• Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    KHI CUỘC CHIẾN CHẤM DỨT

    Khánh Lan

    Bất kể cuộc chiến nào khi chấm dứt cũng để lại nhiều đau thương, nghiệt ngã cho những người còn sống sót, dù là ngoài xã hội hay trong thế giới văn chương. Sau cuộc chiến năm 1975, tại Việt Nam đã có biết bao quân nhân cán chính, giáo chức và các nhà văn hóa lao vào cảnh tù đầy không hẹn ngày trở về. Những trại tù trá hình “cải tạo” được mọc lên ở miền Bắc trước năm 1954 cũng như tại miền Nam sau năm 1975 đã chôn vùi thân xác của những đứa con trung thành của tổ quốc và những nhân tài của nền văn hóa nước nhà.

    Trong bài viết về “Khi Cuộc Chiến Chấm Dứt” người viết xin gởi đến quý độc giả một nhân tài lỗi lạc trong lĩnh vực văn học, một nhà thơ tiền chiến với những vần thơ cô đọng nhiều uẩn khúc của cuộc đời, một Phùng Quán với rất nhiều nhọc nhằn, đau thương và cay đắng xẩy ra cho ông trong quá khứ. Nếu, chúng ta đem Phùng Quán ra để so sánh với Nguyễn Chí Thiện thì chúng ta cũng không thể cho rằng ai là người yêu nước hơn ai? mặc dù cả hai đều là nhà thơ và là nạn nhân hiện hữu trong buổi giao thời ấy, nhưng trong tâm tư của mỗi người đều mang nặng một lý tưởng và một suy nghĩ khác nhau. Trong bài viết này, người viết chỉ xin bàn về nhà thơ Phùng Quán.

    Thi sĩ Phùng Quán là một nhà thơ được nhiều Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam về Văn học nghệ thuật nhất trong khoảng thời gian ngắn. Năm 1955, tác phẩm đầu tay của thi sĩ Phùng Quán, Tiểu thuyết Vượt Côn Đảo, được Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam về Văn học nghệ thuật năm 2007. Tập thơ Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1955), được Giải thưởng nhà nước về Văn học nghệ thuật, năm 2007. Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội (1987), được Giải A văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988, và nhận được Giải thưởng Văn học Thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1990. Cùng năm 1990 tác phẩm này được đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn dựng thành phim, Giải thưởng Bộ Quốc phòng năm 2000 và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007. 

    PHÙNG QUÁN (1932–1995)

    “Có những lúc ngã lòng

    Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.”

    Đó là hai câu thơ bất hủ đã nói lên ngàn lời tâm sự của người nghệ sĩ tài ba Phùng Quán, một tài năng độc đáo trên văn đàn từ giữa thế kỷ XX, nhưng định mệnh trớ trêu đã đẩy ông qua nhiều gian nan và thử thách trong cuộc sống. Tên tuổi của Phùng Quán trở nên nổi tiếng rất sớm nhưng cũng xuống dốc khá nhanh “Đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian”. Phải chăng cái nhân cách quá ngay thẳng đã đưa cuộc đời của ông vào một số phận bi tráng như thế? Khiến ông sa vào từ thất vọng này đi đến tuyệt vọng kia? Nhưng cái gì đã giúp ông vượt qua chông gai mà số mạng bắt ông gánh chịu. Có phải “Có những lúc ngã lòng. Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”? hay như một nhà thơ người Mỹ gốc Nga, Roman Jakobson, đã nói “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh”.

    Năm 1957, theo soạn giả Tân Linh: Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm với hai bài thơ Lời mẹ dặn và Chống tham ô lãng phí, hai thi phẩm đã đem rất nhiều tai hoạn lớn cho Phùng Quán (25 tuổi) sau tác phẩm Vượt Côn Đảo. Bài thơ Lời mẹ dặn khiến ông bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, bị đuổi ra khỏi quân đội. Phùng Quán rơi vào cảnh “tứ cố vô thân” bởi cha ông đã chết trong tù khi ông mới biết bò, mẹ ông thì sống bên kia giới tuyến (Huế), bạn bè và người thân xa lánh vì sợ liên lụy. Buồn và chán nản, có lúc Phùng Quán có ý định sẽ vào Quảng Bình sinh sống, nhưng cũng có những lúc qúa thất vọng, ông bảo: “Cá sông Nhật Lệ nhiều vô kể, thế nào cũng đủ sống, mà nếu chán quá, không muốn sống nữa thì… thôi”.  Và cũng đã có nhiều lần ông nghĩ đến cái chết. Sau đây là bài thơ Lời mẹ dặn (1957).

    … Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

    Đi trọn đời trên con đường chân thật.

    Yêu ai cứ bảo là yêu

    Ghét ai cứ bảo là ghét

    Dù ai ngon ngọt nuông chiều

    Cũng không nói yêu thành ghét

    Dù ai cầm dao dọa giết

    Cũng không nói ghét thành yêụ

    Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời

    Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

    Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

    Bút giấy tôi ai cướp giật đi

    Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

    (Lời mẹ dặn)

    Mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động thực tế ở nhiều nơi. Phùng Quán đã phải đánh đổi gần như cả cuộc đời mình với 15 năm lao động cải tạo và 32 năm treo bút bởi hai bài thơ đầu tiên trong văn học trỉ trích cách mạng, chống tệ quan liêu lãng phí.

    Ta đã đi qua
    Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt:

    Tôi đã gặp
    Những bà mẹ già quấn giẻ rách
    Da đen như củi cháy giữa rừng
    Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng
    Bởi đồn giặc trồng ngô tỉa lúa…

    ….Tôi đã gặp
    Chị em công nhân đổ thùng
    Yếm rách chân trần
    Quần xắn quá gối
    Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối
    Vác những thùng phân …

    …Trung ương Đảng ơi!
    Lũ chuột mặt người chưa hết
    Đảng lập đội quân trừ diệt
    – Có tôi!
    đi trong hàng ngũ tiền phong…

    Năm 1988 ông được khôi phục lại chức vị hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Tuy vậy, sau khi được hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhận lại vào thời kỳ đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản. Hơn 32 năm treo bút, ông phải mượn tên người khác viết “văn chui” và xuất bản một số tác phẩm dưới bút danh khác. Hơn 40 cuốn truyện tranh và khoảng 10 tác phẩm văn xuôi được in trong đó có 3 tập bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Tuổi thơ dữ dội”. Sống trong cảnh nghèo đói, ông đã câu trộm cá ở Hồ Tây để kiếm sống (theo nhà thơ Ngô Minh) và mua chịu ở quan rượu của bà Hai Hanh, làng Nghi Tàm. Vì thế, trong thời kỳ này, bạn bè văn nghệ đặt cho ông một biệt hiệu là: “cá trộm, rượu chịu, văn chui“. 

    Thơ tôi biết xin ai?
    Ai cho?
    Thơ với tôi là nước trên sa mạc
    Đã từ nhiều năm nay
    Tôi sống mà như chết
    Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi
    Tôi đã đi rao cùng thiên hạ:
    – Ai-đổi-thơ-lấy-máu!
    Không ai đổi
    Vì máu tôi không cùng nhóm máu họ

                                        (Cảm tạ)

     

    Năm 1998, ông được phục hồi Hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam để rồi chính thức từ đó trở đi, cái tên Phùng Quán lại gắn liền với những tác phẩm nổi tiếng như “Thơ Phùng Quán”, tiểu thuyết “Trăng hoàng cung”, bộ tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội”… trên báo Đảng địa phương.

    “Ba mươi năm trước tôi chết giữa Hồng Hà sóng dữ

    Nay lại hồi sinh giữa xanh thẳm Hàn Giang

    Chính cây cà quê mùa lao lực

    Đã cho tôi dũng khí bền gan”.

    Báo QNĐN-Chủ nhật là nơi đã trả lại tên thật cho nhà văn-nhà thơ Phùng Quán sau 30 năm mất tích trên văn đàn Việt Nam. Tạp chí Sông Hương tiếp tục đăng những bài viết của Phùng Quán và để tên thật của ông. Một số tờ báo, tạp chí, NXB cũng lần lượt đăng những sáng tác với bút danh Phùng Quán một cách minh bạch – xóa nạn “in chui” cho ông. 

    TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC: QUÊ HƯƠNG & GIA ĐÌNH

    Phùng Quán được coi như là một người lính dấn thân vì nhân dân, vì đất nước cho dù ông đã trải qua những năm tháng bi thương khốc liệt nhất của đời người. Nhưng ông vẫn sắt son niềm tin vào Đảng, vào sự đổi mới phát triển của đất nước qua lời thơ:

    “…Tôi tin sẽ đến ngày tôi được Đảng hiểu”,

    “Tôi không nói lời vĩnh biệt. Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh…”.

    Theo Ngô Quy Nhơn, Phùng Quán đã sống và yêu đất nước đất nước đến tận cùng máu thịt cũng như tình yêu với người vợ hiền của ông, đó là một tình yêu đích thực, một tình yêu mà ông dám hy sinh cả cuộc đời của mình.  

    …”Ngày ra trận, tóc tôi còn để chỏm

    Nay trở về, Đầu đã hoa râm

    Sau cuộc trường chinh ba mươi năm…”

    Tại sao lại gọi đó là tình yêu quê hương đích thực và đến tận cùng máu thịt?  Phùng Quán đã cống hiến cả cuộc đời mình cho một chế độ mà ông tôn thờ bởi ngay từ thiếu thời, (13 tuổi) ông đã dấn thân theo cách mạng, từ một chiến sĩ liên lạc Trung đoàn Trần Cao Vân, đến làm Vệ quốc quân mặt trận khói lửa Bình Trị Thiên.   Năm 1953, khi Phùng Quán mới 22 tuổi, là người lính liên lạc trong Vệ quốc đoàn, ông viết tiểu thuyết Vượt Côn Đảo vàgây xúc động cho người đọc qua bao thế hệ. Vượt Côn Đảo là tác phẩm đầu tay của Phùng Quán, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời cầm bút của ông, xuất bản lần đầu năm 1954. Năm 2007, cùng với hai tác phẩm Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội ra đời, chứng tỏ ông chẳng những hy sinh cuộc sống, tuổi thanh xuân, và tình yêu cá nhân của mình cho đất nước mà còn tôn thờ tổ quốc trong tư tưởng cũng như trong văn thơ của ông.

    Theo soạn giả Tân Linh, chuyện tình của Phùng Quán là một tình yêu đẹp, lãng mạn, đầy sóng gió và xúc động, một mối tình cao quý dược thuật lại như sau: Khi Phùng Quán về làm văn nghệ ở Hà Nội trong Đại hội văn nghệ toàn quân tổ chức sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông đã gặp một cô giáo trẻ, tên Vũ Thị Bội Trâm, giảng dạy tại Trường PTTH Chu Văn An, Hà nội, người Hà Nội, nhà ở phố Hàng Cân đem lòng yêu ông. Bà Bội Trâm kể: “Anh yêu cũng dữ dội lắm: Viết tặng tôi bài thơ anh đã nói rất… liều”:

    “Khách tình yêu xưa nay ít lễ độ

    Bước vào buồng tim chẳng gõ cửa bao giờ…”.

     Phùng Quán bảo mỗi người đều có tình yêu và lý tưởng để tôn thờ, ông viết tặng vợ bài Kinh cầu nguyện buổi sáng như sau:

    “Tôi sẽ đi với em

    Cho đến mút chót con đường…

    … Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền

    Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường

    Tôi sẽ bị trời tru đất diệt

    Em là cây Thập tự của đời tôi

    Tôi phải mang vác cho tới ngày chung cuộc…“

    Phùng Quan khẳng định rằng đây là bài thơ tình hay nhất của ông. Năm 1960, đi lao động thâm nhập thực tế ở Thái Bình cùng các nhà văn Tô Hoài, Hoàng Trung Thông về, Phùng Quán bị nhiễm lao. Năm 1962, Phùng Quán và Bội Trâm đến đăng ký kết hôn ở ủy ban hành chính xã Quảng An huyện Từ Liêm Hà Nội. Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe cũng là bài thơ viết cho bà Bội Trâm. Trong bổn bài thơ tựa đề chỉ có một chữ: Say, Hôn, bài thơ Hôn được nhắc đến nhiều nhất và được in trong tuyển tập Panorama de la Littérature Vietnamism (do nhà văn hóa Hữu Ngọc dịch) cũng như được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc.  Bài thơ được coi như là tuyên ngôn tình yêu của người lính, âm hưởng diệu vợi, bi tráng và rất thực bởi bắt nguồn từ một tình yêu rất chân thực của một người lính, hay hơn thế nữa, một đồng đội, một người bác của ông:  Chiến sĩ cảm tử quân Phùng Huấn. (Theo tác giả Nguyễn Viết Chính).

    …”Trời đã sinh ra anh

    Ðể yêu em tha thiết…

    …Còn anh, anh yêu em

    Anh phải ra mặt trận…

    …Nhưng anh, anh không muốn

    Hôn em trong tủi sầu

    Em ơi rất có thể

    Anh chết giữa chiến trường

    Ðôi môi tươi đạn xé

    Chưa bao giờ được hôn

    Nhưng dù chết em ơi

    Yêu em anh không thể

    Hôn em bằng đôi môi

    Của một người nô lệ”.

                                 (Hôn1956)

    VỀ VĂN HỌC:   

    Phùng Quán đã cho xuất bản nhiều tác phẩm, nhưng ở, người viết xin bàn về hai tác phẩm nổi tiếng của Phùng Quán: Đó là Vượt Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội.  Vượt Côn Đảo không những chỉ đề cao tinh thần yêu nước mà còn trân trọng những tâm hồn chân quý của thế hệ trẻ đã hy sinh bản thân, vượt qua mọi hoàn cảnh và xương máu cho hòa bình của đất nước. Nguồn cảm hứng để Phùng Quán viết Vượt Côn Đảo khi ông gặp gỡ những người tù cách mạng trở về từ Côn Đảo sau Hiệp định Genève 1954. Phùng Quán đã có mặt trong cuộc trao đổi tù binh ở Sầm Sơn và nghe những câu chuyện của họ về ý chí bất khuất, quật cường, lòng sắt đá, quả cảm và nghị lực của những chiến sĩ cách mạng với hai lần vượt ngục thất bại. Ông viết: “Người chiến sĩ khi đã quyết định dấn thân thì phải dấn thân đến cùng, không quay đầu lại, không rẽ ngang rẽ tắt, không được thối lui, không được bỏ cuộc, không có sự hèn hạ nào đáng ghê tởm hơn sự hèn hạ bỏ cuộc”. 

    Xin trích dẫn thêm một trích đoạn trong tác phẩm vượt Côn Đảo: 

    …”Tất cả tù Côn Đảo đều gọi Côn Đảo là địa ngục, một thứ địa ngục trần gian. Nghe người ta nói ở địa ngục, trên có Diêm Vương hung ác, dưới có bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa.  Để hành hạ người chết, có vạc dầu nấu sôi, sông lúc nhúc mãng xà rắn rết, có chỗ cưa chân xẻ tay, róc thịt chẻ xương.  Không biết có địa ngục và địa ngục có những cảnh đó không, nhưng ở Côn Đảo, những cảnh đó không thiếu gì, và còn gấp trăm gấp nghìn thế là khác…”

    PHÙNG QUÁN (1932–1995)

    “Có những lúc ngã lòng

    Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.”

    Đó là hai câu thơ bất hủ đã nói lên ngàn lời tâm sự của người nghệ sĩ tài ba Phùng Quán, một tài năng độc đáo trên văn đàn từ giữa thế kỷ XX, nhưng định mệnh trớ trêu đã đẩy ông qua nhiều gian nan và thử thách trong cuộc sống. Tên tuổi của Phùng Quán trở nên nổi tiếng rất sớm nhưng cũng xuống dốc khá nhanh “Đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian”. Phải chăng cái nhân cách quá ngay thẳng đã đưa cuộc đời của ông vào một số phận bi tráng như thế? Khiến ông sa vào từ thất vọng này đi đến tuyệt vọng kia? Nhưng cái gì đã giúp ông vượt qua chông gai mà số mạng bắt ông gánh chịu. Có phải “Có những lúc ngã lòng. Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”? hay như một nhà thơ người Mỹ gốc Nga, Roman Jakobson, đã nói “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh”.

    Năm 1957, theo soạn giả Tân Linh: Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm với hai bài thơ Lời mẹ dặn và Chống tham ô lãng phí, hai thi phẩm đã đem rất nhiều tai hoạn lớn cho Phùng Quán (25 tuổi) sau tác phẩm Vượt Côn Đảo. Bài thơ Lời mẹ dặn khiến ông bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, bị đuổi ra khỏi quân đội. Phùng Quán rơi vào cảnh “tứ cố vô thân” bởi cha ông đã chết trong tù khi ông mới biết bò, mẹ ông thì sống bên kia giới tuyến (Huế), bạn bè và người thân xa lánh vì sợ liên lụy. Buồn và chán nản, có lúc Phùng Quán có ý định sẽ vào Quảng Bình sinh sống, nhưng cũng có những lúc qúa thất vọng, ông bảo: “Cá sông Nhật Lệ nhiều vô kể, thế nào cũng đủ sống, mà nếu chán quá, không muốn sống nữa thì… thôi”.  Và cũng đã có nhiều lần ông nghĩ đến cái chết. Sau đây là bài thơ Lời mẹ dặn (1957).

    … Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

    Đi trọn đời trên con đường chân thật.

    Yêu ai cứ bảo là yêu

    Ghét ai cứ bảo là ghét

    Dù ai ngon ngọt nuông chiều

    Cũng không nói yêu thành ghét

    Dù ai cầm dao dọa giết

    Cũng không nói ghét thành yêụ

    Tôi muốn làm nhà văn chân thật, chân thật trọn đời

    Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

    Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

    Bút giấy tôi ai cướp giật đi

    Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

    (Lời mẹ dặn)

    Mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động thực tế ở nhiều nơi. Phùng Quán đã phải đánh đổi gần như cả cuộc đời mình với 15 năm lao động cải tạo và 32 năm treo bút bởi hai bài thơ đầu tiên trong văn học trỉ trích cách mạng, chống tệ quan liêu lãng phí.

    Ta đã đi qua
    Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt:

    Tôi đã gặp
    Những bà mẹ già quấn giẻ rách
    Da đen như củi cháy giữa rừng
    Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng
    Bởi đồn giặc trồng ngô tỉa lúa…

    ….Tôi đã gặp
    Chị em công nhân đổ thùng
    Yếm rách chân trần
    Quần xắn quá gối
    Run lẩy bẩy chui vào hầm xia tối
    Vác những thùng phân …

    …Trung ương Đảng ơi!
    Lũ chuột mặt người chưa hết
    Đảng lập đội quân trừ diệt
    – Có tôi!
    đi trong hàng ngũ tiền phong…

    Năm 1988 ông được khôi phục lại chức vị hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Tuy vậy, sau khi được hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhận lại vào thời kỳ đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản. Hơn 32 năm treo bút, ông phải mượn tên người khác viết “văn chui” và xuất bản một số tác phẩm dưới bút danh khác. Hơn 40 cuốn truyện tranh và khoảng 10 tác phẩm văn xuôi được in trong đó có 3 tập bộ tiểu thuyết nổi tiếng “Tuổi thơ dữ dội”. Sống trong cảnh nghèo đói, ông đã câu trộm cá ở Hồ Tây để kiếm sống (theo nhà thơ Ngô Minh) và mua chịu ở quan rượu của bà Hai Hanh, làng Nghi Tàm. Vì thế, trong thời kỳ này, bạn bè văn nghệ đặt cho ông một biệt hiệu là: “cá trộm, rượu chịu, văn chui“. 

    Thơ tôi biết xin ai?
    Ai cho?
    Thơ với tôi là nước trên sa mạc
    Đã từ nhiều năm nay
    Tôi sống mà như chết
    Cơn khát thơ thiêu đốt trái tim tôi
    Tôi đã đi rao cùng thiên hạ:
    – Ai-đổi-thơ-lấy-máu!
    Không ai đổi
    Vì máu tôi không cùng nhóm máu họ

                                        (Cảm tạ)

     

    Năm 1998, ông được phục hồi Hội tịch Hội Nhà văn Việt Nam để rồi chính thức từ đó trở đi, cái tên Phùng Quán lại gắn liền với những tác phẩm nổi tiếng như “Thơ Phùng Quán”, tiểu thuyết “Trăng hoàng cung”, bộ tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội”… trên báo Đảng địa phương.

    “Ba mươi năm trước tôi chết giữa Hồng Hà sóng dữ

    Nay lại hồi sinh giữa xanh thẳm Hàn Giang

    Chính cây cà quê mùa lao lực

    Đã cho tôi dũng khí bền gan”.

    Báo QNĐN-Chủ nhật là nơi đã trả lại tên thật cho nhà văn-nhà thơ Phùng Quán sau 30 năm mất tích trên văn đàn Việt Nam. Tạp chí Sông Hương tiếp tục đăng những bài viết của Phùng Quán và để tên thật của ông. Một số tờ báo, tạp chí, NXB cũng lần lượt đăng những sáng tác với bút danh Phùng Quán một cách minh bạch – xóa nạn “in chui” cho ông. 

    TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC: QUÊ HƯƠNG & GIA ĐÌNH

    Phùng Quán được coi như là một người lính dấn thân vì nhân dân, vì đất nước cho dù ông đã trải qua những năm tháng bi thương khốc liệt nhất của đời người. Nhưng ông vẫn sắt son niềm tin vào Đảng, vào sự đổi mới phát triển của đất nước qua lời thơ:

    “…Tôi tin sẽ đến ngày tôi được Đảng hiểu”,

    “Tôi không nói lời vĩnh biệt. Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh…”.

    Theo Ngô Quy Nhơn, Phùng Quán đã sống và yêu đất nước đất nước đến tận cùng máu thịt cũng như tình yêu với người vợ hiền của ông, đó là một tình yêu đích thực, một tình yêu mà ông dám hy sinh cả cuộc đời của mình.  

    …”Ngày ra trận, tóc tôi còn để chỏm

    Nay trở về, Đầu đã hoa râm

    Sau cuộc trường chinh ba mươi năm…”

    Tại sao lại gọi đó là tình yêu quê hương đích thực và đến tận cùng máu thịt?  Phùng Quán đã cống hiến cả cuộc đời mình cho một chế độ mà ông tôn thờ bởi ngay từ thiếu thời, (13 tuổi) ông đã dấn thân theo cách mạng, từ một chiến sĩ liên lạc Trung đoàn Trần Cao Vân, đến làm Vệ quốc quân mặt trận khói lửa Bình Trị Thiên.   Năm 1953, khi Phùng Quán mới 22 tuổi, là người lính liên lạc trong Vệ quốc đoàn, ông viết tiểu thuyết Vượt Côn Đảo vàgây xúc động cho người đọc qua bao thế hệ. Vượt Côn Đảo là tác phẩm đầu tay của Phùng Quán, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời cầm bút của ông, xuất bản lần đầu năm 1954. Năm 2007, cùng với hai tác phẩm Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội ra đời, chứng tỏ ông chẳng những hy sinh cuộc sống, tuổi thanh xuân, và tình yêu cá nhân của mình cho đất nước mà còn tôn thờ tổ quốc trong tư tưởng cũng như trong văn thơ của ông.

