• Văn Thơ,  Việt Hải

    TÂY NINH QUÊ TÔI

    VIỆT HẢI

    Tây Ninh là quê hương tôi, vì tôi ra đời tại đó, dù không sống tại đó lâu, nhưng những năm tháng về nơi này nghỉ hè cũng đủ cho tôi cái tình thân ái của những năm tháng thiếu thời. Gần 3 thập niên xa quê hương ngoài ý muốn, tâm tư tôi vẫn không nguôi ngoai nhìn về cố quốc trong nhung nhớ, mặc dù quê hương vẫn còn chìm đắm trong sự tụt hậu so với các lân lang. Người dân chịu nhiều thiệt thòi nhất trong lịch sử quê hương. Để nhẹ nhàng cho bài viết, tôi không đi sâu về sự tụt hậu này, mà lý do ly hương của đa số người Việt tại hải ngoại đã nói lên đủ rồi. Do đó, khi tìm hiểu về vùng đất nào đó, người ta thường bàn về các yếu tố như lịch sử, địa dư, phong cảnh, di tích và thức ăn hay thổ sản tiêu biểu. Trong ý niệm như vậy cho bài viết ngắn này, tôi xin phác họa những nét đại cương về Tây Ninh hay về quê hương tôi như trong phần sau.

    ĐỊA DƯ:

    Về địa lý, Tây Ninh cách Sài Gòn 99km về hướng bắc, chu vi dài 214km. Phía bắc Tây Ninh tiếp giáp với tỉnh Kompong Cham của Cao Miên, phía nam giáp tỉnh Hậu Nghĩa, phía đông giáp tỉnh Bình Dương và phía tây giáp 2 tỉnh Prey Veng và Svay Rieng của Cao Miên. Do đó, khi nhìn vào bản đồ địa lý thì Tây Ninh có biên giới chia chung với xứ láng giềng Cao Miên khá nhiều. Về diện tích thì Tây Ninh choáng khoảng 3850km vuông. Địa thế Tây Ninh quan trọng là vì nằm ngay trên trục giao thông nối liền Sài Gòn sang Miên. Tây Ninh nằm trên địa thế khá cao là 15 mét trên độ cao của mặt biển. Về khí hậu thì Tây Ninh rất nóng, ẩm ướt vào mùa nóng bức, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11.

     LỊCH SỬ:

    Điểm qua về lịch sử Tây Ninh là vùng đất của Thủy Chân Lạp, có tên là Romdum Ray, tức Chuồng Voi (Pare aux éléphants) vì nơi đây chỉ có rừng rậm với muôn thú dữ mà cọp, voi, beo, rắn.. cư ngụ. Những người thổ dân ở đây sống rất thiếu thốn, cơ cực cho đến khi người Việt di cư đến định cư khai khẩn đất đai từ Hốc Môn lên Trảng Bàng, rồi qua Gò Dầu lên tận núi Bà Đen. Vì người Việt đến định cư mang theo ngôn ngữ, phong tục, tập quán hay văn hóa khác với người Miên, nên khi người Việt tràn đến đâu thì người Miên tự động lui về hướng tây tức vào sâu sang biên giới nước họ. Khi đó

    đất Tây Ninh được Triều Đình Huế sáp nhập vào nền hành chánh của tỉnh Gia Định (tức Phiên An trấn). Khi Chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn đánh đuổi bỏ chạy vào Nam, ông chạy lên Tây Ninh ẩn náu, tìm đường sang Miên, rồi bắt liên lạc cầu viện quân Xiêm trợ giúp đánh lại Nhà Tây Sơn. Tuy vậy, Nhà Tây Sơn đánh bại quân Xiêm. Năm 1789, Chúa Nguyễn nhờ đến viện binh là quân Pháp sang giúp. Năm 1802, Chúa Nguyễn Phúc Ánh dẹp xong Nhà Tây Sơn và lên ngôi lấy vương hiệu là Gia Long, quốc hiệu là Đại Nam. Đến thời kỳ Vua Thiệu Trị và Tự Đức, quan Thủy Chân Lạp hay Cao Miên đem quan sang đánh phá muốn chiếm lại đất đai, Tây Ninh là lãnh thổ tiếp giáp hai bên giằng co. Nhưng cuối cùng quân Miên yếu thế thua cuộc bỏ mộng lấy lại đất đai. Trong những trận thư hùng với quân Miên, có những anh hùng Việt Nam đền nợ nước, trong đó có quan tri phủ Huỳnh Công Giản mà miếu thờ ông là một trong những chốn di tích ghi công tiền nhân tại Tây Ninh. Về lãnh thổ hành chánh thì tỉnh Gia Định thời bấy giờ rất rộng lớn, nó bao trùm các vùng đất Tây Ninh, Tân Bình, Chợ Lớn, Tân An và Gò Công vào Sài Gòn. Sau này dưới thời Pháp thuộc để dễ kiểm soát, nền hành chánh mới qui định lại lãnh thổ mà vùng Trảng Bàng được làm ranh giới phân chia hai tỉnh Tây An và Tây Ninh. Riêng tỉnh Tây Ninh gồm hai vùng đất chính là Tây Ninh và Gò Dầu. Điểm đặc biệt của thuở xa xưa đó là đất Tây Ninh có vô số cây bàng lác, là loại cây thổ sản dùng làm bao xách hay làm đệm. Còn Gò Dầu là vùng đất cao có vô số cây dầu mà người dân đốt đèn. Gò Dầu lại chia làm hai vùng là Gò Dầu Hạ nơi có cư dân qui tụ sầm uất và Gò Dầu Thượng giáp ranh biên giới Miên. Dưới thời chính phủ VNCH cải danh Gò Dầu thành quận Hiếu Thiện vì nó tượng trưng cho dân tình vốn trung hiếu hiền hòa.

     DANH LAM THẮNG CẢNH:

    Nói về di tích hay danh lam thắng cảnh, đến Tây Ninh người sẽ đi thăm Thánh Thất Cao Đài, một Tòa Thánh thật nguy nga, tráng lệ, là nơi mà đạo Cao Đài được phát sinh rất linh thiêng tại thánh địa này. Kế nữa là rất nhiều địa danh, những cổ miếu, những cổ tự như Linh Sơn Cổ Tự với núi Bà Đen, Chùa Ông Gia Ninh, Giếng Mạch Thiên Nhiên, Cổ Tháp Prey Prasath di tích của người Miên, Lăng Ông Huỳnh Công Nghệ, Miếu Ông Gốc, Dinh Ông Gò Dầu Thượng, Miếu Ông Cả Trước, Miếu Thờ Ông Huỳnh Công Giản, Miếu Thờ Ông Huỳnh Công Thắng, Phước Lâm Cổ Tự, Thiền Lâm Cổ Tự, Cẩm Phong Tự, Hiệp Long Cổ Tự, Cổ Lâm Tự (Thanh Điền), Từ Lâm Tự (Gò Kén), Chùa Ông Phước Kiến, Đình Thái Bình, Đình Hiệp Ninh, Đình Thạnh Đức, Đình Gia Lộc.. Do đó Tây Ninh là một vùng đất linh thiêng, có nền văn hóa lâu đời hổn hợp giữa người Miên và Việt.

    THỨC ĂN:

    Đến Tây Ninh, người ta không thể quên những tô bánh canh, những dĩa thịt heo luộc cuốn bánh tráng, rồi món bì ram, cháo lòng hay cháo bồi là những đặc sản “rất Tây Ninh”.

     1) Cháo Lòng:

    Cháo lòng Tây Ninh gồm đủ lục phủ ngũ tạng của loài heo như dồi trường, lá mía, tim, cật, huyết và gan. Gạo được rang cho thơm xong ta nấu gạo cho nhuyễn nhừ, cho các thứ lòng vào nấu chung cho chất ngọt do cốt trong các món lòng heo tiết ra. Công phu nhất là món dồi nướng sả. Ruột già của heo mua về lật ngược bề trong bằng chiếc đũa, xong chà xát bề trong ruột với muối cho thật sạch trong dung dịch dấm hoặc rượu đế để khử mùi hôi. Xong phơi ruột cho ráo. Khi dồn nhân làm dồi, ta lật lại chiều của ruột nguyên thủy. Nhân là thịt heo bằm nhuyễn trộn chung với tỏi sả ớt bằm, cho tiêu sọ hột vào nêm muối cho vừa ăn (tùy khẩu vị, người viết ăn khá lạt). Nhân được nhồi vào ruột mà một đầu được thắt bằng sợi chỉ. Đầu kia được cột khi dồi được căng đều. Xong ta nướng dồi bằng lửa than hay lò điện. Món đồi này ăn với cháo hay lai rai ba sợi với bia hay cognac pha Perrier cũng bắt mồi không kém.

     2) Cháo bồi:

    Cháo bồi là gì? Nó chính là món cháo bột báng mà phần thịt lại giống với món bánh canh. Do vậy, nhiều hàng bánh canh bán song song với cháo bồi bột báng. Cháo được rang thơm xong nấu thành cháo chín nhừ với bột báng. Điểm đặc biệt của cháo bồi khác cháo thường ở món bột báng. Bột báng khi nóng làm cho cháo sền sệt với độ lỏng trơn tru dễ nuốt. Thịt heo nạc phần giò heo khi ta cắt khoanh ra có da, thịt và gân. Điểm thêm hành ngò, tiêu và nước mắm thì đúng điệu cháo bồi.

     3) Bánh canh:

    Nói tới bánh canh thì bột bánh canh có hai loại là loại bột gạo trắng đục và loại bột năng trắng trong. Theo ký ức cũ của tôi thì hình như người Tây Ninh chỉ dùng loại bột gạo. Nước lèo cho món bánh canh nấu tương tự như món hủ tiếu hay mì nước, tức chúng ta nấu nước dùng bằng xương heo. Thịt cho món bánh canh thì tận dụng tối đa 4 cái giò của con heo, nghĩa là chúng ta dùng giò phần thịt và phần bàn chân heo có cả móng. Tôi nhớ bà nội tôi dạy tôi ăn món này đầu đời là lấy nước mắm ngon (có nước mắm nhỉ thì càng tuyệt vời tâm tư) cho ớt chín đỏ cắt khoanh vào, nặn chanh cho vị cay, chua và mặn hòa lẫn nhau cho lâm li vị giác. Món này được tìm thấy nhiều nơi từ Trảng Bàng về tới Tây Ninh.

    4) Thịt và lòng heo cuốn bánh tráng:

    Vì các gian hàng hay các quầy bán cháo lòng và bánh canh dùng các sản phẩm heo, nên các món khác được tạo ra là món giò heo, thịt heo hay lòng heo luộc cuốn bánh tráng chấm nước mắm pha thật ngon. Món này cần có rau sống đi kèm. Tây Ninh là miền đất trù phú do thiên nhiên ưu đãi nên Tây Ninh có đủ loại rau từ rau sống đến các loại rau đọt chiếu, hay những lá xanh non, có vị chua rất bắt với món ăn cuốn bánh tráng như bì cuốn, nem cuốn, cá hấp hay cá nước cuốn bánh tráng đến món thịt hay lòng heo cuốn bánh tráng.

     5) Nước mắm chấm:

    Theo công thức mẹ tôi lưu truyền trước ngày tôi lên xe hoa về nhà vợ thì nước mắm được pha theo tiêu chuẩn như sau:-2/3 chén nước mắm loại ngon hoặc loại khá (loại dở có nồng độ mặn hơn, độ đạm ít hơn, cần pha chế gia giảm theo kinh nghiệm).

    -1/2 chén dấm trắng (có thể thay bằng chanh)

    -1/3 chén đường cát trắng.

    -2 chén nước lọc (nếu ăn lạt dùng 3 chén)

    -Ớt, tỏi bằm tùy khẩu vị mà nêm vào.

    Theo kinh nghiệm khẩu vị, mỗi người tự biến chế theo cung cách riêng.

     6) Món bì ram:

    Tây Ninh làm món bì ram có phần hơi khác với các tỉnh khác vì cách làm thịt cho món bì theo cung cách khác. Đa số các tỉnh luộc thịt heo xong rồi thái sợi. Kiểu Tây Ninh là ram hay chiên thịt heo cho tỏi vào dầu phi thơm, khi thịt chín vàng óng ả, vớt ra dùng chầy hay bề sống của dao phay (phần lưng không nhọn) dần cho mềm và tưa ra. Xong ta trộn thính và bì tươi vào thịt tưa nêu trên. Bì thịt này dùng chung cho cơm tấm, bì bún hay bì cuốn.

     VỀ VĂN HỌC:

    Những sinh hoạt thi văn đàn đã phát sinh rất thịnh hành tại Tây Ninh mang vào lịch sử của tỉnh này bao nhân tài văn thơ. Dù hoạt động của họ về thi văn khá nổi bật trong địa bàn miền Nam. Đầu thế kỷ 19, khi nền văn học chữ quốc ngữ được phát triển thì nhóm nhà thơ tiền bối Tây Ninh ra đời năm 1915, họ họp nhau lại làm thơ, họa thơ và ngâm thơ. Những nhân vật tiêu biểu là cụ Đốc Phủ Tô Ngọc Đường, cụ Hương Cả Huỳnh Văn Tâm, cụ Hương Lễ Võ Văn Sâm, gọi tắt là Võ Sâm, là những gương mặt lãnh đạo thi đàn. Cụ Võ Sâm trở thành nhân sĩ đại biểu cho Tây Ninh, cụ cũng là soạn giả biên khảo quyển “Thi Phú Văn Từ” được giới văn học thời bấy giờ trọng nể. Nối tiếp nhóm Thi Đàn của cụ Võ Sâm và Văn Đàn Quốc Biểu của cụ Nguyễn Văn Hiến. Nhóm Quốc Biểu sinh hoạt văn học họp nhau định kỳ mỗi tuần trao đổi văn thơ. Họ họp nhau tại Gò Chẹt tại Tây Ninh. Nhóm này quy tụ khá nhiều thi văn hữu như quý ông: Thanh Vân, Nguyễn Toại Chí, Thanh Phong, Nguyễn Văn Trí, Lâm Tuyền, Võ Trung Nghĩa, Võ Văn Tấn, Sầm Sơn, Nguyễn Văn Vàng, Du Tử, Mai Huê, Lê Văn Thành, Nhà Quê, Dương Văn Kim, Nhất Thiện…

    Một trong những sinh hoạt nổi bật là nhóm của quý cụ tiền bối Võ Sâm và Tô Ngọc Đường xướng họa cùng nữ sĩ Sương Nguyệt Anh của tỉnh Bến Tre. Bà là con gái của cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu. Nhân dịp xuân tân niên Tân Sửu 1901, làng thơ Tây Ninh tổ chức hội thơ tại Điện Núi Bà hay Linh Sơn Thánh Mẫu, nơi thắng cảnh thiên nhiên rất hùng vĩ, uy nghi, trước những hàng mai trắng đang trổ hoa mừng xuân, nữ sĩ Thụy Khuê Sương Nguyệt Anh cảm tác ba bài thơ mà tôi xin trích hai bài tiêu biểu là “Thưởng Bạch Mai Cảm Đề” và “Linh Sơn Nhất Thụ Mai” để tặng làng thơ Tây Ninh để tạ lòng lời mời của các thi nhân nặng tình thi phú Tây Ninh và Bến Tre như sau:

     Non linh đất phước trổ hoa nhân

    Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân

    Tuyết được nhành tiên in sắc trắng

    Sương pha bóng nguyệt ánh màu ngân

    Mây lành gió lạnh nương hơi chánh

    Vóc ngọc mình băng hắt khói trần

    Sắc nước hương trời nên cảm mến

    Non linh đất phước trổ hoa thần

    (Thưởng Bạch Mai Cảm Đề)

     Vài bài thơ Đường bằng Hán tự khi xuân về tại Linh Sơn mà nữ sĩ Thụy Khuê cảm tác:

     Quỳnh tư ngọc cốt bản thiên chân

    Tịnh độ cô liêu viên tục trần

    Noãn nhập ám hương xuân dật dừ

    Hàn xung sơ ảnh nguyệt tà thần

    Tuyết trung tự khước lưu phong vận

    Phong ngoại ưng liên đạp tuyết nhân

    Thừa hứng mạc hiểm sơn thủy viễn

    Đồng lai dự tử phú dương xuân

    (Linh Sơn Nhất Thụ Mai)

     Bài thơ trên được thi sĩ Hi Đạm của Tây Ninh chuyển ngữ sang nghĩa Việt:

     Ngọc quỳnh cốt cách trời ban

    Đất tịnh trơ vơ lánh thế gian

    Ấm áp hương đầm xuân buổi sớm

    Lạnh lùng bóng nhs5t nguyệt đêm tàn

    Nghĩ thân ánh tuyết hơn sương đượm

    Thương kẻ hài sương gót tuyết chan

    Mến cảnh nước non xa chớ ngại

    Cùng lên ngâm vịnh tứ xuân tràn.

     Tóm lại Tây Ninh cũng như bao tỉnh khác có những cái chung và riêng trong lịch sử cấu tạo thành lãnh thổ Việt Nam, Bao thế hệ đi trước đổ mồ hôi, đổ xương máu khai phá đất đai thành vùng đất trù phú từ một vùng đất chỉ có rừng rậm. Viết những lời này ra đây tôi muốn tri ân tình quê hương đậm đà đã cho tôi chào đời và đầy ắp kỷ niệm quê hương khi tắm nước sông Vàm Cỏ Đông, những kỷ niệm chèo ghe chòng chành trên sông với các bạn địa phương, những kỷ niệm khó quên của miệt đồng quê tại nơi mà tôi gọi là quê hương, nó xao xuyến, ngọt ngào như những dòng nước mưa rào đổ xối xả của những ngày tắm mưa vô tư lự trên những con đường đất đỏ lầy lội, để kỷ niệm hiện về quyện lấy tâm thức tôi cả cuộc đời này, nó sẽ mãi như lời của bài hát mà nhạc sĩ mà nhạc sĩ Quách Nam Dung từ bên vùng nam cực của xứ Úc Đại Lợi đã viết tặng cho quê tôi với bao ân tình non sông gấm vóc trong lời nhạc sau đây:

     ”… Linh Sơn cheo leo, núi thiêng chốn xưa, tiếng kinh vắng xa Tây Ninh thân yêu, giấc mơ thiết tha, sống trong thái hòa. Ai qua nơi đây, nhớ Thánh Mẫu xưa, hiển linh..”.

    (”Tây Ninh Quê Tôi”, Quách Nam Dung)

    Sau cùng, tôi muốn mượn những câu thơ tiêu biểu của thi sĩ Bửu Đà diễn tả qua bài “Tây Ninh Cảm

    Tác” là:

     Tây Ninh là tỉnh hiền lương

    Bên đời, bên đạo tình thương đậm đà

    Trời thương đất lợi người hòa

    Tinh thần hướng thiện trên đà nghĩa nhơn.

     Với bao nỗi nhớ về quê xưa, hôm nay tôi ngồi đây bằng dòng viết này cách quê tôi 22 ngàn dặm hay nửa quả nữa địa cầu, tôi chạnh lòng cảm tác lại quê tôi qua bài thơ “Nhớ về quê tôi”:

     Vàm Cỏ Đông nước chảy hiền hòa

    Đồng lúa vàng gợi nhớ tình ta

    Con diều căng gió khung trời xưa                          

    Quê hương bao phủ ánh chiều tà

    Chim trời xoải cánh về chốn cũ

    Núi Bà hùng vĩ áng mây xa

    Hỏi ai vương vấn mộng bồi hồi?

    Đếm nhớ thương ơi sao đậm đà!

    Việt Hải

    Tây Ninh, quê tôi đó, nơi mà người dân làm lụng cần cù lại mang đặc tính hiền hòa để tôi mãi mãi nhung nhớ về Gò Dầu, về Tây Ninh và vui sướng được nhìn nhận như một người con của vùng đất quê tôi. Mỗi con người được sinh ra ở miền nào đó, dù phì nhiêu hay nghèo khổ, dù được thiên nhiên đãi ngộ hay không thì nó vẫn là quê hương. Nếu Việt Nam của tôi là một đất nước thiêng liêng luân lưu trong dòng huyết quản, đẹp đẽ về địa lý và văn hóa, thì Tây Ninh của tôi cũng trong sáng trong hai yếu tố đặc trưng đó: Chỉ vì Việt Nam và Tây Ninh đều là quê hương tôi, và tôi đã gắn bó bằng từng thớ thịt, bằng khối óc, bằng con tim hay bằng với cả hai yếu tố đặc trưng đã nêu từ tiềm thức xa xưa của thuở thiếu thời và của hoài niệm đã qua sẽ mãi mãi ngự trị trong tâm hồn tôi, cho nỗi niềm ấp ủ mang theo trong lòng người lưu lạc của quê hương đã thật sự xa xôi cách trở vì địa lý, để Tây Ninh quê tôi vĩnh viễn trong nỗi nhớ nhung hay trong niềm nhớ thương vô biên.

     VIỆT HẢI

    (Trích ĐS TÂY NINH QUÊ TÔI)

  • Tin tức

    PHỎNG VẤN NHẠC SĨ CHÂU ĐÌNH AN VÀ CA KHÚC SÁNG TÁC TRONG MÙA ĐẠI DỊCH, TRI ÂN SỰ HY SINH CỐNG HIẾN CỦA NHỮNG NGƯỜI PHỤC VỤ Ở TUYẾN ĐẦU – HẠ VÂN

    Hạ Vân:  Kính thưa quý vị thính giả, quý vị vừa thưởng thức nhạc phẩm mới nhất được phát hành bởi Trung Tâm Asia, đó là nhạc phẩm Triệu Lời Tri Ân – một sáng tác của nhạc sĩ Châu Đình An, qua giọng hát của Melanie Nga My.

