-
Bonjour Vietnam 67. Trần Quang Hải et Bạch Yến, Avec la participation de Mai Thanh Nam. Mar 17-2019
-
Hội Đồng Hương & Thân Hữu Thái Bình Hải Ngoại: Hội Xuân Kỷ Hợi 2019
-
Hội Xuân Thái Bình

-
Sinh Nhật thứ 82 của Ns Lam Phương



-
THE JIMMY SHOW : “Guest GSTS TRAN QUANG HAI” , 25.02.2019, LITTLE SAIGON , CALIFORNIA, USA
-
Chiều văn học nghệ thuật ra mắt sách Trần Quang Hải- 50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt (Viễn Đông)
Trưa Chủ Nhật, ngày 10 tháng 2, 2019 tại phòng hội của Đại Học Cal State Long Beach (CSULB) thuộc Phân Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ Gốc Á Châu (Asian & Asian American Studies) đã diễn ra buổi “Chiều Văn Học Nghệ Thuật” năm thứ III do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức. Đọc thêm …
-
Đại Học Calstate Long Beach, CA vinh danh GS Trần Quang Hải

-
Đại Học Calstate Long Beach, CA vinh danh GS Trần Quang Hải
Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Từ lúc nghe tin Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ ngành Dân Tộc Nhạc Học (Ethnomusicology) mắc một bệnh nan y là ung thư máu, các anh chị em trong nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian” rất xúc động và có ý định làm một cái gì đó cho ông. Ngày 10 tháng 2, 2019, hai chi nhánh Bắc và Nam Cali của nhóm đã đồng phối hợp thực hiện một buổi chiều văn hoá nghệ thuật và ra mắt sách cho Trần Quang Hải.
Pic 1 GS Quyên Di trao bằng tưởng lục cho GS TQHải
Pic 2 Bà Frances Thế Thủy trao bằng cho GS TQHải
Cuốn sách “Trần Quang Hải: 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt” là một tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc của ông đã được góp mặt cùng kho tàng tài liệu âm nhạc VN. GS Hải đã từ Paris bay qua để dự buổi hội ngộ và ra mắt sách hy hữu này. Ngoài một số sinh viên của hai trường đại học Calstate và Fullerton, khoảng gần 200 thân hữu và đồng hương người Việt nghe tin đã về tham dự.
Nguyên GS TQHải là chồng của nữ danh ca Bạch Yến, con trai của cố GS Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu văn hoá và âm nhạc cổ truyền rất nổi tiếng ở VN. GS Hải lấy bằng tiến sĩ âm nhạc dân tộc người Việt tại Pháp, làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người ở Pháp(Musée de l’Homme). Ông đã có những nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực Dân tộc âm nhạc học như: hát đồng song thanh, phát triển gõ muỗng. Ông được tôn xưng danh hiệu “vua muỗng” và Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Ông là người trình diễn đàn môi Mông(Hmong) tại nhiều quốc gia nhất thế giới.” Ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế. Ông và danh ca Bạch Yến đã thực hiện hơn 3.000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới…(Theo Wiki)
Pic 3 Ban đại diện nhóm NVNT&TTG
Pic 4 Ban hợp ca
Nhân dịp buổi ra mắt sách được tổ chức tại đại học Calstate Long Beach, CA, USA, bà Teri Yamada, khoa trưởng Khoa Nghiên Cứu Về Người Á Châu Và Người Mỹ gốc Á đã vinh danh GS TS TQHải.
Thật tiếc, bà Teri Yamada đã không được gặp mặt giáo sư vì giờ cuối bà phải bay qua Ấn Độ dự một buổi lễ hội về văn hoá, nên bà viết một lá thư rất chân tình gởi ông. Bà cáo lỗi và ủy nhiệm GS Quyên Di thay bà chào mừng, vinh danh và trao bằng tưởng lục cho ông.
GS Quyên Di dạy ở đây và cũng là thành viên trong khoa nghiên cứu này cho biết thêm, “Đây là một vinh dự cho cộng đồng VN vì hiếm khi khoa trưởng Yamada viết một lá thư trân trọng như thế này. Tôi đã từng dự nhiều buổi vinh danh nhưng chưa bao giờ tôi thấy bà viết một lá thư như thế. Trước đó bà đã đọc tất cả các tài liệu viết về GS, cả những tài liệu của GS viết, nghiên cứu rồi đúc kết lại thành bức thư nói trên và trân trọng trao bằng tưởng lục cho GS. Bà thay mặt đại học Calstate Long Beach vinh danh GS Hải đã có công phi thường đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN qua các công trình nghiên cứu âm nhạc, văn hoá, nghệ thuật dân tộc qua thời gian, qua các thế hệ.
Pic 5 Hàng đứng: Nhóm NVNT&TTG, Hàng ngồi: GS Tahara, GS TQHải, TT Kiều Chinh, NV Nguyễn Quang, NV Quyên Di
Pic 6 Quan Khách
Ngoài ra bà Frances Thế Thủy, ủy viên giáo dục học khu Westminster cũng lên trao bằng tưởng lục cho ông. Hiện diện trong buổi lễ có tài tử Kiều Chinh, GS Tahara Hiroki, BS Steven Le, nhà văn Nguyễn Quang (phu quân Minh Đức Hoài Trinh), NS Lê Văn Khoa và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, BS Phạm Gia Cổn và phu nhân, bà quả phụ Lê Trọng Nguyễn, Nhạc Trưởng Bùi Quỳnh Giao..v..v…
Sự có mặt của GS người Nhật Tahara Hiroki hôm nay đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Ông là người Nhật 100% mà nói và viết tiếng Việt rất sành sõi, thích ăn nước mắm, thích nhạc Việt Bolero. Tôi hỏi ông duyên cớ nào ông lại có mặt ở đây hôm nay. Ông nói ông hâm mộ tài năng của GS TQ Hải mà bay qua Mỹ để được gặp GS Hải. GS Hải rất nổi tiếng ở bên Nhật vì GS đã có nhiều đề tài nghiên cứu về âm nhạc và làm việc chung với các nhà nghiên cứu âm nhạc của Nhật Bản về nhạc cung đình Huế và nhạc dân tộc VN nói chung. GS Tahara cũng nghe tiếng của cố GS Trần Văn Khê là cha của GS Hải nhưng tiếc quá không được gặp cụ vì cụ đã qua đời.
