• Sinh Hoạt,  Tin tức

    Sinh Nhật Ns. Tuấn Khanh 7-3-20

    Khánh Lan

    Vào lúc 1 giờ chiều ngày 16 tháng 11, năm 2019, Liên nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian” đã tổ chức buổi Vinh danh và mừng Thượng thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh tại NT Studio, trên đường Brookhurst, thành phố Westminster, California. Hôm ấy, trời thật đẹp! Những tia nắng vàng óng ánh, len lỏi qua những cành cây như để sưởi ấm vài chiếc lá khô còn xót lại trên cành. Trong một không gian lãng mạn của mùa thu, có lẽ không còn gì thú vị hơn khi được cùng bạn bè cùng thưởng thức những bài tình ca của một thời xa xưa…

    Tuy mới 12:30 chiều, nhưng đã có khá đông thân hữu xếp hàng ngoài cửa. Nét vui tươi hiện rõ trên khuôn mặt từng người. Phía bên trong, ban tiếp tân cũng đã bắt đầu bận rộn tiếp đón khách vào chỗ ngồi. Đúng 1 chiều, Gs Quyên Di và Xướng Ngôn viên Khoa Cát (đài truyền hình SAIGON TV, 57.3) chào đón Ns Tuấn Khanh và Ns Bùi Thiện cùng đi chung với ông.

    Khách tham dự gồm có sự hiện diện của của Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa, Nhà văn Mắt Nâu,  Nhà Thơ Việt Cường, Thi Sĩ Bích Ty, Ca Sĩ Chung Tử Lưu,  Ca sĩ/Bác Sĩ Vương Đức Hậu, Nhạc trưởng Bùi Quỳnh Qiao (Ban hợp xướng Ngàn Khơi),  Ca Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng, Nhà Văn Nguyễn Huy Quang, Nhà văn Dương Tử, Giáo sư/Nhà văn Dương Ngọc Sum, Nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Võ Ý,  Nhà báo/Nhà văn Phạm Quốc Bảo,  Nhà văn Hạo Nhiên Trần Thế Ngữ,  Nhà văn/Nhạc sĩ Dương Viết Điền,  Nhà văn Hà Nguyên  Du, Trương Thành Đức, Ông Nguyễn Lý Sáng (Cựu Hội trưởng Tây Ninh Đồng Hương Hội),  Bác sĩ/Ca sĩ Nguyễn Đức Cường, Bác sĩ/Ca sĩ Trương Đức Cường,  Họa Sĩ Lâm Thủy, Ký Giả Uyên Vũ, Nhạc sĩ Mạc Vũ Phạm Gia Cổn và nhóm Hoàng Hạc Khí Công, nhóm Nghệ sĩ Hoa Mai Nga Lam (San Diego), Nhiếp ảnh gia Hòa Quân  .v.v…. Đặc biệt, còn có sự hiện của Nhà báo Phạm Kim (Báo Người Việt Tây Bắc, Seattle) đến từ Seattle.

    Sau phần chào Quốc Kỳ và một phút tưởng niệm, MC Nhật Uyên thay mặt Nv Việt Hải và Liên Nhóm NVNT & TTG, giới thiệu về chủ trương và sinh hoạt, thành phần BTC, cũng như gởi lời cám ơn đến các nhà bảo trợ và các mạnh thường quân đã hỗ trợ trong việc duy trì và bảo tồn những sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của hội. Chương trình được tiếp tục với MC Khánh Lan, giới thiệu về tiểu sử cũng như những sáng tác của Ns Tuấn Khanh. 

    Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tên thật là Trần Ngọc Trọng, sinh năm 1933 tại Nam Định.  Năm 1950, ông về sống tại Hà Nội và học vĩ cầm từ một người anh.  Trong một bài phỏng vấn của phóng viên Đức Tuấn, tòa báo Người Việt, tháng Tư, năm  2013, Ns Tuấn Khanh đã tâm sự rằng,  “Người thầy đầu tiên dạy nhạc cho ông là ông Nguyễn Văn Diệp, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Ns Tuấn Khanh chuyển sang học nhạc từ ba ông thầy người Pháp, cho nên chắc chắn những sáng tác của ông, không ít thì nhiều, đã chịu ảnh hưởng nền âm nhạc Tây Phương”.  

    Năm 1953, ông giành giải nhất của đài phát thanh Pháp Á về giọng hát.  Ông sáng tác cả hai thể loại:  tình ca và những ca khúc mang âm hưởng nhạc tiền chiến.  Đôi khi, ông viết theo lời yêu cầu của nhà xuất bản mà ông gọi là “Nhạc Đại Chúng”‘ một loại nhạc rất thịnh hành và ăn khách thời ấy.  Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Thương Hoài Thương, điển hình là bài Lệ Tình, Tuy Anh Không Nói.  Trần Kim Phú qua sáng tác Vì lỡ thương nhau.v.v… Ngoài việc viết nhạc, ông còn là ca sĩ với nghệ danh “Trần Ngọc”. 

    Năm 1955, Ns Tuấn Khanh di cư vào miền Nam Việt Nam.  Tại Saigon, ông đàn cho đài phát thanh và ban Giao Hưởng của trường Quốc Gia Âm Nhạc.  Nhạc phẩm đầu tay của ông là bài “Đò Ngang”, viết cùng với Ns Y Vân.  

    Sau năm 1975, ông ngưng mọi sáng tác trong vòng 7 năm và chuyển sang nghề dạy học tại tư gia.  Những lần vượt biên thất bại đã khiến ông vô cùng thất vọng, tưởng chừng mình không bao giờ có được cơ hội đặt chân lên miền đất tự do. Và lần vượt biên sau cùng, ông đã thành công.  

    Khi Đến Hoa Kỳ, ông được một nhà thờ Tin Lành bảo lãnh và ông đã sáng tác cả 100 bài nhạc đạo cho sứ đạo này.  Sau sáu tháng sinh sống tại San Jose, trong một buổi nói chuyện, ông đã theo lời mời của NS Phạm Duy, về sống tại miền nam California. Nơi đây, ông đã lấy lại nguồn cảm hứng và bắt đầu sáng tác lại từ đó.  Vào năm 2002, Trung tâm Thúy Nga mời ông cộng tác trong chương trình “Thúy Nga By Night 64:  Đêm Văn Nghệ Thính Phòng” với chủ đề vinh danh ba Nhạc sĩ:  Tuấn Khanh, Vũ Thành An và Từ Công Phụng. 

    Ns Phạm Duy đã nhận xét về dòng nhạc của NS Tuần Khanh như sau: “Tất cả trong các nhạc sĩ, đã suốt một đời sáng tác cho quê hương Việt Nam, qua bao luân lạc,  Ns Tuấn Khanh là một nhạc sĩ đã nối tiếp con đường sáng tác nhạc tiền chiến và rất thành công”.  

    Năm 1982, ông đinh cư tại thành phố Garden Grove, California. Tại đây, ông và gia đình mở một tiệm phở mang tên Hoa Soan Bên Thềm Cũ . 

    Những sáng tác của Ns Tuấn Khanh đều được cả khán giả trong và ngoài nước trân trọng và yêu chuộng.  Ông đã sáng tác hơn 100 nhạc phẩm. Những nhạc phẩm được lưu truyền qua nhiều thế hệ, phải nhắc đến là:  Hoa Soan Bên Thềm Cũ,  Chiếc Lá Cuối Cùng, dưới Giàn Hoa Cũ, Quán Nửa Khuya, Nhạt nhòa,  Nỗi Niềm, Một Chiều Đông,  Kiếp Sầu Đau, Chiều Biên Khu, Tại Vắng Anh, Kiếp Sau, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, là những bài nổi tiếng… Ông tâm sự, phần lớn mỗi bản nhạc của ông sáng tác đều mang một niềm tâm sự và phát xuất từ những cảm xúc có thật của ông.  Chẳng hạn, nhạc phẩm “Chiếc Lá Cuối Cùng” là nhạc phẩm kể lại chuyện tình ngang trái của chính ông.  Và nhạc phẩm “Nhạt Nhòa” là sáng tác của ngày chia tay người yêu trong một hoàn cảnh gần như chạy trốn, vội vã và chan hòa nước mắt.  Ông cho biết ý nhạc của bài hát này đã đến với ông và ông đã ôm ấp & nuôi dưỡng nó trong tim mình trong suốt năm ngày lênh đênh trên biển cả…….

    Chương trình văn nghệ do Gs Quyên Di và nhóm âm nhạc của Liên Nhóm NVNT & TTG phụ trách.  Mở đầu chương trình ban tam ca “Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên” đã trình bày nhạc phẩm bất hủ của Ns Tuấn Khanh “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”.  Đặc biệt sau đó, phần trình diễn nhạc phẩm “Dưới Giàn Hoa Cũ” của Cs Chung Tử Lưu với sự phụ diễn của nhóm vũ TTG gồm Khánh Lan, Thanh Châu… đã khiến cho chương trình tăng thêm phần sinh động và hào hứng. Chương trình nối tiếp với những nhạc phẩm nổi tiếng như:  Nhạt Nhòa, Quán Nửa Khuya, Một Chiều Đông, Chiều Biên Khu, Nỗi Niềm v.v….

    Trong suốt thời gian 3 tiếng rưỡi, hội trường NT Studio chìm trong yên lặng. Mọi người như để hết tâm hồn theo dòng nhạc, thưởng thức những khúc nhạc vàng và lắng nghe những lời chia sẻ của Ns Tuấn Khanh, về những cảm xúc của ông qua từng sáng tác, từng giai đoạn và những biến chuyển xẩy đến cho ông, theo dòng thời gian.

    Dưới sân khấu, Ns Tuấn Khanh ngồi yên lặng, hai tay ông ôm tấm plaque mà Liên Nhóm NVNT & TTG trao tặng ông, chăm chú theo dõi phần trình diễn. Mặt ông tươi sáng với nụ cười mãn nguyện luôn nở trên môi. Thỉnh thoảng, vài giọt nước mắt lăn dài trên má nhưng ông vẫn thản nhiên, không che dấu những giọt lệ hạnh phúc.

    Trước khi kết thúc chương trình, Ns Tuấn Khanh phát biểu cảm nghĩ của ông về buổi Vinh Danh và Chúc Thọ. Giọng ông nghẹn lại vì xúc động “Còn gì hạnh phúc cho bằng, đến cuối đời, tôi được mọi người nghĩ đến và cho tôi một buổi chiều vui như hôm nay, tôi không biết nói gì hơn”.   

    Bế mạc chương trình là phần cắt bánh Vinh Danh và Chúc Thọ Ns Tuấn Khanh. Chương trình kết thúc lúc 5:00 chiều. Bài “Hoa Soan Bên Thềm Cũ” được ban hợp ca Tiếng Thời Gian và thân hữu cùng hát lại lần thứ hai, rồi lại lần thứ ba, để tiễn chân ông …

    CS Bùi Thiện kể lại, trên đường về, Ns Tuấn Khanh không ngừng nói về những cảm xúc của ông và ông rất cảm động trước sự chân tình của GS Quyên Di và Liên Nhóm NVNT & TTG vì ông đã có một buổi sinh nhật thật hạnh phúc và khó quên.

    2:07 sáng ngày 26, tháng 11, 2019

    Khánh Lan 

  • Tin tức

    Đêm Tình Ca Tình Biển

    Việt Hải Los Angeles
    https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/2353196528104337

    Đêm Tình Ca Tình Biển đã đón nhận nhiều khen ngợi đêm hôm qua (7/28/19), nhà hàng Paracel booked kín – “full house”! Ngoài nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian và những ca sĩ chuyên nghiệp còn có sự tham dự của Ban Tứ Ca Xuân Điềm góp vui trong phần âm nhạc.

    Những bài ca nghe vang trong đêm Tình Biển của các nhạc sĩ gốc Hải Quân thuộc QLVNCH hay nhạc sĩ viết nhạc về HQVNCH như Trường Sa, Nguyễn Tâm Hàn, Thiện Lý, Hoàng Thông, Nguyên Vũ, Anh Thy, Trường Hải,… Điểm ghi nhận là phân nửa số khách là các cựu quân nhân HQVNCH cùng gia đình và thân hữu HQVNCH. Tôi nhận thấy có ông bà HQ Đại tá Phạm Mạnh Khuê (HQ Nha Trang Khóa 4, một trong những vị sĩ quan niên trưởng cao cấp trong giới HQ VNCH hiện nay), bên KQ có sự hiện diện của nhà văn. nhà thơ Võ Ý, tác giả của những tác phẩm tiêu biểu như “Lý Lịch Dọc Ngang của Thảo”, “Tổ Ấm Bay Về”, và “Tuyển Tập Võ Ý”, mà chức vụ cuối cùng của ông vào những ngày tháng binh lửa 1975 là cựu Trung tá KQ, Phi Đoàn Trưởng Bắc Đẩu 118, tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt khóa 17.


    Một ghi nhận khác là những nhân sĩ thuộc miền Nam California góp mặt như GS. Đỗ Anh Tài (Hội Cựu Giáo Chức VN Tại Hải Ngoại), GS. Dương Ngọc Sum (tổ chức Gia Đình Sư Phạm Sài Gòn), LS. Nguyễn Quốc Lân (Ủy Viên Giáo Dục, Chủ Tịch Học Khu Garden Grove), Nhà văn Nguyễn Quang (phu quân của cố Nhà văn Minh Đức Hoài Trinh, tác giả của những tác phẩm như Ông Giáo Làng, Ốc Mượn Hồn, Ngoại Tình, Thần Giao Cách Cảm,…), nhà báo Du Miên (TV đài VNA 57.3), nhiều và nhiều,…

    Đêm Tình Biển thành công về mục tiêu gây quỹ, một show hát nhạc Hải Quân VNCH hãn hữu, hiếm hoi vì gồm sự hiện diện của một số đông, đông nhất nhạc sĩ HQVNCH từ xưa đến nay. Nếu ai đã từng ở Nha Trang và Sài Gòn thì hoài niệm nét đẹp một thuở xa xưa khi màu áo trắng lính biển tô điểm phố biển Độc Lập (Avenue de la Plage) của vùng biển hữu tình Nha Trang, hay những kỷ niệm khôn nguôi về màu áo trắng HQVNCH tạo vẻ đẹp trên Bến Bạch Đằng, Sài Gòn khi xưa. Đêm Tình Biển nhắc nhớ trong tôi một ký ức của Hải Quân VNCH, cầu chúc đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi sẽ tồn tại qua nhiều thời gian cho đến khi chế độ CSVN vô dụng và phi nhân tính sẽ cáo chung như mục tiêu của sự hiện diện của Radio Đáp Lời Sông Núi. Xin hãy tiếp tục yểm trợ mục tiêu cao cả này, và xin cám ơn tất cả và tất cả, đặc biệt quý bạn hữu của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã bỏ nhiều thời gian và công sức cho Đêm Tình Biển. Được biết qua ông Trần Quốc Bảo hiện ĐLSN đang thu xếp một show hát cho vùng Sạn Jose vào cuối năm nay. Hẹn với quý thân hữu Bắc Cali trong những tháng sắp tới đây. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian Bắc California với 2 nghệ sĩ Phạm Thái và Nguyên Hồng sẽ tiếp tay với Radio Đáp Lời Sông Núi.

    Hoài niệm và chút lịch sử Hải Quân VNCH:

    Tôi nhớ khi tôi post bài bài này ra internet, có anh bạn hỏi tôi các địa danh như trường Brest (Pháp), trường OCS (Mỹ) nghĩa ra sao, Brest và OCS ở đâu. Nhân bài viết này tôi xin phép được sơ lược qua tí ti với các thân hữu chưa quen 2 đặc ngữ này.

    1/ Trường (Sĩ Quan) Hải Quân Hoa-Kỳ (Officer Candidate School– OCS) tại Newport, Rhode Island.

    Đây là trường đào tạo Hải quân Hoa Kỳ (tên tắt là OCS), tọa lạc tại Căn cứ Hải quân Newport, thuộc tiểu bang Rhode Island, cung cấp nhân tài hay đào tạo chuyên viên về ngành hải quân như các sĩ quan phục vụ trong ngành Hải quân Hoa Kỳ. Cùng với Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (USNA) và Naval Officer Training Corps Reserve (NROTC), OCS là một trong ba cách chính đăng vào sĩ quan hải quân Mỹ có lương bổng.