    Thưa quý vị, như Hạ Vân đã thông báo đến quý vị, Hạ Vân sẽ có phần phỏng vấn với nhạc sĩ Châu Đình An. Và hiện diện ở đường dây bên kia là nhạc sĩ Châu Đình An. Kính mời nhạc sĩ gửi lời chào đến quý thính giả của đài.

    Châu Đình An: Trước hết xin được chào chị Hạ Vân, và hai nữa là chào quý thính giả của Radio miền Bắc Cali.

    Hạ Vân: Kính chào nhạc sĩ. Thưa nhạc sĩ, Hạ Vân được biết là Trung Tâm Asia Entertainment phổ biến nhạc phẩm này qua YouTube và cũng được rất nhiều lượt quý vị gọi vào để tham gia thưởng thức nhạc phẩm này. Còn những nhạc sĩ hoặc những trung tâm khác tại Hoa Kỳ và Việt Nam cũng cùng đồng hành với nhạc sĩ Châu Đình An. Thưa nhạc sĩ, cơ duyên nào đưa tới để nhạc sĩ sáng tác bài “Triệu Lời Tri Ân” này?

     Châu Đình An: Trước khi trả lời vào chi tiết, tôi xin được trả lời câu hỏi mà chị nói là ca khúc của mình được Trung Tâm Asia phổ biến qua YouTube, thì như chúng ta cũng biết YouTube là một dạng như TV Channel rất là phổ thông ứng dụng nhất hiện nay. Và bất cứ một người nghệ sĩ nào cũng rất là vui khi được một trung tâm uy tín như Trung Tâm Asia phổ biến tác phẩm của mình đi khắp nơi, để có cơ hội được nhiều người biết đến sáng tác của mình. Tôi rất cảm ơn Trung Tâm Asia đã chuyển tải những ca khúc của chúng tôi đến với những người nghe nhạc, đặc biệt là cộng đồng Việt Nam trong thời buổi đại dịch Coronavirus hiện nay. Còn việc các nhạc sĩ trung tâm khác cùng đồng hành thì tôi thấy rất đáng hoan nghênh và khích lệ, vì đó là những người nghệ sĩ lúc nào cũng thể hiện thái độ sống với thời cuộc đối với cộng đồng chúng ta, nhất là trong thời gian khốn khó của trận đại dịch này.

    Hạ Vân: Vâng, cái cảm giác khi thực hiện nhạc phẩm này thì nhạc sĩ Châu Đình An có thể thấy một điều gì, nghe một bản tin gì, hay như thế nào để mà sáng tác một nhạc phẩm nghe quá cảm động thưa nhạc sĩ?

     Châu Đình An: Vâng, cảm ơn chị. Người nghệ sĩ cũng giống như một cái máy ảnh, khi thấy được một cái gì đó thì mình phải chụp lại, ghi lại. Trong cảm xúc thì có lúc tôi theo dõi thời sự thì thấy hình ảnh trên Tivi chiếu một người mẹ, khi cô làm việc ở bệnh viện xong về thì đứng ở ngoài hiên nhà, qua cửa kính để chỉ nhìn đứa con thôi. Hoặc một vị bác sĩ về thăm con thì chỉ đưa tay qua kính cửa sổ để chạm vào bàn tay con bên trong, rồi sau đó họ quay lại nhiệm sở của mình. Chính những điều đó làm cho tôi cảm thấy rằng trong cuộc sống mối tương quan giữa con người, có những người họ hy sinh chấp nhận. Hơn ai hết cho người y sĩ với lời thề thì họ cũng phải dâng hiến cuộc sống của họ khi có sự hiểm nguy. Đó là nói về phần nghề nghiệp, nhưng trên hết là trái tim đồng loại, và trong hoàn cảnh như thế đã gây cho tôi một sự xúc động mãnh liệt, và tôi cũng cầm bút ghi lại những cảm xúc của mình và chỉ biết thốt lên những điều cảm ơn và tri ân vì đây là dịp để chúng ta thể hiện tình cảm của chúng ta đối với những người đã sẵn sàng hy sinh thì giờ, tài năng và mạng sống của mình trong hoàn cảnh khốn khó như thế này. Đó là lý do tôi viết lên ca khúc “Triệu Lời Tri Ân”.

    Hạ Vân: Khi nhạc phẩm này được phổ biến ra ngoài như vậy thì được sự hưởng ứng rất nhiều của những người nghe nhạc phẩm này. Trên 300 lượt shares, yêu mến… Bên cạnh đó cũng có nhiều đài truyền hình, đài phát thanh, những tờ báo, Radio, kênh YouTube chẳng hạn, thì có thêm sự tiếp tay nào với nhạc sĩ Châu Đình An không?

     Châu Đình An: Thưa chị và thưa quý vị khán thính giả, nhân đây tôi xin được cám ơn Người Việt Tây Bắc giúp thực hiện phổ biến bài hát Triệu Lời Tri Ân, và họ cũng đã đưa cho chúng tôi bản nháp của cô ca sĩ Melanie Nga My khi cô hát thử. Khi chúng tôi nhận được như vậy thì cũng làm như thế nào cho Trung Tâm Asia nhanh chóng đóng góp… Chúng tôi mong muốn dùng bài hát này để đưa đến khán thính giả và cộng đồng trong tình huống đại dịch hiện nay. Sự đóng góp của ca sĩ Nga My thì tôi thấy là ngay bản thân tôi là người viết ca khúc này nhưng tôi cũng phải kềm lại một đôi lần chứ không thì rơi lệ, vì cô hát với một sự chân thành và cảm xúc, hơn nữa mình biết cô cũng là một người y sĩ và đang ở tuyến đầu để giúp đỡ người khác, và đối phó với những nguy hiểm mà cô đã sống qua và thời gian cô đồng hành với những người đau bệnh như vậy để có một cái cảm xúc hát lên ca khúc này. Có thể nói là với sự khích lệ và yểm trợ của nhà báo Phạm Kim cũng như tiếng hát của ca sĩ Melanie Nga My trong ca khúc “Triệu Lời Tri Ân” thì làm cho tôi cảm thấy rằng như là một cơ duyên để tự dưng mọi người chung góp một bàn tay với nhau tạo nên một ca khúc để gửi đến tất cả quý vị khán giả và trong cộng đồng VN của chúng ta. Bên cạnh đó thì ca khúc này không những tại Hoa Kỳ mà khắp nơi trên thế giới, ngay cả tại Việt Nam của chúng ta có những trang website, ví dụ như trang của Hội Nữ Tu Mến Thánh Giá ở Gò Vấp họ cũng đã lấy video này để bỏ lên trang đầu tiên của nhà dòng để phổ biến. Họ nghĩ rằng ca khúc có một điều gì đó mang lại sự an ủi, xoa dịu nhất là trong hoàn cảnh khốn khó này. Thưa chị Hạ Vân và quý vị khán giả, điều đó cũng chính là điều làm cho tôi mang nhiều cảm xúc và cho rằng đây là một cơ duyên, khi mà chúng ta không tìm đến nhau thì tự dưng có cơ hội đến với nhau vào tạo lên, cũng như hôm nay được MC Hạ Vân mời đến nói chuyện trên làn sóng của Radio Việt Nam Bắc Cali, tôi thấy là mình không dự định trước cơ hội được như vậy.

    Hạ Vân: Vâng, phải nói là một mối duyên với nhạc sĩ, như nhạc sĩ Châu Đình An rất nổi tiếng với bài nhạc mà Hạ Vân phải nói đó là những bài nhạc rất là tha thiết, ví dụ như bài “Đêm Chôn Dầu Vượt Biển” Trong số gần 200 ca khúc vẫn liên tục sáng tác… và còn cống hiến nhiều cho các Trung Tâm, làm MC cho Trung Tâm Asia nữa phải không thưa nhạc sĩ? Và qua sự phối hợp của Trung Tâm Asia cùng tiếng hát của Melanie Nga My thì phải nói là một sự kết hợp rất tuyệt vời. Tiếng hát của Melanie Nga My trong nhạc phẩm này như là cái duyên, là bài hát này là của cô. Qua giọng hát của cô đã làm bao nhiêu con tim rung động khi mà mọi người thưởng thức nhạc phẩm này phải không nhạc sĩ Châu Đình An?

     Châu Đình An: Dạ vâng, tôi cũng đồng ý với nhận xét của chị Hạ Vân là như vậy. Tôi nghĩ rằng với tiếng hát chân phương mộc mạc và lúc ấy như mình vừa bảo như là “người trong cuộc, người thật việc thật”. Khi cô hát như là kể chuyện, ca khúc này như là một sự kể lể về một câu chuyện trong âm nhạc, cô là người nói hộ cho người sáng tác và khi cô kể một cách chân thành thì nó giống như khi chúng ta ăn cao lương mỹ vị nhiều quá, đến một lúc nào đó ăn cơm với dưa cà muối thì chúng ta cảm thấy rất là ngon. Ca khúc này cũng chân phương mộc mạc như thế, chỉ một tiếng hát và một cây ghi ta. Thì với một người sáng tác như chúng tôi thì tôi nghĩ rằng tiếng hát của Melanie NgaMy như là một real voice thật sự mà không cần sử dụng đến âm thanh effect hay là những phối khí hòa âm, mà chỉ cần một cây ghi ta mộc mạc với tiếng hát chân phương đã gởi gắm đến chúng ta nhiều cảm xúc như chị vừa cho nhận xét đó là như vậy.

    Hạ Vân: Vâng, cảm ơn nhạc sĩ. Được biết là nhạc sĩ còn một bài nhạc với tinh thần tương tự như thế này nữa phải không nhạc sĩ Châu Đình An?

     Châu Đình An: Dạ vâng, trước khi bài “Triệu Lời Tri Ân” đưa ra thì tôi có viết bài “Thế Giới Một Niềm Đau” đó là bài nhạc đầu tiên trong chương trình tôi làm việc với trận đại dịch này, khi Thế Giới Một Niềm Đau đưa ra cũng được đón nhận rất là nhiều. Sau đó thì tôi làm tiếp bài Triệu Lời Tri Ân. Nguyên nhân làm bài Triệu Lời Tri Ân thì như đã kể với chị lúc nãy rồi. Thế Giới Một Niềm Đau cũng là một ca khúc nói về lẽ sống của con người, bởi vì là một người sáng tác tôi có một nhận định rằng – rồi đây đại dịch cũng sẽ qua đi, cái còn lại là chúng ta học được gì trong biến cố đau thương này, đó là chúng ta thấy thân phận con người có hôm nay, ngày mai mất, là một cái gì bụi tro lắm, nói về khía cạnh tâm linh thì chúng ta cũng sẽ phải thay đổi các lãnh vực về trần gian ví dụ như về chính trị, văn hóa, xã hội đời sống … tất nhiên mọi người cũng sẽ nhìn lại như thế nào để mà không có xảy ra một hoàn cảnh khó khan tương tự như hôm nay. Tuy nhiên về đời sống tâm linh thì tôi thấy mọi người sẽ có một cái nhìn lại, và những điều này xảy ra cũng rất là tốt. Trong Thế Giới Một Niềm Đau thì nó như một thông điệp nhắn gửi “tình yêu là lẽ sống, nếu chúng ta nguyện cầu thì sẽ thấy sự nhiệm mầu và chúng ta xin để thoát ra khỏi niềm đau này”. Đó là một thông điệp gửi đến, dựa vào câu chuyện của Thế Giới Một Niềm Đau, giống như một người yêu  nói với người yêu, một người chồng nói với người vợ, người vợ nói với người chồng, hoặc người bạn nói với người bạn “em ơi có nghe gì không” tả lên một cái hoang vắng tiêu điều chưa bao giờ thấy, và một cái điều rất lạ là tự dưng người lại tránh xa người, chính điều đó cũng là một thông điệp trong bài hát Thế Giới Một Niềm Đau. Được biết Trung Tâm Asia cũng sẽ phổ biến lên Asia Channel ca khúc này…

    Hạ Vân: Vâng, như vậy cũng vì cái “dịch virus” này mà chúng ta phải tạm cách ly trong một thời gian như vậy thì chúng ta mới nghĩ lại những ngày mà chúng ta tự nhiên đi gần bên nhau, nắm tay nhau và có những cử chỉ âu yếm như vậy, nhưng bây giờ chúng ta lại tạm thời không thực hiện được những điều đó thì bây giờ nghĩ lại chúng ta mới thấy thật quý những gì mà chúng ta đã có được trong quá khứ và chúng ta cũng nguyện rằng một thời gian nào đó trong tương lai chúng ta lại có được những tình cảm đó trở về thì chắc rất là nồng nàn phải không nhạc sĩ Châu Đình An?

     Châu Đình An: Dạ vâng, tôi cũng đồng ý với nhận xét của chị là như vậy, và có thể là qua cái này người ta sẽ gần nhau hơn.

    Hạ Vân: Dạ đúng vậy. Thưa nhạc sĩ, để hỏi lại vấn đề một chút … trong tương lai nhạc sĩ có những dự định gì, có hợp tác với trung tâm nào để tiếp tục phát hành những bài nhạc rất ý nghĩa và rất hay cho nền âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại này thưa nhạc sĩ?

     Châu Đình An: Thưa chị Hạ Vân, thật sự thì tôi không có ý định gì cả, bởi vì nếu khi mình có ý định làm gì đó thì tự dưng nó không đến. Lâu nay chúng tôi cũng vẫn tiếp tục sáng tác. Khi có một cơ duyên nào đó thì mình viết lên được ca khúc. Còn có khi hai ba bốn năm mình không làm được gì cả. Còn các trung tâm thì vẫn có mối quan hệ với Trung Tâm Asia, như trước đây cũng đã làm MC cho hai cuốn của Trung Tâm là 80 và 81. Còn những tác phẩm như Đêm Chôn Dầu Vượt Biển, Cay Đắng Bờ Môi, hoặc 40 Năm Rồi Sao … thì cũng đã được Trung Tâm Thúy Nga dàn dựng trong thời gian vừa qua. Nói chung là những ca khúc của mình làm như là một điều gì đó mình thể hiện cuộc sống của mình đối với cuộc đời xảy ra chung quanh mình. Do đó tôi không có một kế hoạch làm việc với trung tâm hay cái gì cả, khi nào viết được một ca khúc mới thì mình đưa ra, nếu trung tâm họ thấy rằng ca khúc này có thể được quý vị khán giả đón nhận thì họ sẽ dùng phương tiện của họ để phổ biến. Hiện nay tôi cũng mới tập tành làm một trang Châu Đình An YouTube Channel, lẽ ra tôi phải làm từ lâu mà tôi không để ý, và hầu như cũng không biết nhiều về ứng dụng của YouTube như thế nào. Nhưng có người bạn họ cũng nói như thế thì tôi cũng mới làm vài tuần nay thôi và đã đưa mười mấy bài hát của mình lên đó. Hy vọng qua làn sóng Radio Bắc Cali, quý vị khán thính giả có thể đón nhận Châu Đình An YouTube Channel. Ở trên đó mình có thể dùng phương tiện của YouTube để đưa bài hát của mình lên, hoặc để tâm sự với khán giả một cách trực tiếp. Điều đó cũng là một sự khích lệ, thôi thúc mình và mình cảm thấy những trò chuyện của mình đang có người nghe. Giả như mình gõ một cánh cửa thì cũng có người nghe để người ta mở cánh cửa đó, tôi nghĩ đơn giản là như vậy đó.

    Hạ Vân: Vâng, nhạc phẩm cũng trong tinh thần này là Thế Giới Một Niềm Đau, thì cũng với tiếng hát của nhạc sĩ Châu Đình An và với tiếng đàn ghi ta hay như thế nào ạ?

    Châu Đình An: Đầu tiên thì tôi cũng hát với ghi ta rồi đưa lên trang Facebook của mình, nhưng khi đưa lên chỉ trong một thời gian ngắn thì tôi thấy đến 50-60 ngàn lượt xem và họ vào viết comment rất là nhiều. Sau đó thì trên YouTube tôi thấy khoảng mười mấy người họ lấy ca khúc này họ tự làm lấy, thì mình thấy rằng ca khúc này đã đánh động họ và ngay cả những người ca sĩ bên Việt Nam họ lấy về họ hát và hát rất hay, vì họ là ca sĩ chuyên nghiệp có thể họ hát hay hơn mình. Riêng mình thì bản mộc đầu tiên mình hát với ghi ta cũng như một vài lời tâm sự mở đầu thì cũng được khán giả đón nhận rất nhiều. Cũng chính vì thế mà bây giờ tôi với ca sĩ Melanie NgaMy đang sửa soạn đưa ra bài Thế Giới Một Niềm Đau với hai tiếng hát nhạc sĩ Châu Đình An và ca sĩ Melanie Nga My, ở hai nơi khác nhau để cùng hát một ca khúc này. Sẽ làm như vậy và hy vọng là Trung Tâm Asia cũng sẽ dùng phương tiện của họ để phổ biến bài hát Thế Giới Một Niềm Đau với tiếng hát Châu Đình An và Nga My ở hai tiểu bang khác nhau.

    Hạ Vân: Hạ Vân kính lời cảm ơn đến nhạc sĩ Châu Đình An đã cho phần phỏng vấn ngày hôm nay rất xúc tích và cảm động để chúng ta nói về những cảm nghĩ, những sự đóng góp của chúng ta trong mùa đại dịch này bằng lời nhạc. Đó là những gì đẹp nhất mà chúng ta có thể thực hiện được để chia sẻ với nhau những niềm đau cũng như là những niềm hy vọng, những nỗi vui mừng khi mà có những bệnh nhân đã vượt qua được căn bệnh này. Kính gửi lời cảm ơn đến nhạc sĩ và kính chúc nhạc sĩ luôn luôn được nhiều sức khỏe và luôn có thêm mỗi ngày được những cảm hứng để có thể sáng tác thêm nhiều bài nhạc thật hay cho nền âm nhạc hải ngoại này. Mong rằng điều đó chúng ta sẽ được thực hiện và sẽ được phổ biến rất nhiệt thành của những quý vị yêu nhạc cũng như những trung tâm lớn. Sau khi chấm dứt phần phỏng vấn ở đây thì Hạ Vân cũng gởi đến quý thính giả nhạc phẩm Thế Giới Một Niềm Đau cũng do chính nhạc sĩ Châu Đình An trình bày qua tiếng đàn ghi ta của nhạc sĩ. Cảm ơn nhạc sĩ và kính chúc nhạc sĩ một đêm an lành.

     Châu Đình An: Vâng, nhân đây tôi cũng xin cảm ơn quý vị khán thính giả cũng như chị Hạ Vân đã cho tôi có cơ hội nói chuyện trên Radio Việt Nam Bắc Cali, và quý vị cũng đang nghe làn sóng này. Tôi có một điều trước khi chúng ta chấm dứt buổi trò chuyện hôm nay, và tôi cũng cảm thấy một niềm vui, đó là không chỉ riêng tôi sáng tác những ca khúc vừa kể mà còn những anh em nhạc sĩ khác, các trung tâm khác họ cũng có những chương trình ca nhạc cống hiến rất đáng kể và đã được phát động một cách rất đẹp. Điều này cũng thể hiện được là người nghệ sĩ khi đứng trước một thời cuộc chúng ta có một thái độ sống, chúng ta thể hiện một cuộc sống đó là chúng ta vui với niềm vui niềm vui của xã hội cộng đồng và chúng ta cũng buồn với những nỗi buồn của xã hội và cộng đồng. Đó chính là điều mà tôi cảm thấy rằng qua đại dịch này trong cái rủi có cái may, cánh cửa này đóng có cánh cửa khác sẽ mở ra. Một cái thất vọng sẽ có cái hy vọng, chúng ta không thể nào tuyệt vọng được. Chính đó là điều mang lại cho chúng ta một niềm tin, và khi có niềm tin như thế thì cuộc sống của chúng ta sẽ có nhiều ý nghĩa hơn. Đó là điều tôi cũng muốn chia sẻ cảm nghĩ của mình và cảm ơn quý khán thính giả đã lắng nghe chương trình hôm nay, cảm ơn chị Hạ Vân và mong sẽ có cơ hội trò chuyện trong một dịp khác.

    Hạ Vân: Dạ vâng, cảm ơn nhạc sĩ Châu Đình An.

  • Âm nhạc

    Triệu Lời Tri Ân – Melanie Nga My | Nhạc & Lời : Châu Đình An

    Millions Words of Gratitude – Triệu Lời Tri Ân

    bài ghi nhận Trần Việt Hải, Los Anggeles.

     

    Trong bối cảnh cả thế giới vất vả đối chọi với trận chiến COVID-19 ác liệt, bài viết này tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến những y sĩ, những điều dưỡng viên và các nhân viên phục vụ tại các cơ sở y tế khắp nơi đã và đang ngày đêm phục vụ bệnh nhân COVID-19. Cảm ơn vì những hy sinh to lớn, nhưng thầm lặng của các anh chị em, bạn bè và công dân trong xã hội góp tay chung sức để bảo vệ cộng đồng hay phục vũ xã hội ngay từ tuyến đầu của cuộc chiến.

