• Khánh Lan,  Tin tức,  Văn Thơ

    NGÀY VUI HỘI NGỘ

    Khánh Lan

    Sau hơn hai năm vắng bóng vì đại dịch COVID 19, Liên Nhóm NVNT & TTG hân hoan trở lại với những sinh hoạt về văn học, nghệ thuật và âm nhạc. Buổi họp mặt đã diễn ra trong khung cảnh thân mật và ấm cúng tại nhà hàng Diamond Seafood Palace III thuộc thành phố Westminster, California với sự hiện diện của rất nhiều nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng Hải ngoại.

    Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của Giáo Sư (GS) Dương Ngọc Sum, GS Quyên Di, GS Lê Tinh Thông, v.v… Các nhà thơ (NT): Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, NT Việt Cường Lưu Tấn Lâm, NT Hồng Vũ Lan Nhi, NT Nga Nguyễn. Các Nhà văn (NV): NV Việt Hải, NV Kiều Mỹ Duyên, NV Nguyễn Quang, NV Thùy Vân, NV Triều Lam, NV Kiều My, NV Lê Thị Việt Nam. Ngoài ra Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của Bác Sĩ Nguyễn Trọng Việt, Khoa Học Gia Nguyễn Viết Kim và Tiến Sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh. Ký Giả Trần Nguyên Thao. Hai Nhiếp ảnh gia Phú LeVan và Hannah Hà, Nhạc Sĩ Võ Tá Hân và Chủ tịch công ty dược thảo Princess Lifestyle, ông John Tạ và phu nhân, bà Susan Tạ.

    Khánh Lan cũng ghi nhận có sự hiện diện của cựu Đại tá Lê Thương, Chỉ huy trưởng Pháo binh, SĐ 2 Bộ Binh; cựu Đại tá Lê Bá Khiếu, Tỉnh Trưởng Quảng Ngãi; cựu Trung tá Hà Văn Thức, Chỉ huy trưởng quân nhu bốn vùng chiến thuật; cựu Thiếu tá Nguyễn Văn Nhường, TĐ 34 Pháo binh.

    Buổi họp mặt với ba mục đích: NVNT & TTG hội ngộ, tưởng niệm Nữ Sĩ MDHT và mừng ngày lễ Father’s Day. Sau nghi thức chào Quốc Kỳ tháp tùng với NV Nguyễn Quang là NS Võ Tá Hân và Phu Nhân đại diện cho hội lên thắp nhan tưởng niệm Nữ Sĩ MDHT.

    NV Nguyễn Quang, NS Võ Tá Hân và phu Nhân

    Mở đầu chương trình với NVNT & TTG hành khúc do bạn hợp cả TTG trình bày. Ca khúc Bạn Bè Tôi, thơ của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, Nhạc Sĩ Lâm Dung phổ Nhạc. 

    Ban Hợp Ca Tiếng Thời Gian

    Bốn diễn giả được mời cho buổi tiệc gồm GS Quyên Di, ông nói về tiểu sử và sự nghiệp văn chương của Nữ Sĩ MDHT cũng như ý nghĩa của ngày lễ Father’s Day. NS Võ Tá Hân là cháu của Nữ Sĩ MĐHT, ông trình bày về những bài thơ phố Nhạc của bà.  Kế tiếp là NV Kiều My Duyên, bà kể về tình bạn giữa bà và Nữ Sĩ MDHT trong thời gian cả hai còn là phóng viên chiến trường. Cuối cùng là NV Nguyễn Quang, phu quân của Nữ Sĩ MDHT, ông tâm tình về những kỷ niệm đẹp của ông và nữ sĩ.

    Ca khúc KIẾP NÀO CÓ YÊU NHAU do Thụy Lan trình bày đã làm rung động con tim 150 quan khách hiện diện trong phòng và đưa hồn người về kỷ niệm của năm xưa khi bài thơ Kiếp Nào Có Yêu Nhau ra đời.

    Lệ nhòa trên gối trắng

    Anh đâu anh đâu rồi

    Rượu yêu nồng cây đắng

    Sao cạn mình em thôi.

     NS phạm Duy đã ghi nhận trên trang nhật ký của ông về cuộc gặp gỡ giữa ông và Nữ Sĩ MDHT năm 1944 tại Huế và được bà mời đến dinh thự Hương Trang ở Nam Giao chơi. Chính 4 câu thơ này đã là nguồn cảm hứng cho NS Phạm Duy phổ nhạc bài thơ bất hủ, Kiếp Nào Có Yêu Nhau năm 1950. 

    Thụy Lan với Kiếp Nào Có Yêu Nhau

    Vào đúng giờ Ngọ, một bữa cơm với những món ăn ngon được dọn ra, tiếng nói cười vang lên như tiếng pháo, tràn ngập cả căn phòng, lấn át tiếng nhạc và giọng ca của các thân hữu giúp vui trên sân khấu. Trên tường, Slideshow về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nữ Sĩ MDHT do NS Võ Tá Hân biên soạn vẫn chạy đều từ 10:00 sáng. Những video và CD nhạc của Nữ Sĩ MDHT được gởi tặng đến tay từng khách mời. Kết thúc bữa ăn trưa, Khánh Lan thay mặt Liên Nhóm NVNT & TTG mời 5 vị trưởng thượng lên sân khấu, đại diện cắt bánh chúc mừng những người cha cao niên & Trung niên.

    Sau cùng, là phần văn nghệ do MC Mộng Thủy và Thụy Lan đảm trách với những bài hát chọn lọc để tưởng nhớ đến công sanh thành và nuôi dưỡng của người cha. Bài hát Ngày Hạnh Phúc, một sáng tác của NS Lam Phương do GS Quyên Di và NV Kiều My trình bày đã nói lên được thiên chức cao quý cũng như sự tự hào của người cha khi đứa con đầu lòng cất tiếng khóc chào đời. Theo sau là những bài thơ phổ nhạc của Nữ Sĩ MDHT qua tiếng đàn Tây Ban Cầm của NS Võ Tá Hân, CNS Lâm Dung và CS Ái Liên: Mơ Thấy Mẹ Về, Viết Bài Thơ Này, Đợi Em Về, v.v…

    Chương trình bế mạc với những giọng ca trẻ như Ngọc Mai, Minh Châu, Mộng Thủy đã làm cho chương trình trở nên vui, nhộn và linh động. Thật là một ngày vui, ghi dấu một kỷ niệm đẹp trong lòng mọi người.

    Khánh Lan

    California, June 2021

  • Văn Thơ

    Cha mẹ già và con cái

    This image has an empty alt attribute; its file name is image-107.png

    *Lời rào trước

    “Biết rồi ! Khổ lắm ! Nói mãi!”
    (“Số Đỏ” – Vũ Trọng Phụng)

    Mới đây không lâu tôi nhìn thấy bảng số xe sau một xe nhà đòn (Người Mỹ họ gọi xe chở quan tài là “Hearse”- A vehicle for conveying the coffin at a funeral – Ở Việt Nam người ta gọi đùa xe tang là “Xe Hoa có 8 thằng lơ!”) đọc như sau:



    “U2” (You too! –
    Có nghĩa là “Sắp tới phiên Bạn!”)



    Thật vậy, tính sổ ra thì các sư phụ, sư mẫu hay chính bản thân quý vị và tôi cũng không là ngọai lệ (“no Exception to the Rule”).

     Để chuẩn bị tinh thần cho cái “Chapter 7” (*) và trong khi chờ đợi,  xin mời đọc thêm bài này cho biết mà… nản…

    * Nên biết: “Chapter 7” là giai đoạn cuối dẹp tiệm vĩnh viễn  sau khi đã khai khánh tận (“Chapter 11”) và đáo hạn rồi mà vẫn không thể có cơ may nào phục hồi nổi!!!)

    Thân mến,



    Trần Văn Giang

    *

    Ông Chu Dung Cơ, Cựu Thủ tướng Trung Cộng từ năm 1998 đến năm 2003, nói về mối liên hệ giữa cha mẹ già và con cái như sau:

    “Cha mẹ thương con là vô hạn, con thương cha mẹ là có hạn. Con bệnh cha mẹ buồn lo. Cha mẹ bệnh con đến nhòm một cái, hỏi vài câu thấy là đủ. Con tiêu tiền của cha mẹ thoải mái, cha mẹ tiêu tiền của con chẳng dễ chút nào. Nhà của cha mẹ là của con. Nhà của con không phải là nhà của cha mẹ. Khi ốm đau cha mẹ già  trông cậy vào ai? Nếu chẳng may ốm đau dai dẳng hiếm thấy có đứa con hiếu nào ở bên giường? (‘cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử?’”

    Rồi ông gởi lời khuyên đối với các bậc cha mẹ là:

    “Khác nhau là như vậy! Người hiểu đời coi việc lo cho con là nghĩa vụ, là niềm vui không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình. Mặc dù cũng có nhiều con cái có hiếu nuôi cha mẹ.”

    Theo sách “Luận Ngữ,” khi Tử Du hỏi về chữ Hiếu, Khổng Tử đáp:

    “Chữ Hiếu bây giờ được hiểu là có thể nuôi dưỡng cha mẹ. Nhưng ngay cả chó và ngựa cũng đều phải nuôi dưỡng. Nếu thiếu đi sự kính trọng, thì sao có thể phân biệt hai việc đó đây.”

    Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.”

    Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.

    Một người thợ hớt tóc cho tôi biết về con cái của ông ta.  Cả hai đứa con đều có nhà riêng, cùng ở trong quận Cam, nhưng không mấy khi chúng điện thoại hỏi thăm ông? Tháng trước, ông bệnh nặng, nằm nhà một tuần lễ mà cũng chẳng đứa con nào ghé qua thăm. Ông nói thêm:

    “Chỉ trừ lúc nào chúng cần nhờ đến ông việc gì đó thì chúng nó ghé qua hay gọi điện thoại thôi…”

    Ông buồn bã kết luận:

    “Ở Mỹ này, có đến chín đứa con, nhưng cha mẹ già bệnh thì cũng phải vào ‘nursing home’ thôi!”

    “Nursing home” ở Âu Mỹ, mang tiếng là văn minh, hiện đại nhưng liệu rằng đây có phải là nơi yên ổn cho những ngày cuối cùng của tuổi già không? Tại các viện dưỡng lão trên đất Mỹ mỗi năm có hàng chục nghìn trường hợp khiếu nại vì cách đối xử của nhân viên như bỏ bê, đánh đập; để người già đại tiểu tiện, ói mửa mà không dọn dẹp, không cho uống nước; xâm phạm tình dục; tệ hại nhất là đối với những bệnh nhân “Alzheimer.”

    Năm ngoái, phúc trình của Bộ Y Tế tiểu bang Minnesota cho thấy chỉ trong vòng 5 tháng đã có 15 trường hợp bệnh nhân mất trí nhớ bị hành hạ, trong đó có những vụ như bị chọc ghẹo liên tục, bị nhổ nước bọt vào mặt, bị bóp ngực hay hạ bộ. Phải chăng nhà dưỡng lão, chặng cuối đời của người già là chốn địa ngục có thật trên trần gian như thế!

    Vậy thì con cái có hiếu tâm, xin cầu nguyện cho các đấng sinh thành sớm ra đi trước khi họ trở thành những người mất trí lú lẫn, nằm suốt ngày một chỗ, tiêu tiểu không kiểm soát được. Thấy cha mẹ lớn tuổi mà còn minh mẫn, mạnh khỏe nên mừng, mà thấy cha mẹ ra đi nhẹ nhàng, trước khi phải chịu những cảnh đau lòng của tuổi già lại càng mừng hơn.

    Tuy vậy, rất nhiều gia đình người Việt trên xứ người có được niềm an ủi là họ có những đứa con Việt Nam; nhất là những đứa con của một gia đình nghèo, lớn lên trong chiến tranh và thông cảm được nỗi thiệt thòi bất hạnh của cha mẹ mình.

    Lời đón sau

    “Be nice to your children because they are the ones who will choose your nursing home(s).”

    – Steven Wright


    Trần Văn Giang

  • Âm nhạc,  Lê Nguyễn Nga

    Bài hát NẮNG CHIỀU qua tiếng Tàu (3 dialects), Nhật và Việt.

