tui.

    Gia đình không nghèo. Ba tui thường lái Mazda và Peugeot 404. Gia đình tui có 6 anh chị em, có nghĩa là họ sống chung với nhau cũng khá lâu. Họ ly dị vào năm 1979. Tui đã về thăm ông, 3 tháng trước khi ông mất”.


    4. Nguyễn Long và mối tình yêu một chiều với Thanh Thúy


                                        Đạo diễn Nguyễn Long và Thanh Thúy


    Trong hàng chục nghệ sĩ đã từng bày tỏ tình yêu một chiều với Thanh Thúy, thì có một người “can đảm” đã đi hết con đường một chiều với Thanh Thúy mà không có khoảnh khắc nào ngưng nghỉ, đó là tài tử Nguyễn Long.

    Nguyễn Long ghi lại, ông đã có hàng trăm đêm ngủ trước cửa nhà Thanh Thúy. Đã có 9 lần lái xe đâm thẳng vào phòng trà Anh Vũ lúc Thanh Thúy có mặt trình diễn.

    Thời gian có mặt ở Huế để quay phim “Thúy Đã Đi Rồi”, thình lình nhận được cú điện thoại của Thúy, Nguyễn Long đã lái xe từ 5 giờ sáng ở Huế để có mặt lúc 9 giờ tối ở phòng trà Tự Do.

    Nguyễn Long tâm sự: “Nhiều lần tôi tỏ ra một cây si nặng ký nhưng cũng chỉ nhận được một nụ cười, cũng giống như nụ cười của cô đối với Duy Khánh”. Duy Khánh cũng có nhiều lần tỏ tình với Thanh Thúy.

    Theo nhà văn Du Tử Lê, năm 1981 Nguyễn Long gặp lại Thanh Thúy ở San Francisco, ông viết: “Gặp lại dĩ vãng thần tiên của mình, tôi thấy Thanh Thúy muôn đời không thay đổi. Giọng hát của cô vẫn như ngày xưa. Có phần chắc hơn, già dặn hơn, rung cảm hơn. Thanh Thúy là một trong số ít ca sĩ vẫn giữ được giọng hát của mình. Không sút giảm vì qua biết bao nhiêu thăng trầm của đất nước và con người”.


    1). Ba vở kịch và một bộ phim về Thanh Thúy


    Trong hồi ký, Nguyễn Long cho biết, trước khi thực hiện bộ phim Thúy Đã Đi Rồi vào cuối năm 1961, ông đã có 3 vở kịch mà Thanh Thúy là nhân vật chính.

    1. Ba vở kịch

    Vở kịch thứ nhất mang tên “Ghen”. Xuân Dung đóng vai Thanh Thúy, hợp diễn với các diễn viên Ba Bé, Linh Sơn, Nguyễn Long.

    Vở kịch thứ hai, tựa đề “Khi Người Ta Yêu Nhau”, Kim Cương đóng vai Thanh Thúy, hợp diễn với Túy Hoa, Bảy Xê, Ngọc Phu, Ba Bé, và Nguyễn Long.

    Vở kịch thứ ba, tên “Tan Tác”, Kim Cương thủ vai Thanh Thúy, cùng diễn với Vũ Đức Duy, Vân Hùng, Túy Hoa, và Nguyễn Long.

    1. Bộ phim “Thúy Đã Đi Rồi”

    Minh Hiếu đóng vai Thanh Thúy. Yến Vĩ vai Thanh Mỹ, em Thanh Thúy, Mai Trường, Trần Văn Trạch, Ánh Hoa, Hùng Cường, Minh Chí, Ngọc Hương, hề Minh…

    Nội dung bộ phim. Một ông đạo diễn yêu say mê một ca sĩ, nhưng không được đáp lại. Do thất tình nặng, ông bị ám ảnh đến nổi thấy bất cứ một thiếu nữ nào ông cũng tưởng đó là người ông say mê. Cuối cùng, do điên loạn, ông bắt cóc và giết người ca sĩ đó. Tuy nhiên cái chết của người ca sĩ không xóa nhòa được hình ảnh mà ông ôm ấp trong lòng. Cuối cùng ông đến nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, quỳ dưới chân tượng Đức Mẹ và tự tử.

    1. Lai lịch của bản nhạc “Thúy Đã Đi Rồi”

    Nhạc sĩ Y Vân đã sáng tác rất nhiều bản nhạc, tuy nhiên có một bản dành riêng cho người bạn thân của ông, Nguyễn Long, bản nhạc tựa đề Thúy Đã Đi Rồi. Bài hát nói lên tâm trạng tình yêu một chiều của Nguyễn Long đối với Thanh Thúy. Nguyễn Long dùng cái tên của bản nhạc nầy đặt tựa đề của bộ phim


    2). Vài nét về Nguyễn Long


    Nguyễn Long tên thật là Nguyễn Ngọc Long, sinh ngày 2-3-1934 tại Hải Phòng. Năm 1949, ông vào Sài Gòn và chính thức bước lên sân khấu kịch nghệ và điện ảnh.

    Năm 1955, xuất hiện trên một số phim do tổ hợp Việt Nam, Hoa Kỳ và Phi Luật Tân thực hiện.

    Năm 1957, khởi sự viết kịch và chuyện phim, đồng thời đóng vai chánh trên 70 kịch ngắn, dài trên sân khấu và đài truyền hình.

    Năm 1961, tự sản xuất, đạo diễn và đóng vai chánh trong 14 bộ phim nổi tiếng như: Mưa Lạnh Hoàng Hôn, Nước Mắt Đêm Xuân, Thúy Đã Đi Rồi, Anh Yêu Em, Hè 72…

    Năm 1981, vượt biên và định cư ở Hoa Kỳ. Ông tiếp tục đạo diễn và sản xuất các tác phẩm điện ảnh như: Mây Xám Chiều Hoang, Như Là Khởi Đầu, Biển Khổ. Nguyễn Long viết 14 quyển sách.

    Ông từ trần ngày 2-11-2009 tại Seattle bang Washington. Thọ 76 tuổi.

    • Trịnh Công Sơn và bản nhạc Ướt Mi dành cho Thanh Thúy


    Trịnh Công Sơn thuật lại, năm đó tôi 17 tuổi vào trọ học ở Sài Gòn. Đêm đêm, tôi thường đến các phòng trà để nghe nhạc. Giọng hát đặc biệt của Thanh Thúy lôi cuốn, khiến tôi luôn luôn đến nghe.

    Ngoài giọng ca, dáng dấp cô ấy cũng hấp dẫn. Dáng dấp mảnh mai, mái tóc dài buông phủ bờ vai.

    Nói yêu Thanh Thúy thì chưa chắc, vì tôi có mặc cảm nghèo và vô danh của một thanh niên 17 tuổi, chưa có sự nghiệp trong tay, trong khi đó, Thanh Thúy là một ca sĩ đang lên, có kẻ đưa người đón tấp nập.

    Một lần, ở nhà hàng Mỹ Cảnh năm 1958, chàng trai 19 tuổi viết vào một mảnh giấy nhỏ, yêu cầu Thanh Thúy hát bài Giọt Mưa Thu của Đặng Thế Phong. Điều bất ngờ là Thanh Thúy hát bài đó với một cảm xúc mãnh liệt. Cô đã khóc. Cuộc đời buồn, vì trước đó không lâu, người cha qua đời và hiện tại là bà mẹ, tên Tường Vy, đang bị lao phổi nặng khó chữa trị. Bà mất năm 1960.

    Giọt nước mắt đọng trên vành mi của người ca sĩ đẹp, đã gieo vào lòng Trịnh Công Sơn một cảm xúc đầy ấn tượng, thế là ca khúc Ướt Mi ra đời. Họ quen nhau. Không có chi tiết nào xác định tình yêu của Trịnh Công Sơn với Thanh Thúy.

    Thanh Thúy hát hay. Thanh Thúy đẹp. Chàng trai trẻ họ Trịnh luôn luôn bám sát Thanh Thúy từ sân khấu nầy đến những sân khấu khác. Và kết thúc bằng bản nhạc “Thương Một Người”.

    “Thúy đã đi rồi” thì Khánh Ly lại đến.


      6. Nhạc Bolero, nhạc đỏ, nhạc vàng, nhạc xanh


    1). Nhạc Bolero

    Trúc Phương sáng tác đa số là nhạc theo thể điệu bolero. Thanh Thúy được phong là Nữ hoàng bolero. Vậy bolero là gì?

    Bolero là tiếng Tây Ban Nha chỉ loại nhạc chậm, trầm, thích hợp để diễn đạt tâm sự, tình buồn, hồi tưởng, kỷ niệm buồn. Loại nhạc nầy lan truyền đến các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha ở Nam Mỹ, như Cuba chẳng hạn.

    Từ Nam Mỹ, nhạc bolero du nhập vào Việt Nam trong thập niên 1950, và phát triển mạnh ở thập niên 1960.

    Nhạc sĩ Trúc Phương sáng tác nhiều nhất về thể loại nầy. Mô tả tâm sự, kỷ niệm buồn trong quá khứ, như các bản: Tàu Đêm Năm Cũ, Buồn Trong Kỷ Niệm, Mưa Nửa Đêm, Hình Bóng Cũ, Đêm Tâm Sự, Chuyện Chúng Mình…

    Thanh Thúy là ca sĩ tiên phong trong dòng nhạc bolero của Trúc Phương. Được cho là nữ hoàng bolero. Thanh Lan, Thanh Tuyền, Phương Dung, Quang Lê cũng thường hát loại nhạc nầy.