    Chúng ta nghe tin truyền thông hay đọc tin tức báo chí cho biết về những hy sinh đến tử vong của các bác sĩ giới áo trắng trong trận chiến chống đại dịch chết người COVID-19 thật là vô cùng đau lòng. Tại Ý Đại Lợi trên 100 bác sĩ đã thiệt mạng vì COVID-19. Liên đoàn bác sĩ quốc gia FNOMCeO của Ý cho biết, chỉ tính tới ngày 9 tháng 4 này đã có hơn 100 bác sĩ tử vong do nhiễm virus SARS-CoV-2 gây ra dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp tính COVID-19 kể từ khi dịch bệnh bùng phát ở nước này hồi tháng 2. Chúng ta chưa nói đến những mất mát, những hy sinh của các thiên thần áo trắng ở Đại Hàn, Tây Ban Nha, Anh, Ba Tư, Hy Lạp, Đài Loan, Đức, Pháp, Canada,… và xứ Tàu Corona.

    Họ là những thiên thần thầm lặng. Có những bác sĩ phải hy sinh bản thân mình như đã nói trên để bảo vệ bệnh nhân được sống. Chính những thiên thần áo trắng đã vẽ nên những bức tranh xã hội cao quý và lạc quan cho mỗi bệnh nhân được điều trị trong những giờ phút đen tối nhất. Những vòng tay an toàn của các bác sĩ, các y tá, các nhân viên cứu thương (paramedic)… Tất cả các nhân sự y tế này chiến đấu quyết tâm đẩy lùi virus corona, phá bỏ gông cùm bệnh tật. Họ túc trực tại nhiệm sở ngày đêm bước vào cuộc chiến với dịch bệnh như bước vào những gian nguy, tận tâm cứu giúp bệnh nhân ra khỏi vũng lầy bệnh tật. Thật vậy, họ xứng đáng được ca ngượi như là những “hiệp sĩ” dũng cảm, sẵn sàng đương đầu với phút giây hiểm nghèo, Làm việc trong tinh thần cảnh giác cao độ. Tôi đọc tin về một hình ảnh của bác sĩ linh mục Phạm Hữu Tâm Houston tình nguyện bay sang New York tiếp ứng cùng toán bác sĩ Nguyễn Đăng Dũng tại địa phương New York. Tất cả thể hiện tinh thần đoàn kết chiến đấu chung mặt trật đẩy lùi nạn dịch lây lan do COVID-19 gây ra.

    Rồi tin buồn cho cộng đông Việt Nam khi một y sĩ trẻ khác tình nguyện ra tuyến trận, BS. Đào Huy Hào, cũng là giáo sư tại khoa y tế cộng đồng, đại học Sherbrooke ở Longueil, Quebec, đã chẳng may qua đời vì bị nhiễm COVID-19 trong lúc tìm cách ngăn chặn bệnh dịch lây lan cho các bệnh nhân. Ta xót xa vì có những thiên thần áo trắng giữ lời nguyền Hippocrates của ngành y, trong đó bao gồm những điều răn dạy về lương tri, lương tâm, trách nhiệm và thiên chức của người y sĩ. Sự tình nguyện vì thiên chức áo trắng đó cho ta nhớ lại như những hy sinh trong quá khứ của một Tom Dooley (1927-1961) trị bệnh cho người nghèo ở vùng cao tại Việt Nam vì tha nhân. Hay như bác sĩ Alexandre Yersin (1863 – 1943) trị bệnh sốt rét ngã nước hay các bệnh tật cho người dân Việt Nam. Đồng hành với ông còn có bác sĩ Albert Calmette (1863 – 1933) lập ra một phòng thí nghiệm, cơ sở y tế giúp người dân Việt. Những phụng sự cao quý vì thiên chức nghề thầy thuốc từ Thomas Dooley, Axandre Yersin và Albert Calmette tự nguyện hy sinh danh vọng, nếp sống thịnh vượng xa hoa nơi quê nhà để đến những nơi xa xôi, hiểm trở chỉ vì lời nguyền Hippocrates, chấp nhận đi xa gia đình từ những phần đất quê hưởng họ ở Mỹ châu hay Âu châu.

    Rồi tôi nhớ đến một hy sinh khác của vị y sĩ vì lý tưởng nhân ái đã bỏ mình tại tại cao nguyên Di Linh, Lâm Đồng. Linh Mục Augustino Nguyễn Viết Chung cũng là một bác sĩ, là người đã từng chăm sóc cho bệnh nhân phong cùi và bệnh nhân Aids tại trại phong Di-Linh, rồi cuối cùng ngài ngã bệnh giữa những bệnh nhân mà linh mục đã yêu thương phục vụ. Đã biết bao nhiêu nhà tu hành, bác sĩ, y tá đã dấn thân vào những hoàn cảnh như vậy, dù phải tới tận những nơi xa xôi như Phi Châu, Ấn Độ, Nam Mỹ,…. Con người chúng ta không có sức mạnh siêu nhiên, nhưng con người có lòng nhân ái. Trong trận chiến đấu chống dịch COVID-19 này đã có bao nhiêu lòng từ tâm dâng hiến cho đời sống này. Sự lạc quan và niềm tin hy vong chắc chắn con người sẽ chiến thắng nạn dịch Covid-19. Hình ảnh truyền thông chiếu tin người dân khắp thế giới tri ân giới bác sĩ y tá hay những giới tiếp ứng trong cuộc chiến đầy cam go này, trong cuộc chiến chống lại bệnh dịch Covid-19. Thật vậy, hãy nói lên Triệu Lời Tri Ân, hãy ca lên Triệu Lời Tri Ân,… để gửi đến những ân tình, cảm ơn những hy sinh cao cả chỉ vì tình người và lòng người.

    Xin cảm ơn những những Thiên Thần Áo Trắng, những Lương Y như Từ Mẫu, hay những Hiệp sĩ của Tình Thương, những Thừa Sai Thiên Sứ Nhân Từ từ trên Trời cao gửi xuống thế gian này để cứu độ chúng sinh, để nhân loại sớm ra khỏi ách tai ương dich bệnh đang hoành hành hiện nay.

    Để kết thúc bài tôi xin mượn bài ca với nội dung thích hợp cho bài viết, một bài hát mang đầy ý nghĩa nhân ái và ân tình của nhạc sĩ Châu Đình An qua tiếng ca của một ca sĩ kiêm y sĩ, xin được intro Thiên Thần Áo Trắng

    Melanie Nga My Trần sau đây:

    Millions Words of Gratitude – Triệu Lời Tri Ân – Melanie Nga My | Nhạc & Lời : Châu Đình An:

    https://m.youtube.com/watch?fbclid=IwAR1-UVrgZhryFTCUjZgltTWBA2MUH-BVmelx4WYXg6XKvKC_XnMhMTK4_-8&v=vb_VlOFtywI&feature=share

    (recorded by Asia Entertainment – Officially authorized)

    Bác sĩ Melanie Nga My Trần hiện phục vụ tại Cleveland Clinic and Community Care Hospital.

    https://www.facebook.com/watch/?v=2826170684102676

    ——————————————————————————–

    Triệu Lời Tri Ân – Melanie Nga My | Nhạc & Lời : Châu Đình An

    TRIỆU LỜI TRI ÂN

    Nhạc và lời Châu Đình An ( Kính tặng những vị Tu sĩ, Bác sĩ, Y sĩ, Chiến sĩ, Cảnh sát, cứu hoả và những anh hùng phục vụ cho nhân loại, cho chúng ta, họ đã hy sinh mạng sống để cứu giúp Thế Giới, chống cơn đại dịch CoronaVirus hôm nay)

    Tôi đã thấy người mẹ hiền trong đêm tối, đời buồn phiền, bước chân lẻ loi.

    Đứng bên hiên nhà, ánh mắt thương yêu nhìn con.

    Rồi lặng lẽ mẹ về lại nơi nguy khốn vì đại dịch, cứu bao bệnh nhân, khó khăn hiểm nghèo, vẫn cứ hy sinh.

    Mẹ là ai? Người mẹ đó . . . Người Y tá

    Người Bác sĩ

    Đã xông pha quên thân mình, cứu giúp tha nhân, cứu giúp tha nhân

    Nếu có chết cũng xin vâng!

    Tôi đã thấy nhiều bệnh viện, trong nước mắt lời nguyện cầu, chứa chat lệ rơi.

    Xác thân em năm.

    Vỡ nát con tim của anh!

    Tôi đã thấy cả địa cầu, trong ánh nến lời thì thầm, ngước lên. Trời cao Bước chân bên thềm, bóng tối mưa sa tựa lệ rơi!

    Người Cảnh sát

    Người Chiến sĩ

    Người chữa cháy

    Đã xông pha quên thân mình, cứu giúp tha nhân, cứu giúp tha nhân.

    Nếu có chết cũng xin vâng!

    Chorus:

    Cho nhân loại một lời, xin cám ơn với tấm lòng vô vàn

    Cho tôi được ngàn lời, xin cám ơn người Y Sĩ.

    Người Tu Sĩ Đã giúp thế gian trong hiếm nguy

    Cứu chúng tôi trong bệnh đau

    Vì thần chết đang cuồng nộ! Bao tấm lòng nhân ái từ bi

    Ôi tâm hồn cao quý đẹp thay Mang trong tim bao tình yêu đất trời.

    Coda:

    Cho tôi xin cám ơn

    Cho em xin cám ơn

    Cho chúng tôi cám ơn

    Và cả thế giới

    Millions Words of Gratitude

    Music and lyrics by Chau Dinh An

    (To: Priest, Doctors, Healthcare services , Soldiers, Police, Firefighters and heroes who serve humanity, for us. They sacrificed their lives to save the World, fight the pandemic CoronaVirus today)

    I saw the gentle mother in the dark night,

    sad life, lonely footsteps

    Standing on the porch, loving eyes looking at her children.

    Then she quietly returned to the place where the pandemic was in danger,

    save many patients, difficult difficulties, still make sacrifices. Who is she?

    That mother …

    The nurse

    The Doctor

    He stormed his selflessness, saved others,

    help others.

    If there is also die and accepted

    I have seen every hospital, in tears of prayer, filled with tears.

    My darling body lies. Broken my heart!

    I have seen the whole planet, in the candlelight whisper,

    looking up to Heaven

    Footsteps on the steps, dark rain like falling tears!

    Police

    Soldier

    Firefighters

    He stormed his selflessness, saved others,

    help others.

    Before death is gone

    Give humanity a word, thank you with countless hearts

    Give me a thousand words, thank you to the Doctors, the Priest

    Helped the world in danger

    Save us in pain

    Because death is rampaging!

    Covering loving kindness

    Oh beautiful noble soul

    Love in the heart of love in God

    Give me thanks

    Thank you

    Thanks to us

    And the whole world

    A thousand words of gratitude … THANK YOU …Thank you…

    Thank you

    Chau Dinh An composed in April 2, 2020

    ——————————————————————————-

    CÁCH LY … THÁNG TƯ – NỖI NIỀM (CHÂU ĐÌNH AN)

    by NVTB Staffer

    Chưa bao giờ nước Mỹ và cả thế giới đang trong hoàn cảnh lo âu, buồn bã như thế này. Một cơn đại dịch còn tàn phá hơn bom nguyên tử. Nhà nhà, người người… hầu như mọi lĩnh vực của xã hội sinh hoạt ngưng đọng. Còn gì buồn hơn thế nữa?

    Lệnh “cấm cung” ban hành hầu hết trên các tiểu bang tránh sự lây nhiễm đang lan rộng và làm thiệt mạng nhiều người. Đi ra khỏi nhà là sợ. Oái ăm là… sợ gặp người, sợ cái con vi trùng Vũ Hán tàng hình đâu đó rình rập. Chưa bao giờ người lại tránh xa người như lúc này…

    Nhưng, cánh cửa này đóng, lại có cánh cửa khác mở ra. Bế tắc sẽ có lối thoát. Trong rủi lại có may mắn. Đó là chân lý mà trong những giây phút này chúng ta có dịp nhìn lại mình, suy gẫm và nhận ra là…

    “Nằm với đất, thấy ta xa trời

    Đùa với sóng thấy biển mênh mông

    Gần với nắng thấy ta khô cằn

    Gần im vắng thấy ta là ai?”

    Đó là những câu viết trong ca khúc Châu Đình An có tựa một chữ GẦN

    Vâng, xin được chia sẻ đôi chút về nỗi niềm trong thời buổi cách ly này, để thấy con người chúng ta là một thân phận hữu hạn.

    Thân phận con người, sống trong hữu hạn. Như làn ranh vẽ sẵn, như dấu mốc phân định, như biên giới cách ngăn. Giữa sự sống và cái chết. Giữa bóng tối và ánh sáng. Giữa vực thẳm, núi cao…

    Cuộc đời vô hạn, cùng tận. Tình yêu vô hạn, mãi mãi. Giữa hữu hạn và vô hạn. Giữa cùng tận và giới hạn, đã cho ta nỗi bâng khuâng, biết bao dấu hỏi mở ra không có câu trả lời, không có một đáp số.

    Thân phận con người là hạt bụi, và đắng cay biết bao khi ta về lại với cát bụi. Tôi nhận ra hữu hạn và vô hạn trong những đoạn đường của cuộc đời mình đã đi qua. Mơ ước… tôi viết ca khúc, như tiếng thở dài thầm lặng thổn thức với đất nước Việt Nam và con người mình.

    Thế giới một niềm đau. Triệu lời tri ân. Chuyến bay nào đưa em là những ca khúc đã ra đời trong suy tưởng này. Nó như sông, như biển, như sóng cuốn bờ xa lênh đênh trôi dạt về miền quá khứ. Quá khứ với con nước khô cạn… khi hiện tại chúng ta đang đối mặt với cơn hôn mê thời đại, cơn hôn mê của đại dịch cách ly này.

    Bóng tối sẽ qua đi. Ánh sáng trở lại. Chúng ta biết, rồi nay mai cuộc sống trở lại bình thường. Nhưng sẽ làm thay đổi nhiều thứ, và bài học lớn nhất đó là suy nghĩ chúng ta sẽ thay đổi về cuộc sống này. Chúng ta sẽ biết nghĩa của yêu thương và tha thứ. Chúng ta sẽ hiểu sao trời, ánh nắng, tinh tú xoay vần do đâu mà có.

    Cảm ơn đất trời bao dung, thứ tha!

    Nhờ đó, chúng ta sẽ có những khoảnh khắc bước ra khỏi làn ranh hữu hạn, để níu tay với vô hạn. Trong cõi âm dương. Trong cõi nắng mưa… và trong cõi đời tuyệt diệu này.

    “Em ơi, em có nghe gì không?

    Tình yêu là lẽ sống

    Mình cùng nhau nguyện cầu

    Rồi sẽ thấy nhiệm mầu

    Xin ơn Trời tha thứ

    Xin ơn Trời ban xuống

    Thoát ra khỏi niềm đau”

    CHÂU ĐÌNH AN

     

  • Tin tức

    Sinh hoạt văn học miền Nam trước 1975

    Nhân thời điểm 30 tháng Tư, nhà báo Đinh Quang Anh Thái ghi lại các buổi trò chuyện ông đã thực hiện với một số nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ hiện đang sống tại Việt Nam hay đã ra hải ngoại, để biết ký ức và cảm nhận của họ về cái ngày “làm cho triệu người vui và triệu người buồn” này.

    VOA

    VÕ ĐẮC DANH là người cầm bút đã thành danh ở Việt Nam sau 1975. Anh viết nhiều, các tác phẩm tiêu biểu cho ngòi bút sắc bén của Danh là Nỗi Niềm U Minh Hạ, Đồng Cỏ Chát, Thế Giới Người Điên, Canh Bạc, Đồi Chợ Chợ Đời…

    Võ Đắc Danh tại căn nhà ở Nam California Tháng Giêng 2020. (Hình: Đinh Quang Anh Thái)
    Võ Đắc Danh tại căn nhà ở Nam California Tháng Giêng 2020. (Hình: Đinh Quang Anh Thái)

    Danh sinh ra trong một gia đình “rặt cộng sản.” Nói theo cách của nhà văn Lê Phú Khải trong cuốn Lời Ai Điếu “những lần họp mặt gia đình ngày giỗ tết, trừ cái cột nhà, ai cũng là đảng viên cộng sản.”

    Vậy mà tối 30 Tháng Tư 2019, ngồi với nhau tại nhà tôi, Danh nâng chén rượu, giọng dưng dưng nói “anh em mình cùng mất nước; anh Thái mất miền Nam, còn tui, Việt Nam bây giờ không còn là Việt Nam của tui nữa.”

    Tôi bảo Danh, thực ra đất nước mình nào có mất, mà chỉ bị một tập đoàn cưỡng chiếm, cướp đoạt khát vọng của người dân muốn được sống đúng nhân phẩm.

    Lần đầu gặp Danh năm 2011, Danh dẫn theo con gái đang học bên Mỹ, anh bảo con “tía muốn con nghe câu chuyện của những người như bác Thái để hiểu tại sao đất nước mình thống nhất mà nhiều người phải bỏ nước ra đi như vậy.”

    Danh chào đời vào thời điểm chiến tranh ác liệt nhất; và lớn lên ở Cà Mau, trong vùng “giải phóng”, những phần đất mà Việt Nam Cộng Hòa gọi là vùng mất an ninh hoặc vùng Việt Cộng. Danh nói, phía Việt Cộng gọi vùng Quốc Gia là vùng Ngụy quân Ngụy quyền hoặc là vùng “tạm chiếm.”

    Tháng Giêng 2020, từ Xẻo Lá gần Sài Gòn, vợ chồng Danh chạy ngược chạy xuôi lo mua vé máy bay để sang Mỹ ‘trốn dịch Covid 19” đang có nguy cơ bùng phát ở Việt Nam và để đoàn tụ với 2 con gái đã định cư tại Nam California từ nhiều năm qua.

    Đến thăm Danh, vợ Danh nấu cho ăn mấy món thuần quê Nam Bộ: Cá kèo kho tiêu, canh bầu, thịt luộc chấm mắm ớt. Câu chuyện miên man dẫn đến đề tài sinh hoạt văn hóa của miền Nam trước 1975, Danh nói, ba Danh và cả dòng họ đều đi theo kháng chiến. Ba của Danh hồi ấy là xã ủy viên, trưởng ban binh vận xã nên nhà Danh thường là điểm hội họp của cơ quan ba Danh và có khi cũng là điểm họp của xã ủy. “Vì thế mà những câu nói mang tính ‘thời sự’ của mấy chú, mấy bác sớm gieo vào trí nhớ tôi đến mức thuộc lòng. Những buổi tối, tôi hay bày ra một trò chơi, lấy gối chất thành một vòng tròn trên giường giả làm các ‘nhân sự’ trong cuộc họp, và tôi đóng vai người lãnh đạo, phát biểu với các ‘đồng chí’ trong chi bộ.”

    Giọng “rặt” Nam Bộ, Danh hồi tưởng nguyên văn lời đã từng phát biểu trong trò chơi thời thơ ấu: “Thưa các đồng chí, vùng nông thôn giải phóng của chúng ta tuy còn nhiều khó khăn, tuy còn phải chịu mất mát đau thương bởi bom đạn của quân thù, nhưng chúng ta không khổ bằng hàng triệu đồng bào ta ở các đô thị miền nam đang chịu đựng sự kềm kẹp của đế quốc Mỹ, từng ngày, từng giờ họ đang chờ chúng ta về giải phóng . . .”

    Tuổi thơ của Danh gắn liền với hình ảnh các “chú Việt Cộng” đêm đêm đem súng về làng. Sau đó, vì chiến tranh ngày càng leo thang, mẹ Danh gởi Danh về quê ngoại để đi học trường tiểu học cộng đồng ở một vùng “tạm chiếm”. Danh nói, gọi là vùng tạm chiếm nhưng chỉ cách tỉnh lỵ An Xuyên chưa đến mười cây số. Một vùng ven trù phú và rất bình yên. Thỉnh thoảng có mấy anh mặc đồ đen từ ngoài chợ chạy xe đạp vô dạy đám trẻ cùng tuổi với Danh múa hát, và gọi là đoàn thiếu nhi nông thôn. Sau mỗi buổi sinh hoạt, ông xã trưởng mặc quân phục tới phát cho đám mỗi đứa một ổ bánh mì, ông luôn dặn dò các em phải cố gắng học giỏi, phải biết vâng lời ông bà cha mẹ, phải biết lễ phép với người lớn tuổi, phải biết ôn hòa với bè bạn và em út trong gia đình. Có khi ông đến sớm và cùng vỗ tay và hát với đám Danh:

    Em là đoàn thiếu nhi nông thôn
    Cùng vui sống bên bờ tre ruộng đồng
    Em là đoàn thiếu nhi nông thôn
    Biết mến yêu quê mình
    Em áo rách nhưng lòng không rách
    Em biết yêu cha mẹ khó nhọc
    Đổ mồ hôi cho nhà em no ấm
    Đổ mồ hôi cho đồng thêm lúa xanh

    Danh nói, hàng năm, khi bãi trường thì Danh lại khăn gói về quê, tạm biệt ngôi trường, tạm biệt “vùng tạm chiếm” để về với gia đình ở “vùng giải phóng”.

    Danh kể “Những chiều êm tiếng súng giao tranh, các anh bộ đội thường ra xóm vui chơi với bà con, tối tối, các anh thường gọi mấy đưa trẻ chúng tôi lại quây quần dạy múa hát:

    Qua miền Tân Đức cây là dừa xanh mát
    Bóng tre vườn cau đã chứa bao hờn căm
    Bộ đội ta về đây giải phóng quê nhà
    Quân với dân một lòng
    Cùng đồng tâm tiêu diệt hết quân thù

    Sau ba tháng hè, ngày tựu trường lại đến, tôi lại trở về ‘vùng tạm chiếm’, lại hát:

    Em là đoàn thiếu nhi nông thôn
    Em biết yêu cha mẹ khó nhọc . . .

