-
Bạn có tin vào “TIẾNG SÉT ÁI TÌNH” không?

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều.
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…
(Thơ Xuân Diệu)
Tiếng sét ái tình (Love at first sight) luôn được coi là một thứ cảm giác gì đó, rất khó để thốt lên thành lời và không dễ để giải thích. Dẫu vẫn biết rằng mỗi chúng ta, trong tình yêu đôi lứa, gặp được nhau đều có nguyên do, có khi là vì cơ duyên nào đó không hẹn mà gặp. Thậm trí, có người cho rằng đó là “duyên tiền định” hay “định mệnh đã an bài”. Phải chăng tình yêu là một cái gì huyền bí, nó để lại trong ký ức chúng ta những kỷ niệm vui buồn lẫn lộn mà chẳng thể phai nhòa theo năm tháng. Thế các bạn đã có bao giờ thực sự “Falling in Love” chưa? Hay chỉ là “cú sét ái tình” nhất thời? hoặc bi thảm hơn nữa, bạn có bao giờ rơi vào hoàn cảnh “Tình yêu đơn phương”?
Trước hết, chúng ta cùng bàn luận về thế nào là “tiếng sét ái tình” nhé.
Tiếng sét ái tình là tình yêu của từ cái nhìn đầu tiên với những cảm xúc đột xuất khiến bạn choáng váng như thể đang lạc vào cõi u mê. Bạn bị thu hút bởi cái vẻ đẹp thể hiện qua ánh mắt, nụ cười chẳng hạn như vẻ mặt liêu trai hay cái vẻ điển trai kiểu Alain Delon, Omar Sharif, v.v… Trong các cuốn tiểu thuyết tình cảm xã hội bình dân, bạn thường thấy tác giả dùng những từ ngữ như “tiếng sét ái tình“, hoặc “yêu từ cái nhìn đầu tiên” để tả về tình yêu trai gái. Chính vì vậy mà cho ngày nay, nhiều người vẫn lầm lẫn và tin vào chỉ có một loại tình yêu duy nhất mà người ta goi nôm na là “Cú sét ái tình”.

“Yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên”, thoạt nghe bạn cảm thấy thật lãng mạn như trong movie, có nhiều đôi trai gái cho rằng ngay phút giây đầu gặp gỡ, họ đã biết rằng đó là người trong mộng, là “tiếng sét ái tình” và họ sẽ không thể sống được nếu thiếu người ấy. Một nghiên cứu của nhà khoa học Florian Zsok, thuộc Đại Học Zurich (Thụy Sĩ) thực hiện chung với Đại Học Groningen (Hà Lan) qua một cuộc thăm do ý kiến (survey). Kết quả cho thấy.
Trong số 396 người tham gia khảo sát, 60% là phụ nữ. Những câu hỏi trong bản khảo sát được người tham gia khảo sát trả lời về mối quan hệ yêu đương hiện tại và họ được cho xem một số hình ảnh của những đối tượng khác phái, chưa từng gặp mặt, để xem họ đánh giá sự hấp dẫn của họ thế nào, dựa theo 3 tiêu chuẩn: thích thú, cảm giác thân mật và cảm giác gắn kết. Quan trọng nhất là những người tham gia cuộc khảo sát phải xác định là họ có yêu đối tượng trong hình từ cái nhìn đầu tiên hay không? Và kết quả cho thấy, “tình yêu sét đánh” không có liên hệ với niềm đam mê hay cảm giác thân mật, mà chỉ đơn thuần là “cảm giác hấp dẫn giới tính”. Đó chỉ là sự hấp dẫn và đam mê lúc ban đầu và điều đặc biệt là “tình yêu sét đánh” này chỉ diễn ra từ một phía.
Tuy nhiên, có nhiều người tham gia nghiên cứu đang có người yêu, họ cũng bày tỏ rằng bản thân đã yêu đối phương ngay từ lần gặp đầu tiên. Chính thế mà Florian Zsok cho rằng có thể “tình yêu sét đánh” (love at first sight) đã đặt nền tảng cho những mối quan hệ sâu đậm hơn sau đó của họ. Nói tóm lại, nền tảng cho một tình yêu lâu bền là sự thấu hiểu và cảm thông lẫn nhau, vì vậy để có được một tình yêu thực sự, hãy yêu thương và cùng sẻ chia nhiều hơn. Đó mới là nguyên tắc căn bản vững chắc cho hạnh phúc trọn đời.
Vậy câu hỏi được đặt ra ở đây là “Tiếng sét ái tình” và “Khao khát ái tình” (Love at first sight / Lust at first sight).

“Khao khát ái tình”làkhi bạn bị thu hút bởi cái vẻ đẹp lồ lộ thể hiện qua thể xác bên ngoài chẳng hạn như vẻ mặt khuyến rủ, thân hình hấp dẫn như Jennifer Lopez, Sophia Loren, v.v… ánh mắt đa tình như Clark Gable, Brad Pitt, v.v… chẳng hạn. Bạn bị khuyến rũ bởi cái nóng bỏng của thân xác, bạn như bị lôi cuốn vào mê hồn trận, bạn khao khát yêu đương và bạn lầm nghĩ đó là “Cú sét ái tình”. Nhưng bạn hỡi, dựa vào những nghiên cứu của các nhà tâm lý học Châu Âu thì tình yêu phát xuất từ cái nhìn đầu tiên của “Khao khát ái tình”, thực chất không hề tồn tại mà các nhà tâm lý học đã chứng minh được rằng: Nó chỉ đơn thuần là sự ham muốn của xác thịt, của tình dục mà thôi.
Theo bác sĩ Jill Murray, bà viết trong quyển “BUT I LOVE HIM” thì “… tình yêu không phải là một sự cảm xúc mà chúng ta không thể kiểm soát được, tình yêu có sự lưạ chọn và làm gì có cái gọi là “Tiếng sét ái tình”, mà đó chỉ là sự khao khát ái tình của lúc ban đầu mà thôi …” (No love at first sight but lust at first sight). Theo Murray thì hầu hết những mối quan hệ tình cảm giữa trai gái đều bắt đầu từ những loại tình yêu sau đây:
- Tình yêu cuồng dại và say đắm: (Infatuation Love): Là một loại tình yêu trong đó biểu hiệu sự hứng thú, kích động và lãng mạn, đồng thời tạo ra những cảm xúc rất mãnh liệt, khiến hai người yêu nhau không muốn rời xa nhau, họ có thể nói chuyện hằng giờ bằng điện thoại, họ luôn mơ tưởng đến nhau và chỉ nuốn giữ độc quyền cho hết khoảng thời gian họ ở gần bên nhau. Loại tình yêu này phải trở thành tình yêu tự nhiên (Nature Love) trong tương lai, thì sự quan hệ tình cảm trai gái mới tồn tại và bền vững được.
- Tình Yêu Đam Mê: (Ađictive Love): Trong quan hệ tình cảm này, cả trai lẫn gái tin tưởng rằng họ không thể nào sống xa nhau được, họ cảm thấy thất vọng và hoảng sợ nếu không được sống gần nhau. Loại tình yêu này có thể đưa đến sự lạm dụng đáng lo ngại như: Sự lạm dụng ma túy, đối xử tệ bạc với gia đình (thể xác và lời nói), có người trở thành kẻ lừa đảo, nói giối và có đời sống tình dục bừa bãi, liều mạng. Đối với các em còn nhỏ tuổi thì điểm học xuống thấp. Những em gái thì có nguy cơ rất lớn là sẽ bị bạn trai ngược đãi về thể xác và tình dục.
- Tình Yêu Tự Nhiên: (Nature Love): Loại tình yêu này đặt nền tảng trên thực tế (Reality) và sự quan hệ tình cảm lành mạnh (Healthy relationship), trong đó cả hai người yêu nhau luôn luôn hỗ trợ, khuyến khích lẫn nhau, để cùng phát triển, trưởng thành và đi đến thành công. Họ cùng hòa mình (hay riêng rẽ) để chung vui với bạn bè và tham gia những sinh hoạt xã hội. Cả hai cùng cảm thấy yên tâm và tin tưởng lẫn nhau trong tình yêu đôi lứa, không có những hờn ghen vô cớ, không cần phải cố gắng trở thành hoàn hảo để lấy được sự chú ý của người yêu. Cả hai cùng từ từ tìm hiểu lẫn nhau và không cần bào chữa cho những thói quên xấu của mình, cùng học hỏi và cùng nhau giải quyết những vấn đề nan giải để cùng đi đến một quyết định tốt đẹp.

PHÂN LOẠI TÌNH YÊU
- Si tình, say mê: (Fantasy, passion, normal chemicals: hormones) Đó là một thứ tình yêu mà người ta sống trong ảo tưởng, đam mê và ước mơ được gặp một người bạn khác phái. Lý do chúng ta có những ước mơ đó là do sự hoạt động của một hợp chất trong cơ thể chúng ta gọi là “Học Môn”. (Hormones). Thí dụ: Con trai thường bị thu hút và say mê bởi vẻ đẹp của một cô gái với mái tóc óng mượt, lời nói dịu dàng, thân hình cân đối. Trong khi phái nữ thì say mê và si tình vì vẻ hào hoa phong nhã, giọng cười cởi mở yêu đời, ý tưởng hay, cách nói chuyện thu hút, và có chút hài hước của phái nam.
Trong cuộc tình si mê này, cả hai người cứ muốn tạo cơ hội để gặp mặt hay gọi điện thoại cho nhau. Họ luôn luôn mơ tưởng tới nhau cả ngày (Day dreaming), họ thấy hồi hộp và hứng thú mà không thể diễn tả bằng lời nói được…chẳng hạn như thích bạn của cha mẹ, thày giáo, bạn học cũ, cô hàng xóm, v.v…
- Sự hấp dẫn: Xẩy ra khi chúng ta để ý đến một người nào đó vì mái tóc, vóc dáng, cách ăn mặc, nụ cười và muốn dành đôi chút thời gian với người đó.
Sự hấp dẫn này có thể đưa đến những đam mê mù quáng và có một sức mạnh đưa người ta đến quan hệ bồ bịch, lấy nhau, tình dục và có con với nhau. Nó được coi là một món ăn khai vị của dục vọng.
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA TÌNH YÊU VÀ TÌNH BẠN TRI KỶ

- Tình bạn bè:
Sự hấp dẫn và thu hút xảy ra khi hai người bạn đồng hành hay hai người bạn có cùng một sở thích, tâm đầu ý hiệp về một bộ môn nào đó. Thí dụ: Computer games, thích đạp xe đạp (Ride a bike). Và từ đó, phát triển một sự gắn bó và tin tưởng lẫn nhau. Tình bạn này có thể kéo dài đến cả năm và có khi đến cả một cuộc đời. Chúng ta có thể cho đây là: Tình bạn tri kỷ.
2. Tình yêu lãng mạn:
Đó là một sự si tình, rung động từ con tim (heart of crushes), theo sau là những cảm giác hứng khởi (exciting feeling). Tuy nhiên những rung động bất chợt này lại tàn phai rất mau chóng (quickly wear-off), làm cho người ta có khuynh hướng thường xuyên thay đổi người yêu.
Tình yêu có sự cam kết, còn được gọi là tình yêu vĩnh cửu. Tình yêu này rất mạnh mẽ và bền bỉ (strong & enduring), trong đó có sự hy sinh, cho nhiều hơn là nhận, đến những người mà chúng ta yêu thương, mặc dù những vật cho đi rất là quan trọng đối với chúng ta. Thí dụ: Tình yêu của cha mẹ cho con cái. Tình yêu của Thiên Chúa cho nhân loại. Tình yêu vợ chồng. Loại tình yêu này bao gồm sự chia sẻ giúp đỡ, thông cảm và hỗ trợ lẫn nhau, dù không nhận lại gì cả.
Nếu tình yêu có sự cam kết (Commitment love) mà cộng thêm tình bạn tri kỷ, đồng hành (Friendship love) hay tình yêu lãn mạng (Romantic love) thì sẽ trở thành một sự quan hệ thật là kỳ diệu.
Khánh Lan
California, New Year eve 2021
-
Bác sĩ Zhivago, tham luận bởi Khánh Lan

Boris Leonidovich Pasternak (1890–1960) “Cánh tay phải của tôi. Lau nước mắt giùm tôi“.
Ðó là hai câu trong một bài thơ của Boris Leonidovich Pasternak đã viết để diễn tả những uẩn khúc trong tim khi tác phẩm Bác sĩ Zhivago ra đời năm 1957, bị cấm xuất bản cũng như lưu hành tại Nga, nhất là khi nội dung của tác phẩm bị nhà nước cho là bôi nhọ chính sách và buộc ông phải từ chối nhận đề cử lãnh giải thưởng Nobel văn chương năm 1958, với lý do sự việc này làm giảm uy tín của Đảng Cộng Sản Liên Xô. Tháng 12 năm 1989, người con trai của Văn Hào Boris Leonidovich Pasternak tên là Yevgenii Borisovich Pasternak đã được phép đi tới thành phố Stockholm để nhận lãnh Giải Thưởng Nobel Văn Chương của cha cậu. Vào buổi lễ, nhạc sĩ hồ cầm danh tiếng (cellist) người Nga và cũng là người ly khai chế độ Cộng Sản, tên là Mstislav Rostropovich, đã trình diễn một bản Serenade của J. S. Bach để vinh danh ông.
Văn Hào Boris L. Pasternak qua đời ngày 30 tháng 5 năm 1960 vì bệnh ung thư phổi tại nhà riêng của ông ở Peredelkino. Nấm mộ của Boris Pasternak đã trở nên ngôi đền thờ chính cho các hội viên của phong trào phản kháng Xô Viết. Năm 1980, một hành tinh nhỏ do nhà thiên văn Xô Viết Lyudmila Geogievna Karachkina khám phá đã được đặt bằng tên Pasternak (minor planet 3508 Pasternak).
Tóm tắt nội dung:

Sau đám tang của bà Marya Nikolaevna Zhivago, Yuri Andreievich Zhivago trở nên mồ côi cả cha lẫn mẹ từ khi chàng mới 10 tuổi, Yuri được người cậu ruột là cha Niklai Nikolaevich Vendenyapin gởi chàng cho gia đình ông bà Alexandrovich Gromeko & Anna Ivanovna Gromeko nuôi dưỡng, Tonya là con gái của ông bà Gromeko. Yury theo học y khoa tại trường đại học Moscow và biết được cha của chàng có một người con trai với Princess Stolbunova-Enrizzi tên là Eugraf Zhivago. Sau khi Yuri ra trường y khoa và Tonya trở về từ Paris, Yuri xin cưới nàng làm vợ và họ có với nhau một đứa con trai tên Sasha.
Larisa Fyodorovna (Lara) là con của bà góa phụ Amalia Karlovna Guichard hiện đang làm quản lý cho hãng may Komarovsky. Luật sư Victor Ippolitolitovich Komarovsky nổi tiếng là một thương gia “khát máu” (cold blooded businessman) và là ân nhân cũng như tình nhân của bà Guichard, nhưng h(a)́n lại để ý đến Lara và trong một phút yếu lòng, Lara đã nghe theo lời dụ dỗ của Komarovsky và hiến thân cho hắn. Lara bị bó buộc trở thành tình nhân của gã quý tộc thô cằn, đê tiện ấy vì Komarovsky luôn buông lời hăm dọa sẽ bêu xấu nàng với mọi người nếu nàng từ chối lời yêu cầu của hắn. Sáu tháng trôi qua, Lara sống trong cơn tủi nhục cuồng nộ và trong một buổi tiệc Giáng Sinh tại nhà bà Sventitsky, Lara lén đi đến đó và nh(a)́m bắn vào Komarovsky nhưng không may lại bắn trúng công tố viên tòa án Moscow, ông Kornakov (Prosecutor of the Moscow court) và gây thương tích nhẹ cho ông, nhưng ông không khởi tố nàng ra tòa. Sau đó, Lara nhận lời kết hôn với Pavel Pavlovich (Pasha), người tình đầu của nàng và họ có một cô con gái tên Katenka.Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, Pasha từ giã vợ và con gái gia nhập quân đội Hoàng Gia Nga (Imperial Russian Army) và đột nhiên bị mất tích. Yuri cũng nhập ngũ với tư cách làbác sĩ quân y cho một bệnh viện ngoài chiến trường thuộc tỉnh Meliuzeeva. Tại đây, Yuri được tin là Thiếu uý Pasha Pavlovich chưa chết, anh bị quân đội Hung Gia Lợi Austro (Austro-Hungarian Army) b(a)́t làm tù binh. Về phần Lara, nàng không tin là Pasha đã chết nên gởi con cho bạn bè rồi lên Galicia với hy vọng tìm kiếm ra tông tích của chồng. Lúc ấy, Yuri là bác sĩ quân y và Lara là y tá thiện nguyện, cả hai được bổ nhiệm công tác chung tại một nhà thương ở tỉnh nhỏ Galicia. G(a)̣p lại Lara, Yuri không lấy làm ngạc nhiên cho l(a)́m vì đây không phải là lần đầu tiên họ gặp nhau. Lần thứ nhất, Yuri g(a)̣p Lara khi Yuri tới nhà của một phụ nữ đã tự tử nhưng được cứu thoát ở thành phố Montenegro với một người đàn ông lớn tuổi tên Komarovsky. Lần thứ hai Lara đã bắn ông Komarovsky tại một buổi tiệc Giáng Sinh của bà Sventits. Lần thứ ba khi chàng vào thăm vợ sanh đứa con trai đầu lòng tại trạm quân y khi Tonya sanh đứa con trai đầu lòng của chàng và lần sau cùng là nơi đây, nơi mà một tình yêu ngang trái đã âm thầm nẩy nở, nhưng cả hai đều e dè vì họ đều đã có gia đình.
Khi Chiến tranh kết thúc, họ chia tay và trở về với gia đình của mình. Yuri trở về chức vị bác sĩ tại nhà thương ở Moskva nhưng với bản tính yêu chuộng tự do và bình quyền, chàng thường bị bạn bè cho là thiếu tinh thần cách mạng. Khi cuộc cách mạng tháng mười (October Revolution) và chiến tranh dân sự (Russian civil war) với những xung đột chống chủ nghĩa Marx bùng nổ, hầu hết người dân ở Moscow đều đi tản về vùng quê để tránh chiến tranh, Yuri cùng gia đình chạy về Urals, một vùng đất yên bình thuộc tỉnh Varykino gần Yuriatin và định cư ở nông trại mà trước kia là của ông nội Tonya nhưng bây giờ đang được tập thể hóa. Trên chuyến đi này, Yuri nhận thức được nỗi khổ của nông dân, tù binh và những nạn nhân của cuộc chiến. Chàng bất mãn với những hành động và tư tuởng quá cứng rắn, thiếu tình người của những người theo cách mạng.
Tại Urals, Yuri cùng gia đình khai đất làm ruộng, những lúc rảnh rỗi chàng làm thơ. Tại đây, Yuri và Lara vô tình gặp lại nhau trong thư viện Yuriatin và cũng chính tại nơi này, họ bị lôi cuốn và ngọn lửa tình yêu bùng cháy, họ yêu nhau, bất chấp mọi ràng buộc và mặc cảm tội lỗi… Nhưng rồi cuộc tình ấy cũng ch(a)̉ng bền vững, kết thúc trong dang dở và bị chia cắt bởi chiến tranh….Yuri sau hai tháng chung sống với Lara, chàng luôn bị dày vò giũa hai mối tình: Với Tonya và Lara. Trên đường về nhà, Yury quyết định cắt đứt liên lạc với Lara và sẽ thú nhận tất cả với vợ, nhưng khi đi được nửa đường, chàng bị một nhóm du kích vốn trung thành với nước Liberius do truong nhom du kich Forest Brotherhood, the botshevik guerrilla band bắt cóc và bị bắt buộc làm bác sĩ y tế cho đạo quân này.
Sau hai năm, cuối cuộc chiến tranh giữa quân Bạch Nga (the Tsarist Whites) và quân Cộng Sản Đỏ (the Communist Reds), Yuri trốn thoát và trở về Yuriatin để tìm kiếm Lara và biết được là gia đình chàng đã trở về Moscow sau khi Tonya sanh đứa con gái. Lara là người giúp đỡ đẻ cho Tonya và họ trở thành đôi bạn thân thiết. Trong thời gian này, Lara được tin Pasha còn sống với một tên mới là Strelnikov (Pasha), hiện là một thủ lãnh trong miền núi Urals nhưng lại là người đang bị truy nã. Lara cũng đang bị lùng b(a)́t nên để tránh không bị chỉ điểm, Yuri và Lara quyết định trốn sang một nông trại khi xưa gia đình chàng từng canh tác và hai người sống những ngày hạnh phúc bên nhau trong nhiều tháng. Yuri tiếp tục làm thơ ghi chép lại những thăng trầm của cuộc đời mình, những lo sợ mỗi đêm và tình yêu chàng dành cho Lara.
Lá thư của Tonya đến trễ năm tháng, nàng cho Yuri biết là cha vợ của chàng, ông Gromeko, Tonya và hai đứa con của chàng đã bị trục xuất khỏi Nga và hiện đang sinh sống tại Paris. Trong thư Tonya viết: “Anh Yuri yêu quý, em yêu anh l(a)́m, nhưng anh ch(a)̉ng hề yêu em, có lẽ chúng ta ch(a)̉ng nên gập lại nhau làm gì. Lara là một người đàn bà tốt”. Lời nói trong thư của Tonya đã làm cơn đau tim của Yuri bùng lên và chàng ngất đi… Trong lúc Yuri và Lara đang sống trong những ngày hạnh phúc thì Komarovsky xuất hiện và khuyên họ nên đi lánh nạn về phía đông với ông để tránh bị giết, nhưng Yuri nghĩ đến sự an toàn cho Lara, chàng quyết định để Lara ra đi một mình, chàng đã lừa dối Lara và Katenka để họ cùng đi với Komarovsky. Còn một mình ở lại Varykino, Yuri bắt đầu say sưa uống rượu để tìm quên trong nỗi nhớ Lara. Một buổi tối, Strelnikov (Pasha) đột nhiên trở về Varykino tìm g(a)̣p Lara nhưng chỉ thấy Yuri, họ uống rượu và tâm sự rất lâu. Sau khi biết chuyện Lara ngoại tình với Yuri, Strelmikov quá đau khổ và anh đã tự sát, sángt hôm sau Yuri đã tìm thấy xác của Strelmikov.
Yury trở lại thành phố Moscow và kiếm sống bằng nghề viết sách, Yuri gập lại các bạn cũ là Misha và Nick. Yuri thuê một căn phòng nhỏ và chàng bắt đầu sống chung với Marina Vico, người con gái của chủ nhà và họ có hai đứa con gái. M(a)̣c dù đang sống chung với Marina, nhưng tâm trí của Yuri vô cùng bất an vì hình bóng của Lara nên chàng không tìm được hạnh phúc bên Marina. Yuri nhận thấy rõ một điều là chàng và Lara yêu nhau bằng một tình yêu chân thật, say đắm dù tận cùng là tuyệt vọng, chàng quyết định rời xa Marina. Yuri gặp lại người em khác mẹ Eugraf zhivago hiện là Thiếu tướng trong quân đội Nga và nhờ Eugraf tìm cho chàng một chức vụ bác sĩ tại bệnh viện ở Moscow, nhưng trên đường đi làm, Yuri đã qua đời vì chứng đứng tim.
Lara từ Irkutsk lên Moskva và đi cùng với Thiếu tướng Eugraf Zhivago tới nhà liệm, nàng nhờ Eugraf tìm lại đứa con đã bị thất lạc trong chiến tranh, đứa trẻ ấy, phải chăng là kết quả của mối tình tuyệt vọng và bi thảm của Yuri và Lara. Trong nhà liệm, xác của Yuri được đ(a)̣t trên một cái bàn dài, đ(a)̣t giữa phòng. Lara đứng l(a)̣ng người nhìn chăm chú vào m(a)̣t Yuri, chàng đang n(a)̀m yên nghỉ trong quan tài, bình thản và l(a)̣ng lẽ… Còn một mình trong căn phòng v(a)́ng vẻ, Lara bước gần đến bên xác của Yuri, những giọt nước m(a)́t đang tuôn trào, lăn dài trên má làm ướt cả m(a)̣t chàng. Lara cúi xuống và hôn nhẹ lên môi Yuri thì thầm: “Yuri yêu dấu, hãy hôn em, nụ hôn cuối cùng”…Sau ngày ấy, tin Lara mất tích và không ai thấy nàng đâu nữa, có lẽ nàng đã bị bắt đi trại tập trung và đã chết ở đó. (chế độ “tập thể hóa”, cuộc “Đại Thanh Trừng” (the Joseph Stalin’s Great Purge) và Quần Đảo Ngục Tù (the Gulag)).
Nhiều năm về sau, Misha và Nicky cùng chiến đấu trong Thế Chiến Thứ Hai và họ gặp một cô gái làm nghề giặt ủi tên là Tanya, cô đã kể lại cho họ nghe về cuộc đời của cô, họ nghĩ rằng Tanya chính là con của Yuri và Lara…Khi người con gái trẻ tên Tanya được gọi lên để g(a)̣p vị Thiếu tướng Eugraf Zhivago và kể cho ông nghe về cuộc đời của của cô thì ông không thể nào phủ nhận r(a)̀ng người con gái trẻ đang ngồi trước m(a)̣t ông thật giống Yuri, từ cái cầm nhọn, cái mũi cao và con m(a)́t biết cười ch(a)̉ng khác gì Yuri… Eugraf lẩm bẩm một mình: Có thể đây là đứa con gái bị thất lạc của Yuri và Lara. Eugraf Zhivago mỉm cười: “Có thể ta đã tìm được cháu, ta sẽ cho cháu vào trường đại học, ta sẽ chăm sóc cháu, ta sẽ g(a)̣p cháu nhiều hơn”….
Phim chuyển thể:
Omar Sharif là nhân vật chính trong phim và thủ vai Yuri Zhivago, một bác sĩ y khoa và là một nhà thơ. Truyện kể về cuộc đời của Bác sĩ Zhivago qua những éo le tình ái cùng hai phụ nữ Tonya và Lara bao quanh cuộc cách mạng Nga năm 1917. Cuốn phim Bác sĩ Zhivago đã trở nên một phim bán chạy nhất trên khắp thế giới nhưng chỉ tới được nước Nga sau phong trào Cởi Mở Perestroika. Lịch sử nước Nga trong những năm đầu thế kỷ 20 cho đến sau đại chiến thứ hai, hình ảnh nhân vật Yury Zhivago cùng Lara Guishar đã vẽ lên một bức tranh về số phận bi thảm của con người sống trong giai đoạn lịch sử đau thương này. Họ là nạn nhân của chiến tranh nhưng họ đã vượt lên trên tất cả khắc nghiệt của cuộc sống cho một chuyện tình yêu lãng mạn, một mối tình đẹp đẽ nhưng đầy nước mắt và khổ đau.