    2). Nhạc Vàng

    Nhạc bolero chỉ thể loại, nhạc vàng chỉ nội dung lời ca của bản nhạc. Nhạc vàng chiếm đa số của bolero.

    Trước 75, nhạc miền Nam không có màu sắc nào cả. Sau 75, mấy cha Việt Cộng đặt tên: nhạc đỏ, nhạc vàng, nhạc xanh.

    Nhạc vàng là nhạc trữ tình, lời ca lãng mạn, bị ghép là ướt át, đồi trụy, nên từ sau ngày 30-4-75, bị cấm trình diễn ở nơi công cộng trong một thời gian dài.

    3). Nhạc Đỏ

    Nhạc Đỏ, gọi nôm na là “nhạc cách mạng”, nội dung ca ngợi đảng CSVN, lãnh tụ Cộng Sản, và tuyên truyền ca ngợi bộ đội, cán binh trong việc vượt Trường Sơn vào đánh chiếm miển Nam, VNCH. Những bài hát tiêu biểu như: Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Tiếng Chày Trên Sóc Bombo, Cô Gái Vót Chông, Cô Gái Sài Gòn Tải Đạn…Và bản nhạc phổ biến nhất được mấy đứa con nít hát nghêu ngao ngoài phố như:  “Như Có Bác Hồ Trong Nhà Thương Chợ Quán hoặc Như Có Bác Hồ Đang Ngồi Binh Xập Xám. “Đêm qua em mơ gặp bác Hồ, râu bác dài, tóc bác bạc phơ, em âu yếm hôn lên dế bác…

    4). Nhạc Xanh

    Nhạc xanh là nhạc ngoại quốc lời Việt, như các bản: Dòng Sông Xanh (The Beautiful Blue Danube). Em Đẹp Nhất Đêm Nay (La Plus Belle Pour Aller Danser), Người Đẹp Của Tôi (Bernadine), Giàn Thiên Lý Đã Xa (Scarborough Fair- Lễ hội Scarborough)

    Người Tình Mùa Đông (Nhạc Nhật, nhạc sĩ Nakajima Naomi), Cho Quên Thú Đau Thương (Main Dans La Main), Mùa Thu Lá Bay (Nhạc Hoa), Bến Thượng Hải (Nhạc Hoa)…

    5). Nhạc Sến

    Chữ “Sến” bắt nguồn từ chữ “Sen”. Người Bắc gọi những cô gái giúp việc nhà (đầy tớ, ở đợ) là “con sen”. Báo chí đưa câu chuyện, chiều chiều mấy cô giúp việc nhà, ăn diện cũng đẹp ra phết. Mấy cậu theo tán tỉnh, hỏi em tên gì. Trả lời em tên Marie Sến. Mấy cô gánh nước mướn tên là Marie La Fontaine. “Phông tên” là trụ nước công cộng.

    Trước kia, thời Pháp thuộc, những người sang trọng, quý phái thường đặt tiếng Tây trước cái tên của mình, như Philipe Lúa. Bernard Chôm, George Phước, Paul Lành…

    Nhạc sến chỉ nhạc bình dân, phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Người ta đặt tên những tiếng hát phổ biến bình dân là tiếng ca Sến, như Hương Lan, Chế Linh. Tiếng hát được xem sang trọng là Khánh Hà…


    7. Kết luận

    Ca sĩ Thanh Thúy là một hiện tượng trong nền ca nhạc Việt Nam hồi trước năm 1975. Đặc điểm nổi bật nhất là tiếng hát, được cho là tiếng hát liêu trai, tiếng hát lúc không giờ, tiếng hát khói sương, tiếng sầu ru khuya…

    Tóm lại, tài, sắc, và phẩm chất đạo đức đã đưa người ca sĩ nầy lên đỉnh cao của nền ca nhạc một thời của Việt Nam Cộng Hòa. Cũng có ý kiến cho rằng Thanh Thúy đã xa quê hương suốt 45 năm, mà chưa có lần nào về nước hát để kiếm tiền cả.


    Trúc Giang

    Minnesota ngày 31-12-2020

  • Tin tức

    Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi!

    Vương Trùng Dương

    Cách đây hai thập niên, vào thời điểm nầy, Lâm Tường Dũ bàn với tôi thực hiện Giai Phẩm Xuân cho tờ Thế Giới Nghệ Thuật. Với nhạc sĩ thì dựa vào các nhạc phẩm sáng tác về Xuân nhưng với ca sĩ thì mông lung nên dựa vào bức tranh tứ quý: mai, lan, cúc, trúc để viết. Tôi chọn 4 ca sĩ khởi đầu với chữ Mai: Mai Hương, Mai Hân, Mai Ngọc Khánh & Mai Lệ Huyền. Lâm Tường Dũ chọn 4 chữ Lan cuối cùng: Thanh Lan, Ngọc Lan, Ý Lan & Hương Lan.

    Ngọc Lan sinh ở Nha Trang, qua đời năm 2001, nay đến Mai Hương sinh ở Đà Nẵng từ trần vào chiều Chủ Nhật 29/11/2020 tại Nam California. Tôi thích và thiện cảm với hai ca sĩ nầy từ tiếng hát đến nhân cách sống và gắn liền với nơi chốn cố hương và quê vợ.

    Mai Hương là một trong những ca sĩ duy nhất không bị scandal nào trong tình yêu và nghiệp dĩ. Ca sĩ có công việc vững chắc ở Bank of America. Là con chiên rất ngoan đạo Tin Lành, Chủ Nhật nào cũng đi lễ ở nhà thờ Vietnamese United Methodist ở Anaheim, tuy xa nhà nhưng có đông cộng đồng người Việt. Thứ Sáu, 11 tháng 12, nhà thờ làm Lễ Dâng Xác Trương Mai Hương (lấy họ chồng) – tôi là Phật Tử thuần thành nhưng trong văn học nghệ thuật với những khuôn mặt chân chính đều bày tỏ lòng cảm mến.

    Trong mùa dịch Covid-19 đang cô lập mọi người, rất tiếc có hai ca sĩ được mọi người ái mộ đã vĩnh biệt cõi trần, ca sĩ Thái Thanh qua đới 17 tháng 3, 2020 và lần nầy đến ca sĩ Mai Hương, những người ái mộ không đến để tiễn đưa lần cuối!

    Về tiểu sử Mai Hương đã được đề cập khá nhiều nên ghi tổng quát:

    Mai Hương nguyên danh Phạm Thị Mai Hương, gốc Hà Nội, sinh năm 1941 tại Đà Nẵng. Xuất thân trong một gia đình nghệ sĩ, cha mẹ MH là Phạm Đình Sỹ và nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, diễn viên đoàn kịch Sao Vàng của Thế Lữ, được Bộ Thông Tin VNCH đã trao tặng danh hiệu nữ kịch sĩ xuất sắc nhất năm 1956. Ông Phạm Đình Sỹ là anh trai của các ca sĩ Thái Hằng (vợ nhạc sĩ Phạm Duy), ca sĩ Thái Thanh, ca sĩ Hoài Trung Phạm Đình Viêm và nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương.

    Năm 1951, gia đình ông Phạm Đình Sỹ mới trở về Hà Nội, cuối năm 1952 di cư vào Sài Gòn sống cho đến năm 1975. Năm 1953, mới 12 tuổi đã tham dự thi cuộc tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Pháp Á tại rạp Norodom, với ca khúc Xuân & Tuổi Trẻ (nhạc La Hối, lời Thế Lữ) được trúng tuyển. Mai Hương cộng tác với chương trình nhi đồng của nữ ca sĩ Minh Trang trên đài Phát Thanh Sài Gòn, thời gian cộng tác với các chương trình thiếu nhi, khi trao lại cho kịch sĩ Kiều Hạnh đổi tên là ban Tuổi Xanh. Khi Đài Phát Thanh Pháp Á, sau đổi tên thành Đài Phát Thanh Quốc Gia rồi Đài Phát Thanh Sài Gòn), Ban Tuổi Xanh tiếp tục cộng tác với đài phát thanh hàng tuần. Ban Tuổi Xanh đã quy tụ những tiếng hát Bích Chiêu, Mai Hương, Bạch Tuyết, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc, Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm, Xuân Thu… và  Bạch Tuyết (sinh năm 1943, em gái Mai Hương vừa qua đời cách nay 3 tháng, trùng tên đào cải lương Bạch Tuyết). Mai Hương theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc (cùng thời điểm theo tại trường trung học Nguyễn Bá Tòng) được khoảng ba năm về violin, ký âm pháp, đàn tranh và hợp xướng. Sau đó vì bận thi tú tài 1 nên phải bỏ dở.

    Khi Mai Hương tham gia trong ban nhạc của Võ Đức Tuyết và Hoàng Lang cùng với những ca sĩ nổi danh của nền tân nhạc lúc đó là Anh Ngọc, Duy Trác, Nhật Bằng, Kim Tước, Mộc Lan, Châu Hà…Và, Mai Hương lần lượt xuất hiện trong nhiều ban ca nhạc khác, như Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc, ban Phương Hoa của Vũ Thành, ban Hương Quê của Hoàng Trọng… Và nổi tiếng nhất với Ban Tiếng Tơ Đồng của Hoàng Trọng năm 1967 (Ông hoàng của dòng nhạc Tango, tôi đã viết bài Hoàng Trọng, Ngàn Thu Áo Tím trong quyển Văn Nhân & Tình Sử). Ban nhạc quy tụ những ca sĩ lừng danh, thường trình bày những ca khúc tiền chiến và những ca khúc nổi tiếng của các nhạc sĩ nổi tiếng ổ Sài Gòn. Mai Hương trong tam ca của Ban Tiếng Tơ Đồng (Kim Tước, Quỳnh Giao), theo dòng thời gian từ trong nước, ở Hoa Kỳ. Tiếng hát Mai Hương thường xuyên ngoài Đài Phát Thanh Sài Gòn còn có  Đài Tiếng Nói Quân Đội, Đài Tiếng Nói Tự Do và Đài Truyền Hình Việt Nam trên băng tần số 9 ở Sài Gòn.