    Nguyên thủy Hải quân Mỹ mở ra hai chương trình học về lái tàu và ngành cơ khí tại trường Officer Candidate School (OCS) tọa lạc ở Căn cứ Hải quân Newport, Rhode Island, và trường bay Officer Candidate Aviation School (AOCS) tại NAS Pensacola, Florida. AOCS đào tạo sĩ quan phi hành cho hải quân, sĩ quan cơ khí về máy bay (Officers Aviation Maintenance Duty), và các chuyên viên (sĩ quan) tình báo không gian, trong khi trường OCS phụ trách đào tạo tất cả các ngành của Hải quân khác như chuyên viên (sĩ quan) lo về vũ khí tác chiến Surface Warfare, chuyên viên (sĩ quan) phục vụ Submarine Warfare, đặc biệt sĩ quan ngành tác chiến hải kích (SEAL), cũng như sĩ quan tham mưu.

    Do đó, tương ứng với bên Không Quân Hoa Kỳ có trường The United States Air Force Academy (USAFA hay Air Force Academy), tọa lạc ở hướng bắc Colorado Springs trong hạt El Paso, tiểu bang Colorado. Về Bộ Binh thì là The United States Military Academy tại West Point (USMA), thường được gọi tắt ngắn ngủn như “West Point”, “Trường Bộ Binh” (the Army), hay Học Viện (The Academy), tắt hơn nữa là “The Point”, trường tọa lạc tại vùng mang tên là West Point, thuộc hạt Orange (Orange county), của tiểu bang New York. Nên OCS là Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ hay trường Hải Quân Hoa Kỳ, cũng tương ứng với Học Viện Hải Quân Nha Trang hay trường Hải Quân Nha Trang của Việt Nam Cộng Hòa.

    2/ Trường (Sĩ Quan) Hải Quân Pháp, École Navale de Brest:

    École Navale là Học viện Hải quân Pháp phụ trách đào tạo sĩ quan cho Hải quân Pháp. Vai trò của họ là mang trách nhiệm trên tàu, tàu ngầm, hàng không hải quân, những công tác tác chiến hay điều hành trong phạm vi hải quân nói chung. École Navale và viện nghiên cứu hải quân (AIRNAV) tại vùng Lanvéoc-Poulmic, phía nam của thành phố Brest.

    Học viện được thành lập vào năm 1830 theo lệnh của vua Louis-Philippe. Thuở ban sơ viện được đặt trên các tàu, neo tại bến cảng Brest. Đến năm 1914, École Navale được di chuyển vào bờ tại Brest. Trong Thế chiến II, nhà trường đã bị phá hủy bởi chiến tranh do bom đạn và sau đó đã được chuyển đến gần làng Lanvéoc-Poulmic, tọa lạc đối diện của vịnh Brest (Rade de Brest). Tuy học viện vẫn ở vị trí cũ này, và đã chính thức được khánh thành bởi Tổng thống Charles de Gaulle vào năm 1965.

    Với nước Pháp thì Học Viện Không Quân Pháp được gọi là École de l’Air, thuộc hạng trường lớn (grande école) tọa lạc tại vùng Salon-de-Provence, có căn cứ Không Quân Salon-de-Provence, tọa lạc ở phía nam Pháp gần vùng biển Địa Trung Hải, có các địa danh Aix-en-Provence, Toulon và cảng Marseille. Pháp có trường đào tạo sĩ quan bộ binh là École Spéciale Militaire de Saint-Cyr (viết tắt là ESM, hay là “trường Bộ Binh Đặc Biệt Saint-Cyr”), các sĩ quan tốt nghiệp ở đây hãnh diện được gọi là “saint-cyriens”, hay là “cyrards”. Trường Bộ Binh Saint-Cyr tọa lạc tại trại binh Coëtquidan ở miệt Guer, thuộc vùng Brittany, hướng góc tây bắc nước Pháp, và ở hướng tây nam của tỉnh Rennes. Vùng Brittany cũng là nơi có thành phố biển Brest. Nếu OCS là Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ hay trường Hải Quân Hoa Kỳ, tương tự như Học Viện Hải Quân Nha Trang hay trường Hải Quân Nha Trang của Việt Nam Cộng Hòa, thì Học viện Brest của Hải quân Pháp, École Navale de Brest (một grande école) là nơi hãnh diện kinh qua cho các sĩ quan Hải Quân Pháp.

    Các vị sĩ quan Hải Quân tốt nghiệp ở Pháp và Mỹ về như Lê Triệu Đẩu (Khóa 4 Brest), Nguyễn Đức Vân (Khóa 1 Brest) và Nguyễn Tiến Ích (Khóa 4 Brest). Tôi nhớ khi theo học tại Đại học Kính Tế Thương Mại Minh Đức tại Sài Gòn, tức trường Đại học Kinh Thương (School of Economics and Business Administration), chương trình học theo mô thức các đại học tân tiến tại Bắc Mỹ và Tây Âu, tôi may mắn được thọ giáo 3 vị thầy gốc Hải quân VNCH chính hiệu nai vàng đạp lên lá vàng khô. Đó là các thầy Lê Triệu Đẩu (dạy môn Nghiên Cứu Tác Vụ), thầy Nguyễn Đức Vân (dạy môn Toán Kinh Tế) và thầy Nguyễn Tiến Ích (dạy môn Toán Thống Kê). Ở thế hệ của các thầy mộng ước xuất dương học kỹ thuật xứ người chẳng hạn tại các trường lớn Pháp Quốc như Hải Quân École Navale de Brest, Lục Quân Saint Cyr, hay Không Quân École de l’Air Salon de Provence,… có lẽ là ước muốn chung của những người trai thế hệ khi trở về xây dựng quê hương. Khi Hoa Kỳ vào Việt Nam, 3 vị thầy này lại xuất dương khăn gói quả mướp sang Hoa Kỳ tu nghiệp hoặc theo học bậc cao hơn. Tại Minh Đức, chúng tôi cố gắng nuốt môn học Nghiên Cứu Tác Vụ, tức Operations Research trong tên trong Anh ngữ, tên khác của nó là môn “Vận Trù Học”, là ngành học liên quan về lãnh vực toán học ứng dụng và khoa học hình thức (mô hình học), sử dụng các phương pháp toán giải tích và gồm phạm trù mô hình toán học, giải tích thống kê, và tối ưu hóa để tìm ra được lời giải đáp tối ưu hoặc gần tối ưu của những vấn đề ra quyết định phức tạp. Bài toán thường đề cập đến xác định kết quả cực đại (ví dụ như về lợi nhuận, hoạt động, hoặc sản lượng) hay cực tiểu (hầu đo lường sự lãng phí, rủi ro, hoặc chi phí) của một số vấn đề trong thực tế mà ngành kinh tế ứng dụng toán và thống kê cần thiết cho kỹ nghệ. Ngoài ra môn Operations Research hay Vận Trù Học còn nghiên cứu phân tích các cấu trúc những tình huống phức tạp, tiên đoán được hành vi của hệ quả cho quyết định trong việc quản trị xí nghiệp, nhờ đó có thể nâng cao khả năng hoạt động của tổ chức hay công ty. Vận Trù Học có nguồn gốc từ các nghiên cứu trong quân sự trước chiến tranh thế giới lần hai, và các kỹ thuật của nó đã được phát triển để có thể áp dụng trong nhiều ngành kỹ nghệ. Phải nói ba vị thầy này diễn giảng đề tài rành mạch, GS. Lê Triệu Đẩu đứng lớp trong phong thái nghiêm nghị, thuyết giảng thao thao về đề tài. GS. Nguyễn Đức Vân thì với bản tính xuề xòa, vui tươi, học trò mến ông vì… ông cho điểm rộng rãi, vì học trò nam thường bị ám ảnh bởi Nha Động Viên của thầy Đạm. Tôi được biết có lúc người ta muốn đôn Thầy Nguyễn Đức Vân (HQ Khóa 1) lên nắm chức Tư lệnh Hải quân, nhưng ông từ chối. Có lẽ GS. Vân là người của phạm vi hàn lâm chữ nghĩa chăng ? Còn GS. Nguyễn Tiến Ích diễn giảng bài vở say mê, dù phong thái chậm rãi trong uyên bác, cho bài tập homework khiến học trò học đại học chúng tôi học mệt nghỉ. Thầy Ích với cá tính hiền hòa, đượm nét thân thiện, thường nán lại sau giờ học giảng bài thêm. Nhắc lại những kỷ niệm này xin cám ơn dĩ vãng có quý thầy HQ, không biết ngày nay ra sao, ai còn, ai khuất như luật thiên nhiên của vũ trụ. Mong mọi sự an bình.

    GS. Nguyễn Tiến Ích còn theo học và tốt nghiệp tại trường Naval Postgraduate School (NPS) ở vùng Monterey, miệt bắc California. Những thành phố biển Monterey, Pacific Grove, Pebble Beach và Carmel nằm ven biển san sát nhau, thắng cảnh nơi đây mang nét thơ mộng, hữu tình. NPS có những khóa học về Điện tử (Electronic), Cơ khí (Mechanical) và Truyền tin (Communications) kéo dài ba năm; riêng khóa học về môn Operations Research khoảng hai năm rưỡi; và khóa học về môn Operations Management kéo dài độ 18 tháng. Sĩ quan bộ binh thường được cử đến theo học tại NPS khóa Operations Research. Vì NPS nổi tiếng về bộ môn này. NPS là trường đại học về văn hóa cao cấp nhất của quân đội Mỹ, được công nhận bởi hệ thống đại học Miền Tây Hoa Kỳ và trường có quyền cấp phát văn bằng tiến sĩ. Sau bậc cao học tại NPS, GS. Nguyễn Tiến Ích sang học bên đại học MIT tốt nghiệp tiến sĩ.

    Được biết số tham dự của 3 trong 26 khóa về tham dự đông người về tham dự nhất là Hải Quân các khóa 19 (Đệ Nhị Thiên Xứng), 21 (Đệ Nhị Nhân Mã) và 26 (Đệ Tam Kim Ngưu). Khóa 1 chỉ có Đề Đốc Trần Văn Chơn (Cựu Tư Lệnh HQVNCH). Khóa 2 không có đại diện tham dự, các khóa khác đều có đại diện.

    Trong buổi lễ Ban Tổ Chức yêu cầu mỗi khóa có người đại diện phát biểu cảm tưởng. Khóa 1 thì BTC hỏi người đại diện là vị niên trưởng cao cấp nhất có mặt tại buổi lễ là Cựu Đề-Đốc Trần Văn Chơn, Nguyên Tư-Lệnh Hải-Quân Việt Nam Cộng Hòa. Ông là vị Tư lệnh HQVNCH thứ 2 và thứ 7, và đã trải qua 12 tù dưới chế độ CSVN sau tháng 4 năm 1975.

    Một vị sĩ quan trong BTC hỏi vị Cựu Tư Lệnh có cảm tưởng hay tâm sự gì hôm nay không. Ông nay đã 95 tuổi, sức khỏe trông phương phi tráng kiện, có mái tóc bạc phơ, như tiên lão ông mở nụ cười vui vẻ đại để: “Mấy anh em muốn nghe chuyện gì ?”, vị đại diện hỏi rõ hơn nếu ông có kỷ niệm học ở quân trường, và nếu có chuyện huấn nhục. Vị niên trưởng cao cấp cười: “Hà hà hà… kỷ niệm với Hải quân thì có nhiều, nhưng trên khóa tôi không có ai, dưới khóa tôi cũng ít người, việc huấn nhục chưa phổ thông”. Tôi nghe thoáng từ xa đoán ra nét vui tươi dí dỏm và bình dị của ông. Thật vậy, các khóa sĩ quan hải quân như khóa 1 chỉ có 9 khóa sinh, khóa 2 được 16, từ khóa 1 đến khóa 6 sĩ số mỗi khóa không hơn 25 khóa sinh thời Pháp thuộc, thực dân không cho ta vươn lên nhiều. Cho đến khi sang thời VNCH và vì nhu cầu thời chiến, sĩ số các khóa tăng vọt như khóa 19 có 272 khóa sinh, khóa 23 có 282 khóa sinh và khóa 24 có 279 khóa sinh,…

    Trở lại câu chuyện của vị niên trưởng khóa 1 góp mặt góp ý có phần vui cho buổi lễ thì những năm 1951-1952 của niên kỷ trước, việc huấn luyện thuở phôi thai, có lẽ thủ tục hay học trình chưa tinh vi, chưa bài bản như các khóa sau theo thời gian trôi qua. Khi Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang được cải tiến theo nhu cầu tình thế. Huấn nhục trong các quân trường là giai đoạn tập sự chịu đựng những khổ hình, bullying and harassing at boot camp (period of a military training camp for new recruits with a strict discipline). Thời gian huấn nhục hay là đi là giai đoạn “hành xác” đã diễn tả đúng những gì mà một tân binh bước chân vào một quân trường phải chịu đựng về thể chất lẫn tâm lý. Tại các quân trường Hoa kỳ đây là thời gian CBT (Combat Basic Training) áp dụng cho tất cả binh sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan. Ảnh hưởng hệ thống đào tạo của các boot camp trong các quân trường Hoa Kỳ, Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang đã áp dụng theo chương trình huấn luyện như các quân trường đào tạo sĩ quan để những khóa sinh khắc phục được giai đoạn thử thách gian khổ về tinh thần cũng như thể xác, phải giữ kỷ luật nghiêm minh trong quân đội, khóa sinh bị khóa đàn anh đi trước quay trong những tuần lễ dáo đầu huấn luyện. Huấn nhục là một giai đọan cần thiết để các thanh niên chuyển đổi từ đời sống dân sự sang đời sống quân ngũ mà kỷ luât là điều quan trọng vì “Kỷ luật là sức mạnh của quân đội”. Các khóa sinh West Point hay Fort Benning phải trải qua sự huấn nhục. Ý niệm cần thiết. (Brimade, une période de formation de base de la survie, appliqué à l’école militaire pour les nouvelles recrues avec une discipline stricte.)

    Hôm thứ Sáu Tiền Đại hội tại Paracel, vợ chồng chúng tôi được tham dự cùng với Commandant Bùi Cửu Viên và madame nhà văn Bùi Hồng Thủy từ DC bay sang, khu vực chúng tôi ngồi còn có Commandant Phạm Mạnh Khuê cùng phu nhân, HQ khóa 20 Đoàn Hữu Lương cùng phu nhân, HQ khóa 9 Nguyễn Minh Thơ và phu nhân Phan Thị Nhàn từ Florida bay sang, HQ khóa 21 Phan Chí Thiện và phu nhân Lê Thị Ái Hiếu, nhà báo Nguyễn Thị Thanh Bình (chủ nhân tờ Phụ Nữ Việt, phu nhân của cố họa sĩ Long Ân), những vị HQ thân hữu như thi sĩ Đồng Văn, nhà văn Tam Giang Hoàng Đình Báu. Nghe nói có nhạc sĩ Trường Sa HQ Nguyễn Thìn từ Montreal, nhà báo HQ Phạm Kim Seattle và nhà thơ Cát Biển HQ Nguyễn Sáng từ DC có về tham dự đại hội, rất tiếc không được gặp.

    Buổi lễ của Hải Quân nên nhiều nhạc phẩm kinh điển, đặc trưng cho truyền thống của Hải Quân được trình bày như Hải Quân Hành Khúc, Tiếng Sóng Vân Đồn, Hoa Biển,… đến những bản tình ca như Sao Rơi Trên Biển, Một Lần Xa Bến, Thủy Thủ và Biển Cả, Lính Mà Em, Tình Ca Người Đi Biển,… đã được ca vang khi ta mường tượng lại dĩ vãng màu áo trắng tinh của lính thủy ngày nào tô điểm đậm những kỷ niệm trên đại lộ Duy Tân (Avenue De La Plage) của Nha Trang, hay trên Bến Bạch Đằng Sài Gòn (Quai Le Myre de Vilers có Hotel Restaurant Majestic) của thuở cũ xưa, và đêm nay đây màu áo trắng Hải Quân ấy hiện ra đầy tại Paracel.