    Theo soạn giả Tân Linh, chuyện tình của Phùng Quán là một tình yêu đẹp, lãng mạn, đầy sóng gió và xúc động, một mối tình cao quý dược thuật lại như sau: Khi Phùng Quán về làm văn nghệ ở Hà Nội trong Đại hội văn nghệ toàn quân tổ chức sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông đã gặp một cô giáo trẻ, tên Vũ Thị Bội Trâm, giảng dạy tại Trường PTTH Chu Văn An, Hà nội, người Hà Nội, nhà ở phố Hàng Cân đem lòng yêu ông. Bà Bội Trâm kể: “Anh yêu cũng dữ dội lắm: Viết tặng tôi bài thơ anh đã nói rất… liều”:

    “Khách tình yêu xưa nay ít lễ độ

    Bước vào buồng tim chẳng gõ cửa bao giờ…”.

     Phùng Quán bảo mỗi người đều có tình yêu và lý tưởng để tôn thờ, ông viết tặng vợ bài Kinh cầu nguyện buổi sáng như sau:

    “Tôi sẽ đi với em

    Cho đến mút chót con đường…

    … Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền

    Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường

    Tôi sẽ bị trời tru đất diệt

    Em là cây Thập tự của đời tôi

    Tôi phải mang vác cho tới ngày chung cuộc…“

    Phùng Quan khẳng định rằng đây là bài thơ tình hay nhất của ông. Năm 1960, đi lao động thâm nhập thực tế ở Thái Bình cùng các nhà văn Tô Hoài, Hoàng Trung Thông về, Phùng Quán bị nhiễm lao. Năm 1962, Phùng Quán và Bội Trâm đến đăng ký kết hôn ở ủy ban hành chính xã Quảng An huyện Từ Liêm Hà Nội. Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe cũng là bài thơ viết cho bà Bội Trâm. Trong bổn bài thơ tựa đề chỉ có một chữ: Say, Hôn, bài thơ Hôn được nhắc đến nhiều nhất và được in trong tuyển tập Panorama de la Littérature Vietnamism (do nhà văn hóa Hữu Ngọc dịch) cũng như được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc.  Bài thơ được coi như là tuyên ngôn tình yêu của người lính, âm hưởng diệu vợi, bi tráng và rất thực bởi bắt nguồn từ một tình yêu rất chân thực của một người lính, hay hơn thế nữa, một đồng đội, một người bác của ông:  Chiến sĩ cảm tử quân Phùng Huấn. (Theo tác giả Nguyễn Viết Chính).

    …”Trời đã sinh ra anh

    Ðể yêu em tha thiết…

    …Còn anh, anh yêu em

    Anh phải ra mặt trận…

    …Nhưng anh, anh không muốn

    Hôn em trong tủi sầu

    Em ơi rất có thể

    Anh chết giữa chiến trường

    Ðôi môi tươi đạn xé

    Chưa bao giờ được hôn

    Nhưng dù chết em ơi

    Yêu em anh không thể

    Hôn em bằng đôi môi

    Của một người nô lệ”.

                                 (Hôn1956)

    VỀ VĂN HỌC:   

    Phùng Quán đã cho xuất bản nhiều tác phẩm, nhưng ở, người viết xin bàn về hai tác phẩm nổi tiếng của Phùng Quán: Đó là Vượt Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội.  Vượt Côn Đảo không những chỉ đề cao tinh thần yêu nước mà còn trân trọng những tâm hồn chân quý của thế hệ trẻ đã hy sinh bản thân, vượt qua mọi hoàn cảnh và xương máu cho hòa bình của đất nước. Nguồn cảm hứng để Phùng Quán viết Vượt Côn Đảo khi ông gặp gỡ những người tù cách mạng trở về từ Côn Đảo sau Hiệp định Genève 1954. Phùng Quán đã có mặt trong cuộc trao đổi tù binh ở Sầm Sơn và nghe những câu chuyện của họ về ý chí bất khuất, quật cường, lòng sắt đá, quả cảm và nghị lực của những chiến sĩ cách mạng với hai lần vượt ngục thất bại. Ông viết: “Người chiến sĩ khi đã quyết định dấn thân thì phải dấn thân đến cùng, không quay đầu lại, không rẽ ngang rẽ tắt, không được thối lui, không được bỏ cuộc, không có sự hèn hạ nào đáng ghê tởm hơn sự hèn hạ bỏ cuộc”. 

    Xin trích dẫn thêm một trích đoạn trong tác phẩm vượt Côn Đảo: 

    …”Tất cả tù Côn Đảo đều gọi Côn Đảo là địa ngục, một thứ địa ngục trần gian. Nghe người ta nói ở địa ngục, trên có Diêm Vương hung ác, dưới có bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa.  Để hành hạ người chết, có vạc dầu nấu sôi, sông lúc nhúc mãng xà rắn rết, có chỗ cưa chân xẻ tay, róc thịt chẻ xương.  Không biết có địa ngục và địa ngục có những cảnh đó không, nhưng ở Côn Đảo, những cảnh đó không thiếu gì, và còn gấp trăm gấp nghìn thế là khác…”

    Theo tác giả Ngô Minh Thuyên lòng yêu nước trong Phùng Quán rất kiên định cho dù sau 32 năm bị án “nhân văn”, Phùng Quán vẫn cho ra đời Tuổi thơ dữ dội gây xúc động về chính cuộc đời ông và đồng đội mình. “Tuổi thơ dữ dội” là một tác phẩm truyện dài xoay quanh cuộc sống chiến đấu và sự hy sinh của những thiếu niên 13, 14 tuổi trong hàng ngũ Đội thiếu niên trinh sát của trung đoàn Trần Cao Vân. 

     “… Không thể ôm nhau mà nhìn thần chết đến cướp cùng một lúc. Giờ phút này phải đòi hỏi sự hy sinh. Anh Cả hội ý với Du và cuối cùng quyết định. – Cần năm đồng chí hy sinh để cho thuyền nhẹ bớt. Mười đồng chí giơ tay cùng một lúc. Trong đó có Bằng, Chức, lão Học. Anh Cả nhìn mười đồng chí một lượt, ngồi lặng đi một phút …”

    THẾ GIỚI THI CA:

    Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn để lại cho đời nhiều bài thơ được hàng triệu người Việt Nam ngưỡng mộ như: Tập thơ Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Báo Phụ nữ Liên Xô dịch và in, năm 1957. Địa Ngục Côn Đảo, một tác phẩm thơ ca ngợi nữ anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu đã trở thành bài ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, của những thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc.

    “Côn Đảo bỗng rùng mình

    Ai cất lên tiếng hát?

     …Theo tiếng hát chơi vơi

    Mọc lên giữa địa ngục

    … Người tù sắp xử bắn

    Vẫn hát mắt mở to

    …Người đang hát: chị Sáu

                 Một cô gái miền Nam”.

    Thật đúng như nhận định của tác giả Nguyễn Viết Chính, thơ Phùng Quán là thơ có chiều sâu của tâm hồn, một tâm hồn luôn nhạy cảm đã đến từ sự rung động của trái tim, chất chứa những nỗi niềm, như một lời tâm sự và cũng chính những vần thơ ấy, ông đã cứu sống được bao tâm hồn đang trong nỗi tuyệt vọng.  Điển hình là nhà thơ Hoàng Cầm sau một tai nạn, ông bị lâm bệnh trầm cảm trong nhiều năm.  Một hôm, Phùng Quán đến thăm Hoàng Cầm, mang theo một chai rượu làng Vân, ngồi trước mặt Hoàng, Phùng Quán rót rượu và đọc bài thơ có tựa đề là “Phùng Quán gửi Hoàng Cầm mắc bệnh tâm thần nặng“.  Nghe xong bài thơ, nước mắt Hoàng Cầm lăn dài trên gò má hóp, tái xanh.  Phùng Quán nâng lên mời bạn và họ ôm nhau, hàn huyên. Sau ngày đó, Hoàng Cầm sống lại và từ đó mở đầu cho một loạt thơ mới. Dưới đây là bài thơ “thần dược” của Phùng Quán:

    “Tôi không tin một nhà thơ như Anh

    Lại ngã lòng suy sụp

    Một nhà thơ đã viết những dòng thơ lẫm liệt

    Tiểu đội anh, những ai còn, ai mất?

    Không, không ai còn ai mất…

    …Tôi tin chắc như đinh đóng cột

    Sau khi Anh mất đi

    Theo sau linh cữu anh

    Ngoài bạn hữu gia đình

     Có cả con sông Đuống

    Sông Đuống mặc đại tang…”

     (Hà Nội tháng 3-1987)

      

     Sau gần 35 năm xa quê hương, Phùng Quán trở về quê, làng Thanh Thủy Thượng, xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, Huế. “Ngày ra đi tóc còn để chỏm, ngày về tóc đã hoa râm”. Ông đã quỳ xuống trước đông đảo bà con đọc to bài thơ “Tạ”:

    Con tạ,

    Đất làng quê

    Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất

    Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt

    Không lá cây nào không mặn chát gian lao

    Con tạ, manh chiếu rách con nằm…

    Năm 1975 giải phóng miền Nam, Phùng Quán về Huế rồi vào thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 22 tháng 01, 1995 tại Hà Nội, nhưng mãi đến đầu năm 2011, ước nguyện của ông mới trở thành hiện thực. Nhà thơ Ngô Minh quyên góp từ những văn nghệ sỹ, trí thức, học sinh, sinh viên, nông dân, anh xe ôm, xích lô, Việt kiều… đã góp tiền xây dựng mộ cho nhà thơ Phùng Quán. …“Tôi sẽ đào nấm huyệt. Cạnh mồ cha mẹ tôi”…”. Sau khi xây mộ cho hai vợ chồng nhà thơ và do nguyện vọng của dòng họ Phùng, số tiền còn lại được lập “Quỹ khuyến học, khuyến tài” mang tên Phùng Quán, để phát thưởng cho học sinh giỏi hàng năm của xã Thủy Dương quê hương nhà thơ và khuyến khích các nhà văn, nhà thơ ở Thừa Thiên, Huế có những tác phẩm văn học đặc sắc.   Sau khi nhà thơ qua đời, Quỹ Phùng Quán đã tổ chức phát thưởng lần đầu tiên cho 41 em học sinh xuất sắc của các trường tiểu học, THCS Thủy Dương gồm một giấy chứng nhận Quỹ Phùng Quán, có ảnh nhà thơ và là 500.000 đồng Việt Nam. Quỹ Phùng Quán còn tặng thưởng cho 3 em học sinh họ Phùng xuất sắc nhất do dòng tộc Phùng ở Thủy Dương xét chọn. Đầu năm 2012, Quỹ Phùng Quán đã giải khuyến tài văn học Phùng Quán cho hai tác phẩm văn học: Tiểu thuyết “Vùng sâu” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ, và “Xa Hà Nội” của Nhà Văn Nhất Lâm, giá trị mỗi giải thưởng là 2 triệu đồng Việt Nam. Lễ trao được Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên, Huế tổ chức ngay tại khu lăng mộ của nhà thơ Phùng Quán. Tên của ông cũng được UBND tỉnh Thừa Thiên, Huế quyết định đặt tên cho con đường mang tên Phùng Quán tại Thị xã Hương Thủy, quê hương ông, dài 5,850 km, từ Km 83, Quốc lộ 1A đối diện cổng làng Thanh Thủy Thượng, đi qua lăng mộ Phùng Quán, qua chiến khu Dương Hòa, nơi Phùng Quán đi theo bộ đội Việt Minh từ năm 1946. Trong “Trăng Hoàng Cung” của Phùng Quán viết 26 năm trước. Vâng, Phùng Quán đã ra đi và trở về trên chính con đường mang tên Phùng Quán. (CTV Ngô Minh Thuyên/VOV online)  

    …“Nhưng cuối cùng

    Quê hương nhận ra

    Trái – tim Thơ- trong-sạch

    Và gương – mặt – Thơ- bi – thiết – của tôi…”.

    Tóm lại, người ta thường cho rằng thực chất của sự thật bao giờ cũng tốt, nên được khuyến khích và áp dụng trong hầu hết mọi lãnh vực. Thế nhưng trên thực tế, ngoài đời cũng như trong văn chương có mấy ai dám nói sự thật hoàn toàn? Ngay trong thế giới văn học tại Việt Nam, chẳng phải chỉ Thi sĩ Phùng Quán hay Nguyễn Chí Thiện bị tẩy chay trong xã hội mà trên thế giới chúng ta đã từng nghe đến những nhà đại văn hào, từng được lãnh Giải thưởng Nobel như Erich Maria Remarque đã bị tước quốc tịch Đức năm 1939 vì bị cho là lời văn của ông có tính cách phỉ báng quân đội Đức. Nhà văn Nga Boris Leodovich Pasternak, tác phẩm của ông cũng bị cấm xuất bản và lưu hành tại Nga vì bị cho là nội dung bôi nhọ chính sách, ông bị buộc từ chối nhận đề cử lãnh Giải thưởng Nobel 1958 với lý do làm giảm uy tín của đảng Liên Xô, cho mãi đến năm 1989, con trai của ông là Yevgenii Borisovich Pasternak được phép đến Stockholm để nhận giải thưởng của cha cậu.  

    Vậy câu hỏi được đưa ra để tùy độc giả suy nghĩ.  Có nên nói hoàn toàn sự thật một cách nồng nhiệt hay không?

    Khánh Lan, California, kỷ niệm 50 năm nhìn lại, (1975-2025)

    TÀI LIỆU ĐỌC THÊM: TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG CỦA THI SĨ PHÙNG QUÁN:    Phùng Quán là một nhà văn, nhà thơ và bắt đầu viết trong khoảng thời gian của cuộc chiến tranh Đông Dương. Ông là cháu của Tố Hữu, sinh tháng 1 năm 1932, quê tại xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy (nay là phường Thủy Dương, thị xã Hương Thủy), tỉnh Thừa Thiên – Huế). Chưa học xong Tiểu học, Phùng Quán đã bỏ nhà đi theo cách mạng.  Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân ở tuổi 13, và trở thành chiến sĩ trinh sát của Trung đoàn 101, lừng danh ở chiến trường Bình-Trị-Thiên (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân). Sau đó Phùng Quán tham gia Thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV. Năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội).   Phùng Quán có rất nhiều tác phẩm được xuất bản bắt đầu từ 1955 kéo dài đến 2007, bao gồm nhiều thể loại khác nhau như truyện dài, truyện ngắn, hồi ký, bút ký, v.v…có những tác phẩm được dịch và xuất bản tại Trung Quốc, NXB Thượng Hai dịch và in như: Bút ký (1955), Bên bờ Hiền Lương (1956). Thạch Sanh Cháu Bác Hồ truyện thiếu nhi (1955). Một số truyện thiếu nhi như: Cuộc Đời Một Đôi Dép Cao Su (1956), Như Con Cò Vàng Trong Cổ tích (tác phẩm ký bút danh Vũ Quang Khải, được Giải nhất cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật). Vĩnh Linh, Lịch Sử Văn Hóa (ký tên tác giả là Nguyễn Huy-1982). Dũng Sĩ Chép Còm(1987-với bút danh Trần Vỹ Dạ), Người Du Kích Hói Đầu (1990), Tiếng đàn trong rừng thẳm (1991). Đôi Bạn Tật Nguyền Kỳ Lạ (1991).  Thơ Phùng Quán (1995). Bản hùng ca về 17 Vệ quốc Đoàn (1993).   Trăng hoàng cung, Tiểu thuyết thơ, Nhà xuất bản Thanh Văn, USA năm 1993. Năm 2007, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản Trăng hoàng cung & Phùng Quán Viết Trăng Hoàng Cung (tiểu thuyết tình 13 chương của Phùng Quán & Hồi ức của nhà văn Hà Khánh Linh). Phùng Quán, Thơ, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2003. Ba phút sự thật, Ký, (2006, tái bản 2009). Tôi Đã Trở Thành Nhà Văn Như Thế Nào?-Hồi ký (2007). Phùng Quán Còn Đây, Di cảo của Phùng Quán và Hồi ức của bạn bè, (2007-Hồi ký 0.      
  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    TỪ ĐINH HÙNG ĐẾN VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    Khánh Lan

    Với khuôn mặt lẫy lừng trong thi ca Việt Nam từ thời tiền chiến đến hai thập niên ở miền Nam Việt Nam đã có nhiều tài liệu viết về hai nhà thơ Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Hôm nay, người viết lại được vinh hạnh viết về hai vị tiền bối đã được rất nhiều người ngưỡng mộ trong thế giới thi ca: Đó là Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương, những thiên tài bạc mệnh của đất Sài Gòn, một thời nổi danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Một điều thật lạ lùng là khi duyệt sau khi duyệt qua tiểu sử và cuộc đời của hai thi nhân này, người viết nhận thấy hai vị tiền bối có nhiều điểm trùng hợp từ thân phận, chí khí, tài hoa đến văn chương và cuộc đời lại gặp quá nhiều nghiệt ngã, đau thương, bất công và bạc mệnh. Hình như có một sự kết nối mật thiết giữa cuộc đời của họ. Họ như bị ràng buộc từ trong một mối tương quan gia đình khi nhà thơ họ Vũ kết hôn với bà Đinh Thị Thục Oanh, chị ruột của Đinh Hùng. Họ là bạn chí thân từ khi còn sinh sống tại miền Bắc. Thuở thiếu thời, họ yêu văn, thích làm thơ, sáng tác thơ và trở thành nổi tiếng trong lĩnh vực thi ca. Họ là những thiên tài bạc mệnh, lãnh chịu một cuộc đời với nhiều gian nan, nghiệt ngã và nghèo túng. Tuy họ đã gặp nhiều sóng gió trong cuộc sống nhưng họ vẫn không rời xa nhau! Có lẽ, định mệnh đã an bài cho họ là phải như thế!

    Dưới đây là những điểm tương đồng:

    1. Trong lĩnh vực khoa bảng: Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nghê sĩ tài hoa, học cao hiểu rộng với bản tính rất ngang bướng, gan dạ, phóng túng, “thích gì làm nấy”. Họ không khuất phục trước gian nan, bất công và sẵn sàng đương đầu với khó khăn, nghiệt ngã trong cuộc sống nhưng lại đa sầu đa cảm và mềm lòng trong đường tình ái.
    • Trong lãnh vực văn chương thi phú: Hai thi nhân đi vào lĩnh vực văn học ở tuổi rất còn trẻ. Tác phẩm văn xuôi Đám Ma Tôi của Đinh Hùng viết trong năm 1943 ở tuổi 23 thì Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay của Vũ Hoàng Chương viết vào năm 1936-1939 khi ông 21 tuổi.
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương là những nhà thơ nổi tiếng từ thời phong trào Thơ Mới thời tiền chiến. Trong khi Đinh Hùng (1920-1967) nổi tiếng với hai tập thơ Mê Hồn Ca (1954) và Đường Vào Tình Sử (1961), thì Vũ Hoàng Chương (1915-1976) với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, đó là tập thơ Hoa Đăng (1959) và 2 tập Thơ Say và Mây (sau in chung vào một tập mang tên Mây).
    • Năm 1959, Vũ Hoàng Chương đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca với tập thơ Hoa Đăng, một tập thơ được đánh giá rất cao, ông cũng là một trong 100 tác giả tên tuổi được đề cử giải Nobel Văn Chương năm 1972. Năm 1961, thi phẩm Đường vào tình sử của Đinh Hùng được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.
    • Sau khi mất hai thi nhân đều có tác phẩm xuất bản sau khi mất. Đinh Hùng với Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967, ngoài ra còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt. Về phần Vũ Hoàng Chương tập hồi ký Ta Đã Làm Chi Đời Ta doNXB Trương vĩnh Ký, Saigon năm 1970 được NXB Hội Nhà Văn tái bản năm 1993 tại TPHCM. Thi tấp Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, NXB An Tiêm, Sài Gòn (1970) in 2 lần và được Tái bản lại tại California, Mỹ sau năm 1975.
    • Trong cuốn Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn (1970) của họa sĩ Tạ Tỵ, người bạn văn nghệ chí thân của thi sĩ Vũ Hoàng Chương gọi thơ Vũ Hoàng Chương là “tiếng thở dài của phương Đông trầm mặc”, vì nhiều bài thơ của ông nói lên thân phận của kiếp người trên quê hương. Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau: “Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử”. Một lãng tử, có lẽ đúng bởi cái cuộc sống “Bất cần đời” của ông, chẳng tha thiết với danh vọng, hờ hững với vật chất xa hoa. 
    • Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương đều chết trẻ. Đinh Hùng mất năm 47 tuổi và Vũ Hoàng Chương mất mất ở tuổi 61.

    THẾ GIỚI THI CA ĐINH HÙNG

    THI SĨ ĐINH HÙNG–(1920-1967)

    “Trời cuối thu rồi em ở đâu  

     Nằm bên đất lạnh chắc em sầu 

     Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy 

     Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu …”

    Chúng ta có thể nói Đinh Hùng là nhà “khảo cổ thi ca” đầu tiên đi ngược dòng lịch sử của những mảnh hồn nhân loại bị quên lãng theo thời gian. Thơ Đinh Hùng nói lên vẻ đẹp siêu thực tế, một tình yêu linh thiêng, một thế giới mới dựa trên linh thị của siêu cảm và trực giác. Thơ Đinh Hùng xóa mờ bức tường ranh giới giữa không gian và thời gian, hòa nhập con người với cõi vô thường, với những cảm xúc dữ dội và khốc liệt, tư duy và sự khuấy đảo đến kinh hoàng của hình tượng qua những vần thơ. Để hiểu rõ về người nghệ sĩ đa tài Đinh Hùng, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu xem yếu tố nào đã khiến cho ông giải bày niềm cảm xúc qua trang giấy một cách mãnh liệt như thế.  

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Đinh Hùng là nhà thơ tiền chiến, bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết. Ông sinh ngày 3 tháng 7, 1920 tại làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông. Thuở nhỏ ông theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, trung học tại trường Bưởi. Theo thi sĩ Vũ Hoàng Chương, sau khi thi đậu “cao đẳng tiểu học“, hạng bình thứ, Đinh Hùng được học bổng và trong khi đang theo học ban chuyên khoa để thi tú tài bản xứ thì ông bỏ ngang đi viết văn và làm thơ.

    “Ta ném bút dẫm lên sầu một buổi
    Xa vở bài, mở rộng sách ham mê
    Đã từng phen trèo cổng, bỏ trường về
    Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn”

                                        (Khi Mới Nhớn)

    Tuy nhiên, tuổi thơ của Đinh Hùng là chuỗi ngày sầu thảm, sự mất mát liên tục của những người thân trong gia đình đã để lại nhiều vết thương trong lòng ông. Năm 1931, người chị thứ ba của ông tên Tuyết Hồng đã tự vẫn tại hồ Trúc Bạch. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng chết khi còn rất trẻ và sau hết là cái chết của người bạn gái yểu mệnh tên Bích Liên. Đó là những biến động kinh hoàng trong cuộc đời xảy ra cho một con người.

