-
CHIA TAY HUY PHƯƠNG

Nhà Văn Huy Phương Bài viết do tác giả Nguyễn Toàn Đông, hay Bách Tùng Cao Nguyên viết ngày 28/6/2021 vốn là cựu học sinh ở trường Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long, sau lên vùng Cao nguyên Lâm Viên trong nhóm “Les Copains de Vinh Long” ở Đại học Chính trị Kinh doanh Đà Lạt. Ông nhận xét về nhà văn Huy Phương, bài viết mang tựa Nước Mỹ Lạnh Lùng: “Nhà văn Huy Phương… Nước Mỹ Lạnh Lùng là tên quyển sách đầu tiên tại hải ngoại của ông được xuất bản năm 2003. Đến nay, có 11 quyển tiếp theo đã được in ra. Ông cộng tác với nhiều tạp chí, đài truyền hình vùng Little Saigon, Nam California…. Hằng tuần, ông xuất hiện trên đài Người Việt trong chương trình Quê Nhà Quê Người. Nội dung là những gì thường ngày xảy ra với người Việt trên đất Mỹ. Hiểu là chuyện người Việt trên đất Mỹ cũng được. Nhất là ở những quyển đầu tiên…. Một hai năm, ông cho in ra một quyển. Đó là những bài viết tuần tự theo thời gian để làm truyền hình hay báo chí, được gom lại và in thành sách. Mỗi bài chỉ năm ba trang; rất tiện cho người muốn đọc. Trên tạp chí, mục này có tên là “Tạp Ghi Huy Phương.” … “Nhìn qua vài tựa sách đầu tiên: Nước Mỹ Lạnh Lùng (2003), Đi Lấy Chồng Xa (2006), Ấm Lạnh Quê Người (2007), Nhìn Xuống Cuộc Đời (2009)…Tựa sách nào cũng phảng phất tâm trạng một người vì sống xa quê nên nhớ thương quá khứ; thao thức về một cái gì đó không rõ ràng. Cộng thêm những lo toan hằng ngày ray rứt không nguôi.”.

Nguyễn Toàn Đông viết tiếp:
Và… quan trọng nhất trong câu chuyện hôm nay là tin không vui về nhà văn Huy Phương. Hiện, ông đang chống chọi lại căn bệnh ung thư hiểm nghèo. Bác sĩ muốn ông vào bệnh viện để điều trị. Nhưng ông từ chối. Ông nói ông muốn dưỡng bệnh tại nhà. Ông quyết định như vậy có lẽ vì ngôi nhà của ông là nơi ông yêu quý nhất. Ông muốn tất cả xảy ra ở đây. Bà Huy Phương luôn bên cạnh ông.
Tôi biết được tin trên do đọc được bài viết của cô Kiều Mỹ Duyên đăng trên tờ Việt báo. Cô nguyên là nữ phóng viên chiến trường thời VNCH, được chính phủ Úc cấp học bổng để theo học và tốt nghiệp Khoa Báo Chí tại Úc. Thời chiến tranh VN, cô là nữ ký giả trẻ từng ra vào những vùng giao tranh ác liệt của những đơn vị thiện chiến VNCH. Những thiên phóng sự của cô được chọn lại và in thành sách với tựa đề là “Chinh Chiến Điêu Linh.” Biết ông bệnh nhiều, cô Kiều Mỹ Duyên đến thăm như bạn cố tri một thời. Ngày xưa, nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên và Đại Úy Huy Phương Tâm Lý Chiến hẳn không xa lạ gì nhau do môi trường làm việc. Nay, trong những ngày mong manh còn lại, hy vọng ông sẽ được an ủi nhiều. Tựa đề cho quyển sách mới nhất được ông đặt là “Ga Cuối Đường Tàu”…”

Tôi thường đọc mục Tạp ghi Huy Phương trên nét, nhiều bài viết thâm thuý, dưới dạng chuyện xã hội buồn bã, oan nghiệt như “An Tiệm, Kẻ Vô Ơn”, “Con Nhà Nghèo”, “Xót Thương Nước Mỹ”, “Món Nợ Lương Tâm” (thơ Huy Phương), “Con Cái Thời Nay”, “Những Người Bị Bỏ Quên Trong Viện Dưỡng Lão”, “Tình Già”, “Ga Cuối Đường Tàu”, “Nỗi Đau Của Tuổi Già”, “Không Phàn Nàn”, “Tuổi Già Và Chuyện Lái Xe”, … Tuy nhiên, phong văn Huy Phương cũng có nét vui tươi, dí dỏm, hóm hỉnh như trong bài viết “Văn Mình, Vợ Người”.
Như vậy thì Văn là gì nhỉ? Về Văn ví dụ như văn chương là khái niệm dùng để chỉ một ngành nghệ thuật, nghệ thuật ngôn từ. Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống. Khái niệm văn chương và văn học thường bị người đời dùng lẫn lộn. Còn Văn học là khoa học nghiên cứu về văn học, nó lấy các hiện tượng văn chương nghệ thuật làm đối tượng cho mình. Quan hệ giữa văn chương và văn học là sự tương quan giữa đối tượng và chủ thể, giữa nghệ thuật và khoa học; văn chương (nghệ thuật) là đối tượng của văn học (khoa học).
Chữ “Vợ” thì nôm na là người phụ nữ đầu ấp tay gối của ta, cũng là một danh từ để gọi người phụ nữ có vai trò hợp pháp trong một cuộc hôn nhân. Nhưng “Văn Mình” là sự thể dễ hiểu như “Văn ta“, còn “Vợ Người” lại là vợ của người ta, vợ của ông chòm xóm, hay vợ của ông láng giềng, khi cầm nhầm ta phạm pháp. Chiếu theo Luật Hình sự Tiểu bang New York Mục 255.17; Phạm tội ngoại tình khi đương sự có hành vi giao phối ngoại hôn có chứng cớ với người khác vào thời điểm người đó có vợ hoặc có chồng sờ sờ đang chung sống, hoặc người kia đã có vợ hoặc chồng chung sống. Ngoại tình là tội nhẹ loại B, có thể bị phạt đến 3 tháng tù giam hoặc một năm quản chế. Vì vậy, đối với những kẻ gian lận ăn vặt xơi vụng ở New York, hãy cẩn thận. Trong khi Trong khi California là tiểu bang “chịu chơi” tình cho không biếu không, 2 kẻ lầm lỡ chung vui thì không có lỗi gì cả và luật ngoại tình không bị trừng phạt, vẫn có những tiểu bang coi ngoại tình là tội bất hợp pháp. Ngoại tình được định nghĩa là sự “giao lưu long thể” hay “cớ sự mây mưa nem chả” giao phối tự nguyện giữa một người đã có vợ hoặc chồng với người không phải là vợ hoặc chồng của mình.
Theo bài viết “Văn Mình, Vợ Người”, Huy Phương ghi nhận như sau: “Về văn, người cậy tài cho mình là nhất thiên hạ, nhưng trái lại nói về vợ nhà, thì lại cho là thua sút vợ người. Đây chẳng qua là câu chuyện có mới nới cũ, cái gì lâu cũ rồi cũng sinh nhàm chán, như chiếc xe hơi cũ chúng ta lái mỗi ngày. Mỗi ngày lái “chiếc xe nhà” ra phố hay trên xa lộ chúng ta thấy có bao nhiêu chiếc xe đời mới, đẹp đẽ, lộng lẫy, đắt tiền chạy bên cạnh hay qua mặt mình. Chúng ta thật chưa biết máy móc nó hiện đại ra sao, ghế da hay vải có mềm mại không, tay lái và cần sang số có trơn tru không, nhưng chỉ cần nhìn cái body xe, và nhất là phần sau chiếc xe cũng thấy mê vì nước sơn bóng loáng, thiết kế mỹ thuật, bắt mắt, hai hàng đèn chớp khêu gợi và nhất là cái logo của hiệu xe đắt tiền cho biết đây là một loại xe hảo hạng. Rồi chúng ta thầm nghĩ, một ngày nào đó khi chúng ta giàu lên có tiền, có chức vị, thì chúng ta cũng có thể sở hữu một cái xe như thê! Cái xe cũ này, lúc mới mua ở hãng nó vẫn còn mới, chạy êm ru, ngồi vào cái xe thấy mát rượi, nhưng quả thật bây giờ sau bao nhiêu năm, nó đã bắt đầu…tả.”
Nhật báo Al-Watan ở Saudi Arabia cho biết một phụ nữ đã kiện ông chồng ra tòa để xin ly dị sau 17 năm chung sống, sau khi khám phá ra ông đã lưu giữ số điện thoại của mình trong cell-phone là “Guantanamo” tên một nhà tù nhốt khủng bố nổi tiếng của Mỹ ở Cuba. Quý bà nghĩ sao khi thấy quý ông memo số điện thoại của vợ là “Sư Tử”, “Bà La Sát” hay “Quản Giáo” nếu ông đã đi tù Cộng Sản về. Vì chê vợ nhà nên người ta mới thích đổi món, nói theo tiếng lóng thời thượng “cơm” và “phở”. Vì chán cơm mới thích phở, nhưng theo quy luật “vợ người” thì “vợ là…cơm nguội” của ta, nhưng là “phở tái” của cha giáng giềng!!! “
Tôi chạnh nhớ bài thơ dường thi trên nét như sau…
Văn Mình, Vợ Người
Văn mình ứng với vợ người ta…
Chân lý thường luôn đúng vậy à?
Cứ ngỡ lời kia không hiện hữu.
Ai dè lý đó chẳng phôi pha.
Ngày mơ cảnh viễn đam mê bởi…
Tối mộng hình bên đắm đuối và…
Trời bắt yêu thơ, trời lại bắt…
Đi vào không ổn lại đi ra…