Omar Sharif và Julie Christie trong phim Bác sĩ Zhivago Tác phẩm Bác sĩ Zhivago là tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Nga Boris Leonidovich Pasternak và đã được chuyển thể thành phim năm 1965, do David Lean đạo diễn, tài tử chính là Omar Sharif và Julie Christie. Cuốn phim Bác Sĩ Zhivago đã được chiếu ở Sài Gòn trong những năm 1960-1975, nhưng ở Nga, mãi đến năm 1994, phim này mới được trình chiếu. Ấn bản TV Nga năm 2006 về Bác sĩ Zhivago, do đạo diễn Alexander Proshkin và thủ vai Zhivago là tài tử Oleg Menshikov, được coi là trung thực với tác phẩm của Văn Hào Pasternak hơn là cuốn phim năm 1965 của đạo diễn David Lean.
Tham luận tác phẩm:
Tác phẩm Bác sĩ Zhivago được hoàn tất vào năm 1956 nhưng vì quan điểm của tác giả về cuộc Cách mạng tháng 10, nên không được xuất bản ở Nga. Năm 1957 bản thảo của truyện được in ra sách b(a)̀ng tiếng Nga tại Ý do nhà xuất bản Feltrinelli. Năm 1958 ấn bản tiếng Ý và tiếng Anh ra đời, được đề nghị nhận giải Nobel văn chương nhưng chính quyền Nga ép ông phải từ chối. Năm 1988, Tác phẩm Bác sĩ Zhivago mới được cho in và xuất bản tại Nga. Tại Việt Nam từ năm 1959-1988 có ít nhất sáu bản dịch ra tiếng Việt. Tác phẩm Bác sĩ Zhivago trở thành một cuốn sách “best-seller” và được dịch ra 24 thứ tiếng trên toàn thế giới.
Theo người cháu ruột của Boris Pasternak, nhà văn Anna Pasternak viết về tác phẩm của ông, bà nhận định rằng tác phẩm Bác sĩ Zhivago đã ghi lại những sự kiện lịch sử, tôn giáo, triết học của nước Nga vào thời gian từ đầu thế kỷ 20 cho đến sau đại chiến II trong bối cảnh chiến tranh và cách mạng. Tác phẩm nhận định một cách rõ ràng về số phận và lựa chọn của người trí thức trong sự xoay vần của thời cuộc bên cạnh chuyện tình yêu ngang trái giữa Yury Zhivago và Lara Guishar dựa theo chuyện tình yêu của Boris Postermak với Olga Ivinskaya, người đã tạo cho ông nguồn cảm hứng để viết tác phẩm này. Trong một lá thư gửi một người tên R. Schweizer đề ngày 7 tháng Năm, 1958, Boris Pasternak đã viết: “Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tôi đã gặp một phụ nữ trẻ, tên là Olga Ivinskaya… Nàng chính là Lara trong cuốn tiểu thuyết mà tôi bắt đầu viết chính vào thời kỳ đó… Nàng là hiện thân của niềm yêu đời và đức hy sinh… Nàng biết rõ đời sống tinh thần của tôi và mọi công việc văn chương của tôi”. Nhân vật Lara trong tác phẩm Bác sĩ Zhivago chính là hình bóng của Olga Ivinskaya và Yury không khác hơn là tác giả. Olga Ivinskaya gặp Boris Pasternak năm 1946, một góa phụ 34 tuổi đang làm việc cho tạp chí văn học Novy Mir, tại tòa soạn “Thế giới mới”. Olga là một phụ nữ rất quyến rũ với đôi mắt sâu thẳm, xanh biếc và suối tóc vàng trong khi Boris khi đã 56 tuổi và là một nhà thơ chịu nhiều vùi dập của nhà cầm quyền thời bấy giờ bởi chính những quan tâm của ông tới hạnh phúc cá nhân nhiều hơn là phúc lợi của xã hội. Trong cuốn tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago, Boris Pasternak nhác đến “chống Xô Viết” cũng như các lời chỉ trích rất tế nhị các chế độ “Stalin-nít”, chế độ “tập thể hóa”, cuộc “Đại Thanh Trừng” (the Great Purge) và Quần Đảo Ngục Tù (the Gulag) trong các đoạn văn của ông. Không những thế, tác phẩm Bác sĩ Zhivago còn bị nhà cầm quyền gán cho tội nói xấu cuộc Cách mạng Xô viết. Năm 1949, Olga bị bắt và bị lưu đày ở trại cải tạo lao động 4 năm thời Liên Xô (Gulag) vì nghi ngờ là gián điệp và có liên hệ với Boris Pasternak.
Đó là một bi kịch đối với Olga và Boris và là tình sử éo le cho hai người, điều này tương tự mhư chuyện tình của Yuri và Lara trong Bác sĩ Zhivago, tình yêu của họ cũng bị xã hội Xô viết cấm đoán. Dù cho ngay cả trong truyện hay ngoài đời thực, hai mối tình ấy đều không có tương lai và bi thảm mặc dù đó là những mối tình lãng mạn làm say mê lòng người. Một cuộc tình chứa đựng nhiều đau khổ, ám ảnh và hạnh phúc, một tài năng bị vùi dập trong xã hội; một chế độ độc tài luôn cản trở tình yêu đích thực của họ. OlgaIvinskaya cũng nhắc lại mối tình của bà và Boris Pasternak như sau: “…Cuốn tiểu thuyết ấy đã bắt đầu quyết định cả số phận của hai chúng tôi. Nó như một thứ bùa mê. Nó đem đến niềm hạnh phúc điên cuồng cùng nỗi đau khổ ghê gớm. Càng gần đến cái chết của nhân vật, đến dấu chấm cuối cùng, thì đoạn kết của cuộc đời chúng tôi càng gần lại”. Cuộc tình của Boris Pasternak và Olga Ivinskaya kéo dài đến khi ông qua đời vào năm 1960 và Olga Ivinskaya qua đời vào ngày 8 tháng Chín, 1995 tại Mạc Tư Khoa.
Sau khi Thế Chiến II chấm dứt, chính quyền Cộng Sản lại xiết chặt việc kiểm duyệt, một số tiểu thuyết gia bị khai trừ khỏi Hội Nhà Văn nên không phải chỉ có tác phẩm Bác sĩ Zhivago bị kiểm soát và cấm xuất bản mà từ tháng 11 năm 1917, đảng Cộng Sản Bolshevik lên nắm chính quyền tại nước Nga và đã kiểm soát mọi hoạt động văn hóa, kiểm duyệt chặt chẽ các tác phẩm văn chương, mọi nhật báo, tạp chí và văn hóa phẩm, ấn loát, nhiều nhà in bị đóng cửa, số lượng sách báo giảm hẳn đi đồng thời chính quyền đã khuyến khích các nhà văn, nhà thơ phải sáng tác một thứ văn chương của giai cấp vô sản, các tác phẩm văn học phải phục vụ quyền lợi của giới công nhân và nông dân. Sự kiểm duyệt và chỉ đạo của chính quyền đã bóp nghẹt các sáng tác văn học khiến cho trong giai đoạn 1917-1920, không có nhiều tác phẩm được viết. Tới thập niên 1920, chính quyền Cộng Sản đã nới lỏng một đôi phần tự do, các phê bình văn học xuất hiện một số nhà thơ, nhà văn mới bắt đầu từ đấy. Năm 1953, Stalin qua đời, bắt đầu một thời kỳ dễ thở trong nền văn học, trong thập niên 1960 đã có một số nhà văn trẻ, cấp tiến hơn, cổ động cho tự do và tính sáng tạo trong đời sống văn nghệ, chẳng hạn như hai nhà thơ trẻ Yevgeny Yevtushenko và Andrei Voznesensky. Năm 1968, tác phẩm “Vòng Tròn Thứ Nhất” (The First Circle) của Alexander Solzhenitsyn mô tả đời sống của các tù nhân chính trị trong thời đại Stalin, Solzhenitsyn được trao Giải Thưởng Nobel 1970 về Văn Chương nhưng rồi bị trục xuất khỏi Liên Xô vào năm 1974, điều này chứng tỏ rằng không phải chỉ có Boris Pasternak là người duy nhất bị cấm nhận Giải Thưởng Nobel.
Tóm lại, tôi hoàn toàn đồng ý với nhà biên khảo Phạm Văn Tuấn đây là bộ tiểu thuyết sử thi vĩ đại bởi nó đặt ra vấn đề số phận con người – tình yêu trong những dòng xoáy của lịch sử, sự dằn vặt của lương tri về tính thiện của con người. Tác phẩm Bác sĩ Zhivago là một chuyện tình đau đớn của những người tình lạc nhau trong chuyến tàu định mệnh, chiến tranh tạo nên sự chia ly và đặt con người trong chấp nhận hy sinh.
Tiểu sử và sự nghiệp văn chương:
Boris Leonidovich Pasternak sinh ngày 10 tháng 2 năm 1890 tại thành phố Moscow, trong một gia đình giàu có người Nga gốc Do Thái, ông là nhà thơ, tiểu thuyết gia và dịch giả người Nga. Boris Pasternak chịu ảnh hưởng của nhạc sĩ Scriabin nên ông có ước vọng trở một nhạc sĩ, ông ghi tên theo học Nhạc Viện Moscow (the Moscow Conservatory), học về bộ môn sáng tác nhạc trong 6 năm. Năm 1910, Boris thôi học nhạc, ông sang Ðức theo học tại Ðại Học Marburg, tại nơi này ông theo học các nhà triết học thuộc trường phái Kant-Mới (Neo-Kantian) là các Giáo Sư Hermann Cohen và Nicolai Hartman.
Tại Moscow, Boris Pasternak đã thán phục các nhà văn biểu tượng A. Blok và A. Bely nên vào năm 1913, đã tham gia vào nhóm thi sĩ thuộc trường phái “Tương Lai” (futurism) có tên là “Ly Tâm” (Tsentrifuga) và do ở trong nhóm thi sĩ này, Boris Pasternak đã cho ra đời tập thơ đầu tay có tên là “Người sinh đôi ở trong Mây” (The Twin in the Clouds, 1914). Trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Nhất, Boris Pasternak dạy học và làm việc tại một xưởng hóa chất tại Vsevolodovo-Vilve, ông xuất bản các thi tập tiếp theo: “Vượt qua các trở ngại” (Over the Barriers, 1917), “Chị tôi, Cuộc Ðời” (My sister, Life, 1922), trong đó có phần phản ảnh triết học của Immanuel Kant, cũng như ảnh hưởng của các nhà thơ như Rilke, Lermontov, Pushkin và các nhà thơ lãng mạn Đức và “Sinh lần thứ Hai” (Second Birth, 1932). Boris Pasternak tiếp tục viết văn và phiên dịch các tác phẩm ngoại quốc, nhưng vào khoảng giữa năm 1918, các nhà văn hầu như không thể xuất bản các tác phẩm một cách dễ dàng bởi vì các văn hóa phẩm đều bị chính quyền Xô Viết kiểm soát chặt chẽ, tiếp theo Boris Pasternak sáng tác tập thơ trữ tình “Ðứt Ðoạn” (Rupture).
Cũng vào thập niên 1920, Boris Pasternak bắt đầu hai tập thơ dài nói về Cuộc Cách Mạng Nga Năm 1905 (the Russian Revolution of 1905). Ông chuyển sang viết văn xuôi và nhiều truyện tự thuật, đặc biệt là hai tác phẩm “Thời Niên Thiếu của Luvers” (The Childhood of Luvers) và “Cách Cư Xử An Toàn” (Safe Conduct). Sau năm 1932, chỉ có hai tập thơ của Boris Pasternak xuất hiện: “Trên Chuyến Tầu Sớm” (On Early Trains, 1943) và “Khoảng Trống Ðịa Cầu” (The Terrestrial Expanse, 1945), tác phẩm cuối cùng là “Khi thời tiết trở lại quang đãng” (When the Weather Clears, 1959). Vào mùa hè năm 1959, Pasternak bắt đầu viết vở kịch “Vẻ Ðẹp Mù”, một trong bộ ba vở kịch nói về thời gian trước và sau khi Sa Hoàng Alexander II hủy bỏ chế độ nông nô tại nước Nga. Các bản dịch sang tiếng Nga của Boris Pasternak về các vở kịch của Johann Wolfgang von Goethe, Friedrich Schiller, Pedro Calderon de la Barca và William Shakespeare, các bản văn của Juliusz Slowacki và Pedro Calderon de la Barca. Trong khi dịch Calderon, Pasternak nhận được sự yểm trợ bí mật của Nicolai Mikhailovich Liubimov, một nhân vật cao cấp của bộ máy văn chương của Ðảng.
Sau khi Boris Pasternak qua đời, Olga Ivinskaya đã bị nhà cầm quyền Xô Viết bắt giam lần thứ hai cùng với cô con gái là Irina Emelyanova. Các tài liệu và các bức thư của ông Pasternak viết cho bà Ivinskaya đều bị mật vụ KGB tịch thu. Sau đó, KGB đã âm thầm thả cô Irina một năm sau, 1962, và thả bà Olga vào năm 1964. Năm 1978, hồi ký của bà Olga Ivinskaya đã được đưa lén lút ra nước ngoài và được xuất bản tại Paris. Bản dịch tiếng Anh do Max Hayward, đã được phổ biến cùng năm dưới nhan đề: “Thời Gian bị Cầm Tù: Các Năm của tôi với Pasternak” (A Captive of Time: My Years with Pasternak). Bà Olga Ivinskaya chỉ được khôi phục lại thanh danh vào năm 1988. Sau khi Liên Xô bị tan rã vào năm 1991, bà Ivinskaya đã kiện chính phủ Nga để đòi lại các bức thư và các tài liệu mà KGB đã chiếm giữ vào năm 1961 nhưng Tối Cao Pháp Viện Nga đã xác nhận rằng các giấy tờ này phải được lưu giữ trong văn khố quốc gia. Bà Olga Ivinskaya qua đời vì bệnh ung thư vào ngày 08 tháng 9 năm 1995.
Khánh Lan, California July 2020
-
KHÁNH LAN-NHỮNG BƯỚC ĐẦU Ở NGƯỠNG CỬA VĂN CHƯƠNG

Khánh Lan Tôi còn nhớ trước tháng 10, năm 2019, nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian dự trù có 2 chương trình huấn luyện về khóa văn học do GS. Quyên Di giảng dạy và lớp âm nhạc do GS. Phạm Đức Huyến phụ trách, nhưng sau đó nạn dịch Covid-19 bùng phát dữ dội, vì thế nên mọi sinh hoạt nhóm phải ngưng hết vì tình thế. Nhưng điều kỳ lạ là Nghệ sĩ Khánh Lan vẫn viết văn lai rai.
Tôi đọc các bài viết rất hay nên tôi khuyến khích Khánh Lan viết tiếp. Nhờ những ngày bị giới nhiêm vì Covid 19 và nếp sống hưu trí, Khánh Lan đã dành thời gian sáng tác liên tục, từ 10 tác phẩm nhảy lên 20, 30, 40, 50, 60… Đã thế, Khánh Lan lại viết văn với nhiều thể loại khác nhau, một sự việc thật đáng khích lệ.
Thế là 2 anh em tôi khởi đầu khóa học bằng cách liên lạc qua email và phone. Thời gian trôi, mỗi lúc Khánh Lan tỏ ra đầy tự tin và tự vươn lên. Khánh Lan có những lợi điểm trong quá khứ để phát triển theo ngành văn, vì thuở nhỏ gia đình Khánh Lan có tiệm sách nên cô phụ mẹ trông nom cửa tiệm, cô đọc khá nhiều sách, những kiến thức thu nhận qua sách vở từ bao năm trước, vô hình chung đã nhập tâm và tiềm ẩn trong tâm hồn Khánh Lan. Cộng thêm 2 ngành toán học và triết học là 2 môn Khánh Lan vốn thích, lên đại học cô học và đỗ văn bằng cử nhân kế toán quản trị (managerial accounting), xong đỗ tiếp cao học tâm lý xã hội (socio-psychology). Chính 2 khoa học này phần nào giúp cho kỹ năng lý luận sắc bén (logical thinking skills) và óc phân tích sự kiện, bố cục đề tài vững (creative-thinking, sharp reasoning, interpreting data, fact analysis ability, topic brainstorming development,…) Phải nói Khánh Lan tiến bộ khá nhanh trong nỗ lực viết văn do yếu tố thông minh, bén nhạy phân tích đề tài.
Xét cho cùng yếu tố thông minh, nhạy cảm nhận chân ra vấn đề hướng dẫn ngòi bút của mình, tôi nghĩ, đây là điểm son về phẩm chất khởi đầu của Khánh Lan khi theo ngành văn chương mang nét nghệ thuật. Và do sự khởi đầu với nhiều lợi thế sẵn có, cho đến khi đem ra áp dụng cho văn chương là công việc vô cùng thích hợp. Tôi thiển nghĩ khả năng, phẩm chất đã kéo theo lòng yêu nghề cầm bút khiến cho Khánh Lan là một ngòi bút với nhiều triển vọng và tài hoa. Ngoài tình yêu với văn chương ra, Khánh Lan rất tận tuỵ với bút pháp, trau đồi kỹ năng văn phẩm của mình.
Văn chương vốn dĩ được coi như một loại sinh hoạt mang nét thanh tao về tinh thần, một phạm vi cao quí, không phải ai cũng có đủ phẩm chất và năng lực để bước chân vào địa hạt này. Mà hình như nó chỉ là lãnh vực của những tài năng, những nhà tư tưởng, những người có sứ mệnh dấn thân có tầm ảnh hưởng đến tư duy trong xã hội.
Bên trời Tây có Jean–Paul Sartre hay Albert Camus, André Maurois, bên trời Ta có Nhất Linh, Thạch Lam hay Khái Hưng… Nhưng dẫu rằng ở vào thời kỳ nào đi nữa đều được trân trọng, văn chương vẫn luôn mãi được yêu thích và tồn tại cùng với con người. Văn chương là phương diện văn hóa tinh thần của mỗi thời đại nhân bản, ở những xã hội văn minh, khai phóng.
Viết văn là công việc lặn lội với chữ nghĩa. Tôi rất vui khi nhìn các bạn trẻ yêu văn chương, những Cung Lan, Alexandre ViAnh, Karen Thanh Thủy, Thuỵ Lan hay Khánh Lan là những người yêu văn học, điều mà dòng suối văn hóa hay dòng sông văn học hải ngoại cần trôi chảy luân lưu một khi thế hệ đi trước khuất núi, như những Võ Phiến, Hoàng Hải Thuỷ, Minh Đức Hoài Trinh, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Xuân Hoàng…
Trong thời gian vừa qua, Khánh Lan đã cho ra 4 tác phẩm: Những Ý Nghĩ Về Nghệ Thuật Trong Văn Học,Truyện Dài Dĩ Vãng Khôn Nguôi, Tuyển Tập Truyện Ngắn và Tuyển Tập Truyện Trinh Thám THÁM TỬ LÊ MINH.
Đọc tác phẩm Những Ý Nghĩ Về Nghệ Thuật Trong Văn Học của Khánh Lan bàn về văn học, tôi nhớ câu châm ngôn của Maxim Gorky cho rằng văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý. Maxim Gorky cho là cái mỹ học của văn chương vốn đem con người về với chân thiện mỹ. Khánh Lan nhận định về bộ truyện “Đi tìm thời gian đã mất” của Marcel Proust. Nhà văn Graham Greene đã gọi Proust là “tiểu thuyết gia vĩ đại nhất thế kỷ 20” và nhà văn William Somerset Maugham đánh giá Đi tìm thời gian đã mất là “tiểu thuyết hay nhất cho đến nay”.
Đại để nội dung của tác phẩm “Đi tìm thời gian đã mất” là loại tiểu thuyết tự thuật với nhân vật chính là người kể chuyện về chuyện tình của mình với những niềm mơ ước, trăn trở với mối tình đẩu với Gilberte, rồi đến mối tình thơ mộng và đau xót với Albertine sống trong cái thiên đường của một xã hội thượng lưu giả dối và tẻ nhạt, xong chết theo tình một cách thương tâm. Từ đó “Thời gian lại tìm thấy” hàm nghĩa là đi tìm ra lẽ sống của mình, là cống hiến cuộc đời cho thế giới nghệ thuật. Bộ sách này được xem như danh tác quốc tế.
Ngoài ra, Khánh Lan cũng chia sẻ quyển tiểu thuyết xã hội nói về thân phận con người trong tác phẩm Những Kẻ Khốn Cùng (Les Misérables). Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nền văn học thế giới thế kỷ 19. Những kẻ khốn cùng là câu chuyện về xã hội nước Pháp trong khoảng hơn 20 năm đầu thế kỷ 19 kể từ thời điểm Napoléon I lên ngôi và vài thập niên sau đó. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Jean Valjean, một cựu tù nhân khổ sai tìm cách chuộc lại những lỗi lầm gây ra thời trai trẻ.
Những dòng văn của Khánh Lan chung quy thì dù sáng tác hay nhận định tác phẩm, tư tưởng văn chương cho thấy yếu tố mỹ học của chân thiện mỹ trong những tác phẩm của cô. Thật vậy, nhà phê bình văn học Charles Du Bos ngôn là: “Văn học tức là tư tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng“.
Có một dạo nhà văn Maxim Gorky đã từng khuyên một nhà văn nữ trẻ cần phải vượt lên trên những cái tầm thường, vụn vặt để viết về những điều cao thượng đáng viết hơn và đừng biến văn chương thành những thứ tầm thường, đừng làm cuộc đời xấu hơn vì những gì mình viết ra.
Ở Khánh Lan khi đàm đạo, cô cho ý nghĩ là viết văn cô chú trọng phản ảnh tâm tư, tình cảm của chính mình, chân tâm ý nghĩ con người thật qua lăng kính nghệ thuật của bút văn, càng đạt đích điểm tôn vinh nét đẹp của văn chương, nét sâu sắc của nó, được chừng nào hay chừng đó.
Con tim tác giả chia sẻ bao nỗi niềm thương cảm trước số phận bất hạnh, đau khổ của Lara Guishar với một chuyện tình bi thương trong truyện Doctor Zhivago, hay nàng kiều nữ xinh đẹp Marguerite Gautier trong La Dame aux Camélias, hoặc nỗi buồn vơi của cô gái nhà nghèo Jennifer Cavalieri trong Love Story…
Qua những sáng tác văn học rung động lương tâm con người là đích điểm của văn hào Maxim Gorky nhắn gửi những nhà văn theo sau ông. Tôi rất đồng thuận với nhà văn Khánh Lan là hãy tôn vinh nét đáng yêu chân thiện mỹ của văn chương, hãy tôn trọng và giữ trách nhiệm những gì mình viết ra…
Thạch Lam cho cảm nhận là “Một nhà văn thiên tài là người muốn cảm nhận mọi vẻ đẹp man mác của vũ trụ“, và “Mỗi tác phẩm phải là mỗi phát minh về hình thức và khám phá về nội dung“, theo câu nói của nhà văn Leonid Maximovich Leonov ghi nhận. Bởi vì mỗi tác phẩm được hình thành là do kết quả thai nghén trong nghệ thuật mỹ học chất chứa đầy tâm huyết của người viết. Vì rằng đó là nơi để nhà văn gửi gấm những tình cảm sâu lắng nhất, những xúc cảm, những ước muốn được trân trọng ký thác vào đấy.
Mỗi dòng chữ hay mỗi con chữ sáng tạo bởi nhà văn gói ghém trong tâm tư của người cầm bút. Vì thế nên suy ra cho cùng là viết ra cốt truyện nào hay gửi gấm đề tài gì thì tác phẩm nên cho thấy rõ cung cách suy nghĩ của mình. Cứu cánh của nhà văn vẫn là gửi ra những thông điệp hàm tư tưởng riêng của mình, mang tính chất thẩm mỹ cho xã hội và cho con người nói chung.
Một khi nhà văn thực hiện công việc sáng tạo văn chương, hãy nỗ lực cống hiến bằng khả năng, tiềm lực của chính mình tạo ra, cho ra đời những tác phẩm có giá trị như ý tưởng của Maxim Gorky quan niệm.
Georges-Louis Leclerc, Comte de Buffon cho là:
“Văn là con người.”
Hay:
“Le style c’est l’homme meme”
(The style is the man himself).
Cho nên, văn học là người bạn đường thân thiết trên mọi nẻo đường, nuôi lớn và làm phong phú tâm hồn của nhà văn, bởi những tình cảm giàu tính nhân bản nhất. Chính vì thế mà văn học không thể đứng riêng lẻ, tách rời mà phải giữ gắn bó với cuộc sống thường nhật của chúng ta.
Tóm lại, đặc điểm giá trị to tát nhất của văn chương là đi tìm bản sắc của con người, vì con người và bởi con người. Do vậy chỉ có nhà văn trong thiên chức bút pháp qua những tác phẩm của mình, mới có khả năng mang đến tính nét đa dạng của xã hội phức tạp của nếp nhân sinh bao quát. Người viết bài này trải qua nhiều ngày tháng thảo luận cùng tác giả Khánh Lan, chúng tôi chia sẻ quan điểm là không thể có tác phẩm đích thực nếu không có nhà văn đích thực trân yêu tác phẩm.
Để tạo ra những tác phẩm đích thực, nhà văn phải trải qua cuộc sống, và tính nét viết ra vì con người bằng cả tấm chân tình, bằng sự trân trọng qua nguồn cảm tác do niềm khao khát vì sự sáng tạo. Lịch sử văn chương nhân loại dù bên Đông hay Tây phương, dù truyện Kim Vân Kiều hay Trà Hoa Nữ thì đích điểm cuối cùng như quan điểm của Maxim Gorky, văn học chất chứa sự cao cả của nó, và những câu truyện hay vượt thời gian trong tác phẩm này thiết nghĩ cũng là tấm chân tình của nhà văn Khánh Lan, dành cho độc giả bằng sự trân trọng nhất
Việt Hải Los Angeles.
Ngày 02 tháng 03, năm 2021
-
HÌNH ẢNH NGÀY RMS CỦA KHÁNH LAN
-
NHẠC: MÙA THU SANG
LỜI: Việt Hải, Khánh, John Tạ, Khánh Lan
HÒA ÂM: Thu Hằng
NHẠC: Thiên Lý
CA SĨ: Đèo V. Sách
Muà Thu sang, Nhạc: Thiện Lý, LờI: Việt Hải, John Tạ, Khánh Lan, Đèo V. Sách; Thu-Hằng hoà âm
-
GÂY QUỸ YỂM TRỢ THƯƠNG PHẾ BINH VNCH, ngày 04/12/2021.
Mời các niên trưởng và các anh chị xem video (Live Stream) thu ngày 04 tháng 12, 2021 tại đài VietMedia, 57.14 do Cơ sở Hy Vọng cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gây quỹ với chủ đề “Một chút quà gởi đến các anh thương phế binh VNCH để bày tỏ lòng tri ân và sự trân trọng của chúng ta đối với các anh chiến sĩ, đã hy sinh cả cuộc đời trai trẻ để lao mình vào chiến cuộc. Dấu giầy của các anh đã in khắp 4 vùng chiến thuật, chốn rừng sâu, đèo cao, dốc hiểm, gian lao khổ cực để bảo vệ mảnh đất tự do miền nam Việt Nam.
Khánh Lan
-
XUÂN “TẾT” TRONG THI CA VÀ ÂM NHẠC

“Khu vườn cổ tích” Keukenhof tại thành phố Lisse của Hoà Lan
(Photo Credit: An Nhiên)Câu hỏi được đặt ra là tại sao phần lớn các thi sĩ, nhạc sĩ lại có khuynh hướng chọn mùa thu và mùa xuân để sáng tác? Phải chăng cảnh lá vàng rơi trong buổi chiều vàng đã mang đến sự rung động trong tâm hồn người sáng tác, một cảm giác rạo rực chen lẫn thổn thức của trái tim hay bởi phong cảnh hữu tình của mùa thu đã là nguồn cảm hứng cho hồn thơ lai láng vốn có sẵn trong tâm tư người thi sĩ như trong bài thơ “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư.
“Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh người chinh phu
Trong lòng người cô phụ.
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.”Và cũng bởi cái không khí tươi mát của ngày đầu xuân với cái “se se” lạnh của buổi sáng sương mù, của tia nắng ban mai ấm áp, của những bông hoa muôn màu khoe sắc thắm, của những lá non đâm cành, nở nhụy chào đón một ngày mới, đã là nguồn cảm hứng cho những tâm hồn nghệ sĩ và mơ mộng như Xuân Diệu, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới với phong thơ mang đầy tính chất nồng nàn, thiết tha và khát khao chen lẫn hương vị ngọt ngào, ca ngợi tình yêu bằng âm thanh lãng mạn pha chút vẻ đắng cay, tuy có phần chua chát nhưng không kém phần dí dỏm. Áng thơ của Xuân Diệu luôn bộc lộ những cảm xúc mãnh liệt, rạo rực trong cảnh thiên nhiên của mùa xuân cũng như trong buổi giao mùa, không nhiều thì ít chúng ta thấy có sự ẩn hiện hình bóng của tình yêu. Chính vì thế, cái ngơn ngữ tình yêu đã làm cho những bài thơ về mùa xuân của Xuân Diệu trở nên tuyệt diệu, nhẹ nhàng và êm ái, điển hình là qua hai bài thơNụ cười xuân và Xuân Không Mùa sau đây:
“… Thiếu nữ bâng khuâng đợi một người
Chưa từng hẹn đến – giữa xuân tươi
Cùng chàng trai trẻ xa xôi ấy
Thiếu nữ làm duyên, đứng mỉm cười.”(Nụ cười xuân)
Hay:
“… Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước.
Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trời
Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi,
Như được nắm một bàn tay son trẻ…”Thật vậy, cả hai mùa thu và mùa xuân đều đáng yêu, một đề tài phong phú, một nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca, tuy nhiên trong bài viết này, tôi chỉ xin bàn về “Mùa xuân trong thi ca và âm nhạc” bởi Chúa Xuân xắp đến và mang theo hơi ấm trên toàn vũ trụ, nàng sẽ biến những ngày đông lạnh giá thành những ngày nắng ấm êm, nàng sẽ đem theo lộc non, trẩy lá xanh trên những cành cây khô trơ trụi, nàng nang đến một vườn hoa đầy hương sắc để chào đón một không gian mới. Xuân về khiến lòng người như rộn lên niềm vui, háo hức mong chờ một một năm mới với nhiều điều tốt đep.
Thơ cũng như nhạc và văn, là những nguồn giải trí lành mạnh giúp thi vị hóa cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Không những thế, văn, thơ và nhạc là nơi an toàn nhất để chúng ta ghi lại những cảm xúc qua các hình thức và tâm trạng khác nhau như hỷ, nộ, ái, ố, vốn đã tiềm ẩn sâu trong ký ức của chúng ta từ lâu. Nói một cách khác thì văn, thơ và nhạc chính là nơi để chúng ta gởi gấm niềm tâm sự như Edgar Allan Poe cho rằng “Thơ là sự sáng tạo nhịp nhàng của cái đẹp” hayJakobsom đã định nghĩa: “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” và thi sĩ Phùng Quán của chúng ta thì lại cho rằng thơ là cứu cánh của con người những khi vấp ngã trên trường đời và điều này được tỏ rõ trong câu thơ sau đây của ông:
“Có những lúc ngã lòng.
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.”
Thế còn nhạc thì sao? Xin thưa, nhạc cũng chẳng khác gì thơ, Ludwig Van Beethoven, một thiên tài về âm nhạc giao hưởng (Symphony) đã tuyên bố: “Âm nhạc khiến tinh thần của con người bộc phát ra những đốm lửa.” hay Robert Schumann là một nhà soạn nhạc, một nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng của Đức và là một trong những nhà soạn nhạc lãng mạn lừng danh nhất thế kỷ 19, ông đã nhận xét về âm nhạc như sau: “Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người.” Trong làng âm nhạc Việt Nam, các nghệ sĩ sáng tác nhạc qua nhiều trạng thái khác nhau khi nói về mùa xuân hay về TẾT. Phần lớn nhà soạn nhạc thường dùng những ngôn từ hoa mỹ, vui tươi để diễn tả vẻ đẹp của mùa xuân, riêng nhạc sĩ Canh Thân (*) thì khác hẳn, ông dùng lời nhạc để nói về cảnh thiếu thốn của dân nghèo trong mỗi độ xuân về, lời lẽ chua chát, cay đắng, mỉa mai như trong nhạc phẩm Xuân Nghèo:
“… Tiền không gạo hết!
Xuân hỡi xuân! Lấy gì mà mừng xuân?
Tết với nhất không tiền cũng nhạt phèo
Xuân ơi xuân! Ơi là xuân buồn teo!
Rõ đến gớm ghê là cái mạng nghèo
Cứ ám mãi luôn bò theo…”Sau đây, chúng ta cùng nhau bàn về hai lãnh vực được các thi nhạc sĩ chú ý nhiều nhất. Đó là Xuân trong thi ca và âm nhạc.
- Xuân trong Thi ca:
Huy Cận là một trong những nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam và là một trong những thi sĩ xuất sắc nhất của phong trào thơ mới. Trong sự nghiệp văn học, ông là người đầu tiên được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn Lâm Thơ Thế giới và Chủ tịch Ủy ban Liên hiệp các Hiệp hội Văn học Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1984 đến năm1995. Phong thơ của ông mang hai trạng thái khác nhau và có khuynh hướng triết lý. Trong khoảng 1936-1940, thơ của ông mang nặng một nỗi buồn mênh mang, da diết, sầu não, hiu quạnh, buồn thương cho cuộc đời, kiếp người cũng như cho quê hương đất nước, nhưng sau này thơ của ông chuyển hướng sang nét vui tươi, yêu đời và trong sáng hơn, điều này thể hiện rõ rệt trong bài Hồn Xuân.
“… Anh khắp rừng cao xuống lũng sâu,
Tìm em, đi hái lộc xuân đầu.
Trồng đâu chân đẹp tròn như cột?
Em đẹp son ngời như cổ lâu.Nghe nhịp đời lên, em bỏ anh,
Đua theo xuân nở rộn trăm cành.
Ý mùa cũng rộn trong thân mới,
Tóc rủ bờ tơ sợi liễu mành.”Chế Lan Viên bắt đầu làm thơ khi ông còn rất trẻ, năm 17 tuổi ông xuất bản tập thơ đầu tay Điêu tàn và trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn có biệt hiệu là “Bàn thành tứ hữu” của Bình Định.
Phong cách thơ của Chế Lan Viên rất rõ nét, độc đáo, đa dạng, phong phú và phảng phất những suy tưởng nghiêng về triết lý. Một bài thơ nổi tiếng của Chế Lan Viên được nhiều người biết đến và để lại một dấu ấn khó phai trong lịch sử thi ca Việt Nam. Đó là bài thơ với tựa đề “Xuân” với hồn thơ điên loạn, vừa kinh dị vừa thần bí như tiếng khóc của đứa con trung thành với tổ quốc, như lời than cho sự rối bời bế tắc, những ngày tận cùng của một vương quốc.
Trong bài thơ “Xuân” ông nhắc đến sự điêu tàn của tháp Chàm như gởi gấm một nỗi niềm hoài cổ của Chế Lan Viên khi đối diện với xương máu, sọ người. Ẩn hiện quanh ông sự chết chóc, đau thương, mất mát của những phế tích đổ nát, diêu tàn của một triều đại. Bài thơ “Xuân” là một trong những bài thơ tiêu biểu, một cảm nhận về mùa xuân hoàn toàn khác biệt với phong thơ của các nhà thơ khác. Mùa xuân qua cái nhìn của Chế Lan Viên là những đắng cay và đau khổ, những khắc khoải đau thương, một cảm xúc mãnh liệt đang len lỏi trong mùa xuân của ông. Chính đại văn hào Nguyễn Du đã từng viết một câu thơ bất hủ khi mùa xuân không trọn vẹn, khi con người đang sống trong trạng thái u sầu và khung cảnh buồn bã:
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”
Câu thơ trên đã được thể hiện rất rõ qua tâm trạngcủa Chế Lan Viên trong bài thơ với tụa đề “Xuân” dưới đây. Trong bài thơ này, ông đã trải lòng mình trong những áng thơ bi ai, sầu thảm khi chứng kiến sự điêu tàn của tháp Chàm (thuộc kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng Hindu, Phật giáo) của dân tộc Chàm và sự xụp đổ của triều đại, đã một thời vang bóng. Chính vì thế mà có nghi vấn cho rằng ông cũng là dân tộc Chàm.
“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?
Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã,
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Ý thu góp lại cản tình xuân?
Có một người nghèo không biết Tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn!…”Trong giai đoạn phong trào Thơ Mới phát triển với những nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Thế Lữ, v.v… thì cái tên của chàng thi sĩ tài hoa Hàn Mặc Tử xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như một hiện tượng vô cùng đặc biệt, áng thơ của ông mang một phong cách riêng, lạ và rất độc đáo. Thơ của ông là một thế giới hư hư, thực thực, u uất, một thế giới liêu trai nhuốm màu kinh thánh. Những vần thơ như ám ảnh người đọc bởi cuộc đời nhiều truân chuyên và bất hạnh của ông. (***)
Non sông ngàn dặm ngắm càng xinh
Ừ, tết năm nay thật hữu tình
Pháo nổ, nổ tan luồng thất nghiệp
Xuân về, về ghẹo khách ba sinhHoa tươi sách với Thiên Kiều gái
Cảnh đẹp dường như thuỷ mặc tranh
Cao hứng đã toan cầm bút vịnh
Đào nguyên đâu lại thoáng qua mành(Xuân Hứng)
Tết nhứt nhà ai khéo khéo bày,
Cỗ bàn sắm sửa áo quần may.
Cành bông ba bữa mang công nợ,
Tốt mặt mấy ngày phải mượn vay.Cô nọ đủ lưng chờ bóc sách,
Cậu kia móc đít được ba tây.
Ai vui cười thiệt ta cười gượng,
Lãnh đạm thà mang tiếng chẳng hay.(Ăn Tết)
Riêng tớ xuân về dạ héo von
Xa nhà xa vợ với xa con.
Hoa đào trên áo gây hương nhớ,
Tiếng pháo bên tai giục nỗi buồn.Thoi én như thêu tranh cách biệt,
Gió xuân càng lạnh kẻ cô đơn.
Người vui tấp nập mòi sung sướng,
Riêng tớ xuân về dạ héo von…(Ngày Tết Xa Nhà)
Dựa theo người viết Phù Vân-Đức Quốc, thế giới trong thơ của Thái Tú Hạp là một cõi không gian huyền diệu, u trầm, tĩnh mặc, là dấu chân hoài niệm, là ánh nắng lung linh, là tiếng suối róc rách và là nhịp rung động của trái tim. Thế giới trong thơ Thái Tú Hạp là bóng mát để ta dừng chân tạm nghỉ trên một chuyến hành trình đi tìm cõi vĩnh hằng, một chốn an lành vĩnh cửu của cỏi Thiền và trên cõi thâm sâu của Phật Giáo”.
“Sáng nay
Nghe tiếng chuông ngân thánh thiện
Mùa xuân mời gọi thiêng liêng
Như chính lòng ta vô nhiễm
Vừa thức dậy bàng hoàng…”(Vẫn Yêu Em, Mùa Xuân)
Thơ xuân của Thái Tú Hạp là những mầm xanh lá mới trong vườn thơ hạnh ngộ, xin thưởng thức đoạn thơ sau.
Trong vườn xuân hạnh ngộ
Hoàng lan hiu hắt tàn
Dấu chân về cuối phố
Nghe sầu vỡ trăm năm(Trong Vườn Xuân Hạnh Ngộ)
Xuân về nhớ Nguyễn Bính với nhưng vần thơ thấm đậm hồn quê, nỗi lòng chờ mong với những khắc khoải, nhớ thương mưa xuân trên đất Bắc, ông đã dành rất nhiều thời gian, cảm xúc và tâm tình để viết về mùa xuân. Thơ Nguyễn Bính không kén chọn độc giả và không phân biệt giai cấp, từ giới thượng lưu hay bần cùng, từ người thành thị đến kẻ thôn quê đều có cảm giác như hình bóng của mình lúc ẩn lúc hiện ở trong lời thơ của ông. Bởi chính vì thế, thơ Nguyễn Bính trở nên gần gũi và luôn được mọi người yêu chuộng.
Nguyễn Bính viết bài thơ “Mưa xuân” khi ông 18 tuổi-cái tuổi bắt đầu biết nhớ nhung và chập chững bước vào đời. Có lẽ trong cuộc đời của ông, ông yêu cũng đã nhiều và đã từng trải qua không ít thất vọng trong tình yêu, nên thơ xuân của ông có mang một chất giọng buồn bã, sầu bi. Trong bài thơ “Mưa xuân”, Nguyễn Bính đã vẽ lên một phong cảnh một làng quê thanh bình, yên vui với những sinh hoạt hàng năm trong ngày hội đầu xuân. Lồng vào trong lời thơ, ông không quên nhắc đến nỗi lòng thương con của người mẹ già và những ước mơ thầm kín của người con gái ở tuổi xuân thì. Lời thơ giản dị, chân thành, êm ái, thiết tha và man mác buồn đã làm vấn vương lòng người thưởng thức thơ, bởi chính sự diễn tả tài tình của ông qua lời trách móc nhẹ nhàng, u sầu của người con gái khi người yêu lỗi hẹn. Bài thơ này đã được nhạc sĩ Huy Thục phổ nhạc thành bài hát cùng tên và do Ca sĩ Bích hồng trình bày với giọng “Huế”. Chúng ta hãy cùng thưởng ngoạn vẻ đẹp trong nét thơ của Nguyễn Bính qua bài thơ “Mưa Xuân” dưới đây.
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay.
Lòng thấy giăng tơ một mối tình.
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh.
Hình như hai má em bừng đỏ,
Có lẽ là em nghĩ đến anh.
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn,
Em ngửa bàn tay trước mái hiên.
Mưa thấm bàn tay từng chấm lạnh,
Thế nào anh ấy chẳng sang xem.
Chờ mãi anh sang anh chả sang,
Thế mà hôm nọ hát bên làng.
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn,
Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng…
………………………………..
“… Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày!
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ Hội Đặng đi ngang ngõ,
Để mẹ em rằng hát tối nay?”Trong bài “Rượu xuân”, Nguyễn Bính đã gởi gấm niềm tâm sự qua những câu thơ thật buồn khi nâng chén rượu hồng, tiễn người yêu sang ngang. Bài thơ này đã được nghệ sĩ Thúy Mùi ngâm.
Cao tay nâng chén rượu hồng,
Mừng em, em sắp lấy chồng xuân nay.
Uống đi! Em uống cho say!
để trong mơ, sống những ngày xuân qua.
Thấy tình duyên của đôi ta,
đến đây là … đến đây là … là thôi!
Em đi dệt mộng cùng người.
Lẻ loi xuân một góc trời riêng anh.Trong những bài thơ xuân của Nguyễn Bính, chúng ta không thể nào không nói đến bài “Gái Xuân”. Đây là một bài thơ nổi tiếng của ông và đã được nhạc sĩ Từ Vũ phổ nhạc thành bài hát cùng tên và ca sĩ Quang Lê trình bày. Cũng bài hát này cũng được Paris By Night 124-Anh Cho em Mùa Xuân thực hiện qua tiếng hát của ca si Hoàng Nhung cùng sự phụ họa của đoàn vũ Thúy Nga.
“Em như cô gái hãy còn xuân,
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần,
Xuân đến, hoa mơ, hoa mận nở.
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân.
Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng.
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng,
Đôi tám xuân đi trên mái tóc.
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?”Trong bài “Xuân về nhớ cố hương” nghe như tiếng khóc của đứa con xa quê nhà trong những ngày đầu năm, nỗi cô đơn, lòng thương nhớ gia đình. Trong một bài thơ khác với chủ đề “Xuân tha hương” là một điển hình của một bài thơ hội tụ tất cả các phong cách giang hồ, tha hương, lỡ dở nhưng ông vẫn giữ được bản chất giản dị, mộc mạc của hương đồng cỏ nội, của những lễ hội trong những ngày xuân ở quê nhà (Nam Định). Nổi tiếng là một nhà thơ sáng tác những bài thơ tình đầy tính chất lãng mạn, Nguyễn Bính đã để lại cho hậu thế một sự nghiệp văn học với trên 10 tập thơ, hàng trăm bài thơ hay cũng như nhiều tập truyện thơ của các thể loại khác nhau, truyện ký và nhiều vở kịch có giá trị trong suốt 30 năm cầm bút (1936-1966). Đặc biệt là thơ của Nguyễn Bính mang đậm sắc thái dân tộc, gần gũi với những câu ca dao trong dân gian, nên rất dễ đi vào lòng người và được nhiều người Việt mến mộ.
“…….. Trót đà mang số sinh ly
Bao giờ tôi mới được về cố hương
Xuân về những nhớ cùng thương
Trời ơi! Muôn vạn dậm đường xa xôi!
Chiều ba mươi hết năm rồi
Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà
Tôi còn lận đận phương xa
Để ăn cái tết thật là vô duyên.(Xuân về nhớ cố hương)

