• Văn Thơ

    MÙA XUÂN KHÔNG TRỞ LẠI

    Hồi ký  Hồng Thủy

                                                                        Kính tặng Mẹ yêu dấu người đã hy sinh

                                                                           cả một thời xuân  sắc cho chúng con.

    Mẹ tôi lấy chồng năm người 22 tuổi, bốn năm sau thì bố tôi qua đời, lúc đó mẹ tôi mới 26 tuổi, anh tôi 3 tuổi và tôi vừa tròn 18 tháng. Tôi không biết và không nhớ gì về bố ngoài những tấm ảnh trong một cuốn album cũ kỹ.

         Sau khi bố chết, ba mẹ con tôi về ở với ông bà ngoại. Tôi lớn lên trong thời kỳ chiến tranh nên gia đình chúng tôi phải rời thành phố tản cư về nhà quê.

     Ông bà ngoại tôi có một trang trại ở một làng nhỏ thuộc xã Đông Phú, Huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa. Làng ở gần núi nên có cái tên rất thơ mộng là làng Sơn Lương.

     Con đường làng làm bằng những phiến đá lớn nối tiếp nhau, hai bên là những khóm trúc, thỉnh thoảng chen vào những rặng tre cao ngất. Ở sau làng phía xa xa có một ngọn đồi đầy hoa sim tím, xa hơn nữa là những dẫy núi đá xanh lam với những hang động đầy thạch nhũ đẹp tuyệt vời. 

    Thời thơ ấu của tôi là những buổi sáng chạy tung tăng trong vườn, nhặt những cánh hoa bưởi trắng ngần, thơm ngát, xâu thành vòng tròn đội lên đầu giả làm công chúa.

     Những buổi trưa, anh em tôi trốn ngủ trưa, leo trèo hết cây táo sang cây ổi, hái những trái táo ngon ngọt ròn tan và những trái ổi chín vàng thơm phức 

    Những buổi chiều chạy nhẩy trong vườn, đuổi bắt những chú bướm đủ màu bay lượn quanh những luống hoa cải vàng tươi, hoặc theo trẻ con hàng xóm chạy ra đồi hái đầy những giỏ sim tím thẫm.

     Những buổi tối nằm rúc nách mẹ nghe kể chuyện cổ tích cho đến khi ngủ thiếp đi.

    Cứ như vậy, anh em tôi lớn lên trong sự cưng chiều và tình thương yêu trìu mến của ông bà ngoại và mẹ tôi.

     Ông nội và các cô chú thì ở quá xa, tận Phát Diệm lại thuộc “vùng tề” do chính phủ quốc gia kiểm soát,  nên chúng tôi hầu như không được tin tức và không liên lạc được.

     Cuộc sống êm đềm ở một trang trại vùng quê vắng lặng  thỉnh thoảng lại rộn rịp hẳn lên vì có khách ở xa đến chơi. Một hôm sau khi khách về rồi chị vú thì thầm bảo tôi: “Coi chừng em sắp mất mẹ vì có người muốn hỏi cưới mẹ đó.” Câu nói của chị vú làm tôi òa lên khóc và chị vú bị bà ngoại la cho một trận.

     Nhưng rồi chị vú vẫn không chừa, mỗi lần nhà có khách chị lại chỉ cho tôi ai là người muốn hỏi cưới mẹ. Không hiểu sao với cái đầu óc non nớt của tôi, tôi lại nghĩ ra một danh từ rất nặng nề để gọi mấy người đó.

     Tôi thường đứng thập thò ở cửa phòng khách nhìn “đối thủ” của tôi bằng một con mắt căm hờn và lầm bầm trong cổ họng: “Đồ ăn cắp!” (ý nói ăn cắp mẹ tôi đi). 

    Tôi không dám nói to sợ bà ngoại biết được, chắc chắn tôi sẽ bị ăn đòn vì bà ngoại rất nghiêm. Tuy chúng tôi được cưng chiều, nhưng bà ngoại dậy dỗ anh em tôi rất cẩn thận, nói với người lớn bao giờ cũng phải thưa gửi. Bà ngoại luôn luôn bảo: “Tội gì bà còn có thể tha, chứ vô lễ là không bao giờ bà tha cả, chắc chắn thế nào cũng bị đòn.”

    Thấy tôi thập thò ở cửa, “đối thủ” của tôi vẫy tôi vào với nụ cười thân thiện: “Bé vào đây, bác có kẹo cho bé đây này” và ông đưa ra một hộp kẹo buộc “nơ” rất đẹp. 

    Tuy trong bụng đang căm hờn sôi sục, tôi cũng không thể nào từ chối hộp kẹo quá hấp dẫn được, nên đành chạy vào đưa tay đỡ hộp kẹp và lí nhí cám ơn rồi chạy vụt ra.

     Thấy tôi ôm hộp kẹo, chị vú trêu tôi: “Ăn kẹo của người ta là bằng lòng cho người ta cưới mẹ đó.” 

    Tôi hoảng hốt ôm hộp kẹo vào trả lại cho khách, mẹ nhìn tôi ngạc nhiên: “Con vẫn thích kẹo lắm mà, bác cho con đã nhận rồi sao trả lại?” 

    Tôi chỉ lắc đầu buồn bã nhìn mẹ tôi và tiếc rẻ nhìn hộp kẹo rồi bỏ ra ngoài vườn ngồi một mình tấm tức khóc. 

    Buổi tối vào giường ngủ, thay vì kể chuyện cổ tích như mọi khi, mẹ đã hỏi tôi lý do tại sao tôi trả hộp kẹo lại cho khách. Sau khi nghe tôi tỉ tê kể lể mẹ vỗ nhẹ vào lưng tôi dỗ dành: “Tội nghiệp con, mẹ sẽ không bao giờ lấy chồng đâu. Con đừng lo nữa nhé.”

     Tôi sung sướng rúc vào lòng mẹ ngủ ngon lành. 

    Mùa hè năm tôi tròn 10 tuổi, bác T., con cụ Hường Đ. bạn thân của ông bà ngoại đến thăm. Bác cao lớn, đẹp trai và nghe nói học rất giỏi, có bằng cử nhân Luật. Bác góa vợ , không có con. Bác rất thích anh em tôi và cưng chiều hai anh em lắm. 

    Tôi còn nhớ bác chỉ định đến thăm gia đình chúng tôi vài ngày rồi đi, nhưng vì bác bị đau nên ở lại đến cả tháng. Trang trại của ông bà ngoại tôi vui hẳn lên vì có bóng đàn ông. Buổi tối bác dậy chúng tôi hát. Buổi sáng bác đưa chúng tôi ra ao ở trước nhà, chặt cây chuối cho anh em tôi làm phao ôm để bác dậy tập bơi.

     Trại của ông bà ngoại tôi có hai cái ao lớn, một ao cầu gỗ và một ao “tà-vẹc”, gọi như vậy vì một ao, cầu làm bằng những cây gỗ lớn ghép vào nhau và một ao, cầu ao làm bằng những cái “traverse” làm đường xe lửa. 

    Ao cầu gỗ lúc nào cũng đầy hoa bèo tím, ao “tà-vẹc” lúc nào cũng đầy hoa rau muống tím. Tôi yêu màu tím từ lúc còn nhỏ, bởi xung quanh tôi lúc nào cũng bao vây bởi nhừng hoa màu tím thật dễ thương. 

    Chiều chiều bác cùng mẹ con tôi đi dạo đồi sim, hoặc đi chơi triền núi và thăm các hang động.  Mỗi lần đi chơi như vậy bao giờ bác cũng cầm theo một cái mác dài để đề phòng gặp rắn rết hay thú dữ. Đi bên bác chúng tôi cảm thấy rất yên tâm và được che chở.

     Anh em tôi chạy nhảy tung tăng hái hoa đuổi bướm, trong khi bác và mẹ ngồi trên một tảng đá lớn nói chuyện.

     Buổi chiều xuống thật nhẹ,  không gian thơm mát như được ướp bằng hương đồng cỏ nội, cảnh vật thật thơ mộng, êm đềm. Khi bóng nắng tắt hẳn, chúng tôi mới thong thả ra về. 

    Vài tuần sau khi bác từ giã gia đình chúng tôi để về tỉnh, anh em tôi đã khóc và mắt mẹ cũng đỏ hoe. Trang trại của ông bà ngoại lại trở về với cái vắng lặng cố hữu của một gia đình gồm hai ông bà già, một người đàn bà trẻ và hai đứa con nít. 

    Những buổi tối sau đó, khi mẹ ngồi hong mái tóc dài đen mượt óng ả sau khi gội đầu còn thơm mùi chanh và bồ kết ở ngoài hàng hiên, bà ngoại thường đến bên mẹ thì thầm to nhỏ. Trong câu chuyện giữa bà và mẹ, tôi nghe thấy loáng thoáng có nhắc đến bác T., đến chuyện mẹ tôi lấy chồng, đến bốn chữ “Tiết hạnh khả phong”.

    Một hôm  nhớ đến bác T tôi hỏi mẹ “Bao giờ bác T lại đến thăm mình nữa?”

    Đôi mắt đẹp của mẹ nhìn tôi thật buồn ” Chắc bác không bao giờ đến nữa đâu con, trừ phi…”Tôi cướp lời mẹ hỏi dồn dập” Trừ phi sao hả mẹ ?”

    Mẹ không trả lời câu hỏi của tôi mà lại hỏi tôi bằng một giọng ngập ngừng “Con có thích bác T ở với mình mãi không ?” Tôi trả lời nhanh không cần suy nghĩ  “con thích lắm” Mẹ lại hỏi tiếp ” Như vây con có chịu cho mẹ lấy chồng không ?”.Nghe hai chữ “lấy chồng” tôi nhớ ngay lời dọa của chị Vú “Lấy chồng là người ta mang mẹ đi là các em mất mẹ đó.” Tôi lắc đầu quầy quậy và không hiểu sao nước mắt ở đâu đến nhanh quá, tôi mếu máo ” con không muốn mẹ lấy chồng ” . Từ đó mỗi lần đi chơi đồi sim với mẹ, tuy rất nhớ bác T tôi cũng không bao giờ dám nhắc tới bác nữa.

    Khoảng 1 năm sau, bác T trở lại thăm gia đình tôi, bác mang cho chúng tôi thật nhiều kẹo , bánh. Bác chỉ ở chơi một buổi rồi ra đi.Nghe mẹ nói bác tới từ giã để đi thật xa.Lần đầu tiên tôi nghe thấy hai chữ “dinh tê”, nói lóng là đi về vùng quốc gia.Lúc ấy vùng chúng tôi ở thuộc quyền Cộng Sản. Tối hôm đó không hiểu bà ngoại nói gì mà làm mẹ tôi khóc.Sau đó tôi cứ nghe bà nhắc đi nhắc lại ” lấy chồng là đeo gông vào cổ, đang sung sướng ở với bố mẹ, tiền không thiếu , danh thì chồng chết người ta vẫn gọi bà Tham ( bố tôi làm Tham tá thuế quan ) con trai con gái có đủ , có điên mới đi lấy chồng cho khổ vào thân” .

    Thời gian qua dần, anh em tôi lớn lên.Câu chuyện lấy chồng của mẹ không bao giờ còn được nhắc đền nữa. Rồi chúng tôi hồi cư về Hà Nội.  Tôi phải giã từ làng Sơn Lương nhỏ bé với bao nhiêu kỷ niệm đẹp của thời thơ ấu. Tôi phải giã từ những cánh hoa mầu tím thân yêu: hoa soan, hoa sim, hoa bèo và hoa rau muống. Những cánh hoa mầu tím đơn sơ mộc mạc đó không bao giờ tôi còn được thấy lại ở những thành phố huy hoàng đầy ánh sáng. Từ một đứa bé, tôi trở thành một thiếu nữ trưởng thành. Tôi lập gia đình rất sớm và biết thế nào là hạnh phúc lứa đôi, thế nào là sự đầm ấm của một gia đình no vợ đủ chồng. Tôi bỗng thấy thương mẹ tôi thấm thía.Tôi hối hận vì lúc còn bé đã nhất quyết không muốn mẹ đi lấy chồng.Tôi đã đọc nhiều truyện của Tự Lực Văn Đoàn, đã hiểu thế nào là ý nghĩa của  bốn chữ Tiết Hạnh Khả Phong. Bốn chữ mà những bậc cha mẹ cổ xưa( trong đó có bà ngoại tôi ) đã mang ra làm bức tường vây bọc chôn vùi cuộc đời của những người đàn bà góa bụa. Riêng mẹ tôi với số tuổi 26, số tuổi mà phần lớn chúng tôi mới bắt đầu bước vào đời, thì mẹ tôi đã phải giã từ tình yêu, giã từ mơ mộng, giã từ những ước muốn bình thường của một người đàn bà trẻ,  để khép kín cuộc đời trong một cánh cửa nặng nề của lễ giáo.

    Ước gì cho tôi trở lại thời thơ ấu, cho mẹ tôi trẻ lại như xưa. Tôi sẽ không dại dột ngăn cản mẹ đi lấy chồng. Tôi sẽ năn nỉ bà ngoại đừng ép buộc mẹ phải chôn kín tuổi xuân.Tôi sẽ thưa với ngoại: hạnh phúc không phải chỉ là tiền, là danh, là đầy đủ con trai con gái. Hạnh phúc là vòng tay âu yếm, là những săn sóc thương yêu , là ánh mắt trìu mến, là con tim ấm áp truyền hơi ấm cho nhau. Ngoại ơi, bà cháu mình đã sai thật rồi, mình đã làm lỗi lầm thật lớn khiến người mẹ tội nghiệp của con phải chịu suốt cả một đời một mình một bóng, đơn lẻ , quạnh hiu.

  • Văn Thơ,  Việt Hải

    Tưởng rằng đã quên ? “Hoài Niệm” với Hồng Vũ Lan Nhi.

    Tôi biết chị Hồng Vũ Lan Nhi (HVLN) qua sự giới thiệu của chị Bích Huyền, rồi được biết cả hai chị đều là bạn tri kỷ từ ngôi trường Trưng Vương, cũng như thân với chị Cao Mỵ Nhân, người tôi hằng ái mộ những dòng thơ dạt dào trong kho tàng thi ca vô tận của người Việt chúng ta.

    Tôi nhận được cuốn thi tập “Hoài Niệm” hôm nay, sách dầy độ 300 trang với 239 bài thơ. Tên tác giả và tựa đề nằm bên trên với nét chữ xanh lá mạ, màu của niềm tin, của sức sống. Tác giả có tên thật là Lê Hồng Diệp, bút hiệu là Hồng Vũ Lan Nhi, hiện cư ngụ tại Orange county, vùng Nam Cali. Bìa sách màu vàng nhạt của sự nhớ mong, phía trước có vẽ hình chiếc ghe như chở người đọc về kỷ niệm, bìa sau lại thêm một chiếc ghe khác như ghe hoài niệm chở HVLN về với dĩ vãng đã qua với bốn câu thơ bất hủ:

    “Chỉ trong phút giây hoài niệm,

    Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về,

    Kỷ niệm như dấu chân trên cát,

    Lún xuống đời những vết đau tê”

    Inline image

    HVLN mở đầu sách với bài thơ theo thể tự do nhắc tác giả nhiều kỷ niệm của tuổi mới lớn, thuở mực tím nhiều xao xuyến, nhiều mộng mị khi bước vào tình yêu. Bài “Nụ Hôn Đầu” hình như đã phản ảnh đặc tính dễ thương của tình yêu trai gái Việt Nam, sở dĩ tôi nói vậy vì nụ hôn của người Việt được biểu tượng cho sự cao quý và sự trói buộc đời nhau, ta hãy nghe HVLN diễn tả tâm sự của tác giả:

    “Nhớ hôm nào, bầu trời đầy sao,

    Nụ hôn đầu e ấp trao nhau,

    Ngỡ ngàng làm sao là lúc ấy…

    Ôm nhau mà tưởng mộng chiêm bao!”

    Hai câu sau cho thấy mối tình Việt Nam dễ thương sao đấy… Tình cảm của buổi ban đầu vẫn là sự ngỡ ngàng, rụt rè, e thẹn, nó đẹp và nhắc đến mối tình đầu của chính tôi, khi nắm tay em mà ngỡ giấc mơ chiêm bao, con tim của tôi dường như đập loạn nhịp, chả bù khi sang Mỹ đi hẹn hò date với một cô bạn Mỹ, chúng tôi nếu có nắm tay nhau hay hôn nhau là sự đương nhiên của cái tình cảm “bạo phát bạo tàn”.

    Tôi nhắc chừng lòng phải ngợi ca bài thơ này thêm nữa vì có thể nó nhắc nhở tôi cũng như muôn độc giả, bạn bè khác về cái tuổi mực tím “khi đã yêu thì mơ mộng nhiều”, dù ngày nay đa số bạn bè đã “quá lứa” của sự mộng mơ, có chăng là tâm hồn chúng ta quay về dĩ vãng để làm mềm con tim bị đời vùi dập giấc mơ xưa. HVLN sáng tác bài tình thơ này ngày 8 tháng 5, năm 1960. Vượt bao thời gian qua cái giá trị về tình yêu theo quan niệm cổ điển vẫn đong đầy nỗi nhớ, vẫn lưu luyến một thời biết yêu, một thời nhớ mãi “nụ hôn đầu” khi trao nhau mộng tình ngày xanh.

    “Nụ hôn đầu, ôi, sao đắm say,

    Em úp mặt vào đôi bàn tay,

    Chẳng biết vì sao Em lại khóc,

    Cho môi hồng thấm lệ tràn đầy,”

    Thấy chưa? Nội chỉ hai câu sau cũng đủ “nhức nhối” bao con tim thổn thức. Vâng, đây chính là vần thơ “đáng đồng tiền bát gạo” nhất theo thiển ý của tôi.. Tôi đoạn nhìn đồng hồ mà mồm lẩm bẩm: “Chết chửa, nếu còn sớm tí nữa, tôi sẽ nhấc phone bàn với chị HVLN bài điểm sách này chỉ cô đọng quanh bài thơ này mà thôi thì tôi có thể viết thành thi ca tiểu luận rồi, còn lại 238 bài thơ khác nên dành cho chuyến sau vậy. Theo ý riêng của tôi từ thuở sáng tác thơ thì có lẽ tôi yêu mến nhất thể thơ lục bát và trân trọng diễn tả nụ hôn khi người ta yêu nhau. như một dạo mình đã ươm trong một bài bài thơ Anh ngữ nào đó là:

    “If you are in love,

    You must kiss.

    If you don’t kiss,

    Just forget your love.”

    Phải chăng trong cùng ý thơ Việt ngữ là:

    “Yêu nhau hãy trao nụ hôn,

    Nụ hôn thiếu vắng sao hồn bảo yêu” …???

    Thi sĩ HVLN hội đủ cả hai khía cạnh này trong thi tập “Hoài Niệm”, thơ lục bát của chị bàng bạc, lai láng rất nhiều trong 300 trang giấy, “thơ nụ hôn” của chị sáng tác rất nhẹ nhàng, rất e ấp, rất dễ thương và rất tình tự làm người đọc xao xuyến con tim, đam mê của thuở hẹn hò. HVLN lại tiếp:

    “Em đã âm thầm biết nhớ ai,

    Biết bâng khuâng trong những đêm đài,

    Anh ơi nếu mộng đời không thắm,

    Tình mình Em quyết chẳng hề phai.”

    Lại hai câu cuối “đáng đồng tiền bát gạo” nữa. Đối tượng của chị HVLN năm đó là người sung sướng nhất trần gian khi được vần thơ mực tím yêu thương, khi người con gái trịnh trọng nắn nót từng câu, từng chữ vung đầy tình nghĩa yêu đương như thế này. Ông thầy bói trong Lăng Ông Bà Chiểu năm xưa bói tôi duyên số đào hoa, nhưng thú thật dù tôi có tu chín kiếp chả có ai trao tôi bài thơ mực tím này cả.

    Tôi đọc bài lục bát “Nỗi Lòng Người thủy Thủ” mà tôi nhớ hôm nói chuyện trong phone, chị HVLN nói về mối tình với người thương áo trắng thủy thủ ngày nào trong cái tình tự của cơn mê hoa biển như:

    “Đêm khua nghe sóng vỗ bờ,

    Tưởng như tiếng của người xưa gọi về,

    Bao giờ mới tỉnh cơn mê?

    Bao giờ quên được nỗi tê dại này?”

    Sài Gòn xưa có sáng nắng chiều mưa như hồn vất vưởng nhơ’ nhung, của những hẹn hò, những đưa đón, những gặp gỡ mối tình hải quân áo trắng, thơ HVLN vẫn nối tiếp nhiều câu mà tôi chỉ tóm tắt ẩn ý. Lại tiếp…

    “Khi yêu nào có ai ngờ,

    Mơ’i tri âm đó bây giờ… cố nhân,

    Dòng đời xuôi ngược bao lần,

    Mà hình bóng cũ vẫn hằn vết sâu”

    Trong tình yêu nếu không duyên nợ thì có thể là tình yêu không ràng buộc hoặc không trọn vẹn để rồi khi nàng ghé thăm cảnh biển chạnh lòng nhớ người yêu xưa. Người tình cũ đã neo sang bến khác trong cuộc đời đầy phong ba của kiếp sống hải hồ, rồi một ngày nao người tình áo trắng nhìn lại sóng biển, hình bóng người bạn gái cũ hiện về trong nước biển xanh của nghìn trùng đại dương mà khi xưa chàng đã không quên gửi tặng loài hoa biển trong các chuyến hải hành…

    “Nhớ chùm hoa biển trắng phau,

    Nhớ khi tàu đã nhổ neo, tách bờ,

    Thả hồn trở lại bến xưa,

    Lòng người thủy thủ vẫn mơ, vẫn buồn?”

    Trùng dương dâng sóng cuộc đời khóc lệ chia ly khi tàu tách bến, rời cảng để cuộc đời không đến với nhau như ước hẹn, lời chia ly đó đã lắng sâu vào lòng đại dương.

    Trong bài “Lẻ Loi” HVLN kể về chuyện tình đôi đũa so le được ví von:

    “Người ta như đũa có đôi

    Tôi như chiếc đũa lẻ loi bên lề,

    Một mình lặng lẽ sầu khuya,

    Một mình trong những chiều lê thê buồn,”

    Nỗi cô đơn, u hoài trong đêm thanh vắng như dòng sông không bến đổ, như muà đông có con nắng lạnh lùng cho tâm tư đơn côi và như loài chim biển hải âu tung cách vỗ trên ngàn khơi mênh mông:

    “Một mình ôm nỗi cô đơn,

    Như dòng sông chảy tìm về cõi xa,

    Như mùa đông, nắng nhạt nhòa,

    Như cánh chim biển la đà ngoài khơị”

    Trong bài “U Mê” cho thấy sự tương phản là đối tượng của HVLN mang con tim đơn côi bên dòng sông Tương:

    “Biết rằng Em chẳng yêu tôi,

    Nhưng tôi không thể xa rời bóng Em,

    Long lanh mắt sáng sao chìm,

    Thanh tơ manh chỉ, dáng mềm liễu thưa”

    Tương khúc được diễn tả tiếp:

    “Tình tôi dâng trọn Em rồi,

    Em là nữa mản hồn tôi kiếm tìm,

    Yêu Em bằng cả con tim,

    U mê không biết phận mình ra sao!”

    Trong bài “Tình Chờ” HVLN lại cho nụ hôn lên ngôi tình ái:

    “Nhìn em tươi mát nụ cười,

    Lòng anh chao đảo đứng ngồi không yên,

    Thèm hôn vào cánh môi hiền,

    Thèm được ôm bờ vai mềm nhung tơ,”

    Đối tượng của HVLN vẫn lãng đãng trong giấc mộng, nàng đến với chàng khi là thiếu nữ hồn nhiên, trong trắng, chàng trông ngóng mòn mỏi tâm tư, chàng thèm được ôm vai người tình, thèm được hôn môi người cho thõa lấp nỗi tình nhớ miệt mài đợi mong:

    “Môi em chưa một lần hôn,

    Bờ vai chưa một người ôm… dập dìu,

    Mắt chưa in vết dấu sầu,

    Tim chưa ghi khắc tình đầu bóng ai”

    Lại nụ hôn ngọt ngào bên nỗi nhớ được ca ngợi trong bài “Thủ Thỉ Với Bóng”:

    “Có nụ hôn nồng rất thiết tha

    Có vòng tay ôm ấp rất đậm đà

    Rồi những chiều bên nhau thủ thỉ

    Cùng ngắm mây trôi cõi xa.”

    Nụ hôn vẫn chất chứa, ẩn hiện trong thi tập “Hoài Niệm”, nhưng thôi thì xin tạm gác qua đề mục này, dù rằng nó đã khuấy động tâm tư thuở mực tím của chính tôi nhiều lắm, vì đi xa hơn nữa bài viết sẽ biến dạng sang tiểu luận “Nụ hôn” trong thi ca HVLN mất…ah hah !

    Song song với khía cạnh tình nồng nhung lụa yêu đương được khéo léo khai thác qua thi ca, người ta còn thấy khía cạnh nhân bản của HVLN qua nhiều bài ca ngợi thiên nhiên trong cuộc sống, tình yêu quê hương đất nước cũng như tình cảm thuộc về luân lý, đạo đức của HVLN khi nhắc về gia đình, song thân, anh em, con cháu, bà con, bạn bè thân thiết,…

    Trong bài “Tiếng Khóc Đầu Đời” những tâm tình của HVLN trang trải qua bài thơ dài hai trang giấy mô tả về cái hạnh phúc gia đình gắn bó tiêu biểu của người Việt:

    “Được tin vui trong họ

    Một bé gái chào đời

    Biết bao lời chúc tụng

    Đến từ khắp muôn nơi…

    Chúc mừng ông bà Nội

    Niềm vui sươ’ng nào bằng

    Gái trai thêm dâu rể

    Cháu chắt sẽ đầy đàn…”

    Ngày lễ Hiền Mẫu, HVLN dâng hoa đến Mẹ qua bài “Bông Hồng Dâng Mẹ”:

    “Nhìn lên trơi cao,

    Mà sao không thấy

    Mẹ hiền đâu vậy

    Mẹ thấy con không?