    Qua tiếng Tàu (3 dialects), Nhật và Việt

    Bài hát NẮNG CHIỀU của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn

    Inline image

           NẮNG CHIỀU là tên một ca khúc của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, được sáng tác năm 1952. Bài hát không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà còn nổi tiếng ở Nhật Bản, Đài Loan và Hồng Kông. Tại các nước nói tiếng Hoa, bài hát được biết đến với tên 越南情歌 (Việt Nam tình ca) hay 南海情歌 (Nam hải tình ca) do Thận Chi (慎芝) đặt lời.
           Trong một lần phỏng vấn, Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã nói: “Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 5 năm 1945, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!”
           Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Ðúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm, ban nhạc Toho Geino có nhờ người chọn ra 12 bản nhạc Việt Nam đang nổi tiếng thời đó để chuẩn bị tập dượt và trình diễn tại Sài Gòn lẫn Nhật Bản, trong đó có bản “Nắng Chiều” và bản này đã được cô ca sỹ nhật Midori Satsuki hát. Năm 1960 Kỹ Lộ Hà 紀露霞, một ca sỹ người Đài Loan, cô yêu mến bản Nắng Chiều nên viết sang lời Hoa ngữ và phổ biến bản này sang Ðài Loan bằng lời ca tiếng Phúc Kiến, sau đó được nữ nghệ nhân Thận Chi 慎芝 (Khưu Tuyết Mai 邱雪梅) viết lại lời bằng âm Quan Thoại phổ biến ở Hồng Kông và các nơi khác. Nhờ những may mắn đó mà Nắng Chiều cứ thế được biết tới tại các nước ở vùng Đông Nam Á và sau năm 1975 lại theo người Việt và người Việt gốc Hoa đi khắp thế giới như hiện nay.
         Nhớ lại khoảng thập niên 1960 của thế kỷ trước, hội Văn Hóa Hoa Việt ở vùng Quận 5 Chợ Lớn có cho phổ biến một tập nhạc Việt đã được dịch ra lời Hoa để cho con em người Hoa có thể hát nhạc Việt được. Tập nhạc này chỉ được in dưới hình thức “quay ronéo” nên không được phổ biến rộng rãi. Tôi còn nhớ trong đó các bản nhạc như “Ai Về Quê Tôi”(Tiến Đạt) Mạnh Phát, “Ngày Trở Về” của Phạm Duy, “Lúa Mùa Duyên Thắm”, “Trăng Soi Duyên Lành”, “Lối Về Xóm Nhỏ” của Trịnh Hưng, “Về Dưới Mái Nhà” của Xuân Tiên, Y Vân, “Duyên Kiếp” của Lam Phương… và tôi thích nhất là bài “NẮNG CHIỀU” của Lê Trọng Nguyễn với lời tiếng Hoa thật hay, không biết là một nhân sĩ nào đó đã dịch thật tài tình, vừa sát nghĩa với lời Việt của Lê Trọng Nguyễn lại vừa có tính cách văn chương và nhất là vừa hợp với các âm giai lên xuống của bản nhạc khi hát  không bị gượng ép chút nào cả ! Lời ca rất tự nhiên nên thơ như được sáng tác bằng tiếng Hoa nguyên gốc vậy ! Và cũng vì thế mà cho đến nay, hơn 60 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ như in lời ca mượt mà gợi cảm đó. Xin được chép lại dưới đây để người Việt gốc Hoa nào đó thích bản nhạc “NẮNG CHIỀU” cùng hát cho vui (Nhớ là hát bằng âm “Quan Thoại”, chữ có màu đỏ bên dưới, chớ không phải âm Việt Hán):

                夕陽                                       TỊCH DƯƠNG là Nắng Chiều           xi yáng        回到渡頭夕陽斜照,                     Hồi đáo độ đầu, tịch dương tà chiếu,   Huí dào dù tóu, xi yáng xié zhào.   (Qua bên nước xưa là hoa về chiều)          金光疏落花葉飄搖。                     Kim quang sơ lạc, hoa diệp phiêu diêu.   Jin guang shu luò hua yè piao yao.(Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa)        來到村莊舉步徬徨,                     Lai đáo thôn trang, cử bộ bàng hoàng,   Lái dào cun zhuang, ju bù páng huáng.(Khi đến cuối thôn chân bước không hồn)        多麼懷念舊時人兒。                     Đa ma hoài niệm, cựu thời nhân nhi.   Duo me huái niàn, jìu shí rén ér.     (Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ)
      *  Từ phần hai của lời ca, sẽ bỏ đi phần phiên âm Việt Hán cho khỏi rườm rà !
            記得妹妹身材稍廋,                     Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy,      Jì dé meì meì shen cái shao sou,        柔和望我雙眸閃爍。                     Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh.      Róu hé wàng wo shuang móu shan shuo.        記得當年妳過庭前,                     Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm,      Jì dé dang nián ni guò tíng qián,        粉頰緋紅秀髮輕飄。                     Má em mầu ngà tóc thề nhẹ vương.      Fen xia fei hóng xiù fa qing piao.
    – 我回來過庭前,想起誓言,心冰冷,Nay anh về qua sân nắng, chạnh nhớ câu thề, tim tái tê,Wo huí lai guò tíng qián, xiang qi shì yán, xin bing leng,  不知如今,情妹呀,移戀何方?      Chẳng biết bây giờ người em gái,duyên ghé về đâu?Bù zhi rú jin, qíng meì ya, yí liàn hé fang?
    – 我回來桑田黃,山歌對答,不再唱,Nay anh về nương dâu úa, giọng hát câu hò, thôi hết đưaWo húi lai sang tián huáng, shan ge dùi dá, bù zài cháng,  苗條俏影,紫花前,往何處尋?      Hình bóng yêu kiều kề hoa tím biết đâu mà tìm?miáo tiáo qiào jing, zi hua qián, wảng hé chù xún?
            沉痛記起竹蔭底下,                         Anh nhớ xót xa dưới tre lá ngà,       Chén tòng jì qi, zhù yin di xià,        含愁望我妳說”愛我”。                      Gợn buồn nhìn anh em nói “mến anh !”.       Hán chóu wàng wo, ni shuo “ai wo”        白雲浮飄夕陽殘照,                         Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi,       Bái yún fú piao, xi yáng cán zhào,        想妳柔情晚霞留停!                         Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi !       Xiang ni róu qíng, wan xía líu tíng!

         Mặc dù một số từ được dịch thoát ý, không có “mot à mot” hay “word by word” gì cả, nhưng đã lột tả được hết ý của tác giả muốn gởi gấm trong lời ca.

          Dưới đây là lời ca bằng tiếng Phước Kiến  (tiếng nói thông dụng ở Đài Loan) với giọng hát của ca sĩ Kỷ Lộ Hà như đã nói ở phần trên :


                Còn dưới đây là … Ca sĩ Hoàng Thanh Nguyên của Tân Gia Ba  hát bài Nắng Chiều ( Tình Ca Việt Nam) với lời ca viết lại như sau :

    黃清元 越南情歌
    黃清元 越南情歌
    黃清元 越南情歌 Hoàng Thanh Nguyên hát VIỆT NAM TÌNH CA (Nắng Chiều) 我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, Tôi lại trở về bên bờ dòng Mê-Kông, Gió chiều vẫn thổi lay động mặt sông. 那樣美麗那樣迷戀,情人己離去多年。 Sông đẹp là thế, mơ màng là thế, nhưng người yêu thì đã rời xa nhiều năm rồi.
    我又來到舊日河邊,晚霞嬌艷吻著河面, Tôi lại trở về bên bến sông xưa, ráng chiều đẹp đẽ như hôn lấy mặt sông .那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。 Sông đẹp là thế mơ màng là thế, nhưng người yêu cũ đã đi mất bao năm rồi.
    Điệp khúc…
    往事一幕幕回到我眼前, Chuyện xưa cứ lần lượt hiện ra trước mắt tôi. 是夢景令人常懷念,夢景令人懷念。 Là mộng ảo dễ khiến người tiếc nuối, mộng ảo nên khiến người tiếc nuối. 何日夢境再回到我眼前, Không biết đến ngày nào cảnh mộng lại trở thành hiện thực trước mắt, 是真情令人長留戀,真情令人懷念。 Thật dễ làm cho người ta lưu luyến mãi, làm cho người ta tiếc thương mãi . 我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, (Lời của phần sau giống như lời của phần đầu.那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。 Những phần trên đây chỉ dịch nghĩa của lời viết lại bằng tiếng Hoa,我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, không phải là LỜI CA, nên không thể hát được ). 那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。
         Còn sau đây là lời HOA của bản nhạc NẮNG CHIỀU của Lê Trọng Nguyễn với tựa đề là :VIỆT NAM TÌNH CA  do nữ nghệ nhân Thận Chi viết lời  (Thận Chi tên thật là Khưu Tuyết Mai 邱雪梅, bà đã cùng chồng là Quan Hoa Thạch 關華石 tổ chức đại nhạc hội “Quần Tinh Hội” ở Đài Loan suốt gần 3 thập niên 1950-1980)

    作詞:慎芝                                     Viết lời : Thận Chi
    作曲:越南民歌                              Nhạc   : Việt Nam Tình Ca
    編曲:陳志遠                                 Hòa âm : Trần Chí Viễn

    我又來到昔日海邊          Tôi lại trở về bờ biển của ngày xưa,
    海風依舊吹皺海面          Gió biển vẫn làm cho mặt biển gợn sóng như xưa.
    那樣熟悉 那樣依戀         Thân thương là thế, quyến luyến là thế, 
    只有舊日人兒不見          Chỉ có người xưa là không còn gặp lại.
    不敢來到昔日海邊          Tôi không dám trở lại bờ biển của ngày xưa,
    海霞嬌艷擁著海面          Nắng chiều thật đẹp như ôm ấp lấy mặt biển.
    那樣熟悉 那樣依戀         Thân thương là thế luyến lưu là thế,
    只有故人離去多年          Chỉ có cố nhân là đã biền biệt nhiều năm rồi !                              ĐK那往事 一幕幕到我眼前           Chuyện xưa từng lớp từng lớp một như hiện ra trước mắt tôi,
    是夢境還是幻想 令人常懷念    Là mơ hay là ảo tưởng, đều khiến cho người ta luyến nhớ.
    那夢境 何日能回到眼前           Những chuyện mộng mơ, ngày nào mới thành hiện thực trước mắt.
    你又在我的身邊 無限情纏綿    Em lại đến bên tôi với muôn vàn quyến luyến.
    不敢來到昔日海邊          Giống như lời trên
    海霞嬌艷擁著海面
    那樣熟悉 那樣依戀
    只有故人離去多年                         ĐK
    那往事 一幕幕到我眼前
    是夢境還是幻想 令人常懷念
    那夢境 何日能回到眼前
    你又在我的身邊 無限情纏綿
    不敢來到昔日海邊         Giống như lời trên
    海霞嬌艷擁著海面
    那樣熟悉 那樣依戀
    只有故人離去多年

    越南情歌 – Nắng Chiều Bài hát nầy hát giống như lời trên đây.

     Còn dưới đây là bài hát Nắng Chiều của ca sĩ Dương Yến, lời hát đúng với bản nhạc chép tay của ĐCĐ kèm theo bên dưới và cũng đúng với những tập nhạc xuất bản ở Đài Loan được bày bán trên các dĩa hè của Quận 5 Chợ Lớn trong thập niên 60 -70 của thế kỷ trước.

    【Official Audio】楊燕 – 越南情歌   Dương Yến – Việt Nam Tình Ca

    Cuối cùng mời tất cả cùng nghe NẮNG CHIỀU của Lê Trọng Nguyễn với tiếng Nhật Bản:

    Nắng Chiều (Lê Trọng Nguyễn) – Satsuki Midori (tiếng Nhật)

    Đỗ Chiêu Đức (sưu tầm trên mạng)

  • Văn Thơ

    MÙA XUÂN KHÔNG TRỞ LẠI

    Hồi ký  Hồng Thủy

                                                                        Kính tặng Mẹ yêu dấu người đã hy sinh

                                                                           cả một thời xuân  sắc cho chúng con.