    Dưới ngòi bút thiên phú, Đinh Hùng trở nên nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” được nhà văn Thế Lữ chọn in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh của ông, một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại tiểu thuyết kinh dị, lãng mạn, rùng rợn nhưng cũng đầy chất thơ do NXB Đời Nay in ấn năm 1941. Năm 1943, Đinh Hùng đang sống với người chị là Thục Oanh tại Hà Nội thì tập văn xuôi đầu tiên ra đời: Đám ma tôi được đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, một Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn…

     Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa

     Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết 

     Ôi cám dỗ! Cả mình em băng tuyết 

     Rộn xuân tình lên bộ ngực thanh tân…” 

                            (Kỳ nữ)

    Năm 1944, Vũ Hoàng Chương cưới Thục Oanh rồi về Nam Định, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài với sự cộng tác của Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch…Cũng trong năm ấy, Đinh Hùng tản cư theo tờ báo Cứu Quốc nhưng sau đó, ông về Thái Bình dạy học cùng người vợ mới cưới là Nguyễn Thị Thanh. Năm 1949, Đinh Hùng cùng vợ con trở lại Hà Nội, tại đây, ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô Văn Nghệ (1952) và tập thơ Mê Hồn Ca (1954).

    Tháng 8, 1954, Đinh Hùng cùng vợ con vào Sài Gòn cùng với gia dình của Vũ Hoàng Chương. Trong thời gian đầu, ông nhận viết báo, viết tiểu thuyết dài từng kỳ cho các nhật báo Sài Gòn như “Kỳ Nữ gò Ôn Khâu”, “Đao phủ thành Đại La”, v.v… và bình thơ tại Đài phát thanh Sài Gòn. Ngoài ra ông còn vẽ tranh vui và giữ luôn mục thơ trào phúng “Đàn ngang cung” với bút hiệu Thần Đăng. Sau đó ông lập ra tờ nhật báo Tự Do, cộng tác cùng với Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong…Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, giữ mục Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận. Năm 1961, ông cho in tập Đường Vào Tình Sử, tác phẩm này được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962.

    Phải chăng “Nhân tài thường hay chết yểu” hay bởi Đinh Hùng luôn bị ám ảnh bởi sự chết, hay là vì nhân chứng của nhiều cái chết, nên dưới ngòi bút tài hoa sẵn có, ông đã phác họa một cáo phó về cái chết của mình qua bài thơ Cung Đàn Tưởng Niệm, và được coi như là một di chúc viết cho chính bản thân ông. Ngay cả trong tác phẩm văn xuôi đầu tay của ông, ông đã chọn tựa đề rất lạ lùng: Đám Ma Tôi, được nhà xuất bản Tân Việt in năm 1943, lúc ấy ông mới có 23 tuổi. 

    …”Khi anh chết, các em về đây nhé 

    Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa 

    Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ 

    Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”

    Tháng 08 năm 1967, Đinh Hùng qua đời vì bệnh ung thư gan tại bệnh viện Bình Dân, ông được an táng tại nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi. Một điều kỳ diệu đã xảy ra là lời ước nguyện của ông khi còn sinh tiền đã biến thành hiện thực: “…Khi anh chết, các em về đây nhé… Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ …”. Thật vậy, bạn bè của Đinh Hùng kể lại là trong đám tang của ông người ta thấy có hai chục cô thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc, tay cầm hoa lặng lẽ sắp hàng đi theo linh cữu. Họ đến bên mồ và lặng lẽ thả những bó hoa xuồng lòng huyệt, ngậm ngùi tiễn đưa người thi sĩ.

    Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10, 1967. Ngoài những tác phẩm trên, Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.

    NHẬN ĐỊNH VỀ THẾ GIỚI THI CA CỦA ĐINH HÙNG

    Nói đến những bài thơ làm nên tên tuổi của Đinh Hùng, chúng ta không thể nào không nhắc đến tác phẩm đầu tay của thi sĩ do nhà xuất bản Tiếng Phương Ðông ấn hành tại Hà Nội năm 1954: Mê Hồn Ca. Dựa theo bài viết của Thủy Nguyệt, Mê Hồn Ca gồm 40 bài thơ ca ngợi tình yêu cuồng nhiệt của một tâm hồn lạc lõng, bơ vơ muốn tìm về một thế giới hư vô. Qua phong cách diễn tả độc đáo của tác giả, chúng ta nhận thấy trong ý thơ của ông vừa có vị nồng nàn, tha thiết, đau khổ chen lẫn mê hoặc, mà trong đó chất chứa một vũ trụ hoang sơ, rừng rú. Ở phần đầu Mê Hồn Ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác từ cô độc đến bi thiết qua những bài thơ: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên… Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác mà chúng ta tìm thấy trong thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia như trong Gửi người dưới mộ, Tìm bóng tử thần. Bài thơ Cầu hồn là điển hình cho sự ám ảnh trong ý thơ.

    Hồn ơi! Hồn tỉnh giấc thần,
    Đêm nay lạc xuống dương trần mà vui.
    Nghìn yêu ma che bước cõi Luân Hồi,
    Nhìn nghiêng mặt đất thấy trời hiển linh.
    Giữa đêm đời sẽ hồi sinh.
    Nhân gian hát khúc vong tình lên non.
    Đôi ta vào hội oan hồn,
    Âm dương tái hợp …

    Có những lúc chúng ta tự hỏi: Trong thế giới thi ca, hỏi mấy ai có thể tạo dựng một nghĩa trang huyền ảo như trong văn thơ của thi sĩ Đinh Hùng? Phải chăng cái chết và sự sống, thường bị chia cắt và giới hạn bởi không gian vật lý?  Phải chăng trong cõi tâm linh của Đinh Hùng khát vọng sự giao hòa, ao ước rằng con người có thể vượt qua mọi ranh giới để hướng đến khoảng cách vô tận ấy?   Ai có thể hiểu được vì sao Đinh Hùng đã viết lên những vần thơ đi vào cõi chết? Có phải đó là kết quả của nhiều đau thương mất mát trong gia đình liên tục xảy đến với ông, hay chính ông đã nhìn thấy sự chết cho chính mình, và ở đâu đây, lưỡi hái tử thần đang chờ đón ông?

    Mặc dù Mê Hồn Ca xuất hiện trên thi đàn giữa thời loạn ly, khi đất nước chia đôi nhưng đã lôi cuốn rất nhiều độc giả bởi hình ảnh liêu trai, bởi sự sống đầy mộng mị của trần gian và sự hoang lạnh của chốn âm cảnh, qua trí tưởng tượng phong phú đầy sáng tạo của thi sĩ Đình Hùng và trong thế giới mê hoặc, mờ ảo với những ảo giác hư thực của tiền kiếp đã trở thành một tuyệt tác dưới ngòi bút của Đinh Hùng.  

    Nàng năm mộng suốt đêm hè dưới nguyệt,
    Nụ cười buồn lay động ánh trăng sao.
    Xa nấm mộ, chúng ta cuồng dại hết,
    Để yêu tà về khóc dưới non cao.
    Hồn Vệ Nữ lạc loài bên cửa huyệt,
    Xuân bi thương – ôi má thắm, môi đào!
    Bốn mùa trăng vào một hội chiêm bao,
    Trong giấc ngủ đẫm mùi hương phấn lạ.

    (Tìm bóng tử thần)

    Cái bi kịch của tình yêu, của gia đình với những ràng buộc khắt khe của tạo hóa đã đưa người nghê sĩ tài hoa Đinh Hùng lạc lõng trong xã hội loài người, bị ám ảnh bởi cái chết đã đi vào tư tưởng của ông rồi bộc lộ qua thi ca. Bài Gửi Người Dưới Mộ đã cho chúng ta một cảm nhận rờn rợn trong hồn:

    “…Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?

    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?

    Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy

    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu…“

    (Gửi người dưới mộ)

    Thơ của ông có nhiều sắc thái khác nhau, khi là sự hiện hình của một thực tại huyễn tưởng, một ngôn ngữ đầy ma mị, đầy hư ảo, khi thì bộc lộ sự cô độc, thảm thiết gần như muốn tìm vào cõi chết, thể hiện qua những bài thơ:  Mê Hồn Ca, Bài Ca Man Rợ, Những Hướng Sao Rơi. Lại có những bài thơ nghiêng về tôn giáo, tâm linh, đôi lúc ông thi vị hóa tình yêu như trong bài Kỳ Nữ, Hoa Sử, Hương Trinh Bạch. Ở một khía cạnh khác, chúng ta thấy thơ của Đinh Hùng, hình như bị ám ảnh bởi thế giới bên kia, nhập tâm tìm kiếm một ngõ ngách giao hòa cùng người thiên cổ, thể hiện qua bài: Cầu Hồn, Gửi Người Dưới Mộ, Tìm Bóng Tử Thần….

    …”Trong mộng trần duyên 

    Của người thiên cổ….”

    …”Trời ơi, đây nguyệt vô biên 

    Trong lòng người đẹp nằm quên dưới mồ”.

                         (Tìm Bóng Tử Thần)

    Đọc bài thơ Liên Tưởng, chúng ta có cảm tưởng đây là những vần thơ mà Đinh Hùng đã viết cho một người con gái xinh đẹp yểu mệnh tên Bích Liên mà ông đã yêu say đắm trong ngây ngất. Một mối tình tinh khiết nhưng mãnh liệt, kỳ ảo nhưng huyền hoặc.  Phải chăng chính mối tình ấy đã tạo nên một ảnh hưởng sâu đậm trong tâm khảm của nhà thơ và đã đi theo ông trong suốt cuộc đời. 

    … Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.

    Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,

    Lén bước trang đài tới gặp ta

    Yểu điệu phương đông lướt dưới đèn,

    Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên.

    Dáng xuân nghiêng mặt cười không tiếng,

    Lửa hạ lên rồi … Ôi Ý Liên!”

    (Liên Tưởng – ĐVTS)

    Đinh Hùng và Bích Liên yêu nhau trong tuyệt vọng, khi Bích Liên qua đời vì bệnh lao, Đinh Hùng mới 20 tuổi, cái tuổi chập chững bước vào đời với khát vọng yêu đương, với cuồng phong bão tố của mối tình đầu. Cái chết của Bích Liên, cũng là sự mất mát rất lớn trong đời ông và đã biến con người ông trở nên như điên dại, nỗi đau đớn ấy khiến ông sáng tác một loạt thơ mới:  Thơ Chiêu Niệm, Liên Tưởng và Gửi Người Dưới Mộ đã đưa ông hướng sâu vào cõi chết, phải chăng, theo ông chết là giải thoát những khổ đau.

    Em đã về chưa?
    Em sắp về chưa?
    Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,
    Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn.
    Em hãy cười lên vang cõi âm.
    Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
    Những hồn phiêu bạt bao năm trước.
    Nay đã vào chung một chỗ nằm.

    Theo tác giả Đỗ Tường, khi Bích Liên chết, Đinh Hùng xin đến nhìn mặt người yêu lần cuối, đứng trước xác người yêu, ông đã làm một cử chỉ khiến tất cả mọi người phải kinh hoàng bởi ông điềm nhiên lật tấm vải liệm phù mặt cô gái ra, rồi cuối xuống hôn một cách say đắm.

    Qua xứ ma sầu, ta mất trí
    thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
    trời ơi! trời ơi! làn tử khí
    lạc lõng hương thầm đoá Bạch Liên

                                   (Cầu hồn)
    Phải chăng sự ám ảnh với những nỗi đau và cái chết khiến thơ của ông đã vượt quá giới hạn, vượt quá sự tưởng tượng của con người. Với ông cái chết là sự cuồng si, là cái đẹp, nó không chỉ đẹp trong thơ mà còn đẹp trong cả tiềm thức của người nghệ sĩ với nỗi đau và sự rung động của trái tim qua bài thơ Gửi Người Dưới Mộ.

    Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
    Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
    Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.
    Em mộng về đâu?
    Em mất về đâu?
    Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu,
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa.
    Trong bài viết “Đinh Hùng, người kiến trúc chiêm bao”, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy cho rằng biểu tượng mạnh mẽ nhất của Đinh Hùng là cái chết với “mặt trời máu”, với “nấm mồ”, “tử thần”, “hồn ma” … Quả nhiên, trong hai phần “Chiêu niệm”, “Mê hồn” và cả bài trường thi “Thần tụng” cũng tràn ngập không khí của cõi chết. Nhưng cái chết trong thơ Đinh Hùng không phải sự tàn lụi và đau thương mà cái chết trong thơ Đinh Hùng rạo rực xuân tình, đầy sức sống:

    Cười lên em!
    Khóc lên em!
    Đâu trăng tình sử,

    Nép áo trần duyên?

    … Ta gởi bài thơ anh linh
    Hỏi người trong mộ có rùng mình?
    Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
    Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?”

    (Gửi người dưới mộ)

    … Hỡi hồn tuyết trinh!
    Hỡi người tuyết trinh!
    Mê em, ta thoát thân hình,
    Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.
    Em có vui thêm?

    Em có buồn thêm?
    Ngồi bên cửa mộ,

    Kể cho ta biết nỗi niềm.

    Sau khi Bích Liên mất, thi sĩ Đinh Hùng sống một cuộc sống “Lăng bạt kỳ hồ“, khi thì ông đi dạy học ở Hà Đông, khi thì gia nhập một ban nhạc tài tử ở vùng Bắc cạn, ông như người quẫn trí, ông khóc như điên dại, bỏ Hà Nội, đi Hải Dương, vượt sông Hồng Hà, ông bỏ lại tất cả và chỉ ôm ấp bên mình, bức di ảnh của Bích Liên.  

    … “Thần chết cười trong bộ ngực điên,
    Ta nghe em thở tiếng ưu phiền.
    Nỗi lòng xưa dậy tan Thanh Vắng.
    Hơi đất mê người – Trăng hiện lên.”

    …”Qua xứ ma sầu ta mất trí 

    Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền 

    Trời ơi!  Trời ơi! Làn tử khí …”

    Những cái chết trong gia đình, nhất là cái chết của Bích Liên, thi sĩ Đinh Hùng cho rằng định mệnh quá cay nghiệt với ông, ông muốn xuất trần, rút mình vào một thế giới siêu tưởng, tránh sầu bi? Phải chăng, ông đã vượt ra ngoài vòng vũ trụ, nhìn xuống dương trần với đôi mắt dửng dưng và tìm đến cái thế giới riêng cho ông, thế giới vô hình. (Thi Vũ 1993). Có thể điều này đã giải thích được phần nào những văn thơ huyền bí của ông. Trong thế giới siêu tưởng, Đinh Hùng mâu thuẫn với chính ông, khi hiền thì thật là hiền, nhưng có lúc thì trở nên dữ tợn. Trong cái thế giới tình yêu giả tưởng, lãng mạn và tình tứ ấy, thi sĩ Đinh Hùng đã tìm ra chân lý của mình.

    …“Trong im lặng, tôi rung mình nín thở,

    Cầm tay em, nâng từng ngón tay hoa.

    Tình yêu tràn trong thớ thịt, làn da,

    Tình yêu rợn tự đầu mày chân tóc…”

    (Giáp Mặt Phù Dung)

    Ngược lại, trong bài “bài Ca Man Rợ” ông rất dữ tợn:

    …”Ta về đây, lạ hết các người rồi,

    Lạ tình cảm, lạ đời chung, cách sống.

    Trong bỡ ngỡ duy long còn chút mộng,

    Ta đi tìm người thiếu nữ ngày xưa.

    Nàng không mong, ta đi đến không ngờ,

    Giây phút ấy thực mắt nhìn tận mắt,

    Ta mỉm cười bỗng thấy nàng che mặt

    Ta giơ tay, nàng khiếp sợ lùi xa…”

    (Bài Ca Man Rợ)

    Theo tài liệu Wikipedia, hai thi phẩm nổi bật của Đinh Hùng là Đường Vào Tình Sử và Mê Hồn Ca.  Nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca như sau:  “Đây là loại thơ nói ít hiểu nhiều, thi sĩ Đinh Hùng đã sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mát. Có thể nói là thi sĩ Đinh Hùng chịu ảnh hưởng không ít thì nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire và Rimbaud“.  Thơ của Đinh Hùng nghiêng về tâm linh, siêu hình, bí ẩn và có chiều hướng thoát ly ra khỏi thực tế. 

    …”Khi miếu đường kia phá bỏ rồi 

    Ta đi về những hướng sao rơi 

    Lạc loài theo hướng chân cầm thú 

    Từng vệt dương sa mọc khắp nơi…

    … Rồi những đêm sâu bỗng hiện về 

    Vượn lâm tuyền, khóc rợn trăng khuya

    Đâu đây u uất hồn sơ cổ 

    Từng bước ma rừng theo bước đi”……

                       (Bài Ca Man Rợ)

    Tình yêu trong thơ Đinh Hùng không phải là những cảm xúc bình thường, mà là sự kết hợp của những mê dại nghiêng về tâm linh, huyền bí của thế giới kỳ diệu ái tình, một vũ trụ nhập nhòe giữa thực và ảo, chính là vũ trụ của một biển tình da diết trong thế giới âm dương.

    …“Ta thường có những buổi sầu ghê gớm 

    Ở bên em, ôi biển sắc rừng hương!

    Em rực rỡ như một ngàn hoa sớm 

    Em đến đây như đến tự thiên đường.

                           (Kỳ Nữ)

    “Kỳ Nữ” trong thơ của Đinh Hùng đã đưa chúng ta vào một không gian thần thoại với vẻ kỳ vĩ của trăng sao, của núi rừng. “Kỳ Nữ” với Đinh Hùng giống như nàng Galatae với chàng Pygmalion, nàng đại diện cho lý tưởng, cho cõi mơ, cho sự hoàn hảo mà người nghệ sĩ luôn tưởng đến.

    “Khi sùng bái, ta quỳ nâng nếp áo
    Nhưng cúi đầu trước vẻ ngọc trang nghiêm
    Ta khẩn cầu từng sớm lại từng đêm
    Chưa tội lỗi đã thấy tràn hối hận”

    Khi bài Kỳ Nữ ra đời được nhà thơ Thế Lữ giới thiệu trong truyện Trại Bồ Tùng Linh, đã đưa tên tuổi của thi sĩ Đinh Hùng lên đỉnh cao nhất trong làng thi văn, và khẳng định rằng ông là một thi sĩ tài hoa với thi ngôn và thi từ đầy ma lực, điều này đã được thể hiện rõ rệt trong thi tập Mê Hồn Ca. Tuy nhiên, Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng là thế giới của say mê, hoang sơ man dại, chết chóc,  huyền bí, nhiệm mầu, của tình yêu tha thiết, mãnh liệt và kinh khủng của lứa đôi. 

    Anh sẽ tìm em, chiều nào tận thế
    Khi những sầu thương cất cánh xa bay
    Khi những giận hờn, khi những mê say
    Khi tất cả hiện nguyên hình ảo mộng:
    Giọt lệ hoa niên, cung đàn hoài vọng
    Và những hương thơm tình ái trao duyên
    Những không gian thăm thẳm mắt u huyền
    Những vạt áo bỗng trở màu sông biển

                            (Đường Vào Tình Sử)

    Ngoài những bài thơ huyền bí, thi sĩ Đinh Hùng sáng tác một số bài thơ ca ngợi tình yêu, nhưng khi đọc Kỹ, chúng ta thấy phảng phất lời văn hoang tưởng và xa vời thực tế. Nổi bật trong thể loại thơ này là bài thơ Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng với lời thơ trong sáng, ca tụng tình yêu đôi lứa, được nhạc sĩ Phạm đình Chương góp nhặt, trau chuốt, viết bằng cảm xúc xúc thành nhạc phẩm Mộng dưới hoa.

     …”Chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng 

     Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng 

     Tóc xanh là bóng dừa hoang dại 

     Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    …”Ôi, hoa kề vai hương ngát mái đầu 

    Đêm nằm nghe giấc mộng trôi mau

    Gió ơi, gởi gió lời tâm niệm 

    Và nguyện muôn chiều ta có nhau…”

    (Nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa)                                    

    Tình Tự Dưới Hoa và Xuôi Dòng Ảo Mộng là hai bài thơ trong thi tập Đường vào từng sử, một tập thơ đầy nhạc tính. Trong hai bài thơ trên, Đinh Hùng muốn nói cuộc đời không phải lúc nào cũng là con đường đầy chông gai, tang thương, buồn thảm. Con đường ấy có khi cũng phủ đầy hoa gấm, mộng mị, yêu thương, dù là trong mộng tưởng.

    Nếu bước chân ngà có mỏi
    Xin em dựa sát lòng anh
    Ta đi vào tận rừng xanh
    Vớt cánh rong vàng bên suối

    (Xuôi dòng ảo mộng)

    … ‘Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,

    Nắng trong hoa, với gió bên hồ

    Dành riêng em đấy khi tình tự,

    Ta sẽ đi về những cảnh xưa…”

    (Tự Tình Dưới Hoa)

    Nhà văn Việt Haỉ viết “Mộng dưới hoa của Đinh Hùng và nhạc Phạm Đình Chương như hiểu nhau ở một độ nồng của thơ và một độ cao của nhạc. Thơ, nhạc bay bổng, câu liền câu, ý liền ý đến nỗi nếu không thuộc thơ Đinh Hùng thì nhạc của Phạm Đình Chương sẽ làm ta thuộc thơ Đinh Hùng, những nốt nhạc ấy là một bài thơ trọn vẹn của một thi sĩ”.  Nhà văn Việt Haỉ nhận định: “Nhạc phổ thơ như thế mới nói được hết cái tài hoa của cả thi sĩ lẫn nhạc sĩ”.

    …”Tóc xanh là bóng dừa hoang dại,

    Âu yếm nhìn tôi không nói năng…”

    Trong bốn câu thơ dưới đây diễn tả một khoảnh khắc thời gian như dừng lại cho cặp tình nhân gặp nhau trong mộng.

    …”Nếu bước chân ngà có mỏi

    Xin em dựa sát long anh

    Ta đi vào tận rừ xanh

    Vớt cánh rong vàng bên suối…”

    Trong câu: Ta đưa nhau vào tận rừng xanh, vớt cánh rong vàng bên suối.

    “Cánh rong vàng” tượng trưng cho một hạnh phúc mong manh. Hỏi ai có

    vớt được “cánh rong vàng”? hay đó chỉ là trong giấc mộng thôi.

    …“Bước khẽ cho long nói nhỏ

    Bao nhiêu mộng ước phù du

    Ta xây thành mộng nghìn thu

    Núi biếc song dài ghi nhớ.

    Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề

    Mây hồng giăng tám ngả sơn khê

    Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng

    Và mộng em cười như giấc mê…”

    Theo Võ Tấn Cường nhận định về thơ của thi si Đinh Hùng: “Đinh Hùng – một hồn thơ kỳ ảo với vũ trụ thơ thuần khiết, song hành với thực tại là hiện tượng thi ca đầy phức tạp và bí ẩn.  Số phận cuộc đời của Đinh Hùng và thi ca của ông chịu nhiều oan trái, bị chìm khuất dưới những dòng xoáy của thời cuộc cùng với những định kiến và quan niệm hẹp hòi về nghệ thuật” … Theo tôi, cái đẹp trong thơ Đinh Hùng huyền ảo, mầu nhiệm và gợn sắc màu sử thi như trong các bản trường ca Iliat và Ôđixê của  Hôme dưới thời kỳ lịch sử Hi Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ IX TCN (vì trạng thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Hi Lạp trong giai đoạn này được phản ánh rõ nét trong 2 tập sử thi Iliát và Ôđixê, tương truyền là sáng tác của nhà thơ Hôme ở Tiểu Á. (Nguồn: https://bienniensu.com/thegioi/lich-su-hi-lap-thoi-ky-home/). Cái đẹp trong thơ Đinh Hùng mang bóng dáng và tinh thần nhân đạo của hình tượng người anh Hùng sử thi:

    …“Ta lảo đảo vùng đứng lên cười ngất

    Ghì chặt nàng cho chết giữa mê ly

    Rồi dày xéo lên song núi đô kỳ

    Bên thành quách ta ra tay tàn phá…”

                         (Bài ca man rợ)

    Dưới ánh mắt của Đinh Hùng cái đẹp là một thế giới đầy cám dỗ, huyền ảo, nhiệm màu và siêu thoát, ông tôn thờ tình yêu và xem nó như một thứ tôn giáo, ông đặt sắc đẹp lên ngôi, xem nó là một thứ quyền năng chi phối tâm linh, sự sống và sự chết, nó ảo hóa với muôn sắc thái và ma mị nên dễ gây ấn tượng rờn rợn khi ta được nghe hay đọc nó.

    …“Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác

    Ta vẫn gần – ôi sắc đẹp yêu ma

    Lúc cuồng si nguyền rủa cả đàn bà

    Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết

    Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết

    Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn

    Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn…”

                      (Kỳ Nữ)

    Thơ tình yêu của Đinh Hùng vượt qua nỗi khát khao dâng hiến, hướng về thế giới tâm linh huyền bí, siêu hình của tôn giáo, sự linh thiêng của cõi vô hình đã phủ lên thế giới tâm linh, hư ảo, huyễn hoặc trong thơ của ông qua vẻ đẹp lung linh, huyền bí trong thơ của Đinh Hùng:

    …“Ta hát bài kinh, thoảng dã hương

    Từng đêm chiêu niệm bắt hồn nàng

    Lời ra cửa biển tìm sao rụng

    Rỏ xuống mộ em giọt lệ thương…”                    
    Cái gì đã đưa Đinh Hùng đến với ám ảnh về cái chết, về bóng ma? Trong đời sống tôn giáo tâm linh, quan trọng nhất là đời sống sau khi chết, là đời sống thực của linh hồn. Linh hồn con người thoát khỏi thể xác và khám phá thế giới cõi âm. Điều này được ghi lại trong các thư tịch của Tây Tạng, Ai Cập, Trung Quốc và báo chí phương Tây. Trong cơn hấp hối, trong trạng thái mơ màng, con người tiếp xúc với thế giới âm, gặp gỡ những linh hồn của người lạ hoặc người quen trong quá khứ. Krishnamurti, một bậc thầy tâm linh đương đại nổi tiếng được sự kính ngưỡng của cả giới tôn giáo và giới khoa học thế kỷ 20, cũng đã thường xuyên có trải nghiệm này. Trong những biến đổi mãnh liệt nhất về tâm linh, khi ở giữa ý thức và vô ý thức, ông nhìn thấy bóng ma người mẹ quá cố của mình cùng với nhiều linh hồn của các bậc chứng ngộ khác. Ở trường hợp Đinh Hùng, nhà thơ đã trải nghiệm sự việc này khi mơ màng trong màu sương khói của mây mù thuốc phiện:
    “Từng đêm tôi nguyện tôi cầu
    Đấy màu hương khói là màu mắt xưa”

                       (Gửi người dưới mộ)

    Này Biển Giác: mây trời nghiêng nét mặt
    cây Từ Bi hiện đóa Ác Hoa đầu

                        (Tìm bóng tử thần)
    Ta hằng nghe rõ
    tiếng buồn trong sương
    hằng thấy trên tường
    hình ma bóng nhớ
    chỗ em ngồi cũ
    lên màu khói hương
    (Màu sương linh giác)
    Và chính Đinh Hùng cũng thừa nhận đó là một trạng thái mộng mị, tức là cõi ảo dưới con mắt người thường, có điều trong cõi ảo ấy, tất cả đều rất thật, rất đắm say, tới mức muốn vứt bỏ cả xác trần:

    “đôi ta vào hội oan hồn
    âm dương tái hợp –
    ồ! đây là cuộc tân hôn dị kỳ
    nguyệt hoa mặc áo huyền vi
    màu nghê thường đó – trời ơi! xiêm y biến hình
    tôi van lơn bầy nhạc nữ đồng trinh
    đừng cao giọng hát – hồn các em lạc tinh anh bốn trời!
    đừng cho thể chất phục hồi
    đừng cho tôi khóc, tôi cười vì điên!”

                                            (“Cầu hồn”)
    Tóm lại, phân tích về thế giới thi ca cũa Đinh Hùng tùy thuộc vào cái nhìn của từng cá nhân, dù rằng nó có thể hoàn toàn khác với mọi người. Đôi lúc, người ta cho rằng nhận định của chúng ta là hoang tưởng, nhưng một khi đã bước vào cõi hư ảo, dù theo cách này hay cách khác, tức là đã từng trải nghiệm đời sống linh hồn, thì khó có thể nhìn vạn sự bằng nhãn quan của thế giới hữu hình. Theo người viết, “thơ Đinh Hùng là một thế giới mang đầy mê cung kỳ ảo” và vẫn còn trong sự huyền bí chờ đợi sự giải bày của những khối óc quan tâm đến vận mệnh thi ca của dân tộc. 

    VŨ HOÀNG CHƯƠNG

    VŨ HOÀNG CHƯƠNG-(1915-1976)

    Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
    Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
    Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

    Trong một sự tình cờ, ngày 03 tháng 11 năm 2024 người viết đã gởi đến quý độc giả một hồi ký với tựa đề “Sinh Lầm Thế Kỷ”, một câu chuyện chân thực về cuộc sống ở Việt Nam sau năm 1975. Tác phẩm kể về một người Việt xa xứ, hồi tưởng lại những ký ức đau thương về chiến tranh và nỗi khổ đau của những người ở lại cũng như những nạn nhân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm tự do. Tưởng cũng xin giải thích rõ là tại sao người viết lại cho đó là một sự tình cờ? Xin thưa: Lúc chọn tựa đề cho quyển hồi ký “Sinh Lầm Thế Kỷ” người viết không hề biết thi nhân Vũ Hoàng Chương đã sáng tác bài thơ Phương Xa mà trong ấy cũng có câu “đầu thai lầm thế kỷ”.

    Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
    Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
    Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
    Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

    Dưới đây người viết xin lướt qua về:

    TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

    Vũ Hoàng Chương sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng (xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Văn phong của ông được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương. Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh–Na Sầm.

    Năm 1941, ông bỏ Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, hồi cư về Hà Nội dạy văn cho đến 1975.

    Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam ở Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học ở các trường trung học và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Năm 1959 ông đoạt “Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc” của Việt Nam Cộng hòa với tập thơ Hoa đăng. Trong năm này ông sang Âu châu tham dự Hội nghị Thi ca Quốc tế tại Bỉ. Năm 1964 ông tham dự Hội nghị Văn bút Á châu họp tại Bangkok; năm 1965 tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Bled, Nam Tư. Năm 1967, ông tham dự Hội nghị Văn bút Quốc tế họp tại Abidjan, thủ đô Côte d’Ivoire.

    Thời gian 1969-1973 Vũ Hoàng Chương là Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam. Năm 1972 ông đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc lần thứ hai, lúc này tên tuổi của ông nổi bật trong phong trào Thơ Mới (1932-1945) và được gọi “Thi Bá Vũ Hoàng Chương”. Năm 1972, Vũ Hoàng Chương trong danh sách 100 tác giả được đề cử giải Nobel Văn Chương (The Nobel Prize in Literature), sự kiện này chỉ được Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố ngày 11 tháng 02 năm 2023. (vì theo quy định thì sau 50 năm kể từ khi trao giải, Viện Hàn lâm Thụy Điển mới công bố danh sách những người được đề cử Giải Nobel văn học của năm đó). Giải Nobel năm 1972 được trao cho cho nhà thơ Heinrich Böll của Đức, (Heinrich Böll đã từng được đề cử liên tục từ năm 1960 và mãi đến năm 1972 mới đoạt được giải).

    Ngày 13 tháng 4 năm 1976, bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Theo Nhà văn Mai Thảo… Buổi sáng ngày 13 tháng 4 năm 1976 (theo lời chị Vũ Hoàng Chương thuật lại. Bốn chiếc Jeep đến từ phía Sài Gòn, chở đầy an ninh áo vàng mang súng ống, phóng thẳng tới phường Cây Bàng và ngừng lại trước con ngõ nhỏ dẫn vào căn gác của gia đình Vũ Hoàng Chương (Gác Bút). Khoảng 20 công an, nhẩy xuống xe, xô cửa ập vào đánh thức thi sĩ khỏi giấc ngủ chập chờn. Vũ Hoàng Chương gắng gượng ngồi dậy, lấy áo gấm mặc vào người, ngồi thật thẳng giữa chiếu, bất động, chờ đợi… Ông không kinh hãi, không phẫn nộ, không bất ngờ, cũng chẳng ngạc nhiên. Ông ngồi thẳng, mắt nhắm lại… Suốt thời gian này, thi sĩ không nói một lời nào khi ông nghe bản cáo trạng và lệnh bắt giữ, ông chỉ nhún vai rồi ngồi yên như cũ. Lý do bị bắt là phản động, làm thơ chống phá cách mạng phổ biến khắp Sài Gòn những bài thơ chống phá chế độ. Sau cuộc lục soát xong và tịch thu sách và bản thảo, hai công an xốc nách thi sĩ đứng lên, kèm ông xuống cầu thang và đưa thẳng ông vào khám lớn Chí Hòa…

    … Hơn 4 tháng nằm trong ngục tối, không ai có tin tức của Vũ Hoàng Chương, ông được thả về khi trở bệnh nặng trong tù. Trở về Gác Bút, thể chất trút thoát dần dần những tinh khí cuối cùng, nhưng thần trí của ông vẫn minh mẫn sáng suốt. Điều tuyệt đối là ông không nói một lời nào về bốn tháng bị giam trong Chí Hòa. Ngày thứ hai của năm ngày chót ông mê đi. Buổi chiều ngày thứ ba, ông quằn quại trong đau đớn và ngày thứ năm, ngày 17 tháng 9, 1976, thì ông mất tại Sài Gòn. Năm 1986, mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp.

    Dưới đây là bài thơ cuối cùng của Vũ Hoàng Chương làm trong Khám Chí Hòa năm 1976:

    Thấm thoắt vào đây tháng đã tròn,
    Lông hồng gieo xuống nhẹ như non.
    Một manh chiếu nát, thân tơi tả,
    Nửa bát cơm hôi, xác mỏi mòn.
    Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ,
    Đêm về giấc ngủ lại thương con.
    Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa,
    Hồ dễ gì phai được tấc son!”

    Vũ Hoàng Chương có nhiều sáng tác để đời, được giới phê bình văn học đánh giá cao, và từng được xưng tụng là “Ngôi sao Bắc Ðẩu” của thi ca Việt Nam. 1975:

    Hơn bốn thập niên sau, thi ca Vũ Hoàng Chương không còn đề cập ở trong nước, một đời thơ của ông bị lãng quân, chôn vùi theo thân xác. Và ngay cả trong những tác phẩm đề cập đến những áng thơ hay trong Thi Ca Việt Nam cũng “quên” nhắc đến dòng thơ thi bá Vũ Hoàng Chương. (Vương Trùng Dương)

    NHẬN ĐỊNH VỀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG & THI CA

    Dựa theo tài liệu trên Internet, đã có rất nhiều bài bình luận nhận định về sự nghiệp văn chương & thi phú của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Họ cho rằng: Văn phong và phong cách của thi nhân được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc và chứa đựng sắc thái Đông phương. Vũ Hoàng Chương làm thơ rất sớm khi ông mới 25 tuổi (1940) và đã cho xuất bản rất nhiều thi tập.

    Tháng 10, 1936 ông xuất bản tập Die Achtundzwanzig Sterne, thơ dịch ra Đức ngữ, do nhà Hoffmann Und Campe, tỉnh Hamburg, Đức. Dịch giả là thi sĩ Áo Kosmas Ziegler. Trước 1945, ông có hai thi phẩm nổi tiếng vào thời tiền chiến là Thơ Say (1940) và Mây (1943). Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam đã nhận xét: “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Đông Á: cái nghiệp say nhưng “say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc”.

    Tập thơ đầu tay Thơ say gồm 32 bài thơ do tác giả tự xuất bản, nhà in Cộng Lực ấn loát và phát hành. Năm 1971, NXB Nguyễn Đình Vượng tái bản tập Thơ Say tại Sài Gòn, tập thơ chia làm nhiều phần như: Say, Mùa, Yêu, Cưới, Lỡ Làng, Lại Say. Bài thơ Say đi em, Phương xa, Chén rượu đôi đường, Mùa thu đã về và Quên là những bài thơ được nhiều người đọc và yêu thích nhất. Năm 1960, tại Sài Gòn Vũ Hoàng Chương tự tái bản 2 tập thơ Say gồm32 bài thơ và Mây gồm 25 bài thơ, in chung vào 1 tập mang tên Mây, Sài Gòn 1960. Người viết xin trích dẫn vài đoạn tiêu biểu:

    …“Say đi em! Say đi em!
     Say cho lơi lả ánh đèn,
    Cho cung bực ngả nghiêng

    Cho điên rồ xác thịt
    Rượu, rượu nữa!

    Và quên quên hết!
    Ta quá say rồi
    Sắc ngả mầu trôi…

                (Say đi em-1940)

    Và lại say nữa để mà quên.

    Đã hẹn với Em rồi, không tưởng tiếc
    Quãng đời xưa, không than khóc gì đâu!
    Hãy buông lại gần đây làn tóc biếc,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi nâu.

    Hãy buông lại gần đây làn tóc rối,
    Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên.
    Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,
    Đưa hồn say về tận cuối trời Quên.

                                    (Quên-1947)

    Năm 1948, Vũ Hoàng Chương xuất bản tập Thơ Lửa cùng với Đoàn Văn Cừ tại Thái Nguyên do cơ quan Kháng chiến Liên khu 3 đảm trách. Năm 1959, khi Vũ Hoàng Chương Tham dự Hội Nghị Thi Ca Quốc Tế, gặp gỡ nhà thơ nữ Ysabel Baes mới 15 tuổi đã có một thi tập được được Maison du Poète tại thủ đô Bruxelles xuất bản năm 1959. Bài thơ Công Chúa Mười Lăm, dài với 40 phân đoạn, mỗi đoạn 4 câu thơ thất ngôn. Toàn bài có 160 câu. Bài thơ “Công Chúa Mười Lăm” của Vũ Hoàng Chương tặng YSA không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là một hành trình vươn tới cái đẹp vĩnh hằng, là hình ảnh của một tình yêu và nghệ thuật. Tình yêu ấy là hành trình, là những cảm xúc, những giấc mơ và những hy vọng. Mối quan hệ giữa người thi sĩ và Công Chúa Mười Lăm là sự giao thoa giữa hai thế giới: thế giới của “thơ” và thế giới của “mộng”.

    Công Chúa Mười Lăm, nàng ở đâu?
    Tìm nàng, thôi đã nát Âu châu
    Ba Lê, Nhã Điển hay La Mã
    Đâu cũng rêu in lệnh Miễn Chầu…

    …Đê mê nhịp thở phút huyền ngưng
    Đôi lứa chìm sâu đáy Tượng trưng
    Ta nhủ: “Kìa em! Thơ mở lối
    Còn sâu hơn cả trái tim Rừng!”…

    Trong thời gian từ năm 1962 trở đi, Vũ Hoàng Chương đã cho xuất bản nhiều thi tập và tùy bút tại Sài Gòn gồm: Rừng Phong. 1970: Ta Đợi Em Từ Ba Mươi Năm, Tân Thi, Loạn Trung Bút, Ngồi Quán, Tâm sự phố phường, Tuổi Xanh, Ba Kiếp Lang Thang,Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai, Lửa Thiêng (Phần I: Tuổi học trò, 17 bài thơ đầu tay 1936-1939), Ánh Trăng Đạo, Tập Bút Nở Hoa Đàm, Nhị Thập Bát Tú I & Tập II, Cành Mai Trắng Mộng. Đáng kể nhất là năm 1962, tập thơ Trời Một Phương trong đó có bài thơ Lửa Từ Bi ca ngợi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào tháng 07, do nhóm Thanh Tăng xuất bản vào tháng 12, 1962. Bài thơ Lửa Từ Bi Kính dâng lên BỒ-TÁT QUẢNG-ĐỨC đã được Hà Lan Phương và Nguyễn Hải phổ nhạc.

    Lửa! Lửa cháy ngất Toà Sen!
    Tám chín phương nhục thể trần tâm
    hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.
    Hai Vầng Sáng rưng rưng
    Đông Tây nhoà lệ ngọc
    Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,
    Ánh Đạo Vàng phơi phới
     đang bừng lên, dâng lên…

    1974: Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau, NXB Rừng Trúc, Paris; Theo ông Hoàng Tấn, nhà thơ Vũ Hoàng Chương làm bài thơ “Chúng Ta Mất Hết Chỉ Còn Nhau” tặng nghệ nhân Quách Thị Hồ, người hát ca trù hay nhất Việtnam (danh hiệu NSND), xưa từng là bạn cố tri của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Hát ca trù cần có “đàn đáy”, do đó nội dung bài thơ sau đây đầy ắp những từ hát cô đầu, âm thanh vang tiếng “sênh, đàn, phách”.

    … Chúng ta mất hết cả rồi sao?

    Cả đến âm thanh một thuở nào!

    Da trống tơ đàn ôi trúc phách

    Đều khổ như khúc hát gầy hao

    Đàn mang tiếng đáy mà không đáy

    Mất hết rồi sao sợi nhớ thương

    Tay phách từ lâu nay lạc phách

    Không còn đựng mãi bến Tầm Dương…

    Bài Vịnh Tranh Gà Lợn của nhà thơ Vũ Hoàng Chương mà tác giả đã viết vào mùa xuân Bính Thìn (1976), cái tết cuối cùng của một đời thi bá.

    Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,

    Gà lợn, om sòm rối bức tranh.

    Rằng vách có tai, thơ có hoạ,

    Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.

    Mắt gà huynh đệ bao lần quáng,

    Lòng lợn âm dương một tấc thành.

    Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn,

    Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.

    Ngoài ra Vũ Hoàng Chương còn có một số tác phẩm được dịch qua Anh ngữ và Pháp ngữ như tập thơ Cảm Thông (nhan đề Anh ngữ là Communion); gồm 6 bài thơ mới sáng tác sau cuộc Âu du và 9 bài cũ lựa chọn lấy tính cách tiêu biểu; do Nguyễn Khang phiên dịch và xuất bản. Tập thơ Tâm Tình Người Đẹp (nhan đề Pháp ngữ là Les 28 Etoiles); gồm 42 bài thơ Nhị thập bát cú, kèm theo bản dịch của nữ thi sĩ Bỉ Simone Kuhnen de La Coeuillerie; Nguyễn Khang. Năm 1963, xuất bản tập Thi Tuyển (nhan đề Pháp ngữ là Poemes Choisis) kèm theo bản dịch của Simone Kuhnen de la Coeuillerie: do nhà xuất bản Nguyễn Khang vào tháng 03, 1963. Vũ Hoàng Chương đã dịch nhiều thơ chữ Hán từ nhiều tác gia Việt Nam và Trung quốc, khoảng 100 bài.

    Dưới đây là những bài thơ Vũ Hoàng Chương viết trong tập thơ Hoa đăng. Bài thơ Trả ta sông núi cho chúng ta cảm nhận tấm lòng yêu nước của con người dân Việt. Những bài thơ trong tập thơ Hoa Đăng rất dài nên người viết chỉ xin trích vài đoạn trong một số bài thơ của ông mà thôi.


    …Trả ta sông núi từng trang sử
    Dân tộc còn nghe vọng thiết tha
    Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
    Không đòi, ai trả núi sông ta…


    …Trả ta sông núi! câu hùng tráng
    Là súng là gươm giữ đất đai

    Trông lên cao ngất phương trời
    Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc cờ.

    Bài thơ Đời Vắng Em Rồi của Vũ Hoàng Chương sau được đổi thành Đời Vắng Em Rồi Say Với Ai. Tên này sau cũng được ông dùng đặt cho một tập thơ khác.

    Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu,
    Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu.
    Thôi rồi, tay nắm tay lần cuối,
    Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau.

    Gặp gỡ chừng như truyện Liểu Trai.
    Ra đi chẳng hứa một ngày mai.
    Em ơi! lửa tắt, bình khô rượu,
    Đời vắng em rồi, say với ai?
                                                 

    Yêu Mà Chẳng Biết là một trong những bài thơ mang tính thơ lãng mạng.

    Lâu rồi không nhớ bao nhiêu năm,
    Từ độ trông nhau hết lạ lùng,
    Từ hôm bên nhau thôi ngượng ngùng,
    Từ buổi xa nhau mà nhớ nhung.
    Em đã nao lòng, anh mê man!
    Đuôi mắt đầu môi tình chứa chan,
    Đêm thường mơ đêm, ngày đợi ngày.
    Nhưng không hề nói cho nhau hay.

    Bài thơ Giận Hờn là những cay đắng nhưng là bài thơ đặc biệt cho ta cảm giác nhẹ nhàng Của những điệp khúc tình yêu.

    Em đến hôm nào như hoa bay.

    Tình không độc dược mà đắng cay

    Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt

    Mùi hương sát nhân từng ngón tay

    Hay trong bài thơ Hờn Dỗi:

    … Anh vẫn nghe tiếng khóc

    Trong vạt áo len hồng.

    Anh vẫn nghe tiếng nấc.

    Dồn dập trên cgối nhung

    Sao em khóc vì đâu hờn dỗi

    Em buồn có phải lỗi anh không

    Hỏi em em chẳng nói

    Mặc anh xô cửa phòng…

    Một bài thơ Tình si.

    Vì ai làm một bài thơ
    Từ bao giờ đến bây giờ mới xong.