Càng về sau này, thơ xuân càng trở nên phổ thông hơn trong dân gian, người ta làm thơ để chúc Tết, đón tân niên, chúc an lạc:
Cung chúc tân niên một chữ nhàn.
Chúc mừng gia quyến đặng bình an
Tân niên đem lại niềm Hạnh Phúc.
Xuân đến rồi hưởng trọn niềm vuiThơ chúc Tết, tài lộc, an khang, vạn sự lành:
Năm mới Tết đến
Rước hên vào nhà
Quà cáp bao la
Mọi nhà no đủ
Vàng bạc đầy hũ
Gia chủ phát tài
Già trẻ gái trai
Sum vầy hạnh phúc
Cầu tài chúc phúc
Lộc đến quanh năm
An khang thịnh vượng.Thơ chúc Tết An bình – Tài lộc – Vinh quang:
Đầu xuân năm mới chúc BÌNH AN
Chúc luôn TUỔI TRẺ chúc AN KHANG
Chúc sang năm mới nhiều TÀI LỘC
Công thành danh toại chúc VINH QUANGThơ chúc Tết dành cho đấng sinh thành:
Công ơn cha mẹ biển sâu
Con sao trả hết mái đầu phơ phơ
Xuân về cho phép con thơ
Kính chúc cha mẹ thọ như tiên trời.Thơ chúc Tết cho bạn “già”:
Năm mới chúc nhau sức khỏe nhiều
Bạc tiền rủng rỉnh thoải mái tiêu
Gia đình hạnh phúc bè bạn quý
Thanh thản vui chơi mọi buổi chiềuThơ chúc Tết chúc mừng hạnh phúc chan hòa:
NĂM tròn xin tiễn tiết đông qua
MỚI đón xuân tươi đến mọi nhà
CHÚC tặng trên đời thêm chữ Hỷ
MỪNG vui khắp chốn cất lời ca
HẠNH dung lễ nghĩa ngời tâm ngọc
PHÚC lộc, công danh rạng ánh ngà
CHAN chát trống kèn, Lân hợp cảnh
HÒA đàn, tấu sáo rộn ràng ca
(Photo Credit: Nhật Linh) - Xuân trong âm nhạc:
Mùa xuân trong âm nhạc luôn cho ta cái cảm giác vui tươi, hạnh phúc và khát vọng, chính vì thế mà những tâm hồn nghệ sĩ như Phạm Duy, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, v.v… đã ưu ái dành cho nó những ngôn từ lãng mạn, sinh động, đáng yêu trong những ca khúc của họ. Có phải chăng, âm nhạc không thể thiếu trong đời sống của con người bởi nó có tác dụng xoa dịu và hàn gắn mọi vết thương trong lòng ta, nó là nơi an toàn cho ta giải bày niềm tâm sự, nó là động lực kích thích bộ óc sáng tạo của ta và là nguồn cảm hứng phát xuất từ những cảm xúc đích thực của ta trong những khi vui, lúc buồn.
Nói đến âm nhạc thì nó rất bao la, phong phú nhưng nếu nghiên về thiên nhiên của vũ trụ hay phong cảnh hữu tình của trời đất, thì chúng thường đi theo mùa như Xuân, Hạ, Thu, Đông để ca tụng vẻ đẹp đặc thù của từng mùa và tùy thuộc vào những cảm xúc, những rung động của từng cá nhân theo sự thay đổi của tạo hóa. Chính vì thế mà các nhạc sĩ đã sáng tác nhiều thể loại nhạc khác nhau như: Nhạc phản chiến thì theo lý tưởng chống lại bạo hành, nhạc kháng chiến thì hướng về tiền tuyến, nhạc quê hương mang một tình cảm sâu nặng yêu quê hương và nhạc tình thì mang một sắc thái lãng mạn và nghiêng về tình yêu đôi lứa, v.v… Trong bài viết này tôi xin chỉ bàn về những bài hát thuộc về mùa xuân. Arthur Rubenstein cho rằng:
Xuân ở thơ ca. Thơ ca vào xuân.
(Spring in verses, Verses in spring.)
Như đã đề cập ở phần trên, mùa xuân trong âm nhạc luôn có giai điệu lãng mạn, vui tươi, lạc quan, yêu đời và gián tiếp vẽ lên trên mốt nhạc một bức tranh sống động, khởi đầu cho một năm mới với nhiều ước vọng. Mùa xuân đã mang đến nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhạc sĩ sáng tác bởi cái ấm áp của mùa xuân, đã khiến tâm hồn của người nghệ sĩ rạo rực lên một niềm vui, một tia hy vọng cho một tương lại tốt đẹp. Mùa Xuân mang đến tâm hồn các nhạc sĩ, nghệ sĩ những xúc cảm, những rung động và chính những rung động ấy là động lực cho các nhạc sĩ sáng tác và để lại cho làng âm nhạc Việt Nam những ca khúc bất hủ. Có rất nhiều ca khúc viết về mùa xuân mà khi nhắc đến mùa xuân thì hẳn chúng ta không thể không nhắc đến ca khúc “Anh cho em mùa xuân” của nhạc sĩ Nguyễn Hiền.
“Anh cho em mùa xuân
Nụ Hoa vàng mới nở …”
……………………………..
“… Anh cho em mùa xuân
Mùa xuân này tất cả
Lộc non vừa trẩy lá…”Nhạc sĩ Minh Kỳ trước năm 1975 nổi tiếng với ca khúc Xuân đã về để ca tụng mùa xuân tươi thắm.
“Xuân đã về, xuân đã về
Kìa bao ánh xuân về tràn lan mênh mông
Trên cánh đồng chim hót mừng
Đang thiết tha từng đàn cùng bay vui say
Xuân đã về, xuân đã về
Ngàn hoa hé môi cười tươi đón gió mới
Xuân đã về, xuân đã về
Ta hát vang lên câu ca mừng chào xuân…”Cũng nói về xuân, ông cùng nhạc sĩ Lê Dinh đã sáng tác nhạc phẩm “Mùa Xuân Gửi Em” để nhớ về ngưởi em gái hậu phương trong những ngày xuân.
“Nghe gió Xuân hay rằng Xuân đã về.
Gói tâm tình vào trong bao ý thơ.
Thương nhớ về người em nơi chốn cũ
năm tháng xa xôi không buồn vì đơn côi…”“Mùa xuân đầu tiên” là một nhạc phẩm nổi tiếng của nhạc sĩ Tuấn Khanh sáng tác vào năm 1966 và được coi là một trong những bài nhạc vàng trong vườn hoa âm nhạc. Bài hát viết theo điệu Boléro nói lên sự đoàn tụ của người lính trong thời chinh chiến, nỗi mong chờ của gia đình, của người yêu nơi hậu phương và miềm hân hoan trong niềm vui sum họp trong trong những ngày đầu xuân.
“Bao nhiêu thương nhớ gom nhặt đầy anh trở về thăm em
Bao lần ngồi thâu đêm nghe mùa Xuân vừa đến
Em ơi hoa thắm rơi ngập đường trời nắng xế vương vương
Lòng nhớ tới em luôn khi chiều tàn chim gọi đàn….”Lời nhạc chan chứa yêu thương, tha thiết và đong đầy nỗi nhớ chen lẫn niềm vui, mơ ước, hứa hẹn cho một ngày về mà ông đã viết qua hai đoạn nhạc dưới đây.
“… Người yêu ơi! Biết chăng anh về?
Người yêu ơi! Nhớ chăng lời thề
Anh say sưa nhịp bước trên hè
Anh nâng niu nụ hoa vừa hé
Đôi môi xinh người em nhỏ bé mộng mơMùa Xuân ơi! Biết tôi yêu đời
Mùa Xuân ơi! Nói sao nên lời
Em ơi em, dù nhớ vơi đầy
Bao lâu nay, đợi nhau là mấy
Anh đâu ngờ bến bờ hạnh phúc là đây…”Nhạc sĩ Từ Công Phụng nổi tiếng với những nhạc phẩm trữ tình chen lẫn âm hưởng buồn bã, chán chường, chua xót điển hình là trong bài Mùa xuân trên đỉnh bình yên. Gói ghém trong lời nhạc ẩn hiện một hứa hẹn sẽ có một ngày ông sẽ đưa người bạn tình dấu yêu về thăm lại vùng đất bình yên hiền hòa vào buổi chiều mùa xuân rạng rỡ với nắng ấm, chim hót líu lo.
“Rồi mai có một lần tôi đưa em
Về trên đỉnh yên bình, hiền hòa…
…………………………………..Rồi mai, có một lần tôi đưa em
Đưa em về miền nắng ấm
Những con chim thôi ngủ………
…………………………………
Hát lên gọi mùa Xuân rạng rỡ
Đem mặt trời tô mắt dại tuổi xuân.Xin đỉnh yên bình
Một mùa Xuân ôm kín khung trời
Của tuổi thơ thôi rã thôi rời
Xin đừng làm bão tuổi đôi mươi
Để vòng tay khắc khoải ôm xuôi
Từng niềm vui bay theo biển gió…”Ngô Thụy Miên với những bài tình ca bất hủ theo thời gian và sống mãi trong lòng người yêu nhạc và là một đóng góp giá trị cho nền âm nhạc Việt Nam. Hầu hết những tình khúc của ông đều được viết từ tim óc như ông đã cho rằng “Ý nhạc đến từ trí tưởng và lời ca từ con tim”. Trong những sáng tác của ông, bài “Em còn nhớ mùa xuân”, đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng rất nhiều người trong số ấy có cả tôi. Mở đầu bài hát là một câu hỏi “Em có bao giờ còn nhớ mùa xuân” nghe như một lời trách móc người yêu, nghe vừa nhẹ nhàng, vừa tha thiết, nhưng trong lời nhạc ấy chan chứa sầu muộn, nuối tiếc và thương cho thân phận của mình. Tuy bài hát nói về mùa xuân, nhưng không có nét nhộn nhịp của mùa xuân mà thay vào đó lời than thở của hai kẻ yêu nhau mà phải xa nhau.
“… Nơi ấy bây giờ còn có mùa xuân
Có dáng nghiêng nghiêng nụ cười thật gần
Có mắt nai vàng ngời sáng tình xanh…”
Theo lời tâm sự của Ngô Thụy Miên, Em còn nhớ mùa xuân là tình khúc duy nhất ông viết khi còn lại ở Sài gòn sau năm 1975, giòng nhạc êm ái với nét buồn nhẹ nhàng quyến rũ trong nỗi nhớ người bạn gái ông yêu đã ra đi, giữa những đổi thay của đất nước với những mất mát xảy ra quanh ông. Bài hát đã nhắc đến những kỷ niệm đẹp của ông và người yêu trong bối cảnh của Sàigòn-Đàlạt, của một thời thơ mộng.
“Trời Sài gòn chiều hôm nay còn nhiều mây bay
Nhiều niềm đαυ thương bi hận tràn đầy
Gượng nụ cười giọt lệ trên môi
Nhìn đất nước tơi bời một thời em có hay”
Nơi trời tây xa xôi ấy, em còn nhớ mùa xuân, có lẽ đây là câu hỏi mà ông dành để hỏi người yêu trong tâm trạng nhung nhớ. Được biết, đây là nhạc phẩm duy nhất mà ông sáng tác trong suốt ba năm, từ năm 1975-1978. Cuối năm 1978, Ngô Thụy Miên hoàn tất bản nhạc và hát lần đầu tiên trong một đêm văn nghệ tổ chức trên đảo Bidong trước khi lên đường đi Canada. Cuối năm 1979, ông đã gặp lại và thành hôn với người bạn gái năm nào. (dựa theo lời tâm sự của Ngô Thụy Miên.)
“… Những thành phố em sẽ đi qua
Đây Ba-Lê, đây Luân Đôn, đây Vienne
Nhưng có đâu bằng Sài Gòn hôm qua
Nhưng có đâu bằng Sài Gòn mai sau
Em có mơ ngày hát câu hồi hương…”Tóm lại, tôi hoàn toàn đồng ý với Schumann và Mattie.
“Thi ca là một cách hay để thể hiện nỗi xúc cảm như vui, buồn, giận dữ, lo lắng.” (Mattie)
Và:
“Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người.” (Schumann)
Khánh Lan
Xuân Nhâm Dần, 2022
GHI CHÚ:
(*) nhạc sĩ Canh Thân xuất thân từ nghệ sĩ cải lương, sau trở thành ca nhạc sĩ tân nhạc, ông sáng tác những bài tình ca nổi tiếng như bài Cô hàng cà phê, “Khúc ca mùa hè”, “Anh còn cây đàn”. Ông còn là một nhạc công đa tài và là một trong những nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc Việt Nam (1928 – 1975). Ông tham gia hội ái hữu Tino, lấy biệt danh là Tino Thân, ngoài ra, ông tham gia vào nhóm Đồng Vọng và cùng nhóm sáng tác những bản hùng ca.
(**) Vũ Thị Thường, Chế Lan Viên toàn tập, NXB Văn học, 2002.
(***) Quách Tấn, Thơ Hàn Mặc Tử, NXB Đông Phương, 1942.Tôn Thảo Miên, Hàn Mặc Tử – Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, 2007.
***** Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7: Văn học giai đoạn 1900-1945), Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, NXB Khoa học xã hội, 2004.
***** Wikipedia
-
CHẮT CHIU KỶ NIỆM VỚI GIÁO SƯ LÊ VĂN KHOA.
(Theo lời yêu cầu của Giáo Sư Lê Văn Khoa, tôi sẽ dùng chữ Ông thay cho chữ Giáo Sư trong bài viết này. Nhưng để tỏ lòng kính quý tôi xin được phép dùng chữ Ô hoa “Ông”).

(Ảnh Lê Hùng)
HỒN VIỆT VÀ ƯỚC MƠTôi chọn lời tựa “Chắt Chiu Kỷ Niệm” bởi tôi không có nhiều kỷ niệm với Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa như Nhà Báo Băng Huyền, Nhà Văn Việt Hải, Ca Sĩ Quỳnh Giao, Nhạc Trưởng Nguyễn Khánh Hồng, v.v… Chính vì thế mà khi tôi được Nhà Văn Việt Hải ủy thác cho trọng trách viết về Giáo Sư Lê Văn Khoa trong tác phẩm “Hồn Việt và Ước Mơ” với chủ đề hoàn toàn mới lạ đối với tôi: Đó là hai truyện ngắn của ông. Tôi đã nhận lời Nhà Văn Việt Hải, nhưng tôi không ngần ngại thú nhận rằng nỗi cảm xúc trong tâm hồn tôi đi từ hãnh diện đến lo sợ. “Hãnh diện” vì tôi được cái vinh hạnh viết về một thiên tài như Giáo Sư Lê Văn Khoa và “lo sợ” vì kể từ hôm nay tôi sẽ phải “chắt chiu” tìm lại trong ký ức những kỷ niệm mà tôi đã có được với ông. Để có thể “Chắt chiu kỷ niệm với Giáo Sư Lê Văn Khoa” trước tiên, tôi tự hỏi lòng mình là “Cơ duyên nào đã cho tôi gặp Ông?”.
Xin thưa, lần đầu tiên tôi có vinh hạnh gặp và biết Ông Lê Văn Khoa nhân buổi ra mắt sánh của ông với tựa đề “Lê Văn Khoa, một người Việt Nam” được chính thức giới thiệu với đồng hương tại vùng Little Saigon, do nhóm Nhân Ảnh Tân Văn đứng ra tổ chức tại Saigon 9 Restaurant, ngày 19 tháng 09, 2015. Hôm ấy, tôi đã cùng một người bạn mua quyển sách dày 695 trang vì biết rằng đây là một tài liệu có gía trị, xong cẩn thận cất vào tủ sách gia đình và rồi để cho một người bạn mượn đọc trước (dài hạn mà mãi đến hôm nay vẫn chưa hoàn trả lại). Kế đến là trong buổi tổ chức sinh nhật thứ 78 cho nhạc sĩ Lam Phương ngày 6 tháng 12, 2015 do Nhóm Chủ Trương Nhân Ảnh Tân Văn đã tổ chức. Đây cũng là buổi kỷ niệm 60 năm âm nhạc của nhạc sĩ Lam Phương và ra mắt sách, quyển “Lam Phương, Nhạc và Đời” tại Moonlight Seafood Restaurant thuộc thành phố Westminster, Nam California… Rồi sau những lần gặp kế tiếp, thứ hai, thứ ba, thứ tư, v.v… và bẵng đi gần hai năm tôi không gặp lại Ông và Cô Ngọc Hà bởi đại dịch COVID 19 đã làm gián đoạn mọi sinh hoạt văn hóa cũng như xã hội trên toàn thế giới… cho mãi đến ngày ra mắt sách của tôi, ngày 19 tháng 09, 2021 tại NT Studio thuộc thành phố Westminster.

Giáo Sư Lê Văn Khoa & Khánh Lan
Trong buổi ra mắt sách ngày 19 tháng 09, 2021(Ảnh Lê Hùng)Đặc biệt nhất là trong buổi nói chuyện với Ông Lê Văn Khoa trên “Zoom Meeting” ngày 02 tháng 10 năm 2021, do nhiếp ảnh gia Nguyễn Thiều Minh sáng lập cho Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (vào mỗi ngày đầu tháng) đã tạo cơ hội cho chúng tôi gần gũi và bàn luận thân mật với Ông hơn. Với nét mặt hiền hòa, nụ cười thân thiện nở trên môi, thật đúng như Nhà Văn Dương Viết Điền nhận xét “Anh Lê Văn Khoa lúc nào cũng cười, trông rất yêu đời” hay Thi Sĩ Cát Biển ghi trong bài viết của ông: “Lê Văn Khoa, một biểu tượng của nụ cười“. Trong buổi họp “Zoom”, Ông thật duyên dáng trả lời chi tiết những thắt mắc của mọi người, như Nhà Văn Việt Hải hỏi về câu: “Do you see what I see?” hay về những ước vọng và hoài bảo cũng như giấc mơ của ông: “Bằng cách nào để chúng ta có thể lưu truyền và phổ biến nền âm nhạc giao hưởng (kết hợp âm thanh cho hài hòa) cho thế hệ trẻ trong tương lai”.
Lê Văn Khoa dưới lăng kính của tôi thì Ông là người mà Thượng Đế đã dành nhiều ưu ái và ban cho nhiều tài năng, từ viết nhạc cho dàn nhạc giao hưởng, biên khảo về âm nhạc, nhiếp ảnh, dịch thuật, v.v… bút pháp của ông sâu sắc, nhẹ nhàng, chi tiết và dễ hiểu. Ngoài những tài năng trên, nghệ thuật nhiếp ảnh của Ông nghiêng về phương diện chụp ảnh nghệ thuật trừu tượng do sự kết hợp hài hòa trong thiên nhiên mà ít ai nhìn thấy. Vâng đúng thế, “Do you see what I see?” Thật vậy, Ông đã khéo léo áp dụng những kỹ thuật riêng để tạo những tác phẩm nghệ thuật nhiếp ảnh có giá trị và truyền cảm. Nhà Văn Việt Hải có lần đã viết trong bài “Đôi nét về Lê Văn Khoa” như sau: “Có người hỏi rằng nhà biên khảo họ Lê đã viết nhiều về âm nhạc, về nhiếp ảnh, phóng tác, dịch thuật sách ngoại ngữ, Lê Văn Khoa cho ấn hành nhiều sách loại học làm người, nhưng Lê Văn Khoa có viết loại truyện về tình yêu không?
Thưa có! Xin cho tôi được phép trả lời câu hỏi ấy bởi tôi cũng vô cùng ngạc nhiên và thích thú khi khám phá ra rằng chẳng những Ông viết một truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt”, nhân khi ông đi dự buổi triển lãm ảnh của hội ảnh Val de Bièvres tại Viện Văn Hóa Pháp Sài Gòn (Institut Français de Saigon) chiều ngày 19-11-1970, mà ông còn viết một truyện ngắn thứ hai là “Nocturne” (đã được ghi lại trong tác phẩm “LÊ VĂN KHOA, Một Người Việt Nam”)khi ông từ Đông Âu do công tác âm nhạc trên chuyến bay băng Đại Tây Dương trở về California. Thể loại truyện ngắn của Ông rất độc đáo và khác lạ. Sau đây, tôi xin được phép lần lượt ghi lại hai truyện ngắn của Ông.
- TRUYỆN NGẮN THỨ NHẤT: “SAY TRONG ÁNH MẮT”.
“Say Trong Ánh Mắt” là một câu chuyện kể của người viết truyện về một cuộc gặp gỡ hy hữu giữa một cô gái Pháp trẻ đẹp, vốn đam mê nghệ thuật nhiếp ảnh, đến Sài Gòn từ Paris. Ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên trong buổi triển lãm ảnh, cô gái ấy đã để lòng mến và phục tài nhìn xa hiểu rộng của một nhiếp gia Việt Nam tên Tuấn. “Say Trong Ánh Mắt” là một câu chuyện được diễn tả với văn phong nhẹ nhàng, dễ thương và thu hút người đọc. Chuyện kể nàng tên “Diễm” đại diện cho nhóm ảnh Val de Bièvres, một nhóm ảnh chủ lực của giới nhiếp ảnh Pháp quốc trong tổ chức Photeurop, Âu Châu.
“Diễm”, có lẽ cái tên đã đủ nói lên tất cả về con người nàng: Đẹp, thông minh, bặt thiệp, tự nhiên, kiến thức cao và ăn nói trôi chảy, đã hớp hồn Tuấn, người nhiếp ảnh tài ba, bởi sự duyên dáng và thông minh của nàng. Với một phong cách khiêm nhường, người nhiếp ảnh giới thiệu về mình và những sinh hoạt nhiếp ảnh của quê hương mình. Đọc đến đây, tôi phải công nhận tác giả đã khéo léo dùng nội dung của tác phẩm tình cảm xã hội để giới thiệu cũng như giải thích về nghệ thuật hình ảnh như “dùng màu nước tô thêm lên ảnh để biến đổi màu chính hầu tạo không khí thích hợp cho ảnh” hay “ảnh kỹ thuật là căn bản của mỹ thuật và nghệ thuật, chú trọng nội dung, áp dụng kỹ thuật để làm sáng tỏ nội dung”. Mặt khác, tác giả đã khéo léo lợi dụng lời đối thoại với “người đẹp” trong câu chuyện để giải thích quan điểm cũng như nhận xét về thể loại ảnh kỹ thuật của người bản xứ Việt Nam, điển hình qua câu nói của “Diễm” như sau:
“Về điểm nội dung thì các ảnh nổi bật. Nhưng xin lỗi, cũng vì điểm ấy mà bộ ảnh của các anh nặng nề, gò bó quá. Ðó là chưa kể các anh cố tạo những tâm trạng khổ sở, buồn thảm, ray rứt, băn khoăn, chán chường của kiếp sống đầy máu và nước mắt, nên thiếu hẳn nét thơ mộng của bộ ảnh mình đi”.
Cũng trong câu chuyện, qua lời đối thoại, người viết truyện giải thích về kỹ thuật chớp sáng (solarization), phân sắc độ (postarization), vừa tân kỳ vừa độc đáo và điểm chính là dùng kỹ thuật để gửi gấm tâm sự. Tôi xin trích dẫn đoạn mà tác giả nói về kỹ thuật và sáng tạo: “Người làm nghệ thuật tức người sáng tạo; mà muốn sáng tạo phải tìm tòi khai phá; mà tìm tòi khai phá tức tạo một lối đi mới.”
Qua phong cách diễn tả trong những câu đối thoại trên, Ông Lê Văn Khoa đã muốn gởi gấm thông điệp gì trong truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt?” Phải chăng đây là một lối dạy học vô cùng thích thú vì càng đọc tôi càng thấy bị thu hút bởi cung cách giải thích cũng như nêu ra được những nhược điểm của nghệ thuật một cách tế nhị mà không làm phiền lòng người đọc hay nói rõ hơn là làm bực mình người cần máy ảnh. Đúng là một lối giảng dạy thật tâm lý khi lồng môn học vào tính cách thuật truyện, nó không làm cho người học trò cảm thấy nhàm chán, buồn ngủ và nhất là lại kích thích được sự tò mò muốn biết của con người. Phải, con người lúc nào cũng ưa thích học hỏi cái mới lạ, chính vì vậy mà loại ảnh chớp sáng đã xuất hiện trên 60 năm và đã đến điểm cực thịnh vào khoảng 1960-1961.
Trong câu truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt” Ông giải thích, trong khoảng thời gian 1960-1961, Edith Gerin đã sáng tạo ra một loại ảnh mới nhằm diễn tả những gì mà các loại ảnh thường không làm được. Ðó là lối chập nhiều phim vào với nhau rồi đem phóng ra ảnh, được áp dụng để đi đến một sự diễn tả siêu thực. Mấy năm sau, ý tưởng này lan tràn khắp Âu Châu và xuất hiện những nhóm “tự do diễn tả”. Thời đại 70 là thời đại của loại ảnh siêu thực, trừu tượng, nó tạo ảo giác cho người xem phải phân vân, không biết mộng hay thực.