Tôi hỏi thêm là GS Tahara thích nhạc Bolero vậy GS có thấy nhạc cổ truyền Vn có gần gụi với nhạc Bolero VN không? Ông bảo ông thấy nhạc Bolero Vn gần giống với nhạc Tanka của Nhật hơn, nhưng khác ở chỗ Tanka không có tố chất ngọt ngào còn Bolero phải hát ngọt ngào, mượt mà, đầy cảm xúc mới được.
Pic 7 Ông bà GS Lê Văn Khoa, Nguyễn Hùng và NV Việt Hải(ngồi)
pic 8 Trình diễn thời trang áo dài Bà Nhu
GS Trần Mạnh Chi là trưởng nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời gian”, đồng thời là trưởng ban tổ chức đã lên giới thiệu các thành viên Bắc và Nam Cali của nhóm, có nhà văn Trần Việt Hải là cố vấn. GS Quyên Di và Thụy Vy là 2 MC chính của buổi vinh danh.
GS TQHải được mời lên và ông xuất hiện với một vóc dáng rất khoẻ mạnh, giọng nói thì hùng hồn, sang sảng. Ông cám ơn BTC đã thực hiện buổi rms này và nói về quá trình hoạt động của ông ở hải ngoại.
Ông qua Pháp năm 1961 tới nay đã 58 năm. Thời gian đầu để học nhạc Tây Phương và nghiên cứu về nhạc học. Sau đó ông đi tìm hiểu thêm và khám phá ra âm nhạc VN không chỉ đơn thuần có Hò, Xang, Xê, Cống, đàn cò, đàn tỳ bà, độc huyền hay hát chèo, cải lương. Nhạc VN còn có nhạc của 53 sắc tộc khác của những dân tộc ở cao nguyên Trung phần như Ba na, Gia Rai, Êđê, Xê đăng… Ở phía Bắc có người Thái, Tày, Thổ, Nùng, Dao…. cũng có nhạc. Nghĩa là nhạc VN có thiên hình vạn trạng do sự phối hợp của nhiều loại. Trong số các nhạc cụ được sáng chế ngày nay có 3 cây đàn là niềm tự hào cho cái đẹp của VN. Đó là đàn T’rưng của người sắc tộc Gia Rai, đàn K’ni 2 giây và cây đàn đá. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới để giới thiệu những cái hay cái đẹp của âm nhạc VN, như nhạc Cung Đình Huế, nhạc của đồng bào thiểu số, các loại Hát Tuồng, hát Chèo, Ca Trù, Ca Huế, Đàn Ca Tài Tử Nam Bộ. Ông giới thiệu cho toàn cầu biết sự phong phú đa dạng của nhạc VN.
Pic 9 Triển lãm tranh
Ông đã giới thiệu và trình diễn lối hát Đồng Song Thanh và biểu diễn Đàn Môi khiến các cử toạ kinh ngạc và vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Trong quá trình nghiên cứu ông khám phá ra loại hát Đồng Song Thanh của người Mông Cổ vùng Tây Bá Lợi Á tức là hát 2 giọng cùng một lúc, có thể đổi từ giọng chính thành giọng cao. Để cải tiến, ông đã tạo ra phương pháp hát Đồng Song Thanh mới. Hơn thế nữa, có thể dùng phương pháp hát này để trị bệnh cho những người bị đứt thanh quản có thể nói được mà không phải phẫu thuật. Lúc nghiên cứu ông đã chấp nhận để người ta chiếu quang tuyến X trong một thời gian dài để thí nghiệm, nhằm biết được hoạt động của các thớ thịt ở cổ họng khi không dùng đến dây thanh quản mà vẫn tạo ra được tiếng nói. Các bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo ông có thể bị ung thư cổ họng nhưng ông đã sẵn sàng ký vào biên bản cam kết, biến mình thành “con vật” thí nghiệm cho những nghiên cứu của mình bất chấp cả tính mạng.
Để buổi ra mắt sách đầy tính văn hoá nghệ thuật thêm đặc sắc, BTC đã trình diễn một màn “Thời trang với áo dài qua thời gian” với sự góp mặt của các anh chị em trong nhóm cùng sự tham gia của Hội Ái Hữu Sinh Viên VN Fullerton. Những chiếc áo dài từ cổ truyền, Lemur Cát Tường, Bà Nhu, Bà Ba, cho tới cách tân qua các thời đại đã làm khán giả thích thú và kinh ngạc. Những hoạ phẩm nghệ thuật cũng được triển lãm do các hoạ sĩ đóng góp như: Lưu Anh Tuấn, Lê Thúy Vinh, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Hoàng Vinh, Đàm Quốc Cường, Lương Nguyễn, Nguyễn Thái Bình…Các màn hợp ca, song ca mang đầy tính dân tộc do các nhạc sĩ, ca sĩ đồng trình bày đã góp phần phong phú cho buổi rms.
Tôi được tiếp xúc với GS Lê Văn Khoa và xin ông chia sẻ cảm nghĩ về âm nhạc cổ truyền khi ông là một nhạc trưởng chuyên về âm nhạc Tây Phương. Ông nói “Âm nhạc là ngôn ngữ không lời khi con người không hiểu nhau thì âm nhạc giúp để hiểu nhau. Cho nên dù là nhạc cổ truyền hay tây phương nó cũng vẫn là âm nhạc. Từ lâu người Việt cổ súy và bảo vệ tối đa nhạc truyền thống, không muốn nó lai nhạc tây Phương. Người theo nhạc tây phương thì cho rằng phương thức làm việc của tây phương có hệ thống ngon lành hơn, nên coi thường nhạc cổ. Như vậy thì thiệt hại quá, tôi dung hoà cả hai bằng cách dùng dân ca VN viết cho nhạc cổ truyền của người Ukraine và họ rất ngạc nhiên. Họ nói lần đầu tiên trên thế giới mới có người làm như vậy. Tôi dùng đàn tranh, đàn t’rưng bằng tre cho hoà tấu với dàn nhạc Tây Phương mới trình diễn ở Houston tháng 11/2018 khiến ai cũng ngạc nhiên hết. Họ thấy thích thú vì cả hai đều hoà điệu. Mục đích của tôi là làm sao phổ cập để cho cả 2 hoà nhịp.