    Mẹ tôi lấy chồng năm người 22 tuổi, bốn năm sau thì bố tôi qua đời, lúc đó mẹ tôi mới 26 tuổi, anh tôi 3 tuổi và tôi vừa tròn 18 tháng. Tôi không biết và không nhớ gì về bố ngoài những tấm ảnh trong một cuốn album cũ kỹ.

         Sau khi bố chết, ba mẹ con tôi về ở với ông bà ngoại. Tôi lớn lên trong thời kỳ chiến tranh nên gia đình chúng tôi phải rời thành phố tản cư về nhà quê.

     Ông bà ngoại tôi có một trang trại ở một làng nhỏ thuộc xã Đông Phú, Huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa. Làng ở gần núi nên có cái tên rất thơ mộng là làng Sơn Lương.

     Con đường làng làm bằng những phiến đá lớn nối tiếp nhau, hai bên là những khóm trúc, thỉnh thoảng chen vào những rặng tre cao ngất. Ở sau làng phía xa xa có một ngọn đồi đầy hoa sim tím, xa hơn nữa là những dẫy núi đá xanh lam với những hang động đầy thạch nhũ đẹp tuyệt vời. 

    Thời thơ ấu của tôi là những buổi sáng chạy tung tăng trong vườn, nhặt những cánh hoa bưởi trắng ngần, thơm ngát, xâu thành vòng tròn đội lên đầu giả làm công chúa.

     Những buổi trưa, anh em tôi trốn ngủ trưa, leo trèo hết cây táo sang cây ổi, hái những trái táo ngon ngọt ròn tan và những trái ổi chín vàng thơm phức 

    Những buổi chiều chạy nhẩy trong vườn, đuổi bắt những chú bướm đủ màu bay lượn quanh những luống hoa cải vàng tươi, hoặc theo trẻ con hàng xóm chạy ra đồi hái đầy những giỏ sim tím thẫm.

     Những buổi tối nằm rúc nách mẹ nghe kể chuyện cổ tích cho đến khi ngủ thiếp đi.

    Cứ như vậy, anh em tôi lớn lên trong sự cưng chiều và tình thương yêu trìu mến của ông bà ngoại và mẹ tôi.

     Ông nội và các cô chú thì ở quá xa, tận Phát Diệm lại thuộc “vùng tề” do chính phủ quốc gia kiểm soát,  nên chúng tôi hầu như không được tin tức và không liên lạc được.

     Cuộc sống êm đềm ở một trang trại vùng quê vắng lặng  thỉnh thoảng lại rộn rịp hẳn lên vì có khách ở xa đến chơi. Một hôm sau khi khách về rồi chị vú thì thầm bảo tôi: “Coi chừng em sắp mất mẹ vì có người muốn hỏi cưới mẹ đó.” Câu nói của chị vú làm tôi òa lên khóc và chị vú bị bà ngoại la cho một trận.

     Nhưng rồi chị vú vẫn không chừa, mỗi lần nhà có khách chị lại chỉ cho tôi ai là người muốn hỏi cưới mẹ. Không hiểu sao với cái đầu óc non nớt của tôi, tôi lại nghĩ ra một danh từ rất nặng nề để gọi mấy người đó.

     Tôi thường đứng thập thò ở cửa phòng khách nhìn “đối thủ” của tôi bằng một con mắt căm hờn và lầm bầm trong cổ họng: “Đồ ăn cắp!” (ý nói ăn cắp mẹ tôi đi). 

    Tôi không dám nói to sợ bà ngoại biết được, chắc chắn tôi sẽ bị ăn đòn vì bà ngoại rất nghiêm. Tuy chúng tôi được cưng chiều, nhưng bà ngoại dậy dỗ anh em tôi rất cẩn thận, nói với người lớn bao giờ cũng phải thưa gửi. Bà ngoại luôn luôn bảo: “Tội gì bà còn có thể tha, chứ vô lễ là không bao giờ bà tha cả, chắc chắn thế nào cũng bị đòn.”

    Thấy tôi thập thò ở cửa, “đối thủ” của tôi vẫy tôi vào với nụ cười thân thiện: “Bé vào đây, bác có kẹo cho bé đây này” và ông đưa ra một hộp kẹo buộc “nơ” rất đẹp. 

    Tuy trong bụng đang căm hờn sôi sục, tôi cũng không thể nào từ chối hộp kẹo quá hấp dẫn được, nên đành chạy vào đưa tay đỡ hộp kẹp và lí nhí cám ơn rồi chạy vụt ra.

     Thấy tôi ôm hộp kẹo, chị vú trêu tôi: “Ăn kẹo của người ta là bằng lòng cho người ta cưới mẹ đó.” 

    Tôi hoảng hốt ôm hộp kẹo vào trả lại cho khách, mẹ nhìn tôi ngạc nhiên: “Con vẫn thích kẹo lắm mà, bác cho con đã nhận rồi sao trả lại?” 

    Tôi chỉ lắc đầu buồn bã nhìn mẹ tôi và tiếc rẻ nhìn hộp kẹo rồi bỏ ra ngoài vườn ngồi một mình tấm tức khóc. 

    Buổi tối vào giường ngủ, thay vì kể chuyện cổ tích như mọi khi, mẹ đã hỏi tôi lý do tại sao tôi trả hộp kẹo lại cho khách. Sau khi nghe tôi tỉ tê kể lể mẹ vỗ nhẹ vào lưng tôi dỗ dành: “Tội nghiệp con, mẹ sẽ không bao giờ lấy chồng đâu. Con đừng lo nữa nhé.”

     Tôi sung sướng rúc vào lòng mẹ ngủ ngon lành. 

    Mùa hè năm tôi tròn 10 tuổi, bác T., con cụ Hường Đ. bạn thân của ông bà ngoại đến thăm. Bác cao lớn, đẹp trai và nghe nói học rất giỏi, có bằng cử nhân Luật. Bác góa vợ , không có con. Bác rất thích anh em tôi và cưng chiều hai anh em lắm. 

    Tôi còn nhớ bác chỉ định đến thăm gia đình chúng tôi vài ngày rồi đi, nhưng vì bác bị đau nên ở lại đến cả tháng. Trang trại của ông bà ngoại tôi vui hẳn lên vì có bóng đàn ông. Buổi tối bác dậy chúng tôi hát. Buổi sáng bác đưa chúng tôi ra ao ở trước nhà, chặt cây chuối cho anh em tôi làm phao ôm để bác dậy tập bơi.

     Trại của ông bà ngoại tôi có hai cái ao lớn, một ao cầu gỗ và một ao “tà-vẹc”, gọi như vậy vì một ao, cầu làm bằng những cây gỗ lớn ghép vào nhau và một ao, cầu ao làm bằng những cái “traverse” làm đường xe lửa. 

    Ao cầu gỗ lúc nào cũng đầy hoa bèo tím, ao “tà-vẹc” lúc nào cũng đầy hoa rau muống tím. Tôi yêu màu tím từ lúc còn nhỏ, bởi xung quanh tôi lúc nào cũng bao vây bởi nhừng hoa màu tím thật dễ thương. 

    Chiều chiều bác cùng mẹ con tôi đi dạo đồi sim, hoặc đi chơi triền núi và thăm các hang động.  Mỗi lần đi chơi như vậy bao giờ bác cũng cầm theo một cái mác dài để đề phòng gặp rắn rết hay thú dữ. Đi bên bác chúng tôi cảm thấy rất yên tâm và được che chở.

     Anh em tôi chạy nhảy tung tăng hái hoa đuổi bướm, trong khi bác và mẹ ngồi trên một tảng đá lớn nói chuyện.

     Buổi chiều xuống thật nhẹ,  không gian thơm mát như được ướp bằng hương đồng cỏ nội, cảnh vật thật thơ mộng, êm đềm. Khi bóng nắng tắt hẳn, chúng tôi mới thong thả ra về. 

    Vài tuần sau khi bác từ giã gia đình chúng tôi để về tỉnh, anh em tôi đã khóc và mắt mẹ cũng đỏ hoe. Trang trại của ông bà ngoại lại trở về với cái vắng lặng cố hữu của một gia đình gồm hai ông bà già, một người đàn bà trẻ và hai đứa con nít. 

    Những buổi tối sau đó, khi mẹ ngồi hong mái tóc dài đen mượt óng ả sau khi gội đầu còn thơm mùi chanh và bồ kết ở ngoài hàng hiên, bà ngoại thường đến bên mẹ thì thầm to nhỏ. Trong câu chuyện giữa bà và mẹ, tôi nghe thấy loáng thoáng có nhắc đến bác T., đến chuyện mẹ tôi lấy chồng, đến bốn chữ “Tiết hạnh khả phong”.

    Một hôm  nhớ đến bác T tôi hỏi mẹ “Bao giờ bác T lại đến thăm mình nữa?”

    Đôi mắt đẹp của mẹ nhìn tôi thật buồn ” Chắc bác không bao giờ đến nữa đâu con, trừ phi…”Tôi cướp lời mẹ hỏi dồn dập” Trừ phi sao hả mẹ ?”

    Mẹ không trả lời câu hỏi của tôi mà lại hỏi tôi bằng một giọng ngập ngừng “Con có thích bác T ở với mình mãi không ?” Tôi trả lời nhanh không cần suy nghĩ  “con thích lắm” Mẹ lại hỏi tiếp ” Như vây con có chịu cho mẹ lấy chồng không ?”.Nghe hai chữ “lấy chồng” tôi nhớ ngay lời dọa của chị Vú “Lấy chồng là người ta mang mẹ đi là các em mất mẹ đó.” Tôi lắc đầu quầy quậy và không hiểu sao nước mắt ở đâu đến nhanh quá, tôi mếu máo ” con không muốn mẹ lấy chồng ” . Từ đó mỗi lần đi chơi đồi sim với mẹ, tuy rất nhớ bác T tôi cũng không bao giờ dám nhắc tới bác nữa.

    Khoảng 1 năm sau, bác T trở lại thăm gia đình tôi, bác mang cho chúng tôi thật nhiều kẹo , bánh. Bác chỉ ở chơi một buổi rồi ra đi.Nghe mẹ nói bác tới từ giã để đi thật xa.Lần đầu tiên tôi nghe thấy hai chữ “dinh tê”, nói lóng là đi về vùng quốc gia.Lúc ấy vùng chúng tôi ở thuộc quyền Cộng Sản. Tối hôm đó không hiểu bà ngoại nói gì mà làm mẹ tôi khóc.Sau đó tôi cứ nghe bà nhắc đi nhắc lại ” lấy chồng là đeo gông vào cổ, đang sung sướng ở với bố mẹ, tiền không thiếu , danh thì chồng chết người ta vẫn gọi bà Tham ( bố tôi làm Tham tá thuế quan ) con trai con gái có đủ , có điên mới đi lấy chồng cho khổ vào thân” .

    Thời gian qua dần, anh em tôi lớn lên.Câu chuyện lấy chồng của mẹ không bao giờ còn được nhắc đền nữa. Rồi chúng tôi hồi cư về Hà Nội.  Tôi phải giã từ làng Sơn Lương nhỏ bé với bao nhiêu kỷ niệm đẹp của thời thơ ấu. Tôi phải giã từ những cánh hoa mầu tím thân yêu: hoa soan, hoa sim, hoa bèo và hoa rau muống. Những cánh hoa mầu tím đơn sơ mộc mạc đó không bao giờ tôi còn được thấy lại ở những thành phố huy hoàng đầy ánh sáng. Từ một đứa bé, tôi trở thành một thiếu nữ trưởng thành. Tôi lập gia đình rất sớm và biết thế nào là hạnh phúc lứa đôi, thế nào là sự đầm ấm của một gia đình no vợ đủ chồng. Tôi bỗng thấy thương mẹ tôi thấm thía.Tôi hối hận vì lúc còn bé đã nhất quyết không muốn mẹ đi lấy chồng.Tôi đã đọc nhiều truyện của Tự Lực Văn Đoàn, đã hiểu thế nào là ý nghĩa của  bốn chữ Tiết Hạnh Khả Phong. Bốn chữ mà những bậc cha mẹ cổ xưa( trong đó có bà ngoại tôi ) đã mang ra làm bức tường vây bọc chôn vùi cuộc đời của những người đàn bà góa bụa. Riêng mẹ tôi với số tuổi 26, số tuổi mà phần lớn chúng tôi mới bắt đầu bước vào đời, thì mẹ tôi đã phải giã từ tình yêu, giã từ mơ mộng, giã từ những ước muốn bình thường của một người đàn bà trẻ,  để khép kín cuộc đời trong một cánh cửa nặng nề của lễ giáo.