Lê Văn Khoa đang chụp hình thân cây
(Ảnh trích báo Thế Giới Tự Do 1963)Càng đi sâu vào câu chuyện, tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả, “Nước mắt có tạo nên con người không? Tại sao chúng ta chỉ biết nhìn vào bi thảm, tàn úa, chết chóc mà không đoái hoài đến khía cạnh phấn khởi, tươi vui hơn? Hay chúng ta cho rằng nét bi ai trong tác phẩm dễ gây xúc động cho giám khảo, cho người xem? Một người đứng ngoài nhìn vào khác hơn một người ở trong cuộc, làm sao thấu suốt được để diễn tả? Người làm nghệ thuật là chứng nhân, nhưng đồng thời cũng là người làm lịch sử, vì thế không phải chỉ nhìn về quá khứ mà cũng nhìn vào tương lai.” Có phải đây là lời nhắn nhủ, lời giải thích, sự giải bay niềm tâm sự hay đúng hơn là một phương cách độc đáo để hướng dẫn thế hệ sau này đừng chỉ biết bước vào con đường cũ kỹ, bảo thủ của tiền bối mà chúng ta thấy rất rõ trong câu nói của Diễm: “Anh bối rối điều gì? Sợ mình sai lầm trong đường lối sáng tạo à? Hay sợ bị quần chúng bỏ rơi? Thật ra làm nghệ thuật cũng tương tự như làm chính trị. Nói đến chính trị ta thấy có hai hạng người. Hạng thứ nhất tìm hiểu để theo đuôi quần chúng. Còn hạng thứ hai, tìm hiểu để dìu dắt, để nâng đỡ, để hướng dẫn quần chúng tiến lên mực độ cao hơn ... em nghĩ rằng ta cần phải chấp nhận một sự hy sinh để chọn hướng đi mình thấy thích hợp và lợi ích hơn. Nói đến hy sinh tức ta phải chấp nhận sự từ bỏ một cái gì quý báu, tha thiết dường như không thể thiếu được trong đời ta”.
Ai dám bảo Ông Lê Văn Khoa của chúng ta không lãng mạn, không ngọt ngào, không đam mê và không rung động bởi người đẹp tên “Diễm” chứ? Xin hãy lắng nghe trái tim si tình thổn thức qua đoạn văn sau: “Tôi không làm theo lời Diễm, lại nhìn thẳng vào cặp mắt xanh trong veo như mặt hồ nước không đáy. Cặp mắt ấy có lúc như ngơ ngác, lúc như có ma lực quyến rủ lạ lùng, chỉ nhìn đã thấy cả thần hồn ngây ngất như say mà mãi đến bây giờ tôi mới dám nhìn thẳng vào. Ðôi mắt ấy giờ đây lại đượm vẻ buồn mênh mông làm cho lòng tôi xao xuyến khác thường. Trong xao xuyến đượm một mối bâng khuâng nhẹ nhàng như vừa đánh rơi giọt sương mai óng ả ánh mặt trời, như vừa làm đứt một đường tơ để màng nhện tuyệt mỹ phải rách và tạo một lỗ hổng đen ngòm sâu hút ngàn đời không khỏa lấp. Nỗi hối hận len vào hồn tôi và lần đầu tiên tay tôi tìm bàn tay nàng, siết mạnh”.
Bây giờ thì tôi dám quả quyết rằng, câu chuyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt” không phải là một câu chuyện bình thường, mà đó là một tác phẩm kinh điển về nghệ thuật nhiếp ảnh, một “Bible” cho những ai chập chững bước vào lãnh vực này, bởi nó giải thích quá rõ ràng mục đích và phương hướng của nó. Tôi xin dẫn chứng qua đoạn văn sau đây:
“Tôi cảm thấy mình thua sút người ta quá nhiều, quá xa. Tại sao? Có phải do óc kỳ thị, thiếu tự tin, nhưng tự tôn hòa với tự ti, mãi nghĩ rằng mình còn bán khai, chậm tiến nên chỉ đợi cái gì người ngoài nghiên cứu rồi tuyên bố, bấy giờ mới hân hoan tiếp đón, ca tụng những sáng kiến ngoại lai mới mẻ, nhưng trong khi ấy vẫn nghĩ mình là trùm thiên hạ, mà hỡi ôi, nó là cái gì đã ăn sâu vào huyết mạch, là cái gì tạo nên dân tộc, là nguồn gốc của văn minh, là căn bản của truyền thống mình. Hỡi thằng người nhỏ nhen ta ơi, mày ngu lắm mà cứ tưởng mày thông minh vượt bực. Mày vốn hèn mà cứ tưởng mày cao sang! Tồi ơi là tồi!”

Đường Nét,
(Ảnh Lê Văn Khoa)Chúng ta đã nhìn thấy gì trong bức ảnh trên? Do you see what I see? Thật là một tác phẩm nghệ thuật trừu tượng. Hãy nhìn thật kỹ bức ảnh trên, Ông Lê Văn Khoa cho rằng: Tại sao chúng ta không ghi nhận đường nét đẹp trên thân hình thiếu nữ mà Tạo Hóa đã ban cho họ mà lại đi tìm đường nét chết trên đồi cát, bãi biển, đường mòn? Phải chăng chúng ta cho rằng đó là… là việc… tồi bại mà con người có đạo đức không được nghĩ đến? Có lẽ, nếu cứ bỏ lớp đạo đức giả mà nhìn thẳng vào con đường nghệ thuật nó không phải ảnh khiêu dâm, nó phụng sự cho chân, thiện, mỹ, cho vĩnh cửu chứ chẳng phải cho dục vọng thấp hèn, để bị xuyên tạc, chống đối và khinh miệt. Có lẽ Ông Khoa đã nói đúng. Đã đến lúc người làm nghệ thuật phải vị nghệ thuật, hãy thức tỉnh cơn mê muội, hãy lột bỏ lớp mặt nạ giả nhân giả nghĩa đã khéo che đậy từ bao năm qua, hãy đối diện với sự thật, một sự thật đã bị chôn giấu dưới lớp mặt nạ đạo đức, cao thượng, xây dựng, phủ lên mớ kiến thức quá kém, tư tưởng quá hẹp hòi để che đậy cái dốt của mình bằng lời nói bóng bẩy mong được người đời suy tôn. Hỡi ôi, hư không trở về hư không! Thảy đều hư không! (dựa theo lời của người viết)
“Diễm hôn phớt qua má tôi rồi vụt biến vào bức ảnh khỏa thân rất đẹp đang treo trên tường. Tôi chới với đôi tay để giữ nàng lại nhưng không kịp, đành ôm mối tiếc thương nương theo luồng sáng của ngọn đèn quay phim lễ cắt băng khai mạc phòng triển lãm mà tan biến vào bóng tối vừa trùm xuống bên ngoài”. Thật là một kết luận xuất sắc và đồng thời chứng minh cho những suy nghĩ của tôi về nội dung của câu chuyện “Say Trong Ánh Mắt”. Tóm lại, tôi hoàn toàn đồng ý với Nhà Văn Việt Hải là “Chủ điểm của bài viết là đề cao cái nhìn mới, nghệ thuật sáng tạo trong nhiếp ảnh mà Ông Lê Văn Khoa đã đeo đuổi và khai phá từ trước cho đến nay, gần nhất là bộ ảnh “Do You See What I See?” của ông. Đoạn kết đã chứng minh cho những gì Ông Khoa đã nhắn nhủ chúng ta, những người trẻ của thế hệ tương lai… Hãy nhớ lời ông nói:
“Do you see what I see?”

Sự Cám Dỗ Cuối Cùng (bàn gốc) – Ảnh Lê Văn Khoa – Sự Cám Dỗ Cuối Cùng Vậy thì “Nghệ thuật” là gì và thế nào là “Nét nghệ thuật”? Có phải “Nghệ Thuật” là ở chỗ xắp xếp như thế nào cho hợp lý và đẹp mắt? Và “Nghệ thuật” theo Ông Khoa, thì “Nghệ thuật” phải đến từ tâm, từ óc hòa trộn vào nhau để rồi tỏa ra một nét đẹp có chiều sâu, có ý nghĩa. Đó mới chính là nghệ thuật. Vì thế mà trong lãnh vực nhiếp ảnh, Ông chia nhiếp ảnh ra làm 2 phần:
- Nhiếp ảnh Mỹ Thuật là chụp ảnh đẹp hay còn được gọi là “Pictorial Photography“.
- Nhiếp ảnh Nghệ Thuật hay Artistic Photography phải từ lòng mình mà ra, phải nghiên cứu trước và mục đích của nó nói lên cái gì?
- TRUYỆN NGẮN THỨ HAI: “NOCTURNE”.
Đọc qua câu chuyện trong tác phẩm truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt” đã đưa tôi từ thắc mắc (wonder) này đến thắc mắc kia. Nguồn cảm hứng nào đã khiến Ông Lê Văn Khoa sáng tác thêm một truyện ngắn thứ hai với tựa đề “Nocturne?” Có phải những năm trước đây chỉ vì sự ích kỷ, lòng ham muốn chiếm đoạt, tham vọng trở thành cường quốc vững mạnh nhất trên thế giới mà hai nước NGA, MỸ trở nên thù nghịch như mọi người thường nghĩ? Phải chăng Ông Lê Văn Khoa đã dùng âm nhạc và ngòi bút của mình để mong kéo hai quốc gia này lại gần nhau hơn? Và có phải niềm đam mê âm nhạc cổ điển đã tạo cơ hội cho con người quên hận thù và trở nên yêu thương, gắn bó bên nhau? Hay chủ ý của Ông là dùng câu chuyện để diễn giảng một bài học quan trọng về thể loại âm nhạc không lời, nhạc hàn lâm và bác học, một thể loại ít người hưởng ứng và đòi hỏi một kiến thức âm nhạc ở trình độ cao để hiểu và thưởng thức? Chẳng khác gì tác phẩm thứ nhất “Say Trong Ánh Mắt,” Ông Lê Văn Khoa đã dùng ngòi bút của mình để chuyên chở những ý nghĩ nhiếp ảnh, thì qua tác phẩm thứ hai“Nocturne,“ Ông dùng lời văn để gởi gấm những tinh túy, đặc thù trong âm nhạc không lời.
“Nocturne” là một câu chuyện mà Ông Lê Văn Khoa dựa trên trải nghiệm khi qua Ukraine để tìm người thu thanh những bài nhạc giao hưởng của ông. Trong chuyến đi ấy, ông đã được giới thiệu đến người độc tấu violin trong một bối cảnh vô cùng lãng mạn nơi công viên, với không khí lạnh giá của ngày đầu tháng ba, khi tuyết vẫn còn rơi, phủ đầy trên mặt đất một màu trắng xóa và đọng trên cành cây những hạt tuyết hóa đá chồng chất lên nhau, lấp lánh như những hạt kim cương. Tất cả đã được Ông lưu lại trong tác phẩm “Nocturne” và đây cũng là nguồn cảm hứng khiến Ông sáng tác câu chuyện tình cảm này.
Bối cảnh của câu chuyện xảy ra tại Moskova, thủ đô của Nga, một quốc gia có nhạc viện Tchaikowsky (Tchaikowsky Conservatory) nổi tiếng. “Nocturne” là một truyện ngắn mà thoat nghe thì tưởng đây là một câu chuyện tình yêu lãng mạn như Nhà Văn Việt Hải đã đặt tên cho nó là “Chuyện tình Nga-Mỹ” bởi đây là một chuyện tình éo le, sôi động giữa cô nhạc sĩ người Nga, tên Anastasiya Smirnoff và anh nhạc sĩ đến từ Mỹ tên Alex Anderson. Như bao nhiêu câu chuyện tình yêu khác, Anastasiya và Alex yêu nhau say đắm, họ chia sẻ cho nhau những giây phút mặn nồng, chan chứa những yêu đương nóng bỏng như Ông Lê Văn Khoa đã diễn tả qua ngòi bút của ông (Lê Văn Khoa, Một Người Việt Nam, trang 100): “Môi chàng đã bị khóa kín bởi những nụ hôn nồng nàn, nóng bỏng, những tình cảm rạt rào của hai trái tim lạnh giá bị đè nén từ lâu nay đột nhiên được khơi dậy, bùng nổ như núi lửa, như nước vỡ bờ…”
Viết như thế này thì ai dám bảo rằng Ông Lê Văn Khoa chỉ yêu âm nhạc và nhiếp ảnh chứ? Theo tôi ông chẳng những là một thiên tài của âm nhạc, một nhiếp ảnh gia tài ba, một người đáng yêu của nhân loại mà còn là một nhà văn. Thật vậy, càng đi sâu vào câu chuyện “Nocturne” tôi lại càng bị thu hút bởi nghệ thuật dùng văn chương để diễn tả một mô thức giảng dạy rất tinh vi về âm nhạc, một lối truyền bá tinh thông mà chẳng ai nghĩ đến trước kia.
“Dream” và “Nocturne” là hai nhạc phẩm được lồng vào trong tác phẩm văn học có cùng tên với bài nhạc. Khi được hỏi tại sao Ông chọn hai nhạc phẩm Nocturne và Dream. Ông trả lời: Hai bài nhạc được chọn vì hai bài này có nhiều diễn tả mà người nghe có thể theo dõi không khó lắm.
Ông Lê Văn Khoa đã dùng một nhạc sĩ độc tấu violin, một tài năng vượt trội đã chiếm giải thưởng quán quân của toàn liên bang Sô-Viết khi cô 16 tuổi và hiện là giáo sư của nhạc viện Tchaikowsky (Tchaikowsky Conservatory of Ukraine) và được mời đi dạy nhiều nơi trên thế giới, để trình diễn tác phẩm “Nocturne” và “Dream” của Ông. Chính vì thế mà nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa muốn lồng bài nhạc vào trong câu chuyện cho thêm phần ướt át và ông muốn diễn tả tâm trạng này qua những đoạn hết sức gay cấn.

Ban Chủ Trương và Thân Hữu
Cùng Ông Bà Lê Văn Khoa
-
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH CORONAVIRUS 19
Bài viết của Khánh Lan

Có thể nói đại dịch CORONAVIRUS 19 và biến thể của nó đã đưa đến những ảnh hưởng và hậu quả đáng lo ngại cho thế giới nói chung và cho từng cá nhân nói riêng. Thật vậy, cơn sốt COVID 19 đã mang đi sự sống của hàng triệu người trên thế giới và để lại trong tiềm thức của chúng ta một nỗi kinh hoàng sợ hãi, một đe dọa giết người thầm kín mà y học gọi là “Silent killer“. Một câu hỏi đã gây hoang mang hoảng sợ trong thế giới loài người mà không ai biết trước được câu trả lời: “Bao giờ đến lượt mình?”
Trong bài viết này, chúng tôi xin bàn về 4 lãnh vực chính mà đã chịu ảnh hưởng nặng nề trong mùa đại dịch CORONAVIRUS 19, đó là:
- Ảnh hưởng trong lãnh vực tâm lý.
- Ảnh hưởng trong lãnh vực y khoa.
- Ảnh hưởng trong lãnh vực kinh tế.
- Ảnh hưởng trong lãnh vực xã hội.
1. ẢNH HƯỞNG TRONG LÃNH VỰC TÂM LÝ:
Đây là một vấn đề rất quan trọng trong lãnh vực liên quan đến sức khỏe của con người mà phần lớn chúng ta không để ý đến, nhất là người Á Châu. Bởi đối với người Á Đông chúng ta, một dân tộc mà đa số sống trong sự thiếu thốn về vật chất, nghèo khó và đông con, thì có lẽ việc lo cho “miếng ăn manh áo” hàng ngày cho gia đình, đã trở nên quan trọng và làm lu mờ sự chú tâm vào cảm xúc của chính mình. Tuy nói như thế, không hẳn là chúng ta không để ý đến sự xuất hiện của cảm xúc, nhưng phần lớn chúng ta có khuynh hướng chủ quan là cảm xúc ấy chỉ thoáng qua trong chốc lát hoặc “phớt tỉnh ăng lê” chúng đi, vì không trước thì sau, chúng sẽ tự biến mất. Sự biến mất tạm thời ấy xuất hiện là vì chúng ta cố gắng lấp kín cái hố sâu cảm xúc ấy bằng những độc chất như rượu, thuốc lá, cần sa ma túy, v.v… bởi chính những hóa chất độc hại này sẽ có sức mạnh làm tê liệt những cảm giác lo âu, sầu khổ, trầm tư, sợ hãi trong tâm trí con người.Cái nguy hiểm là khi chúng ta bỏ qua và không để ý đến những cảm xúc của mình thì đó là lúc chúng có thể đưa chúng ta đến tình trạng trầm cảm, u sầu, lo sợ. Lúc ấy, chúng ta tự cách ly với xã hội bên ngoài và nguy hiểm hơn nữa là chúng ta có thể rơi vào tình trạng quẩn trí và tự tìm đến cái chết. Để giải tỏa những ưu tư ảnh hưởng trên đời sống tâm lý, chúng ta cần phải chú ý đến những cảm xúc của mình và tận dụng phương pháp tâm lý trị liệu, bởi nó có thể giúp chúng ta thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy.
Vậy “Tâm lý trị liệu” là gì? Xin thưa đó là phương pháp giúp chúng ta giải tỏa những cơn khủng hoảng nhất thời hay đã tồn tại lâu năm trong tiềm thức. Tâm lý trị liệu, (psychotherapy) là một hệ thống các phương pháp kỹ thuật nhằm cải thiện sức khỏe tinh thần, tháo gỡ các trở ngại trong cảm xúc, giúp bệnh nhân tìm hiểu chính họ, tạo nên một cái nhìn mới về các mối quan hệ trong quá khứ và hiện tại. Tâm lý trị liệu giúp thay đổi những hành vi của con người qua lời nói hoặc các kỹ năng giao tiếp khác. Thật ra phương pháp tâm lý trị liệu không xa lạ đối với con người, ở nhiều quốc gia trên thế giới, những người làm tâm lý trị liệu phải được đào tạo, có bằng cấp và được cấp giấy phép hành nghề. Họ là những nhà chuyên môn giúp chữa trị các vấn đề tâm lý. Để nhận được sự giúp đỡ, chúng ta có thể nhờ các cơ quan cố vấn tâm lý cộng đồng, các bậc tu sĩ (tùy theo tín ngưỡng của mình), nhân viên tại các cơ quan xã hội, điều dưỡng viên tâm thần, bác sĩ tâm thần, nhà phân tâm học hoặc các chuyên viên khác đang làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tinh thần… Điều quan trọng là chúng ta cần phải ý thức được lúc nào mình cần sự giúp đỡ để gột bỏ những ý tưởng không lành mạnh (unheathy thinking) ra khỏi ký ức.
Để tránh tình trạng khủng hoảng tâm lý trong thời gian dịch bịnh COVID, ngoài việc tiếp tục với những công việc hằng ngày, chúng ta cần phải dành thời gian để thư giãn tâm trí qua những sinh hoạt lành mạnh như thể dục, yoga, thiền, đi bộ, bơi lội, v.v… hoặc tìm cho mình một sở thích, thú đọc sách, niềm đam mê như học nhạc, tập đàn piano, guitar, viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc, v.v…
II. ẢNH HƯỞNG TRONG LÃNH VỰC Y KHOA:
Đại dịch COVID-19 đã gây ra những hậu quả sâu rộng trong lãnh vực y học bởi ngoài việc phải tìm cách đương đầu với khả năng lây lan nhanh chóng của dịch bệnh, các khoa học gia đã phải bỏ nhiều thời gian và nỗ lực trong việc nghiên cứu và phát minh ra loại thuốc chủng có khả năng kiểm soát và ngăn chặn bịnh dịch. Căn cứ vào những tin tức hằng ngày trên radio, tivi, báo chí và nhất là Internet chúng ta cũng hiểu dịch bịnh COVID 19 đã gây những ảnh hưởng tiêu cực lớn lao trong lãnh vực y khoa, từ bác sĩ, y tá và những nhân viên phục vụ trong ngành chuyên môn. Ngay từ ngày đầu của sự khởi phát bệnh dịch vào tháng 4, 2019, hầu hết các bệnh viện trên thế giới đều chật cứng. Các nhà thương phải dựng những lều y tế dã chiến bên ngoài để đáp ứng với nhu cầu cấp cứu khẩn trương cho bệnh nhân, những bệnh nhân không người thăm viếng, tình trạng thiếu dược phẩm, giường cho bệnh nhân, dụng cụ y tế như máy thở và ngay cả đến y sĩ, nhân viên y tế đều bị thiếu hụt. Nhưng sự mất mát đáng kể nhất là sự hy sinh tính mạng của những người được mệnh danh là “Thiên thần áo trắng“.Bi thảm hơn nữa khi những nhà quàn không đủ chỗ để chứa xác người, những đám tang không người đưa tiễn và những thây ma nằm cô đơn trong nghĩa trang buồn. Sông Hằng, dòng sông linh thiêng nhất Ấn Độ, ngập xác người bị nhiễm Covid-19, hàng trăm thi thể nổi lềnh bềnh trên sông hoặc bị vùi trong bãi cát bên bờ ở bang miền bắc Uttar Pradesh. Xác người vất vưởng bên bờ, các giàn hỏa táng được thắp sáng bên sông Hằng ở Allahabad, cháy suốt ngày đêm vì các khu hỏa táng không còn chỗ.
III. ẢNH HƯỞNG TRONG LÃNH VỰC KINH TẾ:
Sự bùng phát của dịch bịnh Coronavirus đã là một mối lo ngại và có tác động lớn đến nền kinh tế trên toàn thế giới. Bách khoa toàn thư Wikipedia ghi nhận rằng: Sự bùng phát của đại dịch CORONAVIRUS 2019 đã gây ảnh hưởng rất lớn cho nền kinh tế toàn cầu. Tác động của nó cao hơn nhiều so với tác động của virus SARS năm 2003. Nhu cầu về thiết bị bảo vệ cá nhân, hàng hóa, thực phẩm tăng lên gấp nhiều lần so với giá bình thường, dẫn đến việc tăng giá và khan hiếm, tạo nên sự hoang mang lo sợ trong quần chúng bởi người dân tích trữ nhu cầu, lương thực. Sự gián đoạn hoạt động các nhà sản xuất gây nên sự thiếu hụt và chậm trễ trong việc cung cấp hàng hóa. Sự thiếu hụt nguồn cung ảnh hưởng đến một số ngành do tình trạng mua bán hoảng loạn, tăng cường sử dụng hàng hóa để chống lại đại dịch, thí dụ như khẩu trang trở nên khan hiến và đã bán hết trên toàn quốc, áp lực đặt nặng lên hệ thống chăm sóc sức khỏe, nhu cầu kiểm tra y tế tăng lên.Nhiều nhân chứng đã báo cáo về cảnh mua bán hoảng loạn và hậu quả là thiếu hụt thực phẩm và các mặt hàng tạp hóa thiết yếu khác. Chẳng những thế, khi đại dịch lan rộng, các hội nghị, công nghệ, thời trang, thể thao, du lịch và thương mại đi xuống, phi trường đóng cửa, chuyến bay bị hủy bỏ hoặc hoãn lại. Các nhà hàng đã đóng cửa, rạp hát trong nước đã bị xóa sổ toàn bộ phòng vé. Các nhà máy, nhà bán lẻ và chuỗi nhà hàng đóng cửa gây nên nạn thất nghiệp trầm trọng, một số nhà hàng, cơ sỏ thương mại phải đóng cửa vì không cầm cự nổi với nhưng khó khăn tài chánh, v.v… Ngay đến thị trường chứng khoán toàn cầu cũng bị ảnh hưởng vào ngày 24 tháng 2 năm 2020. Đến ngày 28 tháng 2 năm 2020, thị trường chứng khoán trên toàn thế giới sụt giảm lớn nhất trong một tuần kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.
IV. ẢNH HƯỞNG TRONG LÃNH VỰC XÃ HỘI:
Coronavirus đã làm tê liệt không những nền kinh tế thế giới mà còn kéo theo hàng triệu người thất nghiệp hoặc bị sa thải tạm thời, Nạn thất nghiệp leo thang, tỷ lệ nhà cửa bị thu hồi trong lúc thị trường địa ốc bị phá giá, quỹ tiền tệ quốc gia thiếu hụt, người dân lâm vào cảnh đói nghèo, vô gia cư (homeless), tệ nạn xã hội tăng cao, giết người, hôi của, v.v… Nhiều triệu người lao động nghèo bị buộc phải quay trở về quê để tránh tình trạng nghèo đói hàng loạt và thậm chí là chết đói…. Bộ trưởng y tế đã ra chỉ thị hủy bỏ các cuộc tụ họp đông người, làm gián đoạn nhưng sinh hoạt cộng đồng, giải trí, v.v…
Để cứu vãn tình thế, hầu hết các chính phủ đã bơm hàng nghìn tỷ đô la vào nền kinh tế của họ để ngăn chặn những thiệt hại lớn hơn trong tương lai. Tuy nhiên, sự phục hồi không đưa đến một kết qua khả quan, các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với thời kỳ khó khăn, 1/4 tỷ người ở các nước đang phát triển có thể phải đối mặt với tình trạng nghèo đói. Tại ở Mỹ, người dân may mắn nhận được sự trợ giúp của chính phủ khiến công quỹ cũa quốc gia ngày càng cạn.
Đại Dịch COVID-19 Có Ảnh Hưởng Trên Sức Khỏe Tâm Thần Của Trẻ Em Như Thế Nào?
Chăm sóc sức khỏe tâm thần của trẻ con đóng vai trò quan trọng khi có một cuộc khủng hoảng đại dịch COVID-19 xảy ra. Thật vậy, có nhiều yếu tố rủi ro có thể xảy ra gây ảnh hưởng đến trẻ em trong khoảng thời gian này, kết quả có thể dẫn đến suy nhược sức khỏe tâm thần: Một nghiên cứu khảo sát bởi Hiệp Hội Y Học Thiên Tai và Y Tế Công Cộng công bố:- Sự gián đoạn đối với các thói quen trước đây.
- Gia đình bị cách ly.
- Mất mát gia đình vì COVID-19.
- Giáo dục trực tuyến.
- Thiếu tiếp cận với bạn bè đồng trang lứa.
- Bạo lực có thể xảy ra trong gia đình.
Sức khỏe tâm thần của những trẻ em có cha mẹ bị cách ly vì bệnh COVID-19 có khả năng bị ảnh hưởng cao hơn ở mức độ tâm thần. Thí dụ: Nếu cha mẹ mắc chứng lo âu hoặc PTSD thì con cái của họ cũng bị ảnh hưởng. Nghiên cứu mới đây cho thấy người trưởng thành đang phải chống chọi với những vấn đề sức khỏe tâm thần gia tăng trong đại dịch COVID-19. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng cha mẹ nên quan tâm về phương thức hỗ trợ sức khỏe tâm thần của con cái. Những tài nguyên có thể giúp ích như giúp trẻ em đối phó với chứng lo âu liên quan đến virus corona đã được quảng bá trong dân chúng như những phương cách giúp trẻ em đối phó với sự căng thẳng liên quan đến COVID-19. Hoặc làm thế nào để nói chuyện với trẻ về nỗi thất vọng trong đại dịch COVID-19. Hay làm thế nào để có thể giúp trẻ em khi các em nhớ bạn bè trong đại dịch COVID-19.
Kimberley Norris, nhà tâm lý học và nghiên cứu viên người Úc, đã khám phá ra rằng khi con người bị cách ly vì một đại dịch, họ có xu hướng xoay vòng quanh những giai đoạn cảm xúc khác nhau. Hành vi của họ thay đổi trong những giai đoạn này còn tùy thuộc vào độ tuổi và các yếu tố khác, tuy nhiên chu trình cảm xúc thường đi theo khuôn mẫu sau:
Rối loạn: Mua hàng tích trữ hoặc trẻ em không hiểu tại sao chúng không
còn có thể gặp bạn bè ở trường.Thích nghi: Thay đổi khi làm việc tại nhà.
Oán giận: Cảm thấy bị gò bó hoặc chán ngấy việc mang khẩu trang.
Tái hợp: Giai đoạn chúng ta bắt đầu ngưng cách ly và có thể cảm thấy nhiều cảm xúc hỗn tạp.
Tái hòa nhập: Quay trở lại hoạt động bình thường trong xã hội.
Những dấu hiệu và triệu chứng ở trẻ em có thể bao gồm:- Trầm cảm và/hoặc lo âu.
- Hành vi thoái bộ như mất kỹ năng đi vệ sinh.
- Tăng sự lo âu phân ly.
- Giấc ngủ, việc ăn uống và kết quả học tập có sự thay đổi.
- Tham gia vào những hành vi rủi ro.
- Mất hứng thú đối với bạn bè và/hoặc các hoạt động.
- Cô lập.
- Không vâng lời.
Giúp kiểm soát những cảm xúc.
· Hít thở sâu: Việc này sẽ giúp trẻ bình tĩnh và tự dịu lại. Hít vào trong 3 giây, giữ yên trong 3 giây sau đó thở ra trong 3 giây.
· Tăng thư giãn cơ: Việc này sẽ giúp quý vị nhận diện được thời điểm căng thẳng khi cảm thấy bồn chồn. Sử dụng kỹ năng hít thở sâu để giúp thư giãn cơ thể. Căng cơ khi quý vị hít vào sau đó giãn cơ khi quý vị thở ra.
· Tập trung vào hiện tại: Đem sự chú ý của quý vị về thời điểm hiện tại thông qua năm giác quan. Ví dụ, kể tên năm đồ vật quý vị nhìn thấy trong phòng, bốn đồ vật quý vị cảm nhận, ba âm thanh quý vị nghe được.Khánh Lan, California, Sept. 27, 2021
TÀI LIỆU THAM KHẢO:- Bách khoa toàn thư Wikipedia.
- https://blog.chocchildrens.org/how-living-through-a-pandemic-like-covid-19-can-affect-childrens-mental-health/
-
NHỮNG CẢM NGHĨ CỦA KHÁNH LAN VỀ BA DIỄN GIẢ: QUYÊN DI, TRẦN HUY BÍCH, TRẦN PHONG VŨ TRONG BUỔI RA MẮT SÁCH 09/19/2021
Ngày mới lớn, Khánh Lan những tưởng VĂN cũng như THƠ, chẳng cần phải theo một mô thức nào cũng có thể tạo nên một tác phẩm cho chính mình. Cái cần thiết chỉ là có nguồn cảm hứng, có khung cảnh hữu tình, cộng thêm một chút “ROMANTIC” là đủ để cho ra một bài thơ tuyệt diệu, một tác phẩm văn học có giá trị và đích thực. Nhưng khi trưởng thành, ý tưởng ấy càng lúc càng rõ rệt trong trí óc, một người với ước vọng cầm bút viết văn từ thuở nhỏ. Thật vậy, để có thể đặt bút viết lên một tác phẩm và đoạt được sự thành công trong tác phẩm của mình, chắc chắn không đơn giản và dễ dàng như tôi hằng nghĩ. Cái danh từ “Dấn thân và đam mê” bỗng trở nên quen thuộc với giới cầm bút, nhất là đối với chính Khánh Lan.
Khánh Lan thiết nghĩ, điều này rất đúng, khi ta dựa theo dòng tư tưởng của văn hào Jean Paul Sartre, thì một người khi quyết định đặt ngòi bút xuống trang giấy đề viết hoặc ước muốn trở thành một nhà văn đích thực thì phải đi theo đúng chính nghĩa “Nhà văn” của nó. Theo Jean Paul Sartre, một người viết văn cần phải qua 3 tiêu chuẩn căn bản, đó là:
- Phải dấn thân và phải có niềm đam mê viết.
- Phải được viết một cách tự do và không dưới một hình thức sự ép buộc hay một bạo lực nào.
- Phải có trách nhiệm với ngòi bút của mình.