Trịnh Thanh Thủy thực hiện
Orange County, CA
-
Tọa đàm văn học với nhà văn Ngọc Cường và tác phẩm “Bâng Khuâng”
-
Chiều tao ngộ ra mắt sách của ba tác giả “Tuổi Trẻ”
WESTMIBSTER, California (NV) – Cơn mưa chiều Thứ Bảy, 2 Tháng Hai, dù nặng hạt và mang theo những cơn gió lạnh của ngày giáp Tết, vẫn không ngăn nổi người đến dự buổi tao ngộ, ra mắt sách của Giáo Sư Đặng Phùng Quân, văn thi sĩ Nguyễn Thị Thanh Bình, và cố văn sĩ Hàn Song Tường, tại Viện Viện Học ở Westminster. Đọc thêm …
-
TRẦN QUANG HẢI : Vài dòng về người cô của tôi Trần Ngọc Sương (1925-2017
-
Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn | TÁC GIẢ & TÁC PHẨM
Để tưởng nhớ và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng góp quý giá vào kho tàng Âm Nhạc và đã đưa âm nhạc Việt Nam góp mặt khắp năm châu. Chương trình Tác Giả & Tác Phẩm hôm nay xin nhắc nhớ về dòng nhạc và con người nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của ông.
-
Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian tham dự buổi tiệc Hội Ngộ 60 Năm Trường Trung học Trần Bình Trọng
-
Trò Chuyện với Nhạc Sĩ Lê Dinh
-
Mùa Đông – Sáng Tác mới của Ns. Lê Dinh
-
Thy Nga RFA Phỏng Vấn Nhạc sĩ Lê Dinh
Buổi nay, Thy Nga mời quý vị cùng nghe nhạc của Lê Dinh, từ các sáng tác thưở đầu, đến các bài sau này. Từ 26 năm nay, ông định cư tại Canada. Đã ở tuổi hưu nhưng ông vẫn tiếp tục sinh hoạt trong ngành phát thanh và báo chí; thỉnh thoảng lại sáng tác nhạc, đặc biệt là trong vòng ba năm qua, nhạc sĩ Lê Dinh phát hành được 5 cuốn CD. Vào tháng Tư năm ngoái 2003 thì ông được mời xuất hiện trên chương trình Paris by Night 70 Đọc thêm …
-
NS LÊ DINH CẢM NHẬN VỀ: TÂN NHẠC VIỆT NAM DƯỚI THỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Về âm nhạc, từ 38 năm nay, thành thật và công bình mà nói, chúng ta có thấy sự tiến triển nào trong bộ môn này không, hay là một sự tụt lùi tệ hại từ năm 1975 đến nay, hay nói một cách khác, CSVN đã giết chết âm nhạc Việt Nam. Đoc thêm…
-
Điệp Mỹ Linh Phỏng Vấn Bạn Hữu
Điệp Mỹ Linh xin kính chào nhạc sĩ Lê Dinh.
Thưa anh, từ cuối thập niên 90, Điệp Mỹ Linh được hân hạnh gặp anh và Cô Đan Thi tại Canada. Vào dịp đó cô Đan Thi đã dành cho em một cuộc phỏng vấn. Từ đó, Điệp Mỹ Linh được hân hạnh cộng tác với nguyệt san Nghệ Thuật do anh làm chủ bút và chủ nhiệm. Đến đầu tháng Tư-2015 – sau gần 20 năm – em mới được gặp lại anh, trong dịp anh sang Houston ra mắt DVD. Để mở đầu bài phỏng vấn này, xin anh vui lòng nói qua về tiểu sử của anh. Đọc thêm …
-
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng tuyên thệ nhậm chức Thượng nghị sĩ Tiểu Bang Victoria, Úc Châu

Tân Dân biểu, Nghị sĩ Quốc Hội Victoria, Úc Châu. Ông Kiều Tiến Dũng ngồi ở hàng đầu (thứ hai bên trái)Sau một đời theo đuổi “đam mê khoa học”, ông Kiều Tiến Dũng, một Tiến sĩ Vật lý từng giảng dạy và nghiên cứu tại nhiều trường đại học nổi tiếng thế giới, vừa chiếm được một ghế tại quốc hội tiểu bang Victoria, Úc Châu. Ông chính thức tuyên thệ nhậm chức ngày 19/12 vừa qua vào dịp Lễ Khai mạc Quốc hội Victoria lần thứ 59. Ông là người Úc gốc Việt thứ 3 đắc cử vào quốc hội tiểu bang Victoria từ trước tới nay, và hiện là người gốc Việt duy nhất trong quốc hội khóa này. Trao đổi với VOA-Việt ngữ, ông cho biết lý do tham gia chính trị bắt nguồn từ nguyện vọng muốn đóng góp cho cộng đồng nơi mình sinh sống, đã manh nha từ khi ông rời Việt Nam trên một chiếc tàu tị nạn vào năm 1980.
Một người Úc gốc Việt, Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng, hộm 19/12 tuyên thệ nhậm chức Thượng nghị sĩ tiểu bang Victoria, Úc Châu, sau khi đắc cử để đại diện cho đơn vị Đông Nam Melbourne của Victoria, tiểu bang đông dân thứ nhì Úc Châu.

Ông Kiều Tiến Dũng ký sổ Thượng viện sau lễ tuyên thệ nhậm chức TNS tiểu bang Victoria, ÚcÔng Kiều Tiến Dũng ký sổ Thượng viện sau lễ tuyên thệ nhậm chức TNS tiểu bang Victoria, Úc
Ông cho biết cảm tưởng về buổi tuyên thệ nhân dịp Lễ khai mạc Quốc hội tiểu bang Victoria lần thứ 59:
“Đây là một buổi lễ khá long trọng vì cứ 4 năm thì quốc hội khai mạc một lần và có đại diện chính thức của Nữ Hoàng. Tôi là một trong những người mới trong quốc hội kỳ này chính thức tuyên thệ nhận nhiệm vụ và các trọng trách về những vấn đề trong quốc hội. Thì đây là niềm tự hào cho cá nhân và gia đình tôi. Đây cũng là do công sức của tập thể cộng đồng người Việt tại tiểu bang này nói riêng, và cộng đồng người Việt ở Úc nói chung.”