    Ước gì cho tôi trở lại thời thơ ấu, cho mẹ tôi trẻ lại như xưa. Tôi sẽ không dại dột ngăn cản mẹ đi lấy chồng. Tôi sẽ năn nỉ bà ngoại đừng ép buộc mẹ phải chôn kín tuổi xuân.Tôi sẽ thưa với ngoại: hạnh phúc không phải chỉ là tiền, là danh, là đầy đủ con trai con gái. Hạnh phúc là vòng tay âu yếm, là những săn sóc thương yêu , là ánh mắt trìu mến, là con tim ấm áp truyền hơi ấm cho nhau. Ngoại ơi, bà cháu mình đã sai thật rồi, mình đã làm lỗi lầm thật lớn khiến người mẹ tội nghiệp của con phải chịu suốt cả một đời một mình một bóng, đơn lẻ , quạnh hiu.

  • Văn Thơ,  Việt Hải

    Tưởng rằng đã quên ? “Hoài Niệm” với Hồng Vũ Lan Nhi.

    Tôi biết chị Hồng Vũ Lan Nhi (HVLN) qua sự giới thiệu của chị Bích Huyền, rồi được biết cả hai chị đều là bạn tri kỷ từ ngôi trường Trưng Vương, cũng như thân với chị Cao Mỵ Nhân, người tôi hằng ái mộ những dòng thơ dạt dào trong kho tàng thi ca vô tận của người Việt chúng ta.

    Tôi nhận được cuốn thi tập “Hoài Niệm” hôm nay, sách dầy độ 300 trang với 239 bài thơ. Tên tác giả và tựa đề nằm bên trên với nét chữ xanh lá mạ, màu của niềm tin, của sức sống. Tác giả có tên thật là Lê Hồng Diệp, bút hiệu là Hồng Vũ Lan Nhi, hiện cư ngụ tại Orange county, vùng Nam Cali. Bìa sách màu vàng nhạt của sự nhớ mong, phía trước có vẽ hình chiếc ghe như chở người đọc về kỷ niệm, bìa sau lại thêm một chiếc ghe khác như ghe hoài niệm chở HVLN về với dĩ vãng đã qua với bốn câu thơ bất hủ:

    “Chỉ trong phút giây hoài niệm,

    Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về,

    Kỷ niệm như dấu chân trên cát,

    Lún xuống đời những vết đau tê”

    Inline image

    HVLN mở đầu sách với bài thơ theo thể tự do nhắc tác giả nhiều kỷ niệm của tuổi mới lớn, thuở mực tím nhiều xao xuyến, nhiều mộng mị khi bước vào tình yêu. Bài “Nụ Hôn Đầu” hình như đã phản ảnh đặc tính dễ thương của tình yêu trai gái Việt Nam, sở dĩ tôi nói vậy vì nụ hôn của người Việt được biểu tượng cho sự cao quý và sự trói buộc đời nhau, ta hãy nghe HVLN diễn tả tâm sự của tác giả:

    “Nhớ hôm nào, bầu trời đầy sao,

    Nụ hôn đầu e ấp trao nhau,

    Ngỡ ngàng làm sao là lúc ấy…

    Ôm nhau mà tưởng mộng chiêm bao!”

    Hai câu sau cho thấy mối tình Việt Nam dễ thương sao đấy… Tình cảm của buổi ban đầu vẫn là sự ngỡ ngàng, rụt rè, e thẹn, nó đẹp và nhắc đến mối tình đầu của chính tôi, khi nắm tay em mà ngỡ giấc mơ chiêm bao, con tim của tôi dường như đập loạn nhịp, chả bù khi sang Mỹ đi hẹn hò date với một cô bạn Mỹ, chúng tôi nếu có nắm tay nhau hay hôn nhau là sự đương nhiên của cái tình cảm “bạo phát bạo tàn”.

    Tôi nhắc chừng lòng phải ngợi ca bài thơ này thêm nữa vì có thể nó nhắc nhở tôi cũng như muôn độc giả, bạn bè khác về cái tuổi mực tím “khi đã yêu thì mơ mộng nhiều”, dù ngày nay đa số bạn bè đã “quá lứa” của sự mộng mơ, có chăng là tâm hồn chúng ta quay về dĩ vãng để làm mềm con tim bị đời vùi dập giấc mơ xưa. HVLN sáng tác bài tình thơ này ngày 8 tháng 5, năm 1960. Vượt bao thời gian qua cái giá trị về tình yêu theo quan niệm cổ điển vẫn đong đầy nỗi nhớ, vẫn lưu luyến một thời biết yêu, một thời nhớ mãi “nụ hôn đầu” khi trao nhau mộng tình ngày xanh.

    “Nụ hôn đầu, ôi, sao đắm say,

    Em úp mặt vào đôi bàn tay,

    Chẳng biết vì sao Em lại khóc,

    Cho môi hồng thấm lệ tràn đầy,”

    Thấy chưa? Nội chỉ hai câu sau cũng đủ “nhức nhối” bao con tim thổn thức. Vâng, đây chính là vần thơ “đáng đồng tiền bát gạo” nhất theo thiển ý của tôi.. Tôi đoạn nhìn đồng hồ mà mồm lẩm bẩm: “Chết chửa, nếu còn sớm tí nữa, tôi sẽ nhấc phone bàn với chị HVLN bài điểm sách này chỉ cô đọng quanh bài thơ này mà thôi thì tôi có thể viết thành thi ca tiểu luận rồi, còn lại 238 bài thơ khác nên dành cho chuyến sau vậy. Theo ý riêng của tôi từ thuở sáng tác thơ thì có lẽ tôi yêu mến nhất thể thơ lục bát và trân trọng diễn tả nụ hôn khi người ta yêu nhau. như một dạo mình đã ươm trong một bài bài thơ Anh ngữ nào đó là:

    “If you are in love,

    You must kiss.

    If you don’t kiss,

    Just forget your love.”

    Phải chăng trong cùng ý thơ Việt ngữ là:

    “Yêu nhau hãy trao nụ hôn,

    Nụ hôn thiếu vắng sao hồn bảo yêu” …???

    Thi sĩ HVLN hội đủ cả hai khía cạnh này trong thi tập “Hoài Niệm”, thơ lục bát của chị bàng bạc, lai láng rất nhiều trong 300 trang giấy, “thơ nụ hôn” của chị sáng tác rất nhẹ nhàng, rất e ấp, rất dễ thương và rất tình tự làm người đọc xao xuyến con tim, đam mê của thuở hẹn hò. HVLN lại tiếp:

    “Em đã âm thầm biết nhớ ai,

    Biết bâng khuâng trong những đêm đài,

    Anh ơi nếu mộng đời không thắm,

    Tình mình Em quyết chẳng hề phai.”

    Lại hai câu cuối “đáng đồng tiền bát gạo” nữa. Đối tượng của chị HVLN năm đó là người sung sướng nhất trần gian khi được vần thơ mực tím yêu thương, khi người con gái trịnh trọng nắn nót từng câu, từng chữ vung đầy tình nghĩa yêu đương như thế này. Ông thầy bói trong Lăng Ông Bà Chiểu năm xưa bói tôi duyên số đào hoa, nhưng thú thật dù tôi có tu chín kiếp chả có ai trao tôi bài thơ mực tím này cả.

    Tôi đọc bài lục bát “Nỗi Lòng Người thủy Thủ” mà tôi nhớ hôm nói chuyện trong phone, chị HVLN nói về mối tình với người thương áo trắng thủy thủ ngày nào trong cái tình tự của cơn mê hoa biển như:

    “Đêm khua nghe sóng vỗ bờ,

    Tưởng như tiếng của người xưa gọi về,

    Bao giờ mới tỉnh cơn mê?

    Bao giờ quên được nỗi tê dại này?”

    Sài Gòn xưa có sáng nắng chiều mưa như hồn vất vưởng nhơ’ nhung, của những hẹn hò, những đưa đón, những gặp gỡ mối tình hải quân áo trắng, thơ HVLN vẫn nối tiếp nhiều câu mà tôi chỉ tóm tắt ẩn ý. Lại tiếp…

    “Khi yêu nào có ai ngờ,

    Mơ’i tri âm đó bây giờ… cố nhân,

    Dòng đời xuôi ngược bao lần,

    Mà hình bóng cũ vẫn hằn vết sâu”

    Trong tình yêu nếu không duyên nợ thì có thể là tình yêu không ràng buộc hoặc không trọn vẹn để rồi khi nàng ghé thăm cảnh biển chạnh lòng nhớ người yêu xưa. Người tình cũ đã neo sang bến khác trong cuộc đời đầy phong ba của kiếp sống hải hồ, rồi một ngày nao người tình áo trắng nhìn lại sóng biển, hình bóng người bạn gái cũ hiện về trong nước biển xanh của nghìn trùng đại dương mà khi xưa chàng đã không quên gửi tặng loài hoa biển trong các chuyến hải hành…

    “Nhớ chùm hoa biển trắng phau,

    Nhớ khi tàu đã nhổ neo, tách bờ,

    Thả hồn trở lại bến xưa,

    Lòng người thủy thủ vẫn mơ, vẫn buồn?”

    Trùng dương dâng sóng cuộc đời khóc lệ chia ly khi tàu tách bến, rời cảng để cuộc đời không đến với nhau như ước hẹn, lời chia ly đó đã lắng sâu vào lòng đại dương.

    Trong bài “Lẻ Loi” HVLN kể về chuyện tình đôi đũa so le được ví von:

    “Người ta như đũa có đôi

    Tôi như chiếc đũa lẻ loi bên lề,

    Một mình lặng lẽ sầu khuya,

    Một mình trong những chiều lê thê buồn,”

    Nỗi cô đơn, u hoài trong đêm thanh vắng như dòng sông không bến đổ, như muà đông có con nắng lạnh lùng cho tâm tư đơn côi và như loài chim biển hải âu tung cách vỗ trên ngàn khơi mênh mông:

    “Một mình ôm nỗi cô đơn,

    Như dòng sông chảy tìm về cõi xa,

    Như mùa đông, nắng nhạt nhòa,

    Như cánh chim biển la đà ngoài khơị”

    Trong bài “U Mê” cho thấy sự tương phản là đối tượng của HVLN mang con tim đơn côi bên dòng sông Tương:

    “Biết rằng Em chẳng yêu tôi,

    Nhưng tôi không thể xa rời bóng Em,

    Long lanh mắt sáng sao chìm,

    Thanh tơ manh chỉ, dáng mềm liễu thưa”

    Tương khúc được diễn tả tiếp:

    “Tình tôi dâng trọn Em rồi,

    Em là nữa mản hồn tôi kiếm tìm,

    Yêu Em bằng cả con tim,

    U mê không biết phận mình ra sao!”

    Trong bài “Tình Chờ” HVLN lại cho nụ hôn lên ngôi tình ái:

    “Nhìn em tươi mát nụ cười,

    Lòng anh chao đảo đứng ngồi không yên,

    Thèm hôn vào cánh môi hiền,

    Thèm được ôm bờ vai mềm nhung tơ,”

    Đối tượng của HVLN vẫn lãng đãng trong giấc mộng, nàng đến với chàng khi là thiếu nữ hồn nhiên, trong trắng, chàng trông ngóng mòn mỏi tâm tư, chàng thèm được ôm vai người tình, thèm được hôn môi người cho thõa lấp nỗi tình nhớ miệt mài đợi mong:

    “Môi em chưa một lần hôn,

    Bờ vai chưa một người ôm… dập dìu,

    Mắt chưa in vết dấu sầu,

    Tim chưa ghi khắc tình đầu bóng ai”

    Lại nụ hôn ngọt ngào bên nỗi nhớ được ca ngợi trong bài “Thủ Thỉ Với Bóng”:

    “Có nụ hôn nồng rất thiết tha

    Có vòng tay ôm ấp rất đậm đà

    Rồi những chiều bên nhau thủ thỉ

    Cùng ngắm mây trôi cõi xa.”