NV Việt Hải & Khánh Lan Việc gì đã xày ra trong buổi RMS 4 tác phẩm đầu tay của Khánh Lan ngày 19 tháng 09, 2021 tại NT Studio? NV Việt Hải đã yêu cầu Khánh Lan giải thích về mô thức viết văn của Khánh Lan? Để trả lời câu hỏi của NV Việt Hải, xin thưa, một mô thức mà Khánh Lan đã ghi nhận và hấp thụ được từ lớp văn chương khi còn đi học, nó cũng không thoát ra khỏi ba yếu tố căn bản còn được gọi là “dàn bài”. Dàn bài gồm có ba phần chính: Nhập đề, thân bài và kết luận. Riêng phần thân bài gồm nhiều đoạn, trong mỗi đoạn có nhiều tiểu đoạn. Những đoạn hay tiểu đoạn dài hay ngắn là còn tuy thuộc vào tác giả. Dàn bài có rõ ràng thì bố cục mới vững chắc và thật vậy, Khánh Lan đã dựa theo mô hình này để hình thành 4 tác phẩm đầu tay của mình.
Nếu được hỏi, viết văn dễ hay khó, xin trả lời “Khó hay dễ” cũng còn tuy thuộc vào mỗi người. “Dễ” khi ta chấp nhận sự dấn thân, có miềm đam mê cộng thêm sở thích nghiên cứu, yêu đọc sách, vui thú học hỏi và nhất là phải có thời gian. Viết văn trở nên “Khó” khi ta không có những tiêu chuẩn kể trên. Khánh Lan còn nhớ mãi khi Khánh Lan hỏi ý kiến “Bố chồng Khánh Lan”, nhà thơ Việt Cường Lưu Tấn Lâm về “Giấc mơ viết văn” của Khánh Lan thì ông khuyên rằng: “Thơ cũng như văn, một khi mình bắt đầu làm thơ hay viết văn, thì ý thơ, lời văn cứ dồn đập kéo đến khiến mình mê man như lạc vào vườn văn thơ lai láng. Mà ý thơ đến chẳng có giờ giấc nhất định gì cả, ngày cũng như đêm chẳng khác gì viết văn. Ý thơ đến và đi rất nhanh, nó chỉ thoáng qua trong trí óc. Thơ xuất hiện khi trí óc nhận được tín hiệu của sự cảm xúc từ trái tim hay có khi là do cảm hứng mà ra. Còn văn là do kinh nghiệm, học hỏi và nghiên cứu cũng như sở thích đọc sách. Có như thế thì kiến thức mới mở mang được. Do đó, có khi chúng ta sáng tác những áng thơ nhẹ nhàng và vui tươi, nhưng cũng có lúc những vần thơ đợm nét u sầu hoặc những áng văn bi thảm hay khôi hài. Con phải nhớ, những giây phút ấy quan trọng vô cùng và cần được ghi lại trên trang giấy, vì nếu không nó sẽ không trở lại toàn vẹn như lúc ban đầu. Thơ làm cho tâm hồn mình trẻ mãi không già. Thơ khiến cho ta yêu đời, yêu người và thơ là phương cách tốt nhất để chúng ta gói ghém niềm tâm sự. Văn giúp ta trau dồi kiến thức, hiểu nhiều, biết rộng và giúp chúng ta trở thành nổi tiếng trong thế giới văn chương.”

NT Việt Cường Lưu Tấn Lâm Trở lại buổi ra mắt sách ngày 19 tháng 09, 2021 thành công rực rỡ và quý khán giả đã ngồi lại đến giây phút cuối, chính là nhờ vào những bài nói chuyện xuất sắc, thu hút và nhận xét đích thực của ba diễn giả mà Khánh Lan vô cùng kính nể và quý mến. Đó là GS Quyên Di, GS Trần Huy Bích, NB & NV Trần Phong Vũ. Khánh Lan xin phép được ghi lại dưới đây những lời vàng ý ngọc ấy, những lời nói chân thật, thân tình của 3 vị diễn giả là một động lực, một khuyến khích cho Khánh Lan tiếp tục theo đuổi con đường sự nghiệp văn chương.

NT Nga Nguyển, NV Trần Phong Vũ, GS Quyên Di,
GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải, NV Nguyễn Quang, GS Trần Huy Bích
Huỳnh Anh, NV Nguyễn Quang, NT Nga Nguyển, NS Dương Hồng Anh,
GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải, John Tạ, GS Trần Huy Bích, Hoàng Khuê.Mở đầu với GS Quyên Di, ông giới thiệu một tác phẩm mới, tác phẩm thứ 5 mang tên KHÁNH LAN do tác giả “Đấng Sáng Tạo” sáng tác. Bài diễn văn hay quá, người cầm bút này xin ghi lại toàn vẹn bài của GS Quyên Di sau đây:
“Kính thưa quý vị, Thưa các Chị, các Anh, hôm nay chúng ta tham dự một buổi ra mắt sách sách đặc biệt với 5 tác phẩm được giới thiệu. Bốn tác phẩm:
- Vài nét về 10 tác giả Âu Mỹ cận đại
- Dĩ Vãng Khôn Nguôi
- Tuyển tập truyện ngắn: Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh
- Tuyển tập truyện trinh thám: Thám Tử Lê Minh
Bốn tác phẩm trên sẽ do những vị cao minh giới thiệu sau. Riêng tôi, rất hân hạnh được giới thiệu một tác phẩm mà tác giả không phải là Khánh Lan nhưng nhan đề lại là KHÁNH LAN. Tác giả của tác phẩm ấy chính là Đấng Sáng Tạo. Thật ra, nói về sáng tác, tôi muốn nhắc lại lời của nhạc sư HẢI LINH. Ông phát biểu:
“Chỉ có một đấng làm công việc SÁNG TÁC, đó là ĐẤNG SÁNG TẠO, còn chúng ta chỉ là những kẻ SÀNG TẠC, tức là SÀNG LỌC những gì đã có, để rồi TẠC theo mà thôi”.

GS Quyên Di Vâng, mỗi chúng ta là một quyển sách mà Đấng Sáng Tạo chính là tác giả. Mỗi quyển sách Ngài viết có một bố cục khác nhau, với những tình tiết khác nhau. Tác phẩm nào cũng đặc biệt. Hôm nay, chúng ta được dịp biết về quyển sách mang tên KHÁNH LAN mà Ngài đã viết với tất cả lòng ưu ái của Ngài. Theo phép viết truyện, việc đầu tiên là tác giả đưa ra bối cảnh mà tiếng Anh gọi là background. Truyện xảy ra ở đâu, khi nào, hoàn cảnh lúc ấy có gì đặc biệt, có những nhân vật phụ nào không. Sau khi đã bày ra một bối cảnh với những chi tiết như thế, tác giả mới đưa nhân vật chính vào.
Chúng ta sẽ không lầm khi nói rằng Đà Lạt là một trong số những thành phố đẹp nhất nước Việt Nam. Đà Lạt vào thập niên 60 với Thung Lũng Tình Yêu, Nhà thờ Con Gà, hồ Xuân Hương, Đồi Cù, Viện Đại Học Đà Lạt, trường Võ Bị Quốc Gia, với những con đường ngập tràn hoa dã quỳ, mimosa, anh đào đã là một thành phố vô cùng thơ mộng và lãng mạn. Đó chính là bối cảnh mở đầu của tác phẩm. Được sinh ra tại thành phố đó, cô bé Khánh Lan cũng có một tâm hồn mộng mơ và lãng mạn. Tuy thế, tuổi thơ của Khánh Lan là một tuổi thơ rất hồn nhiên, ngây thơ. Hồn nhiên, ngây thơ đến độ hôm tiễn chân cha về cõi vĩnh hằng với cơn mưa giữa mùa hè vừa mới tạnh cô bé Khánh Lan đã khóc thảm thiết, nhưng chẳng khóc vì mất đi người cha thân yêu, mà lại khóc nức nở vì không tìm được chiếc giày bị lún xuống bùn sâu. Một kỷ niệm cười ra nước mắt cho một cô bé còn quá dại khờ khi nhớ về quá khứ xa xưa.
Lớn lên trong sự đùm bọc của Ngoại và Mẹ, Khánh Lan thường nghe Mẹ kể rằng: người ta gọi Bố Khánh Lan là ông “Đội Lễ.” Ông vào miền Nam trước năm 1954 với nhiệm vụ bảo vệ cho hoàng đế Bảo Đại, bởi ông là trưởng đoàn của quân đội hoàng gia “Ngự Lâm Quân.” Sau năm 1954, ông “Đội Lễ” trở thành “Thiếu Úy Lễ,” phục vụ trong đơn vị tác chiến dưới thời của TT Ngô Đình Diệm. Ông đánh giặc rất hăng trên các chiến trường Komtum, Pleiku, Ban Mê Thuột, v.v… Thế mà lạ, không bao giờ bị thương, trong lúc rất nhiều đồng đội quanh ông đã nằm xuống tại chiến trường.
Sau lần đầu tiên bị thương nhẹ, Thiếu úy Lễ được thăng chức Trung Úy và thuyên chuyển về làm trưởng trại Trần Quốc Tuấn, nhưng chỉ vài năm sau ông lại trở về đơn vị tác chiến. Năm 1963, với cấp bậc Đại úy, ông được bổ nhiệm về Sài Gòn để thụ huấn khóa học ba tháng trước khi trở lại Đà lạt làm giảng viên trường Võ Bị Quốc Gia. Nhưng ông đã qua đời vào tháng Tám ngày 25, 1963, ba tuần trước ngày trình diện nhận chức vụ mới, vì tai biến mạch máu, khi ông chưa tròn 53 tuổi.
Cũng trong phép viết truyện, tác giả đưa độc giả theo những diễn tiến của câu truyện mà tiếng Anh gọi là những plots. Càng ngày diễn tiến càng lên cao, tiếng Anh gọi là Rising Action; cuối cùng lên đến đỉnh điểm mà tiếng Anh gọi là Climax. Theo diễn tiến này, tác giả tạo ra những nút thắt của câu truyện. Chính những nút thắt này khiến cho truyện trở nên gay cấn và hấp dẫn, gợi trí tò mò của người đọc, muốn biết rồi truyện sẽ diễn biến ra sao. Nút thắt và cũng là đỉnh điểm của tác phẩm mang tên KHÁNH LAN là sự việc xảy ra vào tháng 4 năm 1975. Khánh Lan cũng như bao người VN bỏ nước ra đi. Mặc dù ba tuần trước khi Sài Gòn thất thủ, Dr. Britton là cha nuôi của cô chị của Khánh Lan và Vy Hương, ông đã về Việt Nam bảo lãnh cho hai chị em sang Mỹ, mang theo cả giấy bảo lãnh của thống đốc đảo Guam, thế mà chị em Vy Hương, Khánh Lan vẫn không lọt vào được phi trường Tân Sơn Nhất.
Đã thắt nút thắt, trách nhiệm của tác giả là phải gỡ nút thắt ấy ra. Đó chính là nguyên tắc mà các tác giả viết truyện phải theo. Vậy thì Đấng Sáng Tạo, tác giả quyển truyện mang tựa đề KHÁNH LAN bắt đầu tìm cách gỡ nút thắt. Và cũng từ đây, các diễn tiến bắt đầu đi xuống, mà tiếng Anh gọi là falling action. Thêm một nhân vật xuất hiện: người anh rể của Khánh Lan được trường Quốc Gia Hành Chánh Sài Gòn cấp học bổng đi học chương trình tiến sĩ ngành Political Science tại North Carolina hồi đầu năm 1975. Anh đã đánh điện tín về Sài Gòn và nhờ một người bạn ngoại quốc đang làm việc tại Sài Gòn chở Khánh Lan, Vy Hương và hai người em của anh vào phi trường. Đó là ngày 28, tháng 4, năm 1975. Bị kẹt lại trong phi trường hai ngày vì lúc ấy phi đạo bị pháo kích liên tục. Khánh Lan và Vy Hương là những người ra đi trong những chuyến bay sau cùng rời phi trường Tân Sơn Nhất, vĩnh biệt quê hương trong vội vã, bỏ lại tất cả: Ngoại, Mẹ, anh Cả, anh hai và bạn bè…
Từ Phi Luật Tân, qua Guam và sau một tháng ở trại tị nạn Forth Chafee, Khánh Lan và Vy Hương đoàn tụ với người chị thứ ba ở Sacramento. Lúc ấy, chị làm việc cho cơ quan từ thiện: FOOD FOR THE HUNRY và đang giúp tìm người bảo trợ cho gia đình tị nạn VN. Vì không muốn là gánh nặng cho vợ chồng chị, Khánh Lan và Vy Hương chấp nhận sự bảo trợ của ông bà Shidler. Ông bà là chủ nhân của một motel vùng Yuba City. Thế rồi ông bà cho Khánh Lan & Vy Hương đi học. Nút thắt càng ngày càng được nới lỏng.
- Niên khoá 1975-1978 KL lấy bằng AA ngành kế toán, Yuba City College.
- Niên khoá 1978-1980 KL tốt nghiệp cử nhân kế toán quản trị, đại học California State University, Sacramento,
- Niên khoá 2000-2002 KL tốt nghiệp Cao học tâm lý xã hội (socio- psychology), đại học California State University, Fullerton.
Thêm một diễn biến mới: Sáu tháng sau ngày nhập học Yuba City College, Khánh Lan gặp Mạnh Bổng. Hai người giữ mối liên hệ bạn trai bạn gái suốt 5 năm trời. Đến tháng 8, 1980, hai người kết hôn. Hai năm sau, 1982, Khánh Lan sinh con gái đầu lòng Thiên Kim. Kết hôn với Mạnh Bổng quả thật cuộc đời Khánh Lan bay bổng rất mạnh!!! Với cuộc sống thăng tiến như thế, Khánh Lan đã:
- 2 năm làm việc cho ngân hàng.
- 12 năm làm việc cho chương trình Dịch vụ Hỗ trợ Tại gia. Đồng thời làm việc bán thời gian cho nơi tạm trú an toàn của Phụ nữ bị bạo hành trong gia đình, với tư cách là cố vấn tại trung tâm Fullerton và Tư vấn Khải Đạo cho người Nam Hàn, đồng thời là người hướng dẫn chương trình điều trị nạn nhân Bạo lực và chương trình điều trị ma túy.
- 3 năm làm việc cho Chương trình Tư vấn cho Cư dân Châu Á Thái Bình Dương với tư cách là cố vấn, tiếp xúc với phụ huynh và hỗ trợ nhóm phụ huynh.
- 18 năm làm việc cho Dịch vụ Bảo vệ Trẻ em với tư cách Nhân viên Xã hội cao cấp của phần vụ Ứng phó Khẩn cấp, phần vụ bảo vệ nạn nhân Bạo hành Gia đình và phần vụ Bảo trì Gia đình.
Sau 35 năm làm việc, KL nghỉ hưu vào năm 2018.
Chương sách này viết về Khánh Lan, Đấng Sáng Tạo đã ban cho nhân vật chính của mình một sự thông minh, tế nhị, sự chịu đựng, lòng can đảm và nỗ lực tuyệt vời. Đây được xem là một trong những chương đẹp nhất của tác phẩm mang tên KHÁNH LAN, mặc dù có những lúc người Cán Sự Xã Hội Cao Cấp ấy phải trải qua rất nhiều khó khăn, nguy hiểm và lo sợ khi phải đương đầu với công việc hằng ngày, nhất là trong thời gian làm việc ở cơ quan chống lạm dụng trẻ em và Ứng cứu khẩn cấp, là những cơ quan mà phần lớn phụ nữ Á Đông không dám làm vì phải chịu nhiều căng thẳng, phải ra quyết định, phải tách rời trẻ em khỏi gia đình mà các em bị lạm dụng, phải đối phó với bệnh viện, đối diện với cái chết của một đứa trẻ, đối đầu với nạn ma túy, với thành viên của các băng nhóm v.v…, phải viết báo cáo hầu như mỗi ngày và phải ra tòa khi cần thiết.
Một chương khác trong tác phẩm mang tên KHÁNH LAN cũng đẹp không kém là chương Khánh Lan tham gia sinh hoạt văn học nghệ thuật với những thành tích rực rỡ:
- Những sinh hoạt trong các lãnh vực Vũ nghệ thuật (arts choreography), thi ca, biên khảo văn học, tham luận văn chương, truyện ngắn, hồi ký, văn tạp ghi và kịch nghệ Song ngữ Việt Anh.
- Trưởng Nhóm Văn Học & Nhóm Vũ Nghệ Thuật của Liên Nhóm Nhân văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, cộng tác trong ban biên tập các tổ chức văn học: Việt Media, Văn Học Mới, Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian.
- Được vinh danh trong số 100 tác giả văn hóa Việt Nam trong quyển Những Khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải Ngoại (NKMVHVNHN) của Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris.
- Cộng tác trong ban biên tập các tổ chức văn học: Tác phẩm phổ biến trên báo chí, internet, và chủ đề văn học hoặc thi ca trên tạp chí Việt Media, Chim Việt Cành Nam, Tuổi Trẻ online, CLB Văn Hóa Paris, Văn Học Mới, Saigon Time, Ninh-hoa.com, trang web ledinh.ca, Nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, vùng Nam Hoa Kỳ.
Kính thưa quý vị, Thưa các chị, các anh, Đấng Sáng Tạo vẫn còn tiếp tục viết những chương kế tiếp của tác phẩm mang tên KHÁNH LAN. Tác phẩm chưa chấm dứt, nhưng cá nhân tôi tiên đoán đây là một tác phẩm có hậu, HAPPY ENDING. Chúng ta hãy chờ xem Ngài còn viết những gì. Trăm lời nói không bằng một lần nhìn, tôi xin được phép giới thiệu tác phẩm KHÁNH LAN do Đấng Sáng Tạo sáng tác, bằng xương bằng thịt: NHÀ VĂN KHÁNH LAN.

Khánh Lan Diễn giả thứ hai là GS Trần Huy Bích, bài diễn văn của ông ngắn gọn nhưng rất đầy đủ và nói lên được giá trị nội dung của tác phẩm cũng như phong cách viết văn của tác giả, phương cách nhận định giá trị và nội dung của tác phẩm, Khánh Lan xin tóm tắt như sau:
“Kính thưa các bậc trưởng thọ, kính thưa các thân hữu,
Tôi được trao nhiệm vụ nói về 2 tác phẩm trong 4 tác phẩm của chị Khánh Lan. Đó là Đôi nét về 10 tác giả Âu Mỹ cận đại và Tuyển tập truyện trinh thám: Thám tử Lê Minh. Trong tác phẩm Đôi nét về 10 tác giả Âu Mỹ cận đại, bài đầu tiên là bài tóm tắt về Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh. Đây là cuộc tranh luận tại Việt Nam từ năm 1930 của hai nhà văn Hải Triều và Hoài Thanh về nghệ thuật phục vụ nghệ thuật và nghệ thuật phục vụ về cuộc đời. Đây là cuộc thảo luận gay go trước năm 1945, chị Khánh Lan đã tóm lược một cách đầy đủ, kỹ càng và ghi nhận được những điểm chính của cuộc tranh luận đó. Đây là một sự thành công. Sau đó tác giả trình bày về sự nghiệp và cuộc đời của10 tác giả Tây phương cận đại trong đó có 4 tác giả người Pháp là Victor Hugo, Alexandre Dumas, Marcel Proust và André Gide. Chị đã đặc biệt để ý đến 2 cuốn là “Khung Cửa Hẹp-La Porte E1troite” và “Đi tìm thời gian đã mất-À la Recherche du Temps Perdu”, chị say mê 2 cuốn đó. Ngoài ra những tác phẩm còn lại là 3 tác giả Mỹ, 1 Nga, 2 Đức. Đây là những tác giả quan trong của văn học thế giới, chị đã làm đầy đủ, chị đọc rất kỹ, chị tóm được các điểm chính đặc sắc của tác giả.

GS Trần Huy Bích Đứng về phương diện văn học, những nhận xét của chị có lương tâm, chu đáo, chị đã thành công, chúng tôi không thấy khuyết điểm gì. Quyển thứ nhì là quyển truyện trinh thám, Thám Tử Lê Minh gổm 13 truyện. Truyện cuối cùng nói về cuộc đời của tác giả Lê Minh. Điều đặc biệt thì Lê Minh không phải là một nam thám tử mà là một nữ thám tử, có lẽ vì tác giả là một nữ tác giả nên đã tạo nên một nhân vật nữ với những đặc điểm của mình. Truyện của Khánh Lan khiến người đọc thích thú, vui vẻ, hấp dẫn và mến nhân vật trong truyện. Nên theo quan niệm của tôi, Khánh Lan đã thành công trong tập truyện Tuyển tập truyện trinh thám: Thám Tử Lê Minh. Nhất định chị Khánh Lan là một nhà văn.
Tóm lại, đứng về lãnh vực biên khảo, Khánh Lan thành công trong tập truyện về các nhà văn trên thế giới: Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại. Đứng về phương diện giải trí, Khánh Lan thành công trong truyện trinh thám: Thám Tử Lê Minh. Tôi xin chúc mừng chị Khánh Lan, anh Mạnh Bổng, chúc mừng tất cả của nghệ thuật viết văn. Xin kính chào.

Mabel, Stephen, Thiên Kim, Mạnh Bổng, Khánh Lan,
Vy Hương và NT Việt Cường.Và sau cùng là bài diễn văn của nhà báo kiêm nhà văn Trần Phong Vũ, bài diễn văn của ông thật hùng hồn và có lẽ đã thu hút được hầu hết các khán giả tham dự buổi RMS hôm ấy. Khánh Lan xin ghi lại tóm tắt phần lớn bài diễn văn của ông như sau.
“Khánh Lan, đây là ngày đầu tiên tôi được gặp cô, mặc dầu cô đã liên lạc với tôi có lẽ từ nửa năm qua và đã gởi qua máy vi tính cho tôi 2 đến 3 lần cái bản thảo và bản layout quyển truyện dài: Dĩ vãng khôn nguôi và quyển truyện ngắn: Tình yêu, cuộc đời và định mệnh để tôi dễ đọc hơn. Ngày hôm nay tôi đến đây như một sự chia sẻ về một người trẻ, một khuôn mặt mà phải nói rằng phải “Dấn thân” lắm. Đúng, phải là một con người có một cái ý chí đặc biệt mới có thể đi vào một lãnh vực, phải nói là rất là khó chứ không phải dễ. Nhưng ngày hôm nay tôi xin thưa, tôi hoàn toàn đồng ý với GS Trần Huy Bích, vì sau khi tôi đọc xong hai tác phẩm này, không phải chỉ một lần, mà nhiều lần. Bởi lẽ mỗi một lần nhận được bản mới, tôi nghĩ là nó phải có những thay đổi, mà có những thay đổi thật và chính nhưng thay đổi đó nó đã đánh giá cô Khánh Lan rất cao. Bởi vì khi làm một công việc gì cũng vậy, ngoài cái tài thiên phú ra, cái sự chăm chỉ, sự phục thiện để mà lắng nghe lời nói của một người khác là rất quan trọng và cô đã có các đặc điểm đó. Trong suốt thời gian tiếp xúc với cô qua điện thoại hoặc email, cô vẫn có được một sự kính trọng đối với tôi, mặc dầu cô chưa biết tôi là ai.

NV Trần Phong Vũ Bây gì tôi xin được nói về tác phẩm truyện ngắn trước khi nói đến tác phẩm truyện dài. Đúng ra, tôi phải đi vào từng chi tiết của mỗi câu truyện để hiểu rỏ tác phẩm ấy nói gì. Tuy nhiên, tôi chỉ hiểu rõ một điều này, khi viết truyện ngắn, cái khó nhất của viết truyện ngắn là đoạn kết. Nếu mà đoạn kết thất bại thì coi như là bỏ hết, vứt đi. Cái kết có thể là “happy ending” hay là một hình thái gì đó để mà đưa ra một cái kết. Ở đây, tôi nhận thấy cô chọn lựa rất đặc biệt cho cái kết trong những truyện ngắn của cô cũng như qua một vài đoạn khi cô nói về mình ở trong phần tâm sự hay là lời cám ơn. Có rất nhiều những dữ kiện trong cuộc đời của cô, nhất là những kiến thức của cô, những cái gì mà cô đã học được của nhà trường, những gì cô đã thực tập khi cô làm thày dậy người ta hay là thực tế lao đầu vào những công việc hiểm nguy. Thế thì cái vấn đề là cô ấy đã làm gỉ với những kiến thức ấy, tôi phải nói là nhiều những truyện ngắn trong sách, cô đã mang những suy nghĩ, những kiến thức của cô, tấm lòng của cô, cái đặc biệt của một tấm lòng yêu thương con người, say mê với công việc của mình. Thành ra tôi vẫn tin tưởng rằng, với một người như vậy khi bước vào văn chương cũng mang tấm lòng đó vào và sẽ thành công và sự thành công đó là ngay trong những tác phẩm truyện ngắn.
Như tôi đã đề cập lúc đầu là cái kết thúc rất quan trọng, thì ở điểm này cô Khánh Lan đã thành công. Tôi nhận thấy, thứ nhất là cô có cái khuynh hướng rõ ràng là cô thích có một cái “happy ending” cô muốn có một kết thúc tròn đầy. Đó là con người của cô, một con người yêu thương, một con người mà chỉ muốn mọi chuyện xảy ra tròn vẹn, không phải cho mình mà cho mọi người. Vì vậy khi cô gửi vào những nhân vật có thực trong tác phẩm truyện ngắn. Tuy vậy, trong một vài truyện, tôi đã nhìn thấy vì một lý do gì đó cô phải đưa ra một “ending” khác, nhưng hầu hết đều gọn ghẽ, rất đầy đủ, chỉnh chu như cô đã trả lời NV Việt Hải về cái bố cục của một câu truyện, một quyển sách như thế nào rất là chính xác. Với tư cách là một người đã từng dậy quốc văn, tôi thấy cái quan niệm đó, cái nhìn đó, cái mà cô đã cố gắng đi theo con đường văn chương. Đây chính là một cái chìa khóa để mở cho cô đi vào sự thành công, không phải chỉ có ngày hôm nay với 4 cuốn sách này, mà sẽ còn nữa trong tương lai như lời sự ước ao của GS Trần Huy Bích.
Thế thì, cái điểm chính ở đây là cô rất thành công như trong tác phẩm truyện ngắn, như truyện “Hạnh Phúc Trở Về”. Cô có thể kết thúc ngay lúc mà người con trai của cặp vợ chồng rất là hạnh phúc đã chết trong một hoàn cảnh tức tưởi, đồng thời nó cũng đưa ra một sự cảnh giác cho những người cha mẹ chỉ lo làm ăn mà quên đi đứa con của mình bị bệnh tự kỷ. Cái điểm này cũng nằm trong ngành học chuyên môn của cô, cô đã ứng dụng vào truyện rất là đúng. Cuối cùng, cô đã có một cái kết rất hay mà quý vị về đọc truyện này sẽ có một cảm nhận giống như tôi. Trong truyện “Nỗi Cô Đơn Trong Biển Tình” cũng thế, cô đã biết cách lợi dụng đại dịch Covid 19 để hàn gắn lại một mối tình tưởng chừng tan biến.
Nói về tác phẩm truyện dài “Dĩ Vãng Khôn Nguôi” tôi cho rằng đây là một tác phẩm được dàn dựng rất công phu về phần nội dung của cốt truyện. Tác phẩm ghi lại những cảm xúc của tác giả khi rời xa quê hương trong vội vã cũng như sự ngỡ ngàng, niềm xúc động khi đứng trước những đổi thay của đất nước. Bởi vậy, tôi đưa ra kết luận như sau: Tác giả đã dùng rất nhiều thời gian để nghiên cứu về những thắng cảnh, nhất là cô đã cung cấp hình ảnh đầy đủ về những thành phố mà cô đã đi qua khi về thăm lại quê hương Việt Nam sau 20 năm viễn xứ. Tóm lại, cô đã thành công về lãnh vực sáng tác truyện dài và truyện ngắn, chúc mừng cô Khánh Lan.

Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian Sự thành công của Khánh Lan ngày hôm nay là do sư đóng góp của quý Thày Cô và các bạn bè đã đưa đến cho Khánh Lan một buổi ra mắt sách hoàn hảo. Xin ghi lại đây lòng cảm ơn chân thành của Khánh Lan và cũng xin ghi nhớ mãi ngày vui hội ngộ hôm nay.
Khánh Lan, California, Sept. 26, 2021

Gia đình tôi: Mạnh Bổng & Khánh Lan 
Mabel, Khánh Lan, Stephen, Thiên Kim -
Nhà văn Khánh Lan ra mắt một lúc 4 tác phẩm (Bài của Ký Giả Thanh Phong)