Ông Kiều Tiến Dũng là một người tị nạn cộng sản sang Úc năm 1980 với hai bàn tay trắng, cả cha lẫn mẹ từng phục vụ trong binh chủng Nhẩy Dù của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Đỗ cử nhân Toán tại Đại học Queensland 4 năm sau, ông được học bổng sang Anh và hoàn tất luận án Tiến sĩ Vật lý năm 1988. Ông từng giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Edinburgh và Oxford ở Anh, Đại học Melbourne và Swinburne ở Úc, cộng tác nghiên cứu với các đại học danh tiếng của Mỹ như Princeton, Columbia, MIT, và làm việc cho CSIRO, cơ quan nghiên cứu khoa học có uy tín nhất của chính phủ Úc.
Những công việc bề bộn đó không ngăn cản ông tích cực tham gia các hoạt động có ích cho cộng đồng. Cùng với một nhóm thân hữu, ông thành lập chương trình truyền hình Việt ngữ đầu tiên ở Melbourne, VNTV, hoạt động liên tục trong suốt 20 năm. Sau VNTV, Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng đã cùng cựu Trưởng Ban Việt ngữ đài SBS, Quốc Việt, thành lập đài Hồn Việt, phát thanh trên khắp nước Úc.
Sau những thành tích đó, điều gì thôi thúc ông tham gia chính trị?
“Thưa chị, từ lúc rời Việt Nam trên một chiếc tàu vào năm 1980, tôi đã luôn luôn có một cái nguyện vọng là được đóng góp cho cái cộng đồng nơi mình đang sinh sống. Và tôi nghĩ là ở cái tuổi này thì vấn đề trực tiếp đóng góp tham gia vào chính trị hoặc tham gia vào sinh hoạt là chuyện có thể làm được trong giai đoạn này trong cuộc đời của tôi, thành ra tôi đã nhận lời.”
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng đã nắm lấy cơ hội để thực hiện nguyện vọng của mình trong cuộc bầu cử ngày 24/11 tại Melbourne khi ông được Đảng Lao động Úc đề cử đại diện cho đảng ra dự tranh tại đơn vị miền Đông-Nam Melbourne.
Theo lời ông, thì đây không phải là một ghế an toàn. Thành phần cử tri người Việt tại đây chỉ là một thiểu số, trên dưới 35,000 người trong tổng số 508,000 cử tri hội đủ điều kiện đi bầu. Cư dân thì rất đa dạng, 168 sắc tộc, nói tới 200 ngôn ngữ khác nhau.
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng cho biết ngoài những chính sách của Đảng Lao động đương quyền được cử tri vùng Đông Nam ủng hộ, như xây bệnh viện, trường học, bệnh xá, vv… cá nhân ông theo đuổi một số chính sách riêng khi ra tranh cử:
“Tôi ra tranh cử trên một số chính sách nó phản ứng cái quá khứ của tôi. Thứ nhất là về vấn đề giáo dục, tôi có một ý nguyện là nước Úc phải có một nền giáo dục có thể sánh kịp với những nước ở Á Châu, đặc biệt là Singapore. Thứ hai, giáo dục trong các trường nghề cao đẳng rất quan trọng bởi vì nó dẫn tới việc làm, tới sự an sinh trong xã hội. Bên cạnh giáo dục, tôi rất chú tâm tới vấn đề cao niên. Đây cũng phản ánh lịch sử của cá nhân tôi. Chúng ta là người Việt, rời Việt Nam ra đi vào thập niên 1970, 1980, thời còn trẻ. Chúng ta đã bỏ nhiều công sức, đóng góp rất nhiều cho xã hội và cộng đồng xứ sở nơi chúng ta định cư, nay bước vào tuổi cao niên. Các bậc cha mẹ mà chúng ta bảo lãnh về sau cũng là người cao tuổi, thành ra dịch vụ cho người cao niên rất là quan trọng. Tôi hy vọng rằng nay đã được đắc cử làm Thượng nghị sĩ, thì tôi sẽ có tiếng nói, hay ý kiến đóng góp vào hai lĩnh vực đó nói riêng, và nhiều lĩnh vực khác nữa, thưa chị.”
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng chọn đại diện cho Đảng Lao động trong khi đa số người Việt tị nạn thế hệ lớn tuổi hơn luôn luôn ủng hộ Liên đảng Tự do-Quốc gia, vì “dị ứng” với cụm từ “lao động” bởi nó làm họ liên tưởng tới Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông giải thích về sự lựa chọn đó:
“Chính sách Đảng Lao động có những cái phù hợp với với ý nguyện của mình. Dĩ nhiên, không có một đảng nào, tập hợp hay tổ chức nào mà chúng ta có thể hoàn toàn đồng ý mọi chính sách, mọi lúc…Có nhiều chính sách tôi rất ủng hộ, có những chính sách tôi nghĩ là có thể ủng hộ nếu có những sự thay đổi, và có một vài chính sách tôi không thể ủng hộ được.Tuy nhiên đó là một sinh hoạt dân chủ tập thể, thì sau khi quyết định đưa ra, là đảng viên thì phải thi hành.”
Tuy vậy, Thượng nghị sĩ Kiều Tiến Dũng nhấn mạnh rằng nếu một chính sách đi ngược với nguyên tắc của cá nhân ông,về mặt đạo đức hay về một số khía cạnh liên quan tới người Việt, ông sẽ không ngần ngại lên tiếng, và tùy trường hợp, sẽ không chấp nhận.
Trả lời câu hỏi ông có tiên liệu những khó khăn của một dân cử gốc Việt, đại diện cho các lợi ích của nước Úc, trong những trường hợp có mâu thuẫn với những kỳ vọng của cộng đồng người Việt?