    Lập gia đình với người bạn đời Trương Dục, tuy không ở trong giới nghệ sĩ năm 1961 nhưng là người cảm thông và khích lệ. Ngày 22 tháng 4 năm 1975, Mai Hương cùng chồng Trương Dục, phục vụ tại Nha Hàng Không Dân Sự, và bốn người con rời Việt Nam tạm trú tại trại Pendleton ở Nam California. Lần đầu tiên Mai Hương được mời đi trình diễn ở thành phố New Orleans.

    Năm 1980, Mai Hương phát hành băng nhạc đầu tiên tại hải ngoại mang tên Giấc Mơ Hồi Hương (Ca khúc nổi tiếng cũa Vũ Thành). Và từ đó thu âm, có nhiều CD như Nhặt Cánh Sao Rơi, Serenade, Vàng Phai Mấy Lá… Tổng cộng khoảng 10 CD với tiếng hát của Mai Hương, trong số đó có CD Tìm Nhau Bốn Mùa hát chung với Kim Tước và Quỳnh Giao. Năm 1989 Mai Hương sống ở Rowland Heights, Nam California và làm việc cho ngân hàng Bank Of America. Sau 22 năm với công việc, năm 2000 Mai Hương về hưu và thỉnh thoảng xuất hiện trong các chương trình tưởng nhớ nhạc sĩ qua đời… Tiếng hát của Mai Hương là tiếng hát của hoài vọng, nhớ thương của cung thương ngày cũ.

    Mỗi ca sĩ thường có những ca khúc để đời. Với giọng soprano, nhẹ nhàng, dịu dàng, thiết tha, bay bổng, cao vuốt và điêu luyện… thích hợp với những ca khúc bán cổ điển. Mai Hương đã thực hiện trong CD như: Giấc Mơ Hồi Hương, Bóng Ngày Qua, Đi Chơi Chùa Hương, Mai Hương & Những Tuyệt Phẩm Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Tình Khúc Dương Thiệu Tước, Khúc Nhạc Ly Hương, Nhạc Tiền Chiến, Nhặt Cánh Sao Rơi, Vàng Phai Mấy Lá, Như Ngọn Buồn Rơi, Sérénade, LỠ Chuyến Đò, Tình Khúc Văn Cao với Quỳnh Giao… Với hàng trăm ca khúc đó cũng hình dung được những bài hát do Mai Hương trình bày.

    Trong cuộc phỏng vấn của Nghiêm Xuân Cường thực hiện, ca sĩ Mai Hương đã chia sẻ:

    “Trong các kỷ niệm của tôi về thuở niên thiếu, phải nói thời gian êm đẹp nhất là những năm tôi học từ lớp Đệ Ngũ đến Đệ Tam. Tôi nhớ lại những tháng năm ấy như một giòng sông êm đềm trôi mãi trong ký ức bởi lẽ ở tuổi mười bốn, mười lăm, tôi đã bắt đầu biết nghĩ và chớm yêu thơ nhạc nhưng vẫn chưa có gì phải lo nghĩ về thi cử hay về cuộc chiến. Những năm cuối thập niên 60, Sài Gòn vẫn còn huởng không khí tương đối yên bình…

    … Từ năm 1972 đến 1975 một số người bỏ đài, không còn hứng khởi hát hò như xưa. Trong số đó có chị Kim Tước ra Nha Trang, chị Hà Thanh ra Huế. Các anh Thanh Vũ, Trần Ngọc (nhạc sĩ Tuấn Khanh) chú Anh Ngọc không hát nữa. Cô Thái Thanh cũng vậy. Trong đài bấy giờ chỉ còn tôi, Hoàng Oanh, cô Mộc Lan, chị Thể Tần và Phượng Bằng, Phương Nga. Quỳnh Giao thì không đi hát đều đặn như trước mà bận dậy đàn nhiều hơn. Ngày 22 tháng 4 năm 1975 chúng tôi rời bỏ quê hương đi lánh nạn xứ người…”

    Với tâm niệm của người ca sĩ: “Tôi muốn làm công việc giới thiệu này để nhắc nhở cho những người yêu nhạc rằng kho tàng âm nhạc Việt Nam rất phong phú bằng cách ghi âm lại những bài hát ấy để lưu lại một cái gì cho người, cho mình. Tôi cũng muốn ghi lại giọng ca của mình trong lúc còn có thể hát được vì có ai trẻ mãi với thời gian. Những bản nhạc mà tôi đã chọn để hát cho khoảng hơn 10 CDs cho các trung tâm Diễm Xưa, Tú Quỳnh, Mai Ngọc Khánh… cũng không ngoài mục đích kể trên”.

    Với nhạc sĩ Vũ Thành ngoài ca khúc Giấc Mơ Hoài Hương, tôi thích tình khúc Nhặt Cánh Sao Rơi với tiếng hát Mai Hương cũng là chủ đề của CD.

    Giờ đây, anh Trương Dục ngậm ngùi thương tiếc hình ảnh người vợ hiền Mai Hương ra người thiên cổ với nỗi lòng trong ca khúc:

    “Người năm trước còn nhớ chăng đêm nào

    Đầu xanh tóc tình lứa đôi dạt dào

    Bạn ngồi bên tôi tay nắm tay tim nghẹn ngào

    Lặng nhìn trời xanh thẳm đẹp muôn ánh sao

    … Nhưng đêm nay sao trời vẫn sáng

    Ngân hà đôi hướng có riêng mình tôi

    Lắng buồn đoái nhìn ngàn sao thờ ơ

    Áng mây buông lững lờ

    Bới trong tro tàn tìm ánh sao xưa”.

    Trước đây, thỉnh thoảng tôi gặp anh Trương Dục ở quán cà phê trong khu Catinat Plaza ở Little, sau nầy chưa có dịp gặp nhau.

    Tưởng nhớ người quá cố, ca sĩ Mai Hương, gởi đến anh lời chia buồn và tựa đề bài viết: Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi trong gia đình anh và mọi người ở trong nước và hải ngoại đã một thời yêu thích tiếng hát theo năm tháng.

    Little Saigon, Nov 30, 2020

    Vương Trùng Dương

  • Tin tức

    NHỚ VỀ DANH CA MAI HƯƠNG (1941-2020)

    http://www.cothommagazine.com/

    Tối Chủ Nhật 11/29/2020 nhận được email của anh Dương Ngọc Hoán báo tin buồn là danh ca Mai Hương (MH) đã qua đời lúc 3 giờ trưa cùng ngày, hưởng thọ 79 tuổi. (Anh Dương Ngọc Hoán, cựu nhân viên Đài phát thanh Quân Đội Sài Gòn, là người thân quen với gia đình MH). Anh Hoán vừa gởi cho tôi tấm ảnh chụp với vợ chồng chị MH (1) tháng 9, 2019 khi anh qua thăm Cali. Xem hình này và  youtube từ Jimmy Show cũng vào tháng 9, 2019 thì chị MH có vẻ khỏe mạnh, trả lời mạch lạc và nhớ rõ nhiều chi tiết.

    Lạ nhất là tuần trước tôi vừa gởi cho anh Hoán một hình chị Mai Hương ôm đàn violon do ảnh viện Đống Đa chụp (2),  nhà xuất bản Diên Hồng chọn hình này cho trang trong của bản nhạc rời “Thương Đời Hoa” – sáng tác của nhạc sĩ Lê Dinh ấn hành năm 1960. Sau đó, một người bạn cũng gởi youtube chị  MH hát “Định Mệnh Buồn“, một ca khúc ít phổ biến của người chú ruột là nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

    Tôi nhớ lại một số kỷ niệm với chị Mai Hương:

    * Qua giới thiệu của anh Hoán khoảng năm 2004, thỉnh thoảng tôi có nói chuyện điện thoại hay email cho chị MH. Chị nói chuyện nhẹ nhàng, dễ mến, vui vẻ và không ngại chia sẻ những câu hỏi liên quan đến bản nhạc hay đến các ca nhạc sĩ thời trước 1975. Nhờ đó mà tôi biết lúc mới di cư năm 1954 gia đình chị có ở chung với gia đình bố mẹ của danh ca Thái Thanh trong hẻm 121 đường Ngô Tùng Châu (gần ngã sáu Phù Đổng Sài Gòn/ nhà thờ Huyện Sĩ/ trường trung học Nguyễn Bá Tòng). Nhà của ông bà bố mẹ tôi cũng ở trong hẻm này.

    * Chị Mai Hương còn nhớ rất nhiều nhạc xưa, nên khi tìm không ra bài nhạc tôi thường hỏi chị như bài “Ngàn Năm Mây Bay” của nhạc sĩ Nguyễn Hiền. Khi có dịp về Việt Nam, chị đến thăm nhạc sĩ Hoàng Giác và được ông tặng một tập nhạc trong đó có những ca khúc ông viết sau 1954. Nhờ đó mà tôi đã thực hiện trang “Mơ Hoa và dòng nhạc của NS Hoàng Giác” được đầy đủ hơn.

    * Chiều 15 tháng 5 năm 2005 – nhóm Cỏ Thơm đến tham dự một chương trình nhạc thính phòng ở Annandale, Virginia có tên “Mai Hương, kỷ niệm 50 Năm Hát Cho Người” (3,4,5,6). Ngoài MH còn có mặt 2 ca sĩ Tuấn Ngọc, Thu Phương và ban nhạc The Nights với các con của cố nhạc sĩ Nhật Bằng.