    Và cứ thế, tuổi thơ tôi cứ trôi theo dòng chảy của cuộc đời như đám lục bình trôi theo dòng nước, không thể lựa chọn bến bờ.

    Thế rồi cái dòng chảy ấy dừng lại thành cái mốc lịch sử 30 Tháng Tư như cái định mệnh cho ” triệu người vui và triệu người buồn.”

    Danh uống nhiều, và trong vài ba lần gặp nhau, lúc ngà ngà hơi men, có khi Danh còn hát vọng cổ cho tôi nghe. Chất giọng mạnh, sang sảng, Danh hát bài “Ghe Chiếu Cà Mau” hay tuyệt.

    Hỏi Danh về kỷ niệm nào đáng nhớ nhất trong ngày 30 tháng Tư năm 75, Danh nói, lúc hơn 10 giờ trưa, “tôi ôm chiếc radio, mở hết volume chạy trong mưa, chạy dài theo xóm, vừa chạy vừa la: Dương Văn Minh đầu hàng rồi bà con ơi ! Giải phóng rồi bà con ơi! Nhưng rồi sau đó không lâu, bỗng một ngày, mấy đứa bạn học cùng trường cùng lớp với tôi mặt mày biến sắc, có đứa khóc ròng vì một sự cố xảy ra: Đánh tư sản! Đang giàu có bỗng trở thành kẻ trắng tay, đang nhà cao cửa rộng bỗng trở thành kẻ vô gia cư. Đứa thì theo cha mẹ vô sân chùa căng lều che mưa che nắng, đứa về quê tá túc với họ hàng, đứa vượt biên, đứa bỏ thây ngoài biển.

    Tôi rùng mình nhớ lại trò chơi tuổi thơ, giả làm lãnh đạo phát biểu hùng hồn với mấy chiếc gối quanh giường: . . . Thưa các đồng chí, vùng nông thôn giải phóng của chúng ta tuy còn nhiều khó khăn, tuy còn phải chịu mất mát đau thương bởi bom đạn của quân thù, nhưng chúng ta không khổ bằng hàng triệu đồng bào ta ở các đô thị miền nam đang chịu đựng sự kềm kẹp của đế quốc Mỹ, từng ngày, từng giờ họ đang chờ chúng ta về giải phóng . . .”

    ***

    TUẤN KHANH từng tốt nghiệp Nhạc Viện ở Sài Gòn bộ môn flute và sáng tác nhạc từ năm 17 tuổi. Nhiều năm gần đây, anh là Facebooker nổi tiếng với rất nhiều bài viết nêu lên những thảm trạng của đất nước và con người Việt Nam, và vạch trần những dối trá của chế độ. Có lần, nhà báo Huy Đức, tác giả cuốn Bên Thắng Cuộc, nói với tôi, Khanh viết hay đến độ, nhiều người trong giới cầm bút ở Sài Gòn nói với nhau, sáng sáng thức dậy mong đọc bài của Khanh.

    Tuấn Khanh (hình Uyên Nguyên)
    Tuấn Khanh (hình Uyên Nguyên)

    Mỗi lần Khanh từ Việt Nam sang Mỹ thăm gia đình, chúng tôi thường tìm đến nhau để hỏi han tin tức “quê nhà quê người.” Những đêm trò chuyện, nghe Khanh nói, tôi có cảm tưởng lửa đang hừng hực cháy trong lòng Khanh khi Khanh bày tỏ nỗi phẫn uất về những chuyện xảy ra cho người dân trong nước.

    Năm nay, dịch Covid 19 đang tàn phá nhiều quốc gia, không thấy Khanh sang chơi. Tôi email về Sài Gòn hỏi Khanh, rằng trong mắt Khanh, sinh hoạt văn học miền Nam ra sao, Khanh email trả lời:

    Mùa hè năm 2000, trong một lần trò chuyện với một biên tập viên văn học có tên tuổi từ miền Bắc vào, tôi có nhắc đến việc sắp kỷ niệm 3 năm mất của Bùi Giáng, một thi sĩ lừng danh của miền Nam.

    Đó là lần trò chuyện tổn thương đến mức, tôi không sao quên được. Người biên tập viên đầy ắp các tác phẩm văn học cổ điển của Pháp, Đức và Nga đã cười nhẹ, như chừng thương hại tôi ‘Nói thật, Bùi Giáng có gì đâu mà xuất sắc. Chỉ là người miền Nam mấy anh cứ nống lên.’ Tôi sững người, vì chưa bao giờ trong đời đối mặt với một sự phủ nhận tàn khốc đến vậy. Sự phủ nhận cứ như xô tôi – một người miền Nam hoàn toàn trung dung – vào bờ biển như một người bị đắm tàu, trôi dạt và kiệt sức. Để thuyết phục tôi về sự vĩ đại của nền văn học miền Bắc, người biên tập viên ấy kể không ngớt về Nguyễn Khải, Nguyễn Tuân, Xuân Quỳnh, Viễn Phương… tôi im lặng nghe, nhưng trong đầu cứ quay cuồng với suy nghĩ về cái hố sâu thẳm chia rẽ nhận thức của người Việt với người Việt đến vậy. Nhưng tôi quyết định không thuyết phục người đối diện. Bởi, văn hóa hay tri thức, là điều phải tự đến, không phải bằng thắng ở một cuộc tranh cãi.

    Gần 10 năm sau, tôi gặp lại người biên tập viên ấy, ở đường sách Sài Gòn đối diện Vương Cung Thánh Đường, nơi các nhà sách đương thời xếp hàng nhau trưng bày các ấn phẩm mới. Nhưng nơi đó, đặc biệt có những quầy sách cũ của miền Nam Việt Nam trước 1975, lúc nào cũng có người cắm cúi tìm, lật, đọc. Người biên tập viên ấy cười, chào và nói anh đang tìm mua một số sách cũ. ‘Ở đây thì đắt nhưng còn chịu được, chứ bọn con buôn vác ra Hà Nội thì đắt gấp mấy lần.’ Trong những chồng sách cũ ấy, có đủ các tác giả được nhà nước cho phép lẫn không vui khi thấy tên. Tôi kéo ra cuốn Hoàng Tử Bé của nhà văn Pháp Antoine De Saint-Exupéry do Bùi Giáng dịch, và nói rằng bao nhiêu năm đọc lại vẫn thú vị. ‘Vâng, Bùi Giáng thì siêu rồi,’ người biên tập viên ấy nói, hào hứng.

    Tôi không nhắc lại câu chuyện mà tôi như bị rạch trong tim từ 10 năm trước. Như vậy chắc là đủ. Nhận thức là thời gian, và sự khác biệt của văn học miền Nam là thấm sâu và chiếm trọn trái tim, không cần một sự thuyết phục nào. Văn hóa miền Nam bị giằng xé rách rưới, đứng giữ đống bùn lầy, vẫn mỉm cười kiêu hãnh, bất chấp đạo quân chiến thắng năm 1975 đã trút mọi căm thù lên bằng cách đốt, cấm, bắt cả những người viết sách đi tù.

    Tôi được nghe rằng sau năm 1990, có một chỉ đạo từ Hà Nội, rằng những gì mà miền Nam đã có, nguồn lực của chế độ mới có thể thay thế, thì phải ra sức thay, để nhấn chìm văn hóa miền Nam vào quên lãng. Chẳng hạn như sách dịch: cuốn Hoàng Tử Bé, bản gốc Le Petit Prince của nhà văn Pháp Antoine De Saint-Exupéry do Bùi Giáng dịch được thay bằng bản mới là Hoàng Tử Nhỏ. Bố Già, nguyên tác The Godfather của Mario Puzo, bản dịch của Ngọc Thứ Lang, thì được thay bằng bản mới là Ông Trùm. Đỉnh Gió Hú, nguyên bản của Emily Bronté do Nhất Linh chuyển sang Việt ngữ thì thay bằng Đồi Gió Hú…

    Rõ ràng, có một chủ trương muốn thay thế và cào bằng đối với văn học miền Nam, nhưng có vẻ như sức sống của một giai đoạn văn chương và tri thức của hai nền Cộng Hòa vẫn đứng vững. Những ấn bản được nhặt lên từ bùn lầy, bị xô giật rách rưới, vẫn tỏa sáng kỳ lạ đến tận hôm nay.

    Chuyện kể, để thay sự diễn giải khô cằn. Và thú vị thay, tôi còn nhìn thấy những người bạn trẻ quanh mình, từ phía Bắc, lớn lên và được tắm mát từ những gì đã bị phế bỏ ấy.

    ***

    THÚY HÀ, từng có thời làm thư ký tòa soạn báo Phụ Nữ của đảng. Sau đó Thúy Hà lấy chồng là con một ông sĩ quan “ngụy” cao cấp, cùng chồng sang Mỹ định cư. Hà viết nhiều, và đã viết một số bài về văn học Miền Nam, đặc biệt là về thơ Cao Tần (Lê Tất Điều). Có lần nói chuyện với Hà về thơ Cao Tần, cả hai chúng tôi đều rất tâm đắc bốn câu trong bài “Mai Mốt Anh Trở Về”:

    Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa
    Ông anh hùng ông cứu được quê hương
    Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo
    Lùa cả nước vào học tập yêu thương

    Thúy Hà (hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)
    Thúy Hà (hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)

    Tháng Tư 2020, cả thế giới chao đảo vì con virus Covid-19, không ai ra khỏi nhà, nên chỉ nói chuyện với nhau bằng phone, bằng email. Gọi cho Hà hỏi thăm sinh hoạt gia đình cô ra sao, rồi câu chuyện đẩy đưa đến đề tài văn học Miền Nam trước 1975 đối với lớp trẻ sinh ra và lớn lên sau thời điểm đó.

    Hai ngày sau, Thúy Hà gửi cho tôi những giòng sau đây:

    Covid chợt bùng lên, Chiều Trên Phá Tam Giang còn dai dẳng…

    Trong những tuần qua trên Facebook, tôi thấy một số bạn bè mình ở Sài Gòn, ở Hà Nội… đăng tải những tấm ảnh thành phố vắng người kèm theo lời hát “Chiều Trên Phá Tam Giang” như một sự liên tưởng thú vị và thi vị. “Giờ này thương xá sắp đóng cửa… Giờ này thành phố chợt bùng lên…”

    Thật lạ, khi một bài tình ca thời chiến lại in dấu trong tiềm thức những người Việt ở lứa tuổi thậm chí còn chưa hề trải qua chiến tranh, ở cả những người sinh ra và lớn lên bên kia chiến tuyến nơi bài hát xuất xứ- một bài hát từng bị cấm đoán tại Việt Nam sau 1975.

    “Thật lạ”- đó là cảm giác của tôi năm 18 tuổi lần đầu nghe bài hát này ở một quán cà phê Thủ Đức khi đang là sinh viên Văn khoa năm thứ hai (cuối thập niên 90). Lời tự sự yêu đương, khắc khoải, xao xuyến ấy tự nhiên đi vào lòng người nghe- một cô gái trẻ, là tôi. Lúc đó tôi không hề biết bài hát phổ thơ Tô Thuỳ Yên- trong giáo trình đại học khoa Ngữ văn không hề có tên ông và bóng dáng nền văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975. Khoảng trắng về học thuật đó cũng không hề gợi nên thắc mắc nào trong thế hệ sinh viên-cừu non chúng tôi thời bấy giờ.

    “Thật lạ” ở cấp độ cao hơn- “sửng sốt”- là cảm giác hơn 20 năm sau đó, khi tôi lần đầu đọc được nguyên bản bài thơ Chiều Trên Phá Tam Giang trên một trang mạng. Bài thơ nằm ngoài sự tưởng tượng của tôi về Chiều Trên Phá Tam Giang mà tôi chỉ biết lâu nay qua ca khúc.

    Bài thơ dài 155 câu, đầy đặn, truyền cảm và sống động như một cuộn phim màn ảnh rộng. Thơ của một người từng là trưởng phòng tâm lý chiến quân đội Việt Nam Cộng Hòa mà lại tự vấn hoang mang thế này ư? Giữa thời điểm 1972 khốc liệt mà người lính ấy lại độc thoại, trăn trở, suy tư về thân phận, về chiến tranh, về sống chết, về tuổi trẻ, về tình yêu và về sự thương xót đến như vậy ư? Nhất là cái tình con người thương xót con người- với kẻ thù bên kia chiến tuyến, khi cả hai đều không thoát khỏi bánh xe lịch sử và cùng phải đối mặt với tử thần.

    Điều gây ấn tượng mạnh với tôi về bài thơ ngoài nghệ thuật ngôn từ chính là cái chất Người lộng lẫy ấy. Con Người được bày tỏ tận cùng tâm trạng của mình trước thời cuộc mà không bị trói buộc bởi ý thức hệ, mưu toan chính trị hay chế độ kiểm duyệt nào. Tôi tìm đọc thơ Tô Thùy Yên cũng từ đó, và yêu thích thơ ông cũng từ đó, tuy trễ tràng nhưng vẫn kịp. Sau này tôi biết thêm: Chiều Trên Phá Tam Giang được coi là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của nền thi ca miền Nam giữa cuộc chiến.

    Những tuần qua, việc lock down, cách ly xã hội diễn ra gần như trên toàn cầu và nhu cầu bày tỏ tâm trạng của con người trước biến loạn thời cuộc bằng văn chương nghệ thuật lại trỗi dậy. Và không phải ngẫu nhiên những người bạn của tôi những ngày này bỗng nhắc lại bài thơ Chiều Trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên, và Trần Thiện Thanh phổ thành ca khúc, xem lại những bức tranh về sự khủng hoảng cô đơn của Edward Hopper…

    Nghệ thuật đích thực về con người sẽ trường tồn dai dẳng, mà Covid-19 chỉ là cơn dịch có nhiệm vụ nhắc nhớ chúng ta…

    ***

    TỐNG VĂN CÔNG từng có 56 năm là đảng viên Cộng Sản và từng là tổng biên tập báo Lao Động, một trong những cơ quan tuyên truyền “mũi nhọn” của chế độ. Ông bỏ đảng năm 2014 và xuất bản tại Mỹ cuốn hồi ký ‘Đến già mới chợt tỉnh – Từ theo cộng đến chống cộng’.

    Tống Văn Công (hình Uyên Nguyên)
    Tống Văn Công (hình Uyên Nguyên)

    Đến thăm ông vào một chiều cuối Tháng Năm 2016 khi vợ chồng ông vừa từ Việt Nam sang định cư tại căn nhà người con gái ông ở thành phố Stanton-California. Tuổi đã ngoài 80, ông nhìn vẫn khỏe, đôi mắt tinh anh, nước da “như còn bám chút phèn” của vùng quê Bến Tre của ông.

    Gặp lần đầu tiên nhưng bản tính xởi lởi Nam Bộ của ông làm tôi không còn rụt rè. “Chú ở lại ăn cơm với anh chị nhé,” ông Công nói “thẳng như ruột ngựa” và coi như đương nhiên tôi nhận lời. Bữa cơm có Thúy Hà, từng một thời là thư ký tòa soạn báo Phụ Nữ của đảng. Chính nhờ Hà và một nhà báo còn ở trong nước nên tôi mới có dịp gặp ông Công.

    Ba năm liền, tôi đến thăm ông Công nhiều lần và thường là ở lại ăn cơm với hai ông bà để có nhiều giờ nghe ông nói chuyện. Có lần, cả buổi ăn, ông nói về nhận xét của ông đối với sinh hoạt văn học của miền Nam thời 1954-1975.

    Nhấp chút rượu vang đỏ, ông Công từ tốn nói, “trước khi cầm bút, tôi được dạy rằng ‘báo chí là tiếng nói của Đảng’. Do làm đúng như thế, tôi trở thành Tổng biên tập ba tờ báo của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

    Tháng Chín năm 1969, khi ông Hồ qua đời, báo chí miền Bắc đăng lại bài viết của giáo sư Lý Chánh Trung đã đăng trên báo ở Sài Gòn, ca ngợi ông Hồ là một nhà ái quốc. Tôi hết sức kinh ngạc: ‘Ồ lạ nhỉ, báo chí của họ là tiếng nói của ai ? Tại sao họ có thể đăng bài ca ngợi kẻ thù của chế độ?’

    Sau này tôi mới được biết ông Hoàng Đức Nhã, Tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi của Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố : “Ở Việt Nam Cộng Hòa không có báo chí viết tốt cho chính quyền. Báo chí chỉ viết tốt cho các cương lĩnh của cá nhân, của các nhóm chính trị, của các tôn giáo và thuần túy vì mục đích thương mại. Tức là báo chí được tự do nói lên quan điểm của mình đối với mọi sự kiện mà không bị chính quyền ràng buộc.

    Hỏi ông, thế lúc bấy giờ, ngoài Bắc thì sao, ông cho biết, ông và những người cầm bút khác được dạy là văn học phải sáng tác theo chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa , tác phẩm có giá trị trước hết phải “có tính Đảng sâu sắc”. Nhưng theo ông thì các tác phẩm “được đảng đánh giá là xuất sắc sao mà quá tẻ nhạt!”

    Ông nghĩ sao về giai đoạn sau Tháng Tư năm 1975, các loại sách của miền Nam bị tiêu hủy khiến nhiều người buộc phải đem sách ra bán trên vỉa hè như bán giấy lộn với giá rẻ như cho, ông nói, “Tôi cũng như nhiều người yêu sách được dịp mua nhiều quyển sách quý : Âm Thanh Và Cuồng Nộ của William Faulkner, Dr. Zhivago của Pasternak, Mùa Hè Sa Mạc của Albert Camus… Đặc biệt là sách của các nhà văn Miền Nam như Thềm Hoang, Người Kéo Màn, Chuyện Bé Phượng của Nhật Tiến, Tiếng Chim Vườn Cũ của Nguyễn Mộng Giác, Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng … Thơ của Tô Thùy Yên, Nguyên Sa, Du Tử Lê…

    Sau này tôi được biết, trong lễ phát giải văn chương toàn quốc năm 1961-1962 , ông Trương Công Cừu, Bộ trưởng Đặc nhiệm Văn hóa và Xã hội của Việt Nam Cộng Hòa đã chúc các nhà văn miền Nam xây đắp xã hội mới ‘một thế giới gấm vóc mỹ lệ, dệt bằng tình bác ái không vụ lợi, bằng đức liêm khiết không xảo trá, và bằng tài trí không tự tôn tự đại.’ Trong một bài viết của Tiến sĩ Lubomir Svoboda, nhà phê bình văn học của Tiệp Khắc thời cộng sản nhận xét tác phẩm Người Kéo Màn của nhà văn Nhật Tiến: ‘Với bút pháp đầy trí lực, và cao hơn, tính nhân văn hay nói một cách chính xác là ông đã viết tác phẩm này bằng một trái tim nhân hậu, biết yêu thương và biết cả căm giận…’

    Tôi nghĩ, có thể dùng hai nhận định nói trên để đánh giá chung cho nền văn học của Việt Nam Cộng Hòa.”

    ***

    NGUYỄN THANH BÌNH chào đời tại tỉnh Thái Nguyên, Việt Bắc, nơi là căn cứ địa của Việt Minh. Gốc gác gia đình Bình là dân Nam Bộ và “tập kết” ra Bắc năm 48. Lúc Hội Nghị Genève đang diễn ra ở Thụy Sĩ, thân sinh của Bình, ông Nguyễn Thanh Hà (tên thật là Nguyễn Thành A), đang ở Genève với cương vị tổng thư ký đoàn đại diện Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thân mẫu Bình, bà Huỳnh Thị Phi, người Vĩnh Long, sau đó mới ra Bắc, và sau năm 1954, làm nhân viên hành chánh của bộ Ngoại giao.

    Hai đứa tôi sinh cùng năm. Chỉ hơn kém nhau 8 tháng.

    Hai đứa tôi quen rồi thân nhau đúng là do “duyên nghiệp”, như cách Bình thường nói.

    Nhà báo Huy Đức là người giới thiệu hai đứa tôi với nhau.

    Nguyễn Thanh Bình tại Buôn Mê Thuột năm 1973. (Hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)
    Nguyễn Thanh Bình tại Buôn Mê Thuột năm 1973. (Hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)

    Năm 2015, tác giả “Bên Thắng Cuộc” đến thăm tôi. Thấy trên bàn tôi có cái tẩu hút thuốc màu trắng, Huy Đức nói, anh cho em đem về biếu một người bạn ở Việt Nam.

    Khoảng một tháng sau đó, trên trang Facebook của Họa Sĩ Nguyễn Thanh Bình ở Sài Gòn có đăng hình cái tẩu với giòng chữ: Cám ơn Thái Đinh.

    Vỏn vẹn 4 chữ, thế thôi. Sau đó, thản hoặc chúng tôi có liên lạc với nhau thì cũng chỉ là những câu ngắn gọn, nhưng tôi đọc nhiều bài viết của Bình và nghe bằng hữu ở quê nhà nói về chàng họa sĩ nổi danh này, tôi hình dung được Bình, một người đôn hậu, cởi mở, có lòng nhân.

    Một buổi tối đầu Tháng Tám 2019, lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau khi tôi đón Bình từ Việt Nam sang Mỹ chơi.