    Ra vườn hái một bông hồng

    Đem vào dâng Mẹ tỏ lòng kính yêu.”

    Bài “Nhớ Bố ” đề cập về gia đình của tác giả:

    “Chúng con nhớ Bố thật nhiều,

    Quyết tâm ghi tạc những điều Bố khuyên,

    Sống sao xứng đáng Thánh Hiền,

    Dâu hiền, rể thảo, cháu Tiên, con Rồng,

    Thủy chung đạo đức vợ chồng,

    Con yêu, cháu quí, một lòng không nguôi…

    Thương yêu đùm bọc lẫn nhau,

    Các con hạnh phúc một màu thắm tươi …”

    Trên cao hơn hết thi ca HVLN có vô số bài nói về tôn giáo, nói về Chúa, nói về Phật , tôi thấy một sự bình an trong thi ca của HVLN. Có thể vì sự lựa chọn tôn giáo đã ru người thơ trong cái ý thức tâm linh cho chính mình, nhất là một chổ nương tựa sự thư thái của tâm hồn. Vì đấng tối cao của tôn giáo nào cũng đưa chúng ta về nguyên thủy của sự chân, thiện, mỹ trong cuộc sống này.

    Bài “Lời Nguyện Cầu” tác giả kể câu chuyện chàng trai đến dự lễ nhà thờ và gặp cô láng giềng hiền thục:

    “Sáng Chủ Nhật đến nhà thờ,

    Gặp cô hàng sớm cũng vừa tới nơi,

    Nhìn nhau đều nhoẻn miệng cười,

    Vô tình hai đứa lại ngồi cạnh nhau,”

    Chúa Ngôi Hai đã chứng giám cho mối tình hàng xóm với ước mơ thầm kín bền duyên vợ chồng:

    “Con nào dám ước mơ Tiên,

    Để hồn bay bổng tới miền Bồng Lai,

    Chỉ cầu xin Chúa Ngôi Hai,

    Cho chúng con được mãi hoài… bên nhau.”

    Bài “Tâm Tình Với Chúa” HVLN tỏ bày ý mình cùng Chúa như sau:

    “Con quì hàng ghế cuối

    Trong thinh lặng mênh mông

    Lòng ngổn ngang trăm mối

    Con buồn, Chúc biết không?”

    Rồi một đoạn khác lại tâm tình thành khẩn:

    “Giờ, con lạc lõng quá

    Như chiếc lá giữa dòng

    Không tìm được bến đậu

    Giữa đất trời mênh mông”

    Đấng tối cao luôn luôn trả lời nghịch cảnh của kẻ yếu đuối về tâm linh:

    “Trong lúc bơ vơ nhất

    Tiếng Chúa gọi – Không ngờ

    Con như bừng giấc mộng

    Trầm luân đến bao giờ”

    Thi ca HVLN đề cập nhiều về kiếp phù du, vô thường của con người trầm luân trong cái thế giới Ta Bà nhiều bể khổ như triết lý nhà Phật diễn giảng. Hãy lắng nghe bài “Trần Gian Cõi Tạm”:

    “Cuộc sống vô thường

    Chợt có, chợt không

    Phù du một kiếp

    Trở về tay không.”

    Khi nói về lòng ham muốn, sự tham lam vô biên của nhân thế HVLN viết bài “Niệm Phật Cầu An”:

    “Mùi hương trầm tỏa bên hàng xóm

    Chắc có người niệm Phật cầu an

    Phật ơi ở chốn nhân gian

    Chúng sinh đau khổ vì ham muốn nhiều…”

    Những lời thật lòng của HVLN như sự công kích thói đời vốn thiên nhiều về tham, sân, si, vốn hưởng thụ, vốn bon chen, tranh giành tư lợi, bắt chẹt chèn ép lẫn nhau, vốn tham lam, đố kỵ, ganh ghét hãm hại nhau, rồi tác giả đưa vào bốn câu kết:

    “Phật đã hiểu rỏ tình nhân thế

    Đâu cần kể lể dông dài

    Hỉ, nộ, ái, ố… trần ai

    Phật thương cứu độ đoái hoài chúng sinh.”

    Trong bài “Hư Vô” HVLN viết lại những lời kinh nhật tụng tránh cõi trầm kha tục lụy, đừng gieo oán hờn, đừng mãi đè nhau, tranh hơn thua thiệt:

    “… Rời khỏi cõi Ta Bà

    Hết tranh đua hơn, thiệt

    Coi mình là vô ngã

    Cuộc sống là vô thường

    Nên chẳng còn xa la.

    … Kiếp này đừng gieo hận…

    Sẽ thoát khỏi trầm luân”

    Bài thơ vô cùng cảm động vì gần gủi với những ý nghỉ của tôi khi con người cận kề cái chết, một thoáng buồn u uẩn khi tôi đọc từng câu văn HVLN viết, chị nói về lần đi thăm người tình trong cơn “thập tử nhất sinh” trong bài “Thăm Anh Trong Phòng Hồi Sinh”:

    “Giờ này chỉ có riêng em

    Lang thang dưới ánh đèn đêm một mình

    Hỏi trăng, trăng vẫn vô tình

    Hỏi sao sao vẫn lặng thinh hững hờ “

    HVLN hỏi thiên nhiên, hỏi người yêu và lại hỏi chính mình trong nỗi ngậm ngùi, thương nhớ và rất cô đơn:

    “Hỏi mây, mây cũng làm ngơ

    Chỉ nghe tiếng gió thẫn thờ lướt trôi

    Hỏi anh, anh cũng im lời

    Hỏi mình, chỉ thấy một đời cô đơn”

    Lệ rơi trên má buồn, trăn trở như kiếp người rong ruổi trong mảnh tình sầu bi ai:

    “Lệ rơi trên má, lệ buồn

    Hồn nghe trống vắng giữa trời quạnh hiu

    Đời chia đôi ngả tình sầu

    Một vành tang liệm nỗi đau lắng chìm”

    Trong cơn hôn mê của người tình tác giả thẫn thờ tình em, khi lòng quặng đau như cắt khi nhìn máy điện tâm đồ thay đổi theo làn hơi, nhịp thở của người thương, tác giả cảm thấy yếu đuối, tâm tư bất lực đứng trước con bệnh. Tôi rất cảm thông với nỗi lòng của chị HVLN, tôi cho đây là một tuyệt tác nói về đời sống tình cảm, về tình yêu vốn nhân bản, love and care, yêu mới lo, đúng chứ:

    “Phòng hồi sinh, Anh im lìm

    Lòng đau như cắt, đứng nhìn Anh thôi

    Nhịp tim lên xuống từng hồi

    Trong cơn mê, có nhớ người Anh yêu?”

    Phải chăng Gibran cho ý tưởng chân thật như HVLN, như nhiều chúng ta ? “Tình yêu và tình cảm không nhuốm màu tư lợi và vị kỷ, mà là biểu tượng cho tình yêu thuần khiết nhất. Tất cả chúng ta nên hướng tới một mối tương quan hệ dựa trên tình yêu thương vị tha và tình cảm dành cho nhau” (Love and affection that is not tainted with self-interests and personal gain is the purest form of love. We should all move towards a relationship that is strongly based on selfless love and affection for each other).

    Tác giả thầm trách móc sự bất công của Tạo Hoá khi chia duyên rẻ thúy và sự bất công như vậy đã miên viễn đến với nàng:

    “Long đong lận đận đã nhiều

    Mà sao trời vẫn còn đầy đọa Em?

    Không cho hạnh phúc bền Duyên

    Còn đem bão tố, mây đen kéo về”

    Cuối cùng cho một tình yêu là sự chia tay vĩnh viễn. Kiếp nhân sinh vốn lắm trầm luân, bể khổ. Khi tìm hạnh phúc, ôi hạnh phúc vốn tạm bợ và rồi một cõi đi về chốn hư vô là sự chia ly trong nỗi buồn sầu thế nhân:

    “Trời như còn muốn chia lìa

    Mỗi người một nẽo não nề chưa, Anh?”

    Như đã nói thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi là con người sống thiên về tình cảm, đa đoan với đủ thứ tình cảm từ tình gia đình, tình gia tộc, tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu thiên nhiên, tình mực tím,…, và tình bằng hữu. Tôi bắt gặp bài thơ “rất Trưng Vương” dành cho người bạn cố tri đồng lớp, thi sĩ Cao Mỵ Nhân qua bài “Viết Cho Mỵ”:

    “Cao Mỵ Nhân, Cao Mỵ Nhân,

    Đọc thơ Mỵ, chợt buồn thấm nhanh,

    Lao xao gió nhẹ lay cành,

    Đong đưa, từng ngọn lá mềm đong đưa,”

    Thuở mực tím Trưng Vương năm nào lại hiện về trong hoài niệm cố tri về người bạn có máu yêu văn học, một Cao Mỵ Nhân thiên tài sáng tác thi ca từ cái thuở 13 của thi ca Nguyên Sa ca tụng lứa tuổi tuyệt vời trong văn học, khi mưa rơi nhìn những chùm bong bóng vỡ đầy tay. Chị Cao Mỵ Nhân bước tập tểnh vào làng thi ca khi vào tuổi mộng mơ mực tím tại Hà Nội. Bần bút này rất trân quý bậc đàn anh, đàn chị trong lảnh vực văn thơ, mà trong đó có những thi tài như Bích Huyền, Cao Mỵ Nhân, Hồng Thuy, Hồng Anh, Quỳnh Giao,rồi Hồng Vũ Lan Nhi, và nhiều nữa,… Riêng với các chị vừa nêu tên thuộc sân trường Trưng Vương, hihi…rất gần nhà tôi, hoài niệm có Sở Ba Son, có Thảo Cầm Viên Sở Thú. Các chị lên trung học khi tôi dứt sữa Similac hay Guigoz, lúc quý chị bước vô lãnh vực thi ca khi tôi còn chạy rong ngoài đường tắm mưa, em ơi 50% em ơi, nhất là khi Sài Gòn bị mưa lũ lầy lội những cơn mưa rào nặng hạt. Để rồi ngày hôm nay chính cả quý chị đã thành danh cho tôi viết cảm nhận thi ca của quý chị và lại do “thằng bé Guigoz tắm mưa 50% năm xưa”, dâng xúc cảm viết về nét thi ca đặc thù của quý chị góp phần phong phú hóa nền văn học Việt Nam tại hải ngoai.

    Bài “Viết Cho Mỵ” được tiếp tục:

    “Rồi nhìn nắng gắt ban trưa

    Thấy lunhg linh cả thời xưa… học trò

    Của ngày chập chững làm thơ

    Của ngày đã biết mộng mơ, biết buồn!…”

    HVLN kể về tình bạn thuở học trò khắng khít trong 16 câu kế. Đoạn kết là bốn câu nhận định về mối thâm tình của tình bằng hữu cố tri:

    “Viết cho Mỵ lá thơ này

    Gói tròn ý nghĩ, giải bày tâm tư

    Trưa nay nắng đẹp như mơ

    Ướp vào thư, gửi bạn xưa… làm quà.”

    Tôi thích tính chất thi ca của thi sĩ HVLN vì có những bài khôi hài, dí dỏm, hóm hỉnh, bỡn cợt như thơ của Vị Xuyên Trần Tú Xương, như thơ của Mậu Binh Hà Huyền Chi mà tôi vốn ái mộ trong cái thi ca tinh nghịch, cà rỡn. Hãy nghe bài “Hão Huyền”:

    “Tôi mơ mộng thật hão huyền

    Rằng tôi có thật nhiều tiền để tiêu

    Mua một miếng đất phì nhiêu

    Xây trên đó một túp lều tình yêu

    Qua bao nắng sớm mưa chiều

    Túp liều lý tưởng tan theo bọt bèo…”

    Sau những bài thơ sầu bi ai thi sĩ Hàn Mặc Tử trăn trở về Mộng Cầm hay Đỗ Lễ thổn thức với bài tinh ca “Sang Ngang”, HVLN cũng tự than trong bài “Cô Đơn” như sau:

    “Tôi cô đơn nhất trên đời

    Trần gian chẳng có người thứ hai

    …

    Phương nào cũng chỉ lang thang một mình

    Trời đầy sóng gió điêu linh

    Chỉ vì thiếu vắng Người Tình trăm năm.”

    Nhại theo bài thơ “Trăng Vàng Trăng Ngọc” của thi sĩ Hàn Mặc Tử :

    “Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!

    Ai mua trăng tôi bán trăng cho

    Không bán đoàn viên, ước hẹn hò…

    Bao giờ đậu trạng vinh qui đã

    Anh lại đây tôi thối chữ thơ.

    Không, Không, Không! Tôi chẳng bán hòn Trăng.

    Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng

    Tôi nói thiệt, là anh dại quá:

    Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang.

    Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!

    Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi

    Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi

    Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi

    Trăng mới là trăng của Rạng Ngời”

    (Hàn Mặc Tử)

    HVLN sáng tác bài thơ “Bán Sầu”, tảc giả chế nhạo người tình và chính mình như sau:

    “Ai mua, tôi bán sầu cho

    Sầu này ấp ủ đúng vừa độ men

    …

    Thế rồi sầu chàng ai mua

    Món hàng rao bán chẳng vừa lòng ai.”

    Tác giả công nhận nỗi sầu của mình và tìm người chia sẻ theo lối quảng cáo thương mại, nếu mua sầu người mua sẽ được tặng thêm sầu…:

    “Ai mua, tôi bán sầu cho

    Sầu này ủ đúng vừa độ men

    Mua rồi, tôi sẽ tặng thêm

    Chút cô đơn, chút muộn phiền, đủ chưa?”

    Từ lúc kỷ thuật điện tử liên mạng internet xuất hiện, vô số những cặp tình nhân quen qua duyên nợ email, HVLN sáng tác bài thơ bỡn cợt “Tình Email”:

    “Làm quen nhau trên… “net”

    Nào ai biết ai đâu?

    Trong mail đều kể hết

    Để hiểu rỏ về nhau

    …

    Đọc thơ cười khúc khích

    Bên này bổng dưng vuị…

    Rồi bên kia mơ mộng…

    Lòng không còn trống rỗng…”

    Thói quen trao đổi, nhận email khi thành thông lệ mà bên kia vì lý do nào đó tự động ngưng gửi email, thì bên này lòng sẽ héo úa chết khô theo “Tình Email”:

    “Bên kia E-mail đều…

    Tim bên này xôn xao

    Ngày càng thêm khắng khít

    Càng thắm thiết, đậm sâu

    Đêm nay sao trằn trọc

    Nằm nghe chó sủa ma

    Chả lẽ buồn phát khóc

    Khi vắng lá thư xa?”

    Từ những thập niên 80’s và 90’s khi con người đương đầu thần chết do các căn bệnh tim mạch vì cung cách ăn uống bừa bãi, ít vận động thể dục, nên giới y khoa rầm rộ khuyến khích người dân năng tập thể dục, vận động cơ thể. Giới con buôn không bỏ lỡ dịp may mở ra những trung tâm thể dục như Jack LaLane, Bally’s, vô số và vô số… Phong trào đến tập thể dục tại các nơi này trở thành mode thời thượng, nghiễm nhiên thành thông lệ, truyền thống, và đến đó rồi người ta kết bạn, quen nhau,…:

    “Sáng nay đến tập Bally’s

    Trên đường đi, đã thấy gì, nhớ không?

    …

    Gặp cô Em má hây hồng,

    Hỏi thăm, Em đã có chồng hay chưa?…”

    Mối tình Jack LaLane hay mối tình Bally’s lên ngôi tình ái theo tháng ngày quen nhau, khi người nam biết người thiếu nữ hiện sống độc thân gối chiếc:

    “Em là Tiên nữ cô Dâu,

    Vương miện Em đội trên đầu ngàn sao,

    Anh mang hia mão, vương bào,

    Rể Vua xin cuối đầu chào Tiên Nương,…”

    Cuối cùng cho một chuyện tình Bally’s ngày nào đã trôi theo dòng nước mưa của dĩ vãng hoài niệm, của một chuyện tình mộng mị đã qua. Rồi con tim quên ngủ ngày xưa đã không còn đắm say tình nồng và ngày nay con tim đã đổi khác..:

    “Hôm nay trời vẫn còn Đông,

    Gió vẫn lạnh vẫn trong, vẫn buồn,

    Tim xưa mê lắm tình buồn,

    Tim giờ đã khác Tim nồng năm nao.”

    Xuyên những bài thơ vui nhộn, mang tính chất khôi hài của thi sĩ HVLN, điều cuối cho tôi kết luận HVLN là con người can đảm dám nói những điều u uẩn của mình đong đầy những trang giấy đơn lẻ. HVLN không màu mè, không dấu diếm, không ngại ngùng khi tự trêu mình, đó là phong thái của trường phái Vị Xuyên mà tôi rất chuộng thi ca Tú Xương của cái thuở trung học ngày xa xưa.

    Để tóm tắt bài viết về thi tập “Hoài Niệm” của thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi, tôi xin ghi nhận nét thi ca rất lãng mạn của ngườị thơ này một lần nữa. Chúng ta hãy lắng nghe bài lục bát “Đôi Mắt”, những vần thơ thật dễ thương:

    “Tình cờ, bốn mắt nhìn nhau,

    Thẹn thùng dấu vội mây sầu trên vai,

    Cúi đầu tránh né mắt ai,

    Mà sao Tim đập mãi hoài không thôi,…”

    Bài lục bát “Ngày Cưới Em”, HVLN mô tả tâm trạng người nam chia ly với người tình khi nàng quyết định lên xe hoa:

    “… Trời thì giông gió mưa bay,

    Rượu nồng uống mãi cho say khướt đời,

    Cho quên đôi mắt biết cười,

    Đôi môi nồng ấm, dáng người thanh tơ…”

    Bài lục bát “Tim Hồng Thao Thức” diễn tả đôi tình nhân đang say men tình ái:

    “Đêm nay trăng sáng ngập trời,

    Mơ màng, hình bóng của Người phủ vây,

    …

    Tình yêu như rượu nồng cay,

    Hỏi rằng say rượu hay say men tình?”

    Bài lục bát “Ru Tình” đầy tính chất quyến luyến yêu thương:

    “À ơi, Tình hãy ngủ yên,

    Ngủ say đi nhé cho quên sầu đời,

    Đừng thao thức nữa, Tình ơi,

    Đừng mơ ánh mắt nụ cười đắm say…”

    Bài lục bát “Mùa Đông Đan Áo”, còn gì nhớ nhung hơn khi người ra đi khoác lên chiếc áo len cho ấm tâm tư do người tình ở lại đã đan cho mình…:

    “Người đi có nhớ gì nhau,

    Để người ở lại buồn đau phận mình,

    Áo đan gửi gấm bao tình,

    Từng sợi nhớ, lấp bóng hình xa xôi…”

    Bài “Sao Đành Giận Em”, tác giả bộc lộ nỗi lòng trăn trở của mình với người tình, lời văn khá táo bạo:

    “Em vẫn nhớ, mắt Anh tình tứ lắm,

    Và đôi môi ngọt lịm mật ong ngon,

    Vòng tay ôm, như rắn quấn trọn hồn,

    Em ngất ngây với tình Anh cuồng nhiệt.”

    Lại thêm một bài thơ tình táo bạo yêu đương, nào hãy nghe bài “Tặng Anh Nỗi Nhớ”:

    “Tặng Anh nỗi nhớ nhung này,

    Từ trong Tim, nhớ trào ngoài xác thân,

    …

    Nhớ từ gáy đến… lưng chừng,

    Vòng sau ra trước, ngập ngừng… gọi Anh.”

    Trong bài “Biết Không Anh”, nhưng lời tình tự nồng nàn yêu thương, những giờ hàn huyên ngọt ngào vì lý do nào đó bổng chấm dứt, người con gái chợt chơi vơi, lạc lõng trong tâm hồn:

    “Dù không nói yêu Anh,

    Sao lại buồn vô kể,

    Khi vắng giọng thân quen,

    Chả lẽ yêu là thế?”

    Trong bài thơ “Tình Muộn”, tác giả diễn tả mối tình chắp nối của nhân duyên muộn màng:

    “Trong nỗi nhớ muộn màng,

    Em dành cho Anh đó,

    Những xao xuyến rộn ràng,

    Ngất ngây Tình chớm nở”

    Và rồi nếu duyên nợ không thành trong kiếp này thì đành hẹn kiếp sau. Bài thơ lục bát cuối cùng “Lời Thề Kiếp Sau” hứa hẹn cho trọn cuộc tình:

    “Trăm năm một cõi đi về,

    Ngàn năm vẫn giữ lời thề kiếp sau,

    Kiếp này đã chẳng cùng nhau,

    Kiếp sau nguyện sẻ sầu chia vui…”

    Rất tiếc trong khuôn khổ giới hạn của bài viết ngắn không cho phép tôi đi qua trọn đầy đủ 239 hết các bài thơ của thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi, những dòng phớt nhẹ trên thi ca của chị đã được trình bày như lời giới thiệu chân tình của Việt Hải Los Angeles, để trân trọng giới thiệu thi tập đầu tay của chi. Tôi chia sẻ với chị với số tuổi đời của chị và bao năm hiện diện trong giới văn học, báo chí từ thuở trước năm 75 khi chị vừa làm giáo sư dạy trung hoc, kiêm ký giả viết cho một số báo tại Sài Gòn, thi tập này đánh dấu một khúc quanh muộn màng nhưng rất vững chãi và chín chắn khi cô đọng cuộc đời mình qua nhiều áng thi ca mượt mà, trữ tinh trong “Hoài Niệm” này. Và như hai nhà văn Vishakha Goyal và George Eliot thì những ước muốn hay gợi giấc mơ thi ca của nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi không bao giờ muộn màng cả. Vì…

    Theo nhà văn người Ấn Vishakha Goyal quan niệm: “Hãy theo đuổi ước mơ của bạn và không bao giờ là quá muộn khi đạt được kết quả” (Pursue your dreams, and achieve it. It Is never too late). Còn văn hào người Anh George Eliot cho rằng: “Không bao giờ là quá muộn để trở thành những gì bạn có thể đã có.” (It is never too late to be what you might have been).

    Một lần nữa VHLA xin chia vui cùng chị HVLN đón chào đứa con tinh thần của chi sắp sửa ra mắt giới tao nhân mặc khách hay nhiều thân hữu văn chương sẽ dến chúc vui cùng chị. Sure, I am.

    RMS “Hoài Niệm” vào ngày 20 tháng 7, 2003 tại Westminster, Little Saigon.

    Việt Hải, Los Angeles.

    27/06/2003

    ————————————————————————-

    Ân Tình Cho Thơ Lãng Mạn, Việt Hải Los Angeles:

    https://www.rongmotamhon.net/…/vhan102_tholangman.htm

    Thông Báo Đăng Kèm:

    THIỆP MỜI

    Trân trọng kính mời tất cả các thi văn hữu và quý đồng hương yêu mến bộ môn thi ca đến chung vui với chúng tôi buổi lễ Ra Mắt Thi Tập “Hoài Niệm” của Hồng Vũ Lan Nhi được tổ chức vào Chủ Nhật, ngày 20 tháng 7, 2003, lúc 1:00PM đến 4:00PM tại Phòng Sinh Hoạt Nhật Báo Người Việt, địa chỉ: 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683. Diện Thoại (714) 892-9414.

    Ban tổ chức:

    Nguyễn Kim Trinh

    Lê Minh Phú

    http://www.thuvienvietnam.com/bao/tvvn/issue17/index.cfm?ref=ARTICLES%5FTH%26%23432%3B%20T%EDN%20%2D%20TH%F4NG%20B%E1O%5F732

    ———————————————————————-

    Chương Trình:

    1:00PM-1:30PM Tiếp đón quan khách, sơ giao hàn huyên

    1:30PM-4:00PM Khai mạc

    + Giới thiệu tác giả do Cao Mỵ Nhân

    + Giới thiệu tác phẩm do:

    Phạm Thi Huệ

    Bích Huyền

    Trần Phong Vũ

    Văn nghệ (xen kẽ):

    + Ngâm thơ: Giáng Hương, Minh Nguyệt

    + Ca nhạc:

    Hoàng Nam

    Thu Hà

    Nhã Đoàn

    Ngọc vân

    Ngọc Hà

    Minh Chúc

    ++ Điều hợp chương trình:

    Uyển Diễm và Nguyễn Đình Cường

    +++ Vào cửa tự do.

    ————————————————————————

    Hội ngộ cùng nhà thơ Cung Trầm Tưởng lần thứ 5:

    http://www.ninh-hoa.com/VietHai…

    Tuyển tập thi ca Cao Mỵ Nhân – Bài Thơ Tình Muộn.:

    http://www.ninh-hoa.com/…/DS2018_VietHai-CaoMyNhan…

  • Văn Thơ

    Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học của nhà văn Khánh Lan

    Khi duyệt qua tác phẩm thứ nhất, mang tên “Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học” của nhà văn Khánh Lan, sách này có thể chia ra làm 4 loại khuynh hướng như sau:

    1. Bàn luận về nghệ thuật văn chương trong văn học: “Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học” (trang 01):

    Nếu nghĩ đến tự bản chất tư tưởng của nghệ thuật của văn chương thì nó đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ qua. Theo quan điểm nho học của Khổng Tử và các nhà nho thuở xưa về sự kiện “Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”, xuất hiện sau gần 15 thế kỷ, vào đời Tống. Đây là một nguyên lý về bản chất và nhiệm vụ xã hội của văn học thuở xưa phiến diện, tiêu cực và như sự áp đặt. “Văn” nghĩa ở đây chỉ là văn chính luận. Còn “Đạo” là “luân lý học” của thuở Tống Nho, kết tinh một cách sẵn có những mặt tiêu biểu đạo đời theo tam giáo như Khổng giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Và văn “chở” cái đạo có sẵn như “phương tiện chuyên chở vật chất“, nghĩa là hoàn toàn tách rời giữa nội dung và hình thức; hay một cách suy nghĩ khác giữa ý nghĩ nội tâm và ý muốn trong đời sống chúng ta.