Nhà văn Khánh Lan tươi cười chào đón quan khách tham dự.
(Thanh Phong/Viễn Đông)WESTMINSTER – Giữa thời đại của internet, nhiều người nghĩ rằng sách, báo không còn được nhiều người đọc như xưa, nhưng hôm Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2021, vừa qua nhà văn Khánh Lan đã tổ chức ra mắt một lúc bốn tác phẩm: Dĩ Vãng Khôn Nguôi, Tuyển Tập Truyện Ngắn, Tuyển Tập Truyện Trinh Thám Thám Tử Lê Minh, và Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại được đông đảo giáo chức, nhà văn, nhà thơ và thân hữu đến tham dự và nhiệt tình đón nhận các tác phẩm, chứng tỏ suy nghĩ trên chưa hẳn đã đúng.
Trong các buổi ra mắt sách của nhiều nhà văn, nhà thơ chúng tôi có dịp tham dự trước đây, ít thấy có tác giả nào ra mắt một lúc bốn tác phẩm và có được sự hiện diện của đông đảo quý vị giáo sư, nhà văn, nhà thơ, nhà báo được kính nể và yêu mến như buổi ra mắt sách của Khánh Lan.
Các giáo sư Trần Huy Bích, Lê Văn Khoa, Dương Ngọc Sum, Quyên Di, Đỗ Bằng Lăng, các nhà văn, nhà báo Nguyễn Quang, Việt Hải, Dương Hồng Anh, Vương Trùng Dương, Nguyễn Văn Liêm; Việt Cường, Lê Nguyễn Nga, Kiều My, Kiều Mỹ Duyên, Vi Khiêm, Hà Nguyên Du là những tên tuổi mà cộng đồng người Việt tại Nam California không ai không nghe biết.
Ngoài ra còn có rất đông bạn bè thân hữu của Khánh Lan trong Nhóm Vũ Phù Sa, các bạn trong lớp Piano online của Dr. Bằng Lăng, nhóm bạn từ cơ quan Orange County Children Protective Services, một số cựu sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt và Võ Khoa Thủ Đức cùng một số bạn đến từ Denver Colorado, Valencia, Sacramento, không ai đến với Khánh Lan mà không cầm trên tay bốn tác phẩm khiến tác giả phải một phen ký chữ ký mỏi tay.
Buổi ra mắt sách của nhà văn Khánh Lan được chuẩn bị, sắp xếp chu đáo trong một Studio ấm cúng ngay góc ngã tư McFadden – Brookhust, Westminster City. Ban tiếp tân ân cần niềm nở đón tiếp khách tham dự. Cô Mộng Thủy và Bích Trâm, hai MC duyên dáng đã điều hợp chương trình cách linh hoạt và khéo léo khiến buổi ra mắt bốn tác phẩm bắt đầu từ 12 giờ 30 trưa đến 4 giờ 45 chiều mới kết thúc mà ít ai ra về sớm.
Mở đầu có nghi thức chào quốc kỳ Quốc Gia Việt Nam, Hoa Kỳ và phút mặc niệm. Sau đó Mộng Thủy giới thiệu đôi nét về nhà văn Khánh Lan, “Khánh Lan tốt nghiệp văn bằng Cử Nhân Kế Toán Quản Trị tại California State University, Sacramento năm 1980 và Cao Học Tâm Lý Xã Hội tại California State University, Fullerton năm 2002. Cô hiện là Trưởng Nhóm Văn Học & Nhóm Vũ Nghệ Thuật của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, được vinh danh trong số 100 tác giả văn hóa Việt Nam trong quyển “Những khuôn Mặt Văn Hóa Việt Nam Hải ngoại” của CLB Văn Hóa Paris. Ngoài ra, cô còn cộng tác trong ban biên tập các tổ chức văn học: Tác phẩm phổ biến trên báo chí, internet, và chủ đề văn học hoặc thi ca trên tạp chí Việt Media, Chim Việt Cành Nam, Tuổi Trẻ online, CLB Văn Hóa Paris, Văn Học Mới, Saigon Time, Ninh-Hoa DOT Com, www.ledinh,ca, Nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa và Hội Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ.”
Các giáo sư, nhà văn, nhà thơ tham dự buổi ra mắt sách của nhà văn Khánh Lan.
(Thanh Phong/Viễn Đông)Sau phần giới thiệu tác giả, MC Mộng Thủy mời nhà văn Việt Hải lên đặt một số câu hỏi với tác giả Khánh Lan về vai trò của nhà văn, mô thức viết văn thế nào? Tác giả Khánh Lan đã dùng cơ hội này cảm tạ các nhà văn, nhà giáo đã nhận lời làm diễn giả cho buổi ra mắt sách hôm nay cũng như đã viết Lời Tựa giới thiệu các tác phẩm của Khánh Lan. Cô cũng không quên đặc biệt cám ơn phu quân Mạnh Bổng và hai người con Thiên Kim & Stephen đã cho Khánh Lan niềm hãnh diện để hoàn tất các tác phẩm và có lẽ không thiếu sót người nào, từ các vị cố vấn kỹ thuật đến người góp ý, các bạn bè và thân hữu tham dự mà cô không quên cám ơn.
Sau lời cảm tạ và trả lời nhà văn Việt Hải, Khánh Lan nhận được những bó hoa tươi thắm từ nhà thơ Việt Cường, phu quân Mạnh Bổng, MS Mabel Chong, chị Vy Hương, hai cháu Thiên Kim và Steven trao tặng. Ngoài tài viết văn, làm thơ, Khánh Lan còn sáng tác một số nhạc phẩm và bản “Ngày Vui Hội Ngộ” đã được nhạc sĩ Hạ Đỏ Bích Phượng phổ nhạc và MC Bích Trâm giới thiệu ban hợp ca Tiếng Thời Gian trình bày để mọi người thưởng thức.
Diễn giả đầu tiên là giáo sư Quyên Di, ông nói về tiểu sử tác giả. Giáo sư Quyên Di là vị giáo sư ngôn ngữ học và văn hóa Việt Nam. Trước năm 1975, ông là tổng thư ký tờ báo Tuổi Hoa, chủ bút tờ báo Ngàn Thông. Ông dạy tại một số trường trung học nổi tiếng tại Saigon và là Phó Giám Đốc Ban Tiêu Thủ tại Viện Đại Học Đà Lạt. Tại Hoa Kỳ, GS Quyên Di là người tiên phong trong phong trào dạy tiếng Việt cho các em tại các Trung Tâm Việt ngữ. Ông là giáo sư tại trường đại học University of California, Los Angeles (UCLA) và California State University Long Beach (CSULB), ông cũng là một nhà văn, nhà thơ và là cố vấn văn học của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian.
Kế tiếp, ca sĩ Ngọc Quỳnh ngâm hai bài thơ do nữ sĩ Dương Hồng Anh sáng tác tặng nhà văn Khánh Lan. Diễn giả thứ hai, giáo sư Trần Huy Bích, ông đậu Cử Nhân Văn Chương và Hán Học tại Viện Đại Học Saigon; Cao Học Tiến Sĩ về Giáo Dục và Chính Trị Đối Chiếu tại Hoa Kỳ. Giáo sư dạy học từ năm 1957 và cuối cùng là Phân Khoa Nhân Văn thuộc Văn Hóa Vụ trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Tại Hoa Kỳ, giáo sư Trần Huy Bích là Phó Giám Đốc phụ trách chương trình hướng dẫn và huấn nghiệm cho sinh viên ngoại quốc tại Pasadena, Quản Thủ Thư Viện trong chương trình ASIA và phụ tá quản thủ thư viện phụ trách các tài liệu giáo dục Á Châu và Trung học, cố vấn văn học Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Giáo sư Trần Huy Bích trình bày “Những ý nghĩ về Văn Học và Tuyển Tập Trinh Thám: Thám tử Lê Minh.”
Diễn giả thứ ba, nhà văn Trần Phong Vũ, trình bày về hai tác phẩm Truyện Dài, Dĩ Vãng Khôn Nguôi và Tuyển tập Truyện Ngắn: Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh. Nhà văn Trần Phong Vũ sáng lập Tủ Sách Tiếng Quê Hương và bình luận trên chương trình của Đài Phát Thanh Quốc Gia VNCH từ năm 1957, tổng thư ký nhiều tờ báo miền Nam VN trước 1975, giáo sư văn chương đệ nhị cấp tại các trường Thủ Khoa, Hưng Đạo, Nguyễn Bá Tòng, Lasan Taberd. Ông đoạt Giải Nhất của Văn Hóa Vụ Bộ Thông Tin VNCH năm 1956 với “Mùa Hợp Tấu,” một tác phẩm trường ca “Tâm Bút Niềm Đau Của Huế” đăng hàng ngày trên nhật báo Sóng Thần (1972-1973). Sau năm 1975 định cư tại Cali ông tiếp tục cầm bút chủ trương tờ Đường Sống, Diễn Đàn Giáo Dân, hợp tác trong nhiều chương trình bình luận thời sự, văn học trên các đài truyền hình. Xen kẽ vào các lời phát biểu của các diễn giả là chương trình văn nghệ đặc sắc do nhiều ca nghệ sĩ trình diễn được mọi người nồng nhiệt tán thưởng.
Nhà văn Khánh Lan ký tặng sách cho nhà văn Vương Trùng Dương.
(Thanh Phong/Viễn Đông)Ngoài ba diễn giả đầy kinh nghiệm về văn chương thơ phú vừa nêu, bốn tác phẩm của Khánh Lan đã được các nhà văn, nhà thơ, nhà báo nổi tiếng giới thiệu trong những trang đầu mỗi tác phẩm. Trong cuốn Dĩ Vãng Khôn Nguôi gồm 13 chương với những mẫu chuyện về dĩ vãng khó quên được nhà văn Nguyễn Quang (phu quân cố văn thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh), nhà văn Ngọc Cường, nhà thơ Việt Cường và nữ sĩ Dương Hồng Anh viết lời giới thiệu, nữ sĩ Dương Hồng Anh là cháu nội của cố văn thi sĩ nổi tiếng Dương Khuê, bà là em họ nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và là chị họ của khoa học gia Dương Nguyệt Ánh. Nữ sĩ Dương Hồng Anh làm thơ từ năm 13 tuổi, đến nay bà đã xuất bản nhiều tập thơ giá trị, đóng góp cho nền văn học nước nhà. Trong lời giới thiệu, nữ sĩ Dương Hồng Anh viết tặng Khánh Lan hai bài thơ “Chúc Mừng Khánh Lan” và “Tháng Chín Mùa Thu.”
Nhà văn Nguyễn Quang, sau lời giới thiệu rất mặn mà, viết, “Sự thành công của cốt truyện là sau khi đọc xong, độc giả buông quyển sách xuống nhưng vẫn còn thổn thức trong câu chuyện…”
Tuyển Tập Truyện Ngắn gồm 10 mẫu truyện về cuộc đời, hạnh phúc, sự thủy chung và định mệnh cuộc đời được giáo sư Dương Ngọc Sum, nhà văn, nhà báo Vương Trùng Dương và nữ sĩ Dương Hồng Anh viết lời giới thiệu, trong đó ký giả Vương Trùng Dương một cây viết lão luyện trong làng báo Việt hải ngoại viết cảm nghĩ của ông về tác phẩm Tuyển Tập Truyện Ngắn “Tuyển Tập Truyện Ngắn của Khánh Lan được sáng tác và hoàn thành trong mùa đại dịch Covid -19 năm 2020. Sống trong cơn dịch bệnh, chết sống khó lường, chết trong cô đơn, người thân ngậm ngùi vĩnh biệt. Thân phận con người quá mong manh, bé nhỏ trước mắt với hư vô và cát bụi! Có lẽ cảm nhận từ nỗi đau. Trăn trở của cuộc sống, Khánh Lan mang tâm cảm đó để gợi lại hình ảnh 45 năm về trước, mất nước, chia lìa, tang tóc…mới đưa đẩy con người vào vòng xoáy, biến thiên của cuộc đời!”
Tác phẩm thứ ba Tuyển Tập Truyện Trinh Thám – Thám Tử Lê Minh gồm 13 câu chuyện trinh thám với nhân vật chính: Thám tử Lê Minh. Sách được hai nhà văn Dương Viết Điền và Việt Hải viết lời giới thiệu, một đoạn trong lời giới thiệu, nhà văn Dương Viết Điền viết “Tuyển Tập Trinh Thám” của nhà văn Khánh Lan đã trở thành bất hủ trong nền văn chương Việt Nam hải ngoại hiện nay, đặc biệt về những truyện trinh thám. Điểm qua 13 truyện trinh thám trong tác phẩm này, truyện nào cũng thật hấp dẫn khiến độc giả đọc đến say mê, Càng đọc càng thấy hồi hộp đến sởn tóc gáy, nổi da gà…” Tác phẩm thứ tư: Đôi Nét Về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại, sách được giáo sư Trần Huy Bích viết lời giới thiệu rất chi tiết, trong đó có đoạn. “…Khánh Lan, Trưởng Nhóm Văn Học của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã làm việc một cách tích cực, cẩn trọng và công phu. Cuốn sách cung cấp những hiểu biết căn bản và hữu ích về mười văn hào quốc tế nổi danh cùng những tác phẩm chính yếu của họ. Tôi hân hoan giới thiệu tới những ai muốn biết rộng thêm về văn học thế giới trong vị thế của một người Việt Nam.”
Bốn tác phẩm của nhà văn Khánh Lan ra mắt sách ngày 19.9.2021.
(Thanh Phong/Viễn Đông)Viễn Đông đã được một số giáo sư, nhà văn cho biết nhận xét về tác giả Khánh Lan và bốn tác phẩm:
Ký giả Kiều Mỹ Duyên: “Cô Khánh Lan viết có cái tâm rất là cảm động, cô học về khoa học toán và cũng học về triết học nên cái nhìn của cô có sự hòa hợp giữua thực tế và triết học; cô làm văn nghệ và có trái tim nhân hậu, mong rằng cô sẽ còn viết nhiều hơn.”
Nữ sĩ Dương Hồng Anh: “Hôm nay là ngày ra sách của văn sĩ Khánh Lan, cô là một người tôi rất quý mến, lúc nào cũng vui tươi, hiền hậu. Cô ra bốn quyển sách hôm nay tôi rất mừng, tôi xin chúc mừng cô thành công hôm nay và tôi nghĩ bà con mình ở Little Saigon ai cũng biết cô Khánh Lan là người vừa tài, vừa sắc, rất là quý hóa thành ra chúng tôi đến hôm nay để chúc mừng cô thành công.”Giáo sư Quyên Di: “Cô Khánh Lan là một cây bút mới nhưng đầy năng lực. Chúng ta thấy rằng không thể tưởng tượng được, đầu tiên cô ra mắt sách mà ra mắt một lúc bốn tác phẩm. Điều đó làm tôi rất ngạc nhiên và cũng cảm thấy kính phục cô, mà cô viết bốn tác phẩm thuộc thể loại khác nhau cho thấy cô có sức sáng tác và cái đầu óc để làm công việc văn học rất là dồi dào”.
Sau tất cả các tiết mục trong chương trình đã thực hiện trọn vẹn, vào lúc 4 giờ 45 chiều, MC Mộng Thủy thay mặt tác giả và ban tổ chức cảm tạ mọi người và tuyên bố bế mạc. Mọi người ra về với bốn tác phẩm trên tay và vẫn còn nghe tiếng nhà văn Nguyễn Quang nhắn nhủ, “Chúng ta có thể chờ đón các tác phẩm tương lai của Khánh Lan, vì Khánh Lan còn quá trẻ và vấn đề xã hội thì sẽ còn có bao nhiêu chuyện ly kỳ và lý thú để cô viết tiếp.”Thanh Phong
California, Sept. 23, 2021
-
Vài Nét Về Khánh Lan và Ngày Ra Mắt Sách

Trong những tia nắng vàng nhạt của đầu mùa Thu chiếu rọi xuống vùng Little Saigon, nam California, tại NT Studio trên đường Brookhurst góc McFadden đã diễn ra buổi Ra Mắt 4 cuốn Sách đầu tay của Khánh Lan. Tôi đã tham dự nhiều RMS tại vùng Quận Cam, nhưng chiều RMS của Khánh Lan vào ngày Chủ Nhật 19 tháng 9, 2021, khá đặc biệt vì tính cách thân tình của nó, có lẽ vì hầu hết những khán giả ngồi bên dưới đều là thân hữu quen biết nhau từ trước, nên vừa mới gặp, những khuôn mặt tươi vui đã bắt tay nắm tay nhau mừng rỡ, chuyện trò rôm rả, và chụp hình mệt nghỉ. Nhiều người tâm sự có lẽ gần hai năm nay mới gặp lại nhau.

Có lẽ cũng theo truyền thống “đám cưới“, “hội họp” nên giờ khai mạc đã lui đến gần hai tiếng mới thấy khán giả đến ngồi kín các hàng ghế. Tôi đến sớm và dự định sẽ ghé qua mua một cuốn cô viết về mười tác phẩm hiện đại rồi sẽ rút lui lặng lẽ vì còn nhiều việc linh tinh chưa làm, thế mà tôi cũng không ngờ rằng tôi đã ở lại đến giờ phút chót vì thấy RMS có ý nghĩa và chương trình văn nghệ rất chọn lọc với những ca sĩ tài tử mà hát hay không thua gì ca sĩ thực thụ. Các dòng nhạc của Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Ngô Thụy Miên, và Đoàn Chuẩn-Từ Linh, đã cuốn hút khán giả về một thời xa xưa nào đó khi mình còn hạnh phúc bên những người thân yêu tại miền Nam và Sài Gòn ngày trước, qua các giọng hát truyền cảm của Minh Ngân, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Thụy Lan, Tammy Minh Tâm, Trâm Anh, Mạnh Bổng, Bùi Quỳnh Giao, Đạt Tiêu, Đào Minh Tâm và Nhóm Vũ Tiếng Thời Gian. Có nhiều ca sĩ tâm sự rằng chưa hề lên sân khấu lần nào, vậy mà cô đã hát rất thành công không ngờ, hoặc đang dọn nhà mệt quá mà mến Khánh Lan nên cố gắng lên hát, nhưng cô cũng không ngờ đã đem lại nhiều cảm xúc cho khán giả.

Hợp Ca Tiếng Thời Gian 
Ái Liên, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh 
Bích Trâm, Minh Ngân, Hồng Quyên 
Tammy Minh Tâm, Trâm Anh, Thụy Lan Hai MC Mộng Thủy và Bích Trâm đã điều khiển chương trình thật khéo léo, uyển chuyển và linh hoạt. Ba diễn giả Quyên Di, Trần Huy Bích và Trần Phong Vũ đã trình bầy được những điểm khán giả cần biết về Khánh Lan và về bốn tác phẩm đầu tay của cô, cũng như nguyên nhân động lực nào giúp cô hoàn thành được chỉ trong thời gian ngắn cả bốn tác phẩm. Phần mở đầu trong chương trình là đối thoại giữa anh Việt Hải (con chim đầu đàn của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian/NVNT & TTG) với Khánh Lan đã cho thấy sự yểm trợ của anh Việt Hải và nhóm cho Khánh Lan trong thời gian viết lách, và sự đóng góp không nhỏ của Khánh Lan cho nhóm NVNT & TTG kể cả trong lĩnh vực văn nghệ và ca vũ.

Nhóm Vũ Tiếng Thời Gian Một điều làm cho khán giả đến gần với tác giả hơn là chủ trương của Khánh Lan là viết để phục vụ nhân sinh chứ không phải phục vụ nghệ thuật, và điều này cô đã thể hiện bàng bạc và nhiều chỗ cụ thể trong bốn tác phẩm của cô bao gồm: “Vài Nét về 10 Tác Giả Âu Mỹ Cận Đại”- “Dĩ Vãng Khôn Nguôi” – “Tuyển Tập Truyện Ngắn: Tình Yêu, Cuộc Đời và Định Mệnh” – và cuốn thứ tư là “Thám Tử Lê Minh”. Trong Dĩ Vãng Khôn Nguôi là niềm hối tiếc về những dĩ vãng một thời thân yêu nay không còn nữa và chúng ta không thể trở về để sống và tìm lại dĩ vãng một lần nữa. Trong cuốn thứ ba, Khánh Lan cho rằng Tình Yêu là cái gì chúng ta có thể chọn lựa, nhưng Cuộc Đời và Định Mệnh là cái gì chúng ta không chọn được, như ngoài tầm tay, như đã định sẵn, mà chúng ta phải chấp nhận.

Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian Chương trình dự trù kết thúc lúc 4:30 giờ chiều nhưng kéo dài mãi đến gần 5 giờ rưỡi mới tan hàng sau khi ban tổ chức và khán giả thân hữu đã dành đến mười lăm phút để chụp hình lưu niệm. Mọi người ra về trong sự quyến luyến về tình bạn, tình thân hữu, về tình người sau buổi chiều RMS hiếm hoi tại Quận Cam vì tình hình dịch bệnh – khi một lần nữa mùa Thu lại về trên miền nắng ấm nam California với những cơn gió bắt đầu se se lạnh.
Phạm Gia Đại
20 Sept., 2021
MỜI VÀO XEM CUỘC PHỎNG VẤN CỦA KHÁNH LAN VỚI PHẠM KHANH, ĐÀI LITTLE SAIGON TV.
VÀ VIDEO CỦA NGÀY RA MẮT SÁCH.
Lời Cảm Tạ
Kính thưa Quý Giáo Sư, Các Văn, Thi, Ca, Nhạc Sĩ, các Nhà Báo, Ký Giả, Nhiếp Ảnh Gia, Các anh chị em, bạn bè và thân hữu,
Trước hết, Khánh Lan xin mượn “email” này để gửi lời cám ơn đến GS Trần Huy Bích, GS Quyên Di, NB kiên NV Trần Phong Vũ đã nhận lời làm diễn giả cho buổi RMS của Khánh Lan ngày 19 tháng 09, 2021. GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải, NV Nguyễn Quang, NV Ngọc Cường, NV Vương Trùng Dương, NV Dương Viết Điền đã viết lời tựa cho sách. NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, NV kiên NB Kiều Mỹ Duyên, NV Vi Khiêm, NT Việt Cường, GS cố vấn Kỹ thuật, Phạm Hồng Thái đã khuyến khích, góp ý cho 4 tác phẩm đầu tay của Khánh Lan. Khánh Lan cám ơn các nhà văn, các thi sĩ, các nhà báo Thanh Phong, Đài truyền hình Little Saigon với anh Phạm Khanh và Saigon TV với Minh Trương đã đến phỏng vấn và viết phóng sự. Các Nhiếp Ảnh Gia: Nguyễn Thiều Minh, Lê Hùng, Phú LeVan đã chụp những tấm hình lưu niệm tuyệt mỹ. Các bạn bè đã đến chung vui, ủng hộ và gởi lời chúc mừng tới Khánh Lan.
Khánh Lan đặc biệt cám ơn anh Mạnh Bổng, hai con Thiên Kim & Stephen, ba bố con đã đặt lòng tin tưởng và cho Mẹ niềm hãnh diện để hoàn tất tác phẩm đầu tay. Vy Hương, người em song sinh và người bạn tâm đắc Thanh Châu đã hỗ trợ tinh thần cho Khánh Lan trong suốt thời gian qua. Cháu Andrea Tú Anh đã giúp chụp hình, quay video và kết những đóa hoa hồng xinh đẹp cho Dì Khánh Lan. Keyboard player, Anh Thọ Lâm đã giúp làm danh sách và ghi nhận bạn bè “order” thêm tác phẩm. Thu Dung, Ánh Nhật, Hoàng Giang, Tú Anh, Vee Hương đã giúp điều hành và phân phối sách. Hạnh Nguyễn & Tuyết Nga giúp phối hợp phần ẩm thực cho buổi Ra Mắt Sách. Còn những ai nữa mà Khánh Lan không nhớ?
Sau cùng, Khánh Lan cám ơn ông bà Susan và John Tạ đã bảo trợ cho buổi RMS và các mạnh thường quân, anh Ngô Thiện Đức, Vi Anh, GS Quyên Di, NS Dương Hồng Anh, NV Kiều Mỹ Duyên, NT Yên Sơn, NV Dương Viết Điền, Hoàng Giang, Thu Dung, Vee Hương, Thành Nguyễn, v.v… đã hỗ trợ tài chánh giúp in ấn tác phẩm của Khánh Lan. Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã gởi tặng hai bài thơ chúc mừng ngày Ra Mắt Sách của Khánh Lan. Nhạc Sĩ HạĐỏBíchPhượng đã giúp Khánh Lan hòa âm bài “Ngày Vui Hội Ngộ”. Ca Nhạc Sĩ Lâm Dung đã giúp hòa âm và hát trình diễn nhạc phầm “Xa Quê Hương” của Khánh Lan. Các Ca Sĩ: Hồng Quyên, Đắc Triều, Minh Ngân, Trâm Anh, Ái Liên, Ngọc Quỳnh, Huỳnh Anh, Thụy Lan, Đào Minh Tâm, Tammy Minh Tâm, Hùng Ngọc, Thanh Sơn & Hồng Mai. Hai MC khả ái Bích Trâm & Mộng Thủy cũng như NS Duy Nhật và Vương Trang đã bảo trợ cho chương trình âm nhạc ngày Ra Mắt Sách.
Khánh Lan vô cùng cảm động khi nhận thấy sự hiện diện Dr. Đỗ Bằng lăng và các anh chị trong lớp nhạc online. Các người bạn thân quý, đã không quan ngại đường xá xa sôi từ Colorado, Sacramento, Valencia, Los Angeles: Hoàng Giang & Thu Dung, Budiawan, Mabel, Jennifer và Hamish. Các anh chị cựu sinh viên Kinh Thương Minh Đức: Chị Tố Đoan, anh Nguyễn Văn Viễn, anh Nguyễn An Ninh. Các bạn từ chương trình Child protective Services: Kim Phạm, Deanna & Trảm, Michelle Diễm Hồng, Hạnh Nguyễn, Tuyết Nga Lâm. Các bạn trong nhóm vũ Phù Sa ngày xưa và các anh chị em. Các bạn bè và thân hữu từ liên nhóm NVNT & TTG đã đến chia vui và hỗ trợ tinh thần cho Khánh Lan.
Những hỗ trợ, chúc mừng, giúp đỡ của Quý Giáo Sư, Các Văn, Thi, Ca, Nhạc Sĩ, các Nhà Báo, Ký Giả, Nhiếp Ảnh Gia, Các anh chị em, bạn bè và thân hữu cũng như sự hiện diện của quý vị là một khích lệ lớn cho Khánh Lan. Sự thành công trong ngày Ra Mắt sách của Khánh Lan cũng do những sự đóng góp một cánh tay của quý thân hữu. Nếu trong thư này có sự thiếu sót tên của các thân hữu, Khánh Lan thành thật xin lỗi.
Một lần nữa Khánh Lan thành tâm cảm tạ.
Khánh Lan
California, Sept. 24, 2021
-
Giới Thiệu Sách của Nhà Văn Khánh Lan với Princess Lifestyle
-
BUỔI PHỎNG VẤN CỦA XNV DU MIÊN VỚI KHÁNH LAN TRÊN ĐÀI VNA 57.3
-
“MAI TÔI ĐI”

Kim Vui (1960-2021) “Mai tôi đi… Chẳng có gì quan trọng,
Lẽ thường tình, như lá rụng công viên,
Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,
Chuyện bé nhỏ giữa dòng đời động loạn…”
Đó là bài thơ do Nhà thơ Thái Thúc Hoàng Minh sáng tác đầu thập niên 70, mà tôi được nghe trong thánh lễ an tang của chị Kim Vui, cố hiền thê của Ca Sĩ Ngọc Hùng. Có lẽ tôi và tất cả mọi người tham dự Thánh lễ ngảy 28 tháng 08, 2021 tại Thánh đường St. George, thuộc thành phố Ontario, California 91762 đều xúc động bởi lời lẽ trong bài thơ, hẳn nó chất chứa những ý nghĩa thâm sâu, chẳng khác chi là những lời than thở của một linh hồn vừa lìa khỏi xác, khi tuổi còn quá thanh xuân và chưa sống trọn vẹn một kiếp người như chị Kim Vui.
“Trên giường bệnh, Tử Thần về thấp thoáng,
Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,
Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,
Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt.
Khoảnh khắc cuối… Đâu còn gì tha thiết…
Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian.
Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,
Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi…
Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,
Để đi vào ranh giới của âm dương,
Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,
Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…”
Thật vậy, những câu thơ trên đã gợi lại trong ký ức chúng ta hình ảnh của những người bệnh đã và đang quần quại trong cơn đau thể xác. Ôi, chẳng có gì sợ cho bằng nằm chờ đợi bóng tử thần trước giờ hấp hối, cũng như chẳng có sự tiễn đưa nào mà không có nước mắt rơi và không để lại nhiều sầu muộn, thương tiếc cho người ở lại? Nhất là người vợ, người bạn đời tri kỷ, người mà ta đã bao năm đầu ấp tay gối, bao ngày chia ngọt sẻ bùi, người mà đã cho ta những đứa con ngoan, thông minh, đẹp đẽ.

Ngọc Hùng & Kim Vui và tám người con Năm năm trước, ngày 13 tháng 03 năm 2016, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) đã gặp chị Kim Vui trong buổi tưởng niệm Giáo Sư Lưu Trung Khảo và Nhạc Sĩ Anh Bằng. Với vẻ mặt hiền lành phúc hậu, ánh mắt và nụ cười thân thiện luôn nở trên môi, Chị Kim Vui đã cùng chúng tôi hát những bài hát do nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác, trong đó có bài: “MAI TÔI ĐI” thơ của Thi sĩ Nguyên Sa và do Nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc. Bài hát có cùng tựa đề với bài thơ của Thi sĩ Thái Thúc Hoàng Minh.
“Mai tôi đi xin đừng nhìn theo, xin đừng đợi chờ.
Đời trăm muôn góc phố, con đường dài thật dài.
Thẳng mãi có bao nhiêu, thẳng mãi có bao nhiêu
Mai tôi đi, xin đừng gọi tên, thêm nhiều muộn phiền.Dù môi kêu đắm đuối, hay mặn nồng một trời.
Cùng đành lòng xa thôi, cũng đành lòng xa thôi…”

LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN Hôm nay, Liên Nhóm NVNT & TTG đã tiễn đưa một người con hiếu thảo, một người vợ thủy chung, một người mẹ hiền thục và một người bạn thân tình sang bên kia thế giới, thế giới mà mai này tất cả chúng ta đều sẽ phải đi qua theo vòng xoáy của tạo hóa. Thế giới ấy, chắc hẳn không có tiếng khóc, nỗi đau, chiến tranh và hận thù. Hẳn không có chết chóc tang thương. Phải chăng đó là thế giới của hoàn mỹ? Một thế giới an bình? Thì tại sao loài người lại hoảng sợ khi phải đối diện với nó nhỉ?

LIÊN NHÓM NVNT & TTG Chị Kim Vui ra đi và để lại trong lòng mọi người một sự thương tiếc nhớ nhung sâu đậm. Sự ra đi của chị như thầm nhắc nhở chúng ta:
“No matter how hard life can be. We must embrace every moment of it. Because, we never know when it’s going to be the end in our life.” (Dù cuộc sống có khó khăn đến đâu. Chúng ta phải nắm lấy từng khoảnh khắc của nó. Bởi vì, chúng ta không bao giờ biết khi nào nó sẽ là dấu chấm hết trong cuộc đời mình.)
Người con gái lớn nhất của chị Kim Vui và Ca sĩ Hùng Ngọc là Sr. Theresa ThanhThao thuộc tu viện Holy Spirit Missionary Sisters, Sr. Theresa ThanhThao đã chia sẻ một bài tiễn đưa hương hồn của Mẹ Kim Vui về nơi an nghỉ cuối cùng, vô cùng tha thiết và tạo một sự xúc động mạnh cho hơn 200 người tham dự tang lễ. Khánh Lan xin trích vài phân đoạn trong bài đọc của Sr. Theresa ThanhThao.
“Mẹ ơi, thân cát bụi phải trở về cát bụi, nhưng sao lòng chúng con vô cùng tan nát…Mặc dù Mẹ đã rời xa chúng con nhưng hình ảnh của Mẹ luôn khắc sâu trong lòng chúng con …Mẹ lớn lên trong một gia đình truyền thống, thuần nông, đơn sơ, giản dị. Một quê hương mến yêu đó là giáo xứ Du Đức, Tân Hiệp, Kiên Giang, Việt nam…
Mẹ của chúng con, Maria Nancy Nguyễn Thị kim Vui sinh ngày 23/8/1960 tại cần Thơ Việt Nam. Mẹ là người con thứ tư trong gia đình 12 chị em. Khi vừa tròn 15 tuổi, Mẹ đã kết hôn cùng ba Nguyễn Văn Ngọc tại Tỉnh Kiên Giang. Năm 1985, Mẹ đã cùng ba rời xa quê hương, để tìm cuộc sống tự do. Một chuyến đi đầy mạo hiểm, gian nan. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, gia đình chúng con cũng được cập bến tại trại tị nạn Thái Lan và Philippines. Sau hai năm trong trại tị nạn năm 1987, gia đình chúng ta đã được định cư tại California, Hoa Kỳ.
Cái thuở ấy sao mà cơ cực! Cuộc sống thiếu thốn trăm bề, nhưng chính lúc đó mới đích thực là lúc tỏ rõ tấm lòng của mẹ “Suốt đời tận tụy chồng con, sớm hôm chẳng quản hao mòn tấm thân”. Tám anh em chúng con đã lớn trong vòng tay yêu thương của Mẹ. Và hoa trái đầu lòng chính là con đã được Mẹ khuyến khích dạy dỗ để sẵn sàng hiến dâng cho Thiên Chúa trong Dòng Thánh Linh Truyền Gíáo,SSpS.
Giờ đây đối với gia đình, Mẹ đã hoàn thành mọi nhiệm vụ của một người vợ, người mẹ. “Sống tận tụy mọi người yêu quý, chất thuỷ chung con cháu nhớ thương… “Để lo toàn cho một gia đình tám người con quả thật khó khăn không sao nói hết, tuy vậy, Mẹ vẫn không quản ngại tham gia những sinh hoạt cộng đồng. Mẹ đã từng là Trưởng Liên Hội các bà mẹ công giáo giáo phận Sanbernadino; là trưởng hội các bà mẹ công giáo tại cộng đoàn Nữ Vương Ontario. Ngoài những sinh hoạt của giáo xứ, Mẹ còn nhiều năm giúp vui trong nhóm hợp ca vui sống, tham gia câu lạc bộ thế giới tình nghệ sĩ. Tham gia các sinh hoạt nghệ thuật, và cũng Hân hạnh đoạt giải Á hậu Quý bà năm 2003. Quả thật “Cả đời Mẹ đã hy sinh, thuỷ chung nhân nghĩa soi đời cháu con.” Nhân gian Mẹ đã sống tròn, tấm gương vằng vặc sắt son truyền đời.”
Nhưng rồi, cái gì đến phải đến. Năm 2013, Mẹ đã có những dấu hiệu của bệnh. Căn bệnh teo não đã lấy đi tất cả sức khỏe, sắc đẹp, lấy đi giọng ca thánh thót một thời, Lấy đi những bước chân miệt mài phục vụ. Những tháng ngày trên giường bệnh Mẹ vẫn không ngừng phục vụ cộng đoàn và xã hội qua lời cầu nguyện, những hy sinh đau khổ về thân xác và tinh thần… trên gường bệnh…
Câu nói của người xưa con hoài ghi nhớ: “Sinh thành đông hải. Dưỡng dục thái sơn cao.” Mẹ đã cho chúng con một thể xác và linh hồn để hiện hữu trên cõi đời này. Những thể xác ấy lúc đầu còn bé nhỏ, những tâm hồn ấy lúc đầu còn thơ dại… Mẹ đã dành cả cuộc đời và mồ hôi nước mắt để nuôi nấng, giáo dục cho khôn lớn, trưởng thành như ngày hôm nay.