    * Mẹ tôi rất yêu quý giọng ca và tính tình đằm thắm của MH nên cũng đến dự chương trình trên. Sau đó, chị MH có gởi tặng CD và viết thư chúc thọ bà 80 tuổi (7).

    * Tâm Hảo và tôi có dịp gặp lại chị Mai Hương ngày 17 tháng 10 năm 2010 (8,9). Chị MH đã bay từ California sang tham dự và hát vài nhạc phẩm trong buổi ra mắt sách “Những Cánh Hoa Dại Màu Vàng” của nhà văn Hồng Thủy.

    Khi ca sĩ Quỳnh Giao qua đời năm 2014, gia đình chị có gởi cho tôi một số ảnh, trong đó có bức ảnh hiếm quý rất rõ và đẹp (10) gồm các ca sĩ Thái Thanh, Châu Hà, Hà Thanh, Mộc Lan, Quỳnh Giao, Mai Hương và Như Thủy (em của NS Trần Thiện Thanh). Thoáng ngậm ngùi  khi các giọng ca điêu luyện hàng đầu thời trước 75 không còn nữa! Giờ đây chỉ còn bà Châu Hà, hiện ở Virginia, sức khỏe kém đi nhiều, đã không còn hát từ lâu và ca sĩ Kim Tước, hiện ở Nam California, sức khỏe còn tốt và vẫn hát khi có dịp.

    Xin thành thật chia buồn với anh Trương Dục và toàn tang quyến. Cầu mong linh hồn bà PHẠM THỊ MAI HƯƠNG sớm về nước Chúa.

    Phan Anh Dũng (Rockville, Maryland USA – 2 tháng 12, 2020)

  • Khánh Lan,  Văn Thơ

    Hạnh phúc trở về

    Khánh Lan

    Tuấn tắt máy xe rồi quay sang nhìn vợ, Phượng vẫn ngồi bất động, mắt mở trừng trừng nhìn về phía trước.  Tuấn với tay qua phía trái và nắm lấy bàn tay lạnh toát của vợ, khẽ nói. 

    – Ðã đến nhà rồi em ạ. 

    Phượng giật mình, quay lại nhìn chồng, ánh mắt như dại đi, ngỡ ngàng, rồi đưa tay mở cửa xe, bước xuống đường.  Tuấn đi theo sau lưng vợ, hai người cùng im lặng. Vừa bước chân vào nhà, Phượng đi thẳng vào phòng ngủ của hai vợ chồng, nàng buông mình xuống giường, úp mặt vào hai lòng bàn tay, để mặc cho nước mắt tuôn trào như hai dòng suối.  Hai bờ vai Phượng rung lên từng chập, hòa cùng nhịp điệu với tiếng nấc nho nhỏ, đứt thành từng đoạn như muốn nghẹn trong cổ họng.  Tuấn thì khác hẳn, anh bước vào phòng khách, quẳng mạnh chùm chìa khóa xe lên bàn, rồi rơi mình xuống chiếc ghế bành lớn.  Tuấn ngả hẳn người ra phía sau, hai mắt anh nhắm nghiền, cái điện thoại cầm tay rơi xuống sàn gạch tạo nên tiếng vang như rạn nứt, nhưng anh cũng chẳng màng để ý, trong trí óc Tuấn như đang diễn lại một cuốn phim “Thảm cảnh về cuộc đời mình”.

    …Tuấn và Phượng quen nhau qua sự giới thiệu của hai gia đình.  Năm ấy, chàng là sinh viên năm thứ ba của trường đại học Kinh Thương tại Saigon.  Còn Phượng, nàng vừa thi đậu vào trường Y Khoa.  Cả hai gia đình Tuấn và Phượng đều khá giả và là một trong những gia đình có địa vị trong xã hội.  Cha của Tuấn là bác sĩ chuyên khoa về tim mạch tại bệnh viện Grall, Sài Gòn.  Bố của Phượng là nhà ngoại giao tại Mỹ.  Khi còn học ở trung học, Tuấn và Phượng đều học trường Pháp và giao thiệp rộng trong giới trí thức thượng lưu.  Từ thuờ nhỏ, Tuấn và Phượng được giáo huấn rất kỹ càng trong lãnh vực ngoại giao, khuyến khích trong cuộc sống cầu tiến và lấy sự thành công làm đầu.  Chính vì vậy, dù Tuấn và Phượng có một cuộc sống rất ưu đãi, nhưng cả hai đều hoạch định cho mình một lối đi rõ ràng trong tương lai.

    Cuộc di tản năm 1975 đã thay đổi tất cả và đã gây ảnh hưởng trên hơn một trăm ngàn người Việt Nam.  Gia đình Tuấn và Phượng cũng trong số người đó, nhưng may mắn rời khỏi nước một tháng trước khi Saigon sụp đổ ngày 30 tháng Tư.  Định cư tại Hoa Kỳ, hai gia đình Tuấn và Phượng đều ở cùng một thành phố nên hai gia đình vẫn giữ liên lạc với nhau.  Tuấn trở lại học cho xong cái bằng Cử Nhân Tài Chánh Doanh Nghiệp và tiện thể lấy luôn cái bằng Cao Học Hành Chánh.   Phượng cũng cố gắng không ngừng, nàng trở lại trường và quyết tâm trở thành bác sĩ giải phẫu óc (Neuron Surgeon). 

    Trong thời gian vật lộn với sách vở, Tuấn và Phượng vẫn gặp nhau, nhưng họ quyết định chờ đợi nhau cho đến ngày “công thành danh toại” mới làm đám cưới, bỏ qua những lời khuyên nhủ của gia đình và bạn bè.  13 năm sau, Tuấn đã dồn hết tâm trí và sức lực để gầy dựng năm cơ sở thương mại sản xuất nhập cảng bàn ghế, từ mọi nơi trên thế giới chạy dài từ Los Angeles tới San Francisco mà anh làm chủ.  Một sự đền bù rất xứng đáng và thành công vượt bực khiến cho Tuấn vô cùng hãnh diện.  Phần Phượng cũng không kém, nàng trở thành một nữ bác sĩ chuyên khoa ngành giải phẫu não (Neuron Surgeon) cho một bệnh viện nổi tiếng vùng Los Angeles.  Và sau cùng, đám cưới của Tuấn và Phượng tổ chức thật linh đình tại Paris, thành phố hoa lệ của tình yêu mà hai người đều yêu thích.  Một cuộc đời qúa tuyệt diệu mà Thượng Đế đã ưu đãi cho Tuấn và Phượng.

    Hai năm sau ngày cưới khi sự nghiệp đã vững, Tuấn và Phượng hân hoan chào đón đứa con trai đầu lòng, Nathan Phương Tuấn Nguyễn.  Lúc đó, Tuấn đã 40 tuổi và Phượng đã gần 35.  Nathan sanh ra, khỏe mạnh và thật đẹp, Tuấn và Phượng như chìm đắm trong sung sướng và hạnh phúc.  Tuy nhiên, vì là chủ của năm công ty nên lúc nào Tuấn cũng bận rộn và ít khi có mặt ở nhà. Phượng cũng chẳng khác là bao, ở nhà với con được ba tháng đã phải trở lại vì chức vụ của nàng rất cần thiết tại bệnh viện.  Tuấn và Phượng quyết định mướn hai người làm một quản gia và một vú em để lo cho Nathan. Nathan lớn lên trong sự yêu thương và dậy dỗ của ông quản gia và bà vú em.  Thời khóa biểu tại công ty và bịnh viện của Tuấn lẫn Phượng lại qúa bận rộn và mệt mỏi, nên cả hai đều không có nhiều thời gian ở gần con và chăm sóc cho con.  Nathan gần như chỉ biết vú nuôi là mẹ mình.  Không phải là Tuấn và Phượng không nhận ra điều này, nhưng vì công danh sự nghiệp đang ở trong tầm tay với, nên họ đành nhắm mắt bỏ qua.

    Nathan lớn lên, khỏe mạnh và không có điều gì phải lo lắng về vấn đề sức khỏe của em cho đến khi em được nhận vào lớp vỡ lòng (Pre-school) của trường Montessori Christian School.  Một tháng sau, Phượng nhận được điện thoại từ cô giáo Mary, cô đề nghị Phượng nên đem Nathan đi gặp một nhà chuyên môn để chuẩn bịnh cho Nathan vì em có những hành vi hơi khác thường và sức học của em rất đuối.  Tuấn vội vã gọi cho bác sĩ John Robinson là bác sĩ chuyên khoa về trẻ em của Nathan.   Nathan được giới thiệu đến một bác sĩ chuyên khoa Michael Alexander, sau khi khám Nathan ông nói, Nathan bị bịnh tự kỷ nhưng rất nhẹ; tuy nhiên, em cần sự quan tâm và giúp đỡ trong một vài trường hợp.   Theo bác sĩ Alexander, bịnh tự kỷ có thể từ bẩm sinh, nhưng cũng có khi phát hiện ở các trẻ em trong lứa tuổi từ 4 đến 6.  Bệnh này có thể ảnh hưởng đến một phần trí tuệ của Nathan. Bệnh tự kỷ ảnh hưởng trên mỗi trẻ em có nhiều mức độ khác nhau và ông khuyến khích Tuấn & Phượng nên gia nhập nhóm hỗ trợ cho các trẻ em bị bịnh tự kỷ và nếu cần thì cho em theo học một chương trình đặc biệt (Special education) dành cho những trẻ em mắc bịnh này.  Nhưng Tuấn và Phượng qúa bận rộn với công vìệc tại sở nên không mấy chú tâm đến việc này, Tuấn cũng ít khi đi cùng Phượng và Nathan đến gặp bác sĩ Alexander.  Mọi việc trong gia đình, Tuấn và Phượng hầu như giao hết cho ông quản gia và bà vú. 