Về Tuyển Tập Huy Phương: “Tuyển Tập Huy Phương” gồm 12 tuyển tập tạp ghi của Huy Phương, viết từ ngày ông sang Mỹ đến giờ gồm: Sau cuốn tạp ghi đầu tay “Nước Mỹ Lạnh Lùng” (1991-2003,) ông viết không mệt mỏi với “Đi Lấy Chồng Xa,” “Ấm Lạnh Quê Người,” “Hạnh Phúc Xót Xa,” “Quê Nhà – Quê Người,” “Những Người Thua Trận, “Nhìn Xuống Cuộc Đời, “Ngậm Ngùi Tháng Tư,” “Quê Hương Khuất Bóng,” “Nước Non Ngàn Dặm,” “Ga Cuối Đường Tàu” và “Sóng Vỗ Bèo Trôi”.
Năm 2014, Huy Phương viết bài “Người Việt tỵ nạn và món nợ thương binh VNCH” như sau: “Bây giờ đã gần 40 năm qua, chúng ta cũng không oán ghét gì những thương binh cụt què của ang ngũ cộng sản trước kia, vì họ cũng là nạn nhân của sự lừa bịp chính trị, hy sinh cho kết quả của lầm than dân tộc và chỉ xây dựng cơ đồ cho một nhóm thiểu số cầm quyền. Nếu chúng ta có khả năng giúp đỡ được cho họ thì chính nghĩa của người quốc gia còn tỏ sáng, rạng ngời, tuy vậy “lực bất tòng tâm,” hải ngoại không thể giúp hết cho cả nước Việt Nam, và cũng còn một chỗ, để cho, chính những người đã hy sinh cho chế độ ấy thấy rõ bộ mặt thật của chế độ cộng sản độc ác và bất nhân.
Trong cuộc chiến giữ miền Nam Việt Nam, chúng ta ước tính có đến 350,000 chiến sĩ hy sinh, số thương binh phải gấp con số tử vong sáu lần. Qua thời gian, kẻ còn người mất, có người trở lại đời sống bình thường, người lành lặn trở lại, người đã qua đời hay ly tán, tha hương, số thương binh không có khả năng làm việc mưu sinh tại quê nhà, ít nhất phải là con số trên ang nghìn. Chúng ta lại có 3 triệu người Việt ở hải ngoại hay gần một triệu đơn vị gia đình, ước tính có 500,000 gia đình đi ra từ miền Nam, chúng ta thừa sức bảo trợ cho một ang nghìn thương binh VNCH ở Việt Nam.”
Cũng năm 2014 trong bài viết “Thay Lời” Tựa cho tác phẩm “Chân Dung H.O. và Những Cuộc Ðổi Ðời”, bài do tác giả Huy Phương và nhà văn biên khảo Võ Hương An, mà Võ Hương An tác giả của những thư tác “Đường Xưa Thành Nội” và “Từ điển Nhà Nguyễn”, bạn tri kỷ của ông giáo Nguyễn Thanh Trang, tác giả biên khảo của “Những Bước Tiên Phong và Thành Quả của Đại Học Huế từ năm 1957 đến 1975”, “Luật Quốc Tế Nhân Quyền và Trách Nhiệm Nhà Nước”, “Sức Mạnh Của Truyền Thông”, những vị văn hữu gốc Huế của nhà văn Huy Phương.
Trích đoạn bài viết: “Khoảng thời gian 1990-1998 là lúc các gia đình H.O. đến định cư ở Mỹ nhiều nhất, cung cấp nhân lực cho các dịch vụ chăm sóc người già, nuôi người bệnh, giữ trẻ tại các tư gia. Các gia đình H.O. hiện nay đã ổn định khi con cái của họ đã lớn khôn, cho ta thấy hiện nay kiếm người phụ việc nhà như ngày trước rất khó ang. Một vấn đề xã hội khác, là vào những năm trước 1990, số thanh niên vượt biên nhiều hơn phái nữ, nên có tình trạng trai thừa gái thiếu trong cộng đồng Việt Nam. Những đợt gia đình H.O. đến Mỹ đã tạo được những cuộc hôn nhân tốt đẹp và điều hòa được vấn đề khó nghĩ này của xã hội di dân. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Trời sinh voi, sinh cỏ,” nên trong giai đoạn angm H.O. mới định cư tại Mỹ, nghề “nails” bắt đầu phát triển và thịnh hành đã đưa đến công ăn việc làm không ít cho nhiều gia đình di dân mới mẻ này, và với các đức tính “chịu khó, khéo tay, cần cù,” nhiều người đã có một đời sống khá sung túc.
Các gia đình H.O. đã cung cấp nhân công cho các shop may, người trẻ thì chạy máy, người già thì cắt chỉ, nhặm lẹ thì xếp ang, đóng gói, mà cho đến giờ này vẫn còn đứng vững với thời gian. Đúng là “Trời sinh voi, sinh cỏ,” “ở xứ Mỹ này có nghèo chứ không có đói.” Các gia đình có chồng, cha đi “”cải tạo”,” đã biết cái khổ của bữa rau, bữa cháo, nên sang đây, phần lớn các gia đình này đều “chịu thương, chịu khó,” chẳng mấy chốc mà đã có một cuộc sống ổn định.”
Rồi tôi đọc tiếp Huy Phương với “Bữa Ăn Một Mình“, chuyện Huy Phuơng kể sao tôi thấy tôi trong đó. “Tôi muốn có những bữa ăn đông người, vui vẻ, có tiếng cười nói rộn ràng, nhưng thường là phải ăn những bữa ăn một mình. Bữa ăn một mình thì đâu cần đến mâm bàn dọn ra ngay ngắn, tươm tất, mà sao cũng cho xong một bữa ăn. Một tô cơm trộn thức ăn, và một cái muỗng, ngồi trước máy computer hay trước máy truyền hình.
Bạn có nghĩ một bữa ăn như thế có dễ tiêu hoá, có lợi cho sức khoẻ hay không? Và một bữa ăn như thế có buồn không? Tôi không bao giờ quên được những bữa ăn gia đình thời thơ ấu. Tất cả mọi người trong gia đình đều chờ nhau vào mâm cơm một lượt, dù là buổi sáng giờ trưa hay bữa chiều tối. Bữa cơm có cả ông bà nội, cha mẹ, cả anh chị cùng mấy đứa em nhỏ, kể cả thành viên nhỏ bé của đại gia đình là con mèo vàng luẩn quẩn chờ miếng ăn trong lòng bà nội tôi. Rồi thời gian qua đi, kẻ còn, người mất, gia đình mỗi người một nơi. Tôi lớn lên, tạo lập một gia đình nhỏ, có những bữa ăn sum họp gia đình, nhưng không quên được những người đã đi xa, không còn hiện diện trên cuộc đời này nữa. Rồi chiến tranh, tù đày, xô đẩy con người mỗi người đi mỗi hướng.“.
Kế tiếp, một chuyện buồn vơi “Nỗi Đau Của Tuổi Già“, Huy Phương kể sự kiện con cái bòn rút tiền cha mẹ già, rồi bỏ bê, hất hủi cha mẹ. “Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off. Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời. Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá 1ớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dăm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm homework, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang gồi xem TV, nó hất hàm hỏi:
-“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?”
Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:
-“Bả ấy đi khỏi rồi!” …”
Riêng bài “Tình Già” vốn xao xuyến con tim tuổi hạc của tôi … hãy đọc vui như sau… “Người qua đường nghe chuyện này có người nói, “Già hết xí- quách rồi, lấy nhau làm chi nữa?” hay về phía cô dâu chú rể, người ta cũng có thể bình luận, “lấy nhau về để đổ bô cho ông (hay bà) ấy hay sao?”
Mỗi lần mở đài phát thanh nghe các nhà thuốc Tây quảng cáo bán nào ống dẫn tiểu, túi dựng phân, tã lót, xe lăn, gậy chống… nghe đã lạnh người, cứ tưởng tượng ra đem một ông già hay bà lão về để phục vụ, rồi lo “hậu sự” đã đủ khiếp. Ở đây hai ông bà già, chỉ mới biết nhau hai mươi năm về trước, không tình mà cũng chưa đủ nghĩa, lấy nhau tất nhiên phải có lý do. Ðó là hai tâm hồn cô đơn tìm đến với nhau trong những ngày cuối đời, cũng có lý lắm chứ!
Hình như tình yêu của người Tây phương kéo dài lâu hơn tình yêu của người Á Ðông. Chúng ta thấy những ông bà cụ già cầm tay nhau đi trong công viên, thủ thỉ bên nhau, hôn nhau dịu dàng là chuyện thường tình, trong khi các ông bà cụ của chúng ta, thường già trước tuổi, bà cụ mới vừa tắt kinh đã đỏ mặt khi đụng chạm với ông cụ, cứ giẫy nẩy lên, sợ lũ trẻ nó cười, sợ già mà “không nên nết.” Vì vậy, chúng ta lại cũng thường khắt khe đối với những người lớn tuổi chết vợ, mất chồng mà còn “bước qua dư luận” tục huyền hay tái giá. Văn chương bình dân thì mỉa mai chuyện “bà già đã tám mươi tư, ngồi trong cửa sổ viết thư tìm chồng”, hay kể chuyện “bà già ra chợ Cầu Ðông, xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng? Thầy bói xem quẻ nói rằng: Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn!” thật là “kỳ thị” hết chỗ nói.
Các cụ xưa thường đùa rằng, “Càng già càng dẻo càng dai, càng gãy chân chõng càng sai chân giường.” Nhưng theo các nhà y học, thì nói như vậy là trái với khoa học, có lẽ các cụ tiếc của trời, nói cho sướng miệng thế thôi. Nhưng bao nhiêu tuổi mới gọi là già, chưa nghe ai ấn định cho rõ ràng. Vả lại vợ chồng lấy nhau lúc trẻ, sống với nhau vì tình, về già nếu không còn tình, thì sống với nhau vì nghĩa, đâu phải cần đến chuyện chăn gối mà hạnh phúc vẫn vững bền, miễn là đừng bao giờ dập tắt sự chiều chuộng thương yêu.
Cuộc hôn nhân lâu bền nhất trên trái đất này thuộc về ông bà Arrowsmith ở Hereford, Anh Quốc. Ông cụ Percy Arrowsmith vừa mất hồi Tháng Sáu 2005 khi ông được 105 tuổi, và vợ ông 100 tuổi sau khi họ tổ chức lễ kỷ niệm 80 năm hôn nhân hai tuần lễ trước đó. Bí quyết của đôi vợ chồng già kỷ lục này họ không bao giờ cãi nhau lúc lên giường và thường hôn hay cầm tay nhau trước khi đi ngủ. Mới đây nhất thì hồi Tháng Năm 2009, cũng tại Anh Quốc, ông cụ Frank Milford 100 tuổi và bà Anita 99, vừa ăn mừng hôn lễ thứ 80. Họ cũng tiết lộ là họ luôn luôn hôn nhau trước khi đi ngủ (không nghe nói trước hay sau khi tháo răng giả).
Vậy thì những ông già chết vợ, những bà lão góa chồng, nếu cảm thấy trống lạnh trên cõi đời này, chẳng có ai hôn mình trước khi đi ngủ, sao lại không có quyền bước sang bước nữa. Ở nước ngoài này hay trong nước, thỉnh thoảng tôi vẫn nghe dư luận chê trách những cái đám cưới mà ông cũng “thất thập cổ lai hy”, bà cũng “lục thập đắc nhĩ thuận” và cho đó là chuyện bất thường, nhưng nếu không là người trong cuộc, làm sao hiểu nỗi chuyện của họ. Lúc về già, vợ hay chồng mất sớm, con cái đều lập gia đình, ra ở riêng, ông hay bà thui thủi cô đơn, “lúc tỉnh rượu, lúc tàn canh” cũng buồn lắm chứ, sao không kiếm về một nửa bên kia của ai đã bỏ lại trên đời này, để ráp nối lại chiếc phi thuyền cuối đời bay về… cõi chết.
Nếu không rồi đây “khi rượu sớm, khi trà trưa, khi xem hoa nở khi chờ trăng lên” lấy ai mà đối ẩm, lấy ai mà tri kỷ. Bạn thử nghĩ rồi đây, sáng thức dậy, bên ly cà phê nhỏ những giọt cô đơn, đọc một câu chuyện vui cũng chỉ biết cười một mình như thằng điên, buồn nỗi thế sự cũng không biết chia xẻ với ai, nghe một chuyện bất bình không có trái cam mà bóp nát trong tay, lấy ai làm người tri kỷ để chuyện trò, tâm sự. Gần đây, hải ngoại quả thật có nhiều cụ, để trả thù những ngày cơ cực, tù đày, áp bức đã qua, làm những cuộc hôn nhân bước sang bước nữa với những cô con gái còn quá trẻ, nhưng không biết lượng sức mình, đến nỗi “tinh khô, lực kiệt”, trở về trên chiếc xe lăn để người đời dè bỉu, châm biếm, mà con cháu cũng xấu hổ chê cười.
Những mối tình này được kết hợp một bên là khao khát dục vọng, một bên là đồng đô la, không thể gọi là tình yêu được. Vì vậy, người đời hay khắt khe châm biếm những ông già mà lấy vợ trẻ, lại mỉa mai “trâu già mà thích gặm cỏ non” trong lúc chính các cụ quá yếu, vẫn thường lựa thức ăn mềm mà ăn thì chẳng ai nói gì.
Thầy Mạnh Tử cho rằng đại trượng phu là phải “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất.” Trong ba thứ “bất năng” này, thứ bất năng đầu tiên coi bộ khó giữ, vì thấy ở phương Tây này, các ông tỷ phú già thì lại hay lấy vợ sexy như người mẫu hay là vũ nữ thoát y. Tỷ phú Joe Hardy 84 lấy người mẫu Kristin Georgi 23, tỷ phú J. Howard Marshall 89 còn lấy cô vũ nữ playboy Anna Nicole Smith 26 tuổi, chỉ 14 tháng sau là “đứt bóng”, gây nên một vụ án chia gia tài khá ồn ào.
Nhạc sĩ Trần Văn Trạch đã hát rằng, “Khi người ta yêu nhau , yêu trong lúc hai mươi tuổi đầu, thì không phải vì tiền đâu, nhưng mà chẳng được bao lâu…”, “Khi người ta yêu nhau, yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu, thì không phải vì tiền đâu, nhưng mà chẳng còn bao lâu…”
Cho nên, bây giờ nếu các bạn nghe tin một ông cụ 90 mà lấy một bà lão 85, mặc dầu “chẳng còn bao lâu”, nhưng chắc chắn là không phải vì tiền rồi. Không phải vì tiền thì chỉ có một đường là vì tình, tình này bạn muốn hiểu là “tình cao thượng”, “tình trong sáng”, hay “tình cuối”, “tình già” sao cũng được.
Khi người ta lập gia đình năm hai mươi hay hai mươi lăm tuổi, có thể vì tình yêu xốc nổi, vì bồng bột, nhưng ở tuổi bảy mươi, sau khi đã qua tuổi “tri thiên mệnh” đã hai mươi năm, việc cưới một người về chung sống phải là việc suy nghĩ, chính chắn không ai có thể chê trách hay nghi ngờ vào đâu được. Chưa ai biết ai đổ bô cho ai, chứ đêm nay trời trở lạnh, có hơi người cũng ấm, sống một mình, có người gãi lưng giùm cũng đỡ khổ. Trên giường có hai người bạn già nương tựa vào nhau, thì trong cái ly nước trên bàn ngủ, hai hàm răng giả cũng đang ngụp lặn bên nhau. Nói theo kiểu người Huế “Ðời còn vui không có răng mô!” (Ðời còn vui, không có sao đâu!). Xin chúc mừng và nhớ “giúp nhau” nhé!!! Kakakaaaa…