    Ba tuần ở với nhau, chúng tôi nói đủ thứ chuyện, chuyện đời, chuyện đất nước, chuyện người, chuyện mình… và nói về sinh hoạt văn học miền Nam. Bình nhận xét: “1954, người ta lấy một dòng sông chia đôi đất nước, một nửa phía Bắc, đứt lìa khỏi dòng chảy của Nam Phong, Tự Lực Văn Đoàn, nửa phía Nam vẫn tiếp nối và song hành cùng văn học thế giới. Những ai quan tâm đến văn học Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng (giai đoạn 1954 – 1975) không thể không biết những tên tuổi như Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến, Trần Hữu Tá, Võ Hồng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên … duy trì một nền văn chương chuyên nghiệp. Đó là một nền văn học đúng nghĩa, đúng chức năng đối với xã hội, chỉ nhằm vào đối tượng duy nhất là con người.

    Diện mạo văn học miền Nam (1954 – 1975) có nhiều gương mặt nổi bật, tuy nhiên, cũng giống như hội hội họa hay âm nhạc ở miền nam trước 75, nó không tạo ra được sức mạnh có tầm ảnh hưởng sâu đậm như Tự Lực Văn Đoàn và văn nghệ tiền chiến. Những cây bút xuất sắc nhất, tự mình tỏa sáng, tài năng của mỗi người được bảo toàn, hợp thành mảng văn học Việt Nam phong phú, đầy màu sắc, nhưng chưa đủ để soi rọi những ngóc ngách sâu xa của dân tộc đau khổ, oằn mình vì thời cuộc, bởi cuộc nội chiến tương tàn, thảm khốc ấy, có vai trò rất quan trọng trong tiến trình lịch sử của đất nước. Tự Lực Văn Đoàn là sự xuất hiện một văn đàn mang hồn cốt của dân tộc, trong bối cảnh nô lệ, điều ấy, nói ngắn gọn là ‘hồn dân tộc’ không bao giờ mất, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, mà điều kiện của nó là sự tự do ngôn luận. Miền Nam trước 1975, quyền tự do ngôn luận được thể chế dân chủ bảo đảm, các nhà văn đã làm hết trách nhiệm của mình, đã đặt những dấu ấn không phai mờ, nhưng uy lực đã không còn rực rỡ như các bậc tiền bối.

    Tuy nhiên, lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, sẽ tạc tên những người như Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu và cả Bùi Giáng … lên tượng đài của mình, như là một phần tất yếu của hồn dân tộc những năm tháng khói lửa, đau thương …

    Và Bình đọc bốn câu thơ của Bùi Giáng để kết cho buổi nói chuyện kéo dài quá nửa đêm giữa hai đứa:

    “Em từ vô tận dư vang
    Kết chùm cỏ mọc đá vàng thiên thâu
    Em đi từ tình mộng đầu
    Trùng lai chất vấn biết đâu điệu chào … “

    (Bùi Giáng)

    ***

    TRẦN ĐĨNH là tác giả cuốn “Đèn Cù, số phận Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản, tự truyện của người từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh” xuất bản tại Mỹ năm 2014.

    Tết Trung Thu 2014, nhà văn Nhật Tuấn, tác giả cuốn Đi Về Nơi Hoang Dã lúc bấy giờ sống ở Bình Dương viết cho tôi một email ngắn: “Trung Thu năm nay tại Việt Nam trẻ con rước đèn lồng, còn người lớn bận rước Đèn Cù của Trần Đĩnh”.

    Nhà văn Trần Đĩnh tại Mỹ năm 2015. (Hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)
    Nhà văn Trần Đĩnh tại Mỹ năm 2015. (Hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)

    Cuốn sách gây tiếng vang lớn cả trong lẫn ngoài nước vì tác giả tham gia Việt Minh vào lúc mới 16 tuổi và thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Và cũng vì ông còn là nhà báo kỳ cựu của tờ Sự Thật từ những ngày đầu tiên khi báo này thành lập do Trường Chinh làm Tổng biên tập.

    Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật phía sau chiếc mặt nạ của các chóp bu cộng sản.

    Trong vụ án mà chế độ quy chụp là “Xét lại chống đảng”, ông cũng là một nạn nhân, tuy lao tù nhẹ hơn những người khác như Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Lê Trọng Nghĩa, Vũ Thư Hiên…nhưng đủ để ông thấy được sự đấu tranh gay gắt, sống còn giữa hai chủ trương trong nội bộ đảng là theo Tầu hay theo Liên Xô cùng với Nghị quyết 9 dẫn tới cuộc chiến xâm lăng miền Nam bằng võ lực và đẩy Đảng Cộng sản Việt Nam lún sâu vào vòng kềm tỏa của Trung Cộng.

    Là người chấp bút tiểu sử Hồ Chí Minh, Trần Đĩnh có nhiều cơ hội gần gũi và tiếp xúc với nhân vật này, đủ để cho ông nêu một nhận định ngắn gọn nhưng rõ nét về ông Hồ: “Lòng trung của Hồ Chí Minh đối với Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông là vô bờ. Cho nên lòng trung với nước Việt, dân Việt vơi đi.”

    Suốt thời gian Đèn Cù còn trong dạng bản thảo, tác giả thường xuyên trao đổi với tôi về những đoạn cần thêm vào, hoặc cần cắt ngắn, nhờ vậy, tôi thấy được điểm đáng quý nhất của ông là tuyệt đối không bảo thủ ý kiến của mình mà rất tôn trọng ý người khác. Trong một email viết cho tôi, ông nói, bản thân ông đã sống hầu hết cuộc đời trong một xã hội mà Đảng và lãnh tụ chiếm “đặc quyền viết, đặc quyền nói,” chỉ dùng các nhà văn làm đầy tớ, mà “ôi đã làm đầy tớ thì có đời thuở nào còn dám sáng tạo?” Vì vậy, ông chủ trương, tác giả có công đẻ ra tác phẩm, nhưng chăm bón cho nó thành hoàn hảo để ra mắt độc giả là có bàn tay nhà xuất bản, nên nhà xuất bản có quyền tỉa bớt “những cành lá làm mất đẹp cái cây.”

    Đầu năm 2015, tác giả Đèn Cù từ Việt Nam sang thăm Mỹ. Gần một tháng ông ngao du thăm bà con, bạn bè và văn hữu chỉ mới nghe tiếng nhau mà chưa bao giờ gặp mặt. Những ngày được hầu chuyện với ông, ông cho tôi nghe những nhận xét hết sức sâu sắc về người và việc.

    Đối với sinh hoạt văn học miền Nam thời trước 1975, ông nói “Tôi là người được hoàn cảnh ưu ái có lẽ đặc biệt. Từ bé tôi đã sống trong môi trường sách hàng nghìn quyển của gia đình-cũng như có thể mỗi tuần xem điện ảnh đều đặn vài ba buổi không mất tiền. Được đọc, được xem với tôi gần như đã thành sự thường tình. Ở căn cứ địa Tân Trào, dưới trướng tổng bí thư Trường Chinh, tôi xem các báo Pháp, Mỹ cùng hàng giá tiểu thuyết Pháp, Mỹ trong tay Đức Sáu Ngón, bạn tôi, cai quản thư viện của Trung ương. Nói thế để nhấn rằng với việc đọc, tôi như đã quen không chấp nhận rào cản cho cái đọc. Do đó ở Bắc Kinh học xong về nước, trong hai năm 1961, 62, tôi đã nhót lấy hầu hết các báo chí, tập san văn nghệ, văn học của Sài Gòn để đọc. Và xin nói thật, thấy ngụp ngay vào cái dòng chảy văn học dân tộc đậm đà chất hiện sinh chủ nghĩa Sartre và Camus nầy hơn cái dòng chảy cuồn cuộn nhưng giả tạo của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tôi đã thích những Võ Phiến, Doãn Quốc Sĩ, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thế Uyên, Nguyễn Thị Hoàng, Bình Nguyên Lộc, Uyên Thao, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Cung Trầm Tưởng, Túy Hồng, Phan Nhật Nam, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Thụy Ý, … Các anh chị em trong Nam lôi cuốn tôi vì họ thổ lộ chân thực đầy đủ lòng dạ. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài là ở đây. Còn anh chị em nhà văn ngoài bắc thì khác, cứ phải dựa vào cái lý tưởng chưa có, để thêu dệt ra những điều viển vông để ca ngợi…Và cuối cùng rồi sao? Xôi hỏng, bỏng không.

    Đêm đưa ông Trần Đĩnh ra phi trường bay về Sài Gòn, có một thoáng tôi buột miệng hát mấy câu trong một ca khúc mà chính tôi không nhớ tên: “Dù rằng sau mưa bão gió hiền hòa lại về vẫn thấy lòng hoang vu, cuộc đời là hư vô bôn ba chi xứ người khi mình còn đôi tay.”

    Nghe tôi ư ử trong cổ họng, ông nói, này, nghe cháu hát Xin Thời Gian Qua Mau của Lam Phương, bác có cảm tưởng cháu đang lao theo một nỗi buồn đau nào đó đang chạy phía trước.

    ***

    KIM CHI là khuôn mặt lớn của sinh hoạt điện ảnh miền Bắc trong cuộc chiến. Tên thật và đầy đủ là Nguyễn Thị Kim Chi. Nghệ danh của cô văn công Kim Chi trong 10 năm ở chiến trường miền Nam từ 1964 đến 1974 là Hồng Anh. Sau đó bà trở lại miền Bắc. Những năm tháng bom đạn đó, Kim Chi vừa là MC giới thiệu chương trình, vừa là diễn viên kịch, khi thiếu người, bà cũng múa hát. Bà được bộ đội đặt cho cái biệt danh là “người đẹp rừng xanh.”

    Kim Chi nổi tiếng với những bộ phim như Nước Về Bắc Hưng Hải, Mùa Gió Chướng, Cánh Đồng Hoang. Tháng Giêng năm 2013, bà Kim Chi đã từ chối làm hồ sơ khen thưởng nghệ sỹ của Thủ tướng CS Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vì cho rằng ông Dũng đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân.

    Nguyên văn lời tuyên bố của bà là: “Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác của mình bị xúc phạm.”

    Ngày 4 Tháng11 năm 2018, nghệ sĩ Kim Chi chính thức tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong lá thư gửi đảng, bà viết, “Lẽ ra tôi đã làm việc này cách đây gần 3 năm trước, khi ông Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử Tổng Bí thư Đảng CSVN. Bởi tôi biết ông Trọng một mực theo đuổi CNXH – con đường tăm tối không có tương lai cho đất nước, đi ngược xu thế tiến bộ của nhân loại.

    Nhưng ngày đó, lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh – cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Giáo sư Chu Hảo, và chồng tôi (ô. Vũ Linh), cùng nhiều bằng hữu tâm huyết khuyên tôi kiên nhẫn ở lại để giúp những người tốt trong Đảng CSVN nhận biết lẽ phải.

    Tôi đã kiên nhẫn tỏ bày chính kiến ôn hoà trong mọi việc:
    – Xuống đường biểu tình vì nhân quyền, chủ quyền đất nước, môi trường sống…
    – Viết Facebook lên án những sai trái của an ninh, giới chức nhà nước.
    – An ủi, sẻ chia cùng tù nhân lương tâm, bà con dân oan…

    Tham gia các hoạt động xã hội dân sự, với thiện ý xây dựng, tôi thành tâm mong góp tiếng nói phản biện, nhằm thức tỉnh lương tri những người đang chèo lái vận mệnh đất nước. Tôi chưa bao giờ có ý tưởng lật đổ, cổ xúy bạo lực, mà luôn thật lòng mong mỏi những người giữ trọng trách trong guồng máy nhà nước thay đổi tốt đẹp, biết yêu nước, thương dân.

    Nhưng đáp lại thiện chí của chúng tôi là sự đàn áp ngày càng khốc liệt người bất đồng chính kiến; là ý đồ muốn biến nhân dân thành bầy cừu; thù ghét, khủng bố những người dấn thân tranh đấu vì những quyền cơ bản, chính đáng của con người, những giá trị phổ quát của nhân loại; hãm hại những trí thức ưu tú muốn khai trí nhân dân.

    Trải qua tuổi trẻ ở chiến trường, tôi khát khao giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng than ôi! Khi nhận ra mình đã góp tuổi xanh vào một cuộc chiến huynh đệ tương tàn do mâu thuẫn ý thức hệ quốc tế, tôi vô cùng đau đớn. Nhiều đêm trắng tôi thao thức, khi những người ưu tú lần lượt vào tù. Hàng triệu dân oan không nhà làm nhói tim tôi. Im lặng là đồng loã cái ác, là có tội…”

    Một đoạn khác trong lá thư, bà viết: “Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, mà Đảng CSVN lấy làm nền tảng tư tưởng, chỉ là một học thuyết phản khoa học, phi thực tế, cổ xúy bạo lực ‘đấu tranh giai cấp’, hiếu chiến, tạo bất công, gieo rắc đói nghèo lạc hậu, độc đoán thủ tiêu mọi quyền tự do chính đáng của nhân dân…

    …Phần lớn lãnh đạo Đảng CSVN tự hoang tưởng, tha hóa biến chất ngày một tồi tệ, làm đất nước ngày càng tụt hậu, nhân dân lầm than. Đã đến lúc tôi phải rời khỏi cái đội ngũ mà thế lực hắc ám ngự trị trong Đảng CSVN đang lạm dụng làm bình phong che chắn cho động cơ vị kỷ, tệ hại của họ.

    Tôi thành tâm mong mỏi ngày càng có nhiều đảng viên có lương tri, còn tâm huyết với dân, với nước, nhất là thế hệ trẻ, tiếp tục rời bỏ Đảng CSVN, rời bỏ Đoàn TN CSVN.

    Vận nước, tương lai dân tộc tùy thuộc mỗi người Việt Nam chúng ta.”

    Kim Chi thăm vấn an Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ.
    Kim Chi thăm vấn an Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ.

    Bà Kim Chi sang Mỹ nhiều lần, thăm con, thăm các học trò cũ và gặp gỡ những người có thời từng bà từng khác chiến tuyến. Gặp bà, nghe những câu chuyện của bà, quan sát bà, tôi thấy bà là một nhân cách đôn hậu, chân thật, tiêu biểu cho những mẫu người trong thơ Phùng Quán “yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét, dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu, dù ai ngon ngọt nuông chiều, cũng không nói yêu thành ghét.”

    Một lần, bà tâm sự: “Trước 75, tôi ở rừng miền Đông Nam bộ. Thỉnh thoảng mới đọc lén được một tờ báo của miền Nam, do một ai đó vừa đi thăm gia đình móc về. Ấn tượng của tôi là những tờ báo ấy được trình bày đẹp mắt và phong phú hơn rất nhiều báo chí ở miền Bắc lúc bấy giờ. Nhưng tôi không có nhiều cơ hội để tiếp xúc với báo chí miền Nam trong giai đoạn đó.

    Cho mãi tới năm 1978, sau khi học xong khóa đạo diễn Sân Khấu ở Bungaria trở về, tôi có dịp sống và làm việc ở Sài Gòn. Khi ấy tôi dạy ở trường nghệ thuật sân khấu 2 ở 125 Cống Quỳnh. Đây là cơ hội vàng để tôi tìm hiểu về đời sống văn hóa của người miền Nam trước 75. Thỉnh thoảng tôi lang thang tới những cửa hiệu bán sách cũ. Tôi ngớ ra vì thấy mình có quá nhiều điều không biết. Thì ra báo chí miền Nam khi đó khá tự do. Nó được viết ra theo suy nghĩ của những người cầm bút. Nó được tỏ bày theo chính kiến của nhà báo. Báo chí của nhà nước cộng sản thì phải viết theo định hướng của đường lối cách mạng và sự chỉ dẫn của lãnh đạo. Các nhà báo ăn lương của nhà nước và thường viết theo lệnh của các tổng biên tập. Mà các tổng biên tập thì lại nhận lệnh từ cấp trên (Ban văn hoá tư tưởng) về những chủ đề trên trang báo ấy phải phản ánh. Họ chỉ được phép viết ca ngợi chế độ. Thỉnh thoảng đưa ra vài câu chuyện tiêu cực, nhưng phải tránh những nhân vật có tên tuổi. Luận điệu của họ là ‘phải bảo vệ uy tín cán bộ để cho họ lãnh đạo.’ Miền Bắc ngày ấy có nhiều tòa soạn: Thanh Niên, Phụ Nữ, Thiếu Nhi, Tiền Phong… nhưng toà soạn báo Nhân Dân là quyền uy nhất. Nhiệm vụ của tờ báo này là đưa ra chủ trương chính sách của đảng. Đội ngũ phóng viên của tờ báo này 100% là ăn lương nhà nước. Có nhiều nội dung quan trọng như phổ biến chính sách thì bài viết là của phóng viên, nhưng nó lại được ký tên bởi một ông to nào đó. Báo chí miền Bắc khi đó nhiều khi phải làm nhiệm vụ lái dư luận xã hội qua những chuyện ‘cướp, hiếp’ để tránh một vụ bê bối của một quan chức nào đó. Với luận điệu của họ rằng ‘để xử lý nội bộ’…

    Không phải báo chí miền Nam trước 75 là tuyệt đối tự do. Nhưng nếu so sánh với báo chí miền Bắc ngày ấy và ngay cả bây giờ thì báo chí miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa hơn hẳn báo chí cộng sản Việt Nam.

    Đó là sự khác biệt cơ bản của hai nền báo chí: VNCH và CHXHCNVN.

    Năm tháng qua đi, tôi càng thấm thía rằng những người cầm bút mà không được viết theo mệnh lệnh của trái tim mình, lại phải viết theo sự sai khiến của ai đó thì chẳng có gì đáng buồn hơn. Tự do tư tưởng là niềm khát vọng cho những người sống có lý tưởng. Người cầm bút phải có TỰ DO TƯ TƯỞNG. Không để cho người ta biến mình thành những con Robo.

    Hỏi bà, bà có lo sợ cho an ninh bản thân khi lớn tiếng kết án chế độ bằng những lời lẽ như thế, nữ nghệ sĩ có khuôn mặt khả ái này nói, bà “từng đi chiến trường 10 năm, không sợ chết vì bom đạn thì bây giờ coi mọi việc nhẹ như lông hồng.”

    ***

    NGUYỄN THỊ HẬU là tiến sĩ khảo cổ học, được nhiều người biết tới với tên “Hậu khảo cổ”. Bà có nhiều công trình nghiên cứu về các nền Văn hóa Óc Eo, Đồng Nai, Sa Huỳnh, khảo cổ học đô thị… Bà cũng xuất bản nhiều cuốn sách ở các thể loại như ký, truyện ngắn, tản văn…Một số tác phẩm tiêu biểu của bà: Thế Giới Mạng Và Tôi, Ngắn & Rất Ngắn, Sài Gòn Bao Giờ Cũng Thế…

    Từ trái : Nguyễn Thanh Bình, Trần Đĩnh, Nguyễn Thị Hậu và Hồng Ánh.
    Từ trái : Nguyễn Thanh Bình, Trần Đĩnh, Nguyễn Thị Hậu và Hồng Ánh.

    Nguyễn Thị Hậu sang Mỹ lần gần đây nhất trước khi thế giới bị cuốn vào trận đại dịch Covid-19 là năm 2019.

    Gia đình tập kết từ Nam ra Bắc năm 1954, bốn năm sau, Hậu “khảo cổ” chào đời tại Hà Nội. Lớn lên ngoài Bắc và chỉ nhìn thấy miền Nam sau 1975, nên Nguyễn Thị Hậu có giọng nói “thuần Bắc.”

    Nhiều lần gặp, ăn uống, trò chuyện, thậm chí còn đi với nhau cả một đoạn đường xa từ Nam lên Bắc Cali, có cả nữ nghệ sĩ trung hồ cầm Hồng Ánh, họa sĩ Nguyễn Thanh Bình và nhà báo Mặc Lâm, nhiều câu chuyện Hậu “khảo cổ” kể đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng về sinh hoạt xã hội miền Bắc. Nhất là những cảm nghĩ của Hậu về văn học miền Nam trước 1975.

    “Sau năm 1975, nhiều người lần đầu vào Sài Gòn choáng váng khi nhìn thấy cuộc sống của thành phố này: nhà cửa, xe cộ, quần áo và hàng ngàn loại vật dụng sinh hoạt… mà hầu như gia đình nào ở Sài Gòn cũng có, trong khi đó ở miền Bắc chỉ có thể nhìn thấy vài thứ trên phim ảnh “Liên xô”, thậm chí có thứ chưa từng biết đến như TV, tủ lạnh, đồ dùng trong toilet… Có thể đọc những cảm nhận này qua hồi ký của một số người nổi tiếng mới xuất bản gần đây.

    Giữa năm 1975 gia đình tôi – một gia đình miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954 – đoàn tụ ở Sài Gòn. Những tháng đầu cả nhà ở tạm trong một căn phòng tại cơ quan của ba tôi (là một biệt thự trên đường Trần Quý Cáp). Trong căn phòng chừng hơn 30m vuông có một tủ sách lớn dựng suốt một bức tường. So với tủ sách đơn sơ của nhà tôi ở Hà Nội được đóng bằng những mảnh gỗ tạp, cũng chứa đầy sách, thì cái tủ sách “vĩ đại” này đã thỏa mãn ước mơ lớn nhất của tôi khi ấy! Tôi bỡ ngỡ và sung sướng làm sao khi trên đó đầy ắp các loại sách truyện, tạp chí… còn phía dưới giá sách là một dàn máy AKAI với một cuốn băng đang nghe dở “Sơn ca 7”. Đây là cơ duyên đầu tiên của tôi với văn học miền Nam và với nhạc Trịnh Công Sơn.