    Nụ hôn vẫn chất chứa, ẩn hiện trong thi tập “Hoài Niệm”, nhưng thôi thì xin tạm gác qua đề mục này, dù rằng nó đã khuấy động tâm tư thuở mực tím của chính tôi nhiều lắm, vì đi xa hơn nữa bài viết sẽ biến dạng sang tiểu luận “Nụ hôn” trong thi ca HVLN mất…ah hah !

    Song song với khía cạnh tình nồng nhung lụa yêu đương được khéo léo khai thác qua thi ca, người ta còn thấy khía cạnh nhân bản của HVLN qua nhiều bài ca ngợi thiên nhiên trong cuộc sống, tình yêu quê hương đất nước cũng như tình cảm thuộc về luân lý, đạo đức của HVLN khi nhắc về gia đình, song thân, anh em, con cháu, bà con, bạn bè thân thiết,…

    Trong bài “Tiếng Khóc Đầu Đời” những tâm tình của HVLN trang trải qua bài thơ dài hai trang giấy mô tả về cái hạnh phúc gia đình gắn bó tiêu biểu của người Việt:

    “Được tin vui trong họ

    Một bé gái chào đời

    Biết bao lời chúc tụng

    Đến từ khắp muôn nơi…

    Chúc mừng ông bà Nội

    Niềm vui sươ’ng nào bằng

    Gái trai thêm dâu rể

    Cháu chắt sẽ đầy đàn…”

    Ngày lễ Hiền Mẫu, HVLN dâng hoa đến Mẹ qua bài “Bông Hồng Dâng Mẹ”:

    “Nhìn lên trơi cao,

    Mà sao không thấy

    Mẹ hiền đâu vậy

    Mẹ thấy con không?

    Ra vườn hái một bông hồng

    Đem vào dâng Mẹ tỏ lòng kính yêu.”

    Bài “Nhớ Bố ” đề cập về gia đình của tác giả:

    “Chúng con nhớ Bố thật nhiều,

    Quyết tâm ghi tạc những điều Bố khuyên,

    Sống sao xứng đáng Thánh Hiền,

    Dâu hiền, rể thảo, cháu Tiên, con Rồng,

    Thủy chung đạo đức vợ chồng,

    Con yêu, cháu quí, một lòng không nguôi…

    Thương yêu đùm bọc lẫn nhau,

    Các con hạnh phúc một màu thắm tươi …”

    Trên cao hơn hết thi ca HVLN có vô số bài nói về tôn giáo, nói về Chúa, nói về Phật , tôi thấy một sự bình an trong thi ca của HVLN. Có thể vì sự lựa chọn tôn giáo đã ru người thơ trong cái ý thức tâm linh cho chính mình, nhất là một chổ nương tựa sự thư thái của tâm hồn. Vì đấng tối cao của tôn giáo nào cũng đưa chúng ta về nguyên thủy của sự chân, thiện, mỹ trong cuộc sống này.

    Bài “Lời Nguyện Cầu” tác giả kể câu chuyện chàng trai đến dự lễ nhà thờ và gặp cô láng giềng hiền thục:

    “Sáng Chủ Nhật đến nhà thờ,

    Gặp cô hàng sớm cũng vừa tới nơi,

    Nhìn nhau đều nhoẻn miệng cười,

    Vô tình hai đứa lại ngồi cạnh nhau,”

    Chúa Ngôi Hai đã chứng giám cho mối tình hàng xóm với ước mơ thầm kín bền duyên vợ chồng:

    “Con nào dám ước mơ Tiên,

    Để hồn bay bổng tới miền Bồng Lai,

    Chỉ cầu xin Chúa Ngôi Hai,

    Cho chúng con được mãi hoài… bên nhau.”

    Bài “Tâm Tình Với Chúa” HVLN tỏ bày ý mình cùng Chúa như sau:

    “Con quì hàng ghế cuối

    Trong thinh lặng mênh mông

    Lòng ngổn ngang trăm mối

    Con buồn, Chúc biết không?”

    Rồi một đoạn khác lại tâm tình thành khẩn:

    “Giờ, con lạc lõng quá

    Như chiếc lá giữa dòng

    Không tìm được bến đậu

    Giữa đất trời mênh mông”

    Đấng tối cao luôn luôn trả lời nghịch cảnh của kẻ yếu đuối về tâm linh:

    “Trong lúc bơ vơ nhất

    Tiếng Chúa gọi – Không ngờ

    Con như bừng giấc mộng

    Trầm luân đến bao giờ”

    Thi ca HVLN đề cập nhiều về kiếp phù du, vô thường của con người trầm luân trong cái thế giới Ta Bà nhiều bể khổ như triết lý nhà Phật diễn giảng. Hãy lắng nghe bài “Trần Gian Cõi Tạm”:

    “Cuộc sống vô thường

    Chợt có, chợt không

    Phù du một kiếp

    Trở về tay không.”

    Khi nói về lòng ham muốn, sự tham lam vô biên của nhân thế HVLN viết bài “Niệm Phật Cầu An”:

    “Mùi hương trầm tỏa bên hàng xóm

    Chắc có người niệm Phật cầu an

    Phật ơi ở chốn nhân gian

    Chúng sinh đau khổ vì ham muốn nhiều…”

    Những lời thật lòng của HVLN như sự công kích thói đời vốn thiên nhiều về tham, sân, si, vốn hưởng thụ, vốn bon chen, tranh giành tư lợi, bắt chẹt chèn ép lẫn nhau, vốn tham lam, đố kỵ, ganh ghét hãm hại nhau, rồi tác giả đưa vào bốn câu kết:

    “Phật đã hiểu rỏ tình nhân thế

    Đâu cần kể lể dông dài

    Hỉ, nộ, ái, ố… trần ai

    Phật thương cứu độ đoái hoài chúng sinh.”

    Trong bài “Hư Vô” HVLN viết lại những lời kinh nhật tụng tránh cõi trầm kha tục lụy, đừng gieo oán hờn, đừng mãi đè nhau, tranh hơn thua thiệt:

    “… Rời khỏi cõi Ta Bà

    Hết tranh đua hơn, thiệt

    Coi mình là vô ngã

    Cuộc sống là vô thường

    Nên chẳng còn xa la.

    … Kiếp này đừng gieo hận…

    Sẽ thoát khỏi trầm luân”

    Bài thơ vô cùng cảm động vì gần gủi với những ý nghỉ của tôi khi con người cận kề cái chết, một thoáng buồn u uẩn khi tôi đọc từng câu văn HVLN viết, chị nói về lần đi thăm người tình trong cơn “thập tử nhất sinh” trong bài “Thăm Anh Trong Phòng Hồi Sinh”:

    “Giờ này chỉ có riêng em

    Lang thang dưới ánh đèn đêm một mình

    Hỏi trăng, trăng vẫn vô tình

    Hỏi sao sao vẫn lặng thinh hững hờ “

    HVLN hỏi thiên nhiên, hỏi người yêu và lại hỏi chính mình trong nỗi ngậm ngùi, thương nhớ và rất cô đơn:

    “Hỏi mây, mây cũng làm ngơ

    Chỉ nghe tiếng gió thẫn thờ lướt trôi

    Hỏi anh, anh cũng im lời

    Hỏi mình, chỉ thấy một đời cô đơn”

    Lệ rơi trên má buồn, trăn trở như kiếp người rong ruổi trong mảnh tình sầu bi ai:

    “Lệ rơi trên má, lệ buồn

    Hồn nghe trống vắng giữa trời quạnh hiu

    Đời chia đôi ngả tình sầu

    Một vành tang liệm nỗi đau lắng chìm”

    Trong cơn hôn mê của người tình tác giả thẫn thờ tình em, khi lòng quặng đau như cắt khi nhìn máy điện tâm đồ thay đổi theo làn hơi, nhịp thở của người thương, tác giả cảm thấy yếu đuối, tâm tư bất lực đứng trước con bệnh. Tôi rất cảm thông với nỗi lòng của chị HVLN, tôi cho đây là một tuyệt tác nói về đời sống tình cảm, về tình yêu vốn nhân bản, love and care, yêu mới lo, đúng chứ:

    “Phòng hồi sinh, Anh im lìm

    Lòng đau như cắt, đứng nhìn Anh thôi

    Nhịp tim lên xuống từng hồi

    Trong cơn mê, có nhớ người Anh yêu?”

    Phải chăng Gibran cho ý tưởng chân thật như HVLN, như nhiều chúng ta ? “Tình yêu và tình cảm không nhuốm màu tư lợi và vị kỷ, mà là biểu tượng cho tình yêu thuần khiết nhất. Tất cả chúng ta nên hướng tới một mối tương quan hệ dựa trên tình yêu thương vị tha và tình cảm dành cho nhau” (Love and affection that is not tainted with self-interests and personal gain is the purest form of love. We should all move towards a relationship that is strongly based on selfless love and affection for each other).

    Tác giả thầm trách móc sự bất công của Tạo Hoá khi chia duyên rẻ thúy và sự bất công như vậy đã miên viễn đến với nàng:

    “Long đong lận đận đã nhiều

    Mà sao trời vẫn còn đầy đọa Em?

    Không cho hạnh phúc bền Duyên

    Còn đem bão tố, mây đen kéo về”

    Cuối cùng cho một tình yêu là sự chia tay vĩnh viễn. Kiếp nhân sinh vốn lắm trầm luân, bể khổ. Khi tìm hạnh phúc, ôi hạnh phúc vốn tạm bợ và rồi một cõi đi về chốn hư vô là sự chia ly trong nỗi buồn sầu thế nhân:

    “Trời như còn muốn chia lìa

    Mỗi người một nẽo não nề chưa, Anh?”

    Như đã nói thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi là con người sống thiên về tình cảm, đa đoan với đủ thứ tình cảm từ tình gia đình, tình gia tộc, tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu thiên nhiên, tình mực tím,…, và tình bằng hữu. Tôi bắt gặp bài thơ “rất Trưng Vương” dành cho người bạn cố tri đồng lớp, thi sĩ Cao Mỵ Nhân qua bài “Viết Cho Mỵ”:

    “Cao Mỵ Nhân, Cao Mỵ Nhân,

    Đọc thơ Mỵ, chợt buồn thấm nhanh,

    Lao xao gió nhẹ lay cành,

    Đong đưa, từng ngọn lá mềm đong đưa,”

    Thuở mực tím Trưng Vương năm nào lại hiện về trong hoài niệm cố tri về người bạn có máu yêu văn học, một Cao Mỵ Nhân thiên tài sáng tác thi ca từ cái thuở 13 của thi ca Nguyên Sa ca tụng lứa tuổi tuyệt vời trong văn học, khi mưa rơi nhìn những chùm bong bóng vỡ đầy tay. Chị Cao Mỵ Nhân bước tập tểnh vào làng thi ca khi vào tuổi mộng mơ mực tím tại Hà Nội. Bần bút này rất trân quý bậc đàn anh, đàn chị trong lảnh vực văn thơ, mà trong đó có những thi tài như Bích Huyền, Cao Mỵ Nhân, Hồng Thuy, Hồng Anh, Quỳnh Giao,rồi Hồng Vũ Lan Nhi, và nhiều nữa,… Riêng với các chị vừa nêu tên thuộc sân trường Trưng Vương, hihi…rất gần nhà tôi, hoài niệm có Sở Ba Son, có Thảo Cầm Viên Sở Thú. Các chị lên trung học khi tôi dứt sữa Similac hay Guigoz, lúc quý chị bước vô lãnh vực thi ca khi tôi còn chạy rong ngoài đường tắm mưa, em ơi 50% em ơi, nhất là khi Sài Gòn bị mưa lũ lầy lội những cơn mưa rào nặng hạt. Để rồi ngày hôm nay chính cả quý chị đã thành danh cho tôi viết cảm nhận thi ca của quý chị và lại do “thằng bé Guigoz tắm mưa 50% năm xưa”, dâng xúc cảm viết về nét thi ca đặc thù của quý chị góp phần phong phú hóa nền văn học Việt Nam tại hải ngoai.