Love is… Supporting each other in the old age. Huy Phương viết bài ” Tuổi Trẻ và Lớp Già“. Tôi thích quá, và viết đáp lễ trong bài sau.
Huy Phương – “Tuổi Già Hay Trẻ?”, Trần Việt Hải.
Tôi biết nhà văn Huy Phương, tôi thích phong văn ông viết, và là người của nhiều nguồn gốc, như những gốc nhà binh, gốc nhà thơ, gốc nhà văn, gốc nhà báo, gốc nhà giáo, gốc tù nhân “Hát Ô” và là người gốc Quảng Trị. Tôi đọc cuốn “Đi Lấy Chồng Xa” xong, thích ngay lối viết của ông. Lúc thì đùa cợt theo khuynh hướng Voltaire hay Mark Twain trong văn phong châm biếm, sát xà phòng, satire, savonner, dũa nhẹ phiếm hài ý nhị, duyên dáng, lúc thì nghiêm túc đưa vấn đề đề nghị xây dựng sửa đổi. Huy Phương và Quỳnh Giao (vocalist, pianist) là 2 cây bút tạp ghi tôi canh me đọc văn của nhị vị này, tôi nghĩ đây là 2 nhà văn tại hải ngoại có phong văn đặc biệt được nhiều người mến mộ.
Nhà văn Huy Phương chọn khuynh hướng tạp ghi rất đúng cho các lãnh vực văn chương và báo chí (cùng truyền thông). Lý do vì ông dùng khả năng sẵn có hay lợi điểm viết văn chuyển tải sang viết những câu chuyện tạp ghi thời sự, quan điểm về chính trị, xã hội, hay đạo đức nhân tâm, triết lý… hay sử liệu cho báo chí hay truyền thông. Những tác phẩm in ra cô đọng những bài tạp ghi đó khi 10, 20 hay 30… năm sau sẽ ích lợi lợi cho độc giả tìm về những chuyện cũ đã qua. Ví dụ như các bài trong Nhìn Xuống Cuộc Đời, Ấm Lạnh Quê Người, Nước Mỹ Lạnh Lùng trong tủ sách ở phòng đọc sách của tôi. Những câu chuyện như NƯỚC MỸ ĐÁNG THƯƠNG, MỘT NÉN HƯƠNG CHO HUẾ, NIỀM TIN VÀ LÒNG THÙ HẬN, GIỌT LỆ TRI ÂN, NHỮNG NHÀ TÙ LỚN, RỐI BỜI CHỮ NGHĨA… cho thấy Huy Phương viết gì, và những chuyện gì đã xảy ra.

Nhà văn Huy Phương.
Huy Phương còn là nhà thơ, ông làm thơ nhiều về quê hương, thân phận con người, cuộc đời người lính, những đề tài mà cuộc đời ông đã kinh qua để ngòi bút biến chất thơ theo như những suy nghĩ ở bên văn. Hình như thơ của ông gần gũi với đề tài về Huế, ví dụ như các bài: Nhớ Huế, Huế Oan Khiên, Chiều Chiều, Chiều Xuân Xa Nhà, Cát Lạnh, Chúc Thư, Nửa Đời Lưu Lạc…
“Xin gọi trăng soi khe Đá Mài
Thời gian rêu phủ mảnh đầu ai
Bãi Dâu đau xót hồn Gia Hội
Phú Thứ tóc vương trảng cát dài”.
(Huế Oan Khiên – Huy Phương)
hay
“… Mùa này Huế có còn phượng đỏ
Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa
Nơi này cả một trời hoa tím
Nhớ em xưa tiếng guốc học trò.
Mùa này Huế có còn áo trắng
Em hiện thân làm bướm tan trường
Thương ngày tháng một thời niên thiếu
Huế bây giờ – Huế đã mù sương!
Huế của tôi giờ đâu còn nữa
Cảnh vô hồn khuất nẻo người xưa
Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế
Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ…”
(Nhớ Huế – Huy Phương)

Hôm nay lại đọc tạp ghi Huy Phương, qua bài viết “Tuổi trẻ và lớp già“, Huy Phương già hay trẻ? Có lẽ ông có dư điều kiện cho số tuổi hưởng “thọ”, sẽ vào hàng niên lão không bao lâu nữa. Tôi quen với Huy Phương đủ để khẳng định ông thương mến tuổi trẻ, khi tuổi trẻ đứng lên chống CS, Huy Phương yễm trợ qua ngòi bút của ông. Huy Phương nếu có đạt đích điểm lão niên thượng thọ, tôi tin tưởng tâm tư ông vẫn cảm thông vói giới trẻ, các em trẻ xông xáo vì danh dự cộng đồng, vì tiền đồ của dân tộc.
Bài Trần Việt Hải. Link:
Đọc lại bài tạp ghi của Huy Phương- Tuổi Trẻ và Lớp Già:
https://aihuubienhoa.com/p125a4721/1/tuoi-tre-va-lop-gia-tap-ghi-huy-phuong

“Ga Cuối Đường Tàu”: Như bài hành trình đi hoả xa, nếu cuộc đời chúng ta như là những chuyến tàu xe hoả thì cuối cùng xe sẽ đến một nhà ga đích diểm. Dù thời gian sớm hay muộn chúng ta tất cả sẽ nghe tiếng xe hoả hụ còi đến phiên mình. Đây như bài chia tay cùa nhà văn Huy Phương rất thích hợp cho bài viết này để gởi đến anh, nhà văn Huy Phương, “Sống hạnh phúc, chết bình an“, là một trong nhiều bài tạp ghi của tác giả đã đăng trên tờ Người Việt như sau:
“Quả tình là không ai biết mình sẽ giã từ cuộc đời này vào lúc nào, kể cả những bệnh nhân ung thư đến thời kỳ cuối, đã được bác sĩ thông báo ngày chết. Mới vài ngày trước đây thôi, người bạn trẻ của tôi đang khỏe mạnh, nói nói cười cười, thế mà hôm nay, qua một cuộc phẫu thuật tim, thông thường sau vài ba tiếng đồng hồ sẽ tỉnh lại, anh đã không bao giờ mở mắt ra để nhìn cuộc đời này nữa. Cũng trong lúc này tôi có những người bạn nằm trong “nursing home” đã trên 10 năm dài, có người phải dùng thức ăn lỏng bơm thẳng vào dạ dày, có người đôi mắt đã hư, chỉ còn nhận ra người quen qua tiếng nói. Nghĩ cho cùng, cái chết là tất yếu, nhưng ai biết được bao giờ mình sẽ chết? Và cũng vì không ai biết trước được ngày mình chết, nên mỗi người đều đi tìm cho mình một cách sống. Ví như loài người trên trái đất này đến tuổi 60 tất cả đều phải chết, thì không còn ai phải sửa soạn hay dành dụm cho mình để lo cho những ngày chưa chết. Chính vì cái điều mà người ta thường gọi là số mệnh, cuộc sống lâu mau của mỗi người đã làm nên, mỗi người một hoàn cảnh, không ai giống ai. Khoa tử vi cũng không giải thích được cuộc đời của hai người song sinh, cùng cha mẹ, chào đời trong một giờ, một ngày, một năm, một tháng giống nhau.
Có ai bỏ lại được mọi sự lo lắng lại cho cuộc đời này để thanh thản ra đi. Phải chăng vì sự lo, sợ cung tần mỹ nữ sẽ không trung thành với mình hay ích kỷ muốn mang theo những vật sở hữu của mình, mà vua Khang Hy (1654-1722) đã “chôn theo” mình toàn bộ 48 phi tần của ông. Có người chết đi, “yêu mình” đến nỗi lo sợ sự nghiệp của mình không ai nhớ đến, nên lo đúc tượng mình khi còn sống. Nhà thơ Hàn Mặc Tử lãng mạn than khóc vì cuộc đời vốn đã bất hạnh của mình, sợ rồi khi mình nằm xuống, “không có nàng tiên mô đến khóc, đến hôn anh và rửa vết thương tâm!”
Nguyễn Du cũng ngậm ngùi “bất tri tam bách dư niên hậu, thiện hạ hà nhân khấp Tố Như?” Làm chính trị cũng lo lắng chuyện dở dang, bất thành: – “Tôi chết thì trả thù cho tôi!” Nhà văn Võ Phiến trước khi qua đời cũng băn khoăn: – “Anh nghĩ ở trong nước bây giờ người ta có đọc tôi không, hả anh?” (Nguyễn Hưng Quốc, 1 Tháng Mười, 2015). Thì ra, trước khi qua đời, ai cũng có cái lo, mỗi người lo một cách.
Chết rồi, có người chẳng muốn thiêu vì sợ nóng, nhưng cũng có người không muốn chôn, vì nằm đó, mà chẳng có đứa con nào viếng thăm, “thì buồn chết được!” Chết thì hẳn đã chết rồi, mà người chết rồi làm sao biết buồn nữa! Có người đã lớn tuổi, đau ốm quanh năm, muốn về Việt Nam thăm bà con một chuyến, nhưng bắt các con hứa, nếu lỡ có mệnh hệ nào, thì các con nhớ mang cha trở lại Mỹ. Có người ở tù Cộng Sản năm bảy năm, sang được Mỹ, bây giờ chết lại đòi mang quan tài về Việt Nam. Như vậy, chết vẫn chưa là hết, chết cũng còn nằm trong kế hoạch, chương trình, sau khi nắp quan tài được đậy lại.
Có những cái chết mang lại thương tiếc cho tất cả mọi người, có những tấm lòng và công việc của những người chết mà không ai có, không ai thay thế được, nhưng trái lại, có những người sống lâu, bị người đời nguyền rủa. Trong những cái “chẳng khoái ư!” của ông Lâm Ngữ Đường, tác giả kể chuyện ông Kim Thánh Thán, sáng sớm thức giấc, nghe đêm qua con người giảo quyệt, mưu mô nhất trong làng vừa chết, ông bèn “chẳng khoái ư?” Thoạt đầu, tôi trộm nghĩ, đã là con người với nhau, thằng xảo quyệt ấy chết, mình không buồn thì cũng dửng dưng, có đâu lòng dạ lại cảm thấy sung sướng được, như thế chẳng hóa ra bất nhân! Nhưng nghĩ lại, nếu mình không là nạn nhân, không là người chịu đựng những nỗi khổ đau trầm luân của người trong cuộc, thì không thể thông cảm với cái “vui” khi thấy người khác chết! Một con người hay một chế độ cũng vậy!
Sống bao lâu là đủ, chết lúc nào là vừa?
Phải chăng câu trả lời còn tùy theo sự sống của mỗi người. Lợi ích của cây đa, cây (bồ) đề là còn cho con người bóng mát, chứ không phải là nơi người ta gửi những cái ông bình vôi sứt mẻ để tạo ra một hình ảnh tôn kính quá đáng. Chúng ta chọn hình ảnh người tướng lãnh chết giữa trận tiền hay sống tàn tạ, chết già nua trong sự quên lãng của mọi người. Đối với một người lính, chúng ta chọn giữa cái chết hay sự sống dần dần phai nhạt?
Chưa có ai từ cõi chết trở lại cõi sống để mô tả cho con người biết cái chết, cũng không có bằng chứng khoa học về ý thức sự sống sau cái chết của một sinh vật, nhưng hầu hết tôn giáo đều cho rằng nếu chúng ta hình dung cái chết như là một sự biến mất, một sự chấm dứt, không còn lưu lại gì cả thì nhất định đó là một sự sai lầm. Nhưng có một điều chúng ta ai cũng phải nghĩ đến là có sinh thì có diệt, có sống tất phải có cái chết!
“Chẳng ai sống đời đời, kiếp kiếp, chẳng cái gì vĩnh viễn không phai. Này, anh em nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống…” “Thi nhân, riêng mình, nào phải viết bài thơ trường cửu. Hoa nở rồi tàn. Và, ai đó đã cài hoa lên áo, cũng chẳng cần khóc thương mãi mãi làm gì. Đấy, anh em, nhớ kỹ điều đó, và vui lên mà sống.” (Rabindranath Tagore – Đỗ Khánh Hoan dịch) …”
Ngoài thể văn xuôi, Huy Phương còn sáng tác thi ca. Bài thơ “Chúc Thư” của Huy Phương rất thương cảm cho thân phận người lính chiến, vì thơ khá dài, nên xin trích đoạn như sau:
“Tôi người lính già ở xa tổ quốc
Xa chiến trường lưu lạc tới đây
Nơi quê người sương pha tuyết đổ
Mang nỗi đau con ngựa lạc bầy.
…..
Không phải chỉ chịu ơn người đã chết
Tôi như còn mang món nợ nước non.
Chết không nghĩa là đã tắt hơi thở
Sống đôi khi cũng có nghĩa chết mòn.
Khi tôi chết ván hòm xin đậy nắp
Có vui chi nhìn người lính chết già
Hổ thẹn đã không tròn ơn nước
Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa.
Hãy quên tôi, người lính già lưu lạc
Đừng phủ lá cờ tổ quốc cho tôi
….
Anh em tôi trong những giờ tuyệt lộ
Nằm lại bờ lúc chiến hạm ra khơi.
Chiến hữu tôi chết đầu sông cuối biển
Ngày tan hàng đành nằm lại quê hương
Không ai trổi cho khúc kèn truy điệu
Không có ai phủ giúp ngọn cờ vàng.
Hãy phủ cờ lên nấm mồ tử sĩ
Xác bị xới đào trong nghĩa trang xưa
Hãy rải hoa trên con đường thấm máu
Phút lui binh phải gãy súng buông cờ”.
Nếu Jean-Paul Sartre cho là mục tiêu của nhà văn là đi tìm ý nghĩa cho cuộc đời, tương tự Albert Camus cho là mục đích của nhà văn là giữ cho cuộc đời không bị huỷ diệt, không bị mai một ý nghĩa sống. Và như Gabriel Marcel cho là làm cho cuộc sống này có một ý nghĩa tích cực hơn. Hay như Ernest Hemingway cho là công việc của một nhà văn là hãy nói lên sự thật. Trong khi ý tưởng của Mark Twain nghĩ là phần lớn các nhà văn coi sự thật là điều sở hữu quý giá nhất của ngòi bút của họ. Còn Nelson Mandela lại cho cảm tưởng bàn tay bạn tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho tất cả chúng ta ở trong đó. Tất cả ý tưởng trên tôi muốn quy về ý tưởng sau cùng để tiễn đưa nhà văn Huy Phương khi mà ông đã sống và sáng tác văn chương, tạp ghi Huy Phương dựa trên sự thật của đời sống, phong văn và ý tưởng của ông phục vụ những điều chân thiện mỹ của cuộc đời, phụng sự thế giới xung quanh ta bằng những mẫu chuyện mẫu mực, lành mạnh và đức hạnh.