    Đầu trang vằng vặc gương trong
    Nhạc lơi cánh bướm hương phong nụ đào
    Cuối trang vần điệu xôn xao
    Lửa si mê bỗng cháy vào làn môi…
    Đền nhau một chiếc hôn rồi
    Mười lăm năm biết có nguôi giận hờn?…

    Cuối năm 1949, khi hai gia đình đang ở vùng Đống Năm, Thái Bình. Quân Pháp tràn tới, Việt Minh rút chạy. Hai gia đình Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng cũng chạy từ làng nọ tới làng kia. Cuối tháng 8 năm 1954, gia đình Vũ Hoàng Chương và gia đình thi sĩ Đinh Hùng di cư vào miền Nam, hai người thuê một căn nhà lợp tôn, vách ván tại xóm Hòa Hưng. Vũ Hoàng Chương cùng vợ ở trên gác, dưới nhà là tổ ấm của gia đình Đinh Hùng. Đất khách quê người, hai thi nhân sống trong cảnh thiếu thốn, nghèo túng, họ tạm gác bút. Chán nản, họ vướng vào con đường nghiện hút (thuốc phiện). Lý tưởng tàn lụi, Vũ Hoàng Chương đã gởi niềm tâm sự vào trang giấy: Bài thơ Lý Tưởng.

    …Chàng họa sĩ hôm nay vừa ném bút.

    Bởi vì mơ và thực chẳng đi đôi.

    Nét hư Huyền thấp thoáng ở hồn thôi.

    Tài non kém chẳng đem vào lụa được…

    …Nhạc sĩ với thi nhân đều thế cả

    Dứt hết dây vò nát mấy mươi trang

    Xấu xa trong vần điệu ý huy hoàng

    Sai lạc nữa lúc phổ vào cung bậc…

    …Hồn nghệ sĩ vốn từ xưa nông nổi.

    Yêu thiết tha nhưng chẳng chịu thầm yêu.

    Kiếm hoài công bày giải ý cao siêu.

    Bằng gỗ lụa trơ trơ bằng thép rắn…

    NHẬN ĐỊNH VỀ LÃNH VỰC KỊCH NGHỆ

    Vũ Hoàng Chương đã xuất bản nhiều tập kịch thơ, 3 vở đầu tiên là Vân Muội, Trương Chi, Hồng Diệp trong năm 1944, NXB Anh Hoa, Hà Nội. Tại Sài Gòn năm 1960, NXB Nguyễn Đình Vượng lại cho tái bản ba kịch bản này. Kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần, NXB Lửa Thiêng tại Sài Gòn cho ấn hành lần đầu năm 1951 và tái xuất bản năm 1961 ngay sau Cách mạng tháng 8. Năm 1946, Vũ Hoàng Chương tản cư về vùng duyên hải Nam Định (Khu Ba) nhưng đến năm 1950, ông cư về Hà nội để chuẩn bị cho diễn vở kịch thơ Tâm Sự Kẻ Sang Tần năm 1951. Năm 1952, trinh diễn vở kịch thơ Thằng Cuội và năm 1953 ông cho đăng báo kịch thơ Cô Gái Ma.

    Tác phẩm Vân muội: Theo tác giả Phương Nghi, Vũ Hoàng Chương khi còn đang dạy học tại Hải Phòng và vào dịp rằm tháng bảy, ông cùng nhà thơ Đỗ Huy Nhiệm, Lê Trọng Quỹ và Thế Lữ cùng đi nghe hát quan họ ở Kinh Bắc. Vũ Hoàng Chương đã từng làm xếp ga Bắc Ninh và có người yêu tên là Vân ở làng Dương Ổ. Vân chính là nàng thơ để Vũ Hoàng Chương viết kịch thơ “Vân muội” và ra tập thơ “Mây” năm 1943. Năm 1942, Vũ Hoàng Chương định lên thăm “nàng thơ”, nhưng khi đến ga Đầu Cầu thì gặp Tô Hoài và Nguyễn Bính và họ rủ nhau cùng đi lên Bắc Giang ghé thăm nhà thơ Bàng Bá Lân. Ba ông dự định khi gặp Bàng Bá Lân, họ sẽ rủ nhau di xem hát ả đào. Nhưng Bàng Bá Lân vốn tính tình hiền lành hiền việc đi xem hát ả dào đành phải bỏ và họ quyết định cùng nhau họa thơ.

    Duyên nợ không thành, Vũ Hoàng Chương phải chia tay “nàng thơ” xứ Quan Họ bởi vì nàng đã được gia đình gả chồng từ năm 12 tuổi. Kịch thơ “Vân muội” và tập thơ “Mây” ra đời là kết quả của cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa Huy Cận và Vũ Hoàng Chương ở Hàng Lược. Vừa gặp nhau, Huy Cận đã ngẫu hứng đọc hai câu lục bát: 

    “Đã lên gặp lại chàng sa.

    Lửa thiêng xin đốt chờ Mây xuống trần”.

    Nghe xong, Vũ Hoàng Chương đối lại:

    “Mây kia chẳng chịu xuống trần.

    Lửa ơi! Theo khói lên gần với mây”. 

    KẾT LUẬN:

    Trong thế giới thi ca đã có những bài thơ nổi tiếng đã thu hút nhiền độc giả yêu thơ với những áng thơ nhẹ nhàng và tinh khiết như của Hồ dzếnh, Quang Dũng; những vần thơ tình tứ, lãng mạn như của Xuân Diệu, Nguyễn Bính; hay những lời thơ triết lý cao siêu của Cao Tiêu, Tô Đông Pha; cũng như những ý thơ nặng chất tuyệt vọng, cay đắng, khổ đau của TTKH, Hàn Mạc Tử… Nhưng chúng ta phải công nhận rằng, đọc thơ của Thi Nhân Đinh Hùng, chúng ta như bị lôi cuốn vào những vần thơ huyền bí của ông, những vần thơ khi thi biểu hiện lời êm ái, mộng mị, yêu thương lúc lại chen lẫn những vẻ liêu trai, ma quái và kinh dị. Và khi thưởng thức dòng thơ của Vũ Hoàng Chương chúng ta cảm nhận được hương vị đắng cay, bất mãn chen lẫn sự khinh miệt, chán chường của một nhân tài sống trong xã hội bất công.

    Đinh hùng không chỉ là nhà thơ lớn của dân tộc mà còn là một nghệ sĩ đa tài đích thực trên cả lĩnh vực âm nhạc và hội họa. 47 năm của cuộc đời trên 20 tác phẩm với nhiều thể loại từ thơ ca văn xuôi tiểu thuyết ký và phê bình văn học. Đám ma tôi là thi tập đầu của ông và thi tập cuối là Tiếng ca bộ lạc, nhưng hai thi tập Mê hồn Ca và Đường vào tỉnh sử mới thực sự làm nên tên tuổi của người nghệ sĩ tài năng Đinh Hùng. Cho đến nay thơ của Đinh Hùng vẫn còn trong vòng bí ẩn như con người của ông, một con người gặp quá nhiều oan trái và hình như cái Định mệnh khất khe, nghiệt ngã luôn buộc chặt vào cuộc đời của ông.

    Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn với những tác phẩm nổi tiếng đi vào lòng người, ông có nhiều tập thơ nổi tiếng và được yêu thích, trong đó phải kể đến tập thơ Hoa Đăng do Văn Hữu Á Châu xuất bản tại Sài Gòn năm 1959. Đây là một tập thơ được đánh giá cao và đã nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc về thi ca. Hai tập Thơ Say và Mây in chung vào một tập mang tên Mây là những tác phẩm đã làm nên tên tuổi của ông. Tiếc thay, thời cuộc đảo điên, nhà thay chủ đã đưa người nghệ sĩ tài hoa Vũ Hoàng Chương đi vào con đường tuyệt vọng. (Tạp Chí Văn Nghệ.)

    Sau bao năm vắng bóng trên thi đàn thơ nhạc của dân tộc Việt, nhưng dư âm và danh tiếng của hai thi nhân Đinh Hùng & Vũ Hoàng chương vẫn sống mãi trong lòng độc giả yêu thơ.

    Khánh Lan, tháng 4, 2025

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Tạp chí Văn Học, Sài Gòn, số 97, 1969.
    • Tạp chí Văn, Sài Gòn, số 150, 3/1970.
    • Lê Huy Oanh, Giai Phẩm Văn, Sài Gòn, 20/8/1974.
    • Phan Xuân Sanh. Tạp chí Đại Học, số 9, 1959, Huế.
    • Đoàn Thêm, Báo Văn Hóa Nguyệt san, Sài Gòn, 1964. 
    • Tạ Tỵ, Mười gương mặt văn nghệ, nxb Kim Lai, 1970 Sài Gòn.
    • Bàng Bá Lân : Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại, 1962, Sài Gòn.
    • Mai Thảo, Chân dung 15 nhà văn nhà thơ, Văn Khoa, 1985 California.
    • Võ Phiến, Văn Học Miền Nam, Thơ, nxb Văn nghệ, 1999 California.
    • Đỗ lai Thúy, Con Mắt thơ, nxb Lao Động, 1992, Hà Nội.
    • Chế lan Viên, Phê bình văn học, nxb Văn Học, 1962, Hà Nội.
    • Đặng Tiến, Từ điển văn học, tạp chí Thế Kỷ 21, 6/2005, California
  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    UYÊN ƯƠNG GÃY CÁNH (The Broken Wings)

    Khánh Lan sưu tập

    Kahlil Gibran là tác giả của tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh hay The Broken Wings, ông là thi sĩ có số lượng độc giả đông nhất trong thế kỷ 20, những tác phẩm của ông bán chạy và xếp hàng thứ ba trong mọi thời đại, sau Shakespeare và Lão Tử. Ký họa và tranh màu của ông được triển lãm ở nhiều nơi trên thế giới. Về mặt triết học, ông được xem như một triết gia đại chúng và là điểm hội tụ của tư tưởng Đông-Tây.

    Tác phẩm của Gibran là những nguồn tư tưởng của Kitô giáo nhuốm màu sắc đông phương bí nhiệm bởi ông là con người tôn giáo kiên định với lòng mộ đạo sâu xa, ông kính ngưỡng Đức Giêsu như một tấm gương dũng cảm và hy sinh, nhân ái và lạc quan. Ông tin rằng lòng tử tế trong con người là chiếc bóng của Thượng đế, ông tin vào sự hiệp nhất của các tôn giáo. Ông kêu gọi xóa bỏ bản tính ngược đãi và lạm dụng tôn giáo thể hiện rõ trong cuốn Đám rước, ông viế :

    “Đối với con người, tôn giáo giống như cánh đồng,

    được gieo trồng với hy vọng, được canh tác bởi lòng ngoan đạo,

    được chăm sóc bởi trí óc mông muội sợ lửa hỏa ngục.”

    Do đó, ta có thể cho rằng : Văn chương của Gibran viết theo thể điệu và kiểu mẫu Kinh thánh, đặc biệt giống như sách của các ngôn sứ và Thánh vịnh trộn lẫn giữa thơ và văn xuôi. Trong các tác phẩm của Gibran, ông kịch liệt lên án những thảm họa của đất nước, những dịch bệnh khô kiệt tinh thần và gieo khốn khó vật chất trên quê hương của ông, ông hăm dọa toàn thể loài người đã gây nên tội ác. Một thứ kiến thức pha trộn cái đẹp và lòng mộ đạo mà về sau ông được biết tới như là trường phái Gibran (Gibranism).

    TÓM LƯỢC CÂU CHUYỆN UYÊN ƯƠNG GẪY CÁNH

    Trong tiểu thuyết thơUyên Ương Gẫy Cánh (The Broken Wings), Kahlil Gibran đưa độc giả vào hành trình qua tình yêu, sự mất mát và sự thức tỉnh tâm linh. Lấy bối cảnh ở Lebanon vào đầu thế kỷ 20, câu chuyện vượt thời gian này khám phá sự phức tạp của các mối quan hệ giữa con người và hành trình tìm kiếm sự viên mãn đích thực. Đây là một câu chuyện tình bi thảm kể về cuộc đời của một họa sĩ trẻ tên là Khalil. Tiểu thuyết lấy bối cảnh ở Beirut, Lebanon, vào đầu những năm 1900 khi đất nước này nằm dưới sự cai trị của Ottoman. Khalil đem lòng yêu một cô gái trẻ tên là Selma Karamy, người có vẻ đẹp quyến rũ anh ngay từ cái nhìn đầu tiên. Khalil và Selma đã phải vượt qua những thách thức của tình yêu, bị cấm đoán, bị ràng buộc bởi kỳ vọng của xã hội và nghĩa vụ gia đình. Dù bất chấp mọi khó khăn, họ vẫn cố gắng giữ cho tình yêu của mình luôn tươi đẹp, nhưng số phận đã an bài cho họ một hoàn cảnh của “đôi uyên ương gẫy cánh”.

    Trong đó tình yêu và sự hy sinh mà con người thực hiện vì tình yêu đã thể hiệm qua mối tình yêu đích thực của Khalil và Selma, họ đã trải qua bao thử thách bởi các chuẩn mực xã hội, kỳ vọng của gia đình và sự khác biệt về tôn giáo. Cả hai đều phải đối mặt với những quyết định khó khăn và phải lựa chọn giữa tình yêu và nghĩa vụ của mình. Cuốn tiểu thuyết cũng đi sâu vào chủ đề tự do và áp bức, đặc biệt là trong bối cảnh Lebanon dưới sự cai trị của Ottoman. Trong tác phẩm The Broken Wings, cái mong muốn tự do cá nhân và nghệ thuật của Khalil bị xung đột với những ràng buộc do xã hội và sự áp đạt của gia đình Khalil. Tâm linh và sự thức tỉnh của Khalil trong “The Broken Wings” không chỉ là một câu chuyện tình yêu mà còn là sự thức tỉnh về mặt tâm linh. Qua những đấu tranh và đau khổ, Khalil bắt đầu đặt câu hỏi về bản chất của tình yêu, ý nghĩa của cuộc sống và sự tồn tại của một thế lực cao hơn.

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Ước, người đã dịch cuốn Uyên Ương Gãy Cánh chia sẻ: Với những trang sách chan chứa tình người, tràn ngập hình ảnh thơ mộng, sóng sánh chất thơ và bát ngát hương vị cảm xúc, Uyên ương gãy cánh mang tình yêu xuống chiều sâu thẳm tận đáy hồn người với những lý luận ngọt ngào của trái tim, và nâng tình yêu lên độ cao nhất, bất diệt với thực tại siêu việt. Từ đó, người đang yêu đọc nó và mỗi sớm mai “Được thức dậy lúc rạng đông với con tim chắp cánh, đưa lời cảm tạ vì có thêm một ngày yêu thương nữa.”

    Uyên Ương Gãy Cánh được xếp vào loại sách Triết lý – Tư tưởng, thuộc dự án Tủ sách Đời người của Omega Plus. Đặc biệt là phiên bản này có bút tích đề tặng viết tay kèm chữ ký của Gibran bằng tiếng Ả Rập, một bản in đầu tiên bằng tiếng Ả Rập năm 1912, sử dụng bộ tranh của chính Gibran.

    KAHLIL GIBRAN–(1883-1931)

    CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM

    Kahlil Gibran là một tiểu thuyết gia, họa sĩ, thi sĩ tâm linh với cung giọng ngôn sứ và triết gia theo chủ nghĩa hiện sinh hữu thần. Ông sinh ngày 06 tháng 01, năm 1883 tại làng Bsharri, thuộc vùng núi Miền Bắc Lebanon. Vào thời ấy, xứ sở ấy Lebanon là một phần của Syria, chịu sự đô hộ khắc nghiệt của Đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ. Nằm sát phía bắc vùng hoạt động chính của Đức Giêsu là Ga-li-lê.

    Duyệt qua lịch sử gia đình của Gibran đã giải thích cho chúng ta hiểu về bản chất và con người của ông. Thân mẫu Gibran, bà Kamila Rameh, là con của một linh mục thuộc Giáo hội Maronite. Đây là một hội thánh Kitô giáo Đông phương chiếm đa số dân chúng tại Li-băng (Lebanon). Phát nguyên từ Syria vào thế kỷ thứ bảy và tuyên bố có nguồn gốc từ Thánh Maron (qua đời năm 407). Giáo hội Maronite lưu giữ truyền thuyết và nghi lễ cổ đại, sử dụng tiếng Aram trong phụng vụ. Sau những biệt đãi của các đoàn quân Thập tự chinh, Giáo hội Maronite hiệp nhất với Giáo hội Công giáo La Mã kể từ năm 1182 nhưng được quyền tự bổ nhiệm hàng giáo phẩm. Vì nghèo và trường học ở xa, việc học của Gibran chỉ dựa vào những chuyến viếng thăm đều đặn của các linh mục. Họ dạy ông về tôn giáo, tiếng Aram là ngôn ngữ Đức Giêsu sử dụng và thịnh hành trong thời Tân ước, tiếng A Rập, tiếng Syria và mở mắt cho Gibran về lịch sử và khoa học. Chính vì vậy mà ông đã bị ảnh hưởng rất nhiều về sự giáo dục của giáo hội Maronite.

    Ngày 25 tháng Sáu năm 1895, năm mẹ con Gibran cập bến Hoa Kỳ. Họ định cư tại nam thành phố Boston trong một khu vực có cộng đồng người Syria và Li-băng đông vào hàng thứ hai sau New York. Vài tháng sau khi tới Mỹ, Gibran được tới trường, theo học lớp Anh ngữ dành cho trẻ em di dân. Nhờ tham gia sinh hoạt chung, khả năng vẽ và các bức ký họa của Gibran lọt vào mắt một tác viên xã hội tại trung tâm cộng đồng của khu phố, Gibran được giới thiệu cho Fred Holland Day, một họa sĩ và nhiếp ảnh gia cấp tiến của Boston. Fred Holland Day dùng Gibran làm người mẫu và bắt đầu hướng dẫn cậu về hội họa, văn học. Tại cơ sở của Fred Holland Day, Gibran cũng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tượng trưng, ông được học nghệ thuật và bắt đầu sự nghiệp văn chương.

    Năm 1898, Gibran trở lại Li-băng để theo học đọc và viết tiếng Ả Rập và hoàn tất chương trình căn bản giáo dục A Rập bốn năm tại Minh triết Học đường (College of Al-Hikmah) của Giáo hội Maronite. Năm 1902 Gibran trở về Hoa Kỳ nhưng cô em gái Sultana đã qua đời bốn tuần trước đó. Qua năm sau, tới lượt mẹ và người anh Peter của ông cũng lần lượt qua đời vì cả ba đều không thoát khỏi bệnh lao phổi, đó cũng là căn bệnh đeo đuổi Gibran lúc cuối đời.

    Thiên hướng nghệ thuật dẫn dắt Gibran vào cuộc sống văn hóa của Boston, tỏ cho ông thấy thế giới phong phú của kịch trường, nhà hát và các cuộc triển lãm nghệ thuật. Năm 1904, vào ngày cuối cuộc triển lãm tranh lần thứ nhất của mình, Gibran gặp Mary Elizabeth Haskell, hiệu trưởng một trường nữ cấp tiến tại Boston và trở thành người bảo trợ mọi mặt cho Gibran trong suốt hai mươi năm về sau và là người duyệt các bản thảo tiếng Anh cho ông.

    Hai năm ở Paris, Gibran học tập hội họa tại Viện Julien (Académie Julien) và Trường Mỹ thuật Paris (Ecole des Beaux Arts de Paris). Tại Paris, ông được sự chỉ bảo của nhà điêu khắc thiên tài Pháp Auguste Rodin (1840-1917. Năm 1911 Gibran về lại Boston, tới năm sau ông dọn New York và dành trọn thì giờ cho việc vẽ và viết. Từ năm 1903, Gibran bắt đầu viết các tiểu phẩm đầu tiên bằng tiếng A Rập trong đó có cuốn sách mỏng về âm nhạc Nubthah fi Fan Al-Musiqa (1905) và tập truyện ngắn Linh hồn nổi loạn (1908). Từ năm 1918 trở đi, hầu hết sách xuất bản của ông đều viết bằng tiếng An, chúng góp phần vào nỗ lực cách mạng hóa ngôn ngữ thi ca và làm ông trở thành một khuôn mặt nổi tiếng thế giới.

    Năm 1920, Gibran là Chủ tịch sáng lập Văn đoàn Arrabitah, một hội văn bút tại New York gồm khoảng 12 thành viên trong đó có các văn thi sĩ A Rập như Mikhail Naimy (1889-1988), Iliya Abu Madi (1889-1957), Naseeb Arida (1887-1946), Nada Haddad (1881-1950) và Ilyas Abu Sabaka (1903-47), v.v. Họ dần dà nổi tiếng khắp thế giới Ả Rập vì các nỗ lực cách tân văn chương bảo thủ Ả Rập. Diễn đàn chính của văn đoàn này là tạp chí Al-Mahajar (Người di dân), tờ báo đầu tiên bằng tiếng Ả Rập tại New York. Những sáng tác phẩm và bài phê bình văn học của họ trên tạp chí này và các tạp chí khác tại Trung Đông đã dọn đường cho một tự do mới trong diễn đạt thi ca.

    Lúc Gibran còn sống, tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn hai chục ngôn ngữ. Tại Hoa Kỳ, sách của Gibran bắt đầu tạo ảnh hưởng đặc biệt lên văn hóa đại chúng ở Bắc Mỹ kể từ thập niên 1960. Ký họa và tranh màu của Gibran, vốn được Auguste Rodin so sánh với thi sĩ và họa sĩ thần bí người Anh William Blake (1757-1827), được triển lãm khắp thế giới. Trong tác phẩm văn học của Gibran thường đề cập tới tinh thần siêu việt, nhưng chủ đề chính trong họa phẩm của ông là những hình người khỏa thân, có khuynh hướng quấn quít nhau. Là người sáng tác dồi dào thơ văn, Gibran tự tay minh họa tác phẩm bằng ký họa biểu thị cho niềm hứng khởi sâu xa của tâm hồn, tâm trí và tâm linh con người, đầy tinh thần nhân văn và tôn giáo.

    Haskell cũng tặng bộ sưu tập cá nhân hơn 100 bức họa của Gibran cho Nhà Bảo tàng Nghệ thuật Telfair tại Georgia. Đó là bộ sưu tập lớn nhất của ông tại Hoa Kỳ, gồm tranh sơn dầu, màu nước, ký họa và các bản thảo viết tay. Các bài thơ và văn của Gibran, bằng tiếng Ả Rập và tiếng Anh, được nhiều học giả hợp tuyển thành hàng chục cuốn sách có nhan đề khác nhau về tình yêu, tôn giáo, tư tưởng, tâm linh ngôn sứ, v.v. Số sách viết về tiểu sử và tư tưởng của Gibran cũng lên tới hàng chục cuốn.

    Công trạng của Kahlil Gibran được ghi nhận ở nhiều nơi.

    • Năm 1971, Bộ trưởng Bưu điện và Viễn thông Li-băng cho phát hành con tem mang hình Kahlil Gibran.
    • Nhà Bảo tàng Gibran được dựng lên ở Bsharri, Li-băng.
    • Vườn Kahlil Gibran được khánh thành tại Beirut, Li-băng.
    • Ngày 27 tháng Chín năm 2008, nhân dịp 125 năm ngày sinh của Kahlil Gibran, tai Quebec Canada, mở con đường mang tên Kahlil Gibran
    • Khu Trượt băng An dưỡng Bách hương (The Cedars Resort Ski) ở Li-băng mở đường trượt băng Gibran Khalil Gibran.
    • Năm 1990, Vườn Tưởng niệm Gibran được khánh thành ở Thủ đô Washington, Hoa Kỳ.
    • Tháng Chín năm 2007, tại Brooklyn, New York, khánh thành Quốc tế Học đường Kahlil Gibran (Khalil Gibran International Academy).
    • Kahlil Gibran được vinh danh ở Bucharest, Romania.
    • Một tượng đài Kahlil Gibran được dựng lên bằng đá cẩm thạch tại Cuntiba, Brazil.