    Bài “Viết Cho Mỵ” được tiếp tục:

    “Rồi nhìn nắng gắt ban trưa

    Thấy lunhg linh cả thời xưa… học trò

    Của ngày chập chững làm thơ

    Của ngày đã biết mộng mơ, biết buồn!…”

    HVLN kể về tình bạn thuở học trò khắng khít trong 16 câu kế. Đoạn kết là bốn câu nhận định về mối thâm tình của tình bằng hữu cố tri:

    “Viết cho Mỵ lá thơ này

    Gói tròn ý nghĩ, giải bày tâm tư

    Trưa nay nắng đẹp như mơ

    Ướp vào thư, gửi bạn xưa… làm quà.”

    Tôi thích tính chất thi ca của thi sĩ HVLN vì có những bài khôi hài, dí dỏm, hóm hỉnh, bỡn cợt như thơ của Vị Xuyên Trần Tú Xương, như thơ của Mậu Binh Hà Huyền Chi mà tôi vốn ái mộ trong cái thi ca tinh nghịch, cà rỡn. Hãy nghe bài “Hão Huyền”:

    “Tôi mơ mộng thật hão huyền

    Rằng tôi có thật nhiều tiền để tiêu

    Mua một miếng đất phì nhiêu

    Xây trên đó một túp lều tình yêu

    Qua bao nắng sớm mưa chiều

    Túp liều lý tưởng tan theo bọt bèo…”

    Sau những bài thơ sầu bi ai thi sĩ Hàn Mặc Tử trăn trở về Mộng Cầm hay Đỗ Lễ thổn thức với bài tinh ca “Sang Ngang”, HVLN cũng tự than trong bài “Cô Đơn” như sau:

    “Tôi cô đơn nhất trên đời

    Trần gian chẳng có người thứ hai

    …

    Phương nào cũng chỉ lang thang một mình

    Trời đầy sóng gió điêu linh

    Chỉ vì thiếu vắng Người Tình trăm năm.”

    Nhại theo bài thơ “Trăng Vàng Trăng Ngọc” của thi sĩ Hàn Mặc Tử :

    “Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!

    Ai mua trăng tôi bán trăng cho

    Không bán đoàn viên, ước hẹn hò…

    Bao giờ đậu trạng vinh qui đã

    Anh lại đây tôi thối chữ thơ.

    Không, Không, Không! Tôi chẳng bán hòn Trăng.

    Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng

    Tôi nói thiệt, là anh dại quá:

    Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang.

    Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!

    Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi

    Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi

    Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi

    Trăng mới là trăng của Rạng Ngời”

    (Hàn Mặc Tử)

    HVLN sáng tác bài thơ “Bán Sầu”, tảc giả chế nhạo người tình và chính mình như sau:

    “Ai mua, tôi bán sầu cho

    Sầu này ấp ủ đúng vừa độ men

    …

    Thế rồi sầu chàng ai mua

    Món hàng rao bán chẳng vừa lòng ai.”

    Tác giả công nhận nỗi sầu của mình và tìm người chia sẻ theo lối quảng cáo thương mại, nếu mua sầu người mua sẽ được tặng thêm sầu…:

    “Ai mua, tôi bán sầu cho

    Sầu này ủ đúng vừa độ men

    Mua rồi, tôi sẽ tặng thêm

    Chút cô đơn, chút muộn phiền, đủ chưa?”

    Từ lúc kỷ thuật điện tử liên mạng internet xuất hiện, vô số những cặp tình nhân quen qua duyên nợ email, HVLN sáng tác bài thơ bỡn cợt “Tình Email”:

    “Làm quen nhau trên… “net”

    Nào ai biết ai đâu?

    Trong mail đều kể hết

    Để hiểu rỏ về nhau

    …

    Đọc thơ cười khúc khích

    Bên này bổng dưng vuị…

    Rồi bên kia mơ mộng…

    Lòng không còn trống rỗng…”

    Thói quen trao đổi, nhận email khi thành thông lệ mà bên kia vì lý do nào đó tự động ngưng gửi email, thì bên này lòng sẽ héo úa chết khô theo “Tình Email”:

    “Bên kia E-mail đều…

    Tim bên này xôn xao

    Ngày càng thêm khắng khít

    Càng thắm thiết, đậm sâu

    Đêm nay sao trằn trọc

    Nằm nghe chó sủa ma

    Chả lẽ buồn phát khóc

    Khi vắng lá thư xa?”

    Từ những thập niên 80’s và 90’s khi con người đương đầu thần chết do các căn bệnh tim mạch vì cung cách ăn uống bừa bãi, ít vận động thể dục, nên giới y khoa rầm rộ khuyến khích người dân năng tập thể dục, vận động cơ thể. Giới con buôn không bỏ lỡ dịp may mở ra những trung tâm thể dục như Jack LaLane, Bally’s, vô số và vô số… Phong trào đến tập thể dục tại các nơi này trở thành mode thời thượng, nghiễm nhiên thành thông lệ, truyền thống, và đến đó rồi người ta kết bạn, quen nhau,…:

    “Sáng nay đến tập Bally’s

    Trên đường đi, đã thấy gì, nhớ không?

    …

    Gặp cô Em má hây hồng,

    Hỏi thăm, Em đã có chồng hay chưa?…”

    Mối tình Jack LaLane hay mối tình Bally’s lên ngôi tình ái theo tháng ngày quen nhau, khi người nam biết người thiếu nữ hiện sống độc thân gối chiếc:

    “Em là Tiên nữ cô Dâu,

    Vương miện Em đội trên đầu ngàn sao,

    Anh mang hia mão, vương bào,

    Rể Vua xin cuối đầu chào Tiên Nương,…”

    Cuối cùng cho một chuyện tình Bally’s ngày nào đã trôi theo dòng nước mưa của dĩ vãng hoài niệm, của một chuyện tình mộng mị đã qua. Rồi con tim quên ngủ ngày xưa đã không còn đắm say tình nồng và ngày nay con tim đã đổi khác..:

    “Hôm nay trời vẫn còn Đông,

    Gió vẫn lạnh vẫn trong, vẫn buồn,

    Tim xưa mê lắm tình buồn,

    Tim giờ đã khác Tim nồng năm nao.”

    Xuyên những bài thơ vui nhộn, mang tính chất khôi hài của thi sĩ HVLN, điều cuối cho tôi kết luận HVLN là con người can đảm dám nói những điều u uẩn của mình đong đầy những trang giấy đơn lẻ. HVLN không màu mè, không dấu diếm, không ngại ngùng khi tự trêu mình, đó là phong thái của trường phái Vị Xuyên mà tôi rất chuộng thi ca Tú Xương của cái thuở trung học ngày xa xưa.

    Để tóm tắt bài viết về thi tập “Hoài Niệm” của thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi, tôi xin ghi nhận nét thi ca rất lãng mạn của ngườị thơ này một lần nữa. Chúng ta hãy lắng nghe bài lục bát “Đôi Mắt”, những vần thơ thật dễ thương:

    “Tình cờ, bốn mắt nhìn nhau,

    Thẹn thùng dấu vội mây sầu trên vai,

    Cúi đầu tránh né mắt ai,

    Mà sao Tim đập mãi hoài không thôi,…”

    Bài lục bát “Ngày Cưới Em”, HVLN mô tả tâm trạng người nam chia ly với người tình khi nàng quyết định lên xe hoa:

    “… Trời thì giông gió mưa bay,

    Rượu nồng uống mãi cho say khướt đời,

    Cho quên đôi mắt biết cười,

    Đôi môi nồng ấm, dáng người thanh tơ…”

    Bài lục bát “Tim Hồng Thao Thức” diễn tả đôi tình nhân đang say men tình ái:

    “Đêm nay trăng sáng ngập trời,

    Mơ màng, hình bóng của Người phủ vây,

    …

    Tình yêu như rượu nồng cay,

    Hỏi rằng say rượu hay say men tình?”

    Bài lục bát “Ru Tình” đầy tính chất quyến luyến yêu thương:

    “À ơi, Tình hãy ngủ yên,

    Ngủ say đi nhé cho quên sầu đời,

    Đừng thao thức nữa, Tình ơi,

    Đừng mơ ánh mắt nụ cười đắm say…”

    Bài lục bát “Mùa Đông Đan Áo”, còn gì nhớ nhung hơn khi người ra đi khoác lên chiếc áo len cho ấm tâm tư do người tình ở lại đã đan cho mình…:

    “Người đi có nhớ gì nhau,

    Để người ở lại buồn đau phận mình,

    Áo đan gửi gấm bao tình,

    Từng sợi nhớ, lấp bóng hình xa xôi…”

    Bài “Sao Đành Giận Em”, tác giả bộc lộ nỗi lòng trăn trở của mình với người tình, lời văn khá táo bạo:

    “Em vẫn nhớ, mắt Anh tình tứ lắm,

    Và đôi môi ngọt lịm mật ong ngon,

    Vòng tay ôm, như rắn quấn trọn hồn,

    Em ngất ngây với tình Anh cuồng nhiệt.”

    Lại thêm một bài thơ tình táo bạo yêu đương, nào hãy nghe bài “Tặng Anh Nỗi Nhớ”:

    “Tặng Anh nỗi nhớ nhung này,

    Từ trong Tim, nhớ trào ngoài xác thân,

    …

    Nhớ từ gáy đến… lưng chừng,

    Vòng sau ra trước, ngập ngừng… gọi Anh.”

    Trong bài “Biết Không Anh”, nhưng lời tình tự nồng nàn yêu thương, những giờ hàn huyên ngọt ngào vì lý do nào đó bổng chấm dứt, người con gái chợt chơi vơi, lạc lõng trong tâm hồn:

    “Dù không nói yêu Anh,

    Sao lại buồn vô kể,

    Khi vắng giọng thân quen,

    Chả lẽ yêu là thế?”

    Trong bài thơ “Tình Muộn”, tác giả diễn tả mối tình chắp nối của nhân duyên muộn màng:

    “Trong nỗi nhớ muộn màng,

    Em dành cho Anh đó,

    Những xao xuyến rộn ràng,

    Ngất ngây Tình chớm nở”

    Và rồi nếu duyên nợ không thành trong kiếp này thì đành hẹn kiếp sau. Bài thơ lục bát cuối cùng “Lời Thề Kiếp Sau” hứa hẹn cho trọn cuộc tình:

    “Trăm năm một cõi đi về,

    Ngàn năm vẫn giữ lời thề kiếp sau,

    Kiếp này đã chẳng cùng nhau,

    Kiếp sau nguyện sẻ sầu chia vui…”

    Rất tiếc trong khuôn khổ giới hạn của bài viết ngắn không cho phép tôi đi qua trọn đầy đủ 239 hết các bài thơ của thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi, những dòng phớt nhẹ trên thi ca của chị đã được trình bày như lời giới thiệu chân tình của Việt Hải Los Angeles, để trân trọng giới thiệu thi tập đầu tay của chi. Tôi chia sẻ với chị với số tuổi đời của chị và bao năm hiện diện trong giới văn học, báo chí từ thuở trước năm 75 khi chị vừa làm giáo sư dạy trung hoc, kiêm ký giả viết cho một số báo tại Sài Gòn, thi tập này đánh dấu một khúc quanh muộn màng nhưng rất vững chãi và chín chắn khi cô đọng cuộc đời mình qua nhiều áng thi ca mượt mà, trữ tinh trong “Hoài Niệm” này. Và như hai nhà văn Vishakha Goyal và George Eliot thì những ước muốn hay gợi giấc mơ thi ca của nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi không bao giờ muộn màng cả. Vì…

    Theo nhà văn người Ấn Vishakha Goyal quan niệm: “Hãy theo đuổi ước mơ của bạn và không bao giờ là quá muộn khi đạt được kết quả” (Pursue your dreams, and achieve it. It Is never too late). Còn văn hào người Anh George Eliot cho rằng: “Không bao giờ là quá muộn để trở thành những gì bạn có thể đã có.” (It is never too late to be what you might have been).

    Một lần nữa VHLA xin chia vui cùng chị HVLN đón chào đứa con tinh thần của chi sắp sửa ra mắt giới tao nhân mặc khách hay nhiều thân hữu văn chương sẽ dến chúc vui cùng chị. Sure, I am.

    RMS “Hoài Niệm” vào ngày 20 tháng 7, 2003 tại Westminster, Little Saigon.

    Việt Hải, Los Angeles.