Sr. Theresa ThanhThao Trải theo năm tháng mẹ ngày càng kiệt sức để chúng con thêm khỏe mạnh. Công lao của mẹ đối với chúng con rất rộng như biển đông, cao như núi thái. Nỗi đau này đã thấu đến trời cao. Vào lúc 17h 15 phút, ngày 18/8 / 2021, Chúa đã gọi Má về trời. Vẫn biết đời vô thường là thế! Mẹ về bên Chúa, không còn gánh chịu những đau khổ của bệnh tật, Nhưng đối với cõi phàm, biệt ly là nỗi đau đứt ruột. Mẹ ơi! “Mây tán tuyết tan. Hoa tàn Nguyệt khuyết. Hôm nay đây. Toàn thể các con cùng quy tụ nơi đây, tóc xanh phủ dày tang trắng cùng than khóc mẹ. Vẫn biết rằng sống là gửi, thác là về… Dù nơi nào Mẹ về thì chúng con vẫn mãi khổ đau. Vì chúng con đã vĩnh viễn mất Mẹ…
Phải chăng, con người đến từ cõi hư vô, xong trải qua một kiếp người, rồi cũng sẽ trở về với hư vô? Phải chăng, chúng ta sinh ra từ cát bụi thì sẽ trở về cùng cát bụi? Khánh Lan xin thay mặt NVNT & TTG gởi lời chia buồn đến Ca sĩ Hùng Ngọc cùng tang quyến. Nguyện xin Thiên Chúa toàn năng đón nhận linh hồn chị Maria Nancy Kim Vui sớm về huổng phúc bên Thánh nhan Ngài trên Thiên Đàng.
Khánh lan
California August 30, 2021
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
- Bài thơ được sáng tác bằng hai thứ tiếng – tiếng Việt và tiếng Anh. Tác giả bài thơ này là Thái Thúc Hoàng Minh, con của cố đạo diễn Thái Thúc Nha, và là cậu của ca sĩ Thanh Lan. Tác giả rời California về sống tại Đà Lạt và qua đời ngày 13/2/2015.
- Bài thơ: Bản tiếng Việt của NQH – Bản dịch tiếng Anh của Roberto Wissai/NKBa
MAI TÔI ĐI
Mai tôi đi… Chẳng có gì quan trọng,
Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,
Chuyện bé nhỏ giữa dòng đời động loạn…
Trên giường bệnh, Tử Thần về thấp thoáng,
Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,
Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,
Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt.
Khoảnh khắc cuối… Đâu còn gì tha thiết…
Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian.
Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,
Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi…
Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,
Để đi vào ranh giới của âm dương,
Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,
Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…
Chỉ ước nguyện tâm hồn luôn thư thả
Với hành trang thanh nhẹ bước qua nhanh,
Quên đàng sau những níu kéo giựt dành,
Kết thúc cuộc lữ hành trên dương thế…
Mắt nhắm rồi… Xin đừng thương rơi lệ,
Đừng vòng hoa, phúng điếu hoặc phân ưu,
Đừng quay phim, chụp ảnh để dành lưu.
Gây phiền toái, nợ thêm người còn sống…
Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng,
Đến trần truồng và đi vẫn tay không.
Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng,
Nay rũ sạch… Lên bờ, thuyền đến bến…
Nếu tưởng nhớ… Xin âm thầm cầu nguyện,
Nên xem như giải thoát một kiếp người,
Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi,
Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…
Chính tác giả đã dịch bài thơ sang tiếng Anh:
TOMORROW I’M GOING!
Tomorrow I’m going… It’s no big a deal,
It happens all the time, like fallen leaves in the park
Like flowers driven by winds onto the side walk,
These are minor matters in the turbulent waters of life…
Death is hovering over my death bed,
Please spare me of comments, visitations, or prayers of peace
While my breathing is going to cease
And I’m lying, waiting to bid farewell.
These last dying moments… I wouldn’t care less…
The hot and cold months on this planet.
No matter I’m rich or full of glory,
At the end I still return to dust and ashes…
My finite existence decisively comes to an end
And enters the yin and yang borderlands
I won’t be bewildered at the frontier’s gate
Earthly realm is on this side, the other an unimaginable and unknown fate
I only wish my soul always at peace,
Traveling lightly, I quicken my pace
Leaving behind those who push and pull,
While I finish my journey on earth’s face…
My eyes are already closed…
Please don’t shed tears of sympathy
Please, no flower wreaths, no offerings, nor condolences,
No videotaping, no picture taking for memories.
That would only bring stresses and strains to the surviving…
A quick look behind and life is just like a dream
I arrived naked and I’m leaving with empty hands
Many ups and downs, happy and sad moments piled high,
Now they’re all cleared up…I’m stepping on board, the boat has arrived…
If you miss me… Please silently pray,
And consider a life has been liberated,
Be calm, relaxed, and gay,
I go first, you follow behind, we’ll meet again…
Thái Thúc Hoàng Minh.
MAI TÔI ĐI
Thơ Nguyên Sa
Nhạc: Anh Bằng
Mai tôi đi, chắc trời giăng mưa lũ
Mưa thì mưa, chắc tôi không bước vội
Nhưng chẳng thế nào, thì cũng sẽ xa nhau, mình cũng sẽ xa nhau
Mai tôi đi, chắc rằng Paris khóc,
nhưng lệ rơi sẽ khô theo tháng ngày
Cho dù cách nào, thì cũng sẽ xa nhau, mình cũng sẽ xa nhau
Mai tôi đi xin đừng nhìn theo, xin đừng đợi chờ
Đời trăm muôn góc phố, con đường dài thật dài
Thẳng mãi có bao nhiêu, thẳng mãi có bao nhiêu
Mai tôi đi, xin đừng gọi tên, thêm nhiều muộn phiền
Dù môi kêu đắm đuối, hay mặn nồng một trời
Cùng đành lòng xa thôi, cũng đành lòng xa thôi
Mai tôi đi, chắc dòng sông Seine nhớ
nhưng dù sao, nhớ nhung rồi sẽ mờ
Muôn vạn u sầu, rồi cũng sẽ xa nhau, mình cũng sẽ xa nhau -
ĐÓA HOA NỞ MUỘN CỦA NV KIỀU MY DƯỚI LĂNG KÍNH CỦA KHÁNH LAN

NHÀ VĂN KIỀU MY & KHÁNH LAN Dưới góc nhìn của Khánh Lan thì Xã hội bao gồm nhiều cá thể mà trong đó có nhiều gia đình khác nhau hợp lại thành một tổng thể hay một xã hội. Một gia đình hoàn mỹ luôn luôn có sự hiện diện của tình yêu đích thực, hạnh phúc gia đình, lòng chung thủy, sự hy sinh và niềm tin tôn giáo.
Đó là những yếu tố quan trọng và căn bản của một mái ấm gia đình hạnh phúc vẹn toàn mà Khánh Lan ghi nhận được trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của nhà văn Kiều My. Tác phẩm của bà thuộc thể loại tiểu thuyết tình cảm xã hội về tình trường lồng vào những bối cảnh và cốt truyện nhằm đề cao giá trị của người phụ nữ trên thế giới nói chung và những người phụ nữ Á Đông nói riêng.
Ở đây Khánh Lan xin trình bày về hai khía cạnh:
- Tình yêu, hôn nhân trong lãnh vực tâm lý.
- Tình yêu, hôn nhân và niềm tin tôn giáo.
I. Tình yêu, hôn nhân trong lãnh vực tâm lý:
Câu hỏi được đặt ra ở đây là tình yêu, hôn nhân và lãnh vực tâm lý có liên quan như thế nào? Trước hết, Khánh Lan xin được định nghĩa tình yêu, hôn nhân và tâm lý là gì?
Tâm lý có nghĩa là những cảm xúc của con người mà cảm xúc là trạng thái tâm lý giao động tình cảm của từng cá nhân. Còn tình yêu là một loạt cảm xúc hay sự rung động phát xuất từ trái tim.
Chính vì sự liên hệ giữa cảm xúc và tình yêu nên có những lúc chúng ta cảm thấy vui khi có tình yêu trọn vẹn và có lắm lúc chúng ta cảm thấy đau buồn khi cuộc tình chẳng may gãy gánh giữa đường như trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của nhà văn Kiều My.
Trong truyện, nhà văn Kiều My nói về một hạnh phúc ngắn ngủi, một tình yêu chưa kịp chín mùi đã vội tan và để lại trong lòng người thiếu phụ Thúy An một sự trống vắng, cô quạnh giữa cái tuổi mà nhà văn Khái Hưng gọi là “Nửa Chừng Xuân”.
Trong đời sống thực tại tình yêu là nền tảng của hôn nhân. Hôn nhân mà không có tình yêu, sự hy sinh và lòng chung thủy thì khó có thể tạo dựng một gia đình êm ấm, hạnh phúc. Vậy khi chúng ta đang có một một cuộc hôn nhân hạnh phúc trong tay thì chúng ta phải làm gì để giữ các hạnh phúc ấy?
Khánh Lan xin được dùng câu danh ngôn của nữ văn sĩ Ann Landers để diễn tả một phương hướng hay một lối nhìn trong khía cạnh tình yêu. Bà ghi nhận:
“Tình yêu là tình bạn đã sâu đậm.
Đó là sự thấu hiểu, tin tưởng, chia sẻ và tha thứ cho nhau.
Đó là lòng trung thành qua những thời điểm tốt và sấu.
Đó là sự bằng lòng cho những gì không hoàn hảo và chấp nhận cho những yếu điểm của con người”
Câu nói trên như có ngụ ý nhắc nhở chúng ta hạnh phúc là gì? Phải chăng là sự tận hưởng những gì đang ở trong tầm tay, là chấp nhận những sự không hoàn mỹ trong tình yêu, để được chìm đắm trong niềm hạnh phúc hiện hữu, đích thực. Đó là lúc bạn có một tình yêu hoàn mỹ.
Ngược lại, khi cái hạnh phúc nong manh lặng lẽ ra đi như Thúy An trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của NV Kiều My đã dẫn đến một mối tình dang dở và để lại trong ký ức của nhân vật chính trong truyện những cảm xúc nuối tiếc, day dứt và sầu bi.
Khánh Lan lại xin dùng lời nói của nhà văn Jackie Viramontez khi bà nhận định điều gì chúng ta cần phải biết khi mất tình yêu.
“Các quan hệ trong quá khứ là một mất mát, nên chúng ta phải coi chúng như là một mất mát.
Hãy cứ đau buồn, sầu khổ. Hãy đi đến tận cùng của nỗi đau để chúng đừng mãi mãi ngự trị trong tâm hồn và cuộc đời của chúng ta.”
Trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của nhà văn Kiều My, bà đã thành công vượt bực trong lời văn khi diễn tả nỗi tiếc thương người bạn đời tri kỷ Trúc phong. Sự cô đơn của Thúy An khi mất người yêu, một người yêu dấu đã từng chia sẻ những ước mơ.
Thật vậy, khi bạn mất đi người bạn đời với nhiều năm gắn bó, bạn cảm thấy cuộc sống trở thành vô nghĩa, bạn nhận thấy lòng mình tan rã, suy nghĩ của bạn bị tê liệt. Bạn thấy choáng ngộp, vô vọng, bất lực trước vòng xóay của tạo hóa. Bạn cảm thấy cuộc sống là vô thường, bạn tự cách ly với mọi người và thu mình vào một góc nhỏ của riêng mình.
Trong đời sống tâm lý, bạn phải tự giúp mình thoát ra khỏi góc nhỏ ấy, bởi khi bạn trải qua một nỗi đau của sự mất mát là bạn bắt đầu một cuộc hành trình cá nhân để hiểu biết thế nào là ý nghĩa của sự mất mát và ảnh hưởng của nó trong đời sống của bạn.
Sự đau buồn sẽ đưa chúng ta qua những thử thách trên nhiều lãnh vực khác nhau gồm: Cảm xúc, tinh thần, thể chất và xã hội. Đối phó với sự mất mát là một việc làm rất khó khăn và mỏi mệt. Nhưng đó là những phản ứng bình thường và xảy ra cho hầu hết mọi người.
Điều quan trọng là làm thế nào để bạn có thể bắt đầu một quá trình cảm nhận, hiểu và chấp nhận sự mất mát của bạn, bởi sự mất mát, đau buồn, cô đơn, cách ly sẽ đưa bạn vào con đường trầm cảm, con đường mà bạn không bao giờ muốn bước vào.
Sự hỗ trợ của gia đình, lãnh đạo tôn giáo, cố vấn tâm lý, cộng đồng và bạn bè sẽ giúp bạn thoát ra khỏi những cảm xúc ấy. Họ là nơi an toàn để bạn có thể chia sẻ, tâm sự mà không bị tổn thương hay phản bội và đó là nơi bạn nhận được sự giúp đỡ tận tình.
II. Trong lãnh vực tình yêu, hôn nhân và niềm tin tôn giáo:
Khánh Lan đã đọc được một đoạn văn rất hay trong Vườn Hoa Phật Giáo, đoạn văn ấy ghi nhận rằng:
“Để thực sự yêu thương và tôn trọng nhau thì trước hết các bạn nên giữ vững niềm tin tôn giáo của riêng mình. Chính sự tôn trọng tuyệt đối tín ngưỡng của mỗi cá nhân trong gia đình là biểu hiện cụ thể của việc thương yêu, hiểu biết, thông cảm và tôn trọng nhau thật sự.”
Điều này chứng tỏ: Giáo Hội Phật giáo cũng như Giáo Hội Công Giáo đều cho rằng chúng ta cần phải thận trọng và chính chắn một khi chúng ta quyết định đi đến hôn nhân. Tôn trọng tự do tín ngưỡng cá nhân là điều quan trọng, được công nhận bởi cả hai tôn giáo: Phật giáo và Công giáo. Cả hai tôn giáo không hề ngăn cấm tín đồ kết hôn với người khác đạo nhưng cũng chẳng khuyến khích hay khuyên tín đồ dùng hôn nhân để lôi kéo hay dụ dẫn người phối ngẫu phải theo tín ngưỡng của mình.
- Nếu sự kết hôn mà bắt buộc người bạn đời phải theo tôn giáo của mình thì bạn trở nên quá ích kỷ, xúc phạm và không tôn trọng người bạn đời tương lai của mình, bởi niềm tin tôn giáo của một người là điều thiêng liêng, sâu kín và bất khả xâm phạm.
- Khi sự kết hôn không cùng tôn giáo, cuộc sống vợ chồng cũng ít nhiều gặp khó khăn. Trong thời gian đầu chung sống, nhờ tình yêu và khát vọng của tuổi trẻ, chúng ta có thể khỏa lấp những khác biệt về niềm tin trong tôn giáo. Nhưng khi về già, những đam mê luyến ái lắng xuống, lúc ấy, sức sống tâm linh sẽ trỗi dậy, những mâu thuẫn, bất hoà, xung đột xưa kia vốn âm ỉ trong ký ức, nay bắt đầu xuất phát. Chính điều này có thể dẫn đến đổ vỡ bởi những xung đột, trắc trở trong tình yêu. Ngoại trừ trường hợp, những cập hôn nhân thực sự yêu thương, hiểu biết, thông cảm và tôn trọng lẫn nhau thì mới có thể vượt qua.
- Khi tình yêu của bạn được hai bên gia đình đồng ý và chấp thuận cho phép người bạn đời của bạn theo tôn giáo của bạn, thì đó là giải đáp tuyệt vời nhất. Nhưng nếu khi bố mẹ không cho phép thì chắc chắn bạn cũng gặp không ít những khó khăn.
- Trong trường hợp gia đình cho phép hai bạn đến với nhau như “đạo ai người nấy giữ”. Giải pháp này khá toàn vẹn vì bạn vừa làm tròn chữ hiếu mà vẫn giữ được chữ tình. Khi đi theo lựa chọn này, bạn nên có những trao đổi và thỏa thuận với người bạn đời về những vấn đề như niềm tin, vai trò và trách nhiệm của vợ chồng trong việc giáo dục con cái, sau này cho con theo đạo của bố hay mẹ… để tránh những mâu thuẫn về sau.
Nhà văn Vi Khiêm cũng đã nêu lên những tư tưởng của ông khi nhận định về tình yêu, hôn nhân và niềm tin tôn giáo trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của nhà văn Kiều My như sau:
Trong tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn của tác giả Kiều My, hai nhận vật chính là Thúy An và Trúc Phong có tín ngưỡng là Thiên Chúa Giáo. Niềm tin vào Thiên Chúa của Thúy An và Trúc Phong đã tỏ rõ trong suốt con đường “Tình Yêu” từ thuở hai người gặp nhau, yêu nhau, lấy nhau và cho đến ngày cuối đời như một định mệnh.
Duyệt qua tác phẩm “Đóa Hoa Nở Muộn”, nhà văn Vi Khiêm nhận định: Hình như định mệnh đã đưa đẩy Trúc Phong gặp Thúy An. Khi ấy, Trúc Phong đã ở tuổi lục tuần và Thúy An cũng đã đi qua 40 mùa xuân. Cuộc đời của Thúy An chẳng phải lỡ làng mà có lẽ nàng được sinh ra để đợi chờ. Đợi chờ một mối tình nồng nàn đích thực mà Trúc Phong đã dành cho nàng.
Nhà văn Vi Khiêm viết, tình yêu của đôi uyên ương Thúy An và Trúc Phong ví như trong câu ca dao dưới đây:
“Cây đa lá rụng đầu đình,
Bao nhiêu lá rụng thương mình bấy nhiêu”.
Đó là một mối tình đẹp khởi đầu cho một cuộc hôn nhân trọn vẹn, một gia đình hạnh phúc. Thúy An đã sanh cho Trúc Phong một cặp song sang trai gái vẹn toàn, một tác phẩm tình yêu tuyệt vời mà Trúc Phong và Thúy An tin tưởng rằng Thiên Chúa đã ban cho gia đình của họ, do niềm tin sắc son vào Thiên Chúa. Hai đứa con là sợi dây thắt chặt thêm sự keo sơn gắn bó trong tình vợ chồng, nghĩa phu thê.
Tạo hóa xoay vần, hạnh phúc tan biến, âu lo ập đến, cơn bệnh suy tim quái ác kia khiến sức khỏe của Trúc Phong yếu dần. Những ngày chăm sóc chồng đã không làm thuyên giảm tình yêu mà Thúy An dành cho Trúc Phong. Phải chăng niềm tin tôn giáo đả giúp Thúy An vượt lên trên sự vị kỷ, để nàng sẵn sàng hy sinh cho người bạn đời của mình, bất chấp những gian khổ, nhọc nhằn. Mặc cho định mệnh đẩy đưa cuộc đời mình cho đến ngày Trúc Phong vĩnh viễn xa nàng.
Nhà văn Vi Khiêm kết luận: “Đóa Hoa Nở Muộn”, một chuyện tình tràn đầy hạnh phúc chen lẫn thương đau của một phận người. Tác phẩm “Đóa Hoa Nở Muộn”, đề cao niềm tin tôn giáo, tình yêu bất diệt, sự hy sinh cao quý và lòng chung thủy trong đạo nghĩa vợ chồng.
Khánh Lan xin được dùng câu danh ngôn của Nhà văn Mỹ Richard Puz trong tác phẩm “The Carolinian” đã nói:
“Cái chết để lại nỗi đau không ai có thể chữa lành, tình yêu để lại ký ức không ai có thể lấy đi”
Khánh Lan
California August 2021
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Vườn hoa Phật Giáo.
- Internet / Wikipedia.
- Bài nhận định của NV Vi Khiêm, Nguyễn Văn Liêm về tác phẩm Đóa Hoa Nở Muộn.
MỜI VÀO XEM VIDEO VỀ BÀI VIẾT CỦA KHÁNH LAN.
-
Xa Quê Hương – Khánh Lan
-
ĐÓN BẠN PHƯƠNG XA

Bạn là người ta cảm thấy thoải mái khi ở cùng, người mà ta sẵn lòng trung thành, người mà đem lại cho ta lời chúc phúc
và người mà ta cảm thấy biết ơn vì có họ trong đời.
A friend is one with whom you are comfortable, to whom you are loyal, through whom you are blessed, and for whom you are grateful.
William Arthur Ward
Tháng 06 ngày 30, 2021, một buổi họp mặt do Liên Nhóm NVNT & TTG tổ chức tại nhà hàng Diamond Seafood Palace 3 để đón tiếp NV, NT, CNS Yên Sơn từ Texas về thăm bạn bè tại Little Saigon, California. Bữa tiệc diễn ra trong bầu không khí thân mật và vui vẻ. Dù hôm ấy là ngày trong tuần nhưng Khánh Lan nhận thấy có khoảng 30 khách tham dự, trong đó có sự hiện diện của GS Dương Ngọc Sum và một số nhà văn, nhà thơ gồm NV Vương Trùng Dương, NV Phạm Tín An Ninh, NV Việt Hải, NV Vi Khiêm, NV Quỳnh Giao, NT Hồng Vũ Lan Nhi, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, NAG Nguyễn Thiều Minh và NAG Paul LeVan.

NT Yên Sơn và Phu Nhân, Ngọc Bích Sau phần chào đón NV, NT, CNS Yên Sơn và phu nhân, Khánh Lan cũng điểm qua những thông báo liên quan đến sinh hoạt của hội như: ZOOM Meeting mỗi thứ Bảy đầu tháng do NAG Nguyễn Thiều Minh sáng lập và điều hành. Khánh Lan nhắc đến sự vắng mặt của NV Nguyễn Quang trong bữa họp mặt vì ông đang được điều trị tại bệnh viện để cắt bỏ khối ung nhọt. Sức khỏe tốt của NV Nguyển Quang hiện rất tốt, ông sẽ trở về nhà trong một hai hôm. Sau đó là một phút mặc niệm để tưởng nhớ đến anh Lý Tòng Tôn, anh vừa qua đời tại thành phố Lancaster, California hai hôm nay. Anh Lý Tòng Tôn là một trong năm vị đã sáng lập ra Nhóm Nhân Ảnh Tân Văn từ buổi ban đầu (March 20, 2015). Năm 2017, nhóm Nhân Ảnh Tân Văn đã đổi tên thành Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian.
Phần âm nhạc do trưởng nhóm nhạc, Lâm Dung và các anh chị thành viên đảm trách cùng MC Mộng Thủy. Bữa tiệc kéo dài hơn 4 tiếng và được thu hình bởi hai NAG Nguyễn Thiều Minh và NAG Paul Levan, đánh dấu một ngày vui cùng bạn bè.
Khánh Lan
California July 1, 2021
-
NGÀY VUI HỘI NGỘ
Khánh Lan
Bạn Bè Tôi những nghệ sĩ yêu đời
Gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá.Sau hơn hai năm vắng bóng vì đại dịch COVID 19, Liên Nhóm NVNT & TTG hân hoan trở lại với những sinh hoạt về văn học, nghệ thuật và âm nhạc. Buổi họp mặt đã diễn ra trong khung cảnh thân mật và ấm cúng tại nhà hàng Diamond Seafood Palace III thuộc thành phố Westminster, California với sự hiện diện của rất nhiều nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng Hải ngoại.
Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của Giáo Sư (GS) Dương Ngọc Sum, GS Quyên Di, GS Lê Tinh Thông, v.v… Các nhà thơ (NT): Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, NT Việt Cường Lưu Tấn Lâm, NT Hồng Vũ Lan Nhi, NT Nga Nguyễn. Các Nhà văn (NV): NV Việt Hải, NV Kiều Mỹ Duyên, NV Nguyễn Quang, NV Thùy Vân, NV Triều Lam, NV Kiều My, NV Lê Thị Việt Nam. Ngoài ra Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của Bác Sĩ Nguyễn Trọng Việt, Khoa Học Gia Nguyễn Viết Kim và Tiến Sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh. Ký Giả Trần Nguyên Thao. Hai Nhiếp ảnh gia Phú LeVan và Hannah Hà, Nhạc Sĩ Võ Tá Hân và Chủ tịch công ty dược thảo Princess Lifestyle, ông John Tạ và phu nhân, bà Susan Tạ.
Khánh Lan cũng ghi nhận có sự hiện diện của cựu Đại tá Lê Thương, Chỉ huy trưởng Pháo binh, SĐ 2 Bộ Binh; cựu Đại tá Lê Bá Khiếu, Tỉnh Trưởng Quảng Ngãi; cựu Trung tá Hà Văn Thức, Chỉ huy trưởng quân nhu bốn vùng chiến thuật; cựu Thiếu tá Nguyễn Văn Nhường, TĐ 34 Pháo binh.
Buổi họp mặt với ba mục đích: NVNT & TTG hội ngộ, tưởng niệm Nữ Sĩ MDHT và mừng ngày lễ Father’s Day. Sau nghi thức chào Quốc Kỳ tháp tùng với NV Nguyễn Quang là NS Võ Tá Hân và Phu Nhân đại diện cho hội lên thắp nhan tưởng niệm Nữ Sĩ MDHT.


NV Nguyễn Quang, NS Võ Tá Hân và phu Nhân Mở đầu chương trình với NVNT & TTG hành khúc do bạn hợp cả TTG trình bày. Ca khúc Bạn Bè Tôi, thơ của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, Nhạc Sĩ Lâm Dung phổ Nhạc.

Ban Hợp Ca Tiếng Thời Gian Bốn diễn giả được mời cho buổi tiệc gồm GS Quyên Di, ông nói về tiểu sử và sự nghiệp văn chương của Nữ Sĩ MDHT cũng như ý nghĩa của ngày lễ Father’s Day. NS Võ Tá Hân là cháu của Nữ Sĩ MĐHT, ông trình bày về những bài thơ phố Nhạc của bà. Kế tiếp là NV Kiều My Duyên, bà kể về tình bạn giữa bà và Nữ Sĩ MDHT trong thời gian cả hai còn là phóng viên chiến trường. Cuối cùng là NV Nguyễn Quang, phu quân của Nữ Sĩ MDHT, ông tâm tình về những kỷ niệm đẹp của ông và nữ sĩ.
Ca khúc KIẾP NÀO CÓ YÊU NHAU do Thụy Lan trình bày đã làm rung động con tim 150 quan khách hiện diện trong phòng và đưa hồn người về kỷ niệm của năm xưa khi bài thơ Kiếp Nào Có Yêu Nhau ra đời.
Lệ nhòa trên gối trắng
Anh đâu anh đâu rồi
Rượu yêu nồng cây đắng
Sao cạn mình em thôi.
NS phạm Duy đã ghi nhận trên trang nhật ký của ông về cuộc gặp gỡ giữa ông và Nữ Sĩ MDHT năm 1944 tại Huế và được bà mời đến dinh thự Hương Trang ở Nam Giao chơi. Chính 4 câu thơ này đã là nguồn cảm hứng cho NS Phạm Duy phổ nhạc bài thơ bất hủ, Kiếp Nào Có Yêu Nhau năm 1950.

Thụy Lan với Kiếp Nào Có Yêu Nhau Vào đúng giờ Ngọ, một bữa cơm với những món ăn ngon được dọn ra, tiếng nói cười vang lên như tiếng pháo, tràn ngập cả căn phòng, lấn át tiếng nhạc và giọng ca của các thân hữu giúp vui trên sân khấu. Trên tường, Slideshow về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nữ Sĩ MDHT do NS Võ Tá Hân biên soạn vẫn chạy đều từ 10:00 sáng. Những video và CD nhạc của Nữ Sĩ MDHT được gởi tặng đến tay từng khách mời. Kết thúc bữa ăn trưa, Khánh Lan thay mặt Liên Nhóm NVNT & TTG mời 5 vị trưởng thượng lên sân khấu, đại diện cắt bánh chúc mừng những người cha cao niên & Trung niên.

Sau cùng, là phần văn nghệ do MC Mộng Thủy và Thụy Lan đảm trách với những bài hát chọn lọc để tưởng nhớ đến công sanh thành và nuôi dưỡng của người cha. Bài hát Ngày Hạnh Phúc, một sáng tác của NS Lam Phương do GS Quyên Di và NV Kiều My trình bày đã nói lên được thiên chức cao quý cũng như sự tự hào của người cha khi đứa con đầu lòng cất tiếng khóc chào đời. Theo sau là những bài thơ phổ nhạc của Nữ Sĩ MDHT qua tiếng đàn Tây Ban Cầm của NS Võ Tá Hân, CNS Lâm Dung và CS Ái Liên: Mơ Thấy Mẹ Về, Viết Bài Thơ Này, Đợi Em Về, v.v…
Chương trình bế mạc với những giọng ca trẻ như Ngọc Mai, Minh Châu, Mộng Thủy đã làm cho chương trình trở nên vui, nhộn và linh động. Thật là một ngày vui, ghi dấu một kỷ niệm đẹp trong lòng mọi người.
Khánh Lan
California, June 2021
-
Hải Âu Viễn Xứ