    May mắn cho Nathan, bệnh tự kỷ của em phát triển rất chậm và theo lời đề nghị của bác sĩ Alexander, Tuấn và Phượng quyết định để Nathan học trường bình thường (Regular school) nhưng mướn thêm một giáo sư chuyên môn về kèm học cho Nathan.  Việc học hành của Nathan Tuấn và Phượng giao thẳng cho vị giáo sư dậy kèm. Phần Nathan, em rất ít nói, ngoài giờ đi học, em thường ở trong phòng và chơi những món đồ chơi mà em thích.  Nathan không có nhiều bạn và em cũng chẳng tha thiết làm bạn với ai, ngay cả sự vắng mặt của Tuấn và Phượng cũng chẳng làm em quan tâm và không cần thiết đối với em.

    Thời gian thấm thoát trôi qua, Nathan đã 15 tuổi, càng ngày em càng gặp nhiều khó khăn trong vấn đề giao tiếp với xã hội và bạn bè.  Việc học lại càng làm cho Nathan căng thẳng hơn, có những ngày, Nathan không chịu đi học vì trình độ của em chậm hơn các đứa trẻ ở cùng trang lứa, nên em hay bị các bạn chọc ghẹo.  Ngưới bạn duy nhất của Nathan là Alex, người cố vấn chuyên môn về ngành tự kỷ mà Tuấn và Phượng mướn để giúp Nathan về cả ba lãnh vực:  Học đường, giao tế và sinh hoạt xã hội.  Mọi việc đều êm đẹp cho đến khi Alex xin phép nghỉ hai tuần để cưới vợ, anh đã cẩn thận gìới thiệu một người bạn cùng ngành đến giúp và giải thích rõ ràng sự thay đổi tạm thời này với Nathan.   Việc này coi như không quan trọng cho một đứa trẻ bình thường nhưng đối với Nathan thì đây là một sự hụt hẫng vĩ đại cho em.  Và một sự việc không thể ngờ đã xẩy đến vì sự vắng mặt của Alex. 

    Nathan, trong một cơn tức giận vì bị các bạn cùng lớp chọc ghẹo trong thời gian Alex đang ở Hawaii.  Nathan không biết chia sẻ với ai, em đã tự giải quyết bằng cách lấy cắp cây súng đi săn của ông Nội và đem đến trường.  Cuộc nổ súng xẩy ra không ai biết động lực nào đã khiến Nathan có hành động bạo lực như vậy.  Sau khi dùng súng bắn vào học sinh cùng lớp trong giờ chơi, Nathan hoảng sợ và em bỏ chạy trốn.  Kết qủa, 5 em học sinh bị thương nặng, 4 em bị thương nhẹ.  Nathan bi bắt và tạm giam để chờ ngày ra tòa…

    …Phượng bước ra kéo ghế ngồi bên cạnh chồng, mắt nàng đỏ hoe.  Thấy Tuấn vẫn ngồi bất động trên ghế, Phượng đưa tay đặt lên vai chồng, giọng nàng chùng xuống. Tuấn đang nhắm mắt, nghe Phượng hỏi, anh giật mình quay lại nhìn vợ.

    – Phải làm gì bây giờ hở anh?

    – Có lẽ mình phải tìm một luật sư chuyên về hình sự Phượng ạ. 

    – Anh có biết luật sư nào chưa? 

    – Sáng nay lúc mình vào thăm Nathan trong trại tạm giam, anh được người ta giới thiệu luật sư Michael Burn, ông ta là luật sư chuyên biện hộ cho những trẻ em phạm pháp như trường hợp của Nathan.

    – Lúc nãy em thấy con lạ qúa, nó không tỏ ra một thái độ hay phản ứng gì cả, mặt nó như người đang trong cơn mộng du. 

    – Sáng nay em có đem thuốc cho con không? 

    – Không có thuốc, (Tuấn yên lặng, anh lắc đầu rồi nhắm mắt lại, thỉnh thoảng hai hàng chân mày cau lại như suy nghĩ việc gì)

    Tuấn đứng dậy, anh với tay lấy cái điện thoại cầm tay, bấm số rồi gọi cho luật sư Michael Burn.  Hai người nói chuyện khá lâu trong điện thoại, Phượng ngồi nghe sốt ruột qúa, nàng đứng lên, ngồi xuống, rồi lại đi qua đi lại cả chục lần.  Không biết bên đầu dây bên kia nói gì mà bên đầu dây bên này, Tuấn trả lời rất ngắn gọn, dạ dạ, vâng vâng, tôi sẽ làm ngay, vâng nhờ luật sư giúp.

    Tuấn vừa tắt máy điện thoại là Phượng đã đứng sau lưng chồng từ bao giờ, nàng hỏi.

    Luật sư nói sao hở anh?

    – Phượng ạ, mình phải tìm một liên lạc với bác sĩ psychologist Alexander để xin một giấy chứng minh là Nathan đang uống thuốc Anti-depression và phải liên lạc với bà Psychologist of trường của Nathan làm chứng là Nathan đang nhận dịch vụ cố vấn tâm lý tại trường trước ngày ra tòa.

    Phượng nhìn Tuấn, khẽ trả lời:

    – Ngày mai em sẽ làm ngay.

    – Luật sư nói, nếu chứng minh được là Nathan bị bịnh, thì may ra con được gởi đến một trung tâm cải huấn và chữa trị đặc biệt cho những thiếu niên phạm pháp.

    Phượng ngước lên nhìn Tuấn, nước mắt lưng tròng.

    – Trời ơi! Làm sao con chịu được…Luật sư có nói là bao lâu không?

    Ngừng một lát … Tuấn nói:

    – Cũng chưa biết là bao lâu…may là không ai chết…

    Phượng buông nguời xuống ghế, hai tay đưa lên che mặt, khóc thành tiếng.

    Tuấn đến bên cạnh vợ, đưa một tay xoa vai bờ vai rung lên từng nhịp của Phượng, giọng chàng nhỏ lại như an ủi…

    – Thôi em đừng khóc nữa, bình tĩnh lạ thì mình mới lo cho con được, Phượng ạ.

    Ba năm trôi qua, Nathan đã 18 tuổi, em đã xong bậc trung học và chuẩn bị để vào đại học cộng đồng.  Nathan không còn nghiện hút và vì em có hạnh kiểm tốt trong tù nên Nathan được tại ngoại hầu tra, nhưng bị quản chế tại gia một năm và không được tái phạm trong vòng 2 năm.  Ngoài giờ đi học, đi làm ở tiệm Taco Bells gần nhà, Nathan xin làm thiện nguyện cho một trung tâm giúp trẻ bị bệnh tự kỷ.  Với kinh nghiệm Nathan đã trải qua, em đã giúp cho rất nhiều cha mẹ cách thức để chăm sóc cho con mình chẳng may mắc phải chứng bịnh này và kèm các em học.   Ngoài ra, Nathan vẫn gặp Alex thường xuyên và coi Alex như một người anh tinh thần. Tuấn và Phượng cũng đã thay đổi cuộc sống của mình, Tuấn mướn người giúp anh quản lý công ty và Phượng xin làm ít giờ để nàng có thì giờ chăm sóc cho gia đình. Phượng cảm thấy mình đang sống trong hạnh phúc. 

    Hôm nay Phượng không phải trực ở bịnh viện, nàng vửa đi chợ về và định sẽ nấu món “Chả Cá Thăng Long” mà cả hai cha con, Tuấn & Nathan đều thích. Tuấn vừa về đến nhà, chàng chưa kịp ngồi xuống ghế thì Nathan bước vào, em chạy ngay đến bên Phượng và hôn nhẹ lên má mẹ, nịnh đầm.

    – Nathan yêu mẹ nhất đời.

    Phượng nhìn Nathan âu yếm:

    – Ơ hay, thằng bé yêu của mẹ, khéo nịnh đầm nhỉ, chắc lại muốn xin mẹ cái gì? đúng không nào?

    – Hihihi….sao mẹ giỏi thế? Lúc nào cũng đi guốc trong bụng Nathan vậy?

    Tuấn đang ngắm hai mẹ con, miệng chàng mỉm cười bảo:

    – Ơ hay nhỉ….thế thì Nathan coi bố là đồ bỏ hay sao?

    Nathan quay lại nhìn Tuấn, cười lớn, rồi chạy về phía cha và ôm ghì lấy Tuấn:

    – Hahaha…Nathan yêu bố nhì đời này.

    Cả nhà cùng bật cười vì câu nói ngây ngô và đáng yêu của Nathan.

    Một tháng sau, Nathan đang ngồi trên bàn học dậy kèm hai em nhỏ trong trung tâm dậy kèm trẻ em bị bịnh tự kỷ.  Bỗng nhiên ngoài cửa phòng xuất hiện một em trai khoảng 14, 15 tuổi, đầu bù tóc rối, quần áo xốc xếch.  Nathan nhận thấy trên tay của của em trai cầm một khẩu súng, chĩa thẳng về phía Nathan và hai đứa bé Nathan đang kèm toán.  Như một phản xạ tự nhiên, Nathan đứng vụt dậy, tiến lên phía trước của cái bàn học, hai em nhỏ sợ hãi, ngồi núp sau lưng của Nathan.  Nathan hai tay đang rộng như để che chở cho hai đứa học trò của mình, em nói. 