    Từ cái tủ sách đó giờ rảnh rỗi tôi chỉ ôm sách đọc ngấu nghiến, đầu tiên là sách văn học. Lâu rồi tôi không nhớ hết tác giả và tác phẩm, nhưng tôi còn nhớ các tác giả Duyên Anh, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thụy Long, Hồ Trường An, Bình Nguyên Lộc, Chu Tử, Hoàng Hải Thủy, Bà Tùng Long, Nguyễn Thị Thụy Vũ… Vài tác giả chuyên sáng tác chuyện miền Tây như Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, An Khê, Lê Xuyên… Những tác giả của Tự Lực Văn Đoàn mà ngoài Bắc chỉ giới thiệu rất ít… Ngoài ra còn nhiều truyện dịch mà ba tôi rất thích; chị tôi mê mải với Quỳnh Dao còn anh tôi thì nghiền Kim Dung…

    Từ năm 1976 vào học đại học Văn Khoa tôi còn được bạn bè giới thiệu và cho mượn sách của các tác giả Mai Thảo, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ… lúc này đã bị cấm lưu hành. Rồi khi nhiều thư viện “thanh lý” sách xuất bản tại Sài Gòn trước 1975 ba tôi đã xin được mấy thùng sách về lịch sử của Kim Định, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, các bộ sử thời Nguyễn… Thế giới văn học của tôi trở nên rộng mở và cũng mang đến cho tôi bao điều mới mẻ, cả những nỗi hoài nghi mà tôi phải mất nhiều năm mới giải đáp được.

    Lúc đầu tôi không thích lắm vì phần lớn các đầu sách là loại “tiểu thuyết gia đình” với tựa sách gợi cảm và hình bìa nhiều màu sắc, cốt truyện thường đơn giản, xoay quanh những cuộc tình éo le không lối thoát do thân phận, do cuộc chiến, nhiều tình tiết “lâm ly bi đát” giống tuồng tích cải lương khi ấy. Đọc xong không để lại ấn tượng gì ngoài một kết thúc buồn, hiếm khi nào “có hậu”. Phải chăng sự thật về chiến tranh luôn hiện diện trên báo chí truyền thông làm cho xã hội bất an, cuộc chiến ngấp nghé bên ngoài đô thành đã làm cho con người mất niềm tin vào tương lai?

    Nhưng rồi, dần dần một thế giới mới đến với tôi, rất khác với các tác phẩm văn học tôi từng đọc ở miền Bắc. Từ cao sang đến nghèo hèn, từ quan chức tướng lĩnh đến công chức, buôn gánh bán bưng, thế giới của các tay anh chị, tướng cướp hay gái điếm… tất cả đều hiện diện trong văn chương, không loại trừ “kiêng cữ” một ai. Trong nhiều tác phẩm không có ai thật tốt hoặc thật xấu, nhưng ở vào thời điểm khó khăn thì họ đều bộc lộ phần nhân văn ẩn sâu bên trong… Vì vậy, dù kết thúc buồn nhưng vẫn mang lại cho người đọc cảm xúc đẹp về tình người.

    Các tác phẩm về cuộc chiến thực sự khốc liệt, trần trụi, ác liệt… hầu như không có bóng dáng của những lời tuyên truyền “lý tưởng cao đẹp” như ngoài Bắc mà chỉ thấy trong mỗi người lính đầy ắp nỗi nhớ gia đình, nhớ quê hương, tình đồng đội… Cũng không thiếu vắng cái chết đau đớn của những người lính, nỗi đau giằng xé của vợ góa con côi, nhưng ước mơ một ngày giản dị bên gia đình, bên “người yêu bé nhỏ” khi đã “tàn cơn binh đao”… là hy vọng sống sót cho những người lính trận. Bởi vì, khi cuộc chiến kết thúc thì người lính lại trở về làm dân, nếu may mắn không “xanh cỏ” thì cũng có mấy ai được “đỏ ngực”.

    Để lại nhiều ấn tượng với tôi là các tác phẩm của Duyên Anh như : Dzũng Đakao, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Điệu ru nước mắt; của Nhã Ca: Truyện cho những cặp tình nhân, Thành phố buồn, Đêm nghe tiếng đại bác, Giải khăn sô cho Huế. Truyện của Nguyễn Thị Hoàng rất lạ với tôi như: Vòng tay học trò, Tuổi Sài Gòn. Còn Nguyễn Thụy Long hay nhất là Loan mắt nhung. Đặc biệt là Mùa hè đỏ lửa của tác giả Phan Nhật Nam hay bộ ba tập “Đường đi không đến” của nhà văn “chiêu hồi” Xuân Vũ… Tôi đặc biệt thích Bình Nguyên Lộc với các công trình biên khảo công phu của ông và những trang tản văn, tùy bút đẹp đến nao lòng…

    Tuy nhiên, cái hấp dẫn tôi nhất chính là mỗi tác giả có phong cách riêng, dễ nhận biết qua chủ đề, cốt truyện và ngôn ngữ. Nhà văn Nam bộ hóm hỉnh, giản dị câu chữ, nhà văn miền Bắc sắc sảo, bóng bẩy, nhà văn và cũng là nhà báo thì sinh động, trực diện… Ngôn ngữ vùng miền, phương ngữ được sử dụng phổ biến. Cả một xã hội phân hóa sâu sắc, phong phú, đa dạng và cũng khắc nghiệt, tàn nhẫn như cuộc sống hiện ra, thôi thúc tôi tò mò tìm đọc và luôn ngạc nhiên mỗi khi bước vào “khu rừng” văn học miền Nam khi ấy.

    Đặc biệt sách văn học cho tuổi thanh thiếu niên rất nhiều, có lẽ nổi bật nhất là Tủ sách Tuổi Hoa. Sách Tuổi Hoa chia làm ba loại: Hoa Đỏ, Hoa Xanh và Hoa Tím. Tôi còn nhớ sách Hoa Đỏ là loại trinh thám, phiêu lưu, mạo hiểm. Hoa Xanh thuộc loại tình cảm nhẹ nhàng. Hoa Tím đã xuất hiện tình yêu giữa nam nữ một cách trong sáng. Dấu hiệu thân thuộc của tủ sách là bông hoa tám cánh giản dị và xinh xắn.

    Cũng phải nói đến những tiệm cho thuê sách và cửa hàng sách cũ luôn là nơi hấp dẫn với tôi chứ không phải là cửa hàng thời trang hay mỹ phẩm. Tôi còn nhớ hoài có bạn học người Sài Gòn khá kỳ thị tôi bởi cái giọng Hà Nội 75 và trang phục giản dị có phần “hổng giống ai”. Một lần không biết có việc gì bạn đến nhà tôi, nhìn thấy tủ sách bạn rất ngạc nhiên vì bên cạnh những cuốn sách tôi mang vào từ Hà Nội là rất nhiều sách xuất bản tại Sài Gòn. “Nhà Việt Cộng mà cũng có sách như nhà ‘Ngụy’ à?!” nhưng từ đó thái độ của bạn với tôi khác hẳn. Đặc biệt bạn bắt đầu đọc và rồi cũng thích nhiều tác phẩm văn học của miền Bắc.

    Văn học miền Nam trước 1975 đa dạng và phong phú về tác giả, thể loại, khuynh hướng, trường phái… Đó là nhờ sự khai phóng của môi trường xã hội nói chung và môi trường sáng tác nói riêng, sự cởi mở của giới cầm bút chấp nhận những thử nghiệm, sáng tạo, tinh thần tự do dân chủ của giáo dục – nhất là giáo dục đại học. Những tác phẩm văn học tôi đọc tuy còn ít ỏi nhưng đủ để nhận biết giá trị nhân văn của một nền văn học, qua đó hiểu biết về xã hội và con người miền Nam trong cuộc chiến vừa qua. Điều đó góp phần giúp tôi thoát khỏi định kiến mặc cảm về “bên này – bên kia, thắng – thua, ta – địch” mà nhiều người cùng thời với tôi còn đang mang nặng trong lòng.”

    ***

    DƯƠNG THU HƯƠNG tự nhận mình là “người rừng”, “mụ nhà quê răng đen, mắt toét”.

    Báo chí Pháp thì gọi Dương Thư Hương là “Con Sói Đơn Độc”.

    Còn lãnh đạo cộng sản Việt Nam thì chửi bà là “con đĩ chống đảng”.

    Dương Thu Hương và Đinh Quang Anh Thái tại một quán ăn ở Paris năm 2005. (Hình: Đinh Quang Anh Thái)
    Dương Thu Hương và Đinh Quang Anh Thái tại một quán ăn ở Paris năm 2005. (Hình: Đinh Quang Anh Thái)

    Gọi bằng gì thì gọi, Dương Thu Hương vẫn là chính mình: bản chất chân quê không hội nhập vào thế giới mạng Internet, bỗ bã, đốp chát, đơn độc, và trên hết, ngay thẳng, hết mực với mục tiêu nhắm tới là tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ, tự do, thoát khỏi cái chế độ hiện nay mà bà gọi là “chỉ sống bằng xác chết, không có bất cứ giá trị gì cả.”

    Sinh năm 1948, lớn lên tại miền Bắc vào đúng giai đoạn Cộng sản Hà Nội tung toàn lực lượng nhất quyết bằng mọi giá phải đạt được tham vọng “giải phóng miền Nam thoát khỏi sự kềm kẹp của Mỹ-Ngụy.” (sic)

    Như lời bà kể, cùng với hơn 100 bạn ngang lứa tuổi, bà đã cắt máu xin vào Nam “đánh Mỹ cứu nước”.

    Những trải nghiệm trong chiến tranh, cùng những chua chát của Tháng Tư 1975 đã là chất liệu cho các tác phẩm sau này của bà, như “Những Thiên Đường Mù”, “Bên Kia Bờ Ảo Vọng”, “Khải Hoàn Môn”, “Đỉnh Cao Chói Lọi”, “No Mans Land” (ấn bản Anh ngữ) được dịch sang Pháp ngữ là “Terre Des Oublis”…

    Dương Thu Hương là một trong những người cầm bút đã can đảm “bước qua lời nguyền”, giành lại quyền suy nghĩ bằng cái đầu của chính mình với những bài phát biểu, bài viết; và nhất là với tác phẩm “Những Thiên Đường Mù.”

    Tôi chỉ biết Dương Thu Hương qua tác phẩm, mãi tới khoảng giữa tháng Tư 1997, lần đầu tiên tôi mới có dịp – qua điện thoại – nói chuyện với “Con Sói Đơn Độc.”

    Sau rất nhiều lần trò chuyện thăm hỏi, Dương Thu Hương mới trải lòng nói về dấu mốc quan trọng làm thay đổi hẳn cuộc đời bà là thời điểm đoàn quân của “bên thắng cuộc” vào Sài Gòn trưa ngày 30 Tháng Tư 1975.

    Trả lời cuộc phỏng vấn bằng điện thoại, Dương Thu Hương kể: “Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn, trong khi tất cả mọi người trong toán quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi ngồi bên lề đường khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người dân có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ… nếu người ta muốn.

    Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ.”

    Nhiều năm sau cuộc phỏng vấn lần đầu tiên đó, tôi thường xuyên điện thoại về Hà Nội nói chuyện với bà Dương Thu Hương; và thậm chí còn sang tận Paris thăm bà vào trung tuần Tháng Hai năm 2005, khi bà nhận lời mời của nhà xuất bản Sabine Wespieser Editeur để ra mắt tác phẩm đã được in bằng Anh ngữ, cuốn “No man’s land”, được dịch sang Pháp ngữ là “Terre Des Oublis”.

    Trong suốt 8 năm được trò chuyện qua điện thoại và những lần gặp mặt trực tiếp, tác giả Thiên Đường Mù đã dành cho tôi nhiều cuộc phỏng vấn dài.

    Tháng Tư 2020, nước Pháp và riêng thủ đô Paris đang bị dịch Covid-19 hoành hành khiến người dân ai cũng ru rú trong nhà để tránh dịch, tôi gọi điện thăm Dương Thu Hương, bà nói “Con sói đơn độc” vốn đã đơn độc nay càng đơn độc hơn và đang dành trọn thì giờ góp phần cho cuộc đấu tranh dân chủ của đồng bào tại quê nhà. Tôi nhắc lại câu bà nói với tôi Tháng Tư năm 2007:

    “Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do, người dân có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ…nếu người ta muốn.

    Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ.”

    Chú thích :

    * “Bên Thắng Cuộc” là tựa cuốn sách của Nhà báo Huy Đức.

  • Sinh Hoạt

    DƯƠNG HỒNG ANH NỮ SĨ

    DƯƠNG HỒNG ANH NỮ SĨ 

    Khánh Lan Biên soạn.

    Tháng Hai ngày 23, 2020 đã trôi qua hơn hai tuần nay, nhưng ô hay, sao lạ quá, cái dư âm của buổi chiều thơ nhạc Dương Thiệu Tước (DTT) và Dương Hồng Anh (DHA), nghe như vẫn còn văng vẳng quanh đây.  Tôi thầm mơ ước, giá tôi có thể đi ngược dòng thời gian để quay về quá khứ và được sống lại những giây phút tuyệt vời của ngày hôm ấy, chắc hẳn tôi sẽ vui sướng biết bao.  Còn gì thú vị cho bằng, khi thêm một lần nữa, cho tôi được thưởng thức lại những dòng nhạc tiền chiến lãng mạn vượt thời gian của người nhạc sĩ tài ba, Dương Thiệu Tước và được nghe lại những giọng ca họa mi thánh thót của Hồng Quyên, Minh Ngân, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Thụy Lan chen lẫn những  tiếng hát ấm áp của các anh Quỳnh Giao và Mạnh Bổng, v.v……..hay……. hơn thế nữa, cho hồn tôi được chìm đắm trong những vần thơ nhẹ nhàng đầy thi vị trong thế giới thi ca, qua giọng ngâm truyền cảm của nghệ sĩ Bích Ty và nhất là …..được gặp lại người thi sĩ mà tôi hằng kính trọng và yêu mến, dù tôi chỉ có vinh hạnh gặp và quen biết bà trong vài tháng nay:  Vâng, đó là Dương Hồng Anh (DHA) nữ sĩ. 

    Tôi còn nhớ như in trong tâm trí, tháng 01 ngày 28, 2020, tôi đã được nữ sĩ DHA tặng cho tập thơ số 10 của bà, xuất bản tại California, năm 2019 với tựa đề “NGUỒN CỘI” trong dịp họp mặt đầu xuân Canh Tý.   Tôi vốn mê đọc thơ từ thuở nhỏ, nên khi nhận được tập thơ từ bà, tôi mừng lắm và say mê đọc những bài thơ bà sáng tác, với những vần thơ giản dị, mộc mạc, dễ hiểu, đong đầy trìu mến, khiến người được đọc thơ có cảm giác như đang cùng bà sánh bước hoặc cùng bà chia sẻ niềm tâm sự. 

             “Bốn bốn mùa xuân trên đất Mỹ, 

              Bao nhiêu kỷ niệm trở về đây, 

              Đất lành chim đậu – Ca-li ấm 

              Sợi nắng vàng say mộng ước đầy“.

                                       (Xuân Trên Đất Mỹ-2019)

    … quả thật, thi sĩ DHA đúng là một người tài hoa với một bộ óc tràn ngập những lời hay ý đẹp của một nhà thơ.  Phải, thi sĩ DHA với những áng thơ dịu dàng lưu loát, hồn thơ say đắm làm mê hoặc lòng người, ý thơ trẻ trung nhẹ nhàng, mềm mại, e ấp và đáng yêu như con người của bà, nhưng lại không kém phần ưu tư, thương nhớ, khắc khoải khi nhắc đến quê hương sau bao năm lưu lạc.  Những cảm xúc sâu đậm ấy đã bộc lộ qua lời thơ của thi sĩ DHA và điều này đã được thể hiện rõ rệt qua bốn câu thơ sau đây:  

            “Chiều về nhớ phố Bolsa,

             Đi tìm chút nắng quê nhà năm xưa”.

    Hoặc: 

            “Xin gửi quê hương một tấm lòng, 

            Ca li nhớ mãi nắng Sài Gòn”.

    Thật đúng như nhà thơ Alfred De Musset đã cho rằng, thơ là nỗi cảm xúc của lòng mình, là nhịp đập của trái tim, là hơi thở của trí tuệ và…”Hãy đập vào trái tim, thiên tài là ở đó”.  Hay nhà văn Việt Hải đã viết trong lời mở đầu cho thi tập Nguồn Cội:  “Trong ngôn ngữ của đời sống, thơ là những dòng chữ đi từ con tim tìm đến khối óc.   Nếu con tim rung động thì trí óc sắp xếp sự sáng tạo chữ nghĩa, đó là ý tưởng của nhà thơ”.  Trong thi tập Chiều Bến Đợi, thi sĩ DHA đã nhận định:  “Tôi đã dànhtừ bao giờ một góc trái tim cho Thơ”.

              “Mỗi bước chân đi nghĩ ngợi gì 

               Thềm hoa rực rỡ đọng trên mi

               Nắng vàng phơ phất lùa khung cửa 

               Chở những vần thơ lãng đãng về”….

                                          (“Nắng Ca Li Nhớ Nắng Sài Gòn)

    Có phải chẳng thi sĩ DHA là một thiên tài?  Một hứa hẹn của thi ca văn học?

             “Là những vần thơ tự trái tim 

              Nâng niu ngày tháng mộng bình sinh”…..

          (Nghe Tiếng Thơ Rung Dưới Nắng Chiều, 2019)

    Thi sĩ DHA ra đời trước tôi gần ba thế hệ nên tôi không có cơ hội biết nhiều về bà, nhưng vì quý mến bà qua bản tính khiêm nhường, lịch thiệp và nhã nhặn của bà, tôi bắt đầu tìm hiểu về bà qua vài lần được cùng bà hàn huyên tâm sự và cũng nhờ vào buổi phỏng vấn thi sĩ DHA của chương trình Mạn Đàm Văn Học với nghệ sĩ Bích Ty, tôi được biết rõ về bà hơn.   

    Thi sĩ DHA là cháu nội trực hệ của cụ Dương Khuê, tác giả của một số bài văn, câu đối, ông cũng là tác giả của những bài ca trù nổi tiếng như bài “Gặp Lại cô Đầu Cũ”.  Theo nhà văn Việt Hải thì thi sĩ DHA xuất thân trong một gia đình nho gia vọng tộc, đề cao và trọng chủ nghĩa tồn cổ.  Là một dòng họ nổi tiếng là có nhiều nhân tài, như cụ Đô Ngự Sử Dương Quang, danh sĩ Dương Lâm phó Tổng Tài Quốc Sử Quán đời nhà Nguyễn, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, giáo sư tiến sĩ Dương Thiệu Tống, nhà thơ Dương Tuyết Lan, nhạc sĩ Dương Thụ, nhạc sĩ/thi sĩ Dương Hồng Kỳ, khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, bác sĩ tim mạch Dương Hồng Tạo.  Nên thi sĩ DHA có lần đã nói với tôi:  “Đã lỡ sinh ra trong gia đình họ DƯƠNG, mình cũng phải làm một cái gì cho xứng đáng, đúng không cô Khánh Lan (KL)”.

    Trong lần phỏng vấn qua điện thoại với thi sĩ DHA ngày mồng ba tháng ba, 2020, thi sĩ DHA đã tâm sự với tôi.   Thi sĩ DHA nói, bà tập làm thơ khi bà mới 14 tuổi, bắt đầu với hai hay ba câu thơ viết về người anh trong thời tản cư.  Khi chiến tranh thực sự xẩy ra trên đất Bắc, thi sĩ DHA đã chứng kiến bao cảnh thương tâm, nhất là quang cảnh hoang tàn, buồn bã, vắng vẻ, tan rã, thừa người bán thiếu người mua của buổi chợ chiều, đã là động lực và làm chạnh lòng trác trở của một thi sĩ như bà và trong một phút thoáng qua trong tâm não, bà đã sáng tác bài thơ tả cảnh chợ chiều rất rõ ràng và gợi hình như sau:

               “Chợ chiều tan rã cảnh tiêu sơ”….

    Hầu hết những bài thơ đầu tay của nữ sĩ DHA được đăng trên báo Cậu Ấm Cô Chiêu năm 1949 và những tờ báo khác như Cải Tạo, Hồ Gươm, Sinh Lực, Giang sơn, Giác Ngộ….Năm 1952-1954, thi sĩ DHA được mướn làm thư ký tòa soạn của tòa báo Sinh Lực ở Hà Nội, lúc ấy, bà 21 tuổi.  Nhiệm vụ chính của bà là viết những bài phóng sự thuộc về lãnh vực văn nghệ, thể thao và đón những phái đoàn thể thao từ Nam ra Bắc.  Đặc điểm cũng như sở trường của nhà thơ DHA, là bà thường viết những bài phóng sự xã hội khi bà chứng kiến những cảnh thương tâm xẩy ra, bà đã nhìn tận mắt những cảnh nghèo khó đã giết đi hàng ngàn người, hay những tương phản giữa hai lớp sống:  kẻ giàu người nghèo.  Thi sĩ DHA nói, câu chuyện đau lòng nhất mà bà đã nhìn thấy, là thảm cảnh 200 trẻ em mồ côi ở Gò Đống Đa, sự đói khổ, bơ vơ lạc lõng giữa chợ đời, đã là động lực giúp bà viết bài phóng sự về các em.  Bài phóng sự này đã được chọn và đăng trên tờ báo Giang Sơn năm 1953.   Hình ảnh đau thương thứ hai mà thi sĩ DHA nhìn thấy là một đứa bé chết lả trước cửa nhà của một gia đình giàu có, đúng lúc chủ nhà của căn nhà ấy dắt hai đứa con của họ ra đường chơi bóng, mà chẳng màn để ý đến đứa bé nghèo đói đang nằm chờ chết trước cửa nhà của họ.  