Cầm mảnh bằng tú tài toàn phần trong tay, Khoa đi thẳng đến Trung Tâm Tuyển Mộ Hải Quân điền đơn xin gia nhập khóa 21 Sĩ Quan Hải Quân, mặc cho sự ngăn cản của bố mẹ. Từ thuở ấu thơ Khoa đã yêu biển xanh cát trắng và khi khôn lớn anh yêu nếp sống hải hồ, phóng khoáng và mênh mông của đại dương bao la. Chính vì vậy mà Khoa luôn ước mơ trở thành một chiến sĩ trong binh chủng Hải Quân, bộ quân phục màu trắng như có một mãnh lực thu hút tâm trí anh. Ngày Khoa được Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ) nhận đơn gia nhập khóa 21 Sĩ Quan Hải Quân, mẹ anh đa khóc rất nhiều, nhưng bố anh với nét mặt nghiêm nghị khuyên anh.
- Con đã nghĩ kỹ rồi đấy chứ? Đây là một quyết định quan trọng cho cuộc đời và tương lai của con.
- Vâng, thưa bố. Con đã nghĩ rất kỹ.
- Thế thì được.
Khóa 21 có 3 đại đội đi thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung gồm các đại đội 18C, 19D và 20E thuộc tiểu đoàn Trương Tấn Bửu, liên đoàn B, trại Châu Văn Tiếp, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Trại Châu Văn Tiếp và Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung thì chẳng có gì xa lạ đối với Khoa vì gia đình anh đã sống trong trại gia binh dành cho gia đình sĩ quan hiện đang phục vụ tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung hơn 8 năm. Trại lính và nhà Khoa chỉ cách nhau một con đường nên thường ngày anh đã nhìn thấy những sinh hoạt của các chú lính. Chẳng những thế, thỉnh thoảng Khoa vẫn thường là cậu bé đưa thư của mấy chú lính bên kia hàng rào kẽm gai cho chị Thu An. Do đó ước mơ trở thành người lính đã in sâu trong tâm khảm của anh từ khi bố anh thuyển chuyển về vùng ngoại ô thành phố Sài Gòn và nhận chức trưởng trại ở đây.
Khoa thuộc đại đội 19D nên Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ) gửi đi học tại quân trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau 5 tháng khổ cực nơi quân trường, trải qua những giai đoạn huấn luyện về căn bản quân sự và kiến thức cá nhân chiến đấu đã đào tạo Khoa thành trung đội trưởng bộ binh gồm tấn công, phòng thủ, độn thổ, phục kích, dạ hành, vượt sông và nhị thức Bộ Binh Thiết Giáp. Những bài học về địa hình gồm vòng cao độ, các loại đồi yên ngựa, đồi trọc, đường thông thủy, xác định điểm đứng bằng phương giác từ, lệnh hành quân và tham mưu cấp tiểu đoàn, v.v…
Ngày ra trường đã đến, chiếc xe GMC Hải Quân thả Khoa và các đồng đội của anh xuống trại Bạch Đằng II, Khoa vẫn mang quân phục tác chiến Bộ Binh và Alfa Thủ Đức, đầu đội mũ sắt đen với huy hiệu “Cư An Tư Nguy”, Khoa theo bạn bè đi mua cặp lon. Ngày mãn Khóa, bạn nào có vợ hoặc tình nhân thì được phép đến gắn lon cho tân khóa sinh, Khoa chưa có bạn gái nên chị Thu An đại diện gia đình lên gắn lon cho anh.
Tháng 8 năm 1970, khóa của Khoa tập họp tại Câu Lạc Bộ Nổi để chọn đơn vị, đơn vị Khoa bị chỉ định theo nhu cầu ra Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang (TTHLHQ/NT) nhưng phòng Tổng Quản Trị gọi Khoa về học khóa Communications Officer do Hải Quân Mỹ huấn luyện. Mãn khóa truyền tin, Khoa thuyên chuyển về Duyên Đoàn 28 (ZD 28) tại Phan Thiết. khóa là sĩ quan tuần tiễu. Từ ngoài biển, qua ống nhòm nhìn xa, Khoa có thể dễ nhận ra các đỉnh núi, các mũi hay hòn đảo, những khu rừng trùng điệp, các loại đồi yên ngựa, đồi trọc, các khe suối cao. Những năm tháng chiến đấu trên các sông ngòi nguy hiểm đã biến Khoa trở nên một chiến sĩ dày dạn với phong sương và không còn vẻ ngơ ngáo của một anh tân khóa sinh như những ngày đầu tạm trú ở Bạch Đằng II.
Ở Duyên Đoàn 28 (ZD 28) một thời gian, lúc ấy Khoa mang lon trung úy, anh xin xuống Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư, HQ 4. (Chiến hạm HQ 4 mới về từ đảo Guam, vừa oanh liệt bắn chìm chiếc tàu mang số 645 của Bắc Việt giữa vùng biển Phú Quốc và đảo Thổ Châu). Khoa xin thuyên chuyển qua chiến hạm HQ 4 vì HQ 4 có một đội ngũ nhân viên cơ hữu rất hùng hậu và gương mẫu; các sĩ quan trưởng phiên đều thâm niên và kinh nghiệm; các hạ sĩ quan giỏi về chuyên nghiệp; nhân viên rất kỷ luật và thuần thục. Chiến hạm HQ 4 là chiến hạm lớn, một trong hai khu trục hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, hải quy và truyền thống hải quân được áp dụng triệt để và nghiêm chỉnh trên chiến hạm HQ 4. Trục tuần tiễu của chiến hạm tuần dương thường xa đất liền và Khoa có dịp đặt chân lên nhiều hòn đảo xa xôi của Việt Nam như Cù Lao Thu, Cù Lao Ré, quần đảo Côn Sơn, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
Cuối tháng tư 1975, Khoa trở về Sài Gòn trong hoang mang lo sợ anh liên lạc với gia đình và nhắn chị Thu An mang bố mẹ ra bến tàu để cùng đi, nhưng Bố Khoa là sĩ quan trưởng trại nên ông không thể bỏ trại và binh lính của mình. Mẹ Khoa và chị Thư An quyết định ở lại chờ cùng đi với bố Khoa. Khoa biết mình không thể ở lại Việt Nam nên anh quyết định ra đi với đồng đội.
Tháng Tư, 1975 khi thủ đô Sài-Gòn và đất nước Việt-Nam-Cộng-Hòa hoàn toàn toàn sụp đổ, các chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa rời bến, khởi hành từ Sài Gòn lúc 7:00 giờ tối ngày 29 tháng 4 năm 75 đến và tập trung tại Côn Sơn chiều ngày 30 tháng Tư. Khi các thủy thủ đoàn và các chiến hạm thi hành lệnh tập trung tại Côn Sơn thì việc đi di tản hay trở lại Sài Gòn chưa thành một vấn đề nan giải. Nhưng từ lúc Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố buông súng thì tình hình trở nên sôi động vì mọi người nhận ra rằng đây là chuyến đi sau cùng của hạm đội và sẽ không có ngày trở lại.
Chiều ngày 30 tháng 4, ngay sau khi đến Côn Sơn, một buổi hội đã được triệu tập trên HQ 3 gồm các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp có mặt tại điểm tập trung và có quyết định:
- Về mặt cá nhân: Những cá nhân không muốn rời Việt Nam và muốn trở lại Sài Gòn sẽ được cung cấp phương tiện về lại Sài Gòn. Một hỏa vận hạm được chọn đến từng tàu bốc người muốn trở về và được chuyển vận trở về Vũng Tàu.
- Về mặt chiến hạm gồm thủy thủ đoàn sẽ không di tản, mà ở lại Việt Nam.
Sau khi xem xét tình hình chính trị và tình trạng hạm đội, mọi người đồng ý liên lạc với Hoa Kỳ và nhà giúp đỡ. Sáng sớm ngày 1 tháng 5, ông Armitage đại diện Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đến HQ 3, Hoa Kỳ đồng ý tiếp nhận hạm đội Việt Nam và đề nghị hạm đội di chuyển đến Căn cứ Hải quân Hoa Kỳ tại đảo Guam đem theo tất cả những ai muốn di tản cùng hạm đội khởi hành đi Subic Bay.
Từ Côn Sơn đến Guam xa gần 2 ngàn 500 hải lý sẽ gặp một số trở ngại về tình trạng kỹ thuật và chở quá đông dân chúng di tản, (ước lượng khoảng 30 ngàn người) sẽ gặp nhiều khó khăn về thực phẩm. Do đó Bộ tham mưu đề nghị đưa hạm đội đến Subic Bay xa chỉ khoảng trên 900 hải lý. Mặc dù ông Armitage nhấn mạnh là phải đi Guam, nhưng Phó Đô đốc quyết định đi Phi Luật Tân.
Ngày giờ khởi hành di tản là sáng ngày 1 tháng 5 chấm dứt những hoang mang của mọi người trên chiến hạm. Trưa ngày 1 tháng 5, 1975, hạm đội khởi hành đi Subic Bay, Phi Luật Tân sau khi nhận tiếp vận đầy đủ dầu, nước và thực phẩm trước khi rời Sài Gòn. Đây là chuyến hải hành cuối cùng của Hải Quân VNCH mang theo được hơn 30,000 người Việt di tản. Hôm ấy, nhờ thời tiết tốt, sóng yên, biển lặng nên chuyến di tản thuận buồm xuôi gió. Hải quân Hoa Kỳ nhận lời trợ giúp phần thực phẩm và y tế trong trường hợp thật cần thiết với dự định sẽ đến Phi Luật Tân vào chiều ngày 7 tháng 5, 1975.Sau vài ngày hải hành, khi sắp gần đến Phi Luật Tân thì nhận được tin là chính phủ Phi Luật Tân không chấp thuận cho hạm đội VNCH vào vịnh Subic và ra lịnh người tỵ nạn Việt Nam phải rời khỏi Phi Luật Tân. Các Hạm đội Hải Quân Việt-Nam-Cộng-Hòa cũng không được phép cập bến vì còn treo cờ vàng 3 sọc đỏ. Bộ tham mưu Hải Quân họp và đưa ra giải pháp là hạm đội đi Guam trong đó Hoa Kỳ đưa 30 ngàn đồng bào đến Guam bằng các tàu dân sự. Nhưng Bộ tham mưu đề nghị là Hạm đội của Hải quân VNCH nên trao trả chiến hạm cho Hải quân Hoa Kỳ vì như thế các chiến hạm Hoa Kỳ sẽ được vào căn cứ Hải quân của mình tại Subic Bay với điều kiện:
- Tất cả đạn dược phải được ném xuống biển.
- Cờ VNCH phải được thay bằng cờ Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ phải tổ chức làm lễ bàn giao các chiến hạm của Hải Quân VNCH lại cho Hải Quân Hoa Kỳ. Mỗi chiến hạm sẽ tiếp nhận một toán sĩ quan liên lạc Hoa Kỳ và thực hiện lễ hạ quốc kỳ VNCH và trương quốc kỳ Hoa Kỳ. Lễ hạ cờ VNCH được cử hành cùng một lúc trên tất cả chiến hạm vào đúng 12 giờ trưa ngày 7 tháng 5 năm 1975. Buổi lễ hạ cờ lịch sử trong không khí trang nghiêm và đầy xúc động, xóa bỏ danh hiệu và danh số Việt Nam. Chiều ngày 7 tháng 5, hạm đội VNCH vào thả neo trong vịnh Subic Bay. Chuyến di tản an toàn và bình yên, 30 ngàn người di tản được các viên chức Hoa Kỳ hướng dẫn sang các thương thuyền để chuyển sang đảo Guam.
Sau 10 ngày ở đảo Guam, Khoa và một số bạn trong cùng đơn vị được chuyển đến trại tị nạn Ford Chafee, tiểu bang Kansas chờ ngày phỏng vấn để được bảo trợ đi định cư tại Hoa Kỳ. Một tháng sau, Khoa được một nhà thờ tin lành ở tiểu bang Washington DC bảo trợ và giới thiệu đi làm cho một du thuyền của Âu Châu, Regal Princess. Có lẽ đây là việc làm thích hợp nhất với Khoa trong lúc này vì anh không có kinh nghiệm gì khác ngoài việc “Làm lính thủy “. Vả lại, làm việc trên du thuyền Khoa có thể để dành được một khoản tiền khá lớn cho những dự định trong tương lai.
Công việc đầu tiên của Khoa trên du thuyền là rửa chén, dọn bàn và đổ rác. Những đống chén, đĩa, nồi, chảo thì cao như núi và rửa cả ngày lẫn đêm vẫn không hết. Những thùng rác khổng lồ nặng và to gấp mấy chục lần Khoa nên anh phải dùng rất nhiều sức để có thể di chuyển nó. Những hôm trời mưa to gió lớn thì việc di chuyển những thùng rác là một cực hình vì cái thùng sắt khổng lồ này cứ trượt lên trượt xuống trên sàn tàu, đưa đẩy theo luồng gió và sóng biển đánh khá mạnh vào mạn tàu. Có những lúc Khoa cũng phải bật cười khi một vài người khách trên du thuyền cho anh xem những đoạn video clip của họ. Trong video clip, Khoa đang mặc poncho màu trắng, phủ kín thân thể anh từ đầu đến chân và anh thì đang cố gắng đẩy một thùng rác khổng lồ. Tối hôm ấy, trời mưa mặng hạt, biển động nên sóng lớn và gió thổi khá mạnh khiến áo poncho của anh tung bay trong gió, còn anh và cái thùng rác thì cứ chạy lên chạy xuống trên sàn tàu trơn trượt, chập chờn như một bóng ma. Xem xong video clip, Khoa vừa buồn cười vừa cảm thấy tủi thân.
Trên du thuyền lúc nào cũng có việc để làm và làm luôn tay, cả ngày Khoa cứ loanh quanh với công việc của mình, từ sửa soạn đến dọn dẹp cho bốn bữa sáng, trưa, chiều, tối là hết ngày. Có những lúc Khoa mệt đờ người và buồn ngủ khủng khiếp, nên phấn lớn khi hết giờ làm việc anh vùi đầu vào giấc ngủ và không còn thì giờ để nhớ nhà hay suy nghĩ vẩn vơ. Đã nhiều lần, Khoa bỏ cả bữa ăn để ngủ bù, chính vì vậy mà anh đã xụt mất gần 5 ký trong hai tháng đầu, nhưng sau đó anh quen dần với công việc, giờ giấc và tự luyện tập cho thân thể của mình thay đổi để thích hợp với thời khóa biểu làm việc trên du thuyền…
Sau 24 tháng làm việc trên du thuyền Regal Princess, Khoa để dành được một số vốn, anh xin nghỉ việc và quyết định dọn về tiểu bang California. Tại Orange County, Khoa nộp đơn xin học tại đại học California State University, Long Beach đồng thời anh liên lạc được với hai người bạn cùng đơn vị và rủ nhau mướn một căn hộ (apartment) trong chung cư gần trường. Khoa cùng hai người bạn chung tiền mua một chiếc xe hơi hiệu Pinto cũ để tiện việc đi lại. Ngoài việc xin học bổng của tiểu bang (Basic Grant) Khoa còn xin làm việc trong trường (Work Study) nên cuộc sống của Khoa trở nên dễ dàng và thoải mái hơn. Sau bốn năm, Khoa ra trường với bằng kỹ sư cơ khí (Mechanical Engineer) và được nhận vào làm việc cho hãng máy bay Boeing ở thành phố Irvine, tiểu bang California. Từ khi đi làm, Khoa miệt mài với công việc và cố dành dụm tiền để giúp gia đình còn ở lại Việt Nam nên quên cả nghĩ đến bản thân, Khoa lại vốn có tính hơi nhát gái nên anh chẳng quen ai, mặc dù anh đã gần 40. Ngoài giờ làm việc, Khoa gặp bạn bè, đi coi hát, đọc sách và chơi tennis vào cuối tuần…
Thủy Tiên là em họ của Toại và là bạn cùng phòng (Roommate) với Khoa từ thời cả hai còn học tại đại học California State University, Long Beach. Thủy Tiên còn độc thân, nàng bắt đầu sự nghiệp hơi trễ vì nàng vượt biển qua Mỹ năm 1982. Thủy Tiên kém Khoa 5 tuổi nhưng nàng nhìn rất trẻ so với số tuổi 34 của nàng. Thủy Tiên không đẹp nhưng xinh xắn, duyên dáng, da trắng, má lún đồng tiền và thân thiện. Thỉnh thoảng Khoa vẫn đi theo Toại và gặp Thủy Tiên trong những bữa tiệc Giáng Sinh hay cuối năm tại nhà nàng, nhưng chưa bao giờ anh dám ngỏ lời làm quen với Thủy Tiên; mặc dù anh rất mến nàng. Một hôm Toại hỏi đùa với Khoa.
- Này Khoa, mày định ở vậy suốt đời thật đấy à?
- Không… nhưng có ai muốn lấy tao đâu?
- Có, để tao làm mai cho mày… được không?
- Được, nhưng mà là ai mới được chứ?
- Còn ai vào đây nữa? Con bé em họ tao, Thủy Tiên ấy.
- Nhưng biết Thủy Tiên có muốn lấy tao không?
- Tao nghĩ, muốn chết đi được là cái chắc kẻo không chỉ vài năm nữa thì…
- Thì sao?
- Thì ế… chổng mông lên mà gào chứ còn sao nữa. Gớm, sao mà mày ngây thơ thế?
Chỉ có thế mà một ngày đẹp trời của mùa xuân năm sau, Thủy Tiên nhận lời cầu hôn của Khoa và đám cưới được tổ chức trên một du thuyền tại cảng Long Beach vài tháng sau đó. Đám cưới xong, Khoa đưa vợ đi hưởng hai tuần trăng mật ở Âu Châu và để tạo một ngạc nhiên bất ngờ cho Thủy Tiên, Khoa đặt mua vé trên du thuyền Regal Princess, chiếc du thuyền mà anh đã từng làm việc khi mới qua Mỹ. Nhưng lần này, Khoa sẽ cùng Thủy Tiên vui hưởng những giây phút êm đềm hạnh phúc và thưởng ngoạn những phong cảnh hữu tình của những thành phố cổ kính Âu Châu, nhất là ghé thăm thủ đô ánh sáng Paris, thành phố của tình yêu…
… Hai năm sau, Thủy Tiên và Khoa hân hoan chào đón đứa con trai đầu lòng, Nam Phong sau một thời gian dài chờ đợi và lo lắng vì Thủy Tiên đã lớn tuổi. Nam Phong sanh ra thật hoàn mỹ, khỏe mạnh và giống Khoa như hai giọt nước, nhưng lại thừa hưởng hai cái lúm đồng tiền và đôi mắt to đen của Thủy Tiên. Sau khi sanh Nam Phong, Thủy Tiên quyết định nghỉ làm việc một vài năm để ở nhà và có nhiều thời gian chăm sóc con. Thấm thoát đã 5 năm trôi qua, Nam Phong vào lớp mẫu giáo và Thủy Tiên cũng chuẩn bị đi làm trở lại.
Đầu năm 1987, một số cơ quan du lịch do người Mỹ làm chủ đã tổ chức những chuyến du lịch về Việt Nam nhưng Khoa cũng chưa dám nghĩ đến những chuyến du lịch mạo hiểm này. Vinh là một trong hai người bạn cùng phòng với Khoa trước kia quyết định về thăm gia đình vì anh ấy còn kẹt vợ và con ở Sài Gòn trước năm 1975. Khoa nhờ Vinh chuyển một ít tiền kèm theo một lá thơ về cho bố mẹ và chị Thu An. Từ khi biết tin về gia đình, Khoa bắt đầu làm thủ tục giấy tờ để bảo lãnh bố mẹ và chị Thu An qua Mỹ đoàn tụ cùng vợ chồng anh. Bố của Khoa cũng đã trở về sống với gia đình sau 12 năm tù đày và chị Thu An vẫn chưa lấy chồng.
Như thường lệ, mỗi năm, Khoa và Thủy Tiên thường xin nghỉ phép vài tuần để đưa Nam Phong đi nghỉ mát trong mấy tháng hè. Lần này, Khoa mua vé xe lửa đi xuyên tiểu bang chơi, ngắm cảnh và tiện thể thăm vài người bạn còn đang sống ở tiểu bang Washington DC. Nhưng Khoa đâu biết rằng đó là chuyến tàu định mệnh đã cướp đi một nửa đời anh. Chuyến xe lửa bị trật đường rầy và lật xuống vực thẳm mang theo hơn 100 hành khách trong đó có Thủy Tiên. Khoa bị văng ra khỏi toa xe và bị thương nặng trong lúc Nam Phong may mắn còn kẹt lại trong toa. Khoa bị thương nhưng anh vẫn còn tỉnh đủ để có thể quan sát và nhận thức chuyện gì đang xảy ra. Nằm bất động trên lề đường, Khoa thấy Nam Phong đang cố đẩy khung cửa sổ của toa xe như đang tìm cách để thoát ra ngoài với nét hoảng sợ và tái nhợt hiện rõ trên mặt. Khoa muốn đứng dậy để giúp con nhưng toàn thân anh cứng dơ và tay chân anh không thể cử động được. Khoa cố gọi tên con nhưng cổ họng anh như nghẹn lại, cố gắng lắm anh mới thều thào được hai tiếng “Nam Phong” nhưng giọng anh lại bị át đi bởi tiếng la hét chen lẫn tiếng khóc của hành khách và những nạn nhân kém may mắn như gia đình anh… Tiếng ồn càng lúc càng nhỏ dần… nhỏ dần rồi tắt lịm…
Khi Khoa tỉnh dậy, anh biết mình đang nằm trong bệnh viện, tay và ngang lưng băng bột cứng đơ. Bắc sĩ cho Khoa biết anh bị gãy tay và xương sườn phía bên trái, còn Nam Phong đang được tạm nuôi dưỡng trong trung tâm giữ trẻ. Thủy Tiên đã không qua khỏi, nàng trút hơi thở cuối cùng trên trực thăng và trên đường đến bệnh viện.
Sau đám tang của Thủy Tiên, Nam Phong được ông bà ngoại đem về nuôi dưỡng trong thời gian Khoa chưa lành hẳn. Sau sáu tháng điều trị Khoa đã hoàn toàn bình phục và đi làm trở lại, tuy nhiên Nam Phong vẫn được ông bà ngoại chăm sóc ban ngày nhưng Khoa đến đón con về nhà mỗi tối. Mất mẹ khi Nam Phong còn quá bé nên Khoa muốn dành hết tình thương cho con, anh giữ vai trò vừa là cha vừa làm mẹ nên không còn thời gian để nghĩ đến bản thân. Càng lớn, Nam Phong càng trở nên yếu đuối về mặt tinh thần, dễ bị hốt hoảng, hay xúc động, sợ bị bỏ rơi, luôn bám sát theo người lớn và nhất là không muốn ở một mình trong phòng hay ngồi trong xe hơi đóng kín cửa. Nam Phong thường xuyên bị ám ảnh bởi những giấc mơ kinh dị nên Khoa quyết định đưa con đi gặp một cố vấn tâm lý chuyên môn cho trẻ em và nhờ bà giúp. Bác sĩ cố vấn tâm lý cho biết là Nam Phong có triệu chứng Chứng Rối Loạn Do Căng Thẳng Sau Chấn Thương (Post-Tramatic Stress Disorder), một hội chứng của những nạn nhân từng chứng kiến những chuyện bi thương hay những việc chẳng an lành trong quá khứ. Biết rõ về bịnh trạng của Nam Phong đã giúp Khoa hiểu và có thể hỗ trợ tinh thần cho con một cách hữu hiệu hơn. Thương con, Khoa đã gạt bỏ mọi đam mê vật chất, hy sinh cả những tình cảm riêng tư của mình để chú tâm vào việc chăm sóc và nuôi dưỡng Nam Phong. Phần Nam Phong, mỗi khi biết Khoa có bạn gái thì Nam Phong lại tỏ vẻ buồn bã, giận hờn và đôi khi còn nổi nóng với Khoa, nên Khoa thầm nhủ: Đã hy sinh thì hy sinh cho trọn, Khoa quyết định “Độc thân tại chỗ” và giữ trọn vẹn ý tưởng “Gà trống nuôi con”…
…15 năm sau, khi Nam Phong 18 tuổi và tốt nghiệp trung học thì Khoa đã ngoài 60. Nam Phong nộp đơn và được nhận vào trường đại học Johns Hopkins, một đại học tư chuyên về lãnh vực nghiên cứu ở Baltimore, Maryland. Có lẽ đây là lúc mà Nam Phong cảm nhận ra sự ích kỷ của mình và sự hy sinh cao cả của Khoa trong bao năm qua. Như thường lệ, hai cha con Khoa hay đi ăn, đi nghe hòa nhạc vào tối thứ sáu, đi coi phim vào cuối tuần, v.v… Một hôm, đang ăn bữa tối với Khoa, Nam Phong buông đũa nhìn bố. Khoa thấy lạ, anh cũng ngừng ăn và hỏi con.
- Nam Phong, con có chuyện cần bàn với bố à?
- Bố ạ, có lẽ đã đến lúc bố cần tìm cho mình một “Lady”.
Khoa không trả lời con, anh nhìn con mỉm cười. Thấy Khoa ngồi im lặng, Nam Phong nói.
- Thật đấy, một tuần nữa là con đi Maryland rồi.
- Thì có sao đâu.
- Từ nay bố sẽ ở nhà có một mình thôi đấy, con đi học xa, ít nhất là 4 năm.
- Nam Phong sợ bố cô đơn à?
Nam Phong ngồi im không trả lời Khoa. Khoa cũng ngồi trong yên lặng, đã từ lâu anh không nghĩ đến hạnh phúc của riêng mình, bỗng hôm nay khi nghe Nam Phong hỏi, Khoa giật mình. Một nỗi buồn da diết kéo đến trong tâm tư đánh thức cái cảm giác cô đơn, lẻ bóng từ bấy lâu nay đã ngủ yên khiến anh rùng mình. Phải, 15 năm trôi qua như một giấc mơ, Khoa vì quá bận rộn với công việc tại sở làm và lo chu toàn trách nhiệm làm cha ở nhà, anh đã không có dư thời gian để đối diện với cuộc sống cô quạnh, đơn độc, trống vắng và thiếu hình bóng của người phụ nữ trong tim.
…Căn nhà trở nên trống vắng từ ngày Nam Phong rời nhà, bây giờ Khoa lại có quá nhiều thời gian rảnh rỗi mà không biết làm gì cho hết. Đi ra đi vào cũng chỉ có một mình, coi TV, nghe nhạc mãi cũng chán, Khoa sách xe chạy lòng vòng quanh phố rồi ghé tiệm café Starbuck ngồi ngắm ông đi qua bà đi lại cho đỡ buồn. Ngồi không chẳng có ai quen để tán gẫu, Khoa đảo mắt nhìn quanh và dừng lại nơi cuối phòng. Trong một góc tối, người đàn bà trẻ đang ngồi nhìn ra ngoài song cửa kính, ly café trước mặt còn đầy nguyên, mái tóc dài ngang vai, rũ xuống che gần nửa khuôn mặt. Thỉnh thoảng Khoa thấy nàng đưa khăn lên lau những giọt nước mắt đang lăn dài trên khuôn mặt xinh đẹp thoáng nét buồn. Tò mò, Khoa quan sát nàng kỹ hơn, mắt anh như bị thu hút bởi hình dáng của người đàn bà trẻ ấy, nàng trông hao hao giống Tố Đoan em gái của Huy, bạn học của anh thời còn là sinh viên ở trường đại học Khoa Học tại Sài Gòn.
Do dự cả nửa tiếng Khoa đánh bạo tiến đến gần phía bàn của người đàn bà trẻ rồi dừng lại trước mặt nàng. Người đàn bà trẻ vẫn ngồi yên, mắt vẫn không rời khoảng không gian tối đen như mực bên ngoài khung cửa kính và hình như nàng cũng chẳng hề quan tâm đến sự hiện diện của Khoa.
- Xin lỗi… trông cô quen quá, có phải tên cô là Tố Đoan em gái Trần Quang Huy không?
Người đàn bà trẻ quay lại, lau vội giọt nước mắt còn đọng trên khóe mắt.
- Vâng, Tố Đoan đây, anh là bạn anh Huy?
- Anh Khoa đây, Đoan nhớ không?
Tố Đoan đứng bật dậy, giọng reo vui.
- Anh Khoa, Pham Nam Khoa?
- Đúng. Anh Khoa “Cồ” đây. (Khoa có biệt hiệu Khoa “Cồ” vì anh to con)
- Bao năm không gặp lại anh nên Đoan không nhận ra.
- Đoan nhìn vẫn vậy, chi bớt xí xọng thì phải.
Gặp lại Tố Đoan, Khoa mừng lắm, anh tự kéo ghế ngồi xuống đối diện với nàng. Hình ảnh cô bé có mái tóc đuôi gà, nghịch ngợm, lén lỉnh, vòi vĩnh, thích làm nũng và làm dáng hiện ra trong ký ức Khoa. Ngày ấy, mỗi lần đến học thi với Huy, Khoa không thể nào quên được nụ cười tươi tắn nở trên khuôn mặt trái soan của cô bé. Có những lúc trái tim Khoa như bị rung động bởi vẻ đẹp ngây thơ trong trắng của Tố Đoan, nhưng anh giữ kín tình yêu đơn phương ấy vì “Tuổi nàng chỉ mới 13“.
Lần cuối Khoa gặp lại Tố Đoan, cách đây ít nhất hơn 10 năm, khi nàng cùng chồng đi dự buổi hòa nhạc của ca đoàn Ngàn Khơi, tổ chức tại Saigon Performing Arts Center, thành phố Fountain Valley, California. Hôm ấy Khoa đi nghe nhạc cùng với vợ chồng Huy, anh không nhận ra Tố Đoan vì nàng không còn là cô bé tuổi 13 mà trước mặt anh, một Tố Đoan vô cùng xinh đẹp, quý phái và thanh nhã. Mái tóc dài ngang vai, khuôn mặt thanh tú, ánh mắt đa tình và nụ cười như thu hút người đối diện khiến Khoa lại một lần nữa giấu kín mối tình đơn phương…
…Thấy Tố Đoan ngồi một mình trong quán café, Khoa hỏi.
- Phương đâu mà Đoan lại ngồi ở đây một mình thế này?
Tố Đoan không trả lời, nàng đưa mắt nhìn ra cửa sổ như để che dấu giọt nước mắt đang muốn tuôn trào trong khóe mắt thoáng nét buồn. Một lúc sau, Tố Đoan quay lại, nụ cười như muốn khóc nở trên môi.
- Đoan và anh Phương ly dị một năm nay rồi anh ạ.
- Anh xin lỗi Đoan, Huy không nói gì nên anh không biết.
- Anh Huy không hề biết là Đoan và anh Phương xa nhau. Em không muốn anh Huy buồn vì anh ấy rất quý Phương.
Cả hai im lặng một lúc thật lâu, Khoa trở nên lúng túng, vụng về, anh không biết phải làm gì, nói gì để xoa dịu vết thương trong tim Tố Đoan, một lúc sau, anh nói trong ngập ngừng.
- Đoan ạ, em đừng buồn nữa, chuyện gì rồi cũng sẽ qua đi. Phải mạnh mẽ lên thì mới có thể vượt qua những khổ đau và vết thương trong lòng mới lành lại được.
Tố Đoan vẫn ngồi yên, nét hồn nhiên yêu đời của ngày xưa đã biến mất để nhường chỗ cho vẻ u sầu bi thương trên khuôn mặt mệt mỏi. Khoa ngồi yên lặng nhìn Tố Đoan, anh cảm thấy xót xa cho thân phận của những người con gái mang kiếp”Hồng nhan“.
- Trời đã khá khuya, Đoan có muốn anh đưa em về không?
- Cám ơn anh, Đoan về một mình được.
- Đoan cho anh xin số điện thoại để tiện việc liên lạc được chứ?
- Vâng.
Trao đổi số điện thoại xong. Khoa cùng Tố Đoan đi ra xe, anh đợi cho xe Tố Đoan đi khuất sau rặng thông nơi cuối đường rồi lặng lẽ bước vào xe. Ngồi trong xe, Khoa không nổ máy xe ngay, đầu anh cứ luẩn quẩn hình bóng của Tố Đoan…
Sau buổi tối hôm ấy, Khoa thường xuyên gặp và trở nên gần gũi với Tố Đoan hơn, nhưng chưa bao giờ nàng kể cho anh nghe về sự đổ vỡ giữa nàng và Phương. Phần Khoa, anh cũng chẳng thắc mắc duyên cớ vì sao họ xa nhau, mà anh chỉ nhận thấy Tố Đoan rất dễ bị xúc động khi nàng nhắc đến tên Phương. Đã một năm trôi qua nhưng Khoa vẫn e dè và chưa dám vượt qúa ranh giới của tình bạn. Khoa cảm thấy như giữa anh và Tố Đoan có một khoảng cách vô hình ngăn cản bước tiến của hai con tim cô độc. Điều mà Khoa biết rõ là càng lúc anh càng bị thu hút bởi vẻ u sầu, buồn bã và lạnh lùng của Tố Đoan. Ở Tố Đoan như toát ra một vẻ quyến rũ lạ kỳ mà anh không thể nào giải thích được.
Mỗi tuần Khoa đều đón Tố Đoan đi dạo phố, đi ăn hoặc đi ngắm cảnh, những buổi gặp nhau như thế Khoa đều kín đáo quan sát Tố Đoan, anh nhận thấy Tố Đoan như một người với hai bản tính hoàn toàn trái ngược nhau, có những lúc nàng yêu đời, duyên dáng và cười nói líu lo như con chim họa mi nhưng đôi khi nàng trở nên trầm ngâm, dè đặt và xa vắng như một kẻ xa lạ. Rõ ràng nhất là những buổi tối cùng anh đi dạo mát trên biển, là những lúc Tố Đoan trở nên dụt dè như một con sên thu mình trong vỏ ốc và hình như nàng không màng nhận biết đến sự hiện diện của anh đang đi bên cạnh. Có lẽ đây là giây phút mà Tố Đoan nhớ lại những kỷ niệm êm ái giữa nàng và Phương, chỉ nghĩ đến điều ấy đã làm tim Khoa thắt lại, anh lặng lẽ bước bên Tố Đoan và cảm thấy thương cho mối tình đơn phương của mình. Đã bao lần Khoa tự hỏi lòng mình, phải chăng anh chỉ là bóng mát khi trời đổ nắng, là mái trú an toàn trong cơn bão ái tình để Tố Đoan nương tựa trong những khoảng khắc cô đơn? Và phải chăng Khoa chỉ là cái phao ngoài đại dương cho Tố Đoan bám víu trong trận cuồng phong? Nhưng điều này cũng không mạnh đủ và làm cho Khoa dũ áo ra đi, có lẽ anh đã thực sự yêu Tố Đoan với một tình yêu thanh cao, một tâm hồn trong sạch. Những suy nghĩ ấy khiến Khoa mỉm cười vu vơ và tự hỏi. Đã ngoài 60 mà sao anh vẫn còn khờ khạo đến thế nhỉ?
Phần Tố Đoan, nàng biết Khoa yêu mình tha thiết nhưng nàng không thể không nhận ra con tim mình đã chẳng cùng nhịp đập với Khoa. Có nhiều lúc Tố Đoan cảm thấy hối hận vì hình như mình đang dùng tình cảm chân thành của Khoa để lấp đầy khoảng trống và nỗi cô đơn trong tâm hồn, nhưng Tố Đoan không hiểu tại sao nàng không thể dừng lại hoặc từ chối lời mời của Khoa. Tại sao Đoan không thể chấp nhận được tình yêu của Khoa, chẳng lẽ nàng vẫn còn yêu Phương? Hay chỉ vì Phương là người đầu tiên và duy nhất đi qua cuộc đời nàng? Hay vì sự phản bội của Phương đã giết chết niềm tin nơi Đoan? Với Khoa, Tố Đoan coi anh như một người bạn tri kỷ mà nàng có thể chia sẻ mọi cảm xúc, tâm tư mà không sợ hiểm nguy hay đau khổ, anh là tia sáng của những ngày u ám, là cơn mưa trên cánh đồng khô cạn và là niềm vui, sự vỗ về an ủi cho Tố Đoan trong cơn ác mộng “Nửa chừng xuân”…
Khánh Lan
California, December 2020
Tài liệu:
- Hải Quân VNCH Di Tản Sau 30 Tháng Tư 1975, Phó đề đốc Đinh Mạnh Hùng.
- Phạm Viết Khiết, Đại Đội 19D, Tiểu Đoàn Trương Tấn Bửu, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (năm 1970)
- http://www.nytimes.com/…/thieu-is-reported-arriving-in-taip…
- https://dongsongcu.wordpress.com/…/khi-sa-co-moi-biet-ai-l…