    Trong nhận thức về sự bất phân giữa văn và sử, văn và triết ở thời kỳ đầu sự phát triển của văn chương. Ví dụ những người theo ý tưởng áp đặt Mác-xít cũng đặc biệt nhấn mạnh bản chất tư tưởng của văn chương, coi văn chương và nghệ thuật nói chung là một hình thái ý thức xã hội, một công cụ nhận thức, một khí cụ của tư tưởng. Tất nhiên cách nhận thức cuộc sống, tác động tư tưởng của văn chương nghệ thuật có những nét riêng, có tính đặc thù, so với các hình thái ý thức xã hội khác, như triết học, đạo đức, tôn giáo…

    Trong khi văn chương vốn dĩ mang bản chất phóng khoáng, nhân bản không ràng buộc do yếu tố tư duy. Một xu hướng tiếp cận khác bên trời Âu lại chú trọng bản chất nghệ thuật của văn chương, mối liên hệ mật thiết giữa văn chương và nghệ thuật, coi văn chương là một loại hình nghệ thuật. Đây là cách xem xét của Aristote trong quyển Thi ca học có lúc gọi là Nghệ thuật thi ca. Đặc biệt ở các nhà mỹ học Đức từ cuối thế kỷ XVIII, theo lập luận Kant và Hegel, bản chất nghệ thuật của văn chương càng được nhấn mạnh, và họ coi nghiên cứu văn chương, thi ca học là một bộ phận của mỹ học. Theo hướng tiếp cận này, người ta lưu ý nhiều đến mối liên hệ giữa văn chương với âm nhạc, với bản sắc tư duy lãng mạn.

    Cho nên bài văn “Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học” chuyên chở ý niệm về Nghệ thuật vị Nghệ thuật do thi sĩ Théophile Gautier hay Oscar Wilde cổ suý việc đề cao quan điểm riêng tư, mang tư duy lãng mạn. Ngược lại, xu hướng trên là “Nghệ thuật vị nhân sinh” thường được hiểu là nghệ thuật giữ vai trò hay mang nhiệm vụ phụng sự xã hội, kinh tế, quyền lực và tất cả nghệ thuật.  Như vậy nghệ thuật chỉ là công cụ cho phạm vi kinh tế, xã hội hay chính trị.  Do đó nghệ thuật vị nhân sinh (l’art pour la vie hay art for life) là lý thuyết khẳng định bản chất phạm vi xã hội của nghệ thuật, chủ trương nghệ thuật gắn bó với đời sống xã hội, chính trị, chống lại các khuynh hướng nghệ thuật và thoát ly khỏi ý tưởng lãng mạn trong cuộc sống. Bài viết đơn cử cho ý tưởng văn chương phục vụ nhu cầu xã hội điển hình qua những tiểu thuyết của Harriet Beecher Stowe, hay Mark Twain. Phía văn chương Việt Nam có 2 hệ phái tranh cải nhau kịch liệt như nhà văn Hải Triều chủ trương Nghệ thuật vị nhân sinh và nhà văn Hoài Thanh chủ trương Nghệ thuật vị nghệ thuật.

    • Chủ đề Tiểu thuyết Xã hội về Thân phận con người:

    Phần này có 3 bài như sau: Những Kẻ Khốn Cùng (trang 27), Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (trang 99) và Ngư Ông và Biển Cả (trang 133).

    • Những Kẻ Khốn Cùng (Les Misérables) là tiểu thuyết của văn hào Pháp Victor Hugo, được xuất bản năm 1862. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nền văn học thế giới thế kỷ 19. Tác phẩm Những người khốn khổ là câu chuyện về xã hội nước Pháp trong khoảng hơn 20 năm đầu thế kỷ 19 kể từ thời điểm Napoléon I lên ngôi và vài thập niên sau đó. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Jean Valjean, một cựu tù khổ sai tìm cách chuộc lại những lỗi lầm gây ra thời trai trẻ.

    Bộ tiểu thuyết không chỉ nói tới bản chất của cái tốt, cái xấu, của luật pháp, mà tác phẩm còn là cuốn bách khoa thư đồ sộ về lịch sử, kiến trúc của Paris, nền chính trị, triết lý, luật pháp, công lý, tín ngưỡng của nước Pháp nửa đầu thế kỷ 19. Chính nhà văn Victor Hugo cũng đã viết cho người biên tập rằng: “Tôi có niềm tin rằng đây sẽ là một trong những tác phẩm đỉnh cao, nếu không nói là tác phẩm lớn nhất, trong sự nghiệp cầm bút của mình“. Những người khốn khổ cũng nổi tiếng vì đã được chuyển thể nhiều lần thành các vở kịch, bộ phim, trong đó nổi tiếng nhất phải kể tới vở nhạc kịch mang cùng tên.

    Les Misérables bản dịch đầu tiên tại Việt Nam của Nguyễn Văn Vĩnh xuất bản năm 1926, với tên “Những kẻ khốn khổ“, của nhà Trung Bắc Tân Văn ở Hà Nội in song ngữ dài 10 tập khoảng 3000 trang.

    • Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (The Adventures of Tom Sawyer) là một quyển sách được nhà văn Mark Twain viết với bút pháp độc đáo, miêu tả tâm lý, cử chỉ, hành động của một chú bé sống tại một ngôi làng nghèo bên sông Mississippi. Tác giả đã miêu tả xuất sắc tính cách, tâm lý, hành động của chú bé thông minh, nghịch ngợm nhưng dũng cảm và có một tấm lòng nhân hậu giàu tình nghĩa. Ý tưởng hay từ bài viết như sau:

                Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer là tiểu thuyết của Mark Twain(1835 – 1910), ông là một nhà văn trào phúng nổi tiếng của Mỹ, những tác phẩm của ông, với tính chất châm biếm sâu sắc, tâm lý xã hội, chống sự áp bức thống trị của bọn cầm quyền phong kiến tư bản, nhất là chống cái chính sách dã man phân biệt chủng tộc đối với người da đen ở Mỹ.

    Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer kể về cậu bé Tom Sawyer nghèo khổ, lớn lên trong một thị trấn nghèo cạnh dòng sông Mississippi, St. Petersburg, Missouri. Tom Sawyer là một cậu bé yêu thiên nhiên, hiếu động, tinh nghịch, giàu trí tưởng tượng, thích các trò mạo hiểm, nghịch ngợm, nhiều khuyết điểm nhưng rất thông minh và nhiều tình cảm.

    “Đó là một lời nói dối cao thượng rộng lượng và hào hiệp,

    lời nói dối đáng để người ta ngẩng cao đầu đi vào lịch sử.”

    Câu nói của ngài thẩm phán Thatcher khi ông nghe cô con gái của ông là Becky kể rằng Tom đã nói dối để gánh chịu trận đòn chuyển từ lưng Becky qua lưng Tom.  Thẩm phán Thatcher lại càng lấy làm khâm phục và cho rằng Tom không phải là một cậu bé tầm thường, đó là một bản chất can đảm và lòng dũng cảm khi cậu bé đã cứu con gái của ông ra khỏi hang động.  Ông nói:

    “Một ngày kia, Tom sẽ trở thành một luật gia lớn

    hay một chiến sĩ vĩ đại.”

    • Ngư ông và Biển cả (The Old Man and the Sea): là truyện tiểu thuyết do Ernest Hemingway sáng tác ở Cuba năm 1951 và xuất bản năm 1952. Đây là truyện ngắn dạng viễn tưởng cuối cùng được Hemingway viết (và được xuất bản khi ông còn sống), là tác phẩm nổi tiếng và là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Tác phẩm đoạt giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 1953. Nó cũng góp phần quan trọng để nhà văn nhận Giải Nobel văn học năm 1954. Trong tác phẩm này ông đã triệt để dùng nguyên lý mà ông gọi là “tảng băng trôi“, chỉ mô tả ba phần nổi còn lại bảy phần chìm, khi mô tả sức mạnh của con cá, sự chênh lệch về lực lượng, về cuộc chiến đấu không cân sức giữa con cá rất dữ với ông già. Tác phẩm ca ngợi con người, sức chịu đựng và khát vọng của con người.

    Xét về nội dung thì câu chuyện về nếp sống đánh cá lênh đênh, gian nan của ông lão người Cuba, Santiago, người đã cố gắng chiến đấu trong ba ngày đêm với một con cá kiếm khổng lồ trên biển vùng. Gulf Stream (Vịnh Hải lưu) khi ông câu được nó. Sang đến ngày thứ ba, ông dùng lao đâm chết được con cá, buộc nó vào mạn thuyền và mang về nhưng đàn cá mập lại đánh hơi thấy mùi của con cá mà ông bắt được nên đã ùa tới, ông cũng rất dũng cảm đem hết sức mình chống chọi với lũ cá mập, phóng lao và thậm chí dùng cả mái chèo để đánh. Cuối cùng ông giết được khá nhiều con và đuổi được chúng đi, nhưng cuối cùng khi ông về đến bờ và nhìn lại thì con cá kiếm của mình, nó đã bị rỉa hết thịt và chỉ còn trơ lại một bộ xương trắng.

    • Chủ đề Tiểu thuyết với nét Triết tính:

    Phần này có 3 bài như sau: Hermann Hesse, Một bậc hàn lâm văn chương (trang 45), Khung cửa hẹp (trang 87) và Đi tìm thời gian đã mất (trang 115).

    • Hermann Hesse, Một bậc hàn lâm văn chương: là một nhà thơ, nhà văn và họa sĩ người Đức. Năm 1946 ông được tặng Giải Goethe và Giải Nobel Văn học. Tác giả kể ông là bạn thân tri kỷ với nhà văn Thomas Mann. Tình bạn giữa Hermann Hesse và Thomas Mann đã tạo ra những chủ đề về tương quan hiện diện trong dòng văn triết học của Hesse và Mann.

    Những tiểu thuyết của Hermann Hesse chứa đựng những ý tường, nhân sinh quan về đời sống phương Đông với các tôn giáo thần bí; về tâm lý của các nhân vật của ông; phong cách đạo đức như triết gia Nietzsche. Bài viết đi sâu về tác phẩm Câu Chuyện Dòng Sông (Siddhartha) là một cuốn tiểu thuyết mang tính cách ngôn của Hermann Hesse kể về hành trình tâm linh của một người Ấn Độ tên là Siddhartha trong thời đại của Thích Ca,  Hesse gọi là Hoàng tử Siddhartha Gautama.  Sách được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1922, sau khi Hesse trải qua một thời gian ở Ấn Độ trong thập niên 1910. Sách được xuất bản ở Mỹ năm 1951 và trở nên có ảnh hưởng lớn vào thập niên 1960. Tác phẩm kể lại chuyện xảy ra ở Ấn Độ vào thời cổ đại vào khoảng thời gian của Đức Phật ở thế kỷ thứ 6 TCN. Truyện bắt đầu khi Siddhartha, con của một Brahmin, bỏ nhà ra đi để tham gia những nhà tu khổ hạnh cùng với người bạn thân là Govinda. Cả hai đều ra đi để tìm sự khai sáng. Câu Chuyện Dòng Sông đã đi qua một chuỗi các thay đổi và tự nhận thức khi anh cố gắng đạt được mục đích này.

    • Khung cửa hẹp (La porte etroite): là tiểu thuyết của văn hào Pháp André Gide được coi là một cuốn tiểu thuyết kinh điển và còn là một trong những tác phẩm nổi tiếng trên thế giới. Cuốn tiểu thuyết được dịch giả Bùi Giáng dịch sang Việt ngữ, xuất bản bởi NXB An Tiêm năm 1966. 

    Năm 1946, André Gide được bầu làm Giáo sư Danh dự trường Đại học Oxford và được tặng giải Nobel năm 1947. Đây là một cuốn tiểu thuyết viết về tình yêu lãng mạn, để cao lòng trinh bạch, sự hy sinh và những đấu tranh nội tâm giữa cõi thực và hư vô trong đạo giáo của xã hội Tây Phương thời ấy. André Gide đã dùng một lối viết cầu kỳ, ngôn ngữ khó hiểu, nó kén chọn người đọc ở một trình độ cao và thấu hiếu về lý thuyết đạo giáo cũng như triết học hiện sinh và lý thuyết nhân sinh quan. 

    • Đi tìm thời gian đã mất (À la recherche du temps perdu): là bộ tiểu thuyết gồm 7 tập của nhà văn Pháp Marcel Proust, được viết từ 1908-1909 đến 1922 và xuất bản từ 1913 đến 1927, trong đó 3 tập cuối chỉ được xuất bản sau khi tác giả qua đời. Tiểu thuyết này được xếp vào trong danh sách mười cuốn tiểu thuyết được thanh niên Pháp ưa thích nhất trong thế kỷ XX. Tạp chí Time cũng chọn Đi tìm thời gian đã mất trong danh sách mười cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại.

    Qua nội dung của tác phẩm “Đi tìm thời gian đã mất” là loại tiểu thuyết tự truyện với nhân vật chính là người kể chuyện về chuyện tình của mình với những ước mơ, dằn vặt qua mối tình đẩu với Gilberte, rồi đến mối tình thơ mộng và đau xót với Albertine sống  trong cái thiên đường của một xã hội thượng lưu giả dối và nhạt nhẽo, rồi chết một cách thảm thương. 

    “Thời gian lại tìm thấy” có nghĩa là tìm tìm ra lẽ sống của mình, là cống hiến cuộc đời cho nghệ thuật. Tất cả những hoạt động xã hội chỉ là “thời gian đã mất” và biến cái thời gian đã mất ấy thành một hành động sáng tạo như Proust đã viết: “Những thiên đường thật đó là những thiên đường đã mất“. Cốt truyện của “Đi tìm thời gian đã mất” có giá trị ở lối kiến trúc diễn đạt thâm sâu, phân tích suất sắc, nặng phẩn mộng tưởng, cho ta những cảm giác dào dạt và thu hút người đọc. 

    “Đi tìm thời gian đã mất” đã mở đầu cho loại tiểu thuyết mới trong thế kỷ XX và có giá trị cao đượm nét triết tính, với những câu văn dài bất tận như dòng suy tư, cấu trúc ngữ pháp đặc biệt tạo nên những lớp thời gian chồng chất lên nhau, hoài niệm chồng chéo lên hoài niệm, hồi ức kéo theo hồi ức, những thể nghiệm được mô tả theo tốc độ tiệm tiến tương ứng với thời gian của chuyện kể. Câu chuyện tưởng như chỉ xoay quanh những chủ đề mang tính chất riêng tư của một nhân vật, nhưng khi đọc lại cho ta một cảm giác lùi về thời gian đáng kể ở dĩ vãng. 

    Chính các nhà văn thế kỷ XX thừa nhận, dù thích hay không thích thì tác phẩm này cũng đã là một biểu tượng cụ thể buộc các nghệ sĩ hiện đại phải thay đổi cách nhìn của mình về thế giới hiển nhiên và cách biểu hiện thế giới bên ngoài. “Đi tìm thời gian đã mất” vì thế trở thành một cột mốc trong hành trình thời gian của tiểu thuyết hiện đại của thế kỷ XX.   

    • Chủ đề Tiểu thuyết Tình cảm Chiến tranh:

    Phần này có 2 bài như sau: Một thời để yêu và một thời để chết (trang 13) và Bác sĩ Zhivago (trang 167).

    • Một thời để yêu và một thời để chết (A Time to Love and a Time to Die): của Erich Maria Remarque là tình yêu giữa chiến tranh đầy máu lửa, đắng cay, nuớc mắt và hoài vọng với lời viết đậm nét vị tha, nhân đạo, an phận, yêu quê hương và chấp nhận số mệnh của một người thanh niên trót sinh ra trong thời chiến. Tình yêu và chiến tranh là những tiếng khóc của trái tim, là xót xa cho thân phận và là rạo rực của nhớ mong. Qua lời văn của Erich Maria Remarque đã đưa người đọc hình dung ra được một chiến trường khốc liệt với xác người không vẹn toàn, xình thối, vùi chôn dưới từng lớp tuyết, những cảnh điêu tàn, những nóc nhà cháy, những bức tường đổ nát, những đống gạch vụn. 
    • Bác sĩ Zhivago (Dr. Zhivago): “Cánh tay phải của tôi. Lau nước mắt giùm tôi.” Đó là hai câu trong một bài thơ của Boris Leonidovich Pasternak đã viết để diễn tả những uẩn khúc trong tim khi tác phẩm Bác sĩ Zhivago ra đời năm 1957, bị cấm xuất bản cũng như lưu hành tại Nga, nhất là khi nội dung của tác phẩm bị nhà nước cho là bôi nhọ chính sách và buộc ông phải từ chối nhận đề cử lãnh giải thưởng Nobel văn chương năm 1958, với lý do sự việc này làm giảm uy tín của Đảng Cộng Sản Liên Xô. 

    Trong tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago, Boris Pasternak “Chống Xô Viết”, chỉ trích rất tế nhị các chế độ “Stalin-nít”, chế độ “tập thể hóa”, cuộc “Đại Thanh Trừng” (the Great Purge) và Quần Đảo Ngục Tù (the Gulag). Tác phẩm Bác sĩ Zhivago còn bị nhà cầm quyền gán cho tội nói xấu cuộc Cách mạng Xô viết. Tháng 12 năm 1989, người con trai của Văn Hào Boris Leonidovich Pasternak tên là Yevgenii Borisovich Pasternak đã được phép đi tới thành phố Stockholm để nhận lãnh Giải Thưởng Nobel Văn Chương của cha cậu. 

    Tác phẩm Bác sĩ Zhivago nhận định một cách rõ ràng về số phận và lựa chọn của người trí thức trong sự xoay vần của thời cuộc bên cạnh chuyện tình yêu ngang trái giữa Yury Zhivago và Lara Guishar. Một chuyện tình đau đớn của những người tình lạc nhau trong chuyến tàu định mệnh, chiến tranh tạo nên sự chia ly, đặt con người trong chấp nhận hy sinh và số phận con người-tình yêu trong những dòng xoáy của lịch sử. 

    • Chủ đề Tiểu thuyết Tinh yêu Lãng mạn:

    Phần này có 2 bài như sau: Trà Hoa Nữ (trang 75), Chuyện Tình Yêu (trang 147).

    • Trà Hoa Nữ (La Dame aux Camélias/The Lady of the Camellias): Alexandre Dumas, Jr. là tiểu thuyết gia, nhà soạn kịch nổi tiếng người Pháp), ông được vào Viện Hàn lâm Pháp năm 1874 và được trao huân chương Bắc Đẩu Bội tinh năm 1894. Trà Hoa Nữ là một tiểu thuyết được viết bởi Tác giả Alexandre Dumas Jr. năm ông 23 tuổi và được xuất bản lần đầu vào năm 1848. Tiểu thuyết Trà hoa nữ đã khẳng định tài năng và đem lại vinh quang rực rỡ cho Alexandre Dumas Jr., nhất là sau khi tác phẩm được ông chuyển thể thành kịch, trình diễn vào năm 1852 ở Paris, tại Nhà hát de Vaudeville, Paris. 

    Theo tài liệu cho biểt, trước năm 1975, nhà soạn kịch/nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã chuyển thể cuốn truyện Trà Hoa Nữ và được trình diễn lần đầu tiên tại Sài Gòn, Việt Nam. Vở kịch này lại được trinh diễn thêm hai lần nữa do ban kịch Kim Cương (2002) tại Sài Gòn và ban kịch Sống (2013) tại California, Hoa Kỳ. Tác phẩm Trà hoa nữ được dịch ra nhiều loại ngôn ngữ, lan truyền rộng rãi trong lãnh vực phim ảnh, kịch nghệ ở nhiều quốc gia, được người xem hâm mộ và ưu ái đón nhận.

    Cốt truyện Trà Hoa Nữ dựa trên bối cảnh tại nước Pháp vào giữa thế kỷ 19, cuốn tiểu thuyết kể về chuyện tình đau thương, một bi kịch cuộc đời của nàng kỹ nữ xinh đẹp Marguerite Gautier và một nhà trí thức trẻ tuổi, luật sư Armand Duval. Tác phẩm Trà hoa nữ không những được coi là một tác phẩm lãng mạn, trữ tình, cảm động mà còn chứa đựng nhiều yếu tố hiện thực, đảm bảo được nghệ thuật văn chương, có giá trị tinh thần, lòng nhân đạo và sự hy sinh cao cả cho tình yêu, đầu tiên và duy nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của nàng kỹ nữ vắn số Marguerite Gautier. 

    Cuốn sách ghi lại câu chuyện qua lời kể của Armand Duval về một mối tình ngang trái, một tình yêu đích thực mà Armand đã dâng hiến cho nàng kỹ nữ trẻ Marguerite. Chính tình yêu chân chính ấy, đã cứu vớt tâm hồn Marguerite và đưa nàng về với cuộc đời mới, thanh cao, trong sạch. Marguerite đã quyết định từ giã cuộc sống xa hoa, vật chất, nhung lụa đầy ô nhục để đổi lấy một cuộc sống lương thiện, dẫu biết rằng con đường ấy sẽ đầy chông gai và phải chịu nhiều đau khổ.

    • Chuyện Tình Yêu (Histoire d’Amour/Love Story): là tiểu thuyết của Erich Segal, ông là một nhà viết tiểu thuyết, kịch bản gia và là giáo sư văn học Hy Lạp và Latinh tại Đại học Harvard, Đại học Yale (1958), Princeton University, Dartmouth College ở Hoa Kỳ, Oxford University, Anh quốc, University of Munich, Đức quốc và lấy bằng Tiến sĩ Văn học Thế giới vào năm 1965. Erich Segal là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về hài kịch thời La-mã, năm 1967 bắt đầu viết kịch bản cho phim ảnh và chuyển thể cuốn truyện Yellow Submarine thành cuốn phim ca nhạc có cùng tựa của ban The Beatles. Cuối thập niên 1960, Erich Segal viết kịch bản cho cuốn phim Love Story, rồi chuyển thể thành cuốn tiểu thuyết có cùng tựa, đạt thành công rực rỡ.

    Bộ phim từng nhận được nhiều thưởng Oscar: Giải thưởng Golden Globe Award for Best Screenplay-Motion Picture, Guggenheim Followship for Humanlities, US & Canada. Giải Quả cầu vàng cho Bộ phim xúc động nhất, Giải Quả cầu vàng cho Diễn viên nữ đóng cảm động nhất dành cho Ali MacGraw. Giải Quả cầu vàng cho Đạo diễn xuất sắc nhất dành cho Arthur Miller. Giải Oscar cho Âm nhạc hay nhất dành cho Francis Lai. Giải Quả cầu vàng cho Âm nhạc hay nhất dành cho Francis Lai. Giải Quả cầu vàng cho Kịch bản phim hay nhất dành cho Erich Segal, cùng 11 đề cử khác. Nổi bật câu nói bất hủ trong cuốn tiểu thuyết đã trở thành tuyên ngôn kinh điển của tình yêu.

    “Yêu có nghĩa là không bao giờ nói lời hối tiếc”.

    Love Story thuộc loại tiểu thuyết tình cảm xã hội, lãng mạn, trữ tình, một là câu chuyện tình đích thực, nồng cháy nhưng lại quá thảm sầu của một mối tình bất điệt, đã làm thổn thức và tê tái không biết bao nhiêu trái tim khán giả. Khởi đầu câu chuyện với chuyện tình của một cô gái mới lớn đi song song với bản tính năng động, tự lập, cao ngạo, tự hào của một chàng sinh viên Harvard thuộc gia đình thượng lưu và nổi tiếng. Sự tranh đấu cho tình yêu không cùng giai cấp, người giầu và kẻ nghèo, đưa đến những thử thách để bảo vệ hạnh phúc cho một tình yêu đích thực và tận cùng là bệnh tật & sự chết…

    Điều đáng kể trong tác phẩm là tác giả Erich Segal đã nêu rõ sự kỳ thị của một xã hội định kiến Mỹ trong thế kỷ 20, nơi mà sự phân biệt giai cấp vẫn tồn tại.  Sự thủ cựu trong quan niệm sống mà thế hệ trẻ của thập niên 1970 không còn tin tưởng vào quan niệm cũ kỹ già nua trong xã hội phong kiến và nó không còn thích hợp với suy nghĩ của giới thưởng ngoạn đang nuôi dưỡng một quan niệm sống mới:  Tự quyết, tự lập, tự hành động cụ thể và tự áp dụng dựa theo tiếng gọi của con tim. 

    xXx

    Tóm lại, tác phẩm Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học của nhà văn Khánh Lan ra đời có  thể nói là để đóng góp vào kho tàng văn học chữ Việt nói chung được chút nào đó phong phú hơn, nhất là ở khía cạnh bàn luận về nghệ thuật của văn học; cũng như giới thiệu một số tác phẩm đã đi vào lịch sử văn học của thế giới. Tác phẩm này gồm những bài viết trình bày đôi nét chính của những danh tác lẫy lửng như kiến thức chung của con người ở mọi thế kỷ.

    Đọc tác phẩm Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học của nhà văn Khánh Lan giúp cho những ai muốn theo một khoá văn học thu gọn ít tốn kém thời gian đi sưu tập nhiều tác phẩm thời danh qua nét nhận định của nữ bỉnh bút Khánh Lan. Theo ý tưởng của nhà văn người Anh Edward Morgan Forster cho là:  “Điều tuyệt vời về văn học vĩ đại là nó biến người đọc nó trở thành tình trạng của người đã viết tác phẩm.” (E. M. Forster: What is wonderful about great literature is that it transforms the man who reads it towards the condition of the man who wrote.); Đọc những danh tác giá trị, sự vĩ đại của những danh tác giúp cho kiến thức con người phong phú hơn.