    27/06/2003

    ————————————————————————-

    Ân Tình Cho Thơ Lãng Mạn, Việt Hải Los Angeles:

    https://www.rongmotamhon.net/…/vhan102_tholangman.htm

    Thông Báo Đăng Kèm:

    THIỆP MỜI

    Trân trọng kính mời tất cả các thi văn hữu và quý đồng hương yêu mến bộ môn thi ca đến chung vui với chúng tôi buổi lễ Ra Mắt Thi Tập “Hoài Niệm” của Hồng Vũ Lan Nhi được tổ chức vào Chủ Nhật, ngày 20 tháng 7, 2003, lúc 1:00PM đến 4:00PM tại Phòng Sinh Hoạt Nhật Báo Người Việt, địa chỉ: 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683. Diện Thoại (714) 892-9414.

    Ban tổ chức:

    Nguyễn Kim Trinh

    Lê Minh Phú

    http://www.thuvienvietnam.com/bao/tvvn/issue17/index.cfm?ref=ARTICLES%5FTH%26%23432%3B%20T%EDN%20%2D%20TH%F4NG%20B%E1O%5F732

    ———————————————————————-

    Chương Trình:

    1:00PM-1:30PM Tiếp đón quan khách, sơ giao hàn huyên

    1:30PM-4:00PM Khai mạc

    + Giới thiệu tác giả do Cao Mỵ Nhân

    + Giới thiệu tác phẩm do:

    Phạm Thi Huệ

    Bích Huyền

    Trần Phong Vũ

    Văn nghệ (xen kẽ):

    + Ngâm thơ: Giáng Hương, Minh Nguyệt

    + Ca nhạc:

    Hoàng Nam

    Thu Hà

    Nhã Đoàn

    Ngọc vân

    Ngọc Hà

    Minh Chúc

    ++ Điều hợp chương trình:

    Uyển Diễm và Nguyễn Đình Cường

    +++ Vào cửa tự do.

    ————————————————————————

    Hội ngộ cùng nhà thơ Cung Trầm Tưởng lần thứ 5:

    http://www.ninh-hoa.com/VietHai…

    Tuyển tập thi ca Cao Mỵ Nhân – Bài Thơ Tình Muộn.:

    http://www.ninh-hoa.com/…/DS2018_VietHai-CaoMyNhan…

  • Tin tức

    Mùa Thu Sài Gòn với Khánh Lan, Thụỵ Lan và Trầm Hương Pu

    Nhân nhận được thi tập mới mới của thi sĩ Trầm Hương Pu vừa in xong, nhà văn Nguyễn Vĩnh Thịnh gửi biếu chúng tôi. Hai ông bà văn nghệ sĩ này đều nhà giáo tại miền Nam tự do trước năm 1975.

    Em hỏi anh có mùa thu Sài Gòn ?

    Tôi biết một mùa thu Sài Gòn | Radio Tâm Sự

    GS. Nguyễn Vĩnh Thịnh là cựu học sinh Petrus Ký, do vậy chúng tôi quen biết nhau. GS. Thịnh cho ấn hành nhiều tác phẩm, trong số tác phẩm ông cho ấn hành, tôi rất quý tác phẩm biên khảo mang nét triết học tâm linh, Triết Học Phật Giáo và Những Luận Đề. Với nhà thơ Trầm Hương Pu, bà yêu thơ, bà say thơ, thơ bà dã được dăng tải ở nhiều nơi như Mỹ, Canada, Úc, Pháp…. Trong tác phẩm trước mặt tôi đây: Tình Nhẹ Như Tơ, một thi tập gần một trăm trang, bìa rất thẩm mỹ, màu xanh lơ ở đầu bìa lan toả xuống, chen lẫn tím nhạt gần cuối bìa với tên tác giả Trầm Hương Pu . Tôi thoáng nghĩ người tao bìa ngỏ ý biệu lộ đây là những dòng thơ nối kết nhiều niên kỷ khi tác giả thanh xuân rồi ngày nay khi chiều về. Viết giới thiệu sách do GS. Nguyễn Khắc Phụng, Ph.D.; Thật vậy, thi tập gồm những bài thơ tình yêu thương nhuóm chất lãng mạn cho đến những bài thơ nhắc nhớ thiên nhiên và quê hương. Ví dụ như trích đoạn:

    Mùa thu Sài Gòn

    Buổi sáng trời se lạnh

    người Sài Gòn gọi thu, với những cơn mưa đổ về

    sáng trưa chiêu, bất chợt

    làm dịu đi cái cái nóng oi bức của miền quanh năm hai mùa mưa nắng

    (Tôi ra di mang theo mùa thu Sài Gòn, Trầm Hương Pu).

    Thơ tình của Trầm Hương Pu xin trích đoạn tiêu biểu như bài thơ làm tựa dề cho bìa sách, đăng ở trang 69 như sau:

    Tình một thưở như sương

    Nhẹ nhàng như phím nhạc

    Như cung sầu cung thương

    Tơ vương sầu không dứt

    (Tình Nhẹ Như Tơ, Trầm Hương Pu)

    Chúng tôi đọc những bài tình thơ ướt át khác như Trầm Hương, Nụ Cười Còn Lưu Dấu, Hạ Buồn, Độc Thoại, Mơ, Buồn, Cơn Mưa Buồn, Bâng Khuâng, Giấc Mơ Buồn, Tình Nhẹ Trầm Hương, Này Em,….

    Ba anh em chúng tôi, Thuỵ Lan, Khánh Lan và Việt Hải bàn nhau về mùa thu trong thi ca, mùa thu ở các nơi. DĨ nhiên phải có mùa thu Sài Gòn. Nói tới thu Sài Gòn. Chúng tôi nhớ đến nhạc của Ngô Thụy Miên, như bài nhạc sau:

    Em hỏi anh mùa thu Sài Gòn

    Nắng còn vương vương trên hàng phố vắng

    Em hỏi anh mùa thu Sài Gòn

    Nước mắt bây giờ có như mưa tuôn

    Sài Gòn đó em ơi

    Nước mắt đau thương che bao nụ cười héo hắt trên môi

    Cuộc đời đó em ơi

    Đã quá gian nan cho bao phận người chơi vơi một thời

    Tìm đâu tháng năm xưa

    Đâu nắng như thơ, đâu mưa tình cờ, lá hát như mơ

    Và đường phố quanh đây

    Nghe vẫn chưa quen bao nhiêu nhọc nhằn kiếp sống hôm nay

    Như mùa thu về qua một trời

    Áo lụa năm xưa đâu còn phố cũ

    Anh giờ như mộng du một đời

    Em có bao giờ thấu cho lòng anh…

    (Thu Sài Gòn).

    Để xem thi tập của tác giả Trầm Hương Pu hay GS. Phạm Thị Trí, xin tham khảo các link sau đây….

    https://tongphuochiep-vinhlong.com/tag/tram-huongptt/…

    https://online.fliphtml5.com/edkn/ukee/…

    https://tongphuochiep-vinhlong.com/2020/10/mot-goc-mua-thu/

    Thử bàn về chủ đề Mùa thu Sài Gòn ta mang theo trong miền ký ức hay là bất cứ mùa thu nơi đâu có lá vàng rơi công viên, với khí hậu ôn hoà dễ chịu, dù là ở Âu châu, Mỹ châu, Á châu,…

    Đầu tiên, nhìn về các mùa trong năm như Xuân Hạ Thu Đông theo từng tháng thì tính theo âm lịch, tháng Giêng, tháng 2, 3 là mùa Xuân; tháng 4, 5, 6 là mùa Hạ; tháng 7, 8, 9 là mùa Thu; 10, 11, 12 là mùa Đông. Theo cách tính này thì ngày mùng 1 tháng Giêng là ngày đầu của mùa Xuân. Nhưng âm lịch không phản ánh thực đúng sự biến thiên của thời tiết. Với Viêt Nam thì Sài Gòn ở vĩ độ 10 vùng ảnh hưởng nhiệt đới, được xem như có 2 mũa mưa nắng rõ rệt, Mùa thu hình như các tháng 10 dến 12 chỉ se lành lạnh, thu rất nhẹ. Còn Hà Nội ở vĩ độ 21 vùng ảnh hưởng ôn đới, Thu Hà Nội rất rõ nết. Vì miền Bắc có 4 mùa trong năm. Nhiều quốc gia ở vùng ôn đới sẽ cảm nhận được rõ rệt đặc trưng của các mùa trong năm và các đặc tính thời tiết cụ thể như mùa xuân ấm áp hoa nở khắp nơi, mùa hè nóng nực, mùa thu mát mẻ, mùa đông giá rét. Như đã nói tại Việt Nam chỉ có ở miền Bắc chúng ta mới cảm nhận được thời tiết 4 mùa trong năm còn lại miền Nam chỉ có 2 mùa; Thực sự đó là mùa nắng và mùa mưa. Khí trời của các mùa xuân hạ thu đông theo nhiệt độ khí hậu như sau:

    Mùa xuân : từ 10 – 12°C

    Mùa hè : cao hơn 22°C

    Mùa thu : từ 10 – 12°C

    Mùa đông : khí hậu dưới 10°C

    Nhà văn Thụy Lan kể về kỷ niệm mùa thu Sài Gòn trong nỗi nhớ tiềm ẩn trong dĩ vãng, nỗi nhớ Sài Gòn nay định cư nơi xứ người nên thời gian chỉ còn là khi ngồi ngắm một cơn mưa thu hoa dầu trong gió, dưới bầu trời loang nắng. Sài Gòn làm văn nhân nhớ nhiều ký ức cơn mưa thu về tháng 10, khi hoa dầu bay trong gió, dưới bầu trời loang nắng. Sài Gòn vẫn là Sài Gòn vấn vương có nắng mưa, như thời gian và trong bài hát Thu Sài Gòn của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã đem chúng tôi về với những ngày mùa thu khi ta thấy Sài Gòn chuyển mùa chút se lành vì trời đổ mưa.

    Em hỏi anh mùa thu Sài gòn

    Nắng còn vương vương trên hàng phố vắng

    Em hỏi anh mùa thu Sài gòn

    Nước mắt bây giờ có như mưa tuôn

    Trong vòm trời ký ức, mùa thu Sài Gòn hiện lên trong hồn với những tia nắng vào sáng sớm và chút se lạnh nhẹ nhàng của những cơn gió chiều vờn bay mái tóc và xoay tròn vài chiếc lá vàng trên phố hay những cơn mưa rả rích trong tiếng nhạc ru không gian thu về. Bàn luận về ý tưởng qua bài thi ca Tôi ra di mang theo mùa thu Sài Gòn, khi xem cảm tác của nhà thơ Trầm Hương Pu, hình như ai đã ở lâu với Sài Gòn thì kỷ niệm phải có, và đã mang theo như hồn thơ Trầm Hương Pu,

    Thông thường đa số người ta hồ nghi Sài Gòn có mùa thu. Thụỵ Lan cho là Sài Gòn có mùa thu khi khí trời chuyển mùa từ mùa hè oi bức nhẹ nhàng sang thu dễ chịu. Ta trầm mặc nghĩ ngợi về Sài Gòn nhe nhàng bước sang thu khi cánh phượng hồng dần rũ cánh, tiếng ve vọng vang tắt hẳn trên những con đường, trong không gian thiên nhiên và khi trời Sài Gòn bỗng mây xanh trên cao vời vợi với chút nắng vàng e ấp dưới hàng cây lác đác lá vàng rơi. Mùa thu ghé ngang Sài Gòn khi cơn gió se lạnh tràn về trong tháng 10. Cái lạnh vào buổi sáng sớm nhè nhẹ dịu dàng. Cái lạnh chỉ vừa chớm dâng lên cảm giác thu sang, khi những cơn gió heo may làm tóc bay bay trong buổi sớm tinh mơ. Thật vậy, Sài Gòn lúc sang thu đẹp thi vị và nhẹ nhàng e ấp. Hình như hàng cây vươn mình như cao hơn, trời như xanh hơn, và tiếng xào xạc của bước chân báo hiệu mùa tựu trường trong kỷ niệm.