    – John, có chuyện gì vậy? Ngồi xuống đây kể cho anh nghe.

    John không nói tiếng nào, mặt đỏ gay và đôi mắt như mất thần, tay vẫn ghì chật lấy cây súng đã lên đạn và sẵn sàng nhả đạn.  Giọng nói của Nathan vẫn nhẹ nhàng và bình tĩnh.

    – John, nghe anh nói, em đưa cây súng đây, anh giữ hộ cho.

    Thấy John không trả lời, Nathan tiến lên vài bước và đến gần John hơn.   Trong khi John thấy Nathan tới gần mình, em lùi lại vài bước và gào lên trong bực tức. “Get out, get out of my way”. Nathan chưa kịp nói lời nào, thì những tiếng nổ chan chát vang lên, nhả những tràng đạn từ nòng súng, bay xối xả, tới tấp vào thân thể của Nathan lẫn trong tiếng thét của John và tiếng khóc của hai em nhỏ.  Nathan ngã gục trên sàn nhà, chiếc áo sơ-mi mầu trắng nhuộm mầu máu đỏ tươi.  John vứt mạnh khẩu súng xuống cắm đầu chạy ra khỏi cửa giữa những tiếng hét của mọi người. 

    Vừa nghe cảnh sát báo tin, Tuấn và Phượng bỏ sở làm và lái xe thẳng đến trung tâm dạy kèm trẻ em bị bịnh tự kỷ.  Tuấn chạy như điên dại đến trước cửa căn phòng, nơi mọi người đang đứng, anh đẩy lớp người và len vào bên trong, tiến thẳng đến bên xác con, anh bế xốc con dậy, ôm chật con vào lòng, kêu rống lên từng tiếng trong cơn trong đau đớn.  Máu từ trong lồng ngực Nathan thấm ướt đẫm cả ngực áo Tuấn.   Phượng đến sau Tuấn vài phút, nàng ngồi bệt xuống bên cạnh chồng, hai tay ôm choàng lấy thân xác con, khóc không thành tiếng, trước khi ngã xuống sàn, ngất lịm đi…

    Từ ngày Nathan qua đời, Tuấn và Phượng rời thành phố lớn dọn về sống ở một vùng quê hẻo lánh ở Kansas City.  Tuấn bán công ty và về hưu, anh trích một số tiền lớn để bảo trợ cho chương trình giúp trẻ em bị bệnh tự kỷ và tình nguyện làm việc cho một trung tâm của trẻ em khuyết tật trong tỉnh.  Phượng cũng tình nguyện giúp tại Mercy Health Free Clinic, một bệnh xá nhỏ ở Kansas City và làm bán thời gian tại Saint Luke’s Hospital of Kasas City. Một hôm, người ta chở vào bệnh xá, một thanh niên khoảng 20, 21 bị lạc đạn trong lúc đang làm việc.  Phượng đang ngồi trong văn phòng sau ca mổ não, chợt nghe tên của mình gọi trên máy intercomng.  “Bác sĩ Victoria Nguyễn lên phòng cấp cứu, Bác sĩ Victoria Phương Vy Nguyễn”. 

    Phượng ngồi bật dậy và chạy vội vã lên phòng cấp cứu.  Bác sĩ Christopher Miller đã đợi sẵn ở cửa phòng, thấy Phượng, ông đến bên Phượng vừa đi vừa chạy nói, “Chúng ta vừa nhận một bệnh nhân rất nguy kịch, một viên đạn bắn trúng đầu anh ta, tôi cần bác sĩ giúp một tay, kẻo không kịp”.  Ca mổ kéo dài bốn tiếng đồng hồ, viên đạn may mắn không đi qua óc, chỉ xuyên qua hàm và ra cổ phía bên trái.  Bệnh nhân đang trong tình trạng hôn mê (Coma) vì viên đạn đi quá gần đầu nên chạm vào một đường giây thần kinh trên óc.  Xong ca mổ, Phượng đi về phòng, nàng buông người xuống ghế, ngồi thừ người ra như kẻ mất hồn.  Bệnh nhân tên Alexander Nathan Nguyễn, sự trùng hợp tên như thôi miên Phượng khiến nàng rùng mình.  Hình ảnh đứa con bạc mệnh Nathan Phương Tuấn Nguyễn trở về trong tâm trí Phượng như vũ bão.  Phượng cảm thấy tim mình đau buốt, nàng gục đầu xuống bàn, mặc cho nước mắt tuôn trào và thiếp đi trong giấc mộng kinh hoàng của hai năm về trước. 

    Cả tháng nay, không thiếu một ngày nào mà Phượng không vào thăm Alexander Nathan, em vẫn nằm bất động trên giường, nét mặt bình thản như đang ngủ.  Hôm nay đã là một tháng ba ngày rồi mà Alexander Nathan vẫn chưa ra khỏi tình trạng hôn mê.  Phượng đặt máy khám tim và bắt mạch của Alexander Nathan, nhịp tim vẫn đập đều, mạnh máu vẫn thông.  Phượng đưa tay nắm lấy bàn tay của Alexander thì thầm, “Alex, em hãy cố tỉnh lại, đừng bỏ cuộc“.  Bỗng Phượng cảm thấy hình như Alexander đang bóp chặt lấy tay nàng rồi từ từ mở mắt nhìn Phượng.  Phượng quên cả phong cách và địa vị là một bác sĩ, nàng rú lên vì sung sướng. Bốn tháng sau, một bó hoa ngũ sắc đặt giữa bàn làm việc trong văn phòng của Phượng và một tấm thiệp cám ơn để bên cạnh.  Phượng mở tấm thiệp ra xem, bên trong là một tấm hình của Alexander Nathan và một lá thư.  Trong thư em viết. 

    August 16, 2020

    Kính thưa bác sĩ, 

    Con xin phép được gọi bác sĩ bằng “Mẹ” nếu bác sĩ cho phép, vì chẳng có tình yêu nào đích thực và cao quý cho bằng tình mẫu tử.  Mẹ đã tái sinh ra con để con còn hiện hữu trên thế gian này.  Con vốn là một đứa trẻ mồ côi nên lúc nào con cũng khao khát tình thương chân thật từ đấng sinh thành. Một lần nữa, nếu bác sĩ cho phép, con tha thiết xin được nhận bác sĩ làm người “Mẹ tinh thần” của con.  Con không ao ước vật chất xa hoa vì với số lương dậy học cũng đủ để nuôi sống bản thân con.  Con hiện đang theo học ngành tâm lý, chuyên khoa về chứng bệnh tự kỷ, năm thứ ba của University of Missouri-Kansas City.

    Kính thư, 

    Alexander Nathan Nguyễn. 

    Ðọc xong lá thư thì mắt Phượng cũng mờ lệ, nàng đưa lá thư lên ngực và kêu lên nho nhỏ, “Alexander Nathan, con yêu dấu của mẹ”.
     

    Khánh Lan,

    California August, 2020.

  • Tin tức

    VĨNH BIỆT ANH HOÀNG HẢI THỦY

    ** Hồng Thủy **

    ** Hồng Thủy **

    Nếu không lưu lạc qua xứ người, chắc chẳng bao giờ tôi có cơ hội trở thành cô em gái thân thiết của anh chị Hoàng Hải Thủy, để được biết một chuyện không thể nào ngờ. Một nhà văn nổi tiếng, đẹp trai, hào hoa phong nhã như anh Hoàng Hải Thủy lại là một người chồng ngoan và ‘cực kỳ’ yêu vợ. Ở tuổi ngoài 80, nỗi lo sợ lớn nhất của anh Hoàng Hải Thủy là chị bỏ đi trước anh và anh phải sống một mình. Có lẽ tại anh chị có một tình yêu đẹp quá. Tôi dám nói như vậy vì anh có tặng tôi một tập thơ của anh xuất bản năm 1995. Trong tập thơ đó tôi cảm nhận được tình yêu nồng thắm của anh chị.

    Mở đầu tập thơ là hình ảnh chị Hoàng Hải Thủy với nụ cười Mona Lisa. Hình này chị chụp có lẽ cũng vào lúc tóc đã điểm sương, nhưng trông vẫn còn đẹp lắm. Trên tấm ảnh là giòng chữ Tặng Alice (tên chị) Washington DC cuối thu 94. Dưới ký tên Hoàng Hải Thủy rất bay bướm.

    Trang tiếp theo là 4 câu thơ Alice 54

    Mùa thu mây trắng xây thành

    Tình em mầu ấy có xanh da trời

    Hoa lòng em có về tươi

    Môi em có thắm nửa đời vì anh?

    Bài thơ thứ nhì là bài Yêu Hoài Ngàn Năm anh làm ngày 15 tháng 10 năm 1977 trong phòng biệt giam Nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu

    Yêu Hoài Ngàn Năm

    Yêu nhau ngày tháng qua nhanh

    Ba mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau

    Từ xanh đến bạc mái đầu

    Tình Ta nước biển một mầu như xưa

    Yêu bao giờ, đến bao giờ

    Thời gian nào rộng cho vừa tình ta?

    Lòng em hoa vẫn tươi hoa

    Môi em thắm đến em già chưa phai

    Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai

    Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe em

    Mặt trời có lặn về đêm

    Sáng mai em dậy bên thềm lại soi

    Cuộc đời có khóc, có cười

    Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay

    Thu về trời lại xanh mây

    Ðầy trời anh thấy những ngày ta yêu

    Càng yêu, yêu lại càng nhiều

    Nhớ em, anh nhắn một điều: yêu em.

    Đọc xong bài này, tôi chắc ai cũng cảm nhận được tình anh Hoàng Hải Thủy trao cho chị Alice tràn đầy và chung thủy đến thế nào.