    Tiếng ca hát liên hoan ngày vui hội ngộ của những cựu quân nhân thuộc binh chủng lấy phương châm “Tổ Quốc Đại Dương”, người lính biển bước lên tàu ra khơi, bỗng thoáng thấy mắt người yêu nhuốm nét buồn, Xa xôi vạn hải lý con tàu trong đêm sương và anh ngước nhìn vì sao đêm hẹn rằng tình đôi ta không hề phai…

    “Chiều nay ra khơi
    Thoáng thấy mắt em nhuốm buồn
    Đời anh là gió sương
    Anh đi khắp muôn phương…
    Chờ một người đi xa
    Áo trắng bay trong nắng tà
    Nhìn theo lệ ướt nhòa
    Khóc một người đi xa”

    Hạm đội HQVNCH trong nhiệm sở hải hành

    “Một lần xa bến bao nhiêu là buồn
    Xa xôi hải lý con tàu hoen sương
    Anh ngước nhìn vì sao đêm hẹn rằng:

    “Dù cho sông dài ngăn lối,
    Tình đôi ta không chóng phai…”

    Một bài hát bằng Anh ngữ ngân lên khi màn đêm buông xuống, không gian mịt mờ, người lính ra đi không sờn lòng chỉ mong người yêu nơi xa kia hãy chờ anh về, con tàu sẽ về bến…
    “When the night has come
    And the land is dark
    And the moon is the only light we’ll see
    No I won’t be afraid
    Oh, I won’t be afraid
    Just as long as you stand, stand by me”

    Trên đài cao chiến hạm anh nhìn vì sao rơi và nhắc nhớ tên em. Em ơi, đêm đêm tàu băng vượt trùng dương anh mong tìm gặp hoa trắng mang về tặng em, cho anh thì thầm tình mình trắng như hoa sóng đại dương…

    “Lênh đênh đài cao chiến hạm
    Anh nhìn vì sao rơi
    Nhắc nhớ tên em
    Ngày xưa anh thường ngắm sao trời
    Lạc đáy mắt mỹ nhân…”

    “Tại em khi xưa yêu hoa màu trắng
    Tại em suy tư bên bờ vắng
    Nên đêm vượt trùng
    Anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em
    Cho anh thì thầm
    Em ơi tình mình trắng như hoa đại dương…”

    Người lính thủy của sự thủy chung, dù bao ngư nhân xao xuyến quyến rũ, bao mỹ nữ công chúa dưới thâm cung lôi cuốn, ngàn đời người lính thủy sẽ không thay dạ đổi lòng. Hãy tin như vậy nhé…

    “Càng đi xa anh càng nhớ em
    Trước đại dương ngát xanh muôn trùng
    Kìa ngư nhân in hình trên sóng
    Bao nàng công chúa dưới thâm cung
    Em ơi! ảo hình kia lôi cuốn,
    Nhưng anh đã nói anh yêu em
    Thì ngàn kiếp vẫn không thay lòng…”

    Khi nào tàu về bến anh hẹn mình dạo phố, tay đan tay khi người tình chợt hỏi: “Gớm, sao anh đi gì mau vậy?”. Người lính thủy vững tin trả lời: “Lính Hải Quân Nha Trang mà em!”.

    “Tàu về bến anh hẹn mình dạo phố
    Tay chinh nhân đan năm ngón tay mềm
    Thường dỗi anh “Kìa đi gì mau vậy?”
    Anh mỉm cười khẽ nói: “Lính mà em!”.”

    *****************************************************************************

    FB Quoc Si is with FB Melinda Luu, FB Ngoc Quynh, FB Mong Thuy, FB Chris Chi, FB Thanh Huong, FB Nguyen Quang, FB Hoa Quan and FB Nguyen Minh Thieu.

    … Quốc Sĩ và bà xã Tina Phan , Kim Cương tham dự đêm dạ tiệc “ tình biển “ …. theo lời mời của anh Việt Hải , Trần mạnh Chi nhóm NVNT & TTG ….

    VHLA noted:

    phụ thêm vào bài của ca nhạc sĩ “chưa bao giờ Già” (Mr. Forever Young): với nhiều ca nhạc sĩ tham dự : ca sĩ Sơn Ca, Thế Sơn, Mc ThụyVy, Trúc Lam, Băng Nhi, Lê Hoàng Hiệp, Trang thanh Lan, Mỹ Lan, Đỗ Trọng Thái, Huỳnh Anh, ban nhạc Trung Nghĩa, Phạm Tuấn, Ái Liên, Lâm Dung, Phan Quang, Ngọc Quỳnh, Mc Ngô Thiện Đức, Bùi Quỳnh Giao,….
    …. nổi bật nhất trong đêm nay là tiết mục trình diễn của nhóm múa tiếng thời gian trong liên khúc: TÌNH CA NGƯỜI ĐI BIỂN , LÍNH MÀ EM với Mạnh Bổng, Khánh Lan, Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Châu, Thanh Châu, Ánh Nhật, Henry Lương qua màn trình diễn kinh điển này, ngay lập tức đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi với những tràng pháo tay hâm nóng cả hội trường. Một điểm son cho phần design trang phục của Mộng Thủy …. Cả nhóm hẹn tuần tới sẽ ghé thăm Quốc Sĩ tại NT Studio của 2 nghệ sĩ trẻ hoa nhã, dễ thương Vương Trang và Duy Nhật …

    Subject: TÌNH BIỂN @ Show Mỹ Lan:
    https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/2332511693506154

    Không quên cám ơn 2 phó nhòm thân quen “FB sleek poses” Hoa Quan và Nguyễn Minh Thiều cùng nhiều bạn hữu chụp ảnh, sharp flashers, esp. Nhiếp ảnh gia Dương Viết Điền,…

    Ghi nhận ngắn: VHLA.
    ———————————————————————————————-
    Nhà văn Minh Đức Hoài Trinh là bà muội của Đại tá HQ Võ Sum và Chuẩn tướng KQ Võ Dinh

    Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh – Radio Télévision Francaise (ORTF), và Nguyễn Quang:
    http://www.ninh-hoa.com/…/DS2018_VietHai-EmConNhoMuaXuan.htm

  • Tin tức

    Chân thành cám ơn

    Thưa các anh chị em trong hai ban Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian,

    Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã tổ chức một chương trình nhạc hấp dẫn, trong đó có phần mừng sinh nhật của cá nhân Lê Văn Khoa. Rất cảm động khi được mọi người hết lòng, hết ý và trọn tình dành cho tôi. Nhờ đó tôi được nhận lại nhiều người quen và gặp nhiều người mới. Trong số khách dự, có cả những người mà tôi không mơ tưởng có thể được gặp vì họ đến từ bờ biển miền Đông, Baltimore, Maryland, qua tận bờ biển miền Tây chúng mình.

    Đặc biệt cám ơn ban tổ chức đầy nhiệt tình lo chương trình thật chu đáo.

    Xin ban chương trình và ban giới thiệu chương trình nhận lời cám ơn của chúng tôi.

    Tôi chân thành cám ơn ban nhạc đã trình diễn xuất sắc và đệm nhạc cho ca sĩ thật đúng mức.

    Xin cám ơn các ca sĩ nhà và ca sĩ thân hữu gồm toàn danh ca tên tuổi trong làng nhạc Việt đã hát thật hay nhiều bài đơn ca và song ca.

    Tôi rất biết ơn ban vũ không nề trời nóng, đã trình diễn hết sức mình cho chương trình luôn linh động.

    Xin tha lỗi cho tôi không nêu tên từng người vì thế nào cũng thiếu sót, trở thành xúc phạm khó tha thứ. Xin anh chị em biết rằng tôi cám ơn tất cả mọi người góp phần trong chương trình. Khán giả cũng là thành viên góp phần cho chương trình nói chung. Xin được thân ái cám ơn quý vị.

    Chỉ tiếc một điều là chúng ta không có thì giờ tâm tình với nhau. Thôi, để dành một thời gian khác tại một địa điểm khác thích hợp hơn, chúng ta có thể chia sẻ buồn vui trên con đường phục vụ văn hóa Việt nơi xứ người.

    Xin anh chị em giữ vững tinh thần, trau dồi nghệ thuật chân chính để một ngày không xa, cùng nhau đem nghệ thuật của mình về hòa nhập với người yêu Tự Do tại quê nhà.

    Một lần nữa, xin toàn thể anh chị em nhận lời cám ơn thật lòng của chúng tôi.

    Sau hết, xin lỗi quý vị vì gửi thư cám ơn này hơi trễ. Chiều hôm qua bận một chương trình khác đến khuya nên mệt nhiều, không tiện viết thư sớm.

    Chân thành,

    Lê Văn Khoa và Ngọc Hà

  • Tin tức

    Nhà văn Nguyễn Tường Thiết: Một hậu duệ của Nhất Linh.

    Khi nói về nhà văn Nguyễn Tường Thiết tôi muốn bắt đầu bằng đề tài Chợ An Đông, vì nơi đó có nhà ông ở ngày xưa trước năm 1975. Nào hãy kể sơ đôi nét về Chợ An Đông, mặt tiền là đường An Dương Vương, thuộc Quận 5, Chợ Lớn, mặt sau là đường là Hùng Vương. Hai bên hông là 2 dãy phố chợ đường Nguyễn Duy Dương và đường Yết Kiêu. Chợ An Đông hình thành từ năm 1951. Trước năm 1975, Chợ An Đông có một “tụ điểm” địa phương quan trọng là quán cơm gà Siu Siu, cửa tiệm này được nhà văn Nguyễn Tường Thiết đưa vào văn học.

    Thật vậy, tác giả kể về “Căn nhà 39 An Ðông của mẹ tôi”, đầy ắp những kỷ niệm vui buồn. Dĩ nhiên cuộc sống này có khi vui, có lúc buồn.

    “Căn nhà 39 An Ðông của mẹ tôi” chôn dấu bao kỷ niệm. Vui khi tôi chăm chú đọc về sự huyên náo cảnh phố chợ An Đông, có hôm minh tinh Thẩm Thúy Hằng tìm bà “Nhức Linh” vì ý muốn thực hiện dựa phim theo tác phẩm “Đoạn Tuyệt”, tác giả Nguyễn Tường Thiết mô tả kỷ niệm như sau…

    “Ði sau Thẩm Thúy Hằng là một lô một lốc những đứa trẻ con bận quần xà lỏn mình trần trùng trục. Tôi cũng mặc quần xà lỏn nhưng lịch sự hơn chúng nó một tí là có cái áo sơ mi cộc tay khoác lên. Cô Thẩm Thúy Hằng thì cố nhiên ăn mặc sang trọng lộng lẫy lắm. Minh tinh điện ảnh mà! Vừa bước vào nhà cô nói oang oang: “Trời đất ơi! Cả cái chợ An Ðông này hổng ai biết nhà ông Nhứt Linh ở đâu. Mãi sau tôi mới nhớ ra là bà Nhứt Linh bán cau. Thế là mấy đứa nhỏ ùn ùn dẫn tôi tới đây”. Ðoán biết ngay cô nữ tài tử này đến nhà tôi về chuyện gì nên tôi nói: “Mẹ tôi không có nhà. Nhưng cô có thể nói chuyện với tôi nếu có liên quan đến bản quyền những tác phẩm của ba tôi” – “Ðúng dzậy! Tôi đến để điều đình về việc thực hiện cuốn phim dựa trên cuốn tiểu thuyết Ðoạn tuyệt của nhà văn Nhứt Linh”. Rồi cô Thẩm Thúy Hằng chìa tấm danh thiếp mời tôi đến tư gia của cô để bàn về chi tiết. Cô nói chưa có quyết định ai sẽ là người đóng vai Loan còn vai Dũng thì có thể do nghệ sĩ La Thoại Tân đóng. Lúc tiễn cô ta ra ngoài tôi nhìn tấm thân khá đẫy đà của cô và thầm nghĩ trong bụng cô này mà đóng vai Loan thì hỏng béng nó cả cuốn tiểu thuyết của bố tôi. Tuần lễ sau tôi gặp Thẩm Thúy Hằng lần thứ hai tại nhà cô ở đường Duy Tân. Mấy tháng sau không hiểu vì lý do gì cô cho biết bỏ ý định thực hiện cuốn phim Ðoạn tuyệt.

    Chuyện cô Thẩm Thúy Hằng đến nhà mẹ tôi làm xôn xao dân chợ một dạo. Nhưng đó không phải là lần đầu tiên họ được dịp chiêm ngưỡng tận mắt những nghệ sĩ nổi tiếng. Cặp nghệ sĩ cải lương Kim Cương – Hùng Cường một buổi chiều nọ cũng làm náo động đám trẻ con khi họ đến ăn ở quán cơm gà Siu Siu.
    Bữa đó tôi đang ngồi học bài trên gác thì có tiếng gọi ơi ới ở dưới đường: “Kim Cương tụi bay ơi!” – “Hùng Cường tụi bay ơi!”. Tôi bèn ra đứng ở ban công nhìn xuống. Trẻ con mấy chục mạng từ trong chợ chạy túa ra đường đứng thành hình vòng cung lớp trong lớp ngoài chung quanh quán cơm gà. Có vài người lớn trong đám nhưng họ chỉ đứng nhìn ở xa. Mấy đứa nhỏ đứng hàng đầu tiến sát lại gần cái bàn ăn của hai thực khách nhìn trân trân vào tận mặt cô Kim Cương, thần tượng của chúng mà trước đó chúng chỉ được thấy trên màn ảnh TV. Rồi bất ngờ trong đám con nít đồng loạt có tiếng vỗ tay, vừa vỗ tay vừa reo hò, rất đúng nhịp: “Kim Cương nhai! Kim Cương nuốt!”. Tức mình, tài tử Hùng Cường đang ăn đứng lên phùng má trợn mắt nhìn đám trẻ. Tưởng nghệ sĩ này làm trò hề, lũ trẻ lại rộ lên cười. Ông Siu Siu đang chặt thịt gà, xách con dao phay chạy ra xua tay nói lớn: “Hê! Ðể cho người ta ăn lớ! Ðể cho người ta ăn lớ!”. Ðám trẻ rãn ra xa thôi hò hét nhưng không chịu đi, cứ đứng quanh đó mà nhìn cho tới khi cặp nghệ sĩ ăn xong lên xe. Cứ như thế từ trên ban công căn nhà của mẹ tôi tôi ngắm cảnh sinh hoạt phía dưới không bao giờ chán mắt. Nội nhìn ông Siu Siu chặt thịt gà đã thấy mê! Con gà bóng mỡ nằm ngửa trên thớt. Một nhát dao phay bổ ngọt trên bụng. Rồi phập phập! Hai cái đùi gà văng ra. Bằng bốn đầu ngón tay trái ông Siu Siu chặn cái đùi gà, chặn kín chỉ chừa một khoảng hở. Phập! Con dao phay bổ sát móng tay. Rồi cứ thế các ngón tay ông ta lùi dần, lùi đến đâu con dao phập sát tới đó. Phập! Phập! Phập! Thoắt cái, đùi gà đã được chặt thành từng khúc nhỏ đều đặn. Xúc những miếng gà đã chặt bằng lườn con dao phay ông trải thịt gọn ghẽ lên một chiếc đĩa trắng, rắc một ít hành lá lên trên, thế là đĩa gà được mang cho khách, cùng với những bát cơm gà nóng vàng ngậy bốc khói cộng thêm hai thứ nước chấm, một chén xì dầu có những lát ớt đỏ và một chén gừng băm trộn dấm. Trong bao nhiêu năm quan sát ông Siu Siu chặt thịt gà tôi cứ bị ám ảnh bởi một ý nghĩ và ý nghĩ này không ngớt theo tôi cho tới tận ngày nay, hơn bốn mươi năm sau. Ðó là có bao giờ ông ta lơ đễnh trong lúc chặt thịt? Tôi không dám nghĩ tiếp vì cái hậu quả mà tôi hình dung thấy nó kinh khiếp quá!…”

    Dĩ vãng cũng có cái buồn của tác giả Nguyễn Tường Thiết trong phong văn sau đây:

    “Chúng tôi chia tay. Ðó là hình ảnh sau cùng tôi ghi nhớ trước khi tôi giã từ vĩnh viễn căn nhà chúng tôi đã sống suốt 20 năm, căn nhà An Ðông của mẹ tôi….

    Hai mươi mốt năm trôi qua trên đất Mỹ nhanh như một chớp mắt. Năm 1996 chúng tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên và có dịp ghé chợ An Ðông thăm căn nhà cũ. Căn nhà nay đã đổi chủ. Bảng hiệu cau Cẩm Lợi thay thế bằng bảng tiệm vàng Kim Xuyến. Trong lúc vợ con tôi đi sắm đồ trong chợ An Ðông (nay được tân trang phía trong với một dẫy cầu thang cuốn) tôi đứng trước cửa tiệm vàng nhìn lên cái ban công trên cao nhớ lại những giờ phút xa xưa đứng trên đó nhìn xuống cái quán Siu Siu ở dưới này bây giờ không còn nữa, nhớ lại cả một thời thanh xuân, thời tuổi trẻ của mình mà lòng bồi hồi.