    Nắng thu gió vờn lao xao

    Cổng trường mở rộng đón chào học sinh

    Cho năm học mới yên bình

    Người người đổ đạt cung nghinh nhân tài

    Mùa thu Sài Gòn ít lạnh hơn Huế và Hà Nội, vì 2 thành phố này ở vĩ dộ cao hơn ở hướng trên vùng ôn đới. Ví dụ như thời tiết mùa thu hiện nay, ngày 10/30/20, Hà Nội nhiệt độ ban ngày là 77°F, Huế 78°F và Sài Gòn 84°.F lúc 10 giờ sáng. Nhiệt độ Huế và Hà Nội mùa thu năm nay khá gần nhau, lạnh hơn ở Sài Gòn. Nhiệt độ 84°.F tương đương với 23° Celsius. Mùa thu Sài Gòn của Trầm Hương Pu, hay của tất cả chúng ta như se lạnh, không cần khoác áo manteau dầy hay pardessus khi đi ra phố.

    Xin chúc mừng thi sĩ Trầm Hương Pu. với tác phẩm mới Tôi ra di mang theo mùa thu Sài Gòn, do giáo sư Nguyễn Vĩnh Thịnh gửi biếu. Chúc mừng ông bà.

    Doris Thuỵ Lan, Los Angeles.

    Đấy là phần văn nhân Doris Thuỵ Lan chia vui cùng 2 giáo sư cũng là hai thi văn nghệ sĩ Nguyễn Vĩnh Thịnh và Phạm Thị Trí. Kế tiếp là phần đóng góp của nhà văn Khánh Lan bàn luận về bài thơ nỗi nhớ quê hương qua bài thi ca Tôi ra di mang theo mùa thu Sài Gòn, nhà thơ Trầm Hương Pu…

    Khánh Lan hỏi câu hỏi ngộ nghĩnh “Sài Gòn Có Mùa Thu không?”. Hỏi có nghĩa câu trả lời đã có theo ý tôi đoán. Ký ức nhìn về thì Sài Gòn có những ngày mưa, mà cứ ngỡ như mưa thu rơi trên phố.

    Nhắc đến Sài Gòn người ta nghĩ ngay đến sự sầm uất, náo nhiệt, liên tưởng tới khói bụi và những dòng xe nườm nượp như mắc cửi; rồi bỗng dưng cơn giông kéo mây đen về thật nhanh, mưa như trút nước, nhưng chỉ một lúc thôi thì trời quang đãng, mưa tạnh và nắng lại trải dài trên những con đường vẫn còn loang nước mưa trũng. Nét đẹp khác của mùa thu Sài Gòn như Thụỵ Lan và Trầm Hương Pu cho văn thơ. Khi mùa thu ghé ngang Sài Gòn khi mà tiết trời bỗng se se lạnh vào buổi sáng sớm. Cái lạnh nhè nhẹ dịu dàng. Cái lạnh theo Khánh Lan như thu về ở Đà Lạt, Luxembourg, Amsterdam, Dartmouth, Boulder, Chiang Mai, Đài Bắc, hay Seoul,… khi thu sang chỉ vừa chớm, khi những cơn gió heo may làm tóc ai bay bay trong buổi sớm tinh mơ. Không như thu có những thiếu nữ choàng manteau, caban hay pardessus loại nhẹ trên phố xá Milan, Paris, London hay Tokyo. Thu Sài Gòn khung cảnh se lạnh trời kia trên phố Nguyễn Huệ, Lê Thánh Tôn, Tư Do,… có người thiếu nữ nhè nhẹ kéo kín cổ chiếc áo khoác mỏng, nét đẹp đơn giản như trời Sài Gòn vào thu.

    Sài Gòn mùa thu bạn còn nhớ ta bước đi chầm chậm dưới những hàng me ở trung tâm thành phố. Những hàng me dọc theo những con phố để khung cảnh đáng yêu hơn, dĩ vãng có một Sài Gòn đầy lãng mạn và mộng mơ. Ai đi ngang những con đường có lá me bay dường như cũng chạnh lòng mình cảm nhận nỗi man mác thú vị bóng mát Sài Gòn dù phố Gia Long, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Duy Tân, Công Lý,… Thu Sài Gòn là thế đấy. Mùa ôn hoà nhưng thú vị, nét thi ca lãng mạn của nó ẩn hiện ra một thu Sài Gòn rất riêng khi nhìn thấy lá me gió ru nhẹ xao xác, vương lên tóc người thiếu nữ với tà áo dài trắng bay phất phới đang đi Honda dame, hay xe Cady hướng xe đến trường…

    Nỗi nhớ Sài Gòn của Trầm Hương Pu trong thi ca khiến anh em chúng tôi ghi nhận những dòng này, California chúng tôi hay Montreal của ông bà văn thi nhân, thu về cho tiết trời dịu dàng, lá vàng nhẹ rơi, trong khung cảnh mùa thu, tất cả chúng ta dang tìm về kỷ niệm cũ, Tháng 10 thu sang Sài Gòn da diết nỗi nhớ những kỷ niệm đã qua, những người đã xa…Thời gian làm quên mau mà thời gian cũng làm nhớ sâu lắng. Nỗi nhớ như sợi dây thật mảnh mai, nhưng thật sắc cứa vào ký ức vỡ òa kỷ niệm. Vết thương 1975 như không nhìn thấy mà sao không thể liền lại nỗi nguôi ngoai.

    Mùa Thu Sài gòn

    Thu Sài gòn mang theo góc nhớ

    Mộng mơ nhiều bên ni bên nớ

    Tĩnh nhẹ như tơ thu lãng đãng

    Thơ Trầm Hương ru về dĩ vãng !….

    Melinda Khánh Lan.

    Lời sau cùng chúng tôi chúc mừng thi nhân Trầm Hương Pu với dứa con tinh thần, thi tập Tinh Nhẹ Như Tơ được gặt hái nhiều thành công, được giới tao nhân mặc khách yêu chuộng hỗ trợ khi ra mắt sách..Xin chúc mừng, chúc mừng !

    Việt Hải, Thuỵ Lan và Khánh Lan.

    —————————-

    Cám ơn Thuỵ Lan và Khánh Lan.cho nhận xét về thi phẩm Nỗi nhớ Sài Gòn của nhà thơ Trầm Hương Pu, tức giáo sư Phạm Thị Trí bên khung trời Canada. Những gì hai bạn góp ý tưởng và chúc mừng khá thi vị, nhất là chia sẻ bài thơ Tôi ra di mang theo mùa thu Sài Gòn, của nhà thơ Trầm Hương Pu, Thiết nghĩ anh em chúng ta đều có kỷ niệm với mùa thu Sài Gòn. Để kết thúc tôi xin gửi tặng đôi uyên ương thi văn nhân Trầm Hương Pu và Nguyễn Vĩnh Thịnh, cùng các văn thi hữu các nơi bài thơ nhớ Sài Gòn, khi Sài Gòn là người tình ta mang theo trong tâm tưởng…. Theo lối suy nghĩ của nhà thơ Rudy Francisco, ông chỉ sáng tác đoản thi, hay thơ ngắn như sau:

    “Parfois, de courts poèmes ou de simples poèmes occupent encore le plus d’espace dans nos cœurs”.(Sometimes short poems or simple poems still hold the most space in our hearts).

    Việt Hải Los Angeles: Em yêu, Sài Gòn của anh .

    “Em yêu, Sài Gòn của anh …

    Trái tim ai chạm đến mùa thu đến bây giờ.

    Sài Gòn mùa thu trông thật đáng yêu trong vẻ đẹp thu sang

    Hỡi ai suy tưởng Sài Gòn chỉ có mùa mưa và nắng.?

    Mùa thu ngập cả một bầu trời thơ mộng như giấc mơ em ”.

    (Việt Hải Los Angeles)

    “Chérie, mon Saigon …

    Dont le cœur touche l’automne à venir.

    L’automne de Saigon est si adorable dans sa beauté

    Dont les juges Saigon n’a que des saisons pluvieuses et ensoleillées.?

    L’automne est rempli d’un ciel poétique comme mon rêve ».

    (Viet Hai Los Angeles)

    “Darling, my Saigon…

    Whose heart touches autumn coming now.

    Saigon’s autumn looks so adorable in its beauty

    Whọ judges Saigon is only having rainy and sunny seasons.?

    Autumn is filled with a poetic sky as my dream”.

    (Viet Hai Los Angeles)

    Mong gặp nhị vị quý văn thi nhân tại California nếu có qua đây, thủ dô người Việt tự do khi ra mắt sách.

    Việt Hải Los Angeles.

    ————————————————————————–

    Sau đây xin đính kèm lời tự tiình mùa thu của thi nhân Trầm Hương Pu….

    Nhớ Sài Gòn Mùa Thu để xem MỘT GÓC MÙA THU.

    Ngày đăng: 12/10/2020

    Tháng mười, sau lễ Tạ ơn,( Ở Canada lễ Tạ Ơn, vào ngày thứ hai của tuần lễ thứ nhì trong tháng mười, sớm hơn ở Mỹ ) là chính thu. Sẽ không còn những chiếc lá xanh, lá thật sự đổi màu, thu đẹp nhất là lúc nầy, nhất là hàng cây bên đường, trong công viên hay ở những cánh rừng phong( nhiều lắm nơi đây) và khoảng độ 1 tuần… lá sẽ bắt đầu… lìa cành rơi theo cơn gió.

    Tôi nhìn đám cúc Họa mi. đang héo dần dưới làn gió se se lạnh.

    Màu trắng thanh khiết, mang hương sắc tinh nguyên của đất trời… ngày nào… đang đỗi màu tàn úa.

    Hương cúc không còn nồng…hương chết theo mùa gần cuối thu. Hương nhạt theo những cơn mưa thu dù không nặng hạt.

    Mời xem link rất hay: Ebook thơ “Tình nhẹ như tơ” của Trầm Hương Ptt

    https://tongphuochiep-vinhlong.com/tag/tram-huongptt/?fbclid=IwAR1gPTtojHmG4yV-NOEe3LkcXOXbzDPajZGlk5GIpbZ4x5GD-cmRAtMiUpc

    “Thu ơi. Hãy giữ lại giùm tôi chút nắng vàng lẫn chút yêu thương hương mùa cũ”

    Mùa thu không đáp lời tôi… mùa thu đang bước dần qua cánh cửa thời gian.

    Rồi không lâu nữa, mùa đông sẽ về. Từng cơn gió đầu đông lướt qua song..Trái tim tôi nghe chừng lạnh lắm.

    Trong khoảng thời gian giao mùa thu- đông, khi nhìn hàng cây trơ cành , những sắc thu đã mất, bầu trời có những hôm xám đục, gió lạnh từ phương bắc thổi về, con người dễ bị trầm cảm, nếu không có niềm vui gia đình, bạn bè chia sẻ tâm tư, hoặc tự tìm cho mình niềm vui qua viết, đọc, xem phim, nấu ăn, đi du lịch, chụp ảnh… hay tìm đến tôn giáo mà mình đặt niềm tin, có người đêm đêm đi khiêu vũ, hát karaoke cùng một số bạn bè cùng sở thích… Mọi người đang cố thích nghi với thời gian và cuộc sống…

    Lúc nầy, vì bệnh dịch đang trở lại đợt 2 trong thành phố. Những nơi giải trí vui chơi, hàng quán vừa mở cửa chưa được bao lâu thì có lệnh đóng cửa lại . Bài học mang mask, nhớ rửa tay, giử khoảng cách ít nhất 2 m được nhắc nhở thường xuyên trên t.v. Hạn chế tụ hợp đông người, giới hạn trong nhà 10 người, ngoài sân 25 người. Thành phố kêu gọi bải bỏ ngày Halloween của trẻ em vào cuối tháng 10.

    Mọi người thật sự âu lo, nhất là sắp đến mùa dịch cúm hằng năm, cộng thêm dịch Covid lây lan. Tôi đang tìm cho mình niềm vui để vực mình dậy, vì mọi người đang lo bệnh trầm cảm sẽ xảy ra nhiều hơn, nhất là mùa đông năm nay.

    Nhìn mùa thu tàn…Tôi ngộ ra … đời không có gì là hằng cữu, muốn tâm bình yên cũng khó lắm. Làm sao để “ tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” ?

    Trầm Hương Ptt — with Mindy Pham Luu and LAT … 65 others

    (Cho những ai yêu mến mùa thu).