    Năm 1952, thi tập đầu tiên Hương Mùa Chinh Chiến ra đời ở Hà Nội.  Năm 1954 khi đất nước chia đôi, thi sĩ DHA 23 tuổi, bà rời gia đình nguyên thủy, kết hôn với trung uý bảo an, Nguyễn Sĩ Hiệp tại Hà Nội trước khi bà  theo chồng tản cư vào miền nam.  Định cư tại Sài Gòn, thi sĩ DHA trở lại đi làm một thời gian ngắn và cũng là thời điểm mà bà tạm dừng sáng tác thơ từ ngày đó, quyết định chọn con đường cao quý của người đàn bà thuần túy Việt Nam, là ở nhà chăm sóc chồng con.  Trước khi từ giã thế giới thi ca, thi sĩ DHA có viết một chuyện ngắn, đó là quyển “Niềm Vui Hy Sinh” đăng trên một tờ báo hàng ngày ở Saigon.  Thi sĩ DHA kể, thỉnh thoảng bà hay ghé lại đài phát thanh Saigon để nghe người anh họ của bà là nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và ca sĩ Minh Trang hát…… 

    Khi được hỏi thi sĩ DHA là bà có âm hận về quyết định của bà trong việc xếp bút nghiêm để trở thành người nội trợ toàn thời gian? Thì hình bên kia đường giây điện thoại, tôi nghe giọng nói của thi sĩ DHA như chùng xuống chen lẫn một chút vấn vương luyến tiếc, bà nói:  “Có lẽ đã đến lúc, những vần thơ thiên phú trong tôi được xếp lại và tạm thời đi dần vào quên lãng, để nhường chỗ cho sự khởi đầu của một mái gia đình hạnh phúc, tôi nghĩ, đây là lựa chọn tốt và hay nhất cho tôi, cũng như đây là những gì tôi đã được dạy dỗ trong một gia đình tồn cổ như gia đình của chúng tôi”.  Ngừng một giây, thi sĩ cười với giọng nói vang vang trong máy điện thoại:  “Cái quan niệm tồn cổ…….vẫn giữ cái cổ lại hay, cô KL ạ”.

    Theo lời của thi sĩ DHA, chồng bà, trung uý bảo an Nguyễn Sĩ Hiệp (NSH) trở lại học luật tại Sài Gòn, và vẫn tiếng cười nho nhỏ, bao dung, hiền hậu, thi sĩ DHA kể, có những lúc bà đến trường luật để lấy bài giảng cho chồng vì ông NSH bận đi công tác xa.  Năm 1966, ông NSH giữ chức vụ thẩm phán, vài năm sau ông làm chánh văn phòng chủ tịch Tối Cao Pháp Viện, chủ tịch hội đồng thẩm phán, hai nhiệm kỳ tại Sài Gòn, chức vụ cuối cùng là chánh án tỉnh Mỹ Tho và khi Sài Gòn thất thủ, ngày 30 tháng Tư, 1975 đã làm thay đổi cuộc sống của hàng triệu người Việt Nam sống trên đất Việt………..và như bị cuốn theo vận nước nổi trôi, lại một lần nữa, thi sĩ DHA cùng chồng và ba người con trai tản cư sang Hoa Kỳ.  Năm 2008, cựu thẩm phán NSH qua đời tại Orange County, California.   

    Khi được hỏi, cơ duyên nào đã là nguồn cảm hứng giúp thi sĩ DHA trở lại sinh hoạt trong thế giới thi ca?  Thi sĩ DHA trả lời:  “Sau khi nhà tôi qua đời, thì những dòng thơ tuyệt diệu ngày xưa đã sống lại trong tôi và tôi bắt đầu làm thơ…..phải tôi… trở về với thế giới thơ văn mà tôi hằng yêu quý”.  Như để giúp tôi hiểu rõ hơn, thi sĩ DHA tiếp tục, “Sau lần tôi về thăm Hà Nội, tôi sáng tác bài Thu Cảm, bài thơ hay lắm cô KL ạ, bài này nhà văn Nhật Thịnh đăng trong tờ báo Đất Đứng năm 2012 và ông nói là thơ của bà “Có hồn”.

               “Thu đến từ đâu thu hỡi thu,

                Cùng thơ đang trở gót sông hồ”…..

                                                   (Chiều Bến Đợi)

    Sau thi tập thứ hai là tám tập thơ sau đó lần lượt suất bản từ năm 2010 đến năm 2019.  Thơ của thi sĩ DHA gồm nhiều thể loại và phạm vi khác nhau, từ tả cảnh tuổi học trò, đến thiên nhiên, tình yêu, gia đình, nỗi cô đơn, lòng thương nhớ, rồi xã hội, chiến tranh, quê hương, tôn giáo và cuối cùng là thơ thiền…. Thơ trong tâm hồn của thi sĩ DHA như được dịp nở hoa, những đóa hoa của trí tuệ, như nhà thi sĩ Paul Valéry đã định nghĩa “THƠ” là gì?  Phải chăng như ông đã nói: “Thơ là ngày hội tưng bừng của trí tuệ”.  Điều này thể hiện qua những bài thơ “Nắng Ca Li Nhớ Nắng Sài Gòn và Hội Thơ” trong tập thơ thứ 10, Nguồn Cội.                   

              …..Ôi bao kỷ niệm êm đềm ấy 

               Xếp hàng trong góc trái tim tôi 

               Để thương để nhớ từng hơi thở

               Vương vấn bao thư giấc mộng đời”….

               “Hôm nay đi hội thơ 

                Niềm vui vẫn đợi chờ 

                Thơ chất đầy một túi 

                Êm ả giấc mơ xưa”….

                     (Mồng 6 Tết Kỷ Hợi – 2019)

    Có phải thơ là nghệ thuật sắp xếp ngôn từ phát suất từ nội tâm như thi sĩ Hà Nguyên Du đã định nghĩa?  Thơ trong thi sĩ DHA tả rất sát nghĩa những gì bà đang suy nghĩ và đang xảy ra cho bà, khiến người đọc thơ hiểu ngay điều bà muốn nói, hiển nhiên là trong bài Vẫn Còn Thơ, sáng tác ngày mồng ba Tết Kỷ Hợi, 2019.

           “Đau ốm qua loa, hết bệnh rồi 

            Căn phòng êm ả một mình thôi 

            Trời mây lãng đãng chào xuân mới 

             Hoa lá tưng bừng đón nắng tươi

             Vuốt tóc soi gương đầu đã bạc 

            Tay run bước mỏi áng da mồi 

             Nâng cao ngọn bút vui nhân thể 

            Thơ vần còn đây-mộng cuối trời”.

    Năm nay, thi sĩ DHA vừa tròn 90 và với hơn 70 năm sinh hoạt trong thế giới thi ca (1947-2020), tuy tuổi đã cao, nhưng bà rất minh mẫn và sáng suốt, bà vẫn làm thơ và hầu như bà đã thuộc lòng từng bài thơ trong 10 thi tập mà bà đã sáng tác và xuất bản.  Không những thế bà còn có tài xuất khẩu thành thơ, thể hiện trong ngày 23 tháng 2, 2020, nữ sĩ DHA đã làm sáu câu thơ ngay tại buổi tiệc vinh danh & chúc thọ 90 kỷ niên của bà.

             “Chín mươi tuổi trên tay còn ngọn bút, 

               Nhìn đất trời cao rộng giữa bao la,

               Cho tôi viết những gì tôi muốn viết, 

               Thổi hồn thơ lãng đãng nhớ quê nhà, 

               Cho tôi thấy mùa xuân đầy nắng ấm 

               Nắng hồng tươi, tình gửi nước non xa”.

                          (Trên Tay Ngọn Bút, 2/23/2020) 

    Hôm nay, tháng 03 ngày 04, 2020, tôi lại được hầu chuyện cùng thi sĩ DHA, bà bảo tôi:  “Ngày xưa tôi có thể làm thơ ở bất cứ nơi nào, lúc nào….tôi có thể viết một bài thơ trong vòng vài phút…..thế mà bây giờ…… tôi không còn có khả năng ấy nữa….90 tuổi rồi còn gì, thưa cô KL”.

    Tóm lại, có phải thơ cũng có tuổi, cũng già nua theo ngày tháng như người đã sáng tác ra nó?  Theo tôi, chắc hẳn là không đúng rồi, vì thơ có khác gì nhạc, thơ và nhạc làm gì có tuổi tác, thơ cũng như nhạc, cả hai đều trẻ mãi không già, chúng sẽ sống mãi trong tâm hồn, trái tim và khối  óc của chúng ta….thơ và nhạc thi vị hóa cuộc sống của mọi người….thơ và nhạc giúp chúng ta mãi vui, trẻ và khỏe…. mãi mãi……trong tâm hồn của chúng ta…..

  • Tin tức

    Nhà văn Hồ Trường An Từ Trần

    https://vietbao.com/images/file/mD0UXQuk1wgBAPxT/ho-truong-an.jpg

    PARIS, Pháp (VB) — Nhà văn Hồ Trường An đã từ trần hôm mùng 3 Tết (tức ngày 27/1/2020) tại Troyes, Pháp quốc, theo tin từ nhà văn Nguyễn Vy Khanh được tin từ gia đình người ra đi. Được biết, Hồ Trường An là em của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ.
     

    Khi tường trình buổi ra mắt sách ‘Quê Nam Một Cõi’ của nhà văn Hồ Trường An tại San Jose hôm chủ nhật ngày 4-11-07, nhà báo Trần Củng Sơn trong bản tin trên Việt Báo đã ghi nhận về Hồ Trường An, tác phẩm và ảnh hưởng của ông, trích:
     

    “Tên thật là Nguyễn Viết Quang, sinh năm 1938 tại Vĩnh Long, Hồ Trường An đã từng cộng tác các báo ở Sài Gòn trước năm 1975 và khi ra hải ngọai tiếp tục sáng tác hăng say với mấy chục tác phẩm gồm truyện dài Phấn Bướm (1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Đàn Trăng Quạt Bướm (2005), tập truyện như Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998), Quà Ngon Đất Nam (2003), bút khảo như Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ ( 2002), thơ như Thiên Đường Tìm Lại (2002), Vườn Cau Quê Ngọai (2003).

    Cuốn bút khảo Quê Nam Một Cõi viết về những nhà văn gốc Nam Bộ từ Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Sơn Nam, Xuân Vũ, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Phương Triều, Lê Xuyên, Anh Vân, Song Thi, Tiểu Thu, Dư Thị Diễm Buồn, Hòang Xuyên Anh, Ngọc An, Vũ Nam.

    Trước buổi ra mắt sách, một số chương trình phát thanh tại San Jose đã phỏng vấn Hồ Trường An về sinh họat viết văn của ông, tạo không khí văn chương hào hứng dành cho một tác giả gốc miền Nam được coi là một trong những người có sách xuất bản nhiều nhất hải ngọai.

    Nhà văn nữ Ngọc An và Hòang Xuyên Anh đã đứng ra tổ chức buổi ra mắt sách qui tụ đông đảo người tham dự. Có thêm Vũ Nam đến từ Đức Quốc, Anh Vân từ Nam Cali.

    Nhà văn Diệu Tần đã đọc bài nhận xét về tác giả và tác phẩm dài 4 trang giấy. Khách đến mong chờ nghe nhà văn Hồ Trường An kể chuyện duyên dáng như cách ông đã diễn tả trong những tác phẩm, nhưng ông chỉ tâm tình vài phút ngắn, cám ơn mọi người.

    Đây cũng là nét đặc biệt của một buổi ra mắt sách, một tác giả nổi danh, viết nhiều nhưng lại nói ít…” (ngưng trích)
      

    Đài Á Châu Tự Do RFA trong một bài viết của Mặc Lâm ngày 16-10-2016 ghi nhận về Hồ Trường An:

    “Sự nghiệp sáng tác của Hồ Trường An khó thể nói là khiêm nhường, với 22 truyện dài, 10 tập truyện, 16 bút khảo, ký sự, bút ký và 3 tập thơ được xuất bản, đó là chưa kể những bài viết rời ông cộng tác với các tạp chí trong nước và hải ngoại suốt gần 50 năm cầm bút.

    Lãng mạn miệt vườn
    Văn phong Hồ Trường An gần gũi với những cây bút miền nam nổi tiếng từ Hồ Biểu Chánh tới Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc và cả Lê Xuyên. Người đọc ông có thể tìm thấy cái hương vị miền Nam đậm đặc trong từng hơi thở của nhân vật nhưng người đọc cũng dễ dàng phát hiện ra cái sâu thẳm hơn trong Hồ Trường An bởi tính chất lãng mạn của một ngòi bút bật ra quá nhiều tỉ mẩn của một cô con gái dính liền với thôn dã.

    Là một người đồng tính, Hồ Trường An không hề có ý định che giấu giới tính của mình; văn chương của ông như sợi lụa mỏng manh nhưng dai dẳng cột chặt người đọc từ trang này sang trang khác qua những lời kể dông dài nhưng quyến rũ về các câu chuyện của một thời xa xưa, lúc đồng bằng sông Cửu trong giai đoạn hình thành.

    Hồ Trường An làm cho nhiều người đọc say sưa bởi tính chi li tỉ mẩn của ông qua từng trang sách. Tả về người đàn bà hay bất cứ điều gì có liên quan đến công dung ngôn hạnh là chừng như rồng gặp nước, ông không biết dừng và chính tính chất đặc biệt này đã giúp ông đứng riêng một cõi.” (ngưng trích)
     

    Tiểu sử và danh sách tác phẩm Hồ Trường An có thể đọc trên trang Cỏ Thơm Magazine:

    “HỒ TRƯỜNG AN

    Tên thật Nguyễn Viết Quang. Sinh ngày 11/11/1938 tại Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long. Tốt nghiệp Khóa 26 (1968) Trường Bộ Binh Sĩ Quan Thủ Đức. Trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị tại hai Chi Khu Trị Tâm và Lái Thiêu (tỉnh Bình Dương) từ năm 1969 tới năm 1971. Sau đó phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và Quân Khu 3 (tỉnh Biên Hòa) cho tới tháng 4/75. Cư ngụ tại Troyes, Pháp.
    Trong nước, đã cộng tác với các báo: Bách Khoa, Tin Văn, Tin Sách, Tranh Thủ, Tiền Phong, Tiền Tuyến, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Bút Hoa…
    Ra hải ngoại, cộng tác với các báo: Quê Mẹ, Hồn Nước, Đất Mới, Văn, Văn Học Nghệ Thuật, Văn Học, Bút Lửa, Lạc Hồng, Viên Giác, Đẹp, Tự Do (Texas), Tự Do (Canada), Chiêu Dương, Xây Dựng, Lửa Việt, Làng Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Hải Ngoại Nhân Văn, Cỏ Thơm…

    Trong Ban Biên Tập của Cơ Sở Cỏ Thơm

    TÁC PHẨM CỦA HỒ TRƯỜNG AN

    Truyện dài:

    Phấn Bướm (1986), Hợp Lưu ( 1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Lúa Tiêu Ruộng Biền (1989), Ngát Hương Mật Ong (1989), Còn Tuôn Mạch Đời (1990), Lối Bướm Đường Hương (1991), Tình Trong Nhung Lụạ (1991), Ngát Thơm Hoa Bưởi Bông Trà (1992), Tình Đẹp Đất Long Hồ (1993), Trang Trại Thần Tiên (1993), Vùng Thôn Trang Diễm Ảo (1994), Thuở Sen Hồng Phượng Thắm (1995), Chân Trời Mộng Đẹp (1995), Bãi Gió Cồn Trăng (1995), Bóng Đèn Tà Nguyệt (1995), Tình Sen Ý Huệ (1999), Hiền Như Nắng Mới (2001), Chiếc Quạt Tôn Nữ (2002), Màn Nhung Đã Khép (2003), Đàn Trăng Quạt Bướm (2005), Trở Lại Bến Thùy Dương (2009).
     

    Tập Truyện:

    Chuyện Quê Nam (1991), Tạp Chủng (1991), Hội RẫyVườn Sông Rạch (1992), Chuyện Miệt Vườn (1992), Đồng Không Mông Quạnh (1994), Gả Thiếp Về Vườn (1994), Đêm Xanh Huyền Hoặc (1994), Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998), Tập Truyện Ma (2001), Quà Ngon Đất Quê Nam (2003), Trăng Xanh Bên Trời Huế (2009), Truyền Kỳ Trên Quê Nam (2009).
     

    Ký Sự, Bút Khảo, Bút Ký:

    Giai Thoại Hồng (1988), Thông Điệp Hồng (1990), Cõi Ký Ức Trăng Xanh (1991), (Chân Trời Lam Ngọc I (1993), Chân Trời Lam Ngọc II (199(1995), Sàn Gỗ Màn Nhung (1996), Cảo Thơm ( 1998), Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Tác Phẩm Đẹp Của Bạn (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát I (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát II (2001), Lai Láng Dòng Phù Sa (2001), Thập Thúy Tầm Phương (2001), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ (2002), Tập Diễm Ngưng Huy (2003), Chân Dung Những Tiếng Hát III (2003), Bảy Sắc Cầu Vồng (2004), Giai Thoại Văn Chương (2006), Náo Nức Hội Trăng Rằm (2007), Thắp Nắng Bên Trời (2007), Quê Nam Một Cõi ( 2007), Giữa Đất Trời Giao Hưởng ( 2008 ), Non Cao Vực Thẳm ( 2011), Ảnh Trường Kịch Giới ( 2012 ), Trên Nẻo Đường Nắng Tới.
     

    Tập Thơ:

    Thiên Đường Tìm Lại ( 2002), Vườn Cau Quê Ngoại (2003).”

  • Văn Thơ

    HỒ TRƯỜNG AN MỘT TÂM HỒN ĐẪM TÌNH QUÊ

    Đỗ Bình

    Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1938 ở làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long và qua đời tại Troyes ngày 27.1.2020. Các bút hiệu khác: Đào Huy Đán, Đông phương Bảo Ngọc, Nguyễn thị Cỏ May. Ông di cư sang Pháp ở tỉnh Troyes và sống đến cuối đời. Thuở nhỏ ông học các trường Tống Phước Hiệp, Nguyễn Đình Chiểu, Chu Văn An, Đại học Dược khoa. Tốt nghiệp khóa 26 trường Sĩ Quan Thủ Đức. Trưởng ban Chiến Tranh Chính Trị tại hai Chi Khu Trị Tâm và Lái Thiêu (tỉnh Bình Dương) từ năm 1969 tới năm 1971. Sau đó phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và Quân Khu 3 (tỉnh Biên Hòa) cho tới tháng 4 năm 1975. Hồ Trường An làm thơ rất sớm thỉnh thoảng có những bài thơ học trò tâm sự của ngời trai mới lớn, đến khi là sinh viên trường Dược ông đã chuyển sang văn xuôi, viết báo, từng làm phóng viên kịch trường cộng tác với Bách Khoa, Minh Tinh, Tiền Tuyến, Tiền Phong, Tin Văn, Tin Sách , Tiểu Thuyết Tuần San, Tranh Thủ, Tiểu, Bút Hoa. Khi vào quân đội ông được đưa về phục vụ trong Ban thông tin báo chí. Sau năm 1975 ra hải ngoại ông tiếp tục làm báo và cộng tác với các báo: Quê Mẹ, Hồn Nước, Đất Mới, Văn, Văn Học Nghệ Thuật, Văn Học, Bút Lửa, Lạc Hồng, Viên Giác, Đẹp, Tự Do (Texas), Tự Do (Canada), Chiêu Dương, Xây Dựng, Lửa Việt, Làng Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Hải Ngoại Nhân Văn, Cỏ Thơm,.. Ông từng là tổng thư ký tòa soạn Quê Mẹ (Pháp) và Làng Văn (Canada) trong một thời gian.  Chính nhờ cộng tác với nhiều tạp chí đã  tên tuổi của Hồ Trường An đến với nhiều đọc giả khắp nơi ở hải ngoại và quen biết thêm nhiều văn nghệ sĩ và bạn đọc khắp nơi.