    Ðã bao nhiêu nước chẩy qua cầu. Mẹ tôi không còn nữa. Sau biến cố năm 1975 mẹ tôi đã sống thêm được 6 năm tại căn nhà An Ðông ấy và chứng kiến bao nhiêu cảnh tang thương của cuộc đổi đời. Tuy mẹ tôi được nhà cầm quyền mới để yên không làm khó dễ như bà vẫn hằng lo ngại (do tên tuổi bố tôi), nhưng bà đã trải qua bao cảnh chia ly tử biệt trong gia đình. Mẹ tôi chứng kiến chị cả tôi, chị Thư, chết trong một tai nạn xe cộ vào năm 1976, anh Thạch tôi bị đi tù cải tạo ở miền Bắc, anh chị Triệu tôi vượt biên, bị bắt, bị tù, rồi vượt biên nữa. Những người con của bà, người chết người bỏ đi xa, căn nhà vắng dần bóng người, mẹ tôi nhiều lúc sống thui thủi một mình trong căn nhà An Ðông. Người chăm lo hầu hạ bà sau này nhiều nhất là chị Thạch và… chú Tiều. Vâng, chú Tiều, con người điên điên khùng khùng ấy không ngờ lại là người rất có tình nghĩa, tận tụy chăm lo cho mẹ tôi cho đến những ngày cuối của đời bà.

    Theo lời chị dâu tôi, chị Thạch, sau năm 1975 chú Tiều ở hẳn trong nhà mẹ tôi. Chú giặt dũ, nấu cơm, đóng cửa, mở cửa, coi nhà và trông nom mẹ tôi. Hồi đó trộm cướp nhiều lắm, mẹ tôi nhiều lúc ở nhà một mình nên sợ, may mà có chú Tiều bảo vệ. Ðêm đêm chú giắt con dao phay sáng quắc đi tới đi lui trước nhà khiến đám bụi đời và lũ trộm cắp rất ngán không ai dám bén mảng đến cửa. Anh Thạch tôi sau 5 năm trời cải tạo trở về sống ở chợ An Ðông. Ngày anh trở về là ngày vui nhất của mẹ tôi. Anh là người duy nhất trong số các con của mẹ tôi được sống với mẹ trọn một năm chót của đời bà. Tháng Tư năm 1981 mẹ tôi bị bệnh nặng. Anh cả tôi từ bên Pháp về Việt Nam đưa mẹ tôi sang Paris chữa bệnh. Ðến phi trường Orly mẹ tôi được chở thẳng đến bệnh viện. Bà qua đời tại đó ít lâu sau, thọ 74 tuổi.

    Trong cuộc đổi đời khủng khiếp ấy tội nghiệp nhất phải nói là ông chủ quán cơm gà Siu Siu. Vào năm 1975 sau 20 năm làm ăn phát đạt ông Siu Siu trở nên giầu có. Ông đã tậu 3 căn nhà sát nhau trong một dẫy phố đường Nguyễn Duy Dương, cạnh trường Trí Dũng, và biến 3 căn này thành một nhà hàng bán cơm gà thật lớn, trong khi ông vẫn duy trì cái quán cóc nhỏ ở sát cạnh nhà mẹ tôi. Vẫn theo lời kể của chị Thạch thì khi những người cộng sản vào trong Chợ Lớn họ niêm phong và tịch thu tất cả những nhà hàng lớn của Hoa kiều, chỉ cho hoạt động những nhà hàng nhỏ bán buôn lẻ tẻ. Ông Siu Siu bỗng nhiên một lúc bị tước đoạt cả 3 căn nhà. Còn quán cóc thì ông sang lại cho chú Sáng, một người bà con của ông. Tháng Sáu năm 1978 những thương gia trong Chợ Lớn hùn nhau tổ chức một cuộc vượt biên bằng tàu. Ông Siu Siu và toàn gia đình ông tham dự trong chuyến đi ấy. Ra khơi không may tàu chìm. Toàn thể gần trăm người trên tàu không một ai sống sót chỉ trừ một mình ông Siu Siu. Ông bám vào một tấm ván theo sóng biển trôi tấp vào bãi biển tỉnh Bến Tre. Dân chúng địa phương báo cho công an biết và ông được chở vào bệnh viện cứu sống. Sau khi điều tra lý lịch biết ông Siu Siu ở chợ An Ðông họ điện cho công an phường An Ðông để xin giải ông về quận 5. Ông Siu Siu sau đó trở thành người mất trí. Không còn nhà cửa để ở ông sống lây lất ngay dưới mái hiên căn nhà cũ của mình ở đường Nguyễn Duy Dương. Rồi giống như chú Tiều ông bắt đầu điên khùng nói năng lảm nhảm. Nhưng tệ hơn chú Tiều ông phải ngửa tay xin từ gói xôi, gói bắp của những người qua đường để sống, những người mà chỉ mấy năm trước đã là thực khách thường xuyên của quán cơm gà rất nổi tiếng của ông.

    Còn chú Tiều nhờ trời thương nên có hậu vận khá. Sau khi mẹ tôi qua Pháp, chị dâu tôi và anh Thạch là hai người sau cùng ở lại chợ An Ðông. Khi anh chị Thạch quyết định về ở Thủ Ðức anh chị đã sang căn nhà 39 An Ðông cho bà Kim Xuyến. Bà Xuyến sửa lại căn nhà để mướn một tiệm vàng khang trang đẹp đẽ. Theo lời chị Thạch thì căn trên gác được sửa sang gắn cửa kính lắp máy lạnh và đặc biệt để dành riêng cho chú Tiều ở. Chả là bà Kim Xuyến có nhà riêng 3 tầng ở đường Lý Hồng Phong nên bà không ở tiệm vàng. Mỗi sáng bà đến chợ An Ðông bán hàng. Chiều đến bà cho vàng vào trong két sắt (cái két sắt lớn của mẹ tôi để lại) khóa két lại rồi giao nhà cho chú Tiều coi giữ. Ðêm đêm chú Tiều giắt con dao bên lưng, đi tới đi lui, giống như trước kia chú đã làm thế để bảo vệ mẹ tôi, do đấy mà không một tên bất lương nào dám bén mảng đến trước cửa căn nhà số 39. Bà Xuyến về nhà riêng có thể yên tâm ngủ vì tiệm vàng đã có chú Tiều canh giữ. Một người khùng điên, không tài cán, không người thân thích, mà lại được tín nhiệm giao phó trông coi cả một tiệm vàng… Ðúng là chuyện khó tin nhưng có thực!

    Sáu năm sau, năm 2002, chúng tôi lại trở về Sài Gòn và đến thăm lại căn nhà cũ một lần thứ hai. Tiệm vàng Kim Xuyến không còn ở đó nữa. Từng dưới nhà nơi chỗ hai cửa sắt trông ra hai mặt đường đã bị bịt tường kín bưng. Trên lầu những ban công được che bằng những song sắt chắc chắn. Chúng tôi đoán chủ nhân mới là sở hữu chủ của cả hai căn 39 và 41, họ dùng căn 41 làm chỗ buôn bán và dùng căn nhà cũ của mẹ tôi làm kho chứa hàng. Lần đó cũng là lần sau cùng tôi nhìn thấy căn nhà An Ðông cũ của mẹ tôi. Bức tường kín mít đã hoàn toàn chắn tôi với quá khứ. Tôi bâng khuâng tự hỏi không biết số phận của chú Tiều bây giờ ra sao, còn sống hay đã chết? “

    Đọc tác phẩm “Căn nhà An Ðông của mẹ tôi” của Nguyễn Tường Thiết tức cười ở mục “xả xui”, chuyện kể ông được tiền nhuận bút từ tạp chí Văn. Nhà văn của những tác phẩm “Ngồi lại bên cầu” và “Nửa đêm thức giấc”; cũng như dịch giả của những sách Sứ mệnh văn nghệ (Discours de Suède, diễn văn đọc tại lễ nhận giải Nobel Văn chương của Albert Camus, và Sự đã rồi (Les jeux sont faits của Jean-Paul Sartre. Trần Phong Giao dịch chung với Nguyễn Xuân Hoàng)…. Nguyễn Tường Thiết nhận quà “xả xui” của ông “Nửa đêm thức giấc” như sau:

    “Ở trên lầu bốn của chung cư là lầu thượng có mở câu lạc bộ là chỗ giải trí cho lính Mỹ. Ðêm đêm tiếng nhạc và tiếng trống thình thình từ trên đầu chúng tôi dọng xuống. Quân đội Mỹ đi đến đâu thì thế nào mà chẳng có đoàn nữ binh lén lút hoặc công khai lảng vảng đâu đó để phục vụ. Nhưng tôi chỉ phỏng đoán thế thôi chứ không tài nào phát hiện được. Chợ An Ðông bề ngoài trông vẫn nghiêm túc. Không một bóng dáng chị em ta nào lảng vảng. Thuở ấy nhóm bạn của tôi chia đôi. Một số ít đậu tú tài xong thì nhập ngũ. Số còn lại đông hơn có tôi trong đó tiếp tục đại học và được “hoãn dịch vì lý do học vấn”. Có một thông lệ là mỗi lần có đứa nào từ mặt trận về phép Sài Gòn thì đám hậu phương chúng tôi phải chung tiền để bao nó đi chơi bời mà chúng tôi gọi là đi “xả xui”. Xả xui thì độc có hai chỗ chúng tôi biết đến là Ngã Ba Chú Ía và ngõ Lê Văn Duyệt đối diện Quân Vụ Thị Trấn. Cả hai chỗ này đều dơ dáy kinh khiếp nhưng tụi nó ở trong rừng cả năm kẹt quá cỡ, được xả là khoái rồi, chẳng bao giờ chê bai.

    Thế rồi bất ngờ một hôm tôi được dẫn đến một cái động rất sang mà lại chẳng phải đi đâu xa xôi. Nó ở ngay trên đầu chúng tôi, lầu ba chung cư An Ðông! Anh bạn văn Trần Phong Giao của tôi ơi! Anh ở dưới suối vàng hãy thứ lỗi cho tôi tiết lộ chuyện này. Nói đến chung cư An Ðông mà không nhắc đến anh và kỷ niệm này thì quả thiếu xót. Anh Giao hồi đó là chủ bút của tạp chí Văn. Anh là một người thật dễ mến, thật “tình thân” như anh luôn luôn viết thế khi kết thúc một bức thư gửi bạn bè. Năm đó anh xuất bản cuốn Tuyển tập Nhất Linh, trong đó có đăng bài “Niềm vui chết yểu” của tôi. Sách xuất bản xong, một bữa anh lái xe mô-bi-lét đến tìm tôi ở chợ An Ðông. Gặp tôi ở trước cửa nhà anh móc ngay trong túi một cái phong bì, nhưng anh không đưa phong bì cho tôi, chỉ nói: “Trong này có 500 đồng tiền nhuận bút của anh. Anh có hai lựa chọn. Một là anh nhận cái phong bì này. Hai là anh nhận một món quà khác tương đương với giá tiền”. Thấy tôi lưỡng lự anh nheo mắt bảo tôi: “Món này độc đáo lắm. Bảo đảm anh sẽ thích”. Rồi không để tôi lựa chọn anh ra lệnh: “Ði theo tôi!”. Nói xong anh khóa xe mô-bi-lét, lững thững bước đi trước. Ra đường Nguyễn Duy Dương anh dẫn tôi đến một cái cầu thang lên lầu ba của khu chung cư chúng tôi ở. Tôi đi theo anh mà lòng ngờ ngờ vực vực. Chưa bao giờ tôi bước chân lên lầu ba. Chúng tôi đi qua một hành lang rất dài, hai bên hành lang là một dẫy cửa phòng đóng kín, tôi có cảm tưởng như là mình đang đi trong hành lang của một khách sạn lớn. Ðến một phòng nọ anh gõ cửa. Cửa mở. Ðầu của một cô gái Tàu thò ra. Chúng tôi vào phòng. Anh Giao nói mấy câu với cô gái rồi đưa cho cô ta cái phong bì. Xong anh lui ra, nháy mắt với tôi một cái, rồi khép cửa lại. Tôi nhìn căn phòng rộng trống hổng chỉ có một cái giường nệm lớn trải khăn trắng ở giữa phòng trong lòng phân vân không biết phải làm gì. Trong lúc đó cô Tàu vào buồng tắm mở nước vặn vòi hoa sen. Lát sau cô trở ra không mặc quần áo gì cả chỉ quấn một cái khăn tắm quanh người rồi cô ta ra hiệu tôi cởi quần áo để vào phòng tắm chung với cô.

    Một tiếng đồng hồ sau bước xuống cầu thang tôi lẩm bẩm: “Thằng cha Giao này tài thiệt! Hắn ở xa tít thế mà biết hết mọi chuyện ở ngay trên đầu mình”. Trong đời viết văn vốn không nhiều nhặn gì cho lắm của tôi đây là lần đầu tiên cũng là lần duy nhất tôi có tiền nhuận bút. Mà may quá tôi lại không nhận cái tiền nhuận bút ấy….”

    Động từ ”xả xui”nghe rất vui và có tính lý số hên xui nữa. Những street slangs tôi vẫn nhớ ngày xưa như “đá gà”, “đeo áo mưa”, “xả xui” , “ủi bãi”, “thổi kèn”, “xào khô”,… Mới đây sau 43 năm xa xứ tôi tình cờ đọc tác phẩm Thần Thánh Không Biết Yêu của nhà văn Nguyễn Thi Thanh Bình,, tôi tìm cái từ ngữ của thế kỷ trước, một thoáng kỷ niệm vui vui… “bắt bò lạc”. Quả thật, đọc Nguyễn Tường Thiết, ông có những văn tự dí dỏm, hóm hỉnh, và tinh nghịch.

    Tác phẩm khác đưa gần gũi với phong văn của Nguyễn Tường Thiết là bài “Bãi Ô Quắn”, Vũng Tàu. Quê ngoại tôi ở thị xã Vũng Tàu. Câu truyện về nguồn gốc của Bãi Ô Quắn hay tên khác của nó là Mũi Nghinh Phong vào thời Pháp được gọi là Pointe au Vent. Người Việt đọc trại ra hai từ “au vent” thành Ô Quắn, sau đó lại dịch Pointe au Vent thành Mũi Nghinh Phong. Bãi tắm Ô Quắn, nay rất ít có du khách hay dân địa phương xuống tắm biển ở nơi đây vì dòng chảy của nước rất nguy hiểm. Về hình thể, địa thế thì Mũi Nghinh Phong là mũi đất vươn dài ra phía Nam bán đảo Vũng Tàu. Nghinh Phong có nghĩa là đón gió. Mũi đất nầy đón gió 4 mùa, khí hậu mát mẽ dễ chịu. Mũi đất này vươn dài ra biển tạo hai Vịnh lớn và hai bãi tắm nổi tiếng, bãi Vọng Nguyệt (hay Ô Quắn) và bãi Hương Phong (hay bãi Dứa). Chữ Ô Quắn hay tên Tây “Au Vent” như vừa đề cập, có nghĩa là gió. Ở đây gió nhiều, nên người ta đặt tên mũi đất này là Nghinh Phong rất đúng nghĩa, và bãi tắm ở đây là Ô Quắn, bãi tắm nhiều gió. Nghinh Phong đón gió thổi suốt năm như vậy, gió biển mát rượi khi ta ghé đây hóng gió biển. Xa xa ngoài khơi là bồng đảo Hòn Bà… Bãi Ô Quắn hay Vọng Nguyệt rất nổi tiếng vì thắng cảnh rất đẹp. Nếu quý vị độc giả thích sóng lớn, thích một bãi tắm riêng rẻ, đây là bãi tắm của quý vị vậy, vui trượt sóng. Ở đây sóng nhiều, nước trong và sạch, hơi sâu hơn ở bãi Trước và bãi Sau. Những lúc hoàng hôn phủ xuống không gian Au Vent khi trăng lên, ngắm nhìn những làn sóng bạc tung tăng nô đùa ở đây lấp lánh, ôi sao đẹp tuyệt vời quá…

    Những tiểu thuyết hay phim tình cảm lấy biển làm bối cảnh dựng phim như Titanic, Endless Love, truyện tình yêu tuổi trẻ lãng mạn hay N’oublie Jamais (của Nicholas Sparks, The Notebook), tình cảm trẻ trung giữa cặp đôi Noah và Allie. Truyện Au Vent của nhà văn Nguyễn Tường Thiết cũng mang nét lãng mạn như “P.S.: I love you” (của nhà văn nữ Cecelia Ahern, P.S. – Je t’aime) giữa 2 người trẻ Holly và Gerry. Nguyễn Tường Thiết kể chuyện “Bãi Pointe Au Vent”, môt chuyện tình cảm man mác nhẹ nhàng, đan xen nét lãng mạn của chuyến đi chơi ở Bãi Ô Quắn có hai mẹ con bà Simône và Gabrielle, Paul là bạn của Gabrielle, Họ chia chung kỷ niệm tại biển này. Về sau cha Gabrielle là một sĩ quan Pháp bị tử trận tại Điện Biên Phủ. Hai mẹ con bà Simône về Pháp. Paul giữ kỷ niệm đẹp với 2 người Pháp này. Tác giả lồng vào truyện 2 bài tình ca Pháp xa xưa thật hay, và cốt truyện có Étoile des neiges và Moulin Rouge với kỷ niệm Edith Piaf trong nét bút diễn tả của nhà văn Nguyễn Tường Thiết. Chút lời nhạc … Ta kết hôn vào mùa xuân, sao tuyết lại lau khô đôi mắt xinh đẹp của em? Pour nous marier dès le printemps… Étoile des neiges, sèche tes beaux yeux
    (Etoile des neiges do NS. Franz Winkler – 1906-1962)

    Line Renaud – Etoile des neiges;
    https://www.youtube.com/watch?v=koQ9LpUnCs8.