Kieu Tien Dung portraitTiến sĩ Kiều Tiến Dũng nói:
“Chính trị là một con đường chông gai. Trước khi tuyên thệ thì trong quốc hội có những buổi để giới thiệu những dịch vụ và những trách nhiệm cũng như nhiệm vụ của các dân biểu, thì một trong những tấm hình đầu tiên họ đưa ra là một chậu cá nhỏ trong đó có một con cá vàng. Đúng, một chính trị gia sẽ như một con cá nằm trong một cái chậu bị mọi người soi mói, chỉ trích… Mọi hành vi, nhất cử nhất động đều bị theo dõi và phán xét. Trong chính trị chúng ta mỗi người có mục đích riêng, lý tưởng riêng. Trong quốc hội có nhiều đảng phái, những đạo luật mà chúng ta coi là quan trọng thì khi muốn thông qua, chúng ta phải thương lượng với những đảng đối lập để thông qua được những gì chúng ta muốn. Người dân Úc bầu cho chúng tôi, nhưng cá nhân tôi cũng là người Việt, cộng đồng người chúng ta có những kỳ vọng. Đó là điều rất đúng, không có gì mà ngạc nhiên, tuy nhiên tôi nghĩ cộng đồng chúng ta trên 43 năm nay sống ở nước Úc và những nơi khác trên thế giới, đa số đều hiểu chúng ta sống trong một tập thể, bất cứ nước nào dù Mỹ hay Úc, đều đặt quyền lợi của nước họ lên trên hết. Chúng ta phải đóng góp cho nước chúng ta đang sinh sống. Chúng ta có thể tranh đấu cho những nhu cầu đặc biệt của chúng ta nhưng không nên kỳ vọng một cá nhân như tôi, hay một vài Thượng nghị sĩ và vài dân biểu gốc Việt khác có thể luôn luôn tranh đấu cho người Việt mà lấy đi quyền lợi của các nhóm khác.”
Là một người gốc Việt, Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng chia sẻ những ưu tư, trăn trở của ông cho quê hương Việt Nam trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nhiều nguy cơ.
“Tôi lúc nào cũng tha thiết và có những ưu tư về dất nước Việt Nam. Ưu tư lớn nhất của tôi là vấn đề toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trung Cộng bành trướng quá mạnh, là một nền kinh tế và sức mạnh quân sự đi đôi với những thủ đoạn, những áp lực mà họ áp đặt trên những nước lân bang, trong đó có Việt Nam.”
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng còn bày tỏ lo ngại về một nguy cơ khác liên quan tới luật đặc khu, nhường đất cho nước ngoài – đặc biệt là Trung Quốc- trong thời gian lâu dài, ông cho rằng đây là một mối nguy khác cho sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Ông nói muốn chống ngoại xâm thì dân phải một lòng, nước phải đoàn kết,và muốn vậy thì phải có dân chủ, dân quyền và nhân quyền.
Ông nói : “Muốn sống còn, nếu chúng ta muốn giữ được toàn vẹn lãnh thổ, thì người dân phải có nhân quyền và dân quyền thì mới hy vọng chúng ta còn được một đất nước Việt Nam.”
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng là người Úc gốc Việt thứ 3 từng đắc cử vào quốc hội Victoria từ trước tới nay, và hiện là người Việt duy nhất trong quốc hội tiểu bang, sau khi một người Úc gốc Việt khác, cô Trương Việt Hương, thành viên của Đảng Xanh, thất cử. Người Việt đầu tiên vào quốc hội Victoria cách đây khoảng 20 năm là thượng nghị sĩ Nguyễn Sang, sau khi đắc cử hai nhiệm kỳ, ông Sang không còn tham gia chính trị.
-
Nói thêm về tác giả NgọcCường
Như hầu hết quý vị có thể đã biết, tôi đọc tác giả Bâng Khuâng từ ngày ông còn là một cậu bé chưa tới 10 tuổi, viết những đoản văn thật ngắn về những điều tỉ mẩn xảy ra trong cuộc sống đời thường hàng ngày.
Kể từ kỷ niệm xa xôi ấy, đến nay đã hơn nửa thế kỷ, tôi thực sự không còn nhớ chi tiết của bài viết ký tênTường Cường, chỉ chiếm chừng nửa trang giấy khổ nhỏ của tờ Văn Hóa Ngày Nay, bộ mới, dưới sự chăm sóc của cố văn hào Nhất Linh. Tuy nhiên, ấn tượng sâu đậm vềmột Con Muỗi bị kẹt trong cái màn buông trên giường ngủ của cậu bé tác giả, ở lại rất lâu, rõ nét, trong trí nhớ tôi.
Mãi tới năm 2014, khi tác giả từ Ohio về quận Cam ra mắt tập truyện ngắn đầu tay Bèo Giạt, ông có nhã ý mời tôi nói ít lời về cuốn sách trong lần gặp mặt đầu tiên ấy, nghe tôi vui mừng nhắcchuyện cũ mà ông không hề hay biết, cũng không nhớ chính ông là tác giả đoản văn tôi đang nói đến, nên ông ngạc nhiên và bối rối ra mặt. Phần tôi, cũng bối rối không kém dù không chút ngờ vực về trí nhớ của mình. May mà ông là nhân vật có thật, đang ngồi trước mặt tôi, có tác phẩm trình làng, từng ký bút hiệu Tường Cường nay thay đổi chữ lót, trở thành Ngọc Cường để ghi nhớ tên cô con gái đầu lòng đã mất thời ông chinh chiến xa nhà. May hơn nữa là ông nhận có viết lách ngày còn bé vì không biết làm gì thời thơ ấu lang thang nhàn rỗi ấy, chỉ không nhớ chuyện Con Muỗi.
Sở dĩ tôi mạn phép lan man như thế chỉ để đi tới kết luận là sau ngần ấy năm tháng tích lũy những gìông tha thiết cưu mang, cần viết ra, tác giả Ngọc Cường của đầu thế kỷ 21 trong bối cảnh một nước Mỹ to lớn, quyền lực, hung hãn, phức tạp, vẫn y nguyên là Tường Cường của một thời trẻ dại, sớm mồ côi mẹ, trôi nổi giữa thành phố Saigon không có nơi an trú yên ấm cho thể tánh mỏng manh và đa cảm của cậu. Do bản năng sinh tồn hay do thiên khiếu sớm sủa báo trước văn tài, cậu bé Cường đi tìm nơi ẩn náu trong đám đông sinh vật hiện hữu xung quanh bằng cách chú tâm quan sát cuộc sống của những sinh vật nào cậu có cơ hội tiếp cận, bắt đầu bằng Con Muỗi. Cùng với tuổi đời, khung trời tuổi nhỏ của cậu ngày càng mở rộng. Hết quan sát và vui chơi thân thiện với loài vật, cậu hướng đến con người, vô hình chung, tạo ra một trường phái sáng tác riêng biệt.
Tôi gặp lại Tường Cường của thập niên 50 thế kỷ 20, sau rất nhiều phong ba, bão tố xảy đến cho Việt Nam ở một thời khoảng lịch sử nhiều biến động, thế nhưng tưởng chừng tác giả Con Muỗi vẫn y nguyên là ông với đôi mắt điềm tĩnh nhìn đời như một thiền sư an nhiên trước sự an bài không tránh khỏi của duyên nghiệp tiền định.