Vẫy tay tiễn chào nhà văn Huy Phương! Chia tay và xin cảm ơn nhà văn Huy Phương đã để lại cho đời những tác phẩm quý giá. Những tác phẩm sống với những ý tưởng trên của Mandela, Mark Twain, Hemingway, Marcel, Camus và JP Sartre.
Trần Việt Hải, Los Angeles. California, Febuary 2022.
-
7 Ngày Đợi Mong
-
BOLERO TÍM, Thơ: Hồng Thúy.
-
Chiều Trên Đồi Thông
-
Nếu Vắng Anh
-
Bao Giờ Việt Nam Nước Tôi Hết Đau Khổ
Trên bản đồ thế giới, phía nam Châu Á, có một dãy đất hình chữ S, nhìn mong manh, nằm bên cạnh biển Đông, cũng gọi là biển Thái Bình. Đó là nước Việt Nam của chúng tôi.
Vài thế kỷ trước, những thế kỷ 17, 18, người dân trên thế giới đa số chưa hề nghe đến hai chữ Việt Nam. Đâu có ai biết rằng bốn ngàn năm lịch sử đã cho con cháu Việt Nam hanh diện với truyền thống dựng nước và giữ nước của các vị anh hùng Lạc Long Quân và Âu cơ.
Trải qua những thời kỳ tranh đấu chống ngoại xâm, chống giặc Tàu, một nước rộng lớn và giant ham nơi phương Bắc. Nước Tàu muốn bành trướng đất đai, nên luôn áp bức, đánh phá nước tôi. Người Tàu không những cướp đất mà còn muốn đồng hóa dân Việt. Đến thập niên 1960, người Tàu vẫn nói rằng dãy đất VN, vaiif ngàn năm xưa, là đất phía nam của nước Tàu. Và từ thập niên 1960, Tàu nói biển Đông và các đảo biển là của nước Tàu.
Xin sơ lược ngược dòng lịch sử…
Một Ngàn Năm bị Giặc Tàu Đô Hộ.
Từ trước thế kỷ 12,13 Nước Việt Nam lúc bấy giờ là An Nam, hoàn toàn được nhìn với sự thèm muốn dưới mắt Tàu. Hai nước có chung một ranh giới giữa một nước Tàu to lớn, hung hăng và một nước Vietj Nam bé nhỏ, nên Việt Nam luôn phải đối đầu với cuộc chiến giữa hai nước.
Thời kỳ sơ khai, nước Tàu đô hộ nước Việt với chủ tâm thu xai nguồn nhân lực. Việt Nam phải cống hiến vật quý giá, bắt người Việt phải lên rừng tìm lâm sản quý, xuống biển mò ngọc trai để cống hiến dâng cho Tàu. Tàu bắt dân Việt Nam làm nô lệ vì sức lao động. Làm việc không công để đổi lấy hai bữa cơm và luôn bị hành hạ thể xác. Bắt phụ nữ Việt làm tôi tớ trong nhà và bị lợi dụng tình dục. Bắt phụ nữ đã sinh con làm vú em nuôi trẻ suốt đời, mà đứa con chỉ được gọi mẹ là chị vú nuôi. Đó thật là sự bất công, một thảm cảnh của người dân bị làm nô lệ.
Bên cạnh đó, ảnh hưởng của nước Tàu đến với VN có phần rõ ràng vào những thế kỷ 17 đến tận và sau đó. Văn hóa nước Tàu đã được truyền đạt, dạy trong trường học. Hay nói khác đi là đã ảnh hưởng đến văn hóa Vietj Nam đậm nét.
Về luân lý và đạo đức, người Việt nam được học luân lý Khổng Mạnh. Và phụ nữ được học thuyết tam tòng tứ đức. Văn hóa VN bắt đầu với chữ Nho, chữ Nho bắt nguồn từ tiếng Hán. Văn Chương Việt chịu ảnh hưởng Tàu qua những tác phẩm Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm v.v. Cps thể nói là từ ngàn năm trước, triết học và văn chương Tàu rất thâm thúy. Như vậy tại sao đát nước và con người Trung Hoa giờ đây lại thoái hóa về nhân cách, lương tâm, đạo đức. Có phải chawbg vì cuộc cách mạng năm 1939 của CS đã thành công chám dứt chế độ quân chủ của nước Tàu.
CS dùng giai cấp bần cùng, thiếu học chống lại người học thức làm cho đát nước trở nên nghèo khó, dân chúng ngu muội. Bao nhiêu người đã chết cho chính sách đấu tranh giai cấp và đưa đến sự thành công của chính quyền CS. CS gây hận thù giữa các giai cấp, khuyến khích người dân chống lại chế độ phong kiến và phất lên ngọn cờ CS. Hậu quả giờ đây cả thế giới nhìn thấy sự thật kinh hoàng khi chứng kiến những công dân Trung Hoa ra nước ngoài hành xử thô lỗ, thiếu văn minh.
Ngược dòng lịch sử, nước VN đã trải qua sự đô hộ của Trung Hoa 1,000 năm. Nhưng với lòng yêu nước, người dân Việt đã anh dũng chống ngoại xâm qua những triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần. Các danh tướng như Đinh Bộ Lĩnh, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Ngô Quyền nỗ lực đánh đuổi giặc Tàu gìn giữ quê hương.
Vào triều nguyễn (1800), nước Pháp đến VN nhằm mục đích chiếm tài nguyên và cai trị VN như một thuộc địa.
MỘT TRĂM NĂM DƯỚI CHẾ ĐỘ PHÁP TRỊ
Vào thời kỳ thuộc địa, các nước Âu Châu có khuynh hướng bành trướng bằng cách đi chiếm thuộc địa khắp nơi trên thế giới, từ Phi Châu, Á Châu, Trung Đông. Nổi bật nhất phải kể tới Anh quốc là quốc gia chiếm thuộc địa nhiều nhất. Nhưng nước Pháp có ảnh hưởng sâu đậm nhát đối với dân tộc VN. Người Pháp áp đặt chính sách bóc lột và đàn áp trên người Việt. Lại một lần nữa các vị anh hùng đáp lại lời sông núi như Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng. Về sau này có Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đều là những anh hùng đứng lên chống lại bạo quyền người Pháp.
Sự Hình Thành của Đảng CS Viet Nam
Song song với phong trào thuộc địa, vào thời gian này, tư tưởng CS đã thành công ở Sô Viết qua cuộc cách mạng 1917. Lý thuyết CS du nhập vào VN ở những năm đầu 1940 qua tay CS quốc tế Hồ Chí Minh. Phong trào Việt Minh được thành lập để chống lại thực dân Pháp. Sau khi thua trận Điện Biên Phủ, Pháp rút ra khỏi VN sau Hiệp Định Geneve, lấy Vĩ Tuyến 17 chia đôi đất nước. Miền Bắc do CS cai trị.
Miền Nam khá hơn được hưởng không khí tự do. Sau khi vua Bảo Đại từ chức, Ông Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống, bắt đầu nền Đệ Nhất Cộng Hòa.
Nước Việt Nam Cộng Hòa
Cộng Sản VN ký hiệp định Geneve, nhưng vẫn tham lam muốn thôn tính miền Nam. Họ đưa ra cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Từ năm 1960-1975, miền Nam luôn bị đánh phá. Quân đội và chánh phủ VNCH đã chiến đấu anh dũng suốt ¼ thế kỷ để bảo vệ tự do. Khi hiệp định Paris 1973 vừa được ký kết xong, quân đội đồng minh HK đã quyết định bỏ miền Nam. Người chiến sĩ VNCH tiếp tục chiến đấu trong cô đơn. Ngày 30 tháng tư năm 75, xe tăng CS tiến vào dinh Độc Lập, và tướng Dương Văn Minh đã đầu hàng CS Bắc Việt.
CỘNG SẢN CƯỠNG CHIẾM MIỀN NAM 30-4-1975 và cai trị
Kẻ ngu dốt thắng người trí thức. Kẻ dã man thắng người văn minh. Nhìn những người chiến thắng nét mặt ngơ ngác, quần áo xốc xếch, mang AK tiến vào Sài Gòn mà đau lòng. Chính quyền CS bắt đầu gọi những quân nhân VNCH ra trình diện đi “học tập cải tạo”. Thật ra là một sự trả thù ghê gớm đối với bên thua cuộc. Cả nước VN như sống trong một nhà tù khổng lồ. Kế đến là cướp bóc thẳng tay với chiếu bài đánh tư sản, hằng loạt những lần đổi tiền, bức dân miền Nam đi kinh tế mới, thành lập hợp tác xã, v.v. Hậu quả là dân đen đói khổ. Con trai thì bỏ xứ đi làm thuê ở nước ngoài. Con gái lấy chồng ngoại quốc để nuôi gia đình thậm chí còn bán thân nuôi miệng. Thật là địa ngục trần gian.
Sau hàng chục năm bóc lột. Các cán bộ bắt đầu khoe của. Họ tậu nhà lầu xe hơi. Một tầng lớp tư bản đỏ và con ông cháu cha sống sung sướng bên cạnh sự đói khổ của người dân. Chúng chuyển tiền ra ngoại quốc, mua bất động sản, cho con cái du học, chuẩn bị cho những cuộc sống tương tươi đẹp ở nước ngoài. Trong khi đó dân tình tiếp tục đói khổ.
Bên cạnh những bóc lột, chính quyền VN còn bán biển, bán đất cho Trung Hoa. Người Tàu bây giò làm chủ những vùng đất giá trị. Tiền bán đất chạy vào túi các cấp lãnh đạo và người dân mất đất đai canh tác. Còn tệ hại hơn là cho thuê Đặc Khu 99 năm để khai thác tài nguyên và làm ô nhiễm môi sinh như vụ khai thác bô-xít.
2021 VIỆT NAM ĐAU THƯƠNG VÌ BỊNH DỊCH COVID 19
Vi trùng Covid tràn lan trên thế giới. Việt Nam vì thiếu hạ tầng cơ sở y tế không có cách nào để giúp đỡ người dân. Dân chết nhiều vào tháng tám, tháng chín năm 2021. Sài Gòn bị niêm phong. Người dân bị cấm sinh hoạt và di chuyển. Không công ăn việc làm. Người nghèo không biết cầu cứu ai. Nhà nước thản nhiên trước những thảm trạng kinh hoàng: không thuốc chích ngừa, bệnh viện không có chỗ, người chết không ai chôn, thiếu thực phẩm, v.v.
SÀI GÒN SAU ĐẠI DỊCH
Nhà nước VN sẽ phải đối diện với nhiều khó khan trước mặt. Thứ nhất là vệ sinh chung của thành phố. Những nơi bị nhiễm bênh, có người chết, những nhà trọ đông người cần phải được tẩy uế. Hệ thống y tế cần phải được cải tổ để đáp ứng đúng nhu cầu của người dân.
Một số công ty nước ngoài sẽ rút khỏi Sài Gòn. Do đó người dân sẽ thất nghiệp, kinh tế sẽ suy sụp, các ảnh hưởng dây chuyền sẽ dẫn tới đói nghèo.
Ôi! Biết đến bao giờ dân tôi mới hết khổ đau. Xin Thượng Đé cứu giúp nước VN, ban cho đát nước có những người lãnh đạo tài giỏi biết lo cho dân.
Lê Nguyễn Nga
29 tháng 9, 2021
-
Bài Thơ Hoa Đào
-
ĐẦU XUÂN ĐỌC THƠ CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH TRÊN NHẬT BÁO VIỄN ĐÔNG, BÀI VIẾT CỦA KÝ GIẢ THANH PHONG
Mời vào xem:
http://m.viendongdaily.com/dau-xuan-doc-tho-mau-thoi-gian-cua-nu-si-duong-hong-anh-XfIbSXBl.html
“Tuổi đời nay đã chín mươi Vẫn vui với cảnh với người chung quanh Vẫn làm thơ ngắm trời xanh Vẫn đi dưới nắng một mình ngâm nga” Tám câu thơ lục bát trên là một đoạn trong bài thơ “Hai quê hương một trời Tâm Sự” của nữ sĩ Dương Hồng Anh, nói lên tâm trạng lạc quan yêu đời và dòng thơ vẫn luôn chảy trong người của bà, một nữ sĩ nay đã 91 tuổi đời nhưng sức sống dẻo dai và một tinh thần minh mẫn ít người có được. Nữ sĩ Dương Hồng Anh không xa lạ gì với những người yêu thơ vì bà đã làm thơ và xuất bản tập thơ “Hương Mùa Chinh Chiến” chung với các nhà thơ Minh Tân, Tuyết Lan, Minh Đức từ năm 1952 tại Hà Nội. Sau các tập thơ Hương Mùa Chinh Chiến, Từ Phương Trời Xa, Chiều Bến Đợi, Tiếng Thầm, Đôi Bờ Thương Nhớ, Mầu Trăng Thuở Ấy, Sợi Nhớ Sợi Thương, Tình Thu, Vương Vấn Hồn Quê, Nguồn Cội và tập thơ thứ 11 là Mầu Thời Gian. Mầu Thời Gian gói trọn 102 bài thơ mới sáng tác. Ngoài ra, có 5 bài thơ của nữ sĩ được các nhạc sĩ Võ Tá Hân, Chương Lương, Lâm Dung, Trương Huy Tùng, và Trần Chương Lương phổ nhạc kèm theo những bài giới thiệu về tác giả của các văn thi hữu như Bùi Bích Hà, Huy Trâm, Trần Việt Hải, Hoàng Minh Chân, Nhật Thịnh, Trần Ngọc Quỳnh, Chinh Nguyên, Trịnh Mân, Tô Dũng, Trần Minh Trí... Nữ sĩ Dương Hồng Anh, theo thế thứ họ Dương, bà tên là Dương Nguyệt Anh, ái nữ của cụ Dương Tự Tám. Bà sinh năm 1931 tại Hà Nội là cháu nội trực hệ của cụ Dương Khuê, một danh sĩ nổi tiếng của đất Hà Thành từ thế kỷ 19. Theo nhà văn Việt Hải cho biết, Cụ Dương Khuê xuất thân trong một gia đình Nho gia vọng tộc, làm quan thời nhà Nguyễn và rất mực thanh liêm. Năm 1897 không chấp nhận chính sách cai trị của Chính Phủ Bảo Hộ, cụ xin từ quan lúc mới 58 tuổi, được ban tặng hàm Thượng Thư Bộ Binh. Cụ mất năm 1902. Nghe tin bạn thân ra đi, Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ “Khóc Bạn”. Bài thơ đã được ghi vào Văn Học Sử. Khi đọc hai câu đầu của bài thơ: “Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta....” Ai cũng biết bác Dương là cụ Dương Khuê mà Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã khóc thương... Dòng họ Dương của cụ Dương Khuê đều là những bậc nho nhã, có lòng yêu nước thiết tha và đặc biệt rất giỏi văn chương, thi phú. Trong số các cháu nội của cụ Dương Khuê có những người nổi tiếng như nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Giáo sư Tiến sĩ Dương Thiệu Tống, nhà thơ Dương Tuyết Lan, Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, nhạc sĩ Dương Thụ, thi, nhạc sĩ Dương Hồng Kỳ, bác sĩ tim mạch Dương Hồng Tạo và nữ sĩ Dương Hồng Anh. Với một danh gia vọng tộc đáng quý như vậy nên thơ của thi sĩ Dương Hồng Anh luôn phảng phất nỗi hoài niệm về cố hương, niềm thương nhớ, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ cố nhân: “Nắng tàn hiu hắt tóc pha sương Đất khách xa mờ bóng cố hương Mẹ ơi! Mẹ hiện thân hiền đức Mẹ ở nơi nào, Mẹ ở đâu? (đoạn cuối bài Ngày Giỗ Mẹ) Sau khi lên chùa lễ Phật hôm 30 Tết, nữ sĩ Dương Hồng Anh nghĩ đến cố nhân qua 4 câu thơ: “Xuân mới về đây, xuân hỡi xuân Hồn thơ dào dạt đã bao lần Bao lần khai bút mừng xuân mới Chén rượu đào nay vắng Cố Nhân” (bốn câu cuối trong bài Rượu Đào Vắng Cố Nhân). Không chỉ nhớ thương mẹ, cha; thương nhớ cố nhân, ước mơ của nữ sĩ được trở lại quê hương đang phải xa ngàn dặm: Tôi vẫn làm thơ dưới nắng mai Ước mơ đi hết quãng đường dài Mơ về cố lý xa ngàn dặm Bát ngát khung trời nắng lụa bay..” (Ước Mơ) hay mòn mỏi trông ngóng ngày trở về cố hương: “Tôi bước chân đi giữa sóng đời Mênh mang tâm sự trải buồn vui Quê người đất khách thơ hoài niệm Mong ngóng ngày về, năm tháng trôi....”(Nhớ Trăng Xưa)