    Khoảng năm 1970, khi về Cấp nghỉ hè tôi nhớ tại bãi Ô Quắn có chiếc tàu buôn khá lớn bị sóng đánh trôi dạt vào bãi biển này. Ô Quắn là một trong những bãi biển đẹp của Vũng Tàu. Tôi thích bãi này mỗi khi tìm sự thanh tịnh trong chuyến hè. Au Vent biểu tượng cho chồn mát mẻ cũng như vắng vẻ. Au Vent với tôi như bãi Playa del Carmen (ở bán đảo Yucatan, Mexico), khúc gần điểm nghỉ mát Riviera Maya và Las Brisas. Pointe au Vent cũng cho ta vẻ trầm mặc, tĩnh mịch như bãi Codo Playa thuộc đảo Bermudas, Caribbean. Những nơi lý tưởng để ta trốn tránh cảnh ồn ào, huyên náo của xã hội đô thị lớn. Xin nghe tiếp bài ca thứ 2 do danh ca “Sẻ nhỏ” Édith Piaf (le petit moineau) hát nhé…

    Édith Piaf chante la grand chanson Moulin Rouge:
    https://www.youtube.com/watch?v=whgqqKiyWI

    Kế tiếp xin theo dõi nhà văn Nguyễn Tường Thiết qua bài viết : “Vài kỷ niệm với thầy Lưu Trung Khảo”

    “Mười năm truớc đây, năm 2003, tôi có viết một hồi ký nhan đề “Mưa đêm cuối năm” thuật lại những kỷ niệm của tôi với nhà văn Võ Phiến. Trong hồi ký ấy tôi kể lại lần đầu tiên tôi biết tới nhà văn Võ Phiến là do sự giới thiệu của thầy giáo dậy môn Việt văn của tôi, thầy Lưu Trung Khảo. Sau đây là một đoạn văn trích từ bài viết “Mưa đêm cuối năm” ấy:

    1958 – Bút danh Võ Phiến tôi nghe đầu tiên từ cửa miệng thầy giáo tôi, trong một chuyến du ngoạn ở Tây Ninh. Năm ấy tôi học lớp Đệ Tứ trường trung học Chu Văn An Sài Gòn. Cái tuổi còn mộng mơ. Giờ học tôi thường lơ đãng nhìn ngoài cửa sổ có cây phượng đại thụ thòng xuống chi chít những quả đen dài queo quắt. Nhưng vị thầy trẻ tuổi dậy môn Việt văn của chúng tôi lại cứ bắt tôi về với thực tế. Thực tế lại không hay ho gì lắm. Những ngày nóng bức từ nhà xí sát cạnh lớp một mùi khai khai thoảng nhẹ qua hoà vào những lời giảng thơ văn của thầy. Biết tôi là con một nhà văn tên tuổi, thầy cứ chắc mẩm là tôi phải xuất sắc về môn học của mình. Thầy không để tôi yên. Bình giải thơ Nguyễn Công Trứ xong thầy cho chúng tôi 20 phút viết phần dẫn nhập bài luận đề, thầy nói là sau đó thầy sẽ kêu tên một hai trò trong lớp đọc to cho cả lớp nghe và cho điểm. Nói xong thầy liếc xéo về phía tôi. Tự nhiên tôi có linh cảm chắc chắn thầy sẽ kêu tên mình. Thế là trong lúc hai thằng bạn ngồi cùng bàn Đỗ Diễn Nhi và Tạ Huy Sáng đánh cờ ca-rô thoải mái thì tôi hốt hoảng nặn bút viết. Mà viết phải cho hay để khỏi mất mặt ông cụ! Tôi nhớ là mình mới đọc có dăm câu: “Ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang trong nền thi giới nước ta…” tức thì ở dưới “đám nhà lá” đã có tiếng trầm trồ khen hay! Cái đám vờ vĩnh đó chúng khen xúi tôi để lần tới thầy lại tiếp tục gọi tên tôi nữa.

    Cuối niên học, thầy Việt văn của chúng tôi hướng dẫn lớp Đệ Tứ B đi du ngoạn Tây Ninh. Chúng tôi lên đầy một xe buýt. Đến Tây Ninh chúng tôi leo núi Bà Đen và thăm thánh thất Cao Đài. Đó là chuyến du ngoạn duy nhất trong đời học sinh của tôi. Ngày hôm ấy theo lịch trình thì xe buýt phải quay lại đón chúng tôi lúc hai giờ trưa để về Sài Gòn nhưng không biết sao đến ba giờ cũng chưa thấy xe tới. Buổi trưa trời hè nóng gay gắt. Tôi mệt đừ ngồi bệt xuống vỉa hè đường dưới bóng mát hiếm hoi của hàng cây sao cao vút . Trên một khúc đường rộng đâm vào tòa thánh thất mấy chục học sinh với đồng phục quần xanh áo trắng đứng ngồi tản mạn từng đám. Bỗng thầy Việt văn lại gần, thầy ngồi xổm nói chuyện với tôi. Chúng tôi nói về sinh hoạt văn nghệ. Hồi đó ông cụ tôi đang chủ trương nguyệt san Văn Hóa Ngày Nay. Trong câu chuyện thầy vụt hỏi tôi : “Em đã đọc Mưa Đêm Cuối Năm chưa?”. Tôi trả lời thầy là tôi chưa đọc. Thầy nói: “Em nên tìm đọc. Võ Phiến viết hay lắm!”. Võ Phiến? Cái tên lạ hoắc!

    Mười năm sau, vào mùa hè năm 2013, tôi nhận được e-mail của anh Trần Việt Hải ngỏ ý xin một bài viết của tôi để in trong cuốn sách “Kỷ niệm về GS. Lưu Trung Khảo” sẽ được xuất bản trong dịp mừng thượng thọ thầy Khảo 80 tuổi. Tôi rất hân hạnh được đóng góp một chút trong cuốn sách này vì thầy Khảo là một vị thầy khả kính mà tôi luôn luôn quý trọng. Hơn nữa tôi có một vài kỷ niệm với thầy mà tôi không bao giờ quên. Bình thường kỷ niệm giữa thầy và trò thường chỉ giới hạn trong không gian một mái trường và trong thời gian một niên học. Hết niên học thì thầy trò chia tay, mỗi người mỗi ngả, và hầu như suốt đời không gặp lại nhau. Trường hợp của tôi với thầy Khảo thì khác. Ở Sài Gòn, nhiều năm sau niên học 1957-58, tôi vẫn liên lạc với thầy Khảo, một phần vì tôi là học trò “cưng” của thầy, phần khác vì tôi là con của nhà văn Nhất Linh, người mà thầy Khảo ngưỡng mộ và kính trọng một cách đặc biệt.

    Năm 1973, mười lăm năm sau khi chia tay với thầy Khảo lớp Đệ Tứ B, tôi đến nhà thầy ở đường Bùi Thị Xuân, Sài Gòn, để tặng thầy cuốn tiểu thuyết Xóm Cầu Mới của Nhất Linh do tôi vừa xuất bản. Năm ấy tôi tìm lại được bản thảo cuốn tiểu thuyết Xóm Cầu Mới của ông cụ tôi đã bị thất lạc từ 10 năm trước sau khi ông cụ tôi qua đời. Mặc dù cuốn tiểu thuyết này chưa hoàn tất tôi cũng quyết định xuất bản, đánh dấu ngày hoạt động lại của nhà xuất bản Phượng Giang do ông cụ tôi chủ trương từ năm 1952. Trông nom và điều khiển một nhà xuất bản đòi hỏi rất nhiều thì giờ mà lúc bấy giờ tôi không có vì tôi đang bị kẹt trong quân đội, phục vụ tại Tổng cục Chiến tranh Chính Trị với cấp bực Trung úy. Nói chuyện với thầy Khảo tôi được biết thầy đang làm việc ở Bộ Quốc Gia Giáo Dục với chức vụ Chánh Văn Phòng cho ông Thứ trưởng Nguyễn Danh Đàn. Tin này làm loé trong trí tôi một tia hy vọng là thầy Khảo có thể giúp tôi ra khỏi quân đội bằng cách biệt phái tôi về giáo chức….”

    Nguyễn Tường Thiết là ai?

    Nhà văn Nguyễn Tường Thiết qua những dòng kể chuyện trên, bây giờ hãy nhìn qua đôi chút nét tiểu sử thì ông sinh năm 1940 tại Hà Nội. Con út nhà văn Nhất Linh. Đỗ cử Nhân Khoa Học tại Đại Học Sài Gòn. Trước 1975 là giáo sư dạy Toán Lý Hóa. Ông còn phụ trách nhà xuất bản Phượng Giang năm 1973. Qua Mỹ năm 1975, làm chuyên viên hóa chất tại tiểu bang Washington. Mới về hưu tháng 05/06/2005. Cộng tác với Thế Kỷ 21 từ năm 2002. Tác phẩm đầu tay: Hồi ký Nhất Linh Cha Tôi, xuất bản tháng 7/2006, đúng 100 năm ngày sinh của Nhất Linh.

    Đấy là chút nét thôi. Năm 2005 khi tôi sinh hoạt trong nhóm văn Đồng Tâm, nhân dịp sang Dallas và Houston để ra mắt sách về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Một hôm ghé nhà thăm chị Phụng và nhà văn Đào Vũ Anh Hùng tại Dallas – Fort Worth, trong buổi nghỉ ngơi và đàm đạo văn chượng tại tư gia anh chị Phụng Hùng, Anh Hùng nhắc đến tên “Nguyễn Tường Thiết”. Tôi thắc mắc bỗng hỏi anh nhà văn ấy là ai vậy, chưa biết, chưa bao giờ đọc qua cả. Anh Hùng cho ngay một màn giới thiệu chút nét như trên.

    (Nguyễn Tường Thiết: http://nguyentuongthiet.free.fr/)

    Năm 2013 chúng tôi thực hiện sách “Lưu Trung Khảo, Dưới Mắt Nhìn Của Bạn Bè”, tôi đi xin bài khắp nơi, được biết GS. Nguyễn Tường Thiết có lúc học với GS. Khảo, tôi bèn gõ cửa xin bài. Ông cho bài rất nhanh, tôi đọc bài nhận đồng hương ngay, bởi vì ông du ngoạn nơi quê hương tôi. Ông còn leo núi Bà Đen và ghé thăm Thánh Thất, ăn cơm chay Cao Đài. Thầy Khảo đùa nhận nhau được đấy. Thầy biết tôi người Tây Ninh. Tôi đùa lại: “Quá được Thầy chứ! Ăn cơm chay Cao Đài, mà lại thuộc gia đình danh giá vọng tộc Nhất Linh nữa. ”

    Năm lớp 12 khi vào phòng thi tú tài môn Việt văn. Đề thi bảo tôi viết essay về tác phẩm Đoạn Tuyệt. Trước đó đám học trò niên khóa 72 “Mùa hè đỏ lửa” chúng tôi kháo nhau năm nay “Nửa Chừng Xuân” hay “Đoạn Tuyệt”. Tôi cá với chúng bạn “Đoạn Tuyệt” (vì bố tôi đặt tên cho anh cả của tôi là Dũng). Giá như bố đặt tên ấy là Lộc, tôi đổi deal cá độ chứ nhỉ ? Tú tài tôi đỗ cao không khó một phần chắc là nhờ cụ Nhất Linh phò hộ nhắc tuồng truyện kể vậy.

    Nhờ cụ Nhất Linh cho đỗ Tú tài, nên chi khi sang Mỹ tôi lục tục theo ngành văn. Tôi đọc những tác phẩm của cụ. Một trong những bài tôi đọc là “Ðỉnh Gió Hú”, của Emily Brontë, Cụ dịch dang dở do cụ mệnh chung vì biến cố chính trị thuở ấy, và ra hải ngoại nhà văn Nguyễn Tường Thiết hoàn tất nó. Theo ông Thiết thì cụ Nhất Linh rất tâm đắc tiểu thuyết này của nhà văn Brontë.

     Tác phẩm duy nhất và nổi tiếng của nữ nhà văn người Anh, Emily Brontë, là quyển Wuthering Heights, đại để thì “Đỉnh Gió Hú” là một truyện tình lãng mạn, bi ai vì yêu nhau mà không thành, rồi sinh lòng thù hận, cốt truyện xẩy ra nơi miền đồng hoang Haworth, vùng West Yorkshire, bên Anh quốc, tác phẩm đưa tâm hồn độc giả qua những cảm giác bi thảm vì sự buồn bã, ảm đạm nhất trong loại chuyện hư cấu. Vào cuối thế kỷ 18, phong trào lãng mạn (romanticism) đã tràn vào nước Anh và nền văn học Anh có bộ môn văn chương đáng lưu ý nhất là thi ca, thi phú (poetry). Đề cập đến phong trào lãng mạn này của nước Anh, chắc hẳn phải nói đến những tài danh như Lord Byron, Samuel Taylor Coleridge, Robert Burns, Percy Bysshe Shelley, William Wordsworth, John Keats, William Blake,… Hãy kể thêm nhà văn nữ Jane Austen, người được xem như thuộc trường phái lãng mạn cổ điển, nổi bật qua các tác phẩm Sense and Sensibility (1811), Pride and Prejudice (1813), Mansfield Park (1814) và Emma (1815). Và đến cuối giai đoạn của phong trào lãng mạn này bỗng xuất hiện là những ngòi bút gây sóng gió cho văn chương Anh là những chị em nhà Brontë với các danh tác như Jane Eyre (Kiều Giang), Villette và Wuthering Heights (Đỉnh Gió Hú). Đọc lời giới thiệu sách của nhà văn Nguyễn Tường Thiết khi giới thiệu tác phẩm Wuthering Heights, ông viết:

    “Đỉnh Gió Hú là tác phẩm dịch thuật duy nhất của văn hào Nhất Linh. Ông đã dành những giờ rảnh hiếm hoi trong cuộc đời rất bận rộn của ông để dịch cuốn Wuthering Heights này từ nguyên tác Anh ngữ phối hợp với bản Pháp ngữ Les Hauts de Hurle-Vent của dịch giả Frédéric Delebecque. Đầu tiên ông dịch nhan truyện là Mỏm Gió Hú, về sau được sửa thành Đỉnh Gió Hú trước khi đăng một phần trên Nguyệt san Tân Phong(Sài Gòn, Việt Nam) vào năm 1960.”, kể tiếp về bản dịch của thân phụ Nhất Linh, ông viết:

    “Trong bản thảo viết tay mà chúng tôi hiện giữ có ghi những mốc thời gian từ lúc khởi dịch cho đến khi kết thúc: 19-12-1952, 21-8-1953, 27-6-1960 và 18-1-1962. Như vậy, sau khi viết xong cuốn tiểu thuyết sau cùng Giòng Sông Thanh Thủy vào năm 1961, Nhất Linh đã cố gắng mà không dịch xong Đỉnh Gió Hú trước khi ông qua đời vào ngày 7-7-1963… Năm 1974 chúng tôi phụ trách nhà xuất bản Phượng Giang có nhờ nhà văn Bảo Sơn dịch tiếp và Đỉnh Gió Hú được xuất bản lần đầu tiên năm 1974 tại Sài Gòn, Việt Nam… Hiện nay vì không có trong tay ấn bản của nhà Phượng Giang để in lại, nên chúng tôi quyết định đánh máy từ bản thảo của Nhất Linh và tự dịch tiếp một số chương cuối để hoàn tất và tái bản cuốn truyện giá trị này. Chúng tôi cố gắng theo sát tinh thần dịch thuật của văn hào Nhất Linh để giữ cho hơi văn toàn tác phẩm được thuần nhất.”