Cảm giác lập tức của độc giả khi đọc Bèo Giạt, như tôi đã chia sẻ trong lần ra mắt tập truyện cách nay bốnnăm, là sự tẻ nhạt. Tựa như khi chúng ta xem một cuộn phim không có nhiều tình tiết hư cấu gay cấn, không có cả sự phóng tay làm ra số phận của các nhân vật theo ý riêng mà chỉ là một chuỗi nối kết những gì xảy ra cho các nhân vật củaông trong đời thường, được ghi lại bằng ống kính của một nhiếp ảnh gia nhìn thấu suốt sự bất lực của kiếp người. Cho tới nay, có lẽ không có nhiều tác giả có được sự khép mình để chấp nhận, để có cách nhìn khiêm nhượng nếu không nói là hàng phục của Ngọc Cường. Bên trong, bên dưới cảm giác nhạt nhẽo, nhàm chán, còn một cảm giác bi thương ít ai chịu nhìn nhận, mà, cho dù nhìn nhận hay không, nỗi bi thương vẫn đè nặng lên mỗi phận người. Tuyệt đối trung thành, một cách tỉ mỉ trong mỗi ghi nhận, ông cũng dùng đúng thứ ngôn ngữ tuyệt đối giản dị trao đổi hàng ngày giữa các nhân vật ông chọn đưa vào sổ thiên tào. Để tuyệt đối là một người kể chuyện đứng ngoài, ông giấu nhẹm mình, không chịu trách nhiệm về những vui /buồn hay may/rủi mà các nhân vật ấy phải nhận lãnh, trong đó có bản thân ông cũng cố lờ đi buồn/vui, may/rủi của chính mình.
Có một lý thuyết được công nhận rộng rãi, kể cả với nhà văn Ngọc Cường, rằng chính khán giả, độc giả của mọi công trình trước tác hay sáng tác được hình thành bởi các tác giả có tác phẩm, mới là những người thực sự kếtthúc các tác phẩm ấy, cho chúng một linh hồn, một dung mạo và một ý nghĩa. Đọc Bèo Giạt, đọc Hệ Lụy hay đọc Bâng Khuâng của Ngọc Cường là trường hợp điển hình cho lý thuyết này.
Câu chuyện nào của ôngcũng lơ lửng tầng mây, là những bức ảnh khoanh lại một mảng thời gian không đầu, không đuôi, như thể ai rồi cũng chỉ có một quãng đời để sống, với gặp gỡ rồi biệt ly ở nơi đến và nơi đi, bằng tiếng cười thoảng qua, bằng tiếng khóc ở lại, không bao giờ biết rõ xuất xứ cũng như chung cuộc của sự xuất hiện những khoảng khắc vô nghĩa ấy.
Hơn nửa thế kỷ viết trong cưu mang lặng lẽ hay viết xuống những mặt giấy lạnh lẽo, Ngọc Cường tạo ra một trường phái của riêng ông qua ngót nghét gần ngàn trang sách phản chiếu một nhân sinh quan nhất quán xuyên suốt ba tác phẩm tuần tự góp mặt trên văn đàn hải ngoại mỗi hai năm một cuốn, 2014, 2016 và 2018. Bày tỏ trong lời mở ở phần đầu cuốn Bâng Khuâng quý vị đang có trong tay, tác giả chia sẻ: “Do ngôn ngữ và chữ viết có giới hạn khi diễn tả hay tiếp nhận tư tưởng cùng cảm xúc nên không ai có thể tường tận hết được người viết muốn nói gì. Phật đã cảnh cáo các môn sinh trong câu “Như Lai xưa nay chưa nói lên điều gì cả.”
Ông ở trong và cũng ở ngoài tác phẩm. Ông viết để chữ nghĩa cất lên tiếng nói của chúng. Y như chúng ta ai cũng có một cuộc đời mà mình không thực sự làm chủ, tưởng là có hóa ra không, muốn thế này, nó ra thế nọ. Ngẫm cho cùng, nỗi bi ai đeo đẳng con người, kim cương hay châu ngọc long lanh có khác gì hàng mã? Biết vậy nhưng con ngườihết đời này qua đời khác, vẫn phải gánh vác thánh giá và chặng đường khổ ải trong nhọc nhằn vinh quang này, sau cùng, được giải thích bằng nước mắt yêuthương của Mẹ hiền Maria hay của Phật Bà Quán Thế Âm luôn đổ xuống thân phận con cái các bà như một cứu rỗi. Ngọc Cường ca ngợi tình yêu/tình thương, thấy trong đó sự an ủi: “Dường như ở làng Jaux hẻo lánh hay bất cứ nơi xa xôi nào khắp thế giới, một khi có tình yêu gia đình và tình thân của bạn bè, nơi đó có niềm vui và hy vọng.” (Lưu Vong, tr. 94) “Phải chăng tình yêu chỉ có ý nghĩa khi làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn?” (Yêu và Hận, tr. 46) Độc giả sẽ gặp những câu trích dẫn tương tự rải rác ở nhiều nơi khác trong cả 3 tập truyện của NC.
Để minh họa những lời liều lĩnh vượt cả khuyên răn của Như Lai trong phần bày tỏ hôm nay, tôi xin mượn ba truyện kể của tác giả NC trong tập Bâng Khuâng, được chọn ra do chính tác giả,một văn hữu cùng họ tộc Nguyễn Tường và một người đọc phái nữ, là các truyện Long và Thủy (tr. 13) Lưu Vong (tr. 79) và Mối Chân Tình (tr. 95) để giới thiệu cùng quý vị.
I.- Truyện Long và Thủy, ngay đầu sách, mô tả một đôi tình nhân thời loạn ly, đang trong tình cảnh sắp phải chia tay bên ngoài cổng phi trường. Long sẽ trở lại đơn vị với cuộc sống đầy bất trắc của người lính xưa nay chinh chiến mấy ai về? Thủy từ đây sẽ không còn là cô sinh viên vô tư đi bên lề vận mệnh đất nước như bao lâu trước mà bắt đầu biếtlo âu thế sự. Thế nhưng trong giây phút chập chùng biệt ly ấy, cả hai “vẫn đứng yên một chỗ, không biết nói gì với nhau.” Nàng thì liên tưởng tới một cảnh trong phim Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết, khi người lính Đức còn trẻ bị bắn gục, trên tay còn nắm lá thư của người tình hậu phương báo tin nàng có thai, tỉnh bơ như chuyện của ai khác, liên tưởng nhưng không nghĩ chuyện liên quan tới chính mình cũng đang trong cảnh ngộ kẻ hậu phương, người tiền tuyến yhệt các nhân vật trong phim. Ngồi trong quán nước, họ tính nhẩm cả chuyện ai sẽ trả tiền món giải khát và khi Thủy “đưa cho Long ly rau má, chàng lắc đầu, nàng bèn uống một lèo hết ly.” (Tr. 22.)