Nữ sĩ Dương Hồng Anh (mặc áo dài màu hồng) đang ủng hộ buổi ra mắt sách của nhà văn Khánh Lan hôm 19 tháng 9, 2021. (Thanh Phong/ Viễn Đông) Không chỉ trải lòng mình trong những vần thơ yêu quê hương, thương cha, nhớ mẹ, mong ngóng ngày trở về thăm lại cố quốc, mà nữ sĩ Hồng Anh còn bày tỏ tâm tình Tạ Ơn với những người bạn hiền, với thân hữu, bạn đọc và những bạn thơ của mình qua bài thơ “Chiều Thơ Nhạc” với 4 câu thất ngôn cuối :
“Cám ơn bè bạn đã cho tôi
Những đóa hồng nhung thật tuyệt vời
Những nụ cười như viên ngọc quý
Cài hoa lên chữ “Tạ Ơn Đời”.Với 102 bài thơ trong Mầu Thời Gian, chúng tôi rất tâm đắc với lời nhận xét của nhà văn Chinh Nguyên vể nữ sĩ Dương Hồng Anh: “Phải một thi sĩ già dặn, tâm hồn bao la khoáng đạt mới có thể cảm xúc như vậy. Những cảm xúc ấy rung động một tấm lòng đầy ắp yêu thương, đượm thế thái nhân tình, giàu hoài niệm quê hương, chốn xưa cảnh cũ…”
Tác giả đã khéo chọn bài thơ “Những Gì Còn Lại” để cô động tâm tư, ước vọng của mình và để đánh dấu chấm hết cho tập thơ Mầu Thời Gian:
Những gì còn lại trong tôi
Bình minh vẫy gọi, mây trời lang thang
Đêm khuya một ngọn đèn vàng
Bút thơ làm bạn tri âm mấy mùa
Những gì còn lại trong mơ
Tôi ngồi đọc sách làm thơ cho đời
Nhạc chiều theo gió chơi vơi
Chiều lên khói biếc lá rơi chập chờn
Lá rơi hong nắng hoàng hôn
Con đò năm tháng thả hồn lãng du
Bể dâu trắng biển sương mù
Năm canh dệt mộng sông hồ…gửi ai…?Cám ơn nữ sĩ Dương Hồng Anh đã gửi tặng chúng tôi tập thơ Mầu Thời Gian. Cầu mong sang năm mới Nhâm Dần 2022, nữ sĩ vẫn được Ơn Trên cho thể xác khỏe mạnh, tinh thần minh mẫn để tiếp tục làm thơ cho đời và dệt mộng sông hồ gửi cố nhân.
Ký Giả Thanh Phong, nhật báo Viễn Đông
-
SINH HOẠT CUỐI TUẦN, BÁO VIỄN ĐÔNG
http://m.viendongdaily.com/sinh-hoat-cuoi-tuan-MqlM8KEU.html
Bài KIỀU MỸ DUYÊN, HỌP BÁO. CHỦ ĐỀ: DÂN TỘC TỰ QUYẾT, MỤC SƯ NGUYỄN CÔNG CHÍNH.