    Những ngày ở tù tuy buồn khổ, cơ cực, tình yêu cũng vẫn tạo cho anh cảm hứng làm những vần thơ cho chị. Những câu thơ đọc lên nghe nát cả lòng

    Nằm trong khám tối âm u

    Buồn nghe đêm lạnh sương mù sa mưa

    Bồi hồi tưởng mái nhà xưa

    Ngày đi đã nát, bây giờ ra sao?

    Thương em nhạt phấn, phai đào

    Ðêm đêm trở giấc chiêm bao một mình

    Ngủ đi em, mộng bình minh

    Mưa bao nhiêu giọt là tình bấy nhiêu

    *

    Nằm trong khám tối nghe mưa

    Ðêm nào cũng thấy đêm thừa trống canh

    Thương nhau nên ngủ không đành

    Nhớ nhau nhưng mộng không thành em ơi

    Anh nghe từng tiếng lệ rơi

    Biết em đang khóc nên trời đổ mưa…

    Về văn nghiệp, mới 10 tuổi cậu bé Dương Trọng Hải (tên thật của anh Hoàng Hải Thủy) đã nuôi mộng trở thành văn sĩ. Ngay năm 10 tuổi anh đã mê đọc cuốn tiểu thuyết Giông Tố của Vũ Trọng Phụng và Trường Đời của Lê Văn Trương. Anh rất phục các ông văn sĩ, anh thấy các ông như những ông Trời con vì các ông có quyền tạo ra các nhân vật trong truyện, tạo ra cuộc sống đa dạng cũng như định mệnh của các nhân vật đó. Anh bắt đầu viết văn năm 18 tuổi. Một năm sau, 1952 anh tham dự cuộc thi truyện ngắn do Nhật báo Tiếng Dội tổ chức. Chưa cần biết có được trúng giải hay không, chỉ cần truyện được chọn đăng là đã được trả 200$. Số tiền khá hấp dẫn với chàng trai 19 tuổi. Không ngờ truyện ngắn dự thi ‘Người Con Gái Áo Xanh’ của anh lại được giải nhất. Tiền thưởng là 3.000$. Ông Trần Tấn Quốc chủ nhiệm nhật báo Tiếng Dội đãi 3 người trúng giải Nhất, Nhì, Ba đi ăn tiệc cao lâu rồi đưa mỗi người một ngân phiếu. Đi lãnh tấm ngân phiếu thứ nhất quá lớn trong đời ở Ngân hàng về, anh biếu ngay bố mẹ 500$, chia cho các em một phần. Tiền còn lại anh đi may cho mình bộ complet đầu tiên với giá 700$.

    Từ đó sự nghiệp văn chương của anh bắt đầu khởi sắc. Những truyện dài đăng trên các báo của anh rất hấp dẫn người đọc. Lần lượt các truyện dài đăng báo của anh như: Như truyện Thần Tiên, Tìm em nơi thiên đường, Định mệnh đã an bài, v.v. .. được các nhà xuất bản mua bản quyền xuất bản nhiều lần.

    Tác phẩm nổi tiếng nhất của anh là cuốn tiểu thuyết phóng tác Kiều Giang. Anh đã lấy tên cô con gái cưng, bé Kiều Giang lúc đó mới được 6 tháng để đặt tên cho tác phẩm này.

    Nói tới nhà văn Hoàng Hải Thủy là ai cũng nghĩ ngay tới tác phẩm Kiều Giang. Điều này đã cho anh cảm hứng sáng tác bài thơ làm trong Sà lim Khu B, trại giam Phan Đăng Lưu năm 1978. Có những câu đọc muốn ứa nước mắt.

    Người bạn tù hỏi qua song cửa

    Phải anh là Hoàng Hải Thủy

    Anh viết truyện Kiều Giang?

    Kiều Giang …!

    Ôi tên con, tên ngọc, tên vàng

    Làm bố vỡ tim và hồn nức nở

    Khi đặt tên con đâu ngờ có thuở

    Nghe tên con giữa chốn lao tù

    Những đêm dài ngục tối âm u

    Bố thấy mắt con sáng bừng rực rỡ

    Bố yêu con trong từng hơi thở

    Trong trái tim hồng, trong giòng máu đỏ

    Kiều Giang ơi, tiếng kêu thương nhớ

    Con có run da thịt đêm nay?

    Bố cho con trọn máu xương này.

    Anh chị có 3 người con, 2 trai 1 gái. Hoài Nguyên và Kiều Giang ở Texas và Ohio. Hải Triều còn ở Việt Nam. Tôi hỏi tại sao anh chị lại chọn Virginia để định cư. Anh cho biết anh rất thân với anh Anh Ngọc (ca sĩ rất nổi tiếng của VN ngày xưa). Hồi anh còn ở VN, anh Anh Ngọc có gửi về cho anh một tấm ảnh anh chị Anh Ngọc ngồi trên một thảm cỏ xanh mướt, đằng sau là cả một rừng lá vàng. Anh Hoàng Hải Thủy mê ngay phong cảnh quá đẹp đó, nên khi có giấy tờ được sang Mỹ, anh chị quyết định chọn nơi có thảm cỏ xanh và rừng lá vàng tuyệt đẹp để định cư. Đó là tiểu bang Virginia, một tiểu bang có cái tên thật tình tứ “Virginia is for lovers”.

    Thêm nữa, anh chị chọn Virginia vì ở Virginia có mấy người bạn thân và có bà Khúc Minh Thơ người hết lòng giúp đỡ cho những cựu tù nhân chính trị ở VN qua Hoa Kỳ tị nạn. Thời gian đầu anh chị hay tham dự những buổi họp văn nghệ. Từ 10 năm nay, vì tuổi tác anh chị không tham dự những hội hè đình đám nữa. Những ngày gần đây sức khoẻ chị suy yếu, chị bị ngã mấy lần, anh luôn luôn lo lắng chị sẽ bỏ anh đi trước. Anh tâm sự anh không thể sống thiếu chị. Tôi trêu anh, tại chị nấu ăn ngon và cưng anh quá. Chị Hoàng Hải Thủy làm chả giò rất ngon. Nhắc đến chả giò tôi lại nhớ đến một kỷ niệm rất cảm động với anh chị. Một hôm tình cờ gặp anh chị ở chợ Việt Nam bên Virginia. Chị em tôi mừng rỡ ôm chầm lấy nhau vì lâu quá hai chị em mới có dịp gặp gỡ. Chúng tôi ở cách xa nhau. Tôi ở Maryland, anh chị ở Virginia. Đang nói chuyện với tôi bỗng chị quay qua anh nói: “ Anh chịu khó lái xe về nhà lấy gói chả giò em để trên ngăn đá mang ra đây biếu cô Thủy. Em ở đây nói chuyện với cô ấy. Lâu quá chị em mới gặp nhau.”

    Tôi cản thế nào cũng không được, anh đi thật nhanh ra xe để về nhà lấy chả giò cho tôi. Anh chị thương tôi như vậy đó và tôi cũng rất quí mến anh chị. Chị rất dễ thương nên được lòng nhiều bà hàng xóm

    Một hôm tôi tới thăm anh chị nhằm lúc anh đi đón chị ở nhà thương vừa về tới. Tôi thấy một bình hoa hồng thật đẹp của bà ở gần đã để sẵn ở cửa để mừng đón chị về. Vào trong nhà lại thấy bao nhiêu là bánh trái. Anh nói của các bà hàng xóm thấy chị đau nên mang tặng. Có mấy ai được mọi người quí mến như anh chị đâu.

    Tôi rất mừng thấy anh còn khoẻ mạnh dù tuổi đã cao. Ngoài 80 mà anh vẫn còn phong độ, sáng suốt. Vẫn lái xe đưa chị đi chợ và viết bài cho các báo. Điều hạnh phúc nhất là tình yêu của anh chị sau 62 năm vẫn còn thắm thiết như những ngày đầu.

    Ngày đó gia đình chị đi Vũng Tầu nghĩ mát, thuê nguyên cả một cái Villa thật rộng. Anh họ của chị là bạn thân của anh, rủ anh cùng ra Vũng Tầu chơi.

    Biển xanh, nắng vàng và những đêm trăng thơ mộng của Vũng Tàu đã cho cặp trai tài gái sắc có cơ hội gần gũi và nẩy sinh tình cảm chan chứa với nhau.

    Kết quả anh tỏ tình và xin cưới chị. Anh kể: “Tối hôm trước vừa tỏ tình với chị thì ngay sáng hôm sau khi ra phố uống café, mua tờ báo đọc, thấy họ in trên trang nhất giòng chữ thật to Hiệp Định Genève vừa ký ngày hôm qua. Hết chiến tranh và chia đôi đất nước.Ngày anh chị quyết định kết hợp lại là ngày đất nước chia đôi thành hai miền Nam Bắc. Ngày đó không chỉ là ngày đặc biệt khiến anh chị nhớ mãi, mà cũng là ngày mà mọi người dân Việt không thể nào quên.”