    Nhà văn William Somerset Maugham đã chấm tác phẩm Đỉnh Gió Hú là một trong mười cuốn tiểu thuyết mà ông cho là hay nhất của mọi thời đại, (selected by W. Somerset Maugham as one of the 10 greatest novels of all time). Dịch giả Nguyễn Tường Thiết viết tiếp: “Dịch giả Nhất Linh đã ca tụng Đỉnh Gió Hú như là một trong những cuốn truyện hay nhất thế giới. Trong cuốn biên khảo của ông Viết và đọc tiểu thuyết Nhất Linh đã xếp Đỉnh Gió hú vào “những sách hay của nhân loại, đời đời công nhận, có giá trị bền mãi với thời gian, như những cuốn Chiến tranh và Hòa bình, Anna Karenina, Tình nghĩa vợ chồng, Một bản đàn của Tolstoĩ, cuốn Những linh hồn chết của Gogol, cuốn Mấy anh em Karamazov, Những người bị ám ảnh của Dostoievsky…”. Cũng theo cuốn biên khảo đó, Nhất Linh còn viết: “Trong cuốn sách lạ lùng của nữ văn hào Anh quốc Emily Brontë, cuốn Đỉnh Gió Hú, xuất bản năm 1847, tác giả đã để một người vú già kể chuyện lại. Một vú già kể chuyện thì còn làm gì có những chỗ giảng giải về tâm hồn, ý nghĩ nhân vật nữa, tuyệt nhiên không có, tuyệt nhiên vú già chỉ là người đứng ngoài thôi. Thế mà chỉ bằng một giọng kể chuyện rất thường, bằng những chi tiết, vú già đó đã cho người ta thấy tất cả cái sâu xa của tâm hồn người trong truyện.”

    Bài viết này tôi ghi nhận những bài văn của nhà văn Nguyễn Tường Thiết trong một cung cách hay qua những ý tưởng nào đó mà tôi cảm nhận sự gần gũi với ông từ chuyện Tây Ninh và Thầy Khảo, sang chuyện căn nhà 39 Chợ An Đông có tiệm cơm Siu Siu, vốn gần gũi 2 inches với dạ dầy của tôi. Rồi chuyên Bãi Ô Quắn, Pointe au Vent với nàng Gabrielle và chàng Paul, une histoire d’amour légère est racontée, tôi thắc mắc nếu Paul đươc chuyển ngữ là Thiết tha…. và sau nữa là chuyện tình bi ai về tác phẩm Wuthering Heights của Emily Brontë đã nêu, mà nhà văn Nhất Linh và nhà văn Nguyễn Tường Thiết hỗn hợp hoàn thành dịch phẩm này.

    Bài viết này khá dài vì tôi cố ý dùng nhiều trích đoạn văn và ý tưởng của nhà văn Nguyễn Tường Thiết để người đọc đọc thẳng, thay vì phải chuyển tham khảo link từ sách sang hệ thống www như đọc văn online, như vậy sẽ phức tạp quá. Những con chữ đã nhiều, tôi xin được dừng con chuột (mouse) ở đây. Văn và kỷ niệm mãi mãi trong tâm hồn của người viết bài, nơi có Tây Ninh, Vũng Tàu, Khu An Đông có tiệm Cơm Gà Siu Siu, và Đại học Cal State Nothridge, nơi môn văn học có Emily Brontë và Wuthering Heights. Và trong trường hợp này, nhà văn Nguyễn Tường Thiết đã cho tôi những áng văn tưới mát tâm tư. Million de mercis. Chấm hết.

    Việt Hải Los Angeles          

  • Tin tức

    Đôi dòng về nghệ thuật


    * Ngọc Cường

    Chúng tôi định cư ở Ohio.Các anh chị em khác trong gia đình và phần đông thân hữu,bạn bè,đều ở miền Tây Hoa-Kỳ;còn lại,một số ít sinh sống quanh vùng Maryland-D.C-Virginia. Hằng năm, thường vài ba lần, chúng tôi đi Cali:Trước là thăm gia đình, thân hữu (nếu là mùa Đông,cũng là để lánh cơn lạnh buốt da của Dayton này,mà tìm về nắng ấm của Bolsa, thủ đô của người tỵ nạn). Sau nữa, không kém phần quan trọng là để thưởng thức các món ăn ta, mà nơi thành phố chúng tôi đang ở – một tỉnh nhỏ tiêu biểu của Hoa-Kỳ – không tài nào kiếm ra được!
    Trước khi lên đường, tôi gọi điện thoại báo tin. Sau vài lời thăm hỏi nhau thường lệ, thế nào người thân bên Ca-li cũng kèm theo lời chào đón quen thuộc : “Thế thì vui quá. Qua đây mình sẽ đi ăn các tiệm ăn mới mở mọc nhiều như nấm: nào phở đuôi bò …cơm gà…đang sale vừa rẻ vừa ngon , còn ngon hơn cả ở Việt-Nam … À, tụi này mới về Sài Gòn, đi ăn khắp nơi, đủ món mà chả đâu ngon bằng ở Cali.”

    Bây giờ món ăn Việt Nam không đâu ngon bằng ở Little Saigon? Đúng thế! Ý kiến đó cũng là của đa số, khiến tôi tự hỏi: tại sao lại như vậy? Có phải nhiều đầu bếp tài tình người Việt của chúng ta đồng thanh rủ rê  nhau trôi dạt tới Cali hết? Hay do thực phẩm, chất liệu, rau cỏ tươi sẵn có ở đó?..Và , chẳng lẽ khẩu vị của chúng ta, một khi ra đi -tha phương cầu thực lâu- đã thay đổi cho phù hợp theo cảnh vật , khí hậu nơi sinh sống? Không khác chi mấy ông Tây già,  sau cả một đời sống ở Việt Nam, năm 1954 không chịu về Pháp, vì yêu thích mắm tôm chăng? Nhưng dù sao đó mới chỉ nói đến nhu cầu sinh tồn của cái bao tử, còn về món ăn tinh thần như văn chương, âm nhạc.., liệu  có thay đổi luôn không?

    Qua chơi Cali được vài ngày, và sau khi  đã no nê đủ chầu “canh gà cá gỏi”,“ trà dư tửu hậu” , và bắt đầu lo ngại cho cái sức chứa của bao tử, như người ta thường than thở : “no dồn đói góp”…Thì bắt đầu như không báo trước, tự nhiên nhu cầu về tâm thần chợt lẳng lặng đến( Như đang từ một dân lao động phàm phu tục tử, tôi bỗng trở thành một nhà trí thức hào hoa phong nhã!) thôi thúc tôi tìm mua sách báo tiếng Việt (mà Ohio không có ) đem mang về để thỏa mãn cho cái đầu, cái tâm tình. Nghĩa là đi tản bộ qua nhiều khu chợ búa sầm uất, tôi vẫn thường ghé vào các tiệm sách ở Bolsa, thấy bày bán đủ loại tác phẩm, la liệt vui mắt như đang thực sự diễn ra cảnh“trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, khiến tôi hân hoan, vui mừng cho tiền đồ tiếng Việt và nền văn học hải ngoại. Đó chỉ là về số lượng, còn  phẩm chất thì có lẽ phải hạ hồi phân giải, bàn đến sau, vì hay hoặc dở, thành công hay thất bại là do độc giả quyết định, nhưng thị hiếu quần chúng không nhất định, như lịch sử đã chứng minh: sở thích thay đổi theo thời gian và không gian.

    Nhưng, tại sao có hiện tượng nhiều người cầm bút,chịu khó sáng tác như thời nay vậy? Phải chăng từ điều kiện dễ dàng về ấn loát? Cái bầu không khí tự do (của xứ sở này) khích lệ họ? Hay một khi gia đình yên bề, êm ấm, và tuổi tác đã “gần đất xa trời” rồi thì chúng ta mong muốn để lại chút gì, nên ‘hạ sinh’ đứa con tinh thần? Tìm không ra câu trả lời, vì khả năng có giới hạn, tôi mong những nhà nghiên cứu văn học sẽ cho lời giải đáp …

    Sách được bầy bán nhiều quá, đầy trên kệ, còn la liệt trên bàn nữa.Không biết lựa chọn cuốn nào, dở trang đầu, đọc lướt qua mục “Lời Tựa”, tôi nhận thấy ở nhiều tác giả (thường là họ mới có tác phẩm đầu tay), hay nói về lý do cầm bút. Họ giải thích “tôi viết để mà viết …” , hoặc“tôi không dám tự nhận là một nhà văn ..”Những câu tâm sự như vậy trở nên như một thông lệ ở phần đầu cuốn sách. Có thể do sự  khiêm nhường hay dè dặt của họ, như để “rào trước đón sau”, phòng trường hợp có bị chê thì..vì tôi đâu phải một nhà văn? …Điều này theo tôi đáng tiếc, vì lẽ ít ra họ phải có chút tự tin, và cần được khích lệ vì một khi tác phẩm được xuất bản, hiển nhiên họ là một nhà văn ( theo định nghĩa) ,không nên tự phủ nhận một tất yếu như vậy ; Và một khi bỏ công ra viết là cố gắng hơn nhiều người, là điều đáng được khuyến khích, nếu không nên được khen thưởng? Người cầm bút không nên có mặc cảm. Mong độc giả rộng lượng, lên tiếng khuyến khích. Còn nếu nói viết chỉ để viết thì cũng không trọn nghĩa, vì một khi đã ra mắt , sách là để người khác đọc , nếu không , nên bỏ ở xó nhà chỉ là đống giấy lộn . J. P. Sartre trong bài tiểu luận“Văn Học Là Gì” đã khẳng định là một tác giả chỉ thành một nhà văn khi có người đọc. Thật vậy , tác giả nào chả mong có nhiều độc giả, còn nếu không thì đừng mang tác phẩm ra xuất bản – Sách bầy ra tất sẽ có người mua đọc. Và như vậy , động lực cầm bút (của một nhà văn ) , đầu tiên có thể chỉ là viết để mà viết ,  nhưng thật ra nó đã chứa đựng tiềm ẩn nhiều nguyên nhân : giải bày một tâm sự, chia sẻ một kỷ niệm .v.v…,và lý do khác như muốn thỏa mãn tự ái, kiếm chút danh vị…Nên,  không thể nói : viết chỉ để viết đơn thuần ,  mà phải là  viết  cho người khác thưởng thức.Tất nhiên, cũng có nhiều cuốn hồi ký chỉ nhằm vào số nhóm độc giả chọn lọc nào đó …Một tác phẩm không xuất bản, để quên vùi một xó, không ai biết thì vốn không là một tác phẩm nghệ thuật. Theo Tolstoy: sự thông tin, giao cảm giữa tác giả và người đón nhận tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Nhật ký Ann Frank nếu không được ông bố cô bé đem ra in sau khi cô qua đời, thì cũng sẽ chỉ là một sản phẩm riêng tư, nó trở thành tác phẩm nghệ thuật khi được chia sẻ, có người thưởng thức. Sở dĩ nêu lên khía cạnh này, vì tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của độc giả.Theo tôi, dù tác giả có công sáng tạo, nhưng chính người đọc mới là sở hữu chủ của tác phẩm, ít ra thì đó là dưới quan điểm kinh tế của một cuốn sách. Còn về giá trị, hay hoặc dở là do chủ quan thưởng thức của người đọc quyết định. Một khi cuốn sách được xuất bản, nhiệm vụ nhà văn chấm dứt, như đứa con ( tinh thần ) đã trưởng thành .

    Thường khi cầm bút viết về một đề tài gì, tác giả nếu không qua sự tìm tòi, nghiên cứu thì cũng phải được đào tạo chuyên môn về đề tài đó. Tác giả hẳn có đủ hiểu biết, nắm vững những gì viết ra.Đó là điều kiện tối thiểu, để tôn trọng chính mình và cả độc giả. Độc giả không dễ bị lừa: Bởi qua đôi giòng đầu sách, có thể họ tin vào tác giả mà không cần suy xét sâu xa; nhưng khi càng đọc họ càng thêm khám phá ra những điều sai hay phi lý của toàn bài…Như vậy điều kiện tiên khởi của một tác giả là biết về điều mình viết .

    Xét riêng về cá nhân, tôi đang viết về đề tài văn chương, cống hiến và mua vui quý vị mà tôi chẳng có khả năng chuyên môn gì về văn học nghệ thuật cả ! Tại sao tôi lại dám liều mạng, cả gan đến vậy? Câu trả lời thực sự  nằm trong nội dung bài này. Hy vọng rằng khi đọc xong lời bạt , quý vị có được sự thông cảm …và đồng ý với tôi là : riêng nghệ thuật, điều kiện đó là một ngoại lệ , ai cũng có thẩm quyền nêu ý kiến, không riêng gì các nhà nghiên cứu hay văn nghệ sĩ mà thôi  .

    Một điều căn bản khi nói đến nghệ thuật, là xem nó là gì,  thường nghệ thuật gồm 6 bộ môn chính như văn học, múa, kiến trúc, hội họa,  sân khấu  và âm nhạc, và gần đây thêm nghệ thuật thứ 7: ngành điện ảnh . Theo các cuốn từ điển thông dụng, từ nghệ thuật được định nghĩa rất vắn tắt và giản dị là …thực hiện hay diễn tả vẻ đẹp, thực tế…là sản phẩm trí thức và không là khoa học …

    Văn học bao gồm cả văn chương nhưng cộng thêm về lý luận và phê bình.Có thể nói văn học dùng phương pháp khoa học nghiên cứu văn chương, trong khi văn chương thuần túy là sáng tạo do diễn đạt xúc cảm , như định nghĩa của nó.Văn chương (thơ và văn xuôi) là nghệ thuật dùng chữ để diễn tả tư tưởng và cảm xúc.Như vậy,trước khi nói đến văn chương, ta thử tìm hiểu rõ thêm xem nghệ thuật là gì?

    Từ lâu, cách đây trên hai ngàn năm, Plato đã tìm về ý nghĩa của nghệ thuật; và từ đó đến nay, nhiều người cũng đã làm công việc này nhưng vẫn chưa ai hoàn thành vì nó phức tạp và khó khăn cho định nghĩa nghệ thuật. Văn hào Tolstoy nước Nga đã viết một cuốn sách nhỏ (Nghệ Thuật Là Gì, Tolstoy,1896), chỉ nhằm định nghĩa hai từ nghệ thuật! Dù vậy, định nghĩa của Tolstoy vẫn chưa toàn hảo,chính xác. Một tiêu chuẩn Tolstoy nêu ra (ngoài rất nhiều chi tiết khác) là : nghệ thuật không phải để giải trí ,mua vui mà là phương tiện giao cảm giữa tác giả và người khác… Điều này …có vẻ  trái với ý của cụ Nguyễn Du nước ta , khi cụ viết :

    “Lời quê chắp nhặt dông dài ,

    Mua vui cũng đươc một vài trống canh.”(câu kết của Truyện Kiều )

    Ở đây , xin đồng ý với cụ Tiên Điền, không phải vì tôi cũng là người Việt, ghét ông người Nga, nhưng vì tận cùng thì nghệ thuật là một vấn đề triết lý,mà triết lý thì đã bị chôn sống rồi( “Triết Học Đã Chết”   , S. Hawking, trong cuốn The Grand Design, 2010, theo đó, những khám phá mới về vật lý và toán đã có giải đáp khoa học về vũ trụ và đấng tạo hóa…,do đó triết học trở nên lỗi thời.) 

    Căn bản của nghệ thuật là ở tính hấp dẫn, mua vui,thích thú và tự nguyện. Nếu Truyện Kiều được giảng dậy trong lớp học, khi bị bắt buộc phải đọc đối với học sinh thì Kiều chỉ là cuốn sách giáo khoa dùng để học, chứ không còn tính nghệ thuật; nhưng khi, cũng ở người  học sinh đó, qua lời giảng của vị thầy mà đột nhiên cảm thấy hay, cảm thấy thú vị thì lúc đó Truyện Kiều nó lại mang tính nghệ thuật! Như vậy nghệ thuật không có mục đích rõ ràng vì không thể có nghệ thuật hoàn toàn vị nghệ thuật hay nghệ thuật hoàn toàn vị nhân sinh được, mà thường như trong cuộc đời, lẫn lộn cả hai thứ, không có gì trắng hoặc đen mà lẫn lộn giữa hai thái cực, trung dung.