Mục sư Nguyễn Công Chính đang thuyết trình Sinh hoạt cuối tuần trong cộng đồng Việt Nam phong phú lắm và đầy ý nghĩa. Người tham dự dù lớn tuổi, trẻ tuổi, phụ nữ hay nam giới, người nào đến chỗ đông người đều ăn mặc rất đẹp. Niềm vui của họ là hội ngộ, là gặp gỡ người thân và đồng hương.
Thứ sáu ngày 17/9/2021, chúng tôi tham dự cuộc họp ở thư viện Việt Nam đường Westminster, thành phố Garden Grove, do mục sư Nguyễn Công Chính tổ chức. Đề tài rất hấp dẫn: Dân Tộc Tự Quyết. Nghe đề tài này, quý độc giả cũng biết là những người yêu nước cũng biết tâm huyết của người tổ chức là quyết tâm tranh đấu để cho nước Việt Nam người dân làm chủ, người dân quyết định vận mạng của mình, của đất nước mình mà không lệ thuộc vào ngoại bang.
Mục sư Nguyễn Công Chính suốt đời tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do tôn giáo ở Việt Nam. Ông đã từng bị bắt, bị hành hạ, bị ở tù. Ông tranh đấu cho sự bất công với đồng bào Thượng ở cao nguyên Trung Phần. Bà mục sư cũng thế, khi phái đoàn Liên Hiệp Quốc đến Pleiku phỏng vấn bà mục sư, sau đó Cộng Sản vào nhà hỏi cung, chất vấn bà. Bà im lặng không trả lời thì bị đánh, bị đá vào người, gãy cả xương. Con trai ôm mẹ cũng bị đánh đập một cách tàn nhẫn. Sau đó, nhờ sự can thiệp một cách mãnh liệt của đồng bào ở hải ngoại, nhất là giáo hội Tin Lành, ông được đưa từ nhà tù ra phi trường, gia đình ông đã được đưa ra phi trường trước. Từ ngày được định cư ở Mỹ, gia đình ông tiếp tục tranh đấu cho Nhân Quyền ở Việt Nam. Theo mục sư cho biết thì ông đã vận động được đồng hương 17 quốc gia ở Âu Châu, Mỹ, Úc, và Á Châu, mục đích tranh đấu cho Dân Tộc Tự Quyết.
Buổi họp báo Dân Tộc Tự Quyết ở thư viện Việt Nam có nhiều quan khách nổi tiếng trong cộng đồng tham dự như ông Nguyễn Tấn Lạc, bà Như Hảo, giám đốc đài Mẹ Việt Nam, ký giả Thanh Phong của nhật báo Viễn Đông, ông Võ Đức Văn người điều khiển chương trình họp báo. Mục sư Chính trình bày mục đích của buổi họp báo hôm nay. Ông trình bày ngắn gọn, ông nghĩ rằng sẽ có biến cố xảy ra trong nước trong những ngày sắp tới. Ông kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước một lòng tranh đấu cho quê hương có được quyền tự quyết cho đất nước của mình, không để ngoại bang xâm lấn.
Lòng yêu nước của mục sư Nguyễn Công Chính được nhiều người tán thành và ủng hộ, trong đó có ông Võ Đức Văn, nói lên nỗi lòng của mình. Ông Võ Đức Văn đã từng tranh đấu ở Thái Lan. Ông Nguyễn Tấn Lạc cũng là một nhà hoạt động chính trị ở hải ngoại nhiều năm và hoạt động không ngưng nghỉ.
Mục sư Nguyễn Công Chính lắng nghe tiếng nói của đồng hương để tổ chức đại hội lần tới vào tháng 3/2022. Đề tài Dân Tộc Tự Quyết sẽ được tổ chức khắp nơi trên thế giới.
Ông Phát Lưu, một nhân sĩ trong cộng đồng Việt Nam ở miền Nam California kêu gọi sự đoàn kết của tất cả mọi người ngồi lại với nhau để cùng tranh đấu cho quê hương có quyền dân tộc tự quyết. Ông rất chú trọng về văn hóa ở hải ngoại. Ông khuyến khích người trẻ phải học tiếng Việt, phải nói tiếng Việt thông thạo. Ông khen một người trẻ đứng bên cạnh ông là Nguyễn Minh Triết nói tiếng Việt thông thạo. Con của ông không nói tiếng Việt thông thạo như người trẻ này. Con của ông là luật sư, lẽ dĩ nhiên giỏi tiếng Anh hơn tiếng Việt. Một ngày nào đó các cháu thế hệ thứ hai, thứ ba, thứ tư sẽ giỏi tiếng Việt, sinh ra và lớn lên ở đây nhưng các cháu tự hào mình là người Việt Nam.
Trong cuộc họp này trong giới truyền thông tham dự cũng đông, có sự hiện diện của nhạc sĩ Nam Hưng, Đoàn Thế Cường, Phan Bùi Đạt, Kỳ Quỳnh, Trần Trung Dũng, Vũ Hoàng Lân, v.v.
SINH NHẬT CỦA NHẠC SĨ NAM HƯNG
Thứ Bảy, ngày 18/9/2021
.jpg)
Kiều Mỹ Duyên chúc mừng sinh nhật nhạc sĩ Nam Hưng Nhạc sĩ Nam Hưng tốt nghiệp quốc gia âm nhạc ở Việt Nam, định cư ở Hoa Kỳ, hiện nay đang dạy nhạc. Những nhạc sĩ phổ thơ của Hòa Thượng Thích Quảng Thanh là nhạc sĩ Hoàng Văn Quế, nhạc sĩ Võ Tá Hân, nhạc sĩ Thùy Linh, và nhạc sĩ Nam Hưng. Ngày xưa thơ, nhạc về dạo Phật không nhiều, sang định cư ở Hoa Kỳ, nhiều nhạc sĩ phổ thơ thành nhạc ngày càng nhiều hơn. Đó là niềm vui, vì nhạc đi vào lòng người nghe, dễ truyền cảm hơn.
Nhạc sĩ Nam Hưng giúp nhiều chùa ở miền Nam trong những ngày lễ Vu Lan, Phật Đản, đêm giao thừa, v.v..
Đây là sinh nhật thứ 5 của nhạc sĩ Nam Hưng được tổ chức ở Fountain Valley, tại nhà hàng chay. Trong không khí ấm cúng, không quá 15 người gồm gia đình và bằng hữu. Ca sĩ Cao Thu Hương hát bài Tình Mẹ tuyệt vời. Nhìn vào ánh mắt, nghe cô diễn tả về tình mẹ con, mọi người xúc động lắng nghe. Cô kể lúc cô tập bài hát này thì mẹ cô mất. Cô khóc và khóc hoài, không tập luyện được, ngày nào cũng khóc. Cao Thu Hương đi trình diễn khắp nơi lấy nước mắt của khán thính giả qua bài hát Tình Mẹ. Cô diễn xuất rất linh động, tiếng hát từ trái tim của người con thương mẹ. Ai cũng có mẹ, ai cũng thương mẹ của mình cho nên bài Tình Mẹ đến với gia đình Nam Hưng, đến với bằng hữu đúng lúc, trong không khí thân mật, mọi người lắng nghe không một tiếng động.
Kỹ sư Miên Trường với đôi mắt ươn ướt, xúc động nói:
– Trước ngày tôi đi vượt biên, mẹ tôi cho tôi 1 chiếc nhẫn và chúc thượng lộ bình an. Đến bây giờ tôi vẫn còn ân hận sao tôi lại đi, tôi bỏ lại mẹ tôi, tôi rất thương mẹ tôi.
Bằng hữu hiện diện rất thông cảm với thân mẫu của Miên Trường. Người mẹ nào cũng muốn con của mình có tương lai. Nếu bây giờ người trẻ Miên Trường không thoát khỏi chế độ Cộng Sản, vẫn còn ở Việt Nam thì làm sao có kỹ sư Miên Trường thành tài trong xã hội như bây giờ? Con thương mẹ thì ân hận nhưng mẹ thương con thì hãnh diện về con của mình thành tài nơi xứ người. Con luôn nghĩ về cha mẹ, về quê hương, tổ quốc của mình và lúc nào cũng nhớ mình là người Việt Nam.
Khi ca sĩ Cao Thu Hương hát, kỹ sư Miên Trường nói về mẹ của mình, mọi người im lặng vì bài hát và những lời phát biểu chân thành đi vào trái tim của người nghe.
Lời phát biểu của nhạc sĩ Nam Hưng giản dị, là lời cảm ơn nồng nhiệt đến gia đình và bằng hữu. Khi nào Nam Hưng có những sáng tác mới về đạo sẽ mời bằng hữu nghe. Con trai của Nam Hưng, Arnie rất hãnh diện về bố của mình. Mỗi lần Nam Hưng để hai bàn tay vào phiếm đàn thì cháu lắng nghe không nói một lời, chăm chú nhìn bố của cháu. Khi tôi hỏi cảm nhận của cháu về người bố nhạc sĩ tài năng, Arnie cười cười và nói:
– Con thương bố con lắm, cô à!
Nhạc sĩ Nam Hưng sẽ có những sáng tác mới về đạo không phân biệt tôn giáo và sẽ mời đồng hương thưởng thức trong chương trình nhạc của nhạc sĩ Nam Hưng. Nhạc sĩ Nam Hưng phổ nhạc nhiều nhất là thơ của cố Hòa Thượng Thích Quảng Thanh tức là thi sĩ Thanh Trí Cao. Bài Phật Giáo sứ mạng Hòa Bình được rất nhiều người yêu chuộng. Nhạc sĩ Nam Hưng cũng đã phổ nhạc từ thơ của ni sư Thanh Tịnh Liên Thích Nữ Chân Thiền, thiền viện Sùng Nghiêm, phổ nhạc 4 bài, 1 bài của thầy Viên Lý, 1 bài mới sáng tác của thầy Liễu Nguyên, chùa Quan Âm ở Anaheim, và DVD Hoa Ưu Đài Nở của ni sư Giới Hương, chùa Hương Sen ở Perris.
Trong số quan khách có 1 người Mỹ, ông thích ăn thức ăn Việt Nam, thích nghe nhạc Việt Nam. Khi ca sĩ Quan Kiều cất tiếng hát, ông khách người Mỹ này lắng nghe, chia sẻ và nguyện cầu. Đến sinh nhật của nhạc sĩ Nam Hưng, nhà hàng sắp đóng cửa, mọi người ra về còn lưu luyến, đứng ở chỗ đậu xe còn nói chuyện tiếp, hình như tình cảm của người và người không bao giờ hết.
NHÀ VĂN KHÁNH LAN RA MẮT SÁCH

Kiều Mỹ Duyên đến chúc mừng nhà văn Khánh Lan trong buổi ra mắt sách Nhà văn Khánh Lan trẻ và đẹp là con dâu của Nhà thơ Úy Việt Cường Lưu Tấn Lâm, ra mắt 4 quyển sách ở thành phố Westminster, đó là: Vài Nét về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại, Dĩ Vãng Khôn Nguôi, Tuyển Tập Truyện Ngắn: Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh và Thám Tử Lê Minh.
Nhà văn trẻ này sáng tác một cách hăng say. Ông bà mình thường nói hậu sinh khả úy, nghĩa là người trẻ sẽ vượt qua người đi trước, con hơn cha nhà có phước.
Một buổi ra mắt sách vô cùng long trọng với sự hiện diện của nhiều người nổi tiếng trong cộng đồng như thi sĩ Dương Hồng Anh, nhà văn Nguyễn Duy Quang, nhà văn Phạm Gia Đài, ký giả Thanh Phong, giáo sư Dương Ngọc Sum, giáo sư Nguyên Di, Quỳnh Giao.
Những bóng hồng tha thướt trong những chiếc áo dài rực rỡ đón khách từ ngoài cửa vào trong phòng họp, đa số là phụ nữ, có sự hiện diện của 3 thế hệ.
Nhà văn Khánh Lan là ngôi sao sáng hôm nay trong chiếc áo dài màu hồng lóng lánh kim tuyến, tất bật ký tên vào sách để tặng khách. Những bậc trưởng thượng như giáo sư Dương Ngọc Sum, nhà văn Trần Phong Vũ, thi sĩ Dương Hồng Anh, ký giả Thanh Phong, sách tặng đã ký sẵn. Người nào cũng thích chụp hình chung với tác giả.
Ca Sĩ Mạnh Bổng, phu quân của tác giả rất đẹp trai nhưng ít người biết vì không ở bên cạnh vợ. Nhiều người có vợ đẹp, đến giữa đám đông thường đứng hoặc ngồi bên cạnh vợ, nhưng Mạnh Bổng lại khác, chạy tới chạy lui lo hậu trường cho vợ.
Ban nhạc và ca sĩ đến rất sớm. Trên sân khấu hết người này đến người khác trình diễn. Âm nhạc rất quyến rũ con người, nơi nào có âm nhạc, có thơ văn thì có người đến đông. Các bài hát tuyệt vời qua các giọng hát truyền cảm của Minh Ngân, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Thụy Lan, Tammy Minh Tâm, Trâm Anh, Mạnh Bổng, Bùi Quỳnh Giao, Đạt Tiêu, Đào Minh Tâm và Nhóm Vũ Tiếng Thời Gian. Ra mắt sách mà không nói về sách, mà hát thì nhiều hơn, có lẽ để đồng hương tự đọc, tự thưởng thức cái hay của sách?
Nữ sĩ Dương Hồng Anh đã gửi tặng hai bài thơ chúc mừng ngày ra sách của Khánh Lan. Nhạc sĩ Hạ Đỏ Bích Phượng hòa âm bài “Ngày vui hộn ngộ.” Ca nhạc sĩ Lâm Dung hòa âm và hát trình diễn nhạc phẩm “Xa quê hương của Khánh Lan.