    Tại Việt Nam, tác phẩm của Kahlil Gibran được dịch rải rác tứ thập niên 1970 tới nay với các dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu, Đỗ Đình Đồng, Trần Văn Điền, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Yến Anh, Trùng Dương, Giả Nghiệm, Trần Văn Phương, Châu Diên, Đỗ Tư Nghĩa, Đăng Quang, v.v. và được độc giả trung niên cũng như thanh niên thuộc nhiều tôn giáo khác nhau đón nhận nồng nhiệt. Bộ sách Kalil Gibran gồm 25 cuốn, một số do Gibran viết bằng tiếng Anh, một số do các dịch giả chuyển ngữ từ tiếng A Rập sang tiếng Anh, tiếng việt. Ngoài ra, cuốn Thơ xuôi (Prose Poems) do Andrew Ghareed dịch với sự hợp tác và Lời nói đầu của Barbara Young được xuất bản sau khi Gibran qua đời. Vì khi còn sống, Kahlil Gibran tỏ ra không thích các bản dịch ấy. Bản chuyển ngữ của Anthony R. Ferris được dịch ra Việt ngữ với nhan đề gốc trong tiếng Anh có nghĩa là Các nữ thần thung lũng. Riêng cuốn Gãy cánh uyên ương (The Broken Wings), của dịch giả Nguyễn Ngọc Minh (Nxb Nguồn Sáng, Sàigòn, 1970). (Nguyễn Ước)

    Kahlil Gibran và những tác phẩm nổi tiếng như Ngôn sứ, Uyên ương gãy cánh, Tâm linh toàn mãn, Nhã ca tình yêu, Mật khải, v.v…Trong bài này, người viết chỉ xin đề cập đến hai tác phẩm: Ngôn Sứ (The Prophet) và Uyên ương gãy cánh (The Broken Wings).

    The Broken Wings : (Uyên ương gãy cánh) trong Tủ sách Triết lý – Tư tưởng, thuộc dự án Tủ sách Đời người. Phiên bản này có bút tích đề tặng viết tay kèm chữ ký của Gibran bằng tiếng Ả Rập, sử dụng theo bản in đầu tiên bằng tiếng Ả Rập năm 1912. Sử dụng bộ tranh của chính Gibran. Theo tác giả Nguyễn Ước thì tác phẩm Ngôn sứ (The Prophet) là tác phẩm nổi tiếng nhất của Gibran. Cuốn ấy về phong cách, chịu ảnh hưởng của cuốn Thus Sparke Zarathustra (Zarathustra đã nói như thế) của Nietzsche. Nhưng đối cực với Zarathustra, Almustafa của Gibran là một nhân vật tôn giáo, tin vào con người và Thượng đế đồng thời lạc quan trong cuộc sống và tương lai của nhân loại. Ngôn sứ gồm 26 bài thơ xuôi, phát biểu về các vấn đề nhân sinh nhưng với tâm tình của một thi sĩ triết gia hiện sinh hữu thần. Cuốn Ngôn Sứ được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ và bán được trên 100 triệu ấn bản. Từ thập niên 1960. Cuốn Ngôn sứ được xem như một loại kinh thánh hay sách thủ bản cho phong trào phản văn hoá (counter-cultural movement) của giới trẻ Hoa Kỳ và trào lưu Thời đại mới (The New Age). Thậm chí có giáo sĩ Kitô giáo dùng nó trong thánh lễ hôn phối. Cuốn sách này bán chạy và được ưa chuộng vào những năm 1930 và đặc biệt là trong trào lưu phản văn hóa những năm 1960.

    Gibran qua tác phẩm The Broken Wings để nhớ tới những người dân đang sống trong tinh thần và túng thiếu vật chất, cũng như phê phán quyết liệt lòng tham và sức mạnh thế tục của một số chức sắc tôn giáo, một tệ trạng kéo dài hàng trăm năm tại Liban. Nhà nghiên cứu Nguyễn Ước, người đã dịch cuốn Uyên ương gãy cánh cho rằng đó là “những trang sách chan chứa tình người, tràn ngập hình ảnh thơ mộng, sóng sánh chất thơ và bát ngát hương vị cảm xúc, Uyên ương gãy cánh mang tình yêu xuống chiều sâu thẳm tận đáy hồn người với những lý luận ngọt ngào của trái tim, và nâng tình yêu lên độ cao nhất, bất diệt với thực tại siêu việt.”

    Cũng theo dịch giả Nguyễn Ngọc Minh, ông cho là người Đông phương chúng ta đã đem vào huyền thoại loài chim Uyên ương sống từng đôi trống mái, mỗi con chỉ còn một cánh, phải chấp nhau mà bay cùng. Chúng ăn ở với nhau tình thâm nghĩa trọng đến nỗi nếu một trong đôi lứa có mệnh hệ nào thì con kia đành xếp cánh tuyệt vọng trước những từng trời thăm thẳm. Chim Uyên Kahlil Gibran đã nhỏ từng giọt máu trong tim chép lại chuyện tình của chính mình như một chúc thư cho những tình nhân mai sau. Mối tình đầu của con người tài hoa đa cảm đó cũng là mối tình không-thể-thay-thế của ông; sau khi bị quê hương hắt hủi lưu đày biệt xứ, tác giả suốt đời lang thang phiêu bạt và không bao giờ lập gia đình. Đủ thấy vết thương ở tim tác giả còn đau buốt mãi cho đến lúc vĩnh viễn nhắm mắt.

    Nhưng con chim Uyên của Gibran vốn cao thượng khác thường đó không phải chỉ biết cất tiếng hót sầu thảm để oán trách Trời Đất đã ghen với tài tử và hồng nhan. Cho nên người đời còn được đọc những tác phẩm hào sảng hùng tráng khác của Kahlil Gibran. Đó chính là nhờ ngọn lửa thiêng bất khả diệt trong tâm hồn tác giả. Và cũng nhờ sự hy sinh cao quý của chim Ương: tự mình cắt lìa chiếc cánh bị thương để chim Uyên có thể bay đi đem tiếng hót tặng cho đời…. Câu truyện tình yêu này nói lên sự thuỷ chung, sống cho trọn tình nghĩa.

    The Prophet: (Ngôn Sứ) Kahlil Gibran nổi tiếng nhất với tập thơ “The Prophet,” một tác phẩm về phong cách, một tiểu thuyết truyền cảm hứng cho hàng loạt các bài tiểu luận triết học và đã được dịch sang hơn 100 ngôn ngữ khác nhau. Phong văn của Kahlil Gibran hòa quyện giữa các truyền thống từ Đông sang Tây, từ Hồi giáo đến Kitô giáo và từ các tư tưởng cổ điển đến các luồng tư duy hiện đại. “The Prophet” gồm 26 đáp từ bằng lối nói đầy chất thơ chuyên chở những cái nhìn thấu suốt, ứng xử với các chủ đề lớn của cuộc đời trên nền tảng chân thiện mỹ, như hạnh phúc và đau khổ, tình yêu và cái chết, lao động và của cải, hôn nhân và con cái, tình bằng hữu và luật pháp, thiện ác và tôn giáo, ăn mặc và cầu nguyện, v.v.

    “The Prophet” kể về Almustafa, một giáo viên sống ở thành phố Orphalese trong 12 năm. Khi ông chuẩn bị lên tàu trở về quê hương, người dân thành phố tụ tập lại để chào tạm biệt ông và xin những lời khuyên cuối cùng của ông. Cuốn sách được cấu trúc với 26 bài thơ văn xuôi, mỗi bài đề cập đến một khía cạnh khác nhau dựa trên kinh nghiệm con người. Almustafa trả lời các câu hỏi của dân làng về các chủ đề như tình yêu & hôn nhân, niềm vui & nỗi buồn, tội ác & hình phạt và cái chết. Nội dung của The Prophet có vẻ nghiêng về tâm linh và triết học, chủ đề chính trong “The Prophet” là mối liên hệ cơ bản giữa mọi khía cạnh của cuộc sống. Gibran cho rằng những khái niệm có vẻ đối lập nhưng thực chất lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Ví dụ, trong chương về Niềm vui và Nỗi buồn, ông viết:

    “Niềm vui của bạn chính là nỗi buồn được phơi bày.

    Và chính tiếng cười của bạn trào ra thường chứa đầy nước mắt của bạn.”

    Triết lý của Gibran thúc đẩy quan điểm toàn diện về cuộc sống, thúc giục tìm kiếm sự cân bằng và chấp nhận trong mọi tình huống. Bản chất của tình yêu Khám phá của Gibran về tình yêu trong “The Prophet” rất đa dạng, đề cập đến tình yêu lãng mạn, tình yêu bản thân và tình yêu phổ quát. Ông trình bày tình yêu như một sức mạnh biến đổi vừa thách thức vừa nuôi dưỡng sự phát triển cá nhân. Trong chương về Tình yêu, Almustafa khuyên: “Hãy yêu thương nhau, nhưng đừng tạo ra mối ràng buộc của tình yêu: Hãy để nó là một vùng biển chuyển động giữa bờ tâm hồn bạn.” Ẩn dụ này chính là quan điểm của Gibran về tình yêu như một sức mạnh năng động, luôn thay đổi, cho phép tự do cá nhân và sự phát triển trong các mối quan hệ tình cảm. Quan điểm của tác giả về tình yêu khuyến khích người đọc vun đắp những mối liên hệ sâu sắc trong khi vẫn duy trì ý thức về bản thân.

    Ở Ả Rập, Gibran được coi là một nhà văn mới, nghiêng về lĩnh vực chính trị. Phong cách lãng mạn của ông là trọng tâm của thời kỳ phục hưng trong văn học Ả Rập hiện đại, đặc biệt là thơ văn xuôi, thoát khỏi trường phái cổ điển. Gibran được muôn triệu người trên thế giới đánh giá là thiên tài bất tử, một tác giả tôn giáo và bí nhiệm, được đại chúng đọc nhiều nhất và được thảo luận rộng rãi nhất trong thế kỷ 20 cũng như sang thế kỷ 21. Ở Liban, ông vẫn được ca ngợi là một anh hùng văn học, được biết đến trên thế giới với cuốn sách The Prophet xuất bản năm 1923, một tiểu thuyết truyền cảm hứng bao gồm một loạt các bài tiểu luận triết học được viết bằng văn xuôi tiếng Anh đầy chất thơ.

    Khi còn sống, ước nguyện của Gibran là được vĩnh viễn trở về Bsharri nơi chào đời của mình mà nay đã thành một thị trấn. Cô em Mariana và người bạn tri kỷ Mary Haskell hoàn thành di nguyện ấy bằng cách mua lại Tu viện Mar-Sarkis để an táng ông. Nơi đó hiện nay còn có Nhà Bảo tàng Kahlil Gibran, và trở thành một địa điểm hành hương cho những kẻ ngưỡng mộ Gibran. Gibran cũng để lại tất cả tiền tác quyền của mình trong vòng 28 năm cho thị trấn Bsharri dùng vào sinh hoạt công ích. Bên phần mộ ông, người ta thấy có khắc dòng chữ :

    “Tôi đang sống giống như bạn, và tôi đang đứng cạnh bạn. Hãy nhắm mắt lại và nhìn quanh, bạn sẽ thấy tôi trước mặt bạn . . .”

    Theo di chúc, Gibran để lại cho Mary Haskell tất cả những gì đang có trong xưởng vẽ của ông ở New York. Trong những vật thu thập được, bà khám phá ra các lá thư mình đã gởi cho ông trong suốt hai mươi ba năm. Bỏ qua ý định ban đầu là chấp nhận đốt chúng thể theo lời đề nghị của Barbara Young nhằm thần thánh hóa Kahlil Gibran, bà kết hợp 600 bức thư của đôi bên cùng nhật ký của mình, làm thành cuốn sách viết về con người Kahlil Gibran, có nhan đề Ngôn sứ yêu dấu (The Beloved Prophet) được xuất bản năm 1972. Sau đó, bà trao tất cả di sản của Gibran cho Đại học North Carolina.

    Gibran qua đời năm 1931 tại New York vì bệnh xơ gan và lao phổi thời kỳ đầu. Buổi tiễn biệt ông trên bến tàu New York có đủ đại diện của các tôn giáo như Công giáo, Tin Lành, Do Thái giáo, Hồi giáo, v.v. Lễ tang ông tại Boston được tổ chức trang trọng và cảm động theo nghi thức Công giáo ở thánh đường tại Tyler Street. Sau đó, thi hài Gibran đưa về Li-băng, được chính quyền và dân chúng tổ chức liên hoan đón rước. Linh cửu được mang vào Nhà thờ Chánh toà St. George của Giáo hội Maronite tại Beirut với nghi lễ tiếp nhận do Đức Tổng giám mục Ignatius Mobarak chủ tế; sau đó, đem về Bsharri.

    KẾT LUẬN

    Kahlil Gibran được xem như một trong các đạo sư vĩ đại của thế kỷ 20, tên tuổi của ông được nhắc đến khi nói về triết học và văn chương. “The Broken Wings” và “The Prophet”  là những tác phẩm được viết về chiều sâu của tình yêu và tinh thần con người. Văn xuôi đầy chất thơ và cách kể chuyện sống động của Gibran đưa người đọc đến Lebanon đầu thế kỷ 20 về câu chuyện tình yêu, mất mát và tự khám phá. Các chủ đề về tình yêu, sự hy sinh và theo đuổi tự do gây được tiếng vang với độc giả, khiến cuốn sách này trở thành tác phẩm kinh điển vượt thời gian. “The Broken Wings”” và “The Prophet” của Kahlil Gibran là hai cuốn sách hấp dẫn và khơi gợi suy nghĩ, đi sâu vào sự phức tạp của tình yêu và trải nghiệm của con người. Thông qua câu chuyện của 2 tác phẩm, Gibran đưa ra những hiểu biết sâu sắc về bản chất của các mối quan hệ, việc theo đuổi tự do cá nhân và sức mạnh của tâm linh. Đây là một tác phẩm tình yêu và tình trạng của con người một cách đầy chất thơ và nội tâm.

    Tất cả các phẩm của Kahlil Gibran không chỉ là những dòng thơ mà còn là những lời khuyên, những bài học về cuộc sống, tình yêu, tự do và tâm hồn. Mỗi câu chuyện là một dụ ngôn trình bày những chân lý cao siêu, Kahlil Gibran được ví như một cầu nối giữa vũ trụ tinh thần và thế giới vật chất, giữa cái linh thiêng và cái phàm tục. 19 bài học trí tuệ là sự kết hợp tuyệt vời, ca tụng những vẻ đẹp hữu hình cũng như vô hình, chứa đựng thông điệp cao cả, vượt thời gian về một thế giới đại đồng, tôn giáo hòa đồng, loài người huynh đệ và một tình yêu hằng cửu nối kết con người với nhau trong tình yêu Thượng Đế, giữa một trần gian hiệp nhất với không gian.

    Thật vậy, dòng chữ để đời đã nói lên con người của Kahlil Gibran, một Gibran sống mãi trong lòng mọi người:

    “Tôi đang sống giống như bạn, và tôi đang đứng cạnh bạn.

    Hãy nhắm mắt lại và nhìn quanh, bạn sẽ thấy tôi trước mặt bạn . . .”

    Khánh Lan, April 30, 2025

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Phạm Hồng Thái,  Tin tức

    NHỮNG ĐỨA TRẺ LẠC LOÀI

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em,

    Thấm thoát đã 50 năm, nỗi buồn ly hương vẫn vương vấn trong lòng người viễn xứ. Nhân dịp tưởng niệm tháng Tư Đen, Khánh Lan xin mời quý vị thưởng thức chuyện ngắn “Những đứa trẻ lạc loài“. Tác phẩm gồm 3 phần: Phần I: Hồi ký Những Đứa Trẻ Lạc Loài, đây là một câu chuyện có thật về đứa con lai bị bỏ rơi ở VN sau 1975. Phần II: Số phận của những đứa trẻ đi theo chương trình Babylift và Home Coming Act. Phần III: 50 năm nhìn lại những gì đã xảy ra cho đất nước Việt Nam.

    Ca khúc “Kiếp Lạc Loài”, do anh Phạm Thái sáng tác dựa trên cảm hứng từ tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài”. Điểm đặc biệt là toàn bộ phần hình ảnh, tiếng hát và hòa âm được thực hiện bằng công nghệ AI, với lời thơ của anh Thái Phạm.

    Vui lòng click vào hình trên để đọc sách.

    Tác phẩm này đang trong tiến trình chuyển sang Anh ngữ và sẽ gởi đến quý độc giả sau Thanksgiving 2025.

    Khánh Lan kính mời,

    April 30, 2025-

    Kỷ niệm 50 năm viễn xứ. (1975-2025)

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Phạm Hồng Thái,  Tin tức

    CHƯƠNG TRÌNH NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT DO LIÊN NHÓM NVNT & TTG THỰC HIỆN

    Khánh Lan trân trọng thay mặt anh Việt Hải gửi đến quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ cùng quý anh chị em một tin vui:

    Hai tuần trước, ký giả Du Miên – đại diện của Đài Truyền Hình Vietnam American Television (VNA-57.3) – đã mời nhóm chúng ta đảm trách thực hiện một chương trình trên băng tầng của đài. Sau khi tham khảo ý kiến ban điều hành và nhận được sự khích lệ từ các vị cố vấn, anh Việt Hải đã chính thức quyết định hợp tác với đài 57.3, với mục tiêu giới thiệu Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đến quý khán thính giả.

    Chương trình “Nhân Văn Nghệ Thuật” sẽ được phát hình định kỳ hai tuần một lần trên băng tầng 57.3. Ngay khi có chương trình truyền hình cố định, Ban Điều Hành sẽ thông báo cụ thể ngày giờ đến quý vị. Chương trình sẽ được phát hành rộng rãi qua các nền tảng sau:

    • DirectTV tại toàn bộ 50 tiểu bang Hoa Kỳ và Canada
    • Roku Box
    • Facebook và YouTube
    • Website chính thức: vnatv.com

    Khánh Lan cũng xin gửi đến quý Giáo Sư, các Văn Thi Sĩ và quý anh chị em đoạn video buổi thu hình đầu tiên được thực hiện vào ngày 18 tháng Tư vừa qua, với sự tham gia của ký giả Du Miên, Giáo Sư Quyên Di và Khánh Lan.

    Chương trình mở đầu với video logo Nhân Văn Nghệ Thuật, do anh Thái Phạm thiết kế. Tiếp theo là phần giới thiệu tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài” của Khánh Lan. Tác phẩm này trình bày dưới dạng eBook và sẽ được gửi tặng quý vị qua email như một món quà tinh thần nhân dịp tưởng niệm 50 năm nhìn lại quê hương Việt Nam (1975–2025). Ngoài ra, chương trình cũng giới thiệu ca khúc “Kiếp Lạc Loài”, do anh Phạm Thái sáng tác dựa trên cảm hứng từ tác phẩm “Những Đứa Trẻ Lạc Loài”. Điểm đặc biệt là toàn bộ phần hình ảnh, tiếng hát và hòa âm được thực hiện bằng công nghệ AI, với lời thơ của anh Thái Phạm.

    PHẦN 1

    PHẦN 2

    PHẦN 3

    Khánh Lan kính mời,

    Tháng 4, 2025

    Kỷ niệm 50 năm viễn xứ

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    KỶ NIỆM 26 NĂM THÀNH LẬP THƯ VIỆN VIỆT NAM

    Khánh Lan

    Nhận được thiệp mời và điện thoại từ Ký Giả Du Miên thì Khánh Lan không thể vì một lý do gì mà không đến chung vui với tất cả các vị huynh trưởng đã có công trong việc thành lập thư viện Việt Nam đầu tiên tại quận Orange, California, tọa lạc trong khu vực của Little Sài Gòn. Mặc dù hôm ấy có đến 3 tổ chức trong cùng ngày, cùng giờ, thế mà khánh phòng của thư viện đã đón tiếp rất đông quan khách đến tham dự. Đó là một điều rất vui.

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cũng có mặt gồm: Phạm Gia Đại, Trần Mạnh Chi, Lưu Mạn Bổng & Khánh Lan, Giáo Sư Dương Ngọc Sum. Truyền thông báo chí gồm, các ký giả: Thanh Phong, Văn Lan, Thanh Huy, đài VNA, SBTN, LITTLE SAIGON TV.

    Trong dịp này, quyển cẩm nang LITTLE SAIGON CHRONICLES của tác giả Ngọc Hà-Du Miên cũng được đem trình làng trong cùng ngày. Sách dầy khoảng 300 trang với hình bìa sách trang trí giản dị nhưng tuyệt đẹp do Giáo Sư Kỹ Thuật Phạm Hồng Thái thiết kế: Chữ viết tựa của sách Little Saigon màu vàng kiêu kỳ và chữ Chronicles màu xanh hòa nhã đã làm nổi bật dưới nền màu đen, Phía dưới của bìa sách là tấm bảng Little Saigon-next Exit rất tượng hình và đầy ý nghĩa.

    Tưởng cũng xin nhắc lại là năm 2024, Anh Chị Ngọc Hà-Du Miên cũng đã giới thiệu đến độc giả quyển VIỆT EDEN-ĐỊA ĐÀNG HẠ GIỚI dầy 330 trang, sách đã cống hiến cho cộng đồng một số các chi tiết về sự thành hình của Little Saigon. Có thể nói rằng cả hai tác phẩm trên là những báu vật cho người Việt Nam chúng ta. Thật vậy, từ khi cái tên Little Saigon có mặt trên lãnh thổ Hoa Kỳ, hầu như tất cả những ai đã ít nhất một lần nghe và ghé thăm khu phố Little Saigon đều thắc mắc và muốn biết: Ai đã thành lập ra khu phố Little Saigon? Và ai đã đứng lên tranh đấu cho lá cờ vàng ba xọc đỏ bay phất phới trên bầu trời xanh tràn đầy hy vọng. Hy vọng ngày trở về quê hương Việt Nam trong độc lập tự do như các vị huynh trưởng đã nói trong buổi họp mặt ngày 30 tháng 03, 2025 vừa qua.

    Trở lại với buổi lễ kỷ niệm 26 năm thành lập của thư viện Việt Nam, buổi họp mặt đã diễn ra trong bầu không khí long trọng và trang nghiêm với sự hiện diện của các vị đại diện cộng đồng, dân biểu, nghị sĩ đến chúc mừng và trao bằng tưởng lục cho đại diện là Ký Giả Du Miên.