    Thật vậy.

    Trần Hoàng Nam.

  • Văn Thơ

    Đôi Lời Phi Lộ

    Dương viết Điền.

    Ai đã từng đọc những chuyện trinh thám đều biết rằng, bất kỳ câu chuyện nào cũng làm cho chúng ta say mê nhờ nội dung của các câu chuyện quá kỳ bí, hồi hộp, ghê rợn và lắm lúc kết cuộc thật đau lòng. Vì vậy, các tác giả của những chuyện trinh thám phải là những nhà văn có những đặc tính như thích phiêu lưu mạo hiểm, thích dấn thân, thích tò mò và nhất là trí tưởng tượng rất mạnh đến tuyệt vời, lắm lúc hơn cả tuyệt vời!. Họ thường rất thông minh, lanh lẹ, năng động, hoạt bát. Lắm lúc họ xông xáo vào đời một cách liều lĩnh, nhiều lúc rất ngoạn mục. Nhờ thế những tác phẩm của họ được thai nghén bằng những dữ kiện thật kỳ bí, hấp dẫn, thật ly kỳ và hồi hộp. Thế nên lắm lúc đọc các tác phẩm trinh thám của họ, ta cảm thấy như bị nghẹt thở, sởn da gà, cảm thấy như dựng tóc gáy, rụng rời tay chân! 

    Tuy nhiên, cho dù những người nào có năng khiếu thiên phú đi nữa, nhưng một khi muốn hành nghề thám tử để điều tra tôi phạm, người ta phải học qua những khoá học chuyên môn về nghiêp vụ này. Thế nên ngay từ đầu, tác giả đã cố ý trang bị cho nữ thám tử Lê Minh trong cốt chuyện bằng những khoá học như phải tốt nghiệp Cao học Criminal Justice, hoàn thành khoá đào tạo của Học viện Cảnh sát và sẽ gia nhập Lực Lượng Tư Pháp Tội Phạm Sát Nhân.

    Điểm qua một số nhà văn trên thế giới với những tác phẩm của họ viết về chuyện trinh thám, ta thấy rất nhiều nhà văn nam cũng như nữ, đã để lại cho đời những tác phẩm thật hấp dẫn và lâm ly, thật ngoạn mục và hồi hộp đến toát mồ hôi hột. Chẳng hạn như văn sĩ người Anh Ian Flaming với điệp viên 007 lừng danh nhất thế giới, văn sĩ Conan Doyle với tác phẩm nổi tiếng Sherlock Holmes, nữ văn sĩ Agatha Christie với tác phẩm Án Mạng Trên Sông Nile, nhà văn Da Brown với tác phẩm Mật Mã Davinci, tác giả Lôi Mễ với tác phẩm Đề Thi Đẫm Máu, nữ văn sĩ Gillian Flyn với Cô Gái Mất Tích, nhà văn Shannon Mc Kenna với Đứng Trong Bóng Tối, nhà văn Thomas Harris với Sự Im Lặng Của Bầy Cừu, nhà văn Thuỵ Điển Stieg Larsson với Cô Gái Có Hình Xăm Rồng, nhà văn Truman Capote với Máu Lạnh, nhà văn Nhật Minato Kanae với Thú Tội, nhà văn Nesbo với Chim Cổ Đỏ,  nhà văn Việt nam Phạm cao Cũng với Chiếc Gối Đẫm Máu, Vết Tay Trên Trần, nhà văn Thế Lữ với tác phẩm Lê Phong và Mai Hương, Gói Thuốc Lá, Đòn Hẹn, Tay Đại Bợm.

    Đặc biệt trong bài đôi lời phi lộ này, tôi muốn đề cập đến những nhà văn nữ viết về chuyện trinh thám. Ai cũng biết rằng phái nữ thường được mệnh danh là phái liễu yếu đào tơ với những đặc tính nhu mì, hiền hậu thường chỉ thích đọc và viết về những chuyện tình yêu lãng mạn, những chuyện tình buồn vời vợi, khi thì nức nở sầu thương, khi thì giận hờn tiếc nuối để rồi biệt ly và xa nhau, chứ ít khi viết về những chuyện đánh đấm, võ thuật, múa may quay cuồng, đâm chém giết nhau, thịt rơi máu đổ; hay những tác phẩm liên quan đến hình sự, điều tra tội phạm, nói chung là các chuyện phản gián, chuyện gián điệp, chuyện tình báo.v v…Vậy mà trong những nhà văn nữ của thế giới nói chung và  của Việt nam nói riêng, có một nữ văn sĩ Việt nam ở hải ngoại đã dấn thân bất chấp thân phận là liễu yếu đào tơ đã quyết chí hoàn thành một tác phẩm về chuyện trin

    Nhà văn Tess Gerritsen với tác phẩm Call after Midnight, Peggy Sue Got Murdered, The Bone Garden. Xin xem hình kèm bên dưới.

    Nhìn chung, tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám” này là một tác phẩm rất có giá trị cho ngành tội phạm hình sự theo đó, những ai mới bắt đầu vào nghề hay đang hành nghề thám tử, gián điệp, cần nên đọc để trau giồi thêm kiến thức nghề nghiệp và rút tỉa kinh ngiệm quý báu trong lúc hành nghề.

    Tóm lại, với tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám”, nữ văn sĩ Khánh Lan đã để lại cho đời một kiệt tác về văn chương Việt nam tại hải ngoại, đặc biệt trong lãnh vực về chuyện trinh thám, rất hấp dẫn, thật hồi hộp, đọc xong sẽ nổi da gà và dựng tóc gáy ngay. Tôi xin trân trọng giới thiệu với độc giả khắp năm châu tác phẩm trinh thám thật tuyệt vời này.

    California, ngày 20 tháng 02 năm 2021.

    Dương viết Điền.

    (Hình ảnh trong bài lấy từ Wikipedia).

    California, ngày 20 tháng 02 năm 2021.

    Dương viết Điền.

    (Hình ảnh trong bài lấy từ Wikipedia)

  • Văn Thơ

    Tự Hào hai chữ SÀI GÒN

    Chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu.

    SAIGON – cái tên địa danh 1 trong 40 thành phố nổi tiếng trên thế giới được khắc tên trên mặt đồng hồ Thụy Sỹ từ những năm 1953. Chiều qua uống cafe với đứa em, buôn chuyện khắp thế giới mới biết em cũng cùng sở thích mê đồng hồ (mình chỉ mê thôi nha). Em gởi hình cái đồng hồ và hỏi có biết  tin thú vị này không ? Xem xong thật sự mình rất rất ngạc nhiên xen lẫn tự hào cái tên SAIGON được khắc trên mặt đồng hồ của một thương hiệu nổi tiếng nhất thế giới – PATEK PHILIPPE – model 2523 của Thụy Sỹ.  Tin quá hay và quá thú vị không phải ai mê đồng hồ cũng biết. 

    ***

    Tối mình về nhà lật đật “lục tung” internet tìm hiểu mới càng “nổi da gà”, khi biết nó được sản xuất năm 1953, khi miền Nam lúc đó do Pháp đô hộ, nhưng thành phố SAIGON được khắc tên 1 trong 24 múi giờ thế giới. 

    Cái tên được ngạo ngễ đứng chung với 40 thành phố nổi tiếng đại diện trên thế giới: Sydney, Montreal, Moscow, New York, California, Rio De Janeiro, London, Paris, Geneva, Tokyo,…..có cả Singapore (mình hơi thắc mắc nước Singapore thành lập năm 1965, nhưng đồng hồ này lại được sản xuất năm 1953 ?).

    Tương truyền, vào năm 1876 sau khi lỡ chuyến tàu ở Ireland, kỹ sư đường sắt người Scotland – Mr.Stanford Fleming bắt đầu tìm cách chuẩn hóa thời gian. Phát biểu trước Viện Hoàng gia Canada ở Toronto năm 1879, ông đề xuất chia trái đất thành 24 múi giờ, mỗi múi cách nhau một tiếng với thời gian chung cho từng múi giờ riêng lẻ. Ý tưởng của ông đã vấp phải sự phản đối đáng kể từ các chính phủ và cộng đồng khoa học nhưng sự kiên trì của ông đã được đền đáp khi khái niệm mang tính cách mạng của ông cuối cùng được thông qua vào năm 1884 tại Washington, khi 25 quốc gia tham gia hội nghị Kinh tuyến Quốc tế quyết định rằng kinh tuyến gốc của kinh độ 0 ° sẽ đi qua Greenwich, nước Anh.

    Đồng hồ giờ thế giới dường như ít được các tín đồ đồng hồ quan tâm cho đến khi nhà chế tác đồng hồ thiên tài Mr.Louis Cottier thiết kế một bộ máy đồng hồ bỏ túi có giờ địa phương với kim giờ và kim phút ở trung tâm, được liên kết với một vòng xoay 24 giờ và được bao quanh bởi một vòng quay số cố định bên ngoài với tên của các thành phố khác nhau được ghi trên đó. Đồng hồ bỏ túi giờ thế giới, tiền thân của tất cả đồng hồ giờ thế giới, hiển thị đồng thời mọi múi giờ trên thế giới, đồng thời cho phép xem giờ địa phương dễ dàng và chính xác, và tất cả trên một mặt số duy nhất.

    Cottier đã thu nhỏ phát minh của mình vào cuối những năm 1930, xuất hiện trên chiếc Patek Philippe model 1415. Đến năm 1953, Patek Philippe model 2523 có hệ thống hai núm vặn mới, một để lên dây cót và một ở vị trí 9h để điều khiển đĩa các thành phố. Khi được giới thiệu ra thị trường, đồng hồ hai núm mới này không thành công về mặt thương mại, nên rất ít sản phẩm được sản xuất. Chỉ có 7 cái được chế tác bằng vàng hồng,  5 cái có bản đồ thành phố Âu châu  và Bắc Mỹ. Trong đó, 1 trong 2 cái duy nhất dùng bản đồ Âu Châu & Á châu  có mặt sứ màu xanh nước biển, khi lặn xuống nước màu trên mặt có một chiều sâu như dưới biển. Đồng hồ duy nhất này có cả 2 thứ trên mặt mà các nhà sưu tập đồng hồ mong muốn là mặt bằng men Enamel (loại sứ trên cái mặt tròn ở giữa) phải nung 2 lần mới thành. Và mặt trang trí vói những pattern bằng máy (do huyền thoại Louis Cottier phát minh, sau đó hãng Patek Philippe sử dụng). Đặc biệt được sản xuất trong thập niên 50 thế kỷ trước, thập niên hoàng kim của chế tạo, thiết kế, kỹ thuật điêu luyện của đôi tay những bậc thầy.

    Và…..chiếc đồng hồ Patek Philippe 2523 giờ thế giới có khắc tên SAIGON được sản xuất năm 1953 trở thành chiếc đồng hồ đắt nhất được bán ở Á châu. Nghe nói đâu  vài triệu đô chứ mấy ?!? Ahihi…!

    Minh Hoà Photographer  (SaiGon – Nov. 16, 2020)

  • Văn Thơ

    Vòng Đai Xanh, Tác Phẩm Qua Các Nhận Định Vương Trùng Dương

    LTS: Nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa số 134, tháng 10, 2020 đăng bài viết: Đọc sách “Mặt Trận Ở Sài Gòn” của Ngô Thế Vinh  của Nguyễn Văn Tuấn. Trong phần Lời Tòa Soạn đã nhắc đến tác phẩm Vòng Đai Xanh (VĐX) của nhà văn Ngô Thế Vinh, nhà xuất bản Thái Độ ấn hành năm 1970 được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 71. Đây là tác phẩm thứ tư sau Mây Bão (1963), Bóng Đêm (1964), Gió Mùa (1965) từ thời sinh viên y khoa. Tác phẩm VĐX nầy đã gây xôn xao trong giới cầm bút ở Sài Gòn và giới chức chính quyền vì nhận thức khác nhau vào thời điểm đó.

    Tốt nghiệp Y Khoa năm 1968, Ngô Thế Vinh, bác sĩ trưng tập, gia nhập quân y, phục vụ tại binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt và sau đó giữ chức vụ Y Sĩ Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.

    Nhà văn Trang Châu, tác giả bút ký Y Sĩ Tiền Tuyến, tác phẩm được trao giải Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1969; Tốt nghiệp Y Khoa năm 1966, bác sĩ trưng tập, phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù.

    Đầu thập niên 60, nguyệt san Tình Thương của sinh viên Đại Học Y Khoa Sài Gòn không thuần túy về lãnh vực chuyên môn mà với những bài viết văn học nghệ thuật rất giá trị. Hai con chim đầu đàn của tờ Tình Thương là Trang Châu và Ngô Thế Vinh, được 4 năm thì bị đóng cửa vào năm 1966 vì lý do chính trị.

    (Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc là giải thưởng do Phủ Tổng Thống trao tặng nên còn gọi là Giải Văn Chương Tổng Thống. Sau năm 1970, Giải này do Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa tổ chức. Có các bộ môn tranh giải tùy theo năm về Hội Họa, Âm Nhạc, Điện Ảnh, Thơ, Truyện (truyện ngắn truyện dài)…

    *

    Sau 1975, Ngô Thế Vinh bị 3 năm tù ở Suối Máu, Trảng Lớn, Phước Long, Bù Gia Mập… Ra tù, về Sài Gòn, thời gian sau trở lại làm việc tại Trung Tâm Phục Hồi Bà Huyện Thanh Quan và Vật Lý Trị Liệu Sài Gòn. Năm 1983 được định cư tại Hoa Kỳ (vợ vượt biên và bảo lãnh).

    Trong thời gian ở Sài Gòn, anh là chứng nhân của giai đoạn lịch sử nên khi ở Hoa Kỳ, ấn hành tuyển tập Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa gồm 18 chân dung (có Cao Xuân Huy & Phùng Nguyễn được biết sau nầy). Và, hai tác phẩm Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch như lời cảnh báo mà hiện nay đang xảy ra.

    Cuốn sách Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn – Người Ði Tìm Mùa Xuân của một nhóm tác giả do Ngô Thế Vinh chủ biên, được ra mắt vào đúng ngày 30 tháng Tư năm 2019. Qua những tác phẩm của Ngô Thế Vinh thể hiện tấm lòng của anh với chiến hữu, đồng nghiệp và quê hương trải qua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử.

    Tác phẩm Vòng Đai Xanh được tái bản lần thứ nhất tại hải ngoại vào năm 1986. Tác phẩm được dịch qua tiếng Anh dưới tựa đề The Green Belt (Ivy House Publishing Group 2004). Lần tái bản nầy Vòng Đai Xanh – The Green Belt – Bilingual Viet/English, do Văn Học Press & Việt Ecology Press ấn hành. Sách dày 448 trang. Phần tiếng Việt có 245 trang. Gồm 20 chương và các bài viết về tác giả, tác phẩm. Phần tiếng Anh từ trang 257 qua bản dịch của Nha Trang & William L. Pensinger.

    Theo lời nhà xuất bản Văn Học Press đã giới thiu tổng quát về tác phẩm “… Cuốn sách viết về số phận bi đát của những người Thượng sống trên vùng đất mà ngày nay gọi là Tây Nguyên. Sẵn có mối mâu thuẫn với người Kinh, cộng thêm chính sách “Dinh Điền” đầy bất công dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, người Thượng giang rộng vòng tay đón nhận sự trợ giúp của đoàn quân Mũ Xanh Mỹ với niềm hy vọng thiết lập một quốc gia Đông Sơn riêng biệt, hoặc chí ít một vùng đất tự trị bao gồm gần 30 sắc dân khác nhau sinh sống trên suốt dải đất miền cao đó. Giấc mơ của họ đã bị đập tan không thương tiếc, một phần vì họ đã quá ngây thơ…

    … Khi chấp nhận cộng tác với lính Mũ Xanh, những người Thượng hiểu rõ họ đã trở thành thù địch của phe Cộng, và khi bị phe lính Mũ Xanh bỏ rơi, thật mau chóng và dễ dàng họ biến thành miếng mồi ngon cho phe Cộng, và đối với phe Cộng hình phạt nhẹ nhất cho kẻ phản bội là chặt đầu, ném xác xuống suối! Nặng hơn thì cả một buôn bản bị tàn sát, không chừa một mống dù là con vật…”

    Và, tác hại đắng cay của người Thượng:

    “… Sau khi Cộng Sản chiếm trọn miền Nam năm 1975, hàng chục ngàn người Thượng đã bị lùa vào các “trại cải tạo,” lãnh tụ bị hành quyết, buôn bản cô lập, từng đoàn người già trẻ lớn bé phải vượt đường bộ tìm lẽ sống qua cái chết sang tị nạn tại các quốc gia láng giềng. Sự ngược đãi tưởng như chưa sắc dân nào trên thế giới chịu đựng nhiều hơn. Thậm chí gần đây, làn sóng người Thượng tị nạn từ Việt Nam sang Campuchia vẫn không ngưng, mà chỉ chậm lại khi chính quyền Campuchia ra lệnh trao trả lại Việt Nam những người tị nạn đó.

    Bởi thế tính thời sự của cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh không hề suy giảm. Nó vẫn nóng bỏng với những chất vấn cho lương tâm nhân loại ở kỷ nguyên hiện đại này”.

    Qua hai lần tái bản Vòng Đai Xanh, ghi lại tiêu biểu những dòng chia sẻ, nhận định của các vị thức giả và đồng nghiệp về tác phẩm:

    * BS Trần Ngọc Ninh, GS đại học Y Khoa Sài Gòn, Tổng Trưởng Văn Hóa Xã Hội đặc trách Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa,: “Vòng Đai Xanh là một công trình của lương tâm và dấn thân can đảm. Ngay khi xuất bản lần đầu tiên, cuốn sách đã được giới trí thức miền Nam đón nhận rộng rãi và tán thưởng nhưng đồng thời cũng bị chính quyền miền Nam lên án là phá hoại…

    … Đối với người Việt, thì thảm kịch của thời đại chúng ta là mọi cuộc chiến tranh hôm nay và cả trong tương lai đều mang mầm mống hủy hoại mà Vòng Đai Xanh như một điển hình đa diện và ở nhiều mức độ khác nhau. Những sắc dân Thượng ấy đã không có tiếng nói. Đến bao giờ thì ‘tiếng nói thầm lặng’ của họ mới thực sự được lắng nghe?”

    * Mặc Đỗ, nhà văn, nhà nghiên cứu cùng Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan thành lập nhóm Quan Điểm, và thành viên sáng lập tờ nhật báo Tự Do đầu tiên ở Miền Nam: “Trong cơn lốc bão táp của cuộc chiến tranh Việt Nam đang bị sa lầy, các nhà quan sát như thành phần liên hệ đã đưa ra những quan điểm thiên lệch. Ngô Thế Vinh đã trực tiếp tham dự và Vòng Đai Xanh đã cống hiến chúng ta tất cả những sự kiện”.

    * Theo Gerald C. Hickey, tác giả Free in the Forest, Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands, 1954-1976

    “Tôi đọc Vòng Đai Xanh với nhiều quan tâm. Cuốn sách đã gợi lại ký ức về Cao Nguyên vào những năm 60 và cả những biến cố liên quan tới Phật Giáo và sinh viên cũng trong giai đoạn bất an đó. Rõ ràng là tác giả Ngô Thế Vinh đã hiểu biết rất rõ về các sắc dân Thượng cùng với những nguyện vọng của họ giữa và sau cuộc chiến tranh. Những tin tức hiện nay mà tôi nhận được từ Cao Nguyên thật đáng buồn. Người Thượng đang phải đối đầu với những mối đe dọa tệ hại hơn bao giờ hết trên nếp sống của họ. Cũng như người Pháp trước đây, người Mỹ đã dùng người Thượng và sau đó đã lạnh lùng bỏ rơi họ. Điều mà người ta có thể làm là cố gắng tạo mối quan tâm từ các nhà lãnh đạo Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn. Hy vọng và vẫn chỉ là hy vọng”.

    * Theo Oscar Salemink, tác giả The Ethnography of Vietnam’s Central Highlanders: “Tôi rất xúc cảm về những hiểu biết, tầm nhìn xa và mối từ tâm mà Ngô Thế Vinh đã dàn trải trong Vòng Đai Xanh, cuốn sách được viết từ hơn 30 năm trước. Mặc dầu là một tiểu thuyết nhưng nhiều biến cố mang ‘dấu ấn lịch sử’ và một số nhân vật thì như là rất thật. Đối với những phe phái liên hệ, qua những biến động và nghịch cảnh, thì các sắc dân Thượng luôn luôn là hình ảnh nạn nhân của các chính sách và những cuộc tranh chấp.

    * Jose Quiroga, Giám Đốc Chương Trình Các Nạn Nhân Bị Tra Tấn, Los Angeles: “Các sử gia, nhà báo, chính trị gia, các nhà quân sự và tiểu thuyết gia đã viết nhiều sách về cuộc chiến tranh Việt Nam. Vòng Đai Xanh là một tiểu thuyết mạnh mẽ, lôi cuốn và đặc sắc do một y sĩ nhà văn viết ra, về những tác hại của cuộc chiến tranh trên con người đặc biệt trên thiểu số những người Thượng sống trên các vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam và họ là nạn nhân của sự kỳ thị. Do vùng đất ấy vốn là địa bàn chiến lược trong cuộc chiến khiến cho cuộc sống vốn thanh bình của những người Thượng đã bị biến đổi vĩnh viễn. Các điều kiện nhân quyền của những nhóm người Thượng thiểu số cần được sự quan tâm của quốc tế.

    * Nhà văn Nhật Tiến: “Đọc Vòng Đai Xanh, để thấy từ hơn ba thập niên trước, Ngô Thế Vinh đã vẽ lại khung cảnh một Cao Nguyên Trung phần Việt Nam với tất cả những khía cạnh bi thảm trong thời chiến, đã phơi bày đâu là cội nguồn của sự bất an và soi rọi ánh sáng của từ tâm vào thân phận của các sắc dân Thượng. Trên 30 năm đã trôi qua, tình cảnh của người Thượng hầu như không đổi khác nếu không muốn nói là tồi tệ hơn. Thế giới bên ngoài hầu như vẫn chưa nhận ra hết hệ quả của những định kiến sai lầm vốn đã góp phần vào những thảm kịch đó.” 

    * Nhà văn Phan Nhật Nam: “Nỗi đau thương của đất và người – người Việt Nam, người sắc tộc thiểu số ở Tây Nguyên luôn giữ nguyên sắc đột từ bao đời nay. Vận mệnh nước Việt miên Nam chỉ trong vòng 50 năm qua đã được quyết định từ những lần thất thủ, bỏ mất Tây Nguyên. Với tấc lòng tha thiết trung hậu, từ viễn kiến sắc sảo của kẻ sĩ dụng văn, Ngô Thế Vinh trong những năm xa xôi, lúc tuổi còn rất trẻ, đã thấy ra điều bất hạnh của 29 sắc dân thiểu số, viết nên cuốn sách về một vòng đai không hề nối kết được ở Tây Nguyên, “về một cuộc chiến bị lãng quên giữa chiến tranh Việt Nam, được nhắc nhở nhiều nhất trong lịch sử báo chí Mỹ”.

    * Nguyễn Sa Mai, Wordbridge Magazine: “Vòng Đai Xanh không phải là một tường thuật về cuộc chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến tranh hao mòn đối với các phe tham chiến cho tới ngày sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975. Vòng Đai Xanh thực chất là chứng nhân cho nỗi thống khổ của con người nói chung, và cho cuộc đấu tranh sinh tồn của các dân cư trong cuộc chiến tranh ấy. Tác giả gọi đó là “cuộc chiến bị lãng quên” với những người Thượng trên Cao Nguyên Trung phần Việt Nam hoàn toàn không được bảo vệ, họ điển hình là những nạn nhân chiến tranh bị kẹt giữa hai làn đạn và không có lối thoát”.

    * Ánh Nguyệt, Radio France Internationale: “Có lẽ Vòng Đai Xanh là một trong những tác phẩm hiếm hoi đã tìm kiếm và soi rọi căn nguyên cuộc chiến đấu của những sắc tộc thiểu số ở Tây nguyên . Ít ai nhìn thấy bên trong  cái vẻ chất phác của những con người sống gần và sống với thiên nhiên ấy là niềm khao khát tự trị, tự do, giống như một ngọn lửa cháy mãi từ bao nhiêu năm qua mà không cơn cuồng phong nào dập tắt hẳn được. Nhưng khát vọng ấy nếu không bị vùi dập cũng đã bị bao nhiêu thế lực lợi dụng và, cho đến ngày nay tình thế của nguời Thượng vẫn không thay đổi.

    … Vòng Đai Xanh vừa là cái nhìn tỉnh táo của một nhà quan sát, vừa là cảm xúc của một nguời cầm bút, là tấm lòng của một con người đối với con người bị áp bức, kém may mắn hơn mình về mọi mặt. Không chỉ ba mươi năm trước  mà cho đến mãi mãi về sau, Vòng Đai Xanh vẫn xứng đáng là một tiểu thuyết tiêu biểu của  một cuộc chiến đấu dai dẵng vì một khát vọng chính đáng”.

    * GS Nguyễn Văn Tuấn, Garvan Institute, Sydney Australia: “Vòng Đai Xanh không phải chỉ là tiêu đề của cuốn tiêu thuyết, đó là một ý niệm quân sự từ Ngũ Giác Đài trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản trên toàn thế giới. Những đơn vị Mũ Xanh đã được thành lập với nhiệm vụ xâm nhập vào các cộng đồng sắc tộc thiểu số trên các vùng rừng núi cao nguyên, trong đó có Việt Nam nhằm biến những người Thượng thành những lực lượng quân sự có khả năng ngăn chặn sự xâm nhập của Bắc quân vào miền Nam Việt Nam, hay nói một cách khác họ tìm cách thiết lập một vòng đai xanh nhằm ngăn chặn cộng quân.