Khán giả là thân hữu của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian Trong số quan khách tham dự ngày ra mắt sách có thân phụ của tác giả, cựu Đại Úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông rất hãnh diện về con gái của mình, nhưng ông rất khiêm tốn chỉ cười khi có người khen con gái của ông.
Tác giả không nói nhiều, chỉ nói mình viết việc thật, không hư cấu, viết với trái tim cảm xúc của mình. Những diễn giả nói về sách của Khánh Lan: Giáo Sư Trần Huy Bích, Giáo Sư Quyên Di và nhà văn Trần Phong Vũ. Những người đọc sách để phát biểu là những người nhiều công phu nhất. Giáo Sư Trần Huy Bích, Giáo Sư Dương Ngọc Sum, nhà văn Việt Hải, nhà văn Nguyễn Quang, nhà văn Ngọc Cường, nhà văn Vương Trùng Dương, và nhà văn Dương Viết Điền đã viết lời tựa cho sách.
Nhà báo Thanh Phong, Phạm Khanh- đài truyền hình Little Saigon, Minh Trương- Saigon TV đến phỏng và viết phóng sự, các nhiếp ảnh gia Nguyễn Thiều Minh, Lê Hùng và Phú Lê Văn chụp hình lưu niệm.
Ông bà Susan và John Tạ bảo trợ buổi ra mắt sách và các mạnh thường quân anh Ngô Thiện Đức, cô Vi Anh (chủ nhiệm nguyệt san Việt Media), Giáo Sư Quyên Di, nữ sĩ Dương Hồng Anh, nhà văn Kiều Mỹ Duyên, nhà thơ Yên Sơn, nhà văn Dương Viết Điền, Hoàng Giang, Thu Dung, Vee Hương và Thành Nguyễn.
Mọi người xúc động khi thấy nhà văn Việt Hải lên sân khấu với cây gậy trong tay, hay giáo sư Dương Ngọc Sum, bà Nga Nguyễn (phu nhân của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyên) hoặc nữ sĩ Dương Hồng Anh bước từng bước thật chậm, nhưng nụ cười vẫn tươi.
Đến những buổi ra mắt sách như thế này mới thấy tình người rất đậm đà. Thế hệ trước nâng đỡ thế hệ sau trong vấn đề viết sách. Ngày xưa Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo đã nâng đỡ nhà văn Nguyễn Thị Vinh thì bây giờ Việt Hải khuyến khích thế hệ thứ hai viết sách, tiếp nối những nhà văn đi trước. Công lao của những người nâng đỡ thế hệ trẻ nhiều lắm và nhiều lắm.
Cuối tuần, chúng tôi chạy hết chỗ này đến chỗ khác, cho nên không ở một chỗ tham dự từ đầu đến cuối. Rất tiếc, rất tiếc, nếu có cơ hội ở tới giờ chót, sau khi quan khách về hết, ở lại sẽ nghe tác giả tâm tình nhiều hơn, hiểu nhau nhiều hơn.
Nói tóm lại, buổi ra mắt sách của Khánh Lan rất thành công. Truyền thông đến rất đông, tin tức được phổ biến khắp nơi trên thế giới, bà con ở xa cũng có thể đọc được trên báo, trên mạng, trên YouTube.
Hy vọng những người trẻ tiếp tục viết, trong đó có Khánh Lan, sẽ xuất bản đều đều để cho độc giả khắp nơi thưởng thức những tác phẩm mới, viết về người thật, việc thật bằng cảm xúc thật.
Kiều Mỹ Duyên
-
KÝ SỰ CỦA NV DƯƠNG VIẾT ĐIỀN
Ký Sự Du Lịch Pháp Quốc
“…Mà thật thế, đứng ở tầng thứ hai của tháp Eiffel nhìn xuống, chúng tôi thấy toàn cảnh của thành phố Paris đẹp tuyệt trần! Xa xa, Điện Versailles, Bảo tàng viện Louvre, Điện Champs Elysees như nổi bật một góc trời. Đẹp nhất và nên thơ nhất là dòng sông Seine chảy qua thành phố Paris đang uốn khúc giữa nắng chiều. Bởi mùa thu đang về trên nước Pháp, vì trời thu đang ngự trị giữa thành phố Paris nên lá vàng từ trên một số cây dọc hai bên bờ sông Seine đang bay nhè nhẹ rồi từ từ rơi xuống dòng sông. Nhìn dòng sông Seine đang uốn khúc giữa nắng chiều thu, nhìn lá vàng bay là đà rồi rơi trên dòng nước biếc, lòng tôi bỗng xúc động đến ngậm ngùi, rồi bâng khuâng nhớ đến những thi nhân của nước Pháp cứ mỗi độ thu về đã từng dệt nên những vần thơ thật lãng mạn, đa tình, thật nghẹn ngào, nuối tiếc! Một Guillaume Apollinaire với L’Adieu thật nức nở sầu thương, một Alphonse de Lamartine với Le Lac thật hoang vắng đơn côi, một Paul Verlaine với Chansons D’automne thật ê chề đau đớn, đầy ắp những kỷ niệm nghẹn ngào! Bất giác tôi ngâm bài thơ Chansons D’automne của Paul Verlaine khi thấy nắng chiều đang trải dài trên dòng sông Seine tuyệt đẹp:
Les sanglots longs
Des violons
De l’automne
Blessent mon coeur
D’une langueur monotone
Tout suffocant
Et blême, quand
Sonne l’heures
Je me souviens
Des jours anciens
Et je pleure
Et je m’en vais
Au vent mauvais
Qui m’emporte
Deçà delà
Pareil à la
Feuille morte
“Tiếng đàn ai đó lê thê
Vĩ cầm réo rắt ê chề lòng đau
Bơ vơ chuông đổ đồng hồ
Lòng như héo hắt thu tàn năm xưa
Bao kỷ niệm, theo gió đưa
Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót xa
Bao năm lữ thứ xa nhà
Giang hồ phiêu bạt lá vàng tả tơi…” (Lãng Du dịch)
Bỗng tiếng bà xã tôi thúc giục bên cạnh làm tôi trở về với thực tại:
– Anh, chuẩn bị mà xuống kẻo ông trưởng đoàn du lịch và anh em du khách chờ.
Đáng lẽ chúng tôi định mua vé để lên tầng cao nhất của tháp Eiffel nhìn tiếp, nhưng vì thời gian của ông trưởng đoàn cho quá eo hẹp nên vợ chồng tôi đành phải từ giả tháp Eiffel. Nếu là thanh niên, tôi sẽ cầm tay bà xã tôi đi bộ từ từ theo những bậc thang từ tầng thứ hai của tháp Eiffel mà đi xuống, để vừa đi vừa nhìn chầm chậm quang cảnh thành phố Paris và dòng sông Seine cho thỏa thích một lần cuối; nhưng vì tuổi tác của chúng tôi cũng đã xế chiều, vã lại, tôi bị bệnh đau lưng đã mấy năm rồi nên đành phải tốc chiến tốc thắng đi theo thang máy để xuống cho kịp với đoàn du lịch đang đợi chờ dưới chân tháp Eiffel. Lúc đứng trên thang máy đang di chuyển xuống chân tháp, tất cả du khách đều reo hò lên như ngày hội vì chúng tôi cảm thấy quá thích thú khi thấy thành phố Paris và dòng sông Seine mỗi lúc một lớn dần, lớn dần, để rồi mấy phút sau xuất hiện trước mắt mọi người vì thang máy đã chạm mặt đất. Như giấc mơ của Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên, chúng tôi cũng vừa lạc vào một thế giới huyền ảo trên bầu trời của thành phố Paris thủ đô nước Pháp, khi đứng trên tháp Eiffel nhìn xuống dòng sông Seine đang uốn khúc giữa dòng đời.
Để níu kéo thêm thời gian đong đầy kỷ niệm bên dòng sông Seine, tôi cầm tay bà xã tôi vừa đi vừa hát bản nhạc “Hoa thạch thảo” do Phạm Duy phổ nhạc theo ý bài thơ L’Adieu của Apollinaire ngày nào:
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo.
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Mùa thu đã chết em nhớ cho, mùa thu đã chết em nhớ cho
………………………………………………………….
Bất giác, tôi ngâm mấy vần thơ trong bài L’Adieu của Apollinaire để giả từ mùa thu trên dòng sông Seine giữa thủ đô Paris:
J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automne est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends.
Tôi vừa đi vừa ngâm thơ nên khi đến gần xe buýt lúc nào cũng không biết. May nhờ bà xã tôi đi bên cạnh bảo lên xe buýt gấp tôi mới tỉnh táo và bước lên xe ngay.”
Trích đoạn từ tác phẩm “Ký Sự Du Lịch Âu Châu Và Hạ Uy Di” của Dương viết Điền xuất bản năm 2009).
Dương viết Điền
ThơVĩnh Biệt!
Thôi thế thì thôi mình xa nhau
Thương chi thêm khổ chuốc thêm sầu
Nhạc tình réo rắt buồn vời vợi
Vạn kiếp nghìn năm lỡ nhịp cầu!
Thôi thế thì thôi mình xa nhau
Khổ lụy từ đây đẫm lệ sầu
Quằn quại bên dòng đời hiu quạnh
Tiếc thương giờ đã lỡ chuyến tàu.
Thôi thế thì thôi mình xa nhau
Nắng sớm chiều mưa những nghẹn ngào
Có nhớ nhau thì hôn trong gió
Cho tình ngang trái bớt sầu đau.
Thôi thế thì thôi mình xa nhau
Vĩnh biệt từ đây nắng qua cầu
Đớn đau đau đớn tình hai đứa
Nức nở nghìn năm giọt lệ sầu.
Tháng 07,1997.
Hạ Ái Khanh
(Trích từ thi phẩm Nghẹn Ngào xuất bản năm 2000)
Farewell!
Well! My sweetheart, we two parted!
Love was miserable and broken-hearted
Love music was shrilled sadly
For one thousand years, it has been half-way already!
Well! My sweetheart, we two parted!
From now on, we have been so afflicted
We have writhed by the side of deserted life
Love and regret have got for nothing, right?
Well! My sweetheart, we two parted!
Morning sun and evening rain have made us heart-rending
We would kiss in the wind if missing
To make the sorrow of our illegimate love abated!
Well! My sweetheart, we two parted!
Farewll! From now on, the sun has passed by the bridge
Our love has been suffering
For one thousand years, we have shed tears in sorrowing!
July 1997,
By Duong viet Dien
(Trích từ thi phẩm Speechless xuất bản năm 2000)
-
-
ĐÔI LỜI CẢM TẠ

Mạnh Bổng & Khánh Lan chân thành cám ơn Quý Thầy Cô, Qúy Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị em và thân hữu đã gởi lời chia buồn đến tang gia của chúng tôi trong những ngày qua. Tang gia chúng tôi xin ghi nhớ mãi những lời chia sẻ thân tình ấy trong tâm khảm. Mạnh Bổng & Khánh Lan cũng xin cám ơn NV Việt Hải đã bỏ nhiều thời gian để đăng tải tin buồn và phân ưu trên facebook và các website. Đặc biệt cám ơn GS Phạm Thái đã thiết kế những poster cáo phó và phân ưu thật đẹp cho cố TS Việt Cường Lưu Tấn Lâm, thân phụ của Mạnh Bổng & Khánh Lan.

NT VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM (1930-2022) Mạnh Bổng & Khánh Lan vô cùng cảm động và ghi nhận sự hiện diện của GS Dương Ngọc Sum, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, NV Nguyễn Quang và các anh chị em trong Liên Nhóm NVNT & TTG: Thanh Châu & Hoài Anh, Tuyết Nga, Thanh Hương, Thụy Lan, Hùng Ngọc, Ngọc Quỳnh, John Tạ, Minh Nguyễn, Henry Lương. Các anh chị cựu sinh viên của trường Đại Học Kinh Thương Minh Đức, Saigon: Các anh Nguyễn văn Viễn, Ninh Anh Nguyễn; Các chị: Tố Đoan Ngọc Phượng, Hoa Vinh. Các anh em & bạn hữu: Bá Thu & Ánh Tuyết, Hạnh Nguyễn, Vee Hương, Tú Anh, Mỹ Hạnh, Gia Quang, Rũng Trương & Ngoan Nguyễn, Tam Quang, Minh Tuấn & Ngọc Phượng, Chiêu & Ngọc, Thanh Toàn, Thành (con trai NS Dương Hồng Anh) trong ngày Lễ Cầu Siêu tại Chùa Phổ Đà. Đặc biệt cám ơn đến Cô Kiều Mỹ Duyên đã thông tin cáo phó trong chương trình Ana Real Estate của Cô trên đài Little Saigon TV.


Trong lúc tang gia bối rối, nếu chúng tôi có điều gì sơ xuất xin Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu thông cảm và bỏ qua cho gia đình chúng tôi.
Mạnh Bổng & Khánh Lan cùng tang gia kính chào.