    Nói chung, nghệ thuật phản ảnh cuộc sống nên cũng mơ hồ, phức tạp như thế; và giá trị của nghệ thuật mang tính chủ quan, không thể chỉ do các nhà phê bình đơn thuần cho là hay hoặc dở, đẹp hay xấu, mà chỉ có nhận định chủ quan của người thưởng ngoạn quyết định. Nếu khai triển thêm ra, nghệ thuật là sáng tạo có tính hấp dẫn: khen chê là do quyết định của người nhận, độc giả, thính giả hay người xem tranh …Trước kia, khi mới được khai sanh,trường phái họa “ấn tượng”ở Pháp đã bị chê bai gắt gao, ngay cả danh hiệu của họ ( impressionism, môn phái ấn tượng )- xuất phát từ bức tranh“Ấn tượng, một buổi bình minh” của Claude Monet- bị nhà phê bình Louis Leroy gắn cho cái tên“Bọn Ấn Tượng” một cách mỉa mai qua bài đăng trên báo Le Charivari. Không ngờ từ đó Ấn Tượng lại trở thành môn phái quan trọng trong nền hội họa: và gần đây, ở nước ta,  thấy xuất hiện một văn phái, họ viết rất hấp dẫn, dùng nhiều từ khó hiểu, ra vẻ cao siêu, đầy triết lý mà độc giả bình thường không hiểu nổi. Xin thí dụ một đoạn như sau “…tiểu thuyết Việt-Nam hiện nay , không phải là xác nhận một trở thành đã hoàn tất , mà là theo dõi những chặng đường của một vận động đang tuần tự hình thành.Vận động đó là một vận động của ý thức, một vận động của nghệ thuật…”( Mai Thảo,1965) : Những luận điểm như trên khó hiểu và dễ làm lẫn lộn, hoang mang người đọc. Họ tự nhận là nhóm sáng tạo, gay gắt với trào lưu văn nghệ tiền chiến, nhưng hình như họ muốn đồng nghĩa khó hiểu với xâu sắc, tối nghĩa với triết lý. Sự thật, chuyện bình thường và giản dị trên đời như tình yêu, gia đình, vui, buồn …là những vấn đề sâu xa nhất của con người. Nhóm sáng tạo là môn phái lập dị thì đúng hơn (Lê Huy Oanh, Về thơ tự do, 1957 ). Dù sao, chỉ có thời gian mới là quan tòa, mới có lời phê phán cuối cùng cho nghệ thuật: Tác phẩm có giá trị khi nó vượt được thử thách của thời gian và không gian ( Nhất Linh,Viết và đọc tiểu thuyết,1958 ).

    Nếu đồng ý như vậy, ta có thể nói rằng không có tác phẩm nào tuyệt hảo cả: Nói cho cùng thì dù chỉ được một độc giả yêu thích cũng đem niềm vui cho tác giả. Nghệ thuật rõ rệt là chủ quan và phi thời trang nhưng  lại  mang tính dân chủ (số đông quyết định giá trị). Như trường hợp của Van Gogh, cả một đời vẽ tranh( rất nghèo lại vắn số, chết sớm) chỉ bán lèo tèo vài bức( dù người em là môi giới hội họa đã cố gắng giúp anh). Thế mà ngày nay, bức“Hoa Diên Vỹ”( Irises,1889) được bán với giá mấy chục triệu đô! Cùng số phận hẩm hiu với Van Gogh là nữ văn hào Emily Bronte, tác giả cuốn “Đỉnh Gió Hú”( Wuthering Heights,1847) khi xuất bản đã không được độc giả hưởng ứng mà phải chờ đến cả trăm năm sau mới có lời khen. Ngày nay, tác phẩm duy nhất này của bà trở thành một tuyệt tác của thế giới, được mọi người, mọi nơi công nhận! Sự kiện tương tự sẽ là niềm an ủi cho nhiều nghệ sĩ không thành công ngày hôm nay ( trong đó có tôi, nói một cách tự an ủi),và hy vọng rằng có thể sau này, vài chục năm nữa, sẽ có người yêu thích? Phải chăng con người bao giờ cũng bám víu và sống với chút hy vọng vào ngày mai tươi sáng hơn hôm nay?

    Thẩm mỹ , hay cái đẹp,  – đối tượng chính của nghệ thuật- hiển nhiên là do nhận định chủ quan mỗi người , nhưng liệu ta có thể tìm thấy một tiêu chuẩn, hay mẫu số chung , dựa vào đó , mọi người cùng đồng ý hoặc chấp nhận, dù họ ở đâu và sống ở bất cứ thời đại nào? Lúc trước , khi xem hình ảnh bên Phi Châu chụp mọi cà răng căng tai, ít ai coi đó là thẩm mỹ , mà còn cho là man di mọi rợ , nhưng đâu ngờ , gần đây, ngay ở Bolsa bên Mỹ , lại xuất hiện người đi căng tai , chà răng và đeo vòng ở lưỡi  !   Theo tôi, vẻ đẹp (có lẽ) phát xuất từ ấn tượng người tiền sử cảm nhận qua thiên nhiên (tranh vẽ, khắc trên đá, mô tả thú vật ở hang Lascaux, Pháp, khoảng 20,000 ngàn năm trước) và sau này, khi lòai người đã hợp quần thành xã hội), thì từ tình yêu , trước tiên là tình mẫu tử , đôi lứa , vợ chồng  …rồi nâng cao,  biến dạng trở thành lòng trắc ẩn, thương yêu đồng loại. Không khác gì các giống vật hợp quần (con kiến, loài ong…) để duy trì giống nòi , con người phải hy sinh ; và khi sống cho tha nhân, cảm thấy thỏa mãn vì đó là bản tánh chân thật của mình (Nhân chi sơ tính bản thiện, Khổng Tử, 500 năm trước Công Nguyên).Thâm tâm con người , không một ai muốn gây đau đớn sầu khổ cho người khác. Phải chăng , tội ác do hoàn cảnh gây ra , vì mà có ai thực sự làm chủ được vận mệnh của mình đâu , nếu như vậy : ý chí tự do ( free-will ) chỉ là một ảo tưởng , như người ta thường ví : cuộc đời là một vở kịch hay canh bạc , trong đó , con người đóng một vai hay tùy thuộc vào may mắn ! Vậy tôi là ai ?

    Nếu một tác phẩm là đứa con tinh thần của người sáng tác, thì sự liên hệ giữa tác giả và tác phẩm rất mật thiết, như chuyện của một gia đình:Vì lẽ đó,muốn hiểu thấu đáo bức tranh, hoặc cuốn tiểu thuyết , sự hiểu biết về tác giả giúp ta tận hưởng rõ hơn tác phẩm của họ. Nhưng ta cũng tránh có quan điểm quá khích: như ghét tác giả ( vì lý do gì đó, chính trị chẳng hạn) rồi vơ đũa chê tác phẩm của họ luôn! Ngược lại, cũng đừng tôn thờ tác giả như là một fan của họ (nguyên ngữ từ fanatic ra, nghĩa quá khích).

    Nghệ thuật không là bản sao chép thiên nhiên mà là cách diễn tả cuộc đời qua nhận thức của tác giả- Phải chăng con người nhìn mọi thứ trên đời qua nhận thức chủ quan của mình- Nhưng chính nhờ đó mà tác phẩm trở nên sống động , như được tái sinh, có cuộc sống thứ hai, vì vậy đã đem lại sự thích thú cho người thưởng ngoạn: thu hút họ, làm như chính họ được sống như một nhân vật trong truyện dù câu chuyện đã xẩy ra cả trăm năm trước ; hay chính mình, như họa sĩ, đang đứng trước cảnh của bức tranh , dù ở một nơi ta chưa hề đặt chân tới .Đó là sự kỳ diệu của nghệ thuật,chứ không phải vấn đề triết lý cao siêu.Câu hỏi nên đặt ra, không phải là“con người,cuộc sống là gì?”mà trở thành“Cái gì có thật trên cõi đời này?”(Rainer Rilke,1912 );và đối với người nghệ sĩ thì cảm giác phải là thật (Bạn cứ thử đá chân vào hòn đá thì biết!).

    Để kết luận, có thể nói, nghệ thuật có rất nhiều mục đích, tùy quan niệm của tác giả: như giúp ta trở nên cao thượng, tận hưởng cuộc sống hơn( như nhận xét của Thạch Lam, Nhất Linh), giải bầy vấn đề triêt lý ( như Sartre, Camus) .v.v..nhưng theo tôi, tất cả những mục đích ấy chỉ là phụ, đến sau, không chủ tâm , nhưng xuất hiện như mấy phản ứng  phụ của thuốc tây (side effect ) mà có thể lại mãnh liệt hơn cả mục đích chính là mua vui dù là một thú đau thương! Nghệ thuật phải có tính hấp dẫn trước nhất, để giải trí thiên hạ (Nguyễn Du), một món ăn tinh thần cho công chúng. Nếu không có tính hấp dẫn thì nghệ thuật không tồn tại và sẽ không truyền đạt các mục đích khác nữa được.

    Phải chăng,với chủ quan và hiểu biết hạn hẹp,tôi đã vừa liều lĩnh trả lời về điều kiện tối thiểu của người viết nêu ra ở phần đầu : đó là ai cũng có thẩm quyền bàn về nghề thuật cả  ?
    Xin cảm tạ quý độc giả .

    * Ngọc Cường.

  • Tin tức

    Đêm tưởng niệm nhạc sĩ Anh Bằng tại trung tâm Asia

    Lâm Hoài Thạch/Người Việt

    April 23, 2019

    Từ trái, ca sĩ Lệ Thu, nhạc sĩ Nam Lộc, ca sĩ Thanh Lan và nhạc sĩ Quốc Sĩ. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    GARDEN GROVE, California (NV) – “Một khoảng thời gian không dài lắm, nhưng cũng không ngắn lắm. Bốn năm đủ để cho chúng ta thấy nhiều chuyện đã xảy ra trong cõi tạm này. Và bây giờ, có thể nhạc sĩ Anh Bằng đang ở trên cao nhìn xuống để thương chúng ta, vì ông đã đi xong đoạn đường của ông, còn chúng ta thì còn nhiều lận đận. Bốn năm vật đổi sao dời. Bốn năm hiểu được tình người lâu xưa. Bốn năm nước chảy qua cầu. Bốn năm ngồi lại cùng nhau ngậm ngùi.”

    Đó là lời của Giáo Sư Quyên Di trong đêm “Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng” tại trung tâm Asia, Garden Grove, do cô Thy Vân, ái nữ của cố nhạc sĩ Anh Bằng, giám đốc trung tâm Asia, và một số bằng hữu cùng tổ chức vào chiều Thứ Sáu, 19 Tháng Tư, 2019.

    MC Quyên Di nói tiếp: “Khi trung tâm Asia được thành lập, lúc đó tôi là một thợ in đang làm việc tại một nhà in. Ông Anh Bằng đến để nhờ tôi vẽ một logo của trung tâm Asia. Còn nói về nhạc sĩ Anh Bằng, thì nhạc của ông chúng ta đều thấm thía khi nghe bài ‘Đêm Nguyện Cầu’ hoặc ‘Nó.’ Nhưng khi nghe bài ‘Căn Nhà Ngoại Ô’ thì chúng ta lại có cảm giác xúc động kiểu khác.”

    Từ trái, cô Thy Vân cùng hai nhạc sĩ Nam Lộc và Quốc Sĩ. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    “Và khi nghe bài ‘Nỗi Lòng Người Đi’ thì chúng ta có những cảm xúc khác hơn nữa,” MC Hồng Vân tiếp lời.

    Ca sĩ Lê Uyên mời cô Thy Vân ra trước mặt mọi người, vì cô là người đã chỉnh trang lại căn phòng này qua nhiều tuần lễ để cho mọi người đến dự “Đêm Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng.”

    Lê Uyên tâm tình: “Rất vui cho chúng ta được hiện diện tại đây trong hôm nay. Càng vui hơn, khi chúng tôi biết được trung tâm Asia sắp thực hiện một chương trình giá trị được ấp ủ hơn hai năm với sự ngưỡng mộ, yêu thương và lòng hiếu thảo của Thy Vân dành cho thân phụ của mình. Show nhạc này sẽ cho chúng ta biết rõ hơn về cuộc đời cũng như những tác phẩm của ông đã sáng tác qua hàng chục năm qua. Anh Bằng, người nhạc sĩ có những cảm xúc về tình yêu cá nhân, bên cạnh đó, người cũng đã sáng tác những bài hát với cảm xúc và tâm trạng chung của mọi người theo diễn biến thay đổi của đất nước. Như bài ‘Nỗi Lòng Ngươi Đi,’ Anh Bằng đã viết để dành tặng cho những người ở lại và ngay cả những người đã rời Hà Nội vào 1954.”


    Nhạc sĩ Lam Phương, (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)
    Nhạc sĩ Lam Phương, Nữ nghệ sĩ Bích Ty (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    “Khi được định cư tại Hoa Kỳ, ông đã tiếp tục viết theo tâm trạng và cảm xúc của những người trẻ trên quê hương thứ hai và những thay đổi rất khác, rất mới trong đời sống và sự suy nghĩ của người Việt Nam tại hải ngoại. Những chủ đề mà Thy Vân sắp sửa thực hiện, tôi tin rằng, đó là việc mở đầu trong nhiều chương trình có giá trị khác. Cách đây gần 20 năm, trung tâm Asia đã có những cuốn video, DVD đã ghi lại những hình ảnh dành cho những khán giả tại hải ngoại như những tác phẩm có chủ đề về những trẻ em mồ côi bị bỏ rơi ở Phi Luật Tân và những chương trình ‘Bên Em Đang Có Ta.’ Đó là những chủ đề có giá trị mà tôi nghĩ rằng, nó đã góp phần rất lớn trong việc tìm hiểu âm nhạc Việt Nam của giới trẻ sau này. Những chủ đề giá trị đó là những món ăn tinh thần rất cần thiết cho tất cả chúng ta,” nữ ca sĩ nói tiếp.

    Ca sĩ Thanh Lan, một tài năng của nền điện ảnh và âm nhạc Việt Nam cũng có mặt cho biết: “Thanh Lan đến đây được gặp gỡ lại một số anh chị em nghệ sĩ ngày xưa cũng như những tiếng hát trẻ sau này và khán giả đã yêu dòng nhạc Anh Bằng. Trước 1975, tôi có dịp được thâu âm nhiều bài nhạc của nhạc sĩ Anh Bằng tại Việt Nam và khi sang Hoa Kỳ thì tôi cũng đã thâu âm nhiều bài nhạc của ông. Vì thế, buổi ‘Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng’ thì tôi phải có mặt và hát một bài nhạc của ông, đó là bài ‘Bây Giờ Còn Nhớ Hay Quên’ thơ Nhất Tuấn, nhạc Anh Bằng.”

    MC Hồng Vân và chân dung nhạc sĩ Anh Bằng qua bút họa của họa sĩ Châu Thụy. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Nhạc sĩ Cao Minh Hưng, con chim đầu đàn của Ban Văn Nghệ Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, khi nhắc đến nhạc sĩ Anh Bằng thì tất cả anh chị em trong câu lạc bộ này đều phải ơn ông, vì, cố nhạc sĩ và nhạc sĩ Cao Minh Hưng là những người đồng sáng lập ra câu lạc bộ này.

    “Mục đích cho ra đời Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ là để các thành viên trong câu lạc bộ cùng sáng tác và hát những bài nhạc đấu tranh. Ngoài ra, câu lạc bộ còn hát những bài nói về tình yêu quê hương của cố nhạc sĩ và của chúng tôi sáng tác sau này. Nhạc sĩ Anh Bằng ra đi là sự mất mát lớn cho nên âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại,” Cao Minh Hưng cho biết.

    Ca sĩ Ngọc Huệ, một trong nhiều ca sĩ đã xuất hiện trong những thời gian đầu tiên của nhiều trung tâm nhạc tại Little Saigon, tâm tình: “Bác Anh Bằng là một nhạc sĩ tài năng, chúng tôi xem bác như một trong những vị tiền bối của nền âm nhạc Việt Nam, vì bác đã cho ra đời rất nhiều bài nhạc rất hay và rất có giá trị. Đặc biệt hôm nay, chị Thy Vân đã chọn cho tôi hát bài nhạc ‘Nếu Vắng Anh’ của nhạc sĩ Anh Bằng. Đây là bài nhạc rất xưa, tôi đã tập hát bài này qua tiếng hát của ca sĩ Mai Hương đã thu âm hơn 50 năm về trước tại Sài Gòn. Bác Anh Bằng là người tôi đã mến mộ từ lâu, và hôm nay, tôi mới có cơ hội hát những dòng nhạc của bác trước khán giả.”