    … Quyền lợi của người Mỹ không nhất thiết liên quan tới quyền lợi của người Thượng. Đó cũng là tấn thảm kịch khi quá lệ thuộc vào quyền lực ngoại bang. Vòng Đai Xanh viết về tấn thảm kịch ấy.

    Mặc dầu tiểu thuyết Vòng Đai Xanh đề cập tới tấn thảm kịch của người Thượng ở Cao Nguyên trong cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng vẫn có thoáng xen kẽ vào đó là chuyện tình giữa một nhà báo và một cô gái thành thị trung lưu rất Tây phương và học thức có tên Như Nguyện. Câu chuyện tình ấy được kể bằng một ngôn ngữ rất tượng trưng và rất thơ mộng.

    Vòng Đai Xanh sẽ giúp ích cho những ai muốn tìm hiểu về một ‘khía cạnh khác ít biết’ về giai đoạn can thiệp quân sự của người Mỹ  ở Việt Nam”.

    * Nhà văn Hoàng Mai Đạt: “Vòng Đai Xanh vẫn để lại trong người đọc một nỗi buồn về thân phận các dân tộc thiểu số trên Cao nguyên Việt Nam. Thân phận của họ đã bị dày xéo giữa các thế lực trong chiến tranh cũng như sau thời chiến. Sự tồn tại của dân tộc Thượng đang mỗi lúc một bi thảm hơn, bước dần tới sự diệt vong trong thế kỷ này. Ngô Thế Vinh đã viết Vòng Đai Xanh với phân tích thời sự trong thập niên 60 qua đôi mắt của một bác sĩ chuyên nghiệp, ông cũng viết tác phẩm này với lương tâm của một nhà văn”.

    * Nhà văn Nguyễn Quốc Trụ, người bạn vong niên, trong bài viết Đỉnh Cồn, Vòng Đai Xanh, ghi nhận: “Thật kỳ cục, đọc Vòng Đai Xanh, tôi vẫn có cảm giác đây là một cuốn biên khảo, một thứ khảo cổ học (archeology), được sử dụng theo nghĩa của Michel Foucault, không họ hàng gì với địa chất học (geology), hoặc phả hệ học (genealogy). Ở đây là khảo cổ học về nguồn gốc một cuộc chiến (trong một cuộc chiến). Hoặc có thể coi đây là chương mở đầu của một trường thiên tiểu thuyết về cuộc chiến Việt Nam”.

    * Tâm tình Ngô Thế Vinh qua Vòng Đai Xanh của Lại Mạnh Cường trong giới Y Khoa, trích đoạn: “Trong vai trò một chứng nhân lịch sử có ý thức thật cao, Ngô Thế Vinh mượn các nhân vật trong Vòng Đai Xanh như một diễn đàn, để phân tích thời cuộc tại Tây Nguyên thật sâu sắc. VĐX làm nhiệm vụ “cái móc áo”, để tác giải diễn đạt tâm tư thầm kín của mình trước tình thế dầu sôi lửa bỏng của quê hương và dân tộc.

    … Trong VĐX tác giả nhiều lần dẫn chứng thái độ không nên không phải của người Mỹ đối với phía VN. Người Mỹ thường nói xấu đồng minh thân thiết nhất của mình. Họ chê bai, dè bỉu phía VN vừa lười vừa hay ăn hối lộ, ăn chặn tiền viện trợ… Cố vấn Mỹ lại thường tỏ thái độ trịch thượng, thích bắt chẹt khi phía VN nhờ vả trong bất cứ chuyện gì, kể cả khi cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Đã thế họ còn gieo tiếng xấu cho phía VN…”

    *

    Năm 1969, tôi về phục vụ tại Tiểu Đoàn 20 CTCT, biệt phái làm Trưởng Ban Điều Hành của Trung Tâm Hành Tâm Lý Chiến Vùng II Chiến Thuật nên có cơ hội đi khắp vùng cao nguyên. Vì ở nơi nầy nên nghe đề cập đến phong trào Fulro nổi dậy rất mạnh ở Cao Nguyên.

    Dưới thời Vua Bảo Đại, người Thượng được hưởng quy chế tự trị hưởng đặc quyền, đất của họ được gọi là “Hoàng Triều Cương Thổ”. Nhưng dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, họ bị tước mất các quyền nói trên, nên họ nổi dậy phong trào mệnh danh là “Thượng Tự Trị”, khởi đầu từ năm 1957; và những năm sau cũng là thời cơ cho Thượng cộng tuyên truyền, khích đông lòng hận thù đối với người Kinh qua các vụ thảm sát thân nhân sĩ quan VNCH và cả thường dân.

    Trung Tướng Vĩnh Lộc, Tư Lệnh Quân Đoàn II thuyết phục đồng bào Thượng, hỗ trợ đời sống đồng bào Thượng từ phương tiện du chuyển đến y tế, trường học… và bổ nhiệm các nhân vật người Thương vào cơ quan công quyền. Là vị Tướng có công thu phục phong trào Fulro trong giai đoạn đó.

    Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB – ARVNSF) đơn vị quân sự tinh nhuệ của Quân Lực VNCH nhưng sau những biến động chính trị nên bị giải tán.

    Khi Mỹ hỗ trợ Lực Lượng Đặc Biệt (Special Forces) chỉ là tổ chức Dân Sự Chiến Đấu (CIDG – Civilian Irregular Defense Group) gồm toàn người Thượng cao nguyên. LLĐB được Mỹ huấn luyện, vũ trang, cung cấp quân nhu, tổ chức thành đơn vị đồn trú tại một số trại lớn rải rác ở miền núi, hành quân dọc theo biên giới giữa cao nguyên Việt Miên Lào. Mỗi trại được đặt dưới quyền chỉ huy của một số sĩ quan Quân Lực VNCH và một số sĩ quan Cố Vấn Hoa Kỳ… Khoảng tháng 9/1969, xảy ra chuyện đổi tiền đô la đỏ, chị tôi nhờ đổi giùm và quen với sĩ quan ở C2 LLĐB đồn trú ở Pleiku, gần Quân Đoàn, tôi mới biết thêm về binh chủng nầy.

    Vì vậy khi tác phẩm Vòng Đai Xanh vừa ấn hành, tôi đọc rất thích vì tìm hiểu thêm về vai trò LLĐB và người Thượng cao nguyên trong thời chiến tranh.

    Khi đọc tờ Bách Khoa (6/1972) nhà văn Ngô Thế Vinh cho biết: “Tôi đã phải tự cắt xén đi gần một nửa số trang của cuốn sách. Đó gần như một sự phá hỏng tác phẩm với mục đích để được xuất bản…

    … Thoạt tiên anh Thế Nguyên chủ trương nhà Trình Bày, nhận xuất bản. Sau anh chịu thua kiểm duyệt. Anh Thế Uyên chủ trương nhà Thái Độ lại nhảy vào vòng tranh đấu và anh kiên nhẫn làm đơn từ lên xuống mãi, rồi sau cùng thì kiểm duyệt nhượng bộ, Thế Uyên thành công và Vòng Đai Xanh được ra đời sau những hậu thuẫn nhiệt thành của các anh em cầm bút trên báo chí”.

    Lúc đó, cảm nhận lối hành văn qua bút ký của tác giả lôi cuốn người đọc vào tác phẩm, sự trăn trở, tình cảm sâu xa của tác giả của người Thượng, sự ngạo mạn của sĩ quan Mỹ Green Beret… Có lẽ điều đó bị kiểm duyệt vì sợ đụng chạm đến người bạn Đồng Minh.

    Sau nầy khi đọc tác phẩm Khi Đồng Minh Tháo Chạy của TS Nguyễn Tiến Hưng, hồi tưởng lại trong Vòng Đai Xanh viết thời trai trẻ với tâm nhìn quá già dặn, xuất sắc.

    Nhận được tác phẩm Vòng Đai Xanh – The Green Belt vừa mới ấn hành do tác giả gửi tặng. Qua email, Việt Hải khơi dòng:

    “Nguyên thủy Vòng Đai Xanh không phải chỉ là một tác phẩm xếp dưới dạng loại tiểu thuyết, mà chính ra nó là một tập sách về thời cuộc, dạng xã hội chính trị, loại biên khảo sự liệu giữa nhiều yếu tố như người Thượng cao nguyên sống giữa 3 thế lực: người Mỹ, CS Bắc Việt và VNCH. Sách chỉ qua được sự kiểm duyệt của Bộ Thông Tin, nếu sách được trình bày như một cuốn tiểu thuyết. Bởi lẽ vì những yếu tố ‘nhậy cảm’ bên ‘phe ta’ cần những giới hạn ‘phải giới hạn’. Cho nên tác giả phải ‘ngụy trang’ sách như truyện tiểu thuyết, Khi ta nghiên cứu lịch sử hay chấp bút biên khảo môn nhân chủng về một sắc dân bị đè nén, bị thiệt thòi (có thể bị diệt chủng chẳng hạn), yếu tố công minh tôn trọng sự thật rất cần thiết đối với tình huống cho ngòi bút bị giới hạn bởi sự nhiêu khê, khi ta phải chọn lựa giữa 2 điều khó xử (dilemma of choices). Đề tài trong tác phẩm đã được tác giả nêu ra khéo léo về sự thiệt thòi của người Thượng đáng thương hại, nạn cửa quyền tham ô ăn chận viện trợ của quan ta, nạn hống hách của quan Mỹ, và sự tàn ác của CS.

    … Đoc Vòng Đai Xanh tôi trân quý tác phẩm, tôi muốn tôn vinh ngòi bút Ngô Thế Vinh. Ra trường y khoa, một bác trẻ từ bỏ cuộc sống sung sướng của thủ đô với ánh đèn màu, tình nguyện gia nhập binh chủng tác chiến với màu áo camouflage, LLĐB trấn đóng nơi vùng Tam Biên, đèo heo hút gió ở khu vực Tam Giác Vàng, giữa 3 biên giới. Trong thời tiết khắt nghiệt chịu đựng giá rét mưa rào, địa thế ngã ba Đông Dương, giao điểm tiếp giáp Kon Tum (Việt Nam), Attapeu (Lào) và Rattanakiri (Campuchia). Người lính trận chịu đựng những gian nguy, khổ cực. Bao nhiêu người muốn như vậy?”.

    Việt Hải nói tôi viết về Vòng Đai Xanh trong tình thế hiện nay… Khởi đầu Chương III, tác giả viết: “Trên khắp cao nguyên tôi ít thấy những người lính Mỹ nói tốt về các đồng minh Việt Nam của họ. Đó cũng là một lối diễn tả được coi là nhẹ nhất khi nói về mối ác cảm của dư luận báo chí Mỹ đối với những khó khăn Kinh Thượng ở cao nguyên…

    … Thật không lúc khi chúng tôi đang đứng ở một cứ điểm nóng nhất của cuộc chiến tranh để nghĩ vẩn vơ về một dư luận bên trời Âu hay ở tận nước Mỹ”.

    Từ cứ điểm nóng nhất ở đồi Delta năm 1969 đến nay đã hơn nửa thế kỷ ở Little Saigon, báo chí Mỹ hay truyền thông Mỹ đã đánh mất vai trò khách quan, trung thực, chính xác mà John Hohenberg, giáo sư báo chí của Đại Học Columbia đề cập trong quyển The Professsional Journalist. Truyền thông bây giờ càng ngày càng đi vào vũng lầy của dư luận, phe nhóm, đê tiện, dựng chuyện, Fake News… chửi bới lung tung, hạ cấp.

    Với tác phẩm Vòng Đai Xanh, nếu tôi viết cũng là sự trùng lặp những dòng chia sẻ, nhận xét của nhiều cây bút đã nêu trên.

    Little Saigon, Jan 23, 2021

    Vương Trùng Dương

  • Khánh Lan,  Văn Thơ

    Hạnh phúc trở về

    Khánh Lan

    Tuấn tắt máy xe rồi quay sang nhìn vợ, Phượng vẫn ngồi bất động, mắt mở trừng trừng nhìn về phía trước.  Tuấn với tay qua phía trái và nắm lấy bàn tay lạnh toát của vợ, khẽ nói. 

    – Ðã đến nhà rồi em ạ. 

    Phượng giật mình, quay lại nhìn chồng, ánh mắt như dại đi, ngỡ ngàng, rồi đưa tay mở cửa xe, bước xuống đường.  Tuấn đi theo sau lưng vợ, hai người cùng im lặng. Vừa bước chân vào nhà, Phượng đi thẳng vào phòng ngủ của hai vợ chồng, nàng buông mình xuống giường, úp mặt vào hai lòng bàn tay, để mặc cho nước mắt tuôn trào như hai dòng suối.  Hai bờ vai Phượng rung lên từng chập, hòa cùng nhịp điệu với tiếng nấc nho nhỏ, đứt thành từng đoạn như muốn nghẹn trong cổ họng.  Tuấn thì khác hẳn, anh bước vào phòng khách, quẳng mạnh chùm chìa khóa xe lên bàn, rồi rơi mình xuống chiếc ghế bành lớn.  Tuấn ngả hẳn người ra phía sau, hai mắt anh nhắm nghiền, cái điện thoại cầm tay rơi xuống sàn gạch tạo nên tiếng vang như rạn nứt, nhưng anh cũng chẳng màng để ý, trong trí óc Tuấn như đang diễn lại một cuốn phim “Thảm cảnh về cuộc đời mình”.

    …Tuấn và Phượng quen nhau qua sự giới thiệu của hai gia đình.  Năm ấy, chàng là sinh viên năm thứ ba của trường đại học Kinh Thương tại Saigon.  Còn Phượng, nàng vừa thi đậu vào trường Y Khoa.  Cả hai gia đình Tuấn và Phượng đều khá giả và là một trong những gia đình có địa vị trong xã hội.  Cha của Tuấn là bác sĩ chuyên khoa về tim mạch tại bệnh viện Grall, Sài Gòn.  Bố của Phượng là nhà ngoại giao tại Mỹ.  Khi còn học ở trung học, Tuấn và Phượng đều học trường Pháp và giao thiệp rộng trong giới trí thức thượng lưu.  Từ thuờ nhỏ, Tuấn và Phượng được giáo huấn rất kỹ càng trong lãnh vực ngoại giao, khuyến khích trong cuộc sống cầu tiến và lấy sự thành công làm đầu.  Chính vì vậy, dù Tuấn và Phượng có một cuộc sống rất ưu đãi, nhưng cả hai đều hoạch định cho mình một lối đi rõ ràng trong tương lai.

    Cuộc di tản năm 1975 đã thay đổi tất cả và đã gây ảnh hưởng trên hơn một trăm ngàn người Việt Nam.  Gia đình Tuấn và Phượng cũng trong số người đó, nhưng may mắn rời khỏi nước một tháng trước khi Saigon sụp đổ ngày 30 tháng Tư.  Định cư tại Hoa Kỳ, hai gia đình Tuấn và Phượng đều ở cùng một thành phố nên hai gia đình vẫn giữ liên lạc với nhau.  Tuấn trở lại học cho xong cái bằng Cử Nhân Tài Chánh Doanh Nghiệp và tiện thể lấy luôn cái bằng Cao Học Hành Chánh.   Phượng cũng cố gắng không ngừng, nàng trở lại trường và quyết tâm trở thành bác sĩ giải phẫu óc (Neuron Surgeon). 

    Trong thời gian vật lộn với sách vở, Tuấn và Phượng vẫn gặp nhau, nhưng họ quyết định chờ đợi nhau cho đến ngày “công thành danh toại” mới làm đám cưới, bỏ qua những lời khuyên nhủ của gia đình và bạn bè.  13 năm sau, Tuấn đã dồn hết tâm trí và sức lực để gầy dựng năm cơ sở thương mại sản xuất nhập cảng bàn ghế, từ mọi nơi trên thế giới chạy dài từ Los Angeles tới San Francisco mà anh làm chủ.  Một sự đền bù rất xứng đáng và thành công vượt bực khiến cho Tuấn vô cùng hãnh diện.  Phần Phượng cũng không kém, nàng trở thành một nữ bác sĩ chuyên khoa ngành giải phẫu não (Neuron Surgeon) cho một bệnh viện nổi tiếng vùng Los Angeles.  Và sau cùng, đám cưới của Tuấn và Phượng tổ chức thật linh đình tại Paris, thành phố hoa lệ của tình yêu mà hai người đều yêu thích.  Một cuộc đời qúa tuyệt diệu mà Thượng Đế đã ưu đãi cho Tuấn và Phượng.

    Hai năm sau ngày cưới khi sự nghiệp đã vững, Tuấn và Phượng hân hoan chào đón đứa con trai đầu lòng, Nathan Phương Tuấn Nguyễn.  Lúc đó, Tuấn đã 40 tuổi và Phượng đã gần 35.  Nathan sanh ra, khỏe mạnh và thật đẹp, Tuấn và Phượng như chìm đắm trong sung sướng và hạnh phúc.  Tuy nhiên, vì là chủ của năm công ty nên lúc nào Tuấn cũng bận rộn và ít khi có mặt ở nhà. Phượng cũng chẳng khác là bao, ở nhà với con được ba tháng đã phải trở lại vì chức vụ của nàng rất cần thiết tại bệnh viện.  Tuấn và Phượng quyết định mướn hai người làm một quản gia và một vú em để lo cho Nathan. Nathan lớn lên trong sự yêu thương và dậy dỗ của ông quản gia và bà vú em.  Thời khóa biểu tại công ty và bịnh viện của Tuấn lẫn Phượng lại qúa bận rộn và mệt mỏi, nên cả hai đều không có nhiều thời gian ở gần con và chăm sóc cho con.  Nathan gần như chỉ biết vú nuôi là mẹ mình.  Không phải là Tuấn và Phượng không nhận ra điều này, nhưng vì công danh sự nghiệp đang ở trong tầm tay với, nên họ đành nhắm mắt bỏ qua.

    Nathan lớn lên, khỏe mạnh và không có điều gì phải lo lắng về vấn đề sức khỏe của em cho đến khi em được nhận vào lớp vỡ lòng (Pre-school) của trường Montessori Christian School.  Một tháng sau, Phượng nhận được điện thoại từ cô giáo Mary, cô đề nghị Phượng nên đem Nathan đi gặp một nhà chuyên môn để chuẩn bịnh cho Nathan vì em có những hành vi hơi khác thường và sức học của em rất đuối.  Tuấn vội vã gọi cho bác sĩ John Robinson là bác sĩ chuyên khoa về trẻ em của Nathan.   Nathan được giới thiệu đến một bác sĩ chuyên khoa Michael Alexander, sau khi khám Nathan ông nói, Nathan bị bịnh tự kỷ nhưng rất nhẹ; tuy nhiên, em cần sự quan tâm và giúp đỡ trong một vài trường hợp.   Theo bác sĩ Alexander, bịnh tự kỷ có thể từ bẩm sinh, nhưng cũng có khi phát hiện ở các trẻ em trong lứa tuổi từ 4 đến 6.  Bệnh này có thể ảnh hưởng đến một phần trí tuệ của Nathan. Bệnh tự kỷ ảnh hưởng trên mỗi trẻ em có nhiều mức độ khác nhau và ông khuyến khích Tuấn & Phượng nên gia nhập nhóm hỗ trợ cho các trẻ em bị bịnh tự kỷ và nếu cần thì cho em theo học một chương trình đặc biệt (Special education) dành cho những trẻ em mắc bịnh này.  Nhưng Tuấn và Phượng qúa bận rộn với công vìệc tại sở nên không mấy chú tâm đến việc này, Tuấn cũng ít khi đi cùng Phượng và Nathan đến gặp bác sĩ Alexander.  Mọi việc trong gia đình, Tuấn và Phượng hầu như giao hết cho ông quản gia và bà vú. 

    May mắn cho Nathan, bệnh tự kỷ của em phát triển rất chậm và theo lời đề nghị của bác sĩ Alexander, Tuấn và Phượng quyết định để Nathan học trường bình thường (Regular school) nhưng mướn thêm một giáo sư chuyên môn về kèm học cho Nathan.  Việc học hành của Nathan Tuấn và Phượng giao thẳng cho vị giáo sư dậy kèm. Phần Nathan, em rất ít nói, ngoài giờ đi học, em thường ở trong phòng và chơi những món đồ chơi mà em thích.  Nathan không có nhiều bạn và em cũng chẳng tha thiết làm bạn với ai, ngay cả sự vắng mặt của Tuấn và Phượng cũng chẳng làm em quan tâm và không cần thiết đối với em.

    Thời gian thấm thoát trôi qua, Nathan đã 15 tuổi, càng ngày em càng gặp nhiều khó khăn trong vấn đề giao tiếp với xã hội và bạn bè.  Việc học lại càng làm cho Nathan căng thẳng hơn, có những ngày, Nathan không chịu đi học vì trình độ của em chậm hơn các đứa trẻ ở cùng trang lứa, nên em hay bị các bạn chọc ghẹo.  Ngưới bạn duy nhất của Nathan là Alex, người cố vấn chuyên môn về ngành tự kỷ mà Tuấn và Phượng mướn để giúp Nathan về cả ba lãnh vực:  Học đường, giao tế và sinh hoạt xã hội.  Mọi việc đều êm đẹp cho đến khi Alex xin phép nghỉ hai tuần để cưới vợ, anh đã cẩn thận gìới thiệu một người bạn cùng ngành đến giúp và giải thích rõ ràng sự thay đổi tạm thời này với Nathan.   Việc này coi như không quan trọng cho một đứa trẻ bình thường nhưng đối với Nathan thì đây là một sự hụt hẫng vĩ đại cho em.  Và một sự việc không thể ngờ đã xẩy đến vì sự vắng mặt của Alex. 

    Nathan, trong một cơn tức giận vì bị các bạn cùng lớp chọc ghẹo trong thời gian Alex đang ở Hawaii.  Nathan không biết chia sẻ với ai, em đã tự giải quyết bằng cách lấy cắp cây súng đi săn của ông Nội và đem đến trường.  Cuộc nổ súng xẩy ra không ai biết động lực nào đã khiến Nathan có hành động bạo lực như vậy.  Sau khi dùng súng bắn vào học sinh cùng lớp trong giờ chơi, Nathan hoảng sợ và em bỏ chạy trốn.  Kết qủa, 5 em học sinh bị thương nặng, 4 em bị thương nhẹ.  Nathan bi bắt và tạm giam để chờ ngày ra tòa…

    …Phượng bước ra kéo ghế ngồi bên cạnh chồng, mắt nàng đỏ hoe.  Thấy Tuấn vẫn ngồi bất động trên ghế, Phượng đưa tay đặt lên vai chồng, giọng nàng chùng xuống. Tuấn đang nhắm mắt, nghe Phượng hỏi, anh giật mình quay lại nhìn vợ.

    – Phải làm gì bây giờ hở anh?

    – Có lẽ mình phải tìm một luật sư chuyên về hình sự Phượng ạ. 

    – Anh có biết luật sư nào chưa? 

    – Sáng nay lúc mình vào thăm Nathan trong trại tạm giam, anh được người ta giới thiệu luật sư Michael Burn, ông ta là luật sư chuyên biện hộ cho những trẻ em phạm pháp như trường hợp của Nathan.

    – Lúc nãy em thấy con lạ qúa, nó không tỏ ra một thái độ hay phản ứng gì cả, mặt nó như người đang trong cơn mộng du. 

    – Sáng nay em có đem thuốc cho con không? 

    – Không có thuốc, (Tuấn yên lặng, anh lắc đầu rồi nhắm mắt lại, thỉnh thoảng hai hàng chân mày cau lại như suy nghĩ việc gì)

    Tuấn đứng dậy, anh với tay lấy cái điện thoại cầm tay, bấm số rồi gọi cho luật sư Michael Burn.  Hai người nói chuyện khá lâu trong điện thoại, Phượng ngồi nghe sốt ruột qúa, nàng đứng lên, ngồi xuống, rồi lại đi qua đi lại cả chục lần.  Không biết bên đầu dây bên kia nói gì mà bên đầu dây bên này, Tuấn trả lời rất ngắn gọn, dạ dạ, vâng vâng, tôi sẽ làm ngay, vâng nhờ luật sư giúp.

    Tuấn vừa tắt máy điện thoại là Phượng đã đứng sau lưng chồng từ bao giờ, nàng hỏi.

    Luật sư nói sao hở anh?

    – Phượng ạ, mình phải tìm một liên lạc với bác sĩ psychologist Alexander để xin một giấy chứng minh là Nathan đang uống thuốc Anti-depression và phải liên lạc với bà Psychologist of trường của Nathan làm chứng là Nathan đang nhận dịch vụ cố vấn tâm lý tại trường trước ngày ra tòa.

    Phượng nhìn Tuấn, khẽ trả lời:

    – Ngày mai em sẽ làm ngay.

    – Luật sư nói, nếu chứng minh được là Nathan bị bịnh, thì may ra con được gởi đến một trung tâm cải huấn và chữa trị đặc biệt cho những thiếu niên phạm pháp.

    Phượng ngước lên nhìn Tuấn, nước mắt lưng tròng.

    – Trời ơi! Làm sao con chịu được…Luật sư có nói là bao lâu không?

    Ngừng một lát … Tuấn nói:

    – Cũng chưa biết là bao lâu…may là không ai chết…

    Phượng buông nguời xuống ghế, hai tay đưa lên che mặt, khóc thành tiếng.

    Tuấn đến bên cạnh vợ, đưa một tay xoa vai bờ vai rung lên từng nhịp của Phượng, giọng chàng nhỏ lại như an ủi…

    – Thôi em đừng khóc nữa, bình tĩnh lạ thì mình mới lo cho con được, Phượng ạ.