LƯU MẠNH BỔNG 
Tang Gia: Anthony, Alex, Thanh Lan, Stephen Chong, Thiên Kim, Khánh Lan,
Tú Anh, Vee Hương, Mạnh Bổng, Tam Quang, Ngoan Nguyễn, Chiêu Lưu, Ngọc.LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN

Mạnh Bổng, Khánh Lan, Thanh Châu, Hoài Anh. 
John Tạ, Khánh Lan, Ánh Tuyết, Bá Thu. 
Hùng Ngọc, Tuyết Nga, Khánh Lan, GS Dương Ngọc Sum 
Hạnh Nguyễn, Khánh Lan, GS Dương Ngọc Sum,
NS Dương Hồng Anh, NV Nguyễn Quang
Từ trái sang phải: NV Nguyễn Quang, Ngọc Quỳnh, John Tạ, GS Dương Ngọc Sum, Thanh Hương, Khánh Lan, Henry Lương, Minh Nguyễn, Hùng Ngọc. CỰU SINH VIÊN KINH THƯƠNG MINH ĐỨC, SAIGON

Từ trái sang phải: Nguyễn Văn Viễn (K5), Tố Đoan (K2), (K4) Ngọc Phượng, Hoa Vinh, An Ninh. GIA ĐÌNH

Từ trái sang phải: Gia Quang, Thanh Toàn, Ngoan Nguyễn, Rũng Trương,
Stephen Chong, Thiên Kim, Mỹ Hạnh, Minh Tuấn, Ngọc Phượng. -
Ai Lên Xứ Hoa Đào
-
VĨNH BIỆT NHÀ THƠ VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM

NHÀ THƠ VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM (1930-2022) 
Vài hàng về nhà thơ Việt Cường-Lưu Tấn Lâm.
Thi nhân Lưu Tấn Lâm lấy bút hiệu là Việt Cường, ông sinh năm 1930 tại làng Hương Cát, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Việt Nam. Ông sáng tác thơ từ thuở lên 10 và gồm nhiều thể loại thơ khác nhau như thơ lục bát, thơ thất ngôn bát cú, thơ tự do và Đường thi. Năm 1954, ông cùng vợ và các con di cư vào Nam, an cư lập nghiệp tại phố Hòa Hưng, Sài Gòn. Năm 1992, ông sang đoàn tụ tại miền Nam California và sống cùng với vợ chồng người con trai lớn là Lưu Mạnh Bổng.
Ông là em trai út trong gia đình có năm chị em, với bốn người chị lớn. Mẹ ông mất sớm từ khi ông mới bốn tháng tuổi và vợ ông mất năm bà 49 tuổi khi ông ở tuổi 53. Chính vì vậy mà trong thơ của ông luôn phần nào phảng phất sự mất mát và hình bóng của người mẹ với sự khao khát tình mẫu tử và nỗi lòng thương tiếc người vợ hồng nhan bạc phận… Thi nhân có 8 người con và 22 đứa cháu nội & ngoại.Ngày 26 tháng 01, 2022, thi nhân qua đời trong giấc ngủ an bình lúc 1:50 chiều trên tay người con trai trưởng Mạnh Bổng và sự hiện diện của con dâu Khánh Lan, khiến người viết chạnh nhớ đến một bài thơ ông sáng tác năm 1988 với tựa đề “CHẾT” trích trong Tuyển tập 30 Nhà thơ Việt Nam, do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian ấn hành được cho là bài thơ định mệnh của Nhà thơ Việt Cường-Lưu Tấn Lâm.
CHẾT
Xuôi tay nhắm mắt thế là thôi
Danh trả non sông, lợi trả đời
Thân thể chẳng còn vương tục lụy
Tâm hồn chắc hẳn thoát trần ai
Không gian vơi dịu không yêu ghét
Chẳng nợ nần chi, chẳng khóc cười
May, rủi, hơn, thua không dại hết
Thiền quang phó mặc tháng ngày trôi.
(Tháng Năm, 1988)Thi nhân tưởng nhớ đến người vợ bạc mệnh qua bài thơ “Tấm Ảnh”.

NGƯỞI VỢ NĂM NAO TẤM ẢNH
Vẫn là tấm ảnh năm nào
Quê hương hai chữ nói sao nên lời
Gần thì gang tấc đó thôi
Quan san cách trở phương trời xa xăm
Mẹ hiền nay đã biệt tăm
Ánh tà dương mãi chiếu nhằm trước sân
Chậu hoa đó phong trần mấy độ
Cụm phong lan dãi gió dầm mưa
Ra đi để lại vần thơ
Bao nhiêu năm trước bây giờ còn đây.

NT VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM & CÁC CON Trong những ngày xa vắng các con (1975-1992) thi nhân ở lại Việt Nam khi các con đã vượt biên và định cư tại Hoa Kỳ, trong nỗi thương nhớ các con ông đã sáng tác nhiều bài thơ, bài “Nhớ Con” là một trong số ấy. Đây là bài thơ ông viết ngày mùng sáu Tết 1983, viết cho Mạnh Bổng khi con trai đi di tản tháng Tư 1975.
NHỚ CON
Gửi trong câu hát tiếng đàn
Nỗi tâm tư với muôn vàn nhớ mong
Chiều chiều tựa cửa ngóng trông
Chim trời cá nước trăng lồng bóng sân
Trăng ơi trăng sáng vô ngần
Nhớ con nhớ cả dấu chân hôm nào
Bạn cố tri ơi! hỡi con ơi!
Ra đi chẳng được một lời hỏi han
Ngồi đây nước mắt chứa chan
Thương mình thì một, thương con thì mười
Thôi thế cũng xong một kiếp người, Việt Hải thay mặt toàn thể các thành viên trong Liên nhóm NVNT & TTG, nguyện cầu hương linh bác sớm an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.
Việt Hải, California Jan. 28, 2022
LÁ THƯ CẢM TẠ TỪ MẠNH BỔNG & KHÁNH LAN
Kính Thưa Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu,
Chúng em, Mạnh Bổng & Khánh Lan vô cùng cảm động và chân thành cám ơn Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh chị Em và Thân Hữu đã gởi lời chia buồn cũng như gọi phone cho chúng em để chia sẻ với chúng em về sự mất mát lớn lao trong gia đình. Thân phụ chúng em, tức nhà thơ Việt Cường Lưu Tấn Lâm đã ra đi trong an bình thanh thản trên tay của anh Mạnh Bổng lúc 1:50 chiều ngày 26 tháng 01, 2022. Nhà thơ Việt Cường đã chung sống với chúng em gần 20 năm nay, Cụ rất khỏe mạnh và không hề có bệnh gì cho đến khoảng một năm nay, sức khỏe của Cụ yếu dần nhất là một tháng trước khi mất.
Những lời chia buồn, những điện thoại gọi đến chia sẻ thân tình của Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh chị Em và Thân Hữu là nguồn an ủi tinh thần sâu đậm đối với gia đình chúng em mà chúng em sẽ luôn ghi nhớ mãi trong ký ức.
Christmas 2021 là bữa tiệc cuối cùng Nhà thơ Việt Cường đến chung vui cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Có lẽ đây cũng là lời từ biệt của Nhà thơ Việt Cường gởi gấm đến tất cả chúng ta bởi khi còn sinh tiền, Cụ rất yêu mến Liên Nhóm và nhắc đến chúng ta luôn.
Mạnh Bổng & Khánh Lan xin gởi đến Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu tấm hình sau cùng nhà thơ Việt Cường chụp trong bữa tiệc Christmas 2021 của Liên Nhóm.

NVNT & TTG’S CHRISTMAS PARTY 12/12/2021 (Khánh Lan, Mạnh Bổng, NT Việt Cường) Trong ba ngày qua đã có rất nhiều email gởi đến, thông báo trên TV, Radio, Báo chí và điện thoại từ mọi nơi gọi chia buồn cũng như Cô Kiều Mỹ Duyên đã cho phát thanh trên đài Little Saigon TV. Tất cả lời phân ưu thân tình của quý GS, quý Văn Thi Sĩ, các anh chị em và thân hữu đều quý và quan trọng đối với Mạnh Bổng & Khánh Lan, MB & KL xin khắc ghi vào tâm khảm. Tuy nhiên, nếu ghi nhận hết tất cả các email phân ưu vào trang Website này thì không đủ chỗ, vì thế Mạnh Bổng & Khánh Lan chỉ xin chia sẻ và ghi lại đây hai bài thơ “tiễn đưa” vô cùng cảm động, chắc hằn lời và ý thơ trong hai bài này sẽ làm rơi lệ những người con vừa tiễn bước chân CHA hoặc MẸ về nơi an nghỉ ngàn thu.
Mạnh Bổng & Khánh Lan xin cám ơn đến những thân tình của bạn bè & thân hữu đã dành cho gia đình chúng tôi.
NV Việt Hải là bạn đồng môn với Mạnh Bổng tại trường Đại Học Kinh Thương Minh Đức, Saigon từ năm 1972-1975 và họ giữ mãi tình bạn cho đến nay, thấm thoát đã 50 năm qua (1972-2022). NV Việt Hải rất mến NT Việt Cường bởi nụ cười hiền hòa, thân thiện luôn nở trên môi, bởi những dòng thơ “Có hồn” chứa chất vị ngọt ngào, tha thiết của yêu thương. Phải nói họ rất hợp nhau về lãnh vực thơ phú. NV Việt Hải đã nhiều lần trao đổi về ý thơ với NT Việt Cường và ông cho rằng: “Áng thơ của thi sĩ Việt Cường rất có ý nghĩa.”
Dưới đây là hai bài thơ TIỄN BIỆT BÁC VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM/TIỄN BÁC VIỆT CƯỜNGcủa NV Việt Hải:
TIỄN BIỆT BÁC VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM
Tiễn chân từ giả vạn sầu
Biệt ly xa cách nhớ nhau nghìn trùng
Bác đi thanh thản ung dung
Việt Nam quê mẹ trùng phùng kiếp sau
Cường nhân thi phú thuở nào
Lưu danh chữ nghĩa thơ trao thi tài
Tấn Lâm, kính bác chia tay
Lâm danh thi sĩ hôm nay giã từ!
TIỄN BÁC VIỆT CƯỜNG
Tiễn Bác quá cửu thập niên qua
Luật trời sinh ký tử quy gia
Âm dương cách biệt nay giã từ
Một kiếp vui buồn chỉ sát na
Sinh bệnh lão tử thiên thu định
Nghiệp duyên ba sinh kiếp gần xa
Đời vô thường phù vân phiêu lãng
Khấn nguyện bác khỏi chốn ta bà.
Việt Hải, California Jan. 28, 2022

Nhà thơ Việt Cường thứ #2 hàng ngồi bên phải (đội mũ nồi/béret casquette plate), giữa Lưu Mạnh Bổng và Trần Việt Hải. NT Tha Nhân đã họa bài thơ “VÔ THƯỜNG AI BIẾT” để tiễn đưa Hương Hồn thi nhân về cõi vĩnh hằng.
Kính Gởi Thi Nhân Việt Cường Hưởng Đại Thọ 92 Tuổi
Trước nỗi mất mát to lớn này của KHÁNH LAN và Phu Quân Lưu Mạnh Bổng. Tha Nhân thành thật chia buồn với gia đình hai em cùng tang quyến. Nguyện cầu Hương Linh cụ Ông Việt Cường LƯU TẤN LÂM sớm về cõi vĩnh hằng.
Trong phần Tiểu Sử của cụ ông nhà thơ VIỆT CƯỜNG, có bài thơ thất ngôn Đường luật ’Ngày Xuân Khai Bút’’, Tha Nhân rất thích vì đã có những đồng cảm nên không thể không họa.Bởi vậy Tha Nhân có bài họa sau đây, như một nén tâm nhang đưa tiễn Hương Hồn Cụ VIỆT CƯỜNG về cõi vĩnh hằng:
Bài xướng:
NGÀY XUÂN KHAI BÚT
Xuân về khai bút để mua vui
Cũng chẳng ham khen, chẳng ngại cười
Phú quý tặng riêng phường trắng mắt
Uy quyền chớ để bọn thâm môi
Ngựa cày không nhuyễn, trâu chê dở
Trâu chạy chưa hay, ngựa bảo tồi
Trái ngược chuyện đời xuân có biết?
Xuân tô nhân thế bớt màu vôi
(Việt Cường-Lưu Tấn Lâm)
Bài họa:
VÔ THƯỜNG AI BIẾT!!
Đôi chữ chào Xuân chúc cứ vui
Nghe qua bỏ hết miệng mỉm cười!
Công danh gió thoảng ngoài tầm mắt
Phú quí mây bay thoáng nhếch môi
Ghen ghét thói đời hay hóa dở
Thị phi nhân thế giỏi thành tồi
Vô thường cõi tạm nào ai biết
Mọi chuyện đỏ đen chẳng khác vôi!!
(Tha Nhân Kính phụng họa Cam thành Jan 27th, 2022)

Một lần nữa Mạnh Bổng & Khánh Lan chân thành cám ơn Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu.
Kính Quý,
Mạnh Bổng & Khánh Lan
-
Mùa Đông Của Anh
-
Mùa Đông Nhớ Em
-
Cánh Thiệp Đầu Xuân
-
Tất Niên 2019 & 2021 NVNT
2021
2019
-
Tà Áo Xuân Tình
-
Biển Tình