    Đặc biệt nhất là sự có mặt của các vị đã có công trong việc thành lập Little Saigon. Được biết qua Ký Giả Du Miên, Little Saigon năm 1975-1980 là một vườn cam nhưng chỉ vài năm sau, với những cố gắng, hy sinh, khuất phục gian nan, cực khổ, các vị huynh trưởng đã biến vườn cam ấy thành một khu thương mại Little Saigon xầm uất nhất nước Hoa Kỳ. Một niềm hãnh diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Qua sự chiến đấu gay go với cộng đồng Hoa Kiều sinh sống tại quận Orange cái tên CHINA TOWN đã bị đẩy lùi và cái tên LITTLE SAIGON xuất hiện (do ông Đặng Bá Huy đặt) và được Văn Hóa Việt Nam chấp thuận.

    Sau phần chào quốc kỳ, Bác Sĩ Võ Đình Thuận khai mạc buổi lễ, kế đến là ông Nguyễn Ngọc Chấn giới thiệu Chú Tám, ông đã gần 90 tuổi và là người đầu tiên mở hãng sửa xe Thiên Tạo năm 1988.

    Ông Hứa Trung Lập chủ tiệm Lập photo 1979. Ông Nguyễn Văn Chuyên là một trong những vị đã góp một cánh tay trong việc hình thành Little Saigon. Lời phát biểu của ông Chuyên rất cảm động và Khánh Lan chỉ xin tóm tắt như sau: Chúng tôi nay đã lớn tuổi và nhất là một số anh em cũng đã ra đi. Chúng tôi không còn nhiều thời gian để chu toàn những ước mơ, vì vậy chúng tôi mong những người trẻ tiếp tục con đường mà chúng tôi đã khởi đầu…Đông thời, ông Nguyễn Văn Chuyên cũng nói về Giai Đoạn Lịch Sử và sự diễn tiến của Little Saigon qua dòng thời gian từ năm 1979 cho đến nay. Hội chợ Tết đầu tiên được ông Trần Như Học khởi xướng. Buổi chợ Tết VNCH được tổ chức với sự hiện diện của Cựu Hoàng Đế Bảo Đại đã về từ Paris, khai mạc hội chợ và đặc biệt mùa xuân năm ấy, Lá cờ VNCH đầu tiên được dựng lên trên con những đường của phố Bolsa. Tiếp tục là Nguyễn Đức Luận, Trần Mạnh Chi, Bùi Phát tổ chức chợ Tết và Hoa Hậu Áo Đài để giúp các đồng bào tị nạn do Sinh Viên Long Beach tổ chức gây quỹ… rồi sau này chuyển lại cho Tổng hội Sinh Viên đảm trách. Tổng cộng từ trước đến nay có tất cả 12 lần diễn hành Tết. Được biết chi phí cho việc tổ chức diễn hành Tết rất cao, khời xướng là $40,000 nay đã lên đến 80,000 và từ sau năm 2020 là $100,000 phải trả cho thành phố, số tiền này là do sự bảo trợ và đóng góp của các nhà hảo tâm và đồng bào.
     

    Ông Bùi Phát duyệt qua về quá trình lịch sử của những di tích lịch sử của Little Saigon như: Năm 2000, ông đã cùng Du Miên tranh đấu để có bảng Welcome Little Saigon. Tượng Đức Trần Hưng Đạo do Du Miên khởi xướng và Trần Huy Đạo lãnh trách nhiệm gây quỹ và hoàn tất và công việc xây tượng Vua Quang Trung và con đường Hoàng Đế Quang Trung thành hình.   

    Ông Nguyễn Đức Luận là người tổ chức diễn hành trên đường Bolsa và từ năm 1997-2004 đã có 12 buổi diễn hành trên tuyến đường Bolsa. Số tiền gây quỹ để tổ chức diễn hành đều do đồng bào Việt Nam đóng góp. Ông Phan Kỳ Nhân cũng có mặt trong buổi họp mặt và được Ký Giả Du Miên đặt cho biệt hiệu là “VUA BIỂU TÌNH”. Ông năm nay cũng đã ngoài 90. Ông Phan Kỳ Nhân phát biểu một câu nói rất hào hùng: “Nơi nào có lá cờ Việt Nam thì nơi đó sẽ không thể có lá cờ cộng sản”

    Chương trình bế mạc lúc 3:00pm, chấm dứt một ngày vui.

    Chúc mừng các anh chị trong ban chấp hành của Thư Viện Việt Nam.

    Khánh Lan, March 2025

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    NVNT & TTG THAM DỰ TIỆC TÂN NIÊN ẤT TỴ 2025 & MỪNG SINH NHẬT THỨ 19 NĂM THÀNH LẬP GIA ĐÌNH THỂ DỤC KHÍ CÔNG HOÀNG HẠC

    Khánh Lan

    KS Nguyễn Đại Thành, Thụy Lan, Ái Liên, Khánh Lan, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, Lệ Hoa, Minh Khai, Mạnh Bổng

    Ngày 8 tháng 2, 2025 Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian(NVNT & TTG) đã đến tham dự buổi tiệc Tân Niên mừng xuân Ất Tỵ & mừng ngày kỷ niệm 19 năm thành lập của gia đình thể dục khí công Hoàng Hạc. Bữa tiệc có rất nhiều quan khách tham dự, riêng phần của Liên nhóm NVNT & TTG, Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của NV Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, KG NV Vương Trùng Dương, BLG Hoàng Khuê, NV Nguyễn Quang, CS Hồng Tước, Thụy Lan, Ái Liên, Minh Khai, KS Nguyễn Đại Thành, Mạnh Bỗng & Khánh Lan.

    (?), Bà Kiều Hạnh (Phu nhân của cố BS Phạm Gia Cổn, KG NV Vương Trùng Dương, Mạnh Bổng, Khánh Lan, BLG Hoàng Đình Khuê.

    Minh Khai, Hồng Tước, Thụy Lan, Lệ Hoa, NV Nguyễn Quang và NV Việt Hải

    Trong phần phụ diễn văn nghệ, Khánh Lan nhận thấy phần biểu diễn Thể dục Khí công Hoàng Hạc rất đặc sắc và thu hút sự chú ý của quan khách nhiều nhất.

    Khánh Lan, Hồng Tước, Minh Khai

    Theo Nhà báo Trần Mỹ Duyệt của Việt Báo: “Bác Sĩ PHẠM GIA CỔN người sáng lập môn thể dục KHÍ CÔNG HOÀNG HẠC nguyên là giảng sư tại Đại học UCLA, California, chuyên ngành Anesthesiology, Critical care medicine, Pain Medicine, chưởng môn thừa kế Việt Nam Thất Sơn Thiếu Lâm; Cửu Đẳng Hapkido; Bát Đẳng Taekwondo. Ngoài ra, ông còn là một ca-nhạc sỹ, sử dụng Saxophone, Trumpet, và Clarinet. Trong tinh thần Y-Võ-Nhạc, ông đã khai sáng môn thể dục khí công này là để phục vụ sức khỏe con người trên ba phương diện: tinh thần, thể chất và xã hội.

    Theo Bác Sỹ Dương Xuân Huyên, phụ giảng thì: Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc thể hiện những động tác của đôi cánh tay thật nhu nhuyễn, khoan thai, liên tục và nhịp nhàng với những chuyển động đơn giản và thanh thoát của đôi chân hòa nhịp với hơi thở tự nhiên, “tâm ý-hô hấp-cử động” hợp nhất, “mỏi mà không mệt”, nên thích hợp với mọi lứa tuổi, cả nam lẫn nữ, nhất là với người lớn tuổi.

    Cũng theo Bác Sỹ Huyên, Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc là phương pháp đơn giản, tái lập và củng cố sự quân bình âm dương trong cơ thể, mang lại cho người tập một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, khiến gia tăng niềm an lạc, hoàn chỉnh nhân cách và một đời sống tốt đẹp hơn.

    NGUYÊN TẮC CĂN BẢN

    Khí Công Hoàng Hạc, theo tinh thần vị sáng lập mô phỏng hình ảnh, và nếp sống của một loài chim quí là hoàng hạc. Hạc là loài chim có thể sống đến 30 năm, một thời gian tương đối thọ nếu so với con người. Chúng có lối sống hợp đoàn, thanh thản, nhanh nhẹn. Với kiến thức và sự phối hợp nhiều môn võ, dựa vào những quan sát loài hạc, Bác sỹ Chưởng Môn đã rút tỉa và áp dụng với tình trạng sức khỏe con người trong tinh thần y học. Cũng do thấm nhuần tinh thần nhân, lễ, nghĩa, trí, tín của võ đạo, ông đã mang những tinh túy này cùng với lòng thao thức chuyên tập: “quả dục, thanh tâm, tinh nghiên, chuyên luyện” vào những thế tập và tinh thần của Hoàng Hạc.

    Khí Công Hoàng Hạc dựa trên 4 nguyên tắc căn bản: Bấm, Vòng, Vươn, Buông. Bạn có thể tưởng tượng những động tác này khi nhìn đôi hạc trên nền trời xanh vào một buổi chiều hoàng hôn. Hãy nghe tiếng hát Thái Thanh để ru hồn bạn vào khoảnh khắc thiên nhiên đầy lãng mạn này: “Trời cao xanh ngắt ô kìa. Hai con hạc trắng bay về bồng lai”. Trên nền trời xanh thẳm với lối xải cánh nhịp nhàng, cũng như khi chúng hạ cánh bám vào một cành cây, hoặc khi chúng vỗ cánh tung bay. Người tập Khí Công Hoàng Hạc cũng dùng 10 ngón chân bấm trụ trên sàn nhà, dùng đôi bàn tay xoa nhẹ vào không khí, vươn đôi tay như đôi cánh, hít thở bầu không khí trong lành, và buông xả một cách nhẹ nhàng như cú đáp nhẹ.

    Tóm lại, theo vị chưởng môn, bấm, vòng, vươn và buông “áp dụng vào những thế tập sẽ giúp cho con người được năng lượng khá hơn, làm cho bắp thịt săn chắc, giúp giảm bớt đau nhức, và cũng không mang lại sự nguy hiểm khi tập luyện, mà còn giúp cho tinh thần của người tập được thanh thản, sảng khoái, điềm tĩnh, vui vẻ và yêu đời hơn.”

    Ngoài ra, những động tác bấm, vòng, vươn, buông khi thực tập được dựa trên nguyên tắc Tam Hợp: Tâm – Thân -Thở (Ý/Tâm – Thân Pháp – Hơi Thở). Tại sao lại là Tâm, Thân, Thở?

    Đó là vì Khí Công Hoàng Hạc luôn chú tâm đến cái tâm an bình, sự uyển chuyển nhịp nhàng của toàn thân, và làn hơi thở nhẹ nhàng kết tụ tinh khí của đất trời. Đây cũng là ứng dụng của nguyên tắc Y học Đông Phương khi nói đến ba vị trí của đan điền, và cách tích tụ, di chuyển khí huyết trong nội tạng” (Theo Trần Mỹ Duyệt/Viêt Báo) 

    http://chinhnghiavietnamconghoa.com/gia-dinh-the-duc-khi-cong-hoang-hac-tiec-tan-nien-at-ty-2025-mung-sinh-nhat-thu-19-nam-thanh-lap/

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    TRỐNG ĐỒNG

    Khánh Lan sưu tầm

    Trống đồng là một trong những di vật của thế giới, một khảo cổ quan trọng được tìm thấy ở nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á và vùng phía Nam nước Tàu như: Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia, Malaysia, Philippines và Nhật Bản. Trống đồng được tìm thấy ở những vùng có nhóm người dân tộc từng sống tại đây và đã sử dụng trống đồng từ thời tiền sử cho đến ngày nay, một số lớn trống đồng được tìm thấy ở những khu vực quan trọng, nơi có những ngôi mộ của các nhân vật quan trọng được mai tang tại vùng này, một số lớn trống đồng được tìm thấy dọc theo các con sông hay dọc theo các đường thủy ở trong vùng Đông Nam Á vì có thể đây là đường giao thông chính của dân cư bản địa thời thời đó.

    Từ ngàn xưa đã có nhiều truyền thuyết cho rằng trống đồng chính là nguồn gốc của lịch sử thế giới, trống đồng cũng đã được các sử gia ghi lại trong sách sử như quyển Việt Điện U Linh Tập, Lĩnh Nam Chích Quái thế kỷ 14, và ngay cả các cuốn sử như Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng nói đến trống đồng. Gần đây nhất, Nhà Biên Khảo, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang cũng đã bỏ ra một thời gian rất dài để tìm hiểu, nghiên cứu về trống đồng, đặc biết về loại trống đồng Đông Sơn. Ông cũng đã cho xuất bản một bộ sách gồm 7 tập chuyên về lĩnh vực này. Loại trống đồng do Nhà Biên Khảo, Bác Sĩ Nguyễn Xuân Quang sưu khảo thuộc văn hóa Việt vùng Đông Sơn, một nền văn hóa được biết đến với những loại trống đồng: Đông Sơn và Ngọc Lũ.

    TÌM HIỂU TRỐNG ĐỒNG QUA SÁCH VỞ CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN QUANG

    Đó lả một công trình mang giá trị khảo cứu đồ xộ đòi hỏi công sức, thì giờ sưu khảo quy mô mà tác giả Nguyễn Xuân Quang thực hiện, khiến tôi đã đọc và tìm hiểu sâu hơn về công trình khảo luận của ông. Trong bộ sách 7 tập, tổng cộng 7 cuốn suýt soát 3000 trang font chữ 10; mà hai tập đầu ông tập trung vào chủ điểm: Giải Đọc Tổng Quát Về Trống Đồng Nòng Nọc (Âm Dương). Do vì thời lượng có hạn, cho nên phần trình bày của tôi xin lượt qua những chủ điểm trong bộ sách này, chúng sẽ tập trung vào vấn đề chính cần biết về bộ sách gồm 7 tập khá chi tiết trong kho tài liệu của bộ sách.

    TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU VÀ Ý NGHĨA CÓ GÌ?

    Nguồn Gốc Trống Đồng Đông Sơn Và Ý Nghĩa Của Trống ĐồngTrống đồng Đông Sơn được xem là biểu tượng văn hóa dân tộc của người Việt Nam. Với lịch sử hình thành lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hiện nay trống đồng Đông Sơn được rất nhiều người dùng để trang trí trưng bày hay cũng như làm quà tặng. Tuy nhiên Trống đồng Đông Sơn có nguồn gốc từ đâu và có ý nghĩa đặc biệt gì? Thì trong bài viết Xưởng đồng Đông Sơn sẽ giúp quý vị giải đáp những thắc mắc này.

    Nguồn gốc của trống đồng Đông Sơn

    Trống đồng Đông Sơn có nguồn gốc từ Việt Nam, là loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (từ thế kỷ VII trước Công nguyên đến thế kỷ I-II sau Công) và nền văn minh sông Hồng của người Việt cổ thời kỳ Hùng Vương dựng nước Văn Lang. Trống đồng đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của người Việt Nam.

    Quê hương của trống đồng Đông Sơn là vùng đất Tổ trung du Phú Thọ và các tỉnh vùng Bắc bộ, Bắc Trung Bộ Việt Nam. Trống đồng Đông Sơn đã tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên đến thế kỷ 6 sau Công nguyên. Đây là sản phẩm đầy trí tuệ của người Việt cổ. Tổ tiên ta đã vượt lên những khắc nghiệt của thiên nhiên bằng sự dũng cảm, thông minh và sáng tạo, họ đã tạo nên kỹ thuật luyện kim đồng thau mang đậm yếu tố bản địa của người Việt. Từ đó tạo nên nền văn hóa đồng thau vào loại bậc nhất ở Đông Nam châu Á.

    Ý nghĩa của trống đồng Đông Sơn

    Trống đồng không chỉ là vật linh thiêng mà còn là thông điệp làm nên biểu tượng tập trung nhất những thành tựu trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội, và là quyền uy của một nhà nước được xác lập đầu tiên trên đất nước ta – Nhà nước Hùng Vương.

    Đôi nét về Trống đồng Đông Sơn 

    Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100) của người Việt cổ. Nhiều chiếc trống loại này với quy mô đồ sộ, hình dáng cân đối, hài hoà đã thể hiện một trình độ rất cao về kỹ năng và nghệ thuật, đặc biệt là những hoa văn phong phú được khắc họa, miêu tả chân thật sinh hoạt của con người thời kỳ dựng nước. Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã lưu giữ một số lớn trống đồng Đông Sơn. Cho đến nay, theo các số liệu đã công bố, đây là bộ sưu tập lớn nhất thế giới.

    Nguồn gốc trống đồng và hành trình lịch sử 

    Trống đồng là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển, là di vật tiêu biểu cho nền văn hóa của người Việt cổ thời kỳ dựng nước. Nổi bật trong số ấy phải kể đến hình ảnh Trống đồng Ngọc Lũ và trống đồng Đông Sơn. Trong bài viết này, hãy cũng Royal Gift tìm hiểu về Trống đồng Đông Sơn với họa tiết hoa văn vô cùng tinh xảo và độc đáo, thể hiện sự sáng tạo đỉnh cao về nghệ thuật từ những buổi đầu sơ khai của nền văn minh, văn hóa Âu Lạc.

    Trống đồng Đông Sơn được phát hiện năm nào?

    Trống đồng Đông Sơn là tên một loại trống tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (700 TCN – 100) của người Việt cổ. Về nguồn gốc ra đời của trống đồng Đông Sơn, có 3 luồng ý kiến khác nhau.

    • Tại phương Tây, người ta đã biết về trống đồng từ năm 1682 nhưng mãi đến thế kỷ 19, mới có học giả bàn về trống đồng: điển hình như học giả Hirth (1890) cho rằng trống đồng là của Trung Quốc, nhưng học giả De Grooth (1901) cho rằng nguồn gốc trống đồng của Việt Nam.
    • Các học giả Trung Quốc cho rằng quê hương của trống đồng là ở Vân Nam, Trung Quốc.
    • Các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng khẳng định xuất thân của trống đồng là ở vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Bộ Việt Nam.

    Mặc dù chưa có một kết luận nào chắc chắn và được công nhận nhưng bài viết đi theo nghiên cứu của các nhà khảo cổ học Việt Nam phân tích về nguồn gốc của trống đồng Đông Sơn. Trong cuốn sách Nguồn gốc và sự phát triển của trống đồng Đông Sơn, tác giả Tạ Đức đã đưa ra các luận cứ với nhiều bằng chứng, chứng minh quê hương trống đồng chính là thành Cổ Loa (Hà Nội). Theo đó, An Dương Vương trị vì vùng trung tâm, nơi đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, giao thông đường thủy thuận lợi. Với tư cách là thủ lĩnh uy quyền, An Dương Vương là vị vua duy nhất huy động được nhân lực, tài lực để tạo ra chiếc trống đồng lớn và đẹp nhất tượng trưng cho vương quyền và thần quyền Bách Việt…

    CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE KHÁC VỚI CHỮ NÒNG NỌC KHOA ĐẨU

    Trước hết xin nói ngay để tránh khỏi lầm lẫn hay ngộ nhận là chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (cirle-rod writing) là loại chữ viết do tác giả Nguyễn Xuân Quang khám phá ra không phải là thứ chữ nòng nọc khoa đẩu (tadpole writing) mà hiện nay chúng ta thường nghe nói tới. Chữ viết nòng nọc hiện nay mà Hán ngữ gọi là chữ khoa đẩu tức là loại chữ viết có nét cong, ngoằn ngoèo trông như con lăng quăng bơi trong nước. Ví dụ như chữ Hán cổ, chữ Phạn, chữ Thái Lan, chữ Campuchia, v.v…Đúng ra Chữ khoa đẩu lăng quăng này chỉ là những chữ viết hậu duệ, những chữ viết con cháu của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thật sự do tác giả Nguyễn Xuân Quang khám phá ra. Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que là thứ chữ có hai mẫu tự căn bản là mẫu tự vòng tròn (O) giống thân con nòng nọc và mẫu tự nọc que (I) giống đuôi con nòng nọc.

    Để hiểu rõ về sự thành hình chữ nòng nọc vòng tròn-que xin nói thật sơ lược qua sự thành hình chữ viết loài người nói chung. Sự thành hình chữ viết của loài người nói đại lược khởi đầu từ một vạch, một nét vẽ của người tiền sử, rồi tiến tới một dấu hiệu (sign), một hình (picture). Sau đó có mang thêm ý nghĩa. Vậy chữ là chữ nòng nọc vòng tròn-que là thứ chữ có hai mẫu tự căn bản là chữ cái Nòng vòng tròn (O) và chữ cái Nọc que (I) có mang ý nghĩa.

    Trích trong hai quyển sách I và II trong bộ sách 7 quyển của tác giả Nguyễn Xuân Quang, ông giải thích: Chữ nòng vòng tròn (O) và chữ nọc que (I) là hai chữ cái cổ nhất của nhân loại có nguồn gốc nguyên khởi do hình vẽ diễn tả theo hình dạng của bộ phận sinh dục nường và nõ. Hình tự nường lỗ sinh dục phái nữ nòng tròn O và hình nõ nọc que I đàn ông còn thấy rất nhiều qua các hình vẽ trên đá (petroglyphs) thời tiền sử. Sau đó thấy trong tín ngưỡng thờ nường nõ như trong Ấn giáo thờ linga hình nõ nọc I que cắm trên bệ nường yoni hình nòng tròn O. Khi con người có một đời sống tâm linh cao hơn, hai chữ viết nòng nọc vòng tròn que trở thành hai chữ diễn tả cái đực, nường nõ, nòng nọc, âm dương, trở thành một thứ chữ căn bản có hệ thống của một tôn giáo cổ nhất của con người là vũ trụ giáo dựa trên cái đực, nòng nọc, âm dương, lưỡng hợp, vũ trụ tạo sinh, dịch học.

    Tuy vậy không một nơi nào trên thế giới chữ nòng nọc vòng tròn-que được viết nhiều nhất, đầy đủ nhất, đa dạng nhất, chuẩn nhất, theo đúng ngữ pháp nhất như người Đông Sơn viết trên đồ đồng Đông Sơn, nhất là trên trống Đông Sơn, nó là Bộ Từ Điển Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que. Việt Dịch Đồng Đông Sơn là bộ dịch bằng hình viết bằng hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que duy nhất của nhân loại.

    Trống đồng Đông Sơn được xét qua những điểm như là:

    • Trống thiêng liêng, trống thờ, trống mang tính biểu tượng, không phải là trống làm ra có mục đích chính dùng làm bộ gõ trong âm nhạc.
    • Trống Đông Sơn là một loại trống đặc biệt mang tính nhị nguyên nòng nọc (âm dương)
    • Về hình thể: mặt kín dương. Mặt đáy hở âm. Nội dung: mặt trời dương nằm trong vòng không gian âm.
    • Mặt trời cũng có mặt trời dương và mặt trời âm.

    Trên trống Đông Sơn có tượng loài lưỡng cư cóc/ếch.

    • Trống có tượng cóc (chỉ sống trên đất mang dương tính) là trống sấm dông gió (mang dương tính, thiếu âm)
    • Trống có tượng ếch sống được dưới nước mang âm tính thái âm là trống sấm mưa (mưa mang tính thái âm).