    Ba năm trôi qua, Nathan đã 18 tuổi, em đã xong bậc trung học và chuẩn bị để vào đại học cộng đồng.  Nathan không còn nghiện hút và vì em có hạnh kiểm tốt trong tù nên Nathan được tại ngoại hầu tra, nhưng bị quản chế tại gia một năm và không được tái phạm trong vòng 2 năm.  Ngoài giờ đi học, đi làm ở tiệm Taco Bells gần nhà, Nathan xin làm thiện nguyện cho một trung tâm giúp trẻ bị bệnh tự kỷ.  Với kinh nghiệm Nathan đã trải qua, em đã giúp cho rất nhiều cha mẹ cách thức để chăm sóc cho con mình chẳng may mắc phải chứng bịnh này và kèm các em học.   Ngoài ra, Nathan vẫn gặp Alex thường xuyên và coi Alex như một người anh tinh thần. Tuấn và Phượng cũng đã thay đổi cuộc sống của mình, Tuấn mướn người giúp anh quản lý công ty và Phượng xin làm ít giờ để nàng có thì giờ chăm sóc cho gia đình. Phượng cảm thấy mình đang sống trong hạnh phúc. 

    Hôm nay Phượng không phải trực ở bịnh viện, nàng vửa đi chợ về và định sẽ nấu món “Chả Cá Thăng Long” mà cả hai cha con, Tuấn & Nathan đều thích. Tuấn vừa về đến nhà, chàng chưa kịp ngồi xuống ghế thì Nathan bước vào, em chạy ngay đến bên Phượng và hôn nhẹ lên má mẹ, nịnh đầm.

    – Nathan yêu mẹ nhất đời.

    Phượng nhìn Nathan âu yếm:

    – Ơ hay, thằng bé yêu của mẹ, khéo nịnh đầm nhỉ, chắc lại muốn xin mẹ cái gì? đúng không nào?

    – Hihihi….sao mẹ giỏi thế? Lúc nào cũng đi guốc trong bụng Nathan vậy?

    Tuấn đang ngắm hai mẹ con, miệng chàng mỉm cười bảo:

    – Ơ hay nhỉ….thế thì Nathan coi bố là đồ bỏ hay sao?

    Nathan quay lại nhìn Tuấn, cười lớn, rồi chạy về phía cha và ôm ghì lấy Tuấn:

    – Hahaha…Nathan yêu bố nhì đời này.

    Cả nhà cùng bật cười vì câu nói ngây ngô và đáng yêu của Nathan.

    Một tháng sau, Nathan đang ngồi trên bàn học dậy kèm hai em nhỏ trong trung tâm dậy kèm trẻ em bị bịnh tự kỷ.  Bỗng nhiên ngoài cửa phòng xuất hiện một em trai khoảng 14, 15 tuổi, đầu bù tóc rối, quần áo xốc xếch.  Nathan nhận thấy trên tay của của em trai cầm một khẩu súng, chĩa thẳng về phía Nathan và hai đứa bé Nathan đang kèm toán.  Như một phản xạ tự nhiên, Nathan đứng vụt dậy, tiến lên phía trước của cái bàn học, hai em nhỏ sợ hãi, ngồi núp sau lưng của Nathan.  Nathan hai tay đang rộng như để che chở cho hai đứa học trò của mình, em nói. 

    – John, có chuyện gì vậy? Ngồi xuống đây kể cho anh nghe.

    John không nói tiếng nào, mặt đỏ gay và đôi mắt như mất thần, tay vẫn ghì chật lấy cây súng đã lên đạn và sẵn sàng nhả đạn.  Giọng nói của Nathan vẫn nhẹ nhàng và bình tĩnh.

    – John, nghe anh nói, em đưa cây súng đây, anh giữ hộ cho.

    Thấy John không trả lời, Nathan tiến lên vài bước và đến gần John hơn.   Trong khi John thấy Nathan tới gần mình, em lùi lại vài bước và gào lên trong bực tức. “Get out, get out of my way”. Nathan chưa kịp nói lời nào, thì những tiếng nổ chan chát vang lên, nhả những tràng đạn từ nòng súng, bay xối xả, tới tấp vào thân thể của Nathan lẫn trong tiếng thét của John và tiếng khóc của hai em nhỏ.  Nathan ngã gục trên sàn nhà, chiếc áo sơ-mi mầu trắng nhuộm mầu máu đỏ tươi.  John vứt mạnh khẩu súng xuống cắm đầu chạy ra khỏi cửa giữa những tiếng hét của mọi người. 

    Vừa nghe cảnh sát báo tin, Tuấn và Phượng bỏ sở làm và lái xe thẳng đến trung tâm dạy kèm trẻ em bị bịnh tự kỷ.  Tuấn chạy như điên dại đến trước cửa căn phòng, nơi mọi người đang đứng, anh đẩy lớp người và len vào bên trong, tiến thẳng đến bên xác con, anh bế xốc con dậy, ôm chật con vào lòng, kêu rống lên từng tiếng trong cơn trong đau đớn.  Máu từ trong lồng ngực Nathan thấm ướt đẫm cả ngực áo Tuấn.   Phượng đến sau Tuấn vài phút, nàng ngồi bệt xuống bên cạnh chồng, hai tay ôm choàng lấy thân xác con, khóc không thành tiếng, trước khi ngã xuống sàn, ngất lịm đi…

    Từ ngày Nathan qua đời, Tuấn và Phượng rời thành phố lớn dọn về sống ở một vùng quê hẻo lánh ở Kansas City.  Tuấn bán công ty và về hưu, anh trích một số tiền lớn để bảo trợ cho chương trình giúp trẻ em bị bệnh tự kỷ và tình nguyện làm việc cho một trung tâm của trẻ em khuyết tật trong tỉnh.  Phượng cũng tình nguyện giúp tại Mercy Health Free Clinic, một bệnh xá nhỏ ở Kansas City và làm bán thời gian tại Saint Luke’s Hospital of Kasas City. Một hôm, người ta chở vào bệnh xá, một thanh niên khoảng 20, 21 bị lạc đạn trong lúc đang làm việc.  Phượng đang ngồi trong văn phòng sau ca mổ não, chợt nghe tên của mình gọi trên máy intercomng.  “Bác sĩ Victoria Nguyễn lên phòng cấp cứu, Bác sĩ Victoria Phương Vy Nguyễn”. 

    Phượng ngồi bật dậy và chạy vội vã lên phòng cấp cứu.  Bác sĩ Christopher Miller đã đợi sẵn ở cửa phòng, thấy Phượng, ông đến bên Phượng vừa đi vừa chạy nói, “Chúng ta vừa nhận một bệnh nhân rất nguy kịch, một viên đạn bắn trúng đầu anh ta, tôi cần bác sĩ giúp một tay, kẻo không kịp”.  Ca mổ kéo dài bốn tiếng đồng hồ, viên đạn may mắn không đi qua óc, chỉ xuyên qua hàm và ra cổ phía bên trái.  Bệnh nhân đang trong tình trạng hôn mê (Coma) vì viên đạn đi quá gần đầu nên chạm vào một đường giây thần kinh trên óc.  Xong ca mổ, Phượng đi về phòng, nàng buông người xuống ghế, ngồi thừ người ra như kẻ mất hồn.  Bệnh nhân tên Alexander Nathan Nguyễn, sự trùng hợp tên như thôi miên Phượng khiến nàng rùng mình.  Hình ảnh đứa con bạc mệnh Nathan Phương Tuấn Nguyễn trở về trong tâm trí Phượng như vũ bão.  Phượng cảm thấy tim mình đau buốt, nàng gục đầu xuống bàn, mặc cho nước mắt tuôn trào và thiếp đi trong giấc mộng kinh hoàng của hai năm về trước. 

    Cả tháng nay, không thiếu một ngày nào mà Phượng không vào thăm Alexander Nathan, em vẫn nằm bất động trên giường, nét mặt bình thản như đang ngủ.  Hôm nay đã là một tháng ba ngày rồi mà Alexander Nathan vẫn chưa ra khỏi tình trạng hôn mê.  Phượng đặt máy khám tim và bắt mạch của Alexander Nathan, nhịp tim vẫn đập đều, mạnh máu vẫn thông.  Phượng đưa tay nắm lấy bàn tay của Alexander thì thầm, “Alex, em hãy cố tỉnh lại, đừng bỏ cuộc“.  Bỗng Phượng cảm thấy hình như Alexander đang bóp chặt lấy tay nàng rồi từ từ mở mắt nhìn Phượng.  Phượng quên cả phong cách và địa vị là một bác sĩ, nàng rú lên vì sung sướng. Bốn tháng sau, một bó hoa ngũ sắc đặt giữa bàn làm việc trong văn phòng của Phượng và một tấm thiệp cám ơn để bên cạnh.  Phượng mở tấm thiệp ra xem, bên trong là một tấm hình của Alexander Nathan và một lá thư.  Trong thư em viết. 

    August 16, 2020

    Kính thưa bác sĩ, 

    Con xin phép được gọi bác sĩ bằng “Mẹ” nếu bác sĩ cho phép, vì chẳng có tình yêu nào đích thực và cao quý cho bằng tình mẫu tử.  Mẹ đã tái sinh ra con để con còn hiện hữu trên thế gian này.  Con vốn là một đứa trẻ mồ côi nên lúc nào con cũng khao khát tình thương chân thật từ đấng sinh thành. Một lần nữa, nếu bác sĩ cho phép, con tha thiết xin được nhận bác sĩ làm người “Mẹ tinh thần” của con.  Con không ao ước vật chất xa hoa vì với số lương dậy học cũng đủ để nuôi sống bản thân con.  Con hiện đang theo học ngành tâm lý, chuyên khoa về chứng bệnh tự kỷ, năm thứ ba của University of Missouri-Kansas City.

    Kính thư, 

    Alexander Nathan Nguyễn. 

    Ðọc xong lá thư thì mắt Phượng cũng mờ lệ, nàng đưa lá thư lên ngực và kêu lên nho nhỏ, “Alexander Nathan, con yêu dấu của mẹ”.
     

    Khánh Lan,

    California August, 2020.

  • Thụy Lan,  Văn Thơ

    Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng: Tình Yêu, Quê Hương và Cuộc Đời-THỤY LAN

    Thuỵ Lan

    Tôi xem bài viết Chiếc Cầu Gẫy của tác giả Tôn Thất Diên. Bài viết về tài năng của Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (1937-2000). Tóm lược đôi điều về nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, ông là người quê quán tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, sáng tác một trong những nhạc phẩm để đời rất phổ biến là bài “Chuyện chiếc cầu đã gẫy”. Bản nhạc gây nhiều xúc động cho người Huế nói riêng, và với người Việt nói chung ở các nơi. Bài ca hay về nhạc cùng lời ca, người viết bài học tại trường Đồng Khánh nên đi qua cầu nhiều lần. Cầu Trường Tiền khởi công xây dựng năm 1897 và hoàn tất năm 1899 dưới triều vua Thành Thái. Đây là chiếc cầu đường bộ đầu tiên bắc qua sông Hương, sự ra đời của cầu đã  chấm dứt sự chia cắt của bờ bắc từ kinh đô của triều đình với bờ nam nơi đặt tòa khâm sứ của chính phủ bảo hộ Pháp, và nó còn nối dài con đường thiên lý Bắc – Nam bị cách trở giang san suốt nhiều thế kỷ. Hãng Eiffel, Pháp được thuê thiết kế và thi công cầu với hình dáng sáu vài vòng cung bằng thép, mặt cầu lát gỗ lim. Vào năm 1968 Tết Mậu Thân Cầu Trường Tiền bị quân Việt Cộng giật mìn gãy một nhịp .Biến cố này làm nát lòng người dân Huế. Rồi bài ca do Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cho ra đời một bài hát bất hủ.

    Một ngày vào thuở xa xưa trên đất thần kinh

    Người bỏ công lao xây chiếc cầu xinh

    Cầu đưa lối cho dân nối liền cuộc đời

    Khắp cố đô dân lành an vui ca thành điệu Nam Bình

    Niềm vui bao lâu ước mơ giờ trên xứ thơ cầu nối liền bờ

    Thỏa lòng người dân hằng chờ có ngày hẹn hò tình đẹp như mơ

    Phải nói bài ca mang chất Huế,  khi sông Hương vẫn trôi, bài bi ca Huế trên sông vẫn còn đó, nhưng con nước lững lờ di chuyển theo lời ca vang trong tôi vang văng vẳng giọng Nam Ai  Nam Bình tha thiết, u buồn. Phải chăng dây là bi khúc đã đánh dấu nỗi đau quê hương của Huế vào năm lịch sử 1968, Tiếng khóc của Trầm Tử Thiêng chia sẻ với người dân xứ Huế, nhịp nối sông Hương gẫy, ngăn cách đôi bờ trong đời sống.thương nhật. Trầm Tử Thiêng đã dùng âm nhạc để phản ảnh biến cố như chất liệu lịch sử.cho ngàn sau về ”Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy.”

    Giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi.

    Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi

    Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài

    Vì sao không thương mến nhau còn gây khổ đau làm lỡ nhịp cầu

    Mối thù chờ sang ngày nào nối lại nhịp cầu rửa hờn cho nhau.

    Với đất nước, Trầm Tử Thiêng chọn cho mình là một người viết sử bằng âm nhạc, Trầm nhạc sĩ yêu quê hương nói lên bằng lời ca cung nhạc như nỗi u sầu của chính thân phận mình.  Tuy không phải là người dân cố đô mà nhạc sĩ cũng cảm thấy nỗi xót xa đau đớn cùng cực trước cái thực tế phũ phàng bi thảm của một hành động bạo lực phá hoại quá tàn tệ cho người dân lành Huế.

    Cầu Trường Tiền thân thiết duyên dáng bắc ngang dòng sông Hương như di sản văn hoá, êm đềm ngay giữa lòng thành phố Huế. Trong bài hát,ca tụng biểu tượng rất thân yêu gần gũi với họ trong cuộc sống hằng ngày. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã bày tỏ nỗi đắng cay của mình trong đoạn cuối với những câu trách cứ giặc về gây tan thương, khi ta nghe lòng ngậm ngùi thương tiếc, nhạc thấm thía:

    Giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi.

    Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi

    Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai

    Tiếc thương lời vắn dài

     

    Vì sao không thương mến nhau

    Còn gây khổ đau làm lỡ nhịp cầu *

    Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy ca sĩ Duy Khánh và Hương Lan:

    Cầu Trường Tiền sập, tác giả Tôn Thất Diên ghi nhận bài ca biểu tượng cho năm Mậu Thân 1968 đã gây bao khổ đau cho người dân Huế.

    Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có trên 200 bài ca. Thể nhạc ông làm như về, tình yêu, quê hương, và chiến tranh. Cuộc đời sáng tac gồm 3 giai đoạn: thuở Việt Nam Cộng Hoà trước 1975, thời gian lúc Cộng Sản Việt Nam chiếm Miền Nam sau 1975, và thời kỳ lưu vong tị nạn tại Hoa Kỳ. Xin đơn cử tên của một số nhạc phẩm tiêu biểu như:.Đêm Nhớ Về Sài Gòn (1983), Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng, Vang Vang Tình Việt Nam, Bảy Ngàn Đêm Góp Lại, Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy, Mai Kia Hòa Bình, Mưa Trên Poncho, Tôn Nữ Còn Buồn, Tống Biệt Hành (ý thơ Thâm Tâm), Trên Đỉnh Yêu Đương, Trên Quê Hương Hòa Bình, Bài Tình Ca Mùa Đông, Hành Khúc Cho Quê Hương, Hẹn Về, Hương Muộn, Lưu Vong Khúc, Mười Năm Yêu Em (1985), Bài Hương Ca Vô Tận, Bài Tango Cho Người Tình Lỡ, Đưa Em Vào Hạ,…

    Sáng tác chung với Trúc Hồ như: Bên em đang có ta, Bước chân Việt Nam, Cám ơn anh, Cơn mưa hạ, Đã qua thời mong chờ, Một ngày Việt Nam, Việt Nam về trong nỗi nhớ,

     Với tình yêu, ông chọn làm người tình thuỷ chung ví dụ như bài cho một người tình. “Mười Năm Yêu Em” hay “Đêm Nhớ Về Sài Gòn” mang nhiều lời ca nồng nàn và cay đắng cho một cuộc tình.

    Mười năm yêu em thấm đời mộng mi

    Mười năm yêu em ta thấu tình cuồng si

    Mười năm yêu em ta hóa thành chiếc lá

    Trôi theo từng cơn lũ của kiếp sống

     

    Tình chưa yên vui bên sóng đời cuồng nộ

    Chợt đêm chia phôi ngăn cách một đại dương

    Từng đêm gian nan ta ngỡ mình sắp đuối

    Nhưng em tình vẫn hát từ bến trời

    Xa nhau, mười năm yêu em thấm đời mộng mi, thấu tình cuồng si. Xa nhau cuộc dời cằn cỗi chợt nghe tình xao xuyến, cuộc tình vẫn còn hương môi em, nhung nhớ môi em thầm đợi những mùa Xuân:

     

    Ôi ta nhớ mãi những đêm nằm mộng biển

    Hồn ta bay trên đôi cánh reo mừng

    Giữa cằn cỗi chợt nghe tình xao xuyến

    Ngỡ môi em thầm đợi những mùa Xuân

     

    Dường như trong ta em có điều tuyệt vọng

    Dường như trong em ta vẫn đầy hoài mong

    Mười năm yêu em cũng sẽ là mãi mãi

    Xin em cùng ta hát để nhớ hoài

    (Mười Năm Yêu Em, Trầm Tử Thiêng).

    Hãy nghe tiếp Đêm Nhớ Về Sài Gòn với nhịp tim rung dộng của Trầm Tử Thiêng:

    Đêm nhớ về Sài Gòn

    Thấy phố phường buồn xưa chưa nguôi

    Những con đường thèm đôi chân vui, đã bao lâu chờ đợi

    Đường im nghe quá khứ trong sấu

    Đường chia ly vẫn ngóng tin nhau

    Tình lẻ loi canh thâu

    Đêm nhớ về Sài Gòn khi tình nồng, thèm bước chân vui, sau bao lâu chờ đợi,  vẫn ngóng tin nhau…

    Đêm nhớ về Sài Gòn

    Tiếng nhạc vàng gọi từng âm xưa

    Ánh đèn vàng nhạt nhòa đêm mưa

    Ai sầu trong quán úa

    Bóng mẹ hiền mờ mờ bên song

    Mắt người tình một trời mênh mông .

    Gợi bao nhiêu cho cùng …

    Nhung nhớ Sài Gòn xa xôi, lưu luyến Sài Gòn khi bên nhau…

    Để đêm đêm nhớ về Sài Gòn

    Thấy mình vừa trở lại quê hương

    Đã gặp người một trời yêu thương

    cho lòng thêm chút ấm

    Thấy bạn bè thèm ngồi bên nhau

    Nhắc chuyện người chuyện đời thương đau

    Bài Hương Ca Vô Tận

    Hát nữa đi Hương hát điệu nhạc buồn điệu nhạc quê hương Hát nữa đi Hương hát lại bài ca tiễn anh lên đường Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu Cuộc phân ly may lắm thì qua mau Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ. [ĐK:] Hương ơi sao tiếng hát em Nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào Dù em ca những lời yêu đương Hay chuyện tình gãy gánh giữa đường Dù em ca nỗi buồn quê hương Hay mưa giăng thác đổ đêm trường. 2. Hát chuyện vai em tóc xoả bồng mềm dịu ngọt môi em Hát mãi nghe Hương cho hồng làn da kẻo đời chóng già Ngày xa xưa em vẫn nằm trong nôi Mẹ ru em câu hát dài buông lơi Hát để yêu cha ấm lại ngày già. 3. Hát nữa đi Hương câu nhạc thành nguồn gợi chuyện đau thương Hát kể quê hương núi rừng đầy hoa bỗng thành chiến trường Đồng tan hoang nên lúa ngại đơm bông Thuyền ham đi nên nước còn trông mong Khiến cả đêm thâu tiếng em rồi rầu.

    “Bài Hương Ca Vô Tận” của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng – Những lời buồn bất tận của một thuở phân ly, theo tác giả Đông Kha thì trước nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, hình như chưa có ai đã sử dụng chữ Hương Ca trong tên bài hát “Bài Hương Ca Vô Tận” để nói về những lời hát ca ngợi quê hương. Đó không phải là một bài hương ca thông thường, mà là một bài hương ca vô tận về quê hương..

    Định nghĩa “Vô tận” thì đó là sự tiếp nối nhiều thế hệ không bao giờ ngừng lại cả, từ ngàn xưa, đến ngày nay và về ngàn sau, những người Việt yêu quý quê hương sẽ còn hát mãi những bài ca ngợi quê hương, dù quê hương thanh bình hay là đang phải oằn mình trong khổ đau hay quê hương chìm đắm trong nghịch cảnh khó khăn..

    Bài Hương Ca Vô Tận đã từng được nhiều danh ca làng âm nhạc Việt đã cất lên tiếng hát, điển hình là Duy Khánh, Hoàng Oanh, hay Thanh Tuyền, nhưng nó được yêu thích nhất bởi một danh ca khác nữa, một đệ nhất danh ca, đó là Thái Thanh. Bà đã hát bài này từ trước năm 1975, trong một bài phỏng vấn, Thái Thanh nói rằng lúc đó nhờ sự gần gũi trong sinh hoạt âm nhạc với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, được nói chuyện nhiều, bà đã được hiểu rõ hơn về các bài hát của ông: “Khi nói chuyện với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng tôi mới biết ý của ông trong những lời ca. Trong bài có những câu như “Hát nữa đi hương…”, nhiều khán giả tưởng “hương” là tên một người con gái, nhưng có nói chuyện với ông mới biết chữ “hương” là ông muốn nói đến Quê Hương” (Thái Thanh)

    Hát nữa đi Hương, hát điệu nhạc buồn điệu nhạc quê hương.

    Hát nữa đi Hương, hát lại bài ca tiễn anh lên đường.

    Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu,

    cuộc phân ly may lắm thì qua mau

    Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ.

    Phải chăng điệu nhạc buồn đã là một đặc trưng muôn thuở của những bài “hương ca”, từ ngân khúc Nam Bình Nam Ai cho đến những câu vọng cổ từ xa xưa thuở phôi thai Dạ Cổ Hoài Lang là một bản nhạc cổ do nhạc sĩ Cao Văn Lầu cảm tác năm 1917, đều là sự não nùng và da diết thấu đến tận cùng thấu tâm can. Những điệu buồn đó lại được khắc họa thêm bằng những hoàn cảnh phân tranh khói lửa, để vợ xa chồng, con phải xa cha. Cho đến đến thời điểm bài hát này ra đời (khoảng 1966), ngày đao binh vẫn còn như là dài bất tận, không ai biết được là bao lâu, và cũng không một ai đủ can đảm để hình dung là nó sẽ còn kéo dài đến tận 10 năm sau đó nữa. Cho nên “cuộc phân ly may lắm thì qua mau” chỉ là một ước nguyện đã không bao giờ có được, cuộc phân ly kéo dài đằng đẵng, và cuộc đợi chờ cũng đã trở thành vô vọng.

    Hương ơi!

    Sao tiếng hát em

    nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào

     

    Dù em ca những lời yêu đương,

    hay chuyện tình gẫy gánh giữa đường.

    Dù em ca nỗi buồn quê hương,

    hay mưa giăng thác đổ đêm trường

    Quê Hương đã được nhân cách hoá thành “em”, đại diện cho những lời hát ngọt ngào và dạt dào tình cảm, cho dù là hát cho những yêu đương hạnh phúc tròn đôi, cho chuyện tình buồn đoạn trường gẫy gánh, hay là lời hát cho nỗi buồn quê hương trên xứ sở loạn ly đêm ngày. Quê hương là nơi ta sinh ra đời và lớn lên mà nơi đó đang chứa chan mọi vui buồn thuở ấu thơ và khi xa quê hương ta thường nhớ thương da diết. … Quê hương là nguồn cội, là nơi thiêng liêng nhất để nghĩ tới mỗi khi đi xa, là nơi có tổ tiên ông bà cha mẹ chúng ta từng sinh sống, là cái nơi mà ai ai cũng nhớ về. Quê hương dù sang, giàu, nghèo, khổ thì Quê hương vẫn là Quê hương, nơi ta yêu hương bằng nhịp đập con tim. Quê hương nơi ta chào đời, cho ta dòng sữa ngọt, tạo cho ta từng cơ gân, từng thớt thịt. Hãy ca ngợi Quê hương

     

    Hát chuyển vai em tóc xõa bồng mềm dịu ngọt môi em.

    Hát mãi nghe Hương cho hồng làn da kẻo đời chóng già.

    Ngày xa xưa em vẫn nằm trong nôi,

    Mẹ ru em câu hát dài buông lơi

    Hát để yêu cha ấm lại ngày già.

     

    Hát nữa đi Hương câu nhạc thành nguồn gợi chuyện đau thương.

    Hát kể quê hương núi rừng đầy hoa bỗng thành chĭến trường.

    Đồng tan hoang nên lúa ngại đơm bông,

    Thuyền ham đi nên nước còn trông mong.

    Khiến cả đêm thâu tiếng em rầu rầu.

     

    Đông Kha mượn lời ca tiếng nhạc điệu buồn Trầm Tử Thiêng để kể về chuyện về non sông, câu nhạc là nguồn gợi lại những chuyện đau thương của quê hương, vốn là giang sơn gấm vóc đã trở thành một vùng trời lửa đạn khói bay mịt mờ. Còn gì đau thương hơn khi núi rừng đầy hoa đã thành vùng chiến địa, và đồng ruộng đã tan hoang rồi nên lúa ngại đơm bông. Xót xa trước quê hương lầm than, từng lớp trai phải tạm biệt những người thân yêu để tiếp bước nhau lên đường, hình ảnh đó được nhạc sĩ ẩn dụ bằng câu hát: Thuyền ham đi nên nước còn trông mong. “Ham đi” không có nghĩa là hân hoan phấn khởi ra đi, mà là sự quyết tâm không sờn lòng của những người chinh nhân thời tao loạn.