    Các thành viên Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Ông Trần Thăng, em ruột của nhạc sĩ Anh Bằng, kể về cuộc đời của cố nhạc sĩ và cảm tưởng của mình đối với người anh kính mến Anh Bằng.

    Cô Phương Thúy Nguyễn, cư dân Garden Grove, một khán giả yêu thích dòng nhạc Anh Bằng tâm tình: “Phải nói, tôi rất ‘mê’ những bài hát của nhạc sĩ Anh Bằng. Bởi vì, khi nghe những lời hát trong những bài nhạc của ông đều có chất chứa bản sắc dân tộc, đượm tình quê hương, nhất là khi đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh, ông cũng có những bài nhạc đã nói lên sự đau thương và mất mát của đồng bào Việt Nam cũng như lòng yêu nước của những người Việt ly hương.”

    MC Hồng Vân trong vai trò hướng dẫn chương trình nên có nhiều cơ hội gặp gỡ nhạc sĩ Anh Bằng trong những chương trình nói về dòng nhạc của cố nhạc sĩ. Cô chia sẻ: “Tôi rất quý mến nhạc sĩ Anh Bằng từ lúc còn đi học, nhất là khi nghe bài ‘Nỗi Lòng Người Đi’ của ông có viết câu ‘Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu,’ thì hoàn cảnh của tôi lúc đó cũng có trùng hợp với ý nghĩa của câu nhạc này là khi tôi mười tám tuổi thì tôi cũng xa Sài Gòn để sang Paris du học. Chú Anh Bằng rất hiền hòa và cũng là một trong những tài năng ‘gạo cội’ của nền âm nhạc Việt Nam.”

    Họa sĩ Hoàng Vinh tâm tình: “Nhạc sĩ Anh Bằng là một trong nhiều nhạc sĩ nổi tiếng của nền âm nhạc Việt Nam. Đây cũng là niềm vinh hạnh cho những người Việt tại hải ngoại cũng như trong nước yêu thích về âm nhạc. Tưởng niệm nhạc sĩ Anh Bằng cũng là dịp để chúng tôi nhớ lại những bài nhạc bất hủ của anh và cũng để chia sẻ nổi niềm thương tiếc của mình với hương linh của cố nhạc sĩ tài hoa này.”

    Hơn 60 năm trong hành trình sáng tác âm nhạc, nhạc sĩ Anh Bằng đã biên soạn trên 600 tác phẩm chất chứa tự tình quê hương dân tộc; tình yêu của nhiều lứa tuổi; nỗi đau thương, mất mát của những người Việt xa xứ; và tình người ly hương khát vọng cho một Việt Nam được thanh bình.

    Đồng hương đến dự đã có những cảm xúc ngậm ngùi, thương tiếc một tài hoa của đất nước qua những tác phẩm của ông, với những tiếng hát của các ca sĩ Thanh Lan, Lê Uyên, Phương Hồng Quế, Y Phương, Diễm Liên, Đặng Thế Luân, Anh Tuấn, Ngọc Lan, Ngọc Huệ, Hồng Quyên, Ngọc Quỳnh… Đặc biệt với sự hiện diện của ca sĩ Lệ Thu, hai nhạc sĩ Lam Phương và Nam Lộc. (Lâm Hoài Thạch)

  • Tin tức

    Trung Tâm Asia 2019 và Tours ca nhạc: “Nỗi Lòng Người Đi” 60 năm (bài Trần Mạnh Chi)

    Trung Tâm Asia 2019 và Tours ca nhạc: 

    “Nỗi Lòng Người Đi” 60 năm (bài Trần Mạnh Chi)

    Thứ Sáu ngày 5 tháng 4 vừa qua, cùng với MC ThụyVy, Việt Hải và tác giả (Trần Mạnh Chi) ghé thăm Trung Tâm Asia, nhân dịp tìm hiểu về dự án âm nhạc giá trị: “Nỗi Lòng Người Đi”.

    Theo lời giám đốc Thy Vân “Đây là tâm tư chung của bao nhiêu đồng hương, đồng bào đã lâu rồi, cũng ngót nghét trên 60 năm qua.”

    Hồi tưởng lại khi nhạc phẩm “Nỗi Lòng Người Đi” mới ra đời và đã trở thành cao trào hoài niệm chuyến ra đi lần đầu của người viết cũng như hàng triệu người bỏ quê hương xứ sở mà ra đi, từ Bắc vào Nam trên 60 năm qua. Sau đó cũng như hàng triệu đồng bào, đồng hương và khán giả một lần nữa lại “ra đi di cư” làm lại cuộc đời mới khắp năm châu bốn biển sau 1975.

    Nhìn lại sự tham gia của trung tâm ca nhạc Asia tại hải ngoại cũng đã trên 35 năm qua cũng mang một tâm tình hoài niệm đó. 

    Nỗi Lòng Người Đi: “Mộng với tay cao hơn trời”

         Trong buổi lễ giỗ ba năm của tác giả “Nỗi Lòng Người Đi” vào tháng 11/2018, Đức Ông Phạm Quốc Tuấn cũng tâm tình trong Thánh Lễ tại nhà thờ St Columbans rằng, “thuở ấu thời khi còn sống cùng cha mẹ anh em trong giáo xứ An Lạc Chí Hòa, mình vẫn tập hát bài “Nỗi Lòng Người Đi” và nhận thức những hình ảnh thật đẹp… “Mộng với tay cao hơn trời” của một thời thanh bình êm ả lúc bấy giờ.”

     Từ nhiều năm qua, trung tâm Asia ngoài việc thành công lớn lao về các tác phẩm ca nhạc “Một thời chinh chiến” thì vẫn luôn đóng góp vô vị lợi cho đạo Thiên Chúa qua các đại hội, các giáo xứ cũng như ủng hộ Linh Tượng La Vang. Ngoài ra còn ủng hộ gia đình cựu quân nhân chiến sĩ thương phế binh, cô nhi qua đóng góp vô điều kiện cho các công trình đại nhạc hội, truyền hình và gây quỹ từ thiện và xây dựng cơ sở tôn giáo.

    Trong số gần 100 chương trình DVD ca nhạc (bao gồm nhiều hình thức từ các chủ đề hoặc đánh số thứ tự, hoặc các chương trình đặc biệt như Asia Golden v.v.. và vài trăm CD ca nhạc các loại) “Trong năm nay – đánh dấu 60 năm “Nỗi Lòng Người Đi” nổi bật tại Sài Gòn và các tỉnh thành, vùng quê Việt Nam chính đã đến lúc chín mùi để họp bàn với một đội ngũ phụ trách nội dung kỹ thuật sáng tạo, nghệ thuật, cùng với các promoters để mang chương trình này đến với đồng bào đồng hương của mình”. Giám đốc Thy Vân nói.

         Ngay sau khi họp bàn về buổi gặp gỡ nội bộ với những cộng sự viên, ca, nghệ sĩ yêu mến trung tâm và nhạc sĩ Anh Bằng do “Nhân Ảnh Tân Văn và Tiếng Thời Gian” gợi ý – Thy Vân đã nhận lời thực hiện buổi chiều ca nhạc nhỏ ngay tại Trung Tâm Asia trong mùa Lễ Phục Sinh.

    Thời điểm vào mùa Lễ Phục Sinh mang nhiều ý nghĩa của công cuộc chịu nạn và sống dậy của Chúa, và nghĩ về người sáng lập trung tâm là nhạc sĩ Anh Bằng – “Tôi đã khóc và nhớ Bố”. “Những năm tháng Thân Phụ tôi còn sống, tôi cũng không theo đúng ý ông nhiều”, bây giờ Bố mất – mãi để trong lòng tôi hối tiếc.Tôi vẫn thường khóc và bừng tỉnh khi đọc lại bản phác thảo dự án ca nhạc đồ sộ “Nỗi Lòng Người Đi” sẽ ra mắt năm 2019.”

    Một kịch bản cho một chương trình “Nỗi Lòng Người Đi” do chính nhạc sĩ Anh Bằng phác họa xong đã lâu, cho đến năm 2019 mới được ban sáng tác và producers của Trung Tâm Asia nghiên cứu và quyết tâm thực hiện.

    Gặp và trò chuyện cùng Thy Vân trong khung cảnh mới, nghe người giám đốc của trung tâm trò chuyện trong một tinh thần hăng say như độ nào Thy Vân của một thời Asia danh tiếng. Trung Tâm vẫn giữ được tòa nhà cũ để anh chị em nghệ sĩ tới lui tại trụ sở, đồng thời sẽ đầu tư vào một phòng thu mới vuợt xa những gì đã có từ bao nhiêu năm qua..

    Theo một bài viết trước của tác giả Việt Hải, đã có rất nhiều khán giả cũ mới vẫn thường xuyên liên lạc, hoặc khi biết những thông tin mới về Trung Tâm, nhiều bạn trẻ và nghệ sĩ xa gần đã  gửi trực tiếp mẫu CD Demo tiếng hát do mình thực hiện về địa chỉ của Trung Tâm Asia – “vẫn tại trụ sở cũ,” không thay đổi:  10501 Garden Grove Blvd. Garden Grove, CA 92843 hoặc gởi email  cho Trung Tâm Asia: AsiaEntertainmentInc@gmail.com

    Trung tâm Asia hiện tiếp tục phát hành CD, phổ biến những Youtube, LiveStream… được nhiều nghệ sĩ như MC Việt Thảo, Lê Uyên tiếp tục ủng hộ.

     MV hoặc MP3 trên Asia Channel. Asia hiện ưu tiên cho 3 dòng nhạc: Boléro, Tango, và trữ tình quê hương cũng như dòng nhạc thính phòng.

         “Ngoài ra để được xin phép hát nhạc thuộc bản quyền của Trung Tâm Asia, hoặc thực hiện các live show có thể viết thư hoặc email thẳng về Trung Tâm Asia, trực tiếp cùng giám đốc Thy Vân thay vì qua trung gian.”

         Bước sang năm 2019,  được biết Trung Tâm Asia sẽ tiếp tục phát hành một số CD giá trị của các ca sĩ xuất thân từ Asia được yêu cầu tái bản. Một số CD ca nhạc mới và Thánh Ca của nhạc sĩ Anh Bằng chưa từng được phát hành như CD của Melanie Nga Mycũng như Asia đang lần lượt phát hành trong năm 2019, các đĩa Vinyl (đĩa than) và một số CD hoàn toàn mới mẻ… khác với tin đồn ác ý .

    Ca sĩ Lê Uyên hiện tham gia cùng các chương trình của Asia. Lê Uyên cho biết: ” Lê Uyên sẵn lòng tiếp tay cho Trung Tâm Asia, vì Trung Tâm này đã có các chương trình ca nhạc rất giá trị. Với Lê Uyên, rất thích một vài sáng tác của Anh Bằng, khi nghe chính nhạc sĩ và ca sĩ Tuấn Ngọc cùng khen ngợi. Khi Lê Uyên, không chỉ là những ca khúc tình cảm lãng mạn. Không chỉ chuyên chú hát nhạc của riêng nhạc sĩ nào, mà tất cả các dòng nhạc mình yêu thích… ví dụ Lê Uyên rất thích hát: ” Chuyện Giàn Thiên Lý”... của Anh Bằng.

     Được biết, trào lưu thưởng thức của giới trẻ bây giờ sẵn sàng ủng hộ và lịch lãm để nghe thật tiêu chuẩn và “chơi sang” của những tiếng hát bất hủ đã trải dài với thời gian như: Khánh Ly, Lệ Thu, Như Quỳnh, Lê Uyên v.v..

    Đánh dấu 60 năm “Nỗi Lòng Người Đi” như lời Giám đốc Thy Vân qua cuộc phỏng vấn của Việt Hải “Dù Asia có gặp một số khó khăn hơn về tổ chức thu hình DVD trong năm qua, nhưng vẫn ước mong được khán thính giả yêu mến Asia từ hơn 35 năm qua, tiếp tục ủng hộ và tin tưởng rằng Asia đang tiếp tục nỗ lực phát triển.

    Trần Mạnh Chi   (Báo NV Cali Thứ Tư 10-4-2019) và Trẻ Magazine tháng 4-2019

    Chú thích ảnh:

    1- Giám đốc Thy Vân chủ nhân độc nhất liên tục của Trung Tâm Asia liên tục từ 1983.

    2-Tác giả Trần Mạnh Chi (phải) đứng cạnh Thy Vân, MC Thụy Vi (giữa) và vợ chồng Việt Hải mới thăm Trung Tâm Asia ngày 5 tháng 4-2019.

    3- GS Quyên Di cùng với ca sĩ NgaMy đến thăm Đức Ông Phạm Quốc Tuấn, nói chuyện về hát thánh ca và hát “Rước Chặng Đường Thánh Giá” mùa Lễ Phục Sinh  tại Nhà Thờ St Columbans.

    4- Hình ảnh Nhà thiết kế danh tiếng Đỗ Cung (từng cộng tác lâu dài với Trung Tâm Thúy Nga trên 25 năm qua và nhạc sĩ Vũ Tuấn Đức cùng Linh Mục và Giám Mục Kevin Vann từng góp mặt trong DVD Fatima do Asia thực hiện

    5- MC Việt Thảo, người nổi tiếng về các chương trình Chuyện Bên Lề, và cũng là người điều khiển dẫn chương trình rất được yêu mến.

    6- Nhạc sĩ Anh Bằng bên cạnh CD démo, về những tác phẩm trữ tình sang cả những năm cuối đời trong buổi gặp gỡ tại Nhà hàng Quê Em Quê Anh của producer Trần Thăng, cháu ruột của nhạc sĩ Anh Bằng, với các phác họa CD nhạc Anh Bằng với tiếng hát NgaMy

    7- Ca sĩ Lê Uyên, sát cánh cùng Asia từ nhiều năm qua và đặc biệt trong năm 2019

    8- Hai producers trẻ Johnny Bach và đạo diễn Hoàng Đăng Minh được ông ngoại Anh Bằng (chân dung trong hình) tín cẩn và tin tưởng giao phó trọng trách nối tiếp.

  • Tin tức

    Hình ảnh sinh nhật Ns Lam Phương

    https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/2145526452204680

    .

    NHẠC SĨ LAM PHƯƠNG TIỆC SINH NHẬT 82 TUỔI

    Trần Củng Sơn – Việt Báo
     


    Hợp ca Nắng Đẹp Miền Nam

    Trưa Chủ Nhật 24-3-2019 tại NT Studio 15436 Brookhurst Ave Westminster CA gần hai trăm thân hữu và người ái mộ đã tham dự buổi tiệc mừng sinh nhật nhạc sĩ Lam Phương 82 tuổi.
     


     Kiều Chình, Trần Việt Hải chúc mừng Lam Phương

     Đặng Kim Loan hát Phút Cuối

    Nhiều ca khúc Lam Phương được trình bày, hợp ca, đơn ca, múa. Nhạc sĩ Lam Phương bị tai biến mạch máu não mười mấy năm trước, phải ngồi xe lăn, nhưng nhìn ông hôm nay vẫn khỏe mạnh và vui vẻ trước sự ưu ái của những người yêu nhạc Lam Phương.


      Nguyễn Đức Đạt, Trung Nghĩa đàn Băng Nhi hát

    Với nét nhạc dễ nghe, lời ca khá bình dị, trải nhiều chủ đề quê hương tình yêu qua hơn 200 nhạc phẩm sáng tác từ thập niên 1950 cho đến khi ra hải ngoại, nhạc sĩ Lam Phương được giới yêu nhạc ngưỡng mộ, và được coi là một trong số ít nhạc sĩ nổi tiếng nhất trong làng ca nhạc Việt Nam.

    Mặc dù Lam Phương ở Mỹ nhưng nhiều bài hát của ông đang được trình diễn tại Việt Nam và rất ăn khách. Nhiều sô ca nhạc chủ đề Lam Phương tổ chức tại nhiều nơi có đông đồng hương cư ngụ trên khắp thế giới lúc nào cũng bán hết vé.
     

    Xin ghi lại một số hình ảnh tiệc mừng sinh nhật 82 tuổi nhạc sĩ Lam Phương.