    Nếu bài viết kết thúc ở đây thì tuyệt quá, nhưng… ở đời có lúc chữ NHƯNG đến thật bất ngờ, mang tất cả niềm đau không ai chờ đợi. Cuộc sống của anh chị đang thật êm đềm, hạnh phúc,bỗng đứt đoạn chia lìa… Những lần tôi đến thăm, trong căn phòng khách nhỏ bé ấm cúng, anh chị ngồi tiếp tôi. Gương mặt anh lúc nào cũng rạng rỡ, ánh mắt reo vui nhìn chị nói chuyện thao thao bất tuyệt, thỉnh thoảng chị lại cười thật to, hai anh em tôi cũng cười góp vì chị nói chuyện rất có duyên. Chị kể đủ thứ chuyện, những ngày ở với cộng sản, anh đi tù, tụi cán bộ đến làm khó dễ chị, chị đã không sợ lại còn trả lời chúng những câu thật chua cay. Qua những mẩu chuyện chị kể, tôi rất phục chị, chị quả thật là người đàn bà can đảm, giỏi giang. Chị lo cho anh từng li từng tí, hèn gì anh cứ tâm sự với tôi anh không thể sống thiếu chị và cứ lo sợ chị sẽ ra đi trước anh. Nỗi lo sợ đó đã thành sự thật, chị đã bỏ anh đi thật rồi.Chị mất ngày 27 tháng 12 năm 2018.

    Chị ra đi quá bất ngờ. Ngày Lễ Noel Kiều Giang về thăm bố mẹ, chị theo Kiều Giang đi mua sắm, đi chơi, chị rất khỏe và còn đòi đi uốn tóc, sửa soạn cho đẹp để ăn Tết. Đi cả ngày Kiều Giang sợ mẹ mệt, nói mẹ đi nằm nghỉ. Chị vào phòng nằm một lát rồi lại ra phòng khách ngồi nói chuyện. Đang nói chuyện chị than mệt, ngồi ngả đầu ra phía sau, nhịp tim hơi yếu. Đưa chị vào nhà thương, BS nói nhịp tim quá yếu, BS cố gắng cứu chữa nhưng không được. Chị đã trốn anh ra đi thật nhanh chóng, nhẹ nhàng.

    Hôm đến viếng chị ở nhà quàn, nhìn anh ngồi trên xe lăn, khuôn mặt thất thần tôi không cầm được nước mắt. Tôi nắm tay anh chia buồn, hai anh em cùng khóc. Tôi biết anh đau buồn lắm, tôi rất lo, từ nay không có chị , không biết anh sẽ ra sao.

    Nhớ Tết năm ngoái đến thăm anh chị, trên đường lái xe về, tôi cứ nhớ mãi hình ảnh thật hạnh phúc. Căn phòng khách nhỏ ấm cúng với những bông cúc đại đóa vàng tươi, chiếc bánh chưng dán chữ mầu đỏ thắm phía ngoài, chờ đợi được bóc cho bữa cơm ngày Tết. Hộp mứt sen Bảo Hiên Rồng vàng trông thật hấp dẫn. Hai mái đầu bạc kề cận ngồi nhâm nhi mứt sen bên tách trà thơm bốc khói. Tết năm nay anh một mình một bóng, ai pha trà ngồi đối ẩm với anh đây?

    Anh Hoàng Hải Thủy ơi, em nói vậy thôi chứ anh đừng nghĩ mình cô đơn và buồn nhé. Em biết lúc nào hồn chị cũng quanh quẩn bên anh. Chị chỉ tạm biệt anh đi trước thôi mà, chị sẽ chờ ngày tái ngộ với anh vì làm sao chị quên được lời anh dặn dò: “Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai. Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe em.”

    Từ ngày chị ra đi,anh sống âm thầm như một cái bóng.Lần nào tôi đến thăm, anh cũng chỉ nói một câu “anh chỉ muốn chết’.Tôi không ngờ tinh thần anh lại yếu như vậy. Hình như chị đã mang tất cả sức sống của anh đi theo chị rồi. Nhớ ngày nào, hình ảnh một anh Hoàng Hải Thuỷ tươi cười, mắt sáng long lanh, ngồi ngắm chị nói chuyện thao thao bất tuyệt với tôi một cách sung sướng, thỉnh thoảng anh mới chen vào một câu để phụ hoạ cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn của chị, hoặc chọc phá chị, để anh em tôi có cớ cười vui thoải mái.Bây giờ, trông anh buồn như một tầu lá úa.

    Nhớ lần tôi đến thăm anh chị năm 2017, mang giấy mời Ra mắt Tác phẩm HOA TƯƠNG TƯ của tôi, anh cầm tờ thiệp mời trong tay nhìn tôi nói “lâu rồi anh chị không đi tiệc tùng, họp mặt gì nữa.Chân chị yếu lắm không ngồi lâu được, mà anh không muốn đi một mình. Cô thông cảm nhé “ Tôi đang định trả lời:Dạ, em hiểu, thì chị đã cao giọng ra lệnh: Anh phải đi chứ, không đi cô Thuỷ buồn .Rồi chị quay sang tôi: “ lâu lắm rồi anh không đi đâu nữa hết, anh chị ở ẩn rồi cô ơi, nhưng ra mắt sách của cô thì chắc chắn anh sẽ đi, cô yên tâm nhé”. Anh ngồi im re, hình như chị là “phát ngôn viên”của anh.Thấy anh không nói gì, tôi cũng không hy vọng là anh sẽ có mặt trong buổi RMS của tôi, vì thường các ông không cãi lại lời của các bà vợ, vì nể hay vì biết cãi cũng thua. Các ông mặc kệ vợ nói gì tha hồ, nhưng rồi đường ta ta cứ đi, giống như ông chồng của tôi vậy. Nhưng anh Hoàng Hải Thuỷ thì khác, “ Vợ muốn là Trời muốn”.Ngày RMS của tôi, anh xuất hiện cùng anh Đào Trường Phúc, trông anh vẫn chải chuốt, hào hoa phong nhã như thuở nào. Không những chỉ anh đến tham dự, mà chị còn làm cho tôi bao nhiêu là chả giò thật ngon và một hũ đồ chua to tổ bố để đãi khách.

    Tình cảm anh chị dành cho tôi tràn đầy, ấm áp… như chiếc áo len tôi đang mặc do chính tay chị đan cho tôi. Chị rất khéo tay, cơm nước, may vá thêu thùa đều giỏi, lại là người rất tình cảm, chu đáo và yêu anh vô cùng. Chị đúng là người vợ toàn hảo, hỏi sao anh không thể nào nguôi nỗi nhớ, niềm đau?

    Tin anh ra đi thật bất ngờ với mọi người, riêng tôi đã linh cảm từ những ngày đầu có dịch “cô vít”.

    Anh sống rất khép kín, ít chịu giao tiếp với thế giới bên ngoài .Con cái ở xa hết.Người thân mà anh chấp nhận liên lạc đếm trên đầu ngón tay. Cuộc sống anh từ ngày chị ra đi đã rất cô đơn. Bây giờ với nạn dịch bệnh, còn ai thăm viếng ? anh lại càng cô đơn và buồn hơn nữa. Ý nghĩ “chỉ muốn chết” vẫn nằm trong tâm khảm anh từ lâu, chắc lại còn mãnh liệt hơn nhiều.

    Anh ra đi, để lại đau buồn cho những người thân ở lại, nhưng với riêng anh, tôi biết là một ước muốn khôn nguôi. Anh đã đến được nơi anh hằng mong đợi, xum họp với nàng ALICE, người yêu muôn thuở của anh.

    Hồng Thủy, WDC.

  • Tin tức

    Nghệ sĩ Chí Tài qua đời (1958 – 2020)

    www.vietbao.com

    Nghệ sĩ Chí Tài, một tài năng đa dạng nhiều lĩnh vực sân khấu nghệ huật, vừa từ trần hôm 9/12/2020 tại Việt Nam vì đột quỵ, thọ 62 tuổi, dự kiến thi thể ông sẽ được đưa về Hoa Kỳ làm tang lễ. Theo Wikipedia, nghệ sĩ có tên thật là Nguyễn Chí Tài (sinh 15/8/1958 – mất 09/12/2020) nổi tiếng với các hoạt động âm nhạc và sân khấu tại hải ngoại và trong nước và là bạn diễn với nghệ sĩ Hoài Linh. Chí Tài còn là một nhạc công ghi-ta, nhạc sĩ hòa âm tại hải ngoại trong giai đoạn thập niên 90 và là nhạc sĩ sáng tác và viết lời Việt cho một số ca khúc.
    .
    Năm 1981, Chí Tài sang Mỹ định cư theo diện gia đình bảo lãnh. Thành lập ban nhạc gia đình “Chi Tai’s Brothers” với Chí Thiện, Quang Mỹ, Phương Loan, Kiều Linh, Chí Thái, Trịnh Nam Sơn và Chí Tài. Từng cộng tác với trung tâm Thúy Nga qua một số chương trình Paris By Night. Mở studio làm hòa âm và thu âm cho nhiều ca sĩ tại hải ngoại, truyện ma Nguyễn Ngọc Ngạn,… Từng giữ vai nghệ sĩ hài với nhóm kịch Thúy Nga và trong các chương trình Paris By Night. Cộng tác với các trung tâm băng nhạc. Năm 1987, Chí Tài kết hôn với ca sĩ Phương Loan.
    .
    Vào chiều ngày 9 tháng 12 năm 2020, Chí Tài được xác nhận là đã qua đời tại bệnh viện vì lý do đột quỵ. Ông được phát hiện đã nằm bất động ở cầu thang bộ tầng 7 của chung cư nơi ông sống ở tại quận Phú Nhuận, xe cứu thương ngay sau đó đã được điều đến để chở ông đến bệnh viện cấp cứu, nhưng cuối cùng Chí Tài không qua khỏi và đã qua đời vào hồi 15h20 chiều cùng ngày. Được biết, trước đó Chí Tài đã từng có tiền sử bị bệnh tiểu đường, mỡ trong máu và hàm lượng cholesterol cao. Hoạt động cuối cùng của ông là làm bình luận viên game 3 cho chung kết VBA 2020.
    .