    Nhà văn Hồ trường An tính tình hiền hòa đôn hậu nhưng dễ nóng! Để khắc phục sự nóng nảy ông Thiền định pháp danh là Thiện Tĩnh và ăn chay trường suốt mấy chục năm cho đến lúc giã từ cõi đời. Hồ Trường An là người ham học, đọc sách rất nhiều nên kiến thức uyên bác. Ông nghiên cứu sâu sắc về những tư tưởng triết học của nhiều nhà tư tưởng triết gia trên thế giới, am tường nhiều loại thể hình văn học nghệ thuật. Dù nổi tiếng nhưng trong tâm hồn ông chưa thật sự bình thản vì trong nền văn hóa cũ giới tính vẫn bị nhìn một cách khắt khe còn gò bó, bảo thủ nên ông cảm thấy bị phiền lòng khi nghe thị phi về giới tính. Vấn đề lưỡng tính của Hồ Trường An là có cảm tình và hấp dẫn của hai giới mam nữ. Có lẽ kể từ khi ông viết tập thơ  Thiên Đường Tìm Lại một loại  thi văn dục ái, được Nhà thơ TS Lưu Nguyễn Đạt viết lời tựa :« ..thi văn dục ái chân chính nhằm mục đích khai phóng những yếu tố căn bản của dục cảm, dưới hình thức xúc cảm toàn giác. Thi văn dục ái đã gắn bó người với người bằng thỏa mãn đam mê toàn diện, nhằm phúc hồi lẽ sống chân thành ua sáng tạo cởi mở. Thể xác, xúc cảm và tâm linh được nhắc nhở thỏa mãn trong chân tình hòa hợp. Theo chiều hướng đó, những dòng thi văn tâm linh và lãng mạn trên thế giới , qua những thời điểm khác nhau đều xác định và ca tụng tình yêu dưới hai khía cạnh tâm ái (spiritual or platonic love) và dục ái tới mực độ bổ xung toàn diện (total/absolute love) như một thể cách khai phóng nhân bản để hội nhập vào toàn thế giới hiện sinh…»

    Nhà Biên khảoTS Trần Bích San viết trong lời giới thiệu thi tập Thiên Đường Tìm Lại: «Mặc Khải Trong Thi Ca. Thi Ca Dục  Ái Xuất Hiện Từ Lâu Trong Văn Chương Truyền Khẩu. Phong Dao, Tục Ngữ, Câu Đố Có Những Bài, Những Câu Liên Quan Đến Tính Dục Nam Nữ…. Thơ dục ái Hồ Trường An không hoằng dương nhục cảm. Nhà thơ sử dụng nó như phương tiện chuyên chở nghệ thuật, gây thích thú thưởng ngoạn, kích thích giác uan thẩm mỹ tạo ra không khí trân trọng nghệ tghuật. Tình yêu trong thơ Hồ Trường An là sự thăng hoa toàn diện, triệt để, vô hạn giữa tâm hồn và thể xác, giữa cá nhaạn với uê hương, giữa con người với thiên nhiên… »

    Cũng trong thời gian đó nhà văn Hồ Trường An bằng lòng chấp nhận  trả lời cuộc phỏng vấn của nhà phê bìnhThụy Khuê trên đài RFI ông mới công khai về giới tính, Câu lạc Bộ Văn Hóa VN Paris mời ông thuyết trình đề tài văn học, những bằng hữu văn nghệ sĩ xa gần đều trân trọng tài năng và ủng tinh thần ông, điều đó đã giúp nhà văn mạnh dạn  rũ bỏ mặc cảm giới tính. Ở hải ngoại trong sinh hoạt đời thường và sinh hoạt trong giới văn nghệ nhà văn Hồ Trờng An thích dao du quen với những nhà văn nữ vì qua họ ông tìm thấy mình có điểm chung, và sự giao thiệp với những người nhưng quanh vẫn bình thường. Nhà văn Hồ Trường An rất chân thành và qúy tình bạn, những ai đã từng quen biết ông ở xa sang thăm Paris ông biết được, dậy sớm lấy xe lửa từ Troyes lên Paris gặp mặt, mời ăn sau đó đón xe lửa trở về. Ông thích làm nghệ thuật và  quan niệm  ‘cầu tinh bất cầu đa’ nên viết cẩn thận,  mỗi cuốn là một thông điệp gởi gấm. Dù ông sống toàn thời bằng nghề cầm bút và có nhiều tác phẩm bán chạy nhưng vẫn không khá giả t ài ch ánh vì thời nay người ta thích đọc trên internet hơn mua sách nên thị trường sách ngày càng ế ẩm ! Nhà văn nặng nợ với chữ nghĩa, là nghiệp dĩ nên Hồ Trường An vẫn đeo đưổi. Khác với những Bạn văn của ông họ đi làm chuyên môn để nuôi nghiệp, riêng ông vẫn miệt mài kiên trì với nghề cầm bút dù chẳng dư giả mà lòng thanh thản. Tim ông chan chứa tình người, tình quê, một tấm lòng bao la nhân ái luôn chia phần của mình làm một chút quà nhỏ gởi về giúp các bạn văn nghệ sĩ khốn khó hơn ở quê nhà. Năm ông 65 tuổi được lãnh tiền già ông gọi phôn cho tôi sung sướng nói : «Từ đây tôi sẽ viết cho tôi, viết theo những điều mình suy nghĩ và thích !».  

    Nhà văn Hồ Trường An cư ngụ ở tỉnh Troyes thuộc vùng Chamgpagne Ardenne, cách Paris 160 Km về hướng Đông Nam. Đây một thành phố cổ nhiều di tích lịch sử thời Phục hưng thuộc văn hóa quốc gia, nhờ sống nơi yên tĩnh nên ông đã dành toàn thì giờ cho sự nghiệp cầm bút để viết báo và viết tiểu thuyết. Nhà văn vốn sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học, có cha là nhà văn Mặc Khải, cô là Thi sĩ Phương Đài và chị ruột là nữ sĩ Nguyễn thị Thụy Vũ, Bà từng đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1970 với tác phẩm «Khung Rêu Trắng». Trước năm 1975 hai chị em ông rất được nhà văn Võ Phiến một cây bút thành danh có văn phong chau chuốt thương mến, nhưng Hồ Trường An lại thích khuynh hướng văn chương tiểu thuyết có ngôn ngữ địa phương của nhà văn Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, nhà văn Sơn Nam nên Hồ Trường An bị ảnh hưởng chất miệt vườn Miền Nam chiếm tâm hồn. Do đó văn phong của Hồ Trường An có chút nửa quê nửa tỉnh, câu văn mộc mạc nhưng  ý sâu sắc khi diễn tả về một chân dung, một sự vật một cách tỉ mỉ tài tình thắm đầy tình của người dân miệt vườn Miền Nam. Từ cuốn truyện dài Phấn Bướm ấn hành 1986, cuốn Hợp Lưu 1986, Lớp Sóng Phế Hưng(1988) đến nay ông đã xuất bản được gần 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại gồm Truyện Dài, tập Truyện Ngắn, tập Biên Khảo, Ký Sự, Bút Ký và 2 tập thơ : Thiên Đường Tìm Lại (2002), và Vườn Cau quê Ngoại (2003). Nhà văn Hồ Trường An có một trí nhớ rất đặc biệt, ông nhớ tỉ mỉ về một người mà ônt chỉ gặp một lần. Năm 2008 ông bị tai biến mạch máu não toàn thân bất động lúc đầu không nói được và trí nhớ cũng quên ! Sau một thời gian điều trị trí nhớ của ông được khôi phục và đã dần dần nói được dù rất khó khăn. Từ lúc ông bị bại liệt, nhờ sức mạnh văn chương thúc đẩy đã giúp ông nhiều nghị lực vượt qua những khó khăn bệnh tật để thực hiện được những tác phẩm biên khảo mà chỉ gõ máy bằng một ngón tay, đó là cuốn Núi Cao Vực Thẩm (2012), viết về 9 vóc dáng văn học Việt Nam của Thế Kỷ 20 : Nguyễn Ngọc Bích, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Thụy Khuê, Vũ Tiến Lập, Võ Phiến , Đặng Phùng Quân, Trương Anh Thụy, Thanh Tâm Tuyền.

    Cuốn : Ảnh Trường Kịch Giới(2012), ký ức về điện ảnh VN. Cuốn Trên Nẻo Đường nắng Tới (2013) Nhận định văn học về Những khuôn mặt nổi tiếng trong giới văn học trong và ngoài nước như :GS Nguyễn Ngọc Bích, Nhà phê bình văn học Thụy Khuê, Nhà văn Đặng Phùng Quân, Nhà văn Dương Nghiễm Mậu, Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, Nhà văn Vĩnh Hảo, Nhà văn Hàn Song Tường, Họa sĩ Võ Đình, Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, Nhà văn Nguyễn thị Thụy Vũ.
      Ở Pháp có 3 nhà văn một đời yêu văn chương chữ nghĩa dù sức khỏe yếu đuối bệnh tật nhoàn cảnh sáng tác rất khó khăn nhưng vẫn miệt mài hoàn thành những tác phẩm cho đời đến lúc lìa đời mới bỏ bút: Nhà văn An Khê chỉ còn một tay, viết văn gõ máy chữ một tay hoàn thành tác phẩm Từ Khám Lớn Tới Côn Đảo( Làng Văn xuất bản 1992). Nhà văn Duyên Anh : bán thân bất toại phải viết bằng tay trái nhưng vẫn đã hoàn thành nhiều tác phẩm tiểu thuyết cũng như âm nhạc đến cuối đời vẫn còn một số tác phẩm vẫn in. Cuốn  Danh Ná  viết ở Sài gòn tháng 7 năm 1982. Cuốn Nhóc Tì Phản Động  viết xong 16 tháng 2 năm1986, sau khi nhà văn Duyên Anh mất năm 2017 con của ông xuất bản thêm hai cuốn…và còn nhiều tập truyện chưa xuất bản. Nhà văn Hồ Trường An đã cố tập luyện để khắc phục bệnh tật, từ lúc bị bại liệt gõ PC bằng một ngón tay đến ngày cuối đời được thêm một số tác phẩm hơn 30 cuốn, mỗi cuốn mấy trăm trang.                              

    Các tác phẩm đã xuất bản :   
    Truyện dài: Phấn Bướm (Làng Văn, 1986), Hợp Lưu (Văn Nghệ, 1986), Lớp Sóng Phế Hưng (1988), Lúa Tiêu Ruộng Biền (1989), Ngát Hương Mật Ong (Làng Văn, 1989), Còn Tuôn Mạch Đời  (1990), Lối Bướm Đường Hương (1991), Tình Trong Nhung Lụạ (1991), Ngát Thơm Hoa Bưởi Bông Trà (1992), Tình Đẹp Đất Long Hồ (1993), Trang Trại Thần  Tiên (1993),  Vùng

    Thôn Trang Diễm Ảo (1994), Thuở Sen Hồng Phượng Thắm (1995), Chân Trời Mộng Đẹp (1995),  Bãi Gió Cồn Trăng (Làng Văn, 1995), Bóng Đèn Tà Nguyệt  (1995), Tình Sen Ý Huệ (1999), Hiền Như Nắng Mới (2001), Chiếc Quạt Tôn Nữ (2002), Màn Nhung Đã Khép (2003), Đàn Trăng Quạt Bướm (Làng Văn, 2005), Trở Lại Bến Thùy Dương (Làng Văn, 2009).

     Tập truyện: Chuyện Quê Nam (Làng Văn, 1991), Tạp Chủng (Làng Văn, 1991), Cõi Ký Ức Trăng Xanh (Làng Văn, 1991), Hội RẫyVườn Sông Rạch (1992), Chuyện Miệt Vườn (1992), Đồng Không Mông Quạnh (1994), Gả Thiếp Về Vườn (Làng Văn, 1994), Đêm Xanh Huyền Hoặc (1994), Chuyện Ma Đất Tân Bồi (1998), Tập Truyện Ma (2001), Quà Ngon Đất Quê Nam (2003),  Trăng Xanh Bên Trời Huế (Làng Văn, 2009), Truyền Kỳ Trên Quê Nam (Làng Văn, 2009), 

     Ký sự, Bút khảo, Bút ký: Giai Thoại Hồng (1988), Thông Điệp Hồng (1990), (Chân Trời Lam Ngọc I (1993), Chân Trời Lam Ngọc II (199(1995), Sàn Gỗ Màn Nhung (1996), Cảo Thơm ( 1998), Theo Chân Những Tiếng Hát (1998), Tác Phẩm Đẹp Của Bạn (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát I (2000), Chân Dung Những Tiếng Hát II (2001), Lai Láng Dòng Phù Sa (2001), Thập Thúy Tầm Phương (2001), Chân Dung 10 Nhà Văn Nữ (2002), Tập Diễm Ngưng Huy (2003), Chân Dung Những Tiếng Hát III (2003), Bảy Sắc Cầu Vồng (2004), Giai Thoại Văn Chương (2006), Náo Nức Hội Trăng Rằm (2007), Thắp Nắng Bên Trời (2007), Quê Nam Một Cõi (2007), Giữa Đất Trời Giao Hưởng ( 2008 ), Núi Cao Vực Thẳm ( 2012), Ảnh Trường Kịch Giới ( 2012 ), Trên Nẻo Đường Nắng Tới(2013). Cảo Thơm, Giữa Đất Trời Giao Hưởng, Lần Giở Trước Đèn, Cây Quỳnh Cành Dao, Những Khuôn Mặt Văn Chương…v..v…
    Tập thơ: Thiên Đường Tìm Lại (2002), Vườn Cau Quê Ngoại (2003). Cho Tôi Sống Lại Một Ngày.

    Từ bao lâu nay người ta tranh cãi về những chuẩn mực trong văn học nghệ thuật giữa cái hay và cái dở. Trong khi đó thích hay không thích chỉ là chủ quan của người đọc. Phần chính yếu của nghệ thuật chính là  cảm nhận chủ quan. Ngày nay người làm thơ ngày càng nhiều, đó là điều đáng mừng vì tâm hồn thơ sẽ giúp cho đời thêm hoa bớt đi sự cay đắng. Nữ sĩ Minh Châu GS Thái Hạc Oanh trong Ba Lê Thi Xã, thuộc hoàng phái, cháu của Thi sĩ Tùng Thiện Vương thời quân chủ đặt câu hỏi: “Tại sao có những bài gọi là thơ mà không phải là thơ, văn xuôi khác thơ ở điểm nào?
    Có lẽ chưa có một định nghĩa nào chuẩn mực cho thơ nhưng phải chăng một bài viết cẩu thả, viết cho lấy có chỉ dựa vào thể tự do để gọi là “thơ” thì chưa chắc đã là một bài thơ và cũng không thể gọi là văn xuôi? Phải chăng thơ hiện đại và tự do rất gần gũi với văn xuôi ? Nhưng làm một bài thơ tự do hay, hoặc một bài thơ hiện đại hay thì rất khó ! Nhưng khi đã thành thơ thì bài đó sẽ đặc sắc và độc đáo, một bài thơ hay phải bao gồm mỹ học và ý thơ.

    Quan niệm sáng tác của nhà văn Hồ Trường An là sự dựa trên chủ quan, trong cuốn :Trên Nẻo Đường Nắng Tới của ông : «Tác phẩm này chỉ rọi sáng một đoạn văn chương…. Có thể có nhiều qúy độc giả cho rằng bút gỉa chủ quan trong việc chọn lựa những quyển sách theo cảm quan riêng biệt của mình mà không đến xỉa đến cảm quan của độc giả và không nghĩ gì đến giá trị đích thực của nghệ thuật. Nhưng biết sao hơn. Bút giả làm chuyện trái ngược với cách cư xử của Tào Mạnh Đức(Tào Tháo). Quan niệm của ông ta thà giết lầm mười người, còn hơn tha lầm một người. Bút giả thì cam chịu ngu si vì tha lầm người gian lẫn người ngay, không cần biết ai gian ai ngay. Hễ những sách nào mà bút giả không ưa thích thì dù được thiên hạ cho là siêu phẩm, tuyệt phẩm đi nữa thì bút giả gia công đọc đi đọc lại để sưu khảo cái tinh hoa của chúng. Còn nói gì những sách mà tác giả hâm mộ thì viết về chúng một cách trơn chu thống khoái.» 

    Trong một sinh hoạt Văn học Nghệ thuật  do Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris tổ chức năm 2004 nhà văn Hồ Trường An thổ lộ tâm tình lúc ông chưa bị bệnh. Hôm đó quy tụ nhiều khuôn mặt nổi tiếng ở Paris và văn thi sĩThụy Cầm Dương Huệ Anh từ Cali sang : Nhạc sĩ,GS Lê Mộng Nguyên, Nhạc sĩ Xuân Lôi, Nhạc sĩ Trịnh Hưng, Nhạc sĩ Trọng Lễ,  Nhạc sĩ, DS Nguyễn Đình Tuấn,GS Âm nhạc Quỳnh Hạnh. Nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oánh, Nữ sĩ Quỳn Liên, Nữ sĩ Thụy Khanh, Nữ sĩ Hà Lan Phương,
    Học giả, GS Võ Thu Tịnh Nhà thơ Vân Uyên GS Nguyễn Văn Ái, Nhà thơ Phương Du BS Nguyễn Bá Hậu, BS Nguyễn Bá  Linh, Nhà Thần  học TS Nguyễn Tấn Phước, Nhà Biên Khảo Liều Phong, GS Nguyễn Ngọc Chân, GS Nguyễn Bảo Hưng, Nhà văn, GS Trần Đại Sĩ, Nhà văn Võ Đức Trung, Nhà văn Hồ Trường An, Văn Thi sĩ, Nhà thơ Đỗ Bình, Danh họa René, Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng, Điêu khắc gia Vương Thu Thủy, Nghệ sĩ Diệu Khánh, Nghệ sĩ Linh Chi, Nghệ sĩ Thúy Hằng, Kim Lan. ..vv….

    Nhà văn Hồ Trường Ann tác giả gần 50 đầu sách gồm  trtuyện dài, tiểu thuyết, bút ký, biên khảo, nhân định và phê bình.

    Nhà văn Hồ Trường An:
    «Thưa các bậc niên trưởng, và qúy văn hữu:Tôi làm văn nghệ tùy vào cảm hứng vui đâu chuốc đó chứ không nhất định cái gì, nếu cảm thấy hứng là làm. Cần phê bình là phê bình, khi tôi viết về biên khảo  không phải là viết toàn sự nghiệp văn học của tác giả nào, mà viết từng cuốn chứ không dám ôm đồm. Nếu có cảm hứng làm thơ thì làm những bài thơ Đường, vui đâu chuốc đó. Tôi có một đức tính: Nếu ai khen thì cũng mừng, còn ai chê thì cũng rán chịu trận chứ không một lời nào đính chính trên báo hết. Bởi càng đính chính thì càng làm cho người ta làm dữ !. Do đó ai chê tôi thì chê ; ai khen thì mừng tôi không có một phản ứng, thật ra tôi không có buồn, mình làm một món ngon người này ăn thì khen người kia ăn thì chê, kẻ thích mì người thích hủ tíu, còn có người ăn mì ăn hủ tíu nhiều quá lại thích ăn bún riêu. Qúy vị đã đọc qua cuốn biên khảo «Thập Thúy Tầm Phương», gồm có :Nhà thơ Vi Khuê, Nhà thơ Hoàng Ngọc Liên, Nhà thơ Diên Nghị, Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Dung, Nhà văn Bình Huyên, Nhà văn Linh Linh Ngọc, Nhà thơ Phương Triều, Nhà thơ Nguyễn Văn cường, Nhà thơ Đỗ Bình, Nhà thơ Dư Thị Diễm Buồn. Cuốn biên khảo thứ tư tôi đang viết là cuốn «Tập Diễn Ngưng Huy» trong đó có hai người hiện diện ở đây là anh Võ Đức Trung và chị Thụy Khanh: Tôi xin giải thích cái tựa sách: Tập: kết tập, Diễm là đẹp, Ngưng là ngưng lại, Huy là ánh sáng, ánh sáng ngưng đọnglại tôi rút ra từ Hồng Lâu Mộng chứ không phải do tôi đặt. Tóm lại tôi không có chủ trương gì lớn lao, tôi không có tham vọng. Xin dứt lời.»

    Nhà văn Hồ Trường An tâm sự vói tôi cho biết trong những tác phẩm đã viết  ông chỉ hài lòng ở những tác phẩm là văn chương đích thực, còn một số khác chỉ là truyện kể! Hầu như những người nổi tiếng ở hải ngoại đều được ông viết nhận định, phê bình về tác giả và tác phẩm của họ, nhưng rất ít người viết về ông. Đối với những nhà phê bình văn học chuyên nghiệp để phân tích văn chương, ý tưởng trong tiểu thuyết của ông không quá  khó, nhưng phân tích tỉ mỉ tâm lý nhân vật trong một số truyện của ông lại rất khó, vì bản thân ông có lưỡng tính nên khi diễn tả về những nhân vật nam hay nữ đôi khi có sự lẫn lộn nam tính nà nữ tính trong tác phẩm! Nhà văn thừa nhận điều này nhưng lại không cho biết ở những câu đối thoại nào trong tác phẩm. Tối 30 Tết tức ngày 24 tháng 01 năm 2020 nhà văn Hồ Trường An phôn nói chuyện với tôi rất lâu, đây là lần cuối cùng của ông. Điều tôi rất ngạc nhiên giọng nói của ông lần này nghe rất trẻ và rõ ràng vì dã lâu, kể từ khi ông bị bệnh giọng nói trở nên không rõ ! Trong suốt thời gian gian dài nhiều năm ông thường xuyên liên lạc với tôi, có những khi ngày gọi  phôn 2,3 lần để trao đổi những chuyện liên quan đến văn học nghệ thuật. Ông là một thành viên của Câu Lạc Bộ văn Hóa VN Paris, lúc còn khỏe đã nhiều lần ông lên Paris diễn thuyết về đề tài văn học. Trong cuốn Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải Ngoại mà ông là một thành viên trong Ban Biên Tập, lúc đầu ông gởi tham gia những bài của ông đã được in sách và xuất bản về những tác giả Mai Thảo, Trần Long Hồ, Thụy Khuê, bài đã được toàn ban thuận  đưa vào sách. Thế nhưng sau một thời gian ông đã rút lại những bài đó, và đề gởi riêng cho tôi bài Giới Tính Trong Văn Chương , ông nhấn mạnh đây là bài độc đáo, một bài tâm huyết và đắc ý nhất vì nó dám nói lên những điều thuộc giới tính còn húy kỵ trong quan niệm cổ truyền của người Việt.

    Ông giã từ cõi đời một cách đột ngột để thả hồn vào một giấc ngủ say. Ông đã rũ bỏ những buồn phiền nhân thế, những nỗi buồn nhớ quê mà suốt đời lưu vong  ông chưa một lần trở lại. Giã từ chiếc xe lăn theo áng mây bồng bềnh bay về cõi miên viễn.

    Đỗ Bình
    Paris 6 .2.2020