Kể lại nguồn gốc cuộc tình, Thủy cho biết: “Hôm đó không phải là lần đầu hai người gặp nhau nhưng lại là thời điểm bỗng dưng nàng biết chắc chắn mình đã yêu, rõ ràng như định mệnhđã an bài.” Nghĩ về tương lai cuộc tình, Thủy chia sẻ dự tính chắc mà cũng không chắc của một cô dâu ngày cưới, lấy chồng thời chiến chinh: “Em sẽ đi dạy học, tiện thời gian lo việc nhà cửa, con cái nhưng đó chỉ là giấc mơ xa vời trước hoàn cảnh bấp bênh của Long.” Rồi nàng thấy tủi thân, bất lực, như bị một guồng máy khổng lồ nghiền nát mình.” (Tr.20) Rồi nàng nhận ra “cuộc đời của họ – gồm 4 người, hai chị em Thủy và Hà, hai người bạn Long và Châu- đều mong manh, bấtđịnh, như đám mây lơ lửng trên đầu đôi tình nhân trưa nay không biết sẽ trôi vềđâu? (Tr. 20) Truyện kết thúc bằng câu hỏi vẩn vơ không có lời giải đáp của Châu lúc Saigon sắp mất và Châu sắp ra đi không có Hà theo: “Cớ sao người bạn thân thiết nhất của mình (là Long) lại có thể là người lính cuối cùng gục ngã cho cuộc chiến?” Không chỉ Long không có mặt, cả Châu cũng mơ hồ như chiếc bóngbên đường của ai khác vào giây phút hạ màn bi thảm trong vở kịch của họ.
Truyện “Long và Thủy” đóng lại bằng cảnh hai người lính già vô danh lạc lõng trong một tiệc cưới tràn trề bia rượu và tiếng nói cười huyên náo ở Bắc Cali. Họ nhắc tới Long và Thủy như chút kỷ niệm đã xa mờ trên dòng thời gian phôi pha.
II.- Truyện Lưu Vong, tr.81, xoay quanh bữa ăn tối do vợ chồng Lan và Thọ thết đãi vợ chồng Oanh và Dũng tại nhà. Thọ là bác sĩ, chẳng biết duyên nghiệp bởi đâu, đã định cư ở Jaux, một ngôi làng nhỏ, cách Paris 60 cây số hướng Bắc. Chồng hành nghề thầy thuốc, v ợ cặm cụi đi làm công chức cho thành phố mấy chục năm, họ xây được một dinh cơ đồ sộ bốn tầng lầu ở ven làng và sống sung túc. Bữa ăn tối tuy đãi bạn các món quốc hồn quốc túy, rau muống luộc đánh dấm cà chua, cá nục kho song vẫn theo lối Tây, uống rượu khai vị và tráng miệng bằng bánh hạnh nhân. Dũng vốn không ưa Thọ vì sự cách biệt giai cấp xã hội nên dù Thọ cầu thân, Dũng vẫn không muốn gần gũi nhiều. Chàng muốn vợ từ chối lời mời nhưng rồi vốn quen để vợ quyết định, chàng lại theo đi. Ăn xong, thấy nụ cười đắc ý trên môi Lan, hãnh diện vì bữa cơm ngon, thấy Thọ xoa bụng trong một cử chỉ thỏa thuê, khoe đã bảo được vợ phải đi chợ Tăng Frères để mua thức ăn hiếm quý mời bạn nhưng Dũng không bận tâm nữa mà thoải mái thưởng thức cái ghế bành đặt cạnh lò sưởi, hơi ấm lửa củi nhà Thọ dễ chịu hơnhẳn cái máy sưởi cũ kỹ nhà mình, thậm chí “cảm giác êm ái như đang được sống dưới mái ấm gia đình.” Hai vợ chồng đã hẹn nhau phải ra về cho kịp chuyến xe lửa cuối rời làng lúc 11 giờ đêm nhưng rồi họ để cho nhiều sự tình cờ lôi cuốn và cuối cùng ở lại không chỉ qua đêm mà cả ngày hôm sau nữa. Quan trọng hơn, thông qua cảm nghĩ đổi thay trong bản thân, Dũng nhận ra dáng vẻ ung dung, phong lưu quý phái của vợ chồng chủ nhà thật ra cũng đáng yêu, chỉ chính mình đáng trách vì đã xét người hời hợt. Biên giới giữa đáng yêu và đáng trách có thật mỏng manh, dễ xóa nhòa như thế không hay đấy là sự thỏa hiệp để mà sống, kiểu Bài không tên số 6 của Vũ Thành An, “Hãy cố yêu người mà sống, lâu rồi đời người cũng qua?” Còn gì tội nghiệp hơn thếcho một kiếp nhân sinh? Sau cùng, nhân vật Mụ Hường trong cùng truyện khiến Dũng khám phá ra ý nghĩa sâu xa hơn của hai chữ Lưu Vong, là mất quê hương vàcũng mất chính mình, vong quốc hay vong thân như bóng với hình.