    BÀI HƯƠNG CA VÔ TẬN (Trầm Tử Thiêng) – Thái Thanh:

    Hát nữa đi Hương, câu nhạc bình thường một giờ đau thương

    Hát mãi nghe Hương cho rộn lòng ai ở ngoài chĭến trường

    Chờ em ca cho ấm người ra đi

    Mình yêu thương trong tuổi đời si mê

    Hát nữa đi Hương đón nhau ngày về…

    Bài viết này tôi cô đọng về các ý nghĩ “Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng: Tình Yêu, Quê Hương và Cuộc Đời”. Có thể nói Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng là ngưới công dân yêu nước, yêu quê hương, nhạc ông trân trọng, lưu luyến với đất nước, dân tộc.  Trầm Tử Thiêng sống trọn với cuộc đời tự trọng, nghiêm túc với ca nhân mình, những bài ca ông dành cho tuổi trẻ. ,Ngoài phong vị nhạc sĩ, ông còn là thầy giáo với phấn bảng và chữ nghĩa. Với  tình yêu, âm nhạc Trầm Tử Thiêng:đượm nét lãng mạn trong ý nghĩa thuỷ chung. Do vậy, nhân sinh quan của Trầm Tử Thiêng:theo tôi đã chuyên chở âm nhạc qua 2 yếu tố Tình Yêu, Quê Hương vào trọn Cuộc Đời của mình. Thật ái mộ thay.

     Thuỵ Lan, Los Angeles, ngày 28 tháng 111

  • Tin tức,  Văn Thơ

    Nhà văn Hồ Trường An – Sống Theo Cái Đức

    Hồ Trường An

    LTS: Nhà văn Hồ Trường An đã qua đời hôm Thứ Hai, ngày 27 tháng 1, năm 2020, tức Mồng Ba Tết Canh Tý, tại Troyes, Pháp, hưởng thọ 82 tuổi.

    Ngoài những sáng tác  của HTA được nhiều người biết đến, là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký,  Ông còn được dư luận quan tâm khi trao đổi vấnđề xã hội – giới tính – đồng tính luyến ái –… Lúc còn sinh tiền Ông không ngại ngùng và phá biểu thẳng thắn, bộc trực về vấn đề “giới tính”. Việc “đồng tính luyến ái” nay trong những xã hội dân chủ đã trở thành bình thường, bớt thành kiến, thôi không còn “khắt khe” như trước.

    Lưu Diệu Vân thực hiện – 15.05.2008

    Nhà văn Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang. Sinh ngày 11 tháng 11, 1938 tại Vĩnh Long. Ông định cư tại Pháp vào năm 1977 và hiện đang sống ở thành phố Troyes. Ông đã cộng tác với nhiều tạp chí văn chương trong và ngoài nước và là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký. Ông vẫn tiếp tục sáng tác hăng say và hiện là một trong số ít tác giả lưu vong có số sách xuất bản kỷ lục tại hải ngoại. Ông tạo được một chỗ đứng riêng biệt trong dòng văn chương việt qua lối viết gần gũi và đề tài chân quê chất phác.

    Hôm nay, ngoài cương vị người viết, nhà văn còn sẽ đến với chúng ta qua một vai trò mới khá thú vị – nhà xã hội học bất đắc dĩ – cũng bằng giọng văn thân thiết, gần gũi và sự chân thật đặc trưng của Hồ Trường An.

    LDV: Giới tính là một đề tài khá nhạy cảm và đòi hỏi sự bộc bạch hết sức can đảm từ phía người chia sẻ. Không thiếu những nhà văn Việt viết nhiều về đề tài giới tính, nhưng hầu như ít ai thích nói về nó một cách cởi mở trong những trang viết có tính cách cá nhân, trừ Hồ Trường An. Dũng khí quan trọng như thế nào đối với một người viết?

    ho_truong_an_1991

    HTA: Cô Vân, tôi chấp nhận cuộc phỏng vấn này là môt lời tự thú trong buổi tàn thu cuộc đời. Tôi đã vào tuổi thất tuần rồi, cô ơi! Mỗi đêm, trước khi đi ngủ tôi luôn tự hỏi: sáng mai, mình có thức dậy được không đây? Hay là mình phải làm một chuyến đi tàu suốt vào giấc ngủ miên viễn? Vậy tại sao mình lại giấu diếm cái bí mật trong cuộc sống tình cảm lẫn tình dục của mình? Chấp nhận cuộc phỏng vấn của cô, tôi muốn cho lớp thế hệ bọn gay sau tôi một vài kiến thức hay một vài kinh nghiệm nhỏ nhoi nào chăng?

    Vào những năm đầu của thập niên 80, tiết lộ giới tính và khuynh hướng tình dục của mình mới là hành động can đảm. Hồi đầu thập niên 60, tôi chỉ tiết lộ thân phận mình cho chị Thụy Vũ của tôi cùng một số bạn thân. Bắt đầu năm 1980 tôi có người yêu là dân Pháp chánh gốc, tôi ngang nhiên sống chung với đương sự, tới nay kể ra cũng gần 30 năm. Một phần là tôi tức giận tên Thi Vũ Võ Văn Ái (nhà báo/nhà thơ), nó nỡ đem tâm sự của tôi đi bán rao tùm lum tà la. Cho nên từ đó, khi đi dự các cuộc tiếp tân nào trong giới văn nghệ sĩ kiều bào ở Paris, tôi cũng dắt người bạn lòng của tôi theo. Đương sự nhỏ hơn tôi 9 tuổi, nhưng cái tác của hắn lớn hơn tôi khá nhiều.

    Năm 1983, tôi tung ra quyển Hợp Lưu trong đó có nhân vật gay tên Quế, phản ảnh đôi chút tâm trạng của tôi. Trước tôi, vào năm 1967, bạn tôi tên Đỗ Quế Lâm có viết tiểu thuyết tự truyện tựa là ‘‘Vết Hằn Rướm Máu’’ do chính chị Thụy Vũ tôi viết lời tựa. Sau đó, ở hải ngoại, vào năm 1979, thằng bạn khác của tôi tên Lucien Trọng, một kỷ sư thủy lâm có viết quyển L’Enfer Rouge, Mon Amour do Seuil xuất bản. Sau đó nó dịch ra tiếng việt Hỏa Ngục Đỏ, Mối Tình Tôi kể lại mối tình của nó với một chàng trai bụi đời tên Hải trong thời gian hai đứa bị Cộng Sản giam cầm. Đúng như cô Vân nghĩ, hình như những cây bút gay như Đổ Quế Lâm lẫn Lucien Trọng không dám diễn tả huỵch tẹt như HTA, không mô tả cuộc làm tình tỉ mỉ và tới nơi tới chốn như HTA. Tôi diễn tả chuyện giao hợp giữa cậu trai việt và anh chàng gay quí tộc Pháp khá táo bạo và khá đậm đà. Chính nữ ca sĩ Quỳnh Giao thuở thập niên 80 bảo rằng đây là quyển sách mà Quỳnh Giao thích. Song song, cũng có rất nhiều độc giả chửi tôi khá nặng. Họ gọi điện thoại xài xể luôn anh Mai Thảo vốn là người chủ trương tờ tạp san văn chương Văn, tại sao có thể đăng từng kỳ những chương “dơ dáy nhớp nhúa” của quyển Hợp Lưu?

    Còn chị hỏi tôi cái dũng khí của người viết văn thì tôi khó trả lời. Thiệt ra, tôi chẳng có một chút dũng khí nào. Sở dĩ tôi dám phô bày chơn tướng mình ra vì tôi tức giận kẻ lẻo mép thối mồm. Đã là một tên gay xấu xí mà dám viết truyện qua cái tôi của mình, một nhân vật đẹp trai như Phan An, Tống Ngọc, chẳng những được bọn gay tôn thờ mà còn được phụ nữ mê sa trầm lụy. Cũng đừng vì mình không kiếm được bồ đực để thương yêu giao hợp rồi lên giọng kích bác kẻ đồng tính luyến ái may mắn hơn mình, khuyên họ phải dẹp bỏ thói ‘‘xấu ấy’’ để trở thành kẻ bình thường. Đã là gay rồi thì trở thành kẻ biết yêu người khác phái tính sao được? Văn chương cần sự thành thật của nhà văn dị tính luyến ái đã đành mà còn của một nhà văn gay.

    LDV: Đó là thế giới văn chương, còn trong cuộc sống hiện thực, ông đã từng chứng kiến những người đồng tính luyến ái bị ngược đãi quá mức. Họ có nên thỏa hiệp để tránh việc bị đánh giá thấp?

    HTA: Còn ở ngoài đời, hai chàng gay không nên âu yếm ở chốn công cộng vì đa số người chứng kiến vốn không quen cảnh hôn hít trái cựa như vậy, họ sẽ bị dị ứng và chướng mắt ngay. Cũng đừng phùng xòe bộ đi tướng đứng oai phong lẫm liệt một cách phường tuồng mà bị thiên hạ quở rằng các chàng gay đang đóng vai dũng tướng Địch Luông, Địch Hổ trong tuồng Hồ Quảng hay tuồng hát bội. Cũng đừng ẻo lả thục nữ quá thì chẳng có tên gay nào khác tìm đến xáp cục với mình. Gay nào mà chẳng mê mẫu người có phong độ đàn ông tính? Cũng đừng gạ gẫm ve vãn nhưng kẻ dị tính luyến ái mà chuốc lấy sự bêu rếu, sự lăng nhục của hạng người này.

    Tôi thường nghĩ đồng tính luyến ái là do trời sanh ra, do cái ác nghiệp từ tiền kiếp hiện hành ở kiếp này. Bản tính mình như thế nào thì mình sống theo bản tính ấy, can gì phải giấu diếm? Đau khổ nhứt cho những kẻ vì bảo vệ nghề nghiệp trong các công sở, vì đã lỡ tạo lập gia đình, nên có cuộc sống song đôi. Họ lén lút ăn nằm với bọn gay bán tình và luôn nơm nớp lo sợ chuyện bí mật của mình bị tiết lộ. Đồng tính luyến ái là cái bản tính tự nhiên của một số người. Bắt những chàng gay sống như người bình thường, cưới vợ để sanh con đẻ cái là bắt họ chống lại thiên nhiên.

    Cái tức giận của tôi đối với một tên bạn Võ Văn Ái thèo lẻo ác ôn làm tôi bạo dạn, trở nên thách thức với những kẻ có đầu óc hẹp hòi. Cho nên tôi từ bỏ cuộc sống song đôi, chỉ sống theo cuộc sống bọn gay… cho gọn. Tôi không muốn giả dối, không giấu diếm cái sở thích yêu người đồng phái tính của mình làm chi cho phiền phức. Phải đơn giản hóa cuộc sống, phải sống tràn đầy và nguyên vẹn cuộc đời riêng biệt của mình với tấm lòng thành khẩn thì may ra mới tìm được hạnh phúc.

    LDV: Nhà văn Hồ Trường An định nghĩa giới tính của mình bằng đường lối nào?

    HTA: Cô Vân ơi, câu hỏi nầy trặc trẹo lắm. Tôi không sao có thể định nghĩa giới tính chính mình. Tôi chỉ biết giới tính chia ra làm ba hạng người: hạng thứ nhất là hạng người yêu đương và thích làm tình cùng người khác phái của mình. Đó là những người dị tính luyến ái (les hétérosexuels). Hạng thứ hai là những người yêu đương và thích làm tình với người đồng phái. Đó là những người đồng tính dục (les homosexuels), nhưng nói cho nhẹ nhàng bóng bẩy một chút thì gọi là đồng tính luyến ái (les homophiles); bên nam giới gọi là gay, bên nữ giới thì được gọi là lesbiennes. Lại có người thích làm tình với người khác phái tính lẫn người đồng phái tính. Đó là những người lưỡng tính luyến ái (les bisexuels). Vua Hán Cao Tổ có nhiều quý phi, cung tần, mỹ nữ. Nhưng ông ta thỉnh thoảng tìm các cậu trai mới lớn nuôi sẵn trong biệt viện để ông ta thay đổi thực đơn hành lạc. Những cậu trai như vậy tiếng Pháp gọi là bé cưng (les mignons). Đó là tôi nói theo nhà Trung Hoa học thuật gia Robert Van Gulik qua cuốn biên khảo ‘‘La Vie Sexuelle dans la Chine Ancienne.’’

    Trong giới nghệ sĩ Hoa Kỳ thì Marlon Brando cũng thuộc loại lưỡng tính luyến ái. Anh ta mê phụ nữ da màu và đã trải qua hai đời vợ là Anna Kashfi – lai Ấn, Movita – gốc Mễ-tây-cơ. Nhân tình cũa anh ta gồm có các nữ tài tử France Nuyen – lai Việt, Tarita – người thuộc đảo Tahiti, Rita Moreno – dân Mỹ La-tinh. Nhưng bà vợ Anna Kashfi trong cuốn Brando au Petit Déjeuner xác nhận rằng Marlon Brando lẫn James Dean đều là dân lưỡng tính luyến ái. Trước khi nổi danh, trong thời gian sống ở Paris, Marlon chơi thân với điện ảnh gia Roger Vadim và nam tài tử Christian Marquand. Chính anh chàng Marquand này là người yêu của Marlon Brando. Anh ta người Tây-ban-nha lai Á-rập nhưng sinh sống từ nhỏ ở Pháp, đóng phim Pháp, nổi tiếng đẹp trai và sexy. Christian Marquand cũng là dân bisexuel, sau đó kết hôn với nữ tài tử Tina Aumont. Hư thực ra sao đố ai biết rõ. Chúng ta chỉ biết một khi người vợ bị tổn thương thì việc gì mà không dám nói. Anna Kashfi còn dám viết rằng Marlon Brando có tới ba hòn nang. Khi sống trên tại kinh thành Paris, chàng ta đã cùng Roger Vadim và Christian Marquand đi Monmartre để hành lạc theo kiểu ‘‘nga môn khoái lạc’’ do dân phong lưu Trung Hoa phát minh. Đó là đút dương vật vào hậu môn con vịt, rồi thình lình chặt cổ con vịt để cho hậu môn con vịt siết chặt và buông lỏng liên miên dương vật. Marlon Brando trong quyển hồi ký của mình bảo thẳng thừng rằng : ‘‘Tôi cũng có vài kinh nghiệm về đồng tính dục.’’ Riêng James Dean được báo chí thêu dệt mối tình giữa chàng ta và nữ tài tử gốc Ý Pier Angeli, giữa chàng ta và nữ thần nhục cảm Ursuela Andress gốc Thụy- sĩ. Nhưng lại có tin hành lang cho biết người tình đực rựa của chàng là tài tử bô trai cực kỳ thanh tú và hùng tráng là Tab Hunter.

    Về phía lưỡng tính luyến ái phái nữ thì vào thời Đệ tam Cộng Hòa có hai nàng nữ danh kỹ là Liane de Pougy và Emilienne d’Aleçon sắc nước hương trời. Cả hai đã từ dan díu với các chàng trai quý tộc và các kỹ nghệ gia Hoa Kỳ thuộc hạng tỷ phú. Liane de Pougy đã từng ăn nằm với Hoàng tử vùng Galles nước Anh về sau trở thành vua Edouard VII, còn Emilienne d’Aleçon đã từng dan díu với vua Léopold II nước Bỉ. Cả hai cô danh kỹ kia còn là nữ sĩ văn chương. Liane viết 7 cuốn tiểu thuyết, nổi tiếng nhứt là cuốn Idylle Saphique (Tình Yêu Các Cô Đồng Tính Luyến Ái) và cuốn nhật ký Mes Cahiers Bleus ( Những Tập Giấy Xanh Của Tôi). Người tình nuơng mặn mòi thắm thiết nhứt của Liane de Pougy là nữ sĩ kiều diễm người Mỹ Natalie Cliffod Barney. Còn Emilenne d’Aleçon về sau kết hôn với anh nài ngựa người Anh chẳng những trí thức, giàu sụ mà còn đẹp trai. Vì là nài ngựa nên chàng hơi nhỏ con một chút, nhưng rất xinh xắn dễ yêu. Cả hai si mê nhau điên cuồng, yêu đương bỏng cháy. Vì yêu nàng, chàng bỏ quốc tịch Anh và xin vào quốc tịch Pháp. Vì chàng, nàng thôi làm cái nghề đưa ông hoàng ra cửa trước, rước ông tỷ phú vào cửa sau. Chàng nài ngựa bô trai giỏi văn chương Pháp nên dạy Emilienne d’Aleçon làm thơ. Do đó nàng cho trình làng hai thi tập Temple d’Amour (Ngôi Đền Tình Ái) và Les Masques (Những Cái Mặt Nạ). Chàng nài ngựa yểu mệnh, Emilienne d’Aleçon đau khổ không nguôi. Từ đó nàng đoạn tuyệt với đàn ông và chỉ ăn nằm với đàn bà trong đó có nữ nam tước người Ý là Baronne Mimy Franchetti. Cô nữ nam tước nầy cũng đã từng ăn nằm với Liane de Pougy.

    LDV: Sự chấp nhận một cách hân hoan về khuynh hướng tính dục đặc biệt của mình đã đem lại cho nhà văn những gì ngoài cõi lòng yên tĩnh cần thiết để cho ra đời những trang viết đầy tình người và sức sống?

    HTA: Sống thành thật với chính mình thì dĩ nhiên được thoải mái về mặt tinh thần lắm, có phải không cô Vân? Hồi chưa tiếp xúc với giới đồng tính luyến ái tôi ấm ức trong lòng, khao khát được giao hợp với người mình yêu. Nhưng ở tại một tỉnh lỵ đất Tiền Giang, tôi tìm đâu ra một đối tượng tình yêu thuộc loại người như mình? Cho nên tôi đau khổ, tuyệt vọng, lại còn sợ mọi người chế nhạo mình yêu trai, cho nên tôi không biết ngỏ tâm sự cùng ai. Năm tôi 25 tuổi, tôi lên Sài Gòn học lớp tập sự ngành Dược Khoa, tôi được thằng bạn thân học chung với tôi suốt 6 năm bậc trung học. Nó cũng là dân gay như tôi, nhưng cả hai chỉ là bạn suông trơn mà thôi. Nó giới thiệu cho tôi một ký giả người Pháp, gốc Ba-lan tên là Ilya Mustkatblatz. Sau đó, nó chỉ cho tôi những chỗ hội họp của bọn gay Việt lẫn gay từ các xứ như Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Phi-luật-tân, Đại Hàn, Tàu Chợ Lớn qua làm việc hoặc định cư ở Sài Gòn. Họ thường lui tới rạp chớp bóng Vĩnh Lợi (mà bọn tôi gọi là Vĩnh Lạc Cung) ở đường Lê Lợi và gần Bệnh Viện Đô Thành, rạp chớp bóng Moderne (mà chúng tôi gọi là Mẫu Đơn Đình) ở gần chợ Tân Định. Ngoài ra còn ở nhà hàng Continental, nhà hàng Givral, Bùng Binh trước chợ Bến Thành là những nơi để bọn gay kiếm bồ bịch. Ngoài ra ngôi chùa thuộc Nghĩa Trang Bắc Việt, đền thánh ở Thủ Thiêm cũng là nơi hò hẹn bọn gay.

    Không hiểu sao, từ khi tiếp xúc vào xã hội gay, dù lúc tiên khởi tôi nghĩ mình bắt đầu có một cuộc sống lệch lạc về lề thói, về nguyên tắc trật tự trong xã hội. Nhưng chính các lệch lạc, cái trái cựa đó khơi dậy cho tôi biết bao niềm lạc hoan mênh mông và nguồn cảm hứng cực kỳ phồn thịnh. Tôi phải trải rộng cảm hứng đó lên giấy càng nhiều càng tốt. Tôi yêu đời, yêu mọi người. Tôi chỉ mong có nhiều người đọc những gì tôi viết. Nhưng tôi chưa dám viết trực tiếp cái xã hội gay. Nhưng ai cấm tôi sáng tạo những người đàn bà đa tình phản ảnh nguyên vẹn cái tôi đã bao lần xao xuyến tâm hồn và xác thân trước hình bóng những nam minh tinh điện ảnh mà tôi ái mộ? Từ khi lao vào giới gay, tôi vui sống, sáng tác thơ rất nhiều. Tiếc rằng khi bỏ xứ ra đi, tôi không mang theo được gì, chỉ nhớ lõm bõm vài bài thơ nhục cảm để khi ra hải ngoại tôi thực hiện thành thi tập Thiên Đường Tìm Lại.

    Vào năm 1966, trước hết, tôi viết truyện ngắn, thơ, kế đó mới tập tành điểm sách, viết tạp ghi. Và sau hết, tôi viết các bài nhận định về kịch ảnh & tân nhạc. Tôi đã từng cộng tác với các tập san Bách Khoa, Tin Văn, Tiểu Thuyết Tuần San, Minh Tinh, Sinh Hoạt Nghệ Thuật, công tác với các nhật báo Tranh Thủ, Tiền Tuyến… Hứng thú đưa đẩy ngòi bút tôi chạy tốc hành trên xấp trang bản thảo khi tôi ngồi vào bàn viết. Nhưng tôi không dám viết cái tôi của mình là gay. Tôi dệt ra những cảnh giao hợp bỏng cháy, tôi nhập vai vào các nữ nhân vật, còn nam nhân vật tuy có tên Việt như Cảnh, Hạo Minh, Tường Ngọc, Huy Châu v.v…, nhưng tôi mường tượng qua các chàng kép có thân vóc cường tráng mỹ lệ.

    Bao giờ cũng vậy, khi viết tiểu thuyết không bao giờ tôi dám giết những nhân vật đẹp trai dù các đương sự cùng hung cực ác đi nữa. Tôi chỉ dám giết những nhân vật già nua từ 80 tuổi trở lên (cho họ chết vì già yếu chớ không dám cho họ chết vì bịnh hoạn). Lại nữa, các nhân vật đẹp trai được tôi xe duyên chỉ thắm với những nữ nhân vật nếu không kiều diễm thì cũng duyên dáng mặn mòi. Nếu các cô lỡ có chửa với người chồng bô trai ngó hoài…vẫn thích ngó của họ, thì ở chương áp chót của quyển tiểu thuyết, tôi cho họ xổ bầu đập chum để họ có cái eo thon đẹp, để họ diện áo đẹp đi rước đèn, đi bát phố cùng chồng. Còn nam nhân vật đẹp trai nếu rủi bị bịnh ung thư hay bị bịnh AIDS thì nếu không nhờ thuốc men hiệu nghiệm thì cũng được Đức Thánh Đồng Trinh Maria của thành phố Lourdes hay Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ dùng phép lạ mà giúp họ lành mạnh. Như vậy nữ độc giả sẽ an tâm khi xếp quyển sách cũa tôi lại.

    Cô xem đó, khi con người được hạnh phúc, họ dễ có tấm lòng vị tha, không đem giáo điều khe khắc ra buộc tội bất cứ ai. Trong các tác phẩm của tôi hầu như không có kẻ ác. Thường là những kẻ có cái miệng dữ dằn, ngáp ra khói, ói ra tro, ho ra sấm sét, nhưng lòng dạ các đương sự hiền lành như bột sắn, bột khoai. Thường là các mụ đàn bà thuộc loại chằn ăn trăn quấn, ưa ganh tị từ cái ngáp tiếng ho với bạn bè, ưa thèo lẻo trong các cuộc ngồi lê đôi mách, nhưng khi đối thủ của mình gặp hoạn nạn thường ra tay cứu giúp, an ủi, đãi cho kẻ cựu thù những món ăn ngon… chết giấc luôn! Tôi ưa viết những chuyện vạch tật xấu đàn bà, nhưng độc giả của tôi hầu như 75% là đàn bà. Vậy có nghĩa là văn chương tôi không độc địa như siêu vi trùng gây bịnh AIDS, không giúp các nhân vật lao vào những hành động ác ôn côn đồ thổ phỉ, không xô nạn nhân vào cảnh đoạn trường.

    LDV: Xã hội phong kiến của Việt Nam có ảnh hưởng một cách tiêu cực đến cái nhìn về giới tính của nhà văn không, trong cuộc sống cũng như trong quá trình viết lách?

    HTA: Ở Việt Nam, chuyện đồng tính luyến ái vào thập niên 50, 60 không được xem là trầm trọng. Dân mình cho rằng hễ ai mắc phải ‘‘cái tật’’ yêu người cùng phái tính, một khi được lấy vợ gả chồng thì ‘‘lành bệnh’’ ngay. Nhưng bên Âu Châu vào thời Trung Cổ, những ai có hành động quá thân mật với người cùng phái tính thì bị lôi ra tòa án và Giáo hội Gia-tô xen vào kết án thiêu sống các đương sự. Tôi không nhớ rõ năm nào trong thập niên 90 của thế kỷ 20, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II đã từng xin lỗi mọi người trên thế giới về chuyện các Giáo Hội Gia-tô đã lên án xử tử nhà bác học Galilée khi ông ta dám tuyên bố quả đất tròn. Ngài cũng xin lỗi về vụ các tín đồ Gia-tô a tòng với bọn buôn người bắt dân Phi Châu bán cho người da trắng làm nô lệ. Nhưng ngài vẫn không thèm xin lỗi về vụ bọn tăng lữ Gia-tô ở Pháp và ở vài nước Âu Châu đã đem dân gay thiêu sống vì họ cho rằng những người gay cũng như nhừng người phù thủy là ác quỷ Sa-tăng cần phải bị tiêu diệt.