III.- Trong truyện Mối Chân Tình, tr. 95, tác giả mô tả cảnh đời khó nghèo của đôi vợ chồng Lan và Thân từ khi còn ở trong nước và trước nữa, khi họ còn là hai thành viên trong một nhóm nhỏ sinh hoạt Phật sự, lấy nhau trong mơ hồ, không biết do tình yêu hay chỉ là tình bạn mà chỉ “với một nội dung đơn giản là một khi đã là bạn với nhau, họ sẽ là bạn suốt đời như dấu ấn in đậm nét lên trang giấy trắng” (tr.102) Biến cố30/4/75 xảy ra, Thân mang cấp bậc trung úy, chỉ huy một đại đội cố thủ ở Phước Tuy, không bỏ chạy theo Tiểu đoàn trưởng đã đào ngũ mà hô hào binh sĩ thuộc quyền bắn hạ cả xe tăng T54 của địch để rồi kẹt lại và phải trình diện vào trại cải tạo. Lan một mình lăn lóc, bươn chải chợ Trời nuôi hai đứa con dại và chồng tù tội vắng nhà. Nhiều đêmtrên căn gác nhỏ, nhìn con thơ say ngủ, Lan vừa ứa nước mắt thương thân vừa hãnh diện không biết bằng cách nào mà mình có thể chu toàn cả hai vai trò làm mẹ và làm vợ tù như thế? Các nhân vật của Ngọc Cường sống lam lũ, vất vả, đếm từng giọt mồ hôi, nước mắt để sinh tồn nhưng luôn với tâm thế bơ vơ, lạc lõng, như những chiếc lá bị gió cuốn đi.
Thân trả nợ cải tạo xong, thời cuộc đưa đẩy cả gia đình qua Mỹ định cư. Hai vợ chồng, hai đứa con hội nhập khó khăn vào xã hội mới. Ngoài công việc của một nhân viên gác đêm để kiếm sống, Thân tìm khuây khỏa bằng cách lên chùa làm công quả để chỉ thấy cảnh chùa và cảnh Bolsa cũng na ná như nhau song chàng không có lựa chọn nào khác.Ngoài đi chùa, khi có cơ hội, Thân mời bạn bè tới nhà nhậu nhẹt, nhắc chuyện ngày xưa. Đứa con gái lớn lên, lấy chồng, sinh con đẻ cái và sống làng nhàng quangày với công việc của một cô thợ móng tay. Đứa con trai ham chơi, lang bạt,không chịu học hành, không chịu đùm đềvợ con như con cái nhà khác cho cha mẹ có cháu nội bế bồng. Thân giận lắm nhưng vẫn không từ bỏ được con. Lan vừa tạm ổn định cuộc sống thì biết làmình bị ung thư, phải làm hóa trị. Nghe chồng mời bạn tới nhà, chị phàn nàn“Tôi mệt quá mà anh còn kiếm thêm việc, tôi không dọn dẹp được đâu đấy, uống vừavừa thôi, đừng để say quá rồi nói năng bậy bạ.” Nói là nói thế nhưng chập sau, chính Lan lại đề nghị chồng mời thêm bạn và tự nguyện móc túi đưa thêm tiển để chồng chợ búa, mua thêm rượu và thức ăn. Cứ như họ là những quân cờ dưới bàn tay của một kỳ vương đầy quyền năng và có lòng tốt đáng tin cậy như tác giả nhận định (tr. 105) Câu chuyện cứ thế mà kéo lê thê qua 14 trang giấy, mô tả cuộc sống của một tập thể nhỏ người Việt di tản quần cư ở tiểu bang California có đông người Việt nhất, cách sống, cách ứng xử của họ với nhau và với cảnh ngộ bất ưng, những buồn vui họ trải qua, nhiều tâm sự giống nhau và khác nhau tùy thuộc những thành công hay thất bại trong nỗ lực riêng; chuyện cha mẹ trong hai gia đình cố cựu đành quên ước hẹn hôn nhân cho con cái trong nỗi ngại ngùng vì địa vị xã hội nay quá chênh lệch; chuyện đi hay không đi biểu tình như một cách bày tỏ lập trường chống cọng vì tuy lập trường chỉ có một nhưng động cơ và quan điểm thể hiện không nhất quán từ góc nhìn của mỗi người; chuyện một ông đại tá như đại bàng gãy cánh trong tháng tư đen, chịu hàng phục nghịch cảnh để trở thành cai tù đối với anh em cùng trại giam, sớm tối tả tơi quát tháo anh em y như một nhân vật phường tuồng để rồi qua đây, chui nhủi vì hổ thẹn và cuối cùng xuốngtóc đi tu; chuyệnkhi qua đời, có những cựu chiến binh quân lực VNCH lưu vong trối trăn xin đừng phủ cờ trên quan tài vì họ đã không có cái vinh dự hy sinh ngoài chiến trường..vv..
Cứ thế, cứ thế, chi tiết, tỉ mẩn, kiên tâm, Ngọc Cường ôm hếtcuộc sống trong vòng tay, chăm chút, thương yêu quan sát, ghi chép. Không có gì lớn lao cả nhưng đó là những mảnh đời có thật dưới ánh mặt trời, những buồng phổi người đã cố gắng thở, những trái tim người đã cố gắng đập và sẽ không bao giờ được biếtđến như những trang ngoại sử mà chính sử sẽ thiếu sót nếu không có ai thấy mìnhở trong và ghi chép lại. Ngườichiến sĩ vô danh hy sinh trên mặt trận súng đạn được tri ân với đài tưởng niệm,được ghi công và tuyên dương bằng sử sách; người thường dân vô danh chết trên mặt trận sinh tồn của nhân loại không có lúc nào ngưng nghỉ cũng cần được quan hoài vì những đóng góp của họ để xây dựng xã hội. Đọc Ngọc Cường để có những giây phút thấm ngấm phận người và phận mình, là phiên bản của nhau trên dòng sinh mệnh vô tận chung, may ra chúng ta sẽ dễ dàng đến với nhau và xót thương nhau hơn, sẽ cùng nhau hoàn chỉnh bản nháp CON NGƯỜI, tác phẩm đầu tiên của Thượng Đế, mộ tcách có ý nghĩa hơn .
Mạo muội chia sẻ vài nhận định thô thiển với ít nhiêu chủ quan của tôi hôm nay về tác phẩm thứ 3, Bâng Khuâng, của nhà văn Ngọc Cường, kính mong quý vị và tác giả lượng thứ mọi suy diễn hạn hẹp, sai sót chắc chắn phải có của chúng tôi, xin quý vị mỗi người hãy cầm một cuốn Bâng Khuâng về nhà, đọc để tự mình đón nhận những gửi gấm tâm huyết và chân tình của tác giả, để qua đó, thấy cuộc đời như giòng sông, chỗ sâu chỗ cạn nhưng luôn chan chứa sức sống bền bỉ của nhân loại, trong đó, mỗi chúng ta được vinh hạnh thấy có mình dự phần.
Bùi Bích Hà






