    Trong quá trình viết lách, trước kia dám khai huỵch tẹt cái sở thích yêu người cùng phái với mình chỉ có văn hào André Gide ở những quyển nhật ký. Nhưng ở cuốn L’Immoraliste (Kẻ Vô Luân), ông ta chỉ nói mí mí thôi. Văn hào Thomas Mann với quyển Mort à Venise (Chết Tại Kinh Thành Venise). E.M Forster với cuốn Maurice thì viết hẳn hoi về cuộc tình thầm kín hay công khai của các nhân vật gay. Tuy nhiên E.M Forster viết cuốn Maurice khi còn sống, nhưng không dám đăng báo hay xuất bản. Trên giường bịnh chờ chết, ông dặn người nhà khi ôg ta qua đời thì mới cho xuất bản cuốn di cảo ấy. Còn nữ sĩ Natalie Clifford Barney thì viết lách công khai chuyện đàn bà đánh chập chõa với đàn bà. Cả nàng danh kỹ Liane de Pougy dám viết cuộc tình của mình với Natalie Clifford Barney trong cuốn Idylle Saphique của mình. Vậy mà các ông hoàng ở Âu Châu, các triệu phú, tỷ phú Hoa Kỳ vẫn tình nguyện chết chung vào lỗ của nàng. Rồi khi nàng leo lên 40 tuổi có ông hoàng Lỗ-ma-ní nhỏ hơn nàng 15 tuổi cưới nàng làm vợ, cuộc hôn nhân kéo dài tới khi ông ta lìa đời. Lúc đó Liane xấp xỉ 70 tuổi rồi, đành sống cô đơn tới lúc nhắm mắt theo chồng.

    Về các nhà văn nhà thơ Việt Nam thì vào năm 1966, đã có Đỗ Quế Lâm viết cuốn ‘‘Vết Hằn Rướm Máu’’. Hai nghệ sĩ diễn ngâm thơ là Đoàn Yên Linh và Hồ Bảo Thanh sáng tác những vần thơ đẹp như gấm và dịu như nhung. Họ xưng mình là em, là nàng cô phụ gửi người tình không chân dung nào đó hoặc người tình có thật trong cuộc sống mà họ đã từng si mê. Tiếc thay cả hai không cho xuất bản các bài thơ đẹp kia thành thi tập, chỉ đăng báo lai rai. Đoàn Yên Linh, Hồ Bảo Thanh và tôi đều là bạn của cây sáo thần Thanh Hà. Nhưng Thanh Hà không phải là gay mà là kẻ thông cảm với bọn gay chúng tôi mà thôi. Tình bạn giữa Thanh Hà và tôi từ trong nước, trước 1975 vẫn kéo dài cho tới bây giờ.

    Ra hải ngoại, người xung phong viết chuyện đồng quê Nam Kỳ và chuyện đồng tính luyến ái vẫn là H.T.A. Người thứ hai là Ngô Nguyên Dũng trong quyển trường thiên tiểu thuyết Đêm. Lại có thêm Tạ Thái, Nguyễn Thạch Đàn qua những tự truyện dưới hình thức truyện ngắn đăng trên báo Văn. Lại có thêm Lê Nghĩa Quang Tuấn, em trai của hai nhà văn nữ là Lê Thị Huệ và Lê thị Thấm Vân đã từng đi diễn thuyết đòi quyền sống và đòi chỗ đứng trong xã hội cho dân đồng tính luyến ái trong xã hội. Tuấn lại còn chủ trương tạp san dành cho gay và lesbian. Đó là tờ Đối Diện (Face To Face). Thi tập Ầu Ơ… của đương sự rất tuyệt vời về tư tưởng triết học và xen vào đó có những bài thơ nhục cảm chan hòa mộng đẹp, sinh lực, tinh khí, những tư duy rất nhân bản. Theo tôi, những cây viết ở vào cuối thế hệ thứ nhì và đầu thế hệ thứ ba ở hải ngoại, trong hàng ngũ gay thì có Ngô Nguyên Dũng bên Văn, còn Lê Nghĩa Quang Tuấn bên Thi Ca. Cả hai tài hoa rất mực. Còn bên ca nhạc ở hải ngoại thì cũng ít nhất 5 người. Nhưng mà thôi, tôi không tiện hài danh hà tánh các đương sự, cứ để họ tiếp tục hành nghề và giữ mãi mãi là thần tượng của các cô choai choai có hơn không!

    LDV: Khung cảnh tự do của quê hương thứ hai đã đem lại cho ông những thay đổi tích cực gì về khuynh hướng tính dục của mình và của những người đồng tâm trạng chung quanh ông?

    HTA: Tôi qua nước Pháp gặp lúc phong hóa đang biến chuyển tiến bộ. Phim sex dành cho bọn gay có chiếu vài rạp ở Paris. Tạp chí dành cho gay là Gaipied bán tràn ngập khắp thị trường sách ốc. Nhà trí thức André Baudry lập câu lạc bộ Arcadie để làm diễn đàn cho dân gay. Chính tại đây, Lucien Trọng đã đăng đàn diễn thuyết và mở cuộc triễn lãm tranh sơn dầu của đuơng sự. Ngoài ra, vũ trường Scaramouche dành cho gay. Hơn một chục phòng tắm hơi dành cho dân gay ở Paris. Các anh chàng gay vào đó tha hồ khỏa thân hoặc quấn chiếc khăn bông ở hạ bộ. Tìm được kẻ vừa ý là cả hai dắt nhau vào căn buồng nhỏ để làm tình. Nếu phòng bị chiếm hết thì tìm chỗ nào hơi tối một chút để giao hoan, chẳng bị ai phá rối.

    Nhưng rồi từ năm 1985, bịnh AIDS lan tràn, tôi không dám bén mảng tới bất kỳ chỗ hẹn hò nào, đừng nói chi là phòng tắm hơi. Vả lại, từ năm 1985, tôi bắt đầu phái phì: bụng to như có cái chảo gang hay cái thau nhôm úp lên, lại có cằm đôi như cái nọng heo và còn dến thêm miệng cá má lợn. Đi đâu, tôi cũng vác các bụng bự chang bang như cái bụng chửa sắp tới ngày xổ bầu thì chán quá! Làm diet, chạy jogging, cuốc bộ hàng chục cây số vẫn chỉ sụt bớt 5 kí lô là cùng. Rồi tôi bỏ cuộc vì tôi bị ba chứng bịnh nan y như tiểu đường, cholesterol, cao máu. Từ nằm 1985, người bạn lòng tôi và tôi dù ở chung dưới một mái nhà, ngủ chung một giường, nhưng chỉ là bạn thuần khiết mà thôi. Vào năm 2006, tôi nghe lời bác sĩ thân tín tập thể dục dành cho người già cả, tập thở một cách chăm chỉ theo phương pháp mà Thiền Sư Nhất Hạnh chỉ dạy, tôi gần như hết bịnh tiểu đường, dứt tuyệt chứng cholesterol, giảm bớt cao máu. Nhưng tôi vẫn phải uống thuốc đều đặn. Do đó mà tôi sụt cân. Thể dục làm cho bụng tôi thon, cằm đôi biến mất. Thở theo phương pháp Tọa Thiền làm cho da mặt tôi sáng hồng. Bụng tuy thon nhưng lại hơi nhão, mông không xệ nhưng không tròn. Cằm đôi tuy mất, nhưng cổ tôi nhăn nhúm như cái nhau con heo nái phơi khô. Ngực tôi tuy đầy đặn nhưng không căng phồng như cánh buồm lộng gió. Bọn trai tráng có cặp mông tròn trặn như trái dưa hấu bổ đôi, bụng chẻ ra làm sau miếng như sáu thẻ chocolate. Vì than ôi, tôi đã 70 tuổi rồi, làm sao có thân vóc rắn chắc và mỹ lệ như bọn đờn ông con trai từ 18 đến 45 tuổi? Lại nữa, tôi đâu còn khả năng tình dục nữa, cho nên tôi đành làm bạn với con Chung Vô Diệm (chim vô dụng) mà thôi.

    Thật ra, tôi cũng chẳng buồn tiếc cái thời sống lăng loàn hạnh phúc cũ. Nếu vào thuở trung niên tôi vẫn còn có sắc vóc ngoạn mục, biết đâu tôi chơi bời thả cửa, giao hoan thả giàn với bọn gay, để rồi vướng bịnh AIDS. Như vậy trong cái rủi vẫn có cái may, phải không nào? Rất nhiều bạn bè tôi xin tôi chỉ họ phương pháp làm gầy, phương pháp làm cho da mặt mịn màng sáng sủa. Tôi cứ tình thật mà ‘‘khai báo’’. nhưng họ làm không có kết quả. Thiệt tình tôi không hiểu tại sao? Nhưng đẹp lão để làm gì? Khi tôi mặc áo thun, quần jean thì thân vóc tôi vẫn là người đàn ông tuổi ngũ tuần. Nhưng khi vào bãi khỏa thân ở tỉnh nhà thì đây là thân vóc của một ông già, dù có ngực đầy, bụng thon và mông không xệ đi nữa. Ở ngoài đời, da mặt tôi thật lý tưởng mà phụ nữ rất hâm mộ. Nhưng khi tôi được chụp ảnh, khuôn mặt tôi vẫn là khuôn mặt ông già, dù da mặt chỉ có vài nét nhăn mờ mờ ở chuôi mắt đi nữa. Cho nên tôi không thèm nhuộm tóc làm gì. Tuổi của tôi hiện giờ có thể làm ông cố được rồi.

    ho_truong_an_2008

    Khi qua Pháp, tôi đã 40 tuổi, hưởng thụ không bao lâu, nhưng tôi không thối tiếc một chút cỏn con nào. Mừng là thấy phong hóa tiến bộ một cách tích cực. Có nhiều nước cho phép cặp gay làm đám cưới với nhau. Tôi thấy cái dó không cần cái đó. Nhưng thôi, ai cũng có hoàn cảnh riêng, sở thích riêng, tâm trạng riêng; đừng bắt buộc người khác phải giống mình. Bây giờ ở Gia-nã-đại và ở vài nước Âu Châu có lịnh phạt những kẻ nào dám sỉ nhục những chàng gay trước đám đông. Kẻ sĩ nhục sẽ bị phạt nặng nếu kẻ bị hạ nhục có tìm được nhân chứng. Đối với những nước văn minh tân tiến, tội đó cũng ngang ngữa với tội kỳ thị chủng tộc. Tôi chỉ thương xót các em các cháu gay gặp vấn nạn bịnh AIDS nên không được thoải mái lúc bắt bồ với nhau. Họ không được tâm trạng thảnh thơi như tôi hồi 40 năm về trước khi làm tình với đối tượng của mình.Tôi tin rằng đa số những kẻ gay cũng như tôi được hạnh phúc khi sống trong xã hội được nới lỏng nguyên tắc và giáo điều, sống tràn ngập tin tưởng hơn. Có vậy Ngô Nguyên Dũng sáng tác không hề nhàm mỏi. Có vậy Lê Nghĩa Quang Tuấn mãi mãi là tấm gương can trường dám đứng đầu sóng ngọn gió. Tôi không hiểu tại vì sao càng lớn tuổi, Dũng ưa bỏ chín làm mười bất cứ chuyện gì. Dũng nhìn đời bằng cặp mắt bao dung. Có phải chăng hắn sống trong hạnh phúc và sống với tâm trạng cởi mở nên mới được đức tánh ấy? Dũng yêu thích văn nghệ sĩ giới sáng tác lẫn văn nghệ sĩ giới trình diễn nên không cần lui tới thường xuyên các cuộc hẹn hò trong khi đương sự vẫn còn là kẻ trung niên tuấn tú, có thể bắt bồ vơi bọn gay Đức dễ ợt. Càng lớn tuổi đương sự chuộng tâm linh nghiên cứu Phật Giáo. Còn riêng tôi, trong mùa thu cuộc đời, tôi vẫn nghiên cứu thêm Kinh Đại Thừa như hồi còn ở quê nhà, sưu tầm sách vở, các hình ảnh các minh tinh điện ảnh và ca sĩ ngoại quốc. Bắt đầu chớm xuân, tôi trồng hoa ở bao lơn. Trong nhà tôi bày những chậu cây cảnh những món ngoạn hảo (bibelots) và tranh ảnh. Tôi không có thời giờ để phiền muộn. Hễ khi cái đầu nóng rực vì viết lách hơi nhiều, tôi dừng bút lại, lo săn sóc lau chùi nhà cửa, nấu nướng một món ăn hợp khẩu vị. Đôi khi tôi điện đàm với các bà bạn vốn là độc giả của tôi để học hỏi cách thức làm những món ăn phổ thông hay những món ăn đặc biệt sao cho hợp khẩu vị.

    Lũ bạn gay của tôi sinh sống ở Paris thường hỏi tôi suốt gần 30 năm nhà bác tuyệt tích giang hồ. Vậy mà nhà bác chịu đựng được? Có phải chăng ở Troyes có phòng tắm hơi dành cho bọn gay? Hay có những chỗ hẹn hò nào khác? Làm sao tôi nói cho lũ bạn tin rằng tôi đã sống đã tạm đầy đủ rồi. Bây giờ ôn lại ‘‘thời tung hoành’’ cũng chỉ vun quén phong vị cho văn chương và cho tuổi hoàng hôn, đừng quay lại thời dĩ vãng xa lắc xa lơ nữa. Tôi còn nhớ một câu nói của đại kịch sĩ Pháp là Jean Louis Barrault : ‘‘Ở chỗ huy hoàng ánh sáng, hay trong xó kẹt tối tăm, đâu đâu cũng có hồng ân của Thượng Đế’.’

    LDV: Văn của Hồ Trường An đầy chi tiết, sống động và tràn ngập nhiều nhân vật nữ với tạo hình thật rõ nét. Định hình giới tính của một nhà văn giữ tầm ảnh hưởng như thế nào đến giọng văn, chủ đề, và thông điệp gởi gấm?

    HTA: Văn chương tôi có nhiều chi tiết sống động? Có thể lắm chớ? Tôi viết theo cảm hứng, có nhiều khi rất máy móc, không cần suy nghĩ cho nhuần nhuyện trước khi viết. Thường thường bọn gay chúng tôi thích trào lộng và có óc quan sát mãnh liệt. Do đó tôi tìm những nhân vật độc đáo, xem cách sống, cách suy nghĩ và cách ăn nói của họ. Ai chê hạng người ngồi lê đôi mách là hạng người mất nhân phẩm. Sức mấy mà tôi suy nghĩ như vậy. Các cuộc ngồi lê đôi mách giúp tôi khám phá và tìm hiểu các nhân vật độc đáo, những nhân vật có cá tính mạnh.

    Tôi nhớ, hồi xa xưa, tôi ở chung với chị Thụy Vũ. Hôm đó, Tô Thùy Yên và chị nằm trên gác. Cô tớ gái của chị đang lục đục dưới bếp. Tôi và lũ bạn kéo về, quây quần bêm mâm gải khát, bắt đầu kể chuyện ngồi lê đôi mách pha trộn chuyện tiếu lâm. Bọn tôi không hay trên gác có người nên chúng tôi tha hồ mà xả máy đía dóc. Khi câu chuyện bắt đầu rời rạc dần thì chị tôi bước xuống, cười ngất: Nãy giờ tao với ông Tiên (chỉ TTY) nằm ngủ trên gác. Nghe bọn bây đấu hót bừa bãi mà cả hai cười muốn bể bụng, muốn tróc mỡ sa ra. Tao lại mắc tiểu. Nhưng ông Tiên cản tao lại để có thể tiếp nghe câu chuyện tụi bây. Trời ơi, tao nín đái, bọng đái căng phồng muốn bể như cái pháo chuột đây nè. Mấy tên này nên tìm gánh hát gia nhập làm hề là phải hơn.

    LDV: Thế kỷ gần đây rất nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những hành động công khai và cởi mở hơn về khuynh hướng tính dục của họ và điều này đã khuyến khích sự đồng thuận và cái nhìn thấu hiểu ngày một khoan dung của xã hội về khuynh hướng đồng tính. Theo ông, những người nắm giữ sự ái mộ đặc biệt của công chúng có trách nhiệm hướng dẫn dư luận vào lối suy nghĩ bình đẳng hơn trong những nan đề xã hội không?

    HTA: Tôi ra hải ngoại vào năm 1977. Tôi có đọc được vài quyển hồi ký cũa các cây bút gay như hồi ký của kịch tác gia Tennessee Williams, hồi ký của Gore Vidal, hồi ký đại minh tinh điện ảnh Pháp là Jean Marais mà tôi còn nhớ cái tựa là Histoire de Ma Vie (Lịch Sử Đời Tôi). Ngoài ra, nhà văn Renaud Camus và nhà văn Tony Duvert có cho xuất bản quyển nhật ký của mình công khai bày tỏ những mối tình và những cuộc liên hệ xác thịt của mình với kẻ đồng phái tính. Còn nhà văn Pháp Dominique Fernandez qua cuốn L’Étoile Rose (Ngôi Sao Hường) cũng không giấu giếm khuynh hướng đồng tính dục của mình. Quyển L’Étoile Rose đã làm cho hàng triệu độc giả Pháp và độc giả các nước nói tiếng Pháp cảm thương cho dân gay bị bọn Đức Quốc Xã giam trong những trại trừng giới, bị xâm ngôi sao hường trên trán, bị đọa đày dã man. Lại nữa, tôi có đọc cuốn hồi ký của nhà văn nữ lừng danh xứ Pháp là Françoise Sagan. Tôi rất cảm phục bà ta ở chỗ dám chia sẻ cảm thông với tâm sự các nghệ sĩ gay. Bà ta viết về kịch tác gia kiêm văn gia Tennessee Williams kết bạn với nữ sĩ Carson Mc Cullers. Ông chồng bà Carson Mc Cullers tự tử vì khám phá ra mình là gay. Bà ta xuống tinh thần, bị suy nhược thần kinh. Ông Tennessee Williams và anh chàng tình nhân ông ta săn sóc bà. Rồi ông ta đưa bà ta sang Ý viếng thăm nữ tài tử Anna Magnani. Tại đây ngôi sao điện ảnh hàng đầu nước Ý này cùng anh tình nhân trẻ tuổi của mình săn sóc người nữ văn gia bất hạnh kia. Tình bạn giữa Tennessee Williams và Anna Magnani cũng rất gắn bó keo sơn. Nhờ cuốn phim Le Rose Tatouée phỏng theo vở kịch cùng tựa của Tennessee William mà Anna Magnani đoạt giải Oscar một cánh vinh quang. Từ đó, cả hai thân thiết nhau. Lại nữa, cô Vân chắc cũng biết qua nữ minh tinh Hoa Kỳ Elizabeth Taylor có 3 người bạn gay thân thiết đã từng đóng phim chung với cô ta là Montgomerry Clft, Rock Hudson, Roddy Mac Dowall. Cô ta giúp do họ vật chất lẫn tinh thần. Khi Rock Hudson chết vì bịnh AIDS, Liz Talor lập ra hội giúp đỡ dân bị séro-positif lẫn dân bắt đầu vào thời kỳ bịnh AIDS bắt đầu phát tác trên hoàn vũ.

    Theo tôi, những nhà nghệ sĩ thuộc giới sáng tác bất kỳ trên xứ sở nào cũng không cần phải e ngại kẻ thưởng ngoạn giảm sút sự ái mộ của mình khi những kẻ dó biết họ là gay. Các nhà văn lừng danh trên thế giới như André Gide, François Mauriac, Jean Cocteau, Gore Vidal… vẫn được độc giả ủng hộ và ái mộ như thường. Bên sáng tác nhạc có Tchaikowski, bên hội họa có Michel Ange, Léonard de Vinci tới nay văn phẩm, nhạc phẩm lẫn họa phẩm của họ vẫn được hậu thế truyền tụng.

    Những kẻ được quần chúng ái mộ nên đóng góp vào công việc đập tan thành kiến tiêu cực về vụ đồng tính luyến ái, giúp họ sống tự nhiên theo căn tính, theo khuynh hướng luyến ái và sở thích tình dục của họ. Rúng ép, cưỡng bách họ theo bản tính và sự ưa thích của mình tức là làm trái với cái ĐỨC theo quan niệm của Lão Tử, tức là sống theo bãn tính tự nhiên của mình. O ép họ hoặc khiên cưỡng họ sống theo người yêu kẻ khác phái tính là một điều trái tự nhiên, phản khoa học, lại còn độc ác bất nhân. Françoise Sagan, Mae West, Liz Taylor là những người biết sống vì biết thông cảm những kẻ muốn sống tự nhiên theo bản tính nhưng lại bị xã hội đầy những kẻ đầu óc hẹp hòi nguyền rủa, lên án và ngăn cấm.

    LDV: Chúng ta đã làm được gì và cần làm thêm những gì để đẩy lùi những sự phân chia kỳ thị giới tính?

    HTA: Chỉ cầu mong cho mọi người hiểu rằng đồng tính luyến ái là cái sở thích bẩm sinh, chứ không phải là cái căn bịnh do xã hội tạo ra. Có kẻ bảo rằng người đồng tính luyến ái là do trong người đương sự có những cái gènes (mầm mống) tạo cho đương sự cái khuynh hướng yêu người đồng phái. Dù tôi không nắm vững vấn đề nầy, nhưng tôi không bao giờ để cho Ông Trời hay nhà khoa học hay nhà tâm ly học hoặc nhà phân tâm học nào chữa trị tôi trở thành người đàn ông bình thường. Tôi rất hạnh phúc được làm chàng gay.

    Để đẩy lùi sự phân chia giới tính, người đồng tính luyến ái phải tỏ ra có tư cách. Trước hết đừng ve vãn cọ quẹt với những người không phải là gay như mình. Đừng tỏ ra âu yếm quá lố với người tình của mình trước công chúng hoặc làm trò õng ẹo nữ tính. Có vậy các nhà soạn kịch, các nhà viết kịch bản không viết tuồng hát hay viết truyện phim phơi bày cái lố lăng của bọn gay ra. Như thế, bọn gay chúng tôi mới tránh khỏi bị họ vẽ vời qua những đường nét biếm họa lố lăng. Phải sống như người bình thường. Đừng mặc cảm, có vậy mới hóa giải đươc một phần lớn sự phân chia gới tính của kẻ dị tính luyến ái. Còn những người dị tính luyến ái nào vốn thiếu tấm lòng thông cảm bao dung phải tìm hiểu vì sao thời buổi này vấn đề đồng tính luyến ái được một vài nước nới lỏng, không bị ngăn cấm gắt gao. Đó có phải là cái kết quả tích cực của biết bao công việc nghiên cứu của các nhà tâm lý học, nhà phân tâm học, nhà xã hội học, nhà nhân chủng học, nhà sinh lý học, nhà tình dục học v.v… Dần dần họ mới khám phá cái bí nhiệm của kẻ đồng tính luyến ái và đi đến kết luận tích cực như sau: đồng tính luyến ái không phải là cái bệnh, cũng không phải là tật xấu mà là một trạng thái tâm lý học lẫn sinh lý học như bao nhiêu trạng thái muôn màu muôn vẻ của con người sống trên trái đất này.

    LDV: Ông có tin vào tầm ảnh hưởng lớn của văn chương không? Ông có tin nó có thể giúp chúng ta xóa bỏ những ranh giới khác biệt giữa người và người không?

    HTA: Có chứ cô Vân. Hồi 2 thập niên 30 và 40, văn hào André Gide dám phô bày cái đồng tính luyến ái của mình qua nhiều văn phẩm có giá trị nghệ thuật nên một thiểu số dân Pháp chẳng những không buộc tội bọn gay mà còn đặt lại vấn đề để tìm hiển dân gay sâu xa hơn. Tôi còn nhớ khi nhà đạo diễn James Ivory thực hiện cuốn phim Maurice phóng tác theo tác phẩm cùng tựa của E.M. Forster, khán giả Pháp đến xem chật rạp. Đa số dều chia sẻ tâm sự chàng Maurice do James Wilby đóng. Vào năm 2005, khi cuốn phim Le Secret de Brokeback Mountain của Ang Lee tung ra cũng được giới thưởng ngoạn ủng hộ nồng nhiệt. Đọc những quyển sách của ông André Gide, của ông Robert Peyrefitte (chẳng hạn như quyển Les Amitiés Particulièrs/Tình Bạn Kỳ Đặc) hoặc xem những cuốn phim mà tôi vừa kể thì kẻ thưởng ngoạn phải suy nghĩ và đặt lại vấn đề kỳ thị dân gay chứ! Nên tôi mãi tin, văn chương có tầm ảnh hưởng đáng kể.

    LDV: Với tư cách là một nhà văn và một người trong cuộc, ông có những lời khuyên nào cho những ai vẫn còn chưa tìm được sự bình an trong tâm hồn về định hình giới tính của riêng họ?

    HTA: Mình hạnh phúc hay không là do chính mình. Mình phải thành thật với chính mình, phải xem xét hoài bão và nguyện vọng của mình để tìm một lối sống riêng biệt cho mình với điều kiện mình không làm mất lòng ai, không dẫm chân và phóng uế vào đời tư kẻ khác. Mình phải chủ trương đời mình miễn sao đừng làm hại kẻ khác. Tôi xin nhấn mạnh những gì tôi đã phô bày, cạn tỏ mình nên sống bằng cuộc đời của mình, đừng sống bằng đời của kẻ khác. Đó là sống theo cái ĐỨC. Sống bằng đời kẻ khác, hoặc sống tuân theo luật lệ xã hội một cách khít khao mà không để một khe hở nhỏ nhoi cho ánh nắng tượng trưng cho sự tự do, cho sự quyền biến, cho sự cảm thông lọt vào thì cuộc sống của mình trở nên lệch lạc nếu không bảo là què quặt tật nguyền.

    LDV: Xin trân trọng cảm tạ nhà văn Hồ Trường An đã dành cho độc giả những tâm sự hết sức cá nhân và lòng chân thật đáng quý trong cuộc nói chuyện này.

    *Ảnh trên: nhà văn HTA vào năm 1991. Ảnh dưới – nhà văn HTA vào năm 2008.