    Những nét khắc vẽ trên trống có hoa văn, hìng tượng như:

    • Chim thú, vật tổ biểu tượng của người Việt đều có nghĩa là Việt, là mặt trời (chim Việt: chim mỏ sừng Cắt Hồng hoàng, Hươu Việt: hươu sừng, Cá sấu Việt: sấu Lạc mõm dao, Rắn Việt: rắn mồng, rắn có sừng).
    • Phụ nữ Việt đội nón thúng quai thao cổ truyền hình mặt trời mà J. Cuisinier gọi là Chapeau de Soleil. Phụ nữ Việt mang dòng máu Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ, mặt trời rạng sáng (nhật tảo).
    • Đền thờ Nhật Tảo ở làng Diềm, Viêm Xá, xã Hòa Long, huyện Yên Phong, Bắc Ninh thờ một vị thần làng nữ Nhữ Nhương, hình bóng của thái dương thần nữ Âu Cơ, mặt trời nhật tảo hừng rạng.

    Tác giả Nguyễn Xuân Quang là người đích thân tìm vào Sử đồng như vào những khảo cổ học khác. Tác giả nghiệm ra rằng trống Đồng của đại tộc Đông Sơn là bộ sử đồng của Việt Nam trong Bách Việt. Ông giải thích: Sử đồng là hiện vật thấy được tận mắt, sờ thấy được tận tay cái căn cước Việt. Căn cước Việt đã được khắc ghi lại từ cách đây trên dưới 3.000 năm và được chôn vùi sâu dưới lòng đất không hề bị sửa đổi, không hề bị ảnh hưởng của các nền văn hóa ngoại lại khác. Sử đồng Việt Đông Sơn thuần Việt, tinh ròng Việt có độ xác tín rất cao.

    Yếu tố nguồn gốc chữ viết hay nét hoa văn nòng nọc được tác giả khai triển khá rõ. Như tìm hiểu về Nòng nọc âm dương mang ý nghĩa như sau:

    Nòng nọc âm dương là nguyên lý nhị nguyên căn bản (biểu hiện cho âm O và dương là I, yếu tố cơ bản của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học. Do vậy nhìn chung về vũ trụ quan trống đồng Đông Sơn biểu tượng vũ trụ giáo diễn đạt vũ trụ tạo sinh. Dịch học dựa trên nguyên lý nhị nguyên căn bản nòng nọc (âm dương). Nhìn riêng theo duy dương, ngành mặt trời vì trống có một khuôn mặt chủ là trống (đực: gà trống), dương, thì trống đồng là trống biểu tượng của mặt trời tạo hóa nhị nguyên thái dương.

    Trống đồng là một hiện vật do con người làm ra. Vậy chủ nhân ông của trống là một đại tộc có vũ trụ quan là vũ trụ tạo sinh theo vũ trụ giáo, mặt trời giáo. Đó là biểu hiệu của người Việt làm ra, người Mặt Trời Thái Dương (tác giả ghi nhận là ông đã tìm ra trên 100 bằng chứng Người Việt là Người Mặt Trời) theo vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, mặt trời giáo dựa trên nguyên lý nhị nguyên căn bản nòng nọc (âm dương), Chim-Rắn, Tiên Rồng. Tổ Hùng Lang sinh ra từ Bọc Trứng Chim có một khuôn mặt là mặt trời tạo hóa nhị nguyên phân ra hai ngành. Như vậy thì người Việt chính là chủ nhân của loại trống đồng Đông Sơn. Lý do vì trống đồng được cho là làm ra vào thời đại Hùng Vương. Mỗi tộc người, mỗi bang người Việt trong liên bang Văn Lang thuở xưa có ít nhất một trống biểu riêng. Do đó ta mới có cả trăm trống khác nhau.

    PHÂN LOAI TRỐNG ĐỒNG THEO NHÀ KHẢO CỔ HỌC NGƯỜI ÁO FRANZ HEGER

    1. Trống Heger I, còn được gọi với tên là trống đồng Đông Sơn, thuộc loại trống lớn và lâu đời nhất và đã giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong văn hóa Đông Sơn, một nền văn hóa được biết đến với những trống đồng trang trí cầu kỳ, được tìm thấy ở nhiều nơi trong vùng Đông Nam Á và Bắc Việt Nam. Số lượng lớn trống Đông Sơn đã được tìm thấy tại Mê Linh, trung tâm của văn hóa Đông Sơn và ở đồng bằng sông Hồng, vùng dân cư đông đúc thời cổ.

    Trống Hegers I được phân phối ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, của Trung Quốc và ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà khảo cổ Trung Quốc tin rằng Vân Nam là vùng nguyên thủy có sự xuất hiện của trống đồng. Nhưng trên thực tế cho thấy một số trống có tuổi lâu đời hơn đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam nên không thể kết luận Vân Nam là cái nôi của trống đồng vì những lý do dưới đây:

    a) Giai đoạn một: (thế kỷ thứ III-thế kỷ thứ I, TCN)

    Nhiều chiếc trống thuộc loại hóa thạch (Thạch Sơn) đã được phát hiện ở miền Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ở Việt Nam có những chiếc trống thuộc văn hóa Đông Sơn đã được khai quật. Hai chiếc trống Thạch Sơn đã được tìm thấy ở Thái Lan, Indonesia và 10 chiếc trống Đông Sơn cũng tìm thấy ở hai nước này.

    b) Giai đoạn hai (thế kỷ thứ I TCN-thế kỷ thứ I CN)

    Trong giai đoạn này chỉ có bốn chiếc được phát hiện ở Vân Nam và Quảng Tây. Do đó có thể trống đồng đã biến mất khỏi miền Nam Trung Quốc và Văn hóa Đông Sơn của Việt Nam bắt đầu mở rộng vào tỉnh Quảng Tây và các vùng lân cận. Trong khi đó Việt Nam vẫn sản xuất trống đồng, mặc dù số lượng trống đồng ở Thanh Hóa đã giảm đi, nhưng ở Thái Lan, Mã Lai và nhất là Indonesia đã phát hiện với số lượng khá nhiều và với hình dáng, hoa văn trông giống với trống đồng tại Việt Nam.

    c) Giai đoạn ba (thế kỷ II trở đi)

    Người ta tìm được hai mẫu trống đồng phát xuất từ Việt Nam, nhưng ở khu vực miền Nam có ba chiếc trống được phát hiện theo tiêu chỉ của văn hóa Đông Sơn, cho thấy loại trống này có nguồn gốc từ khu vực miền nam Việt Nam. Tuy nhiên, loại trống Kham Cha từ Thái Lan, đã thay đổi rất nhiều so với truyền thống Đông Sơn, cho thấy chúng có cùng loại với trống Pejeng của Indonesia hơn.

    • Trống Heger II, thân trống chỉ có 2 phần, trên mặt trống không có hình ảnh của người hoặc con vật, thay vào đó toàn là hoa văn hình học kinh tế. Trên mặt trống thường có 4 hoặc 6 con cóc và ngôi sao 8 cánh tượng trưng cho mặt trời. Loại trống này được tìm thấy ở Nam Trung Quốc và Bắc Việt. Ở miền Nam Trung Quốc, loại trống Heger II được tìm thấy phần lớn là ở vùng Quảng Đông và Quảng Tây. Ở Việt Nam, loại trống này xuất hiện tại các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa, phần lớn loại trống này được tìm thấy và khai quật tại các vùng của người Mường sinh sống. Hiện nay, có nhiều loại trống Heger II vẫn còn được người Mường sử dụng, nên chúng có tên là trống Mường. Nhưng cũng có một số nhà khảo cổ học cho rằng những chiếc trống này thông dụng ở các đời vua nhà Lý-Trần. 

    Trước đây, một số học giả chia loại trống này thành hai nhóm:

    • Nhóm 1, thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Thanh Hóa.
    • Nhóm 2, thuộc các tỉnh Nghệ An.

    Hầu hết các nhà khảo cổ đều cho rằng niên đại của trống đồng Heger II Khoảng từ 1000 niên kỷ I SCN đến thế kỷ XVI-XVII. Tại Hội nghị Khoa học Trống đồng Việt Nam năm 1985, một số nhà khảo cổ học đã chia trống Heger II thành 3 nhóm có niên đại khác nhau:

    • Nhóm từ năm 1005 SCN.
    • Nhóm triều đại Lý-Trần
    • Nhóm sau thời Lý-Trần.
    • Trống Heger III, (trống đồng Tân Độ), hiện trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam. Trống Heger III có quai nhỏ đẹp, nổi bật với hoa văn hình học, đẹp và tinh tế, thân trống thường không cân đối, phần trên to phần dưới thon, đường kính của mặt trống lớn hơn các phần còn lại. Mặt trống được trang trí với ngôi sao 12 cánh tượng trưng cho mặt trời, 12 con cóc chia ra 4 góc, chung quanh là các hoa văn hình học. Dưới chân có đoàn voi đúc nổi đi chung quanh cây “đời sống“. Đôi khi ốc thay voi. Được phát hiện ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanma và Vân Nam (Trung Quốc). Trống Heger III được tìm thấy ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Loại trống này được chia làm hai nhóm:
    1. Nhóm DânTộc thuộc hệ ngôn ngữ Khmer.
    2. Nhóm dân tộc thuộc ngôn ngữ thái cổ. Ở Việt Nam số lượng trống này ít hơn loại trống Heger I và Heger II.
    • Trống đồng Heger IV (trống đồng Long Đọi Sơn), trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam. Trống Heger IV có kích thước và có quai nhỏ, không có cóc. Trang trí của trống này tương tự như trống Heger I, nhưng hình dáng không cân đối và họa tiết hình học không cầu kỳ. Hình mặt trời có 12 cánh sao tượng trưng cho 12 con giáp, 4 góc-mỗi góc có ba con cóc chồng lên nhau thành 12 con. Dưới chân có đoàn voi hay ốc đúc nổi đi chung quanh cây “đời sống“. Loại trống Heger IV thường được phát hiện ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanmar và Vân Nam (Trung Quốc).

    Có rất nhiều dân tộc sử dụng loại trống này trong đó có một số người phương Bắc như người Hán, người Mông Cổ. Loại trống này có liên quan mật thiết với các dân tộc bản địa như người Giày, Giao, Thái … Ở Việt Nam, nhiều loại trống này đã tìm thấy ở các vùng núi phía Bắc như Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La. Heger IV là loại trống đồng Nam Dương như Java, Sumatra, ảnh hưởng hồi giáo…

    PHÂN LOAI TRỐNG ĐỒNG THEO TÁC GIẢ NGUYỄN XUÂN QUANG

    Với tác giả Nguyễn Xuân Quang, ông phân loại trống đồng thành 6 loại như sau: NXQ I, NXQ II, NXQ III, NXQ IV, NXQ V, NXQ VI.

    1. Trống Trứng Vũ Trụ [Cosmic egg drums or Nguyen Xuan Quang type I (NXQ I)] drums. Tức trống Nguyễn Xuân Quang I (không có trong sự phân loại của Heger) có hình trứng giống như trống cái, trống thùng (barrel) bịt da nhưng hở đáy (mang tính nòng nọc, âm dương) ví dụ như trống đồng để ở chùa Cổ Lễ, chùa Keo, đền Hùng Vương… (4).
    • Trống tượng Lửa [Fire-drums or Nguyen Xuan Quang type II (NXQ. II)]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang II (không có trong sự phân loại của Heger) hình trụ (tubular or cylindrical forms). Trống moko hình trụ có eo của Nam Dương là trống biểu tượng cho tượng Lửa của ngành nước.
    • Trống tượng Gió [Yang Wind sun Drums or Parasol-Shaped drums or Nguyen Xuan Quang Type III (NXQ. III) or Heger III]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang III (Heger III) hình lọng, dù, ô (thân và đế thẳng tuột như thân cây lọng), thấy nhiều ở tộc Shan thuộc sắc tộc Tai, nói tiếng Tai-Kadai. Tộc này có nhà hình vòm mu rùa biểu tượng cho bầu trời, bầu không gian, gió.
    • Trống tượng Nước [Yang Water drums or Squat drums or Nguyen Xuan Quang Type IV (NXQ IV) or Heger IV]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) trông giống cái âu (vật đựng mang âm tính liên hệ với nước) không có thân trống nên trông lùn tịt gọi là trống trệt (squat drum) mang nhiều âm tính biểu tượng cho nước (trống này thấy nhiều ở Nam Trung Hoa nên Heger gọi là trống trệt Nam Trung Hoa). Có thể loại trống này thấy nhiều ở tộc Choang (Zhuang). Người Zhuang nhận mình là con cháu của Rồng và có một chi tộc tên là Shui (Thủy) liên hệ với Lạc Long Quân.
    • Trống tượng Đất, núi Trụ Thế gian [Pillar-shaped drums or yang Earth-drums or Nguyen Xuan Quang type V (NXQ. V) or Heger II]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang V (Heger II, trống vùng cao, vùng núi ở Bắc Việt Nam).
    • Trống Vũ Trụ Tạo Sinh, trống biểu của Vũ Trụ giáo [Cosmogenic drums or Cosmic Mushroom drums or Nguyen Xuan Quang Type VI (NXQ.VI) or H.I]. Tức trống Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) có hình Cây Nấm Vũ Trụ, tức trống Đông Sơn của các tác giả Việt Nam. Trống này có nhiều nhất ở Việt Nam.

    Trống Cây Nấm Vũ Trụ biểu tượng cho Vũ Trụ giáo có chu vi vòng ngoài hình trứng tức trống Trứng Vũ Trụ NXQ I (xem hình bìa quyển Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, tập I). Trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI nằm trong trống Trứng Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang I.

    Như trên cho thấy sự khảo sát trống đồng dựa theo 2 tiêu chuẩn của Franz Heger và của Nguyễn Xuân Quang có điểm tương đồng như trong Trống tượng Gió (Heger III), Trống tượng Nước (Heger IV), Trống tượng Đất (Heger II), Trống vũ trụ tạo sinh (Heger I). Hầu như tất cả các trống đồng Đông Sơn được chia thành ba phần: phần trên, phần giữa và phần cuối. Chúng có thân hình trụ thẳng đứng, mặt dưới của chúng không có hình, mặt trên có hình sao được đúc nổi với 12 cánh. Một số trống đồng có tám cánh như trống đồng Quảng Xương, hoặc 14 cánh như trống đồng Ngọc lũ, Sông Đà, Thượng Lâm, thậm chí có khi lên đến 16 cánh như hoàng Hạ và Salayar.

    Tóm lại: Việt Nam được xem là nơi tập trung nhiều trống đồng đa dạng nhất. Trống trống đồng Đông Sơn không chỉ là một biểu tượng nghệ thuật độc đáo mà còn là một cổ vật lịch sử phản ảnh văn hóa sâu sắc của Việt Nam. Từ kỹ thuật đúc chảy kim loại đến hình dáng tinh tế, mỗi chiếc trống là một tác phẩm nghệ thuật mang đậm dấu ấn của nền văn minh Đông Sơn. Nhiều khoa học gia cho rằng các nước lân cận có thể bị ảnh hưởng hoặc đã du nhập nền văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ vào nước của họ.

    Khánh Lan, Mùa Xuân 2025

  • Khánh Lan,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  KÝ SỰ

    NVNT & TTG ĐÓN XUÂN VÀ MỪNG XUÂN ẤT TỴ TẠI TÒA BÁO NGƯỜI VIỆT

    Khánh Lan

    NVNT & TTG ĐÓN XUÂN ẤT TỴ TẠI VIETLIFE TV-NGÀY 02 THÁNG 02, 2025- MỒNG NĂM TẾT

    Kính chúc quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em luôn vui tươi, hạnh phúc, khỏe mạnh, an bình và vạn sự như ý. NVNT & TTG.

    Năm nay, chị Tâm An đứng lên tổ chức buổi họp mặt mừng Xuân tại trụ sở của chị. Đặc biệt năm nay có sự hiện diện của NV Nguyễn Tường Cường và phu nhân, Chị Bích Điệp đến từ Ohio, cũng như Thi Sĩ Lệ Hằng và phu quân đến từ Paris, Pháp Quốc. TS Lệ Hằng là thành viên của Câu Lạc Bộ Văn Hóa Paris mà chúng tôi có dịp gặp trong chuyến du lịch Pháp Quốc năm 2022 và tham dự buổi họp mặt văn hóa với các Văn Thi Sĩ của Câu Lạc Bộ.

    Hàng đứng: Chị..?…, Lệ Hoa, Bích Điệp, Tường Cường, Mạnh Chi, Viết Đang, Lệ Hằng, OX của chị Lệ Hằng (?), Tô Châu, (?), Ngọc Châu, Khánh Lan, Vương Trùng Dương. Hàng ngồi: Mạnh Bổng, Cô Sang, Nguyễn Quang, Việt Hải.

    Nhập tiệc mừng Xuân là những món ăn “Homemade food” do các chị nội trợ khéo tay trong nhóm nấu, đặc biệt là vừa ngon, bổ lại rẻ nữa. Tết năm nay, một số lớn các anh chị trong nhóm bận “chạy show” hoặc đi du lịch hoặc bận việc nhà nên không đến họp mặt đầy đủ như mọi khi. Dù vậy, không khí ngày Tết và đón khách phương xa vẫn vui nhộn và các anh chị “ca sĩ của TTG” tranh nhau hát ca mệt nghỉ.

    Chương trình bế mạc lúc 11 giờ, chúng tôi phụ nhau dọn dẹp và kéo nhau đi ăn phở trước khi chia tay. Kết thúc một ngày vui.

    NHẬT BÁO NGƯỜI VIỆT ĐÓN XUÂN-NGÀY 29 THÁNG 01, 2025–MỒNG MỘT TẾT

    Tòa báo Người Việt mừng Xuân Ất Tỵ

    Khai mạc buổi họp mặt với những tràng pháo nổ vang trời. Lúc đầu bà Tổng Giám Đốc Hoàng Vĩnh mời quan khách ra sân để ngắm pháo mổ, nhưng chỉ trong khoàng một phút, mọi người đã chạy làng vì tiếng pháo nổ quá lớn, xác pháo bắn tung tué và khói pháo bao phủ cả một khoảng không gian quanh tòa báo khiến mọi người hoảng sợ…”bỏ chạy” vào trong khánh phòng. Sau màn đốt pháo là tiết mục lì xì và tặng Giai Phẩm Xuân Ất Tỵ-Người Việt 2025 với những tiết mục rất hay và hữu ích.

    Các nhân viên & cộng tác viên và khách mời của tòa báo Người Việt-họp mặt mừng xuân Ất Tỵ

    Đây là lần đầu tiên tôi đến dự buổi họp mặt mừng Xuân do tòa báo Người Việt tổ chức. Năm nay, buổi họp mặt vào đúng vào ngày mồng một Tết, nhằm ngày 29 tháng 01, 2025 thay vì mồng hai Tết như mọi năm. Theo thường lệ, hằng năm, Bà Giám Đốc Hoàng Vĩnh cho tổ chức 2 buỗi họp mặt quan trọng: Đó là mừng Xuân và mừng Chúa Giáng Sinh cho các nhân viên hay các cộng tác viên trong đó có tôi.

    Chuyện là 3 năm trước, tôi được Giáo Sư Quyên Di đại diện cho tòa báo Người Việt mời đến cộng tác với các anh chị em trong Department of Education. Thế là từ ngày ấy, tôi đương nhiên trở thành cộng tác viên của tòa báo Người Việt (tôi đoán thế) và cứ thế, năm nào tôi cũng được hân hạnh đến tham dự những tiệc vui do tòa báo Người Việt tổ chức.

    Múa lân khai mạc buổi tiệc

    Cô Đỗ Bảo Anh, trưởng nữ của cố Nhà Báo Đỗ Ngọc Yến, Chủ Nhiệm kiêm sáng lập viên của tòa báo Người Việt

    Vài hàng về bà Đỗ Ngọc Anh theo Ký Giả Thanh Phong, bà sinh trưởng tại Saigon, tốt nghiệp ngành báo chí và anh ngữ tại University of South California (USC). Bà hiện là một ký giả kỳ cựu của nhật báo The Los Angeles Times (LAT) từ năm 2012. Ngoài ra, bà còn từng làm việc cho các nhật báo khác gồm Seattle Times, Orange County Register và nhật báo Người Việt, tờ báo do thân phụ của bà là nhà báo Đỗ Ngọc Yến thành lập.

    Bà viết về nhiều đề tài khác nhau như mối liên hệ chủng tộc, văn hóa Nam California, người nhập cư, v.v… Bà cũng được biết đến qua các bài viết về người Mỹ gốc Việt, cộng đồng LGBTQ, sự đánh giá của lớp người bị xã hội coi là thấp hèn. Qua những đề tài sâu sắc này, bà Anh Đỗ đã đoạt được nhiều giải thưởng từ Columbia University, học bổng báo chí của Yale University, và Hiệp Hội Ký Giả Người Việt gốc Á Châu.

    Năm 2016, bà Anh Đỗ ở trong danh sách phóng viên LAT và đoạt giải Pulitzer qua bản tin về vụ khủng bố ở San Bernardino. Năm 2024, bà Anh Đỗ trong danh sách chung kết giải Pulitzer với bản tin về vụ xả súng ở Monterey Park.

    Bà Hoàng Vĩnh, tổng giám đốc kiêm chủ nhiệm nhật báo Người Việt. và đại diện của ông Trí Tạ

    Hôm ấy tôi đến sớm lắm vì sợ không có chỗ đậu xe hoặc phải đậu xe quá xa bởi tôi vốn “Ngại” đi bộ. Bước vào khánh phòng, vắng hoe, chỉ thấy có khoảng 5 hay 6 người gồm các anh đang gắn máy móc, gắn keyboard và các chị phụ bếp. Người đầu tiên tôi gặp là chị Minh Phú, thế là tôi được anh Philippe Dương chụp “ké” cho những tấm hình đẹp.

    Khách tham dự

    Quan khách tham dự buổi tiệc họp mặt mừng Xuân Ất Tỵ tại tòa báo Người Việt rất đông, tôi nhận thấy có sự hiện diện của rất nhiều nhân vật quan trọng trong cộng đồng gồm các vị đại diến và các vị nghị viên của tiểu bang, liên bang, thành phố và trường học, v.v…Các giáo chức như GS Phạm Thị Huê, GS Quyên Di, GS NS Lê Văn Khoa, v.v…Xướng Ngôn Viên Thanh Thảo và rất nhiều vị mà tôi không biết tên.

    Nhập tiệc mừng Xuân–Chúc mừng năm mới

    Phần văn nghệ tôi nhận thấy có Chị Thiên Hương của đoàn Du Ca, các ca sĩ: Ngọc Hà, Lê Uyên Phương, Hồng Tước, v.v…mở đầu với Ly Rượu Mừng rồi bài Đón Xuân của NS Phạm Đình Chương,…

    CS Ngọc Hà, Chị Minh Phú, Khánh Lan, GS NS Lê Văn Khoa

    Hợp ca: Ly Rượu Mừng

    Hợp ca: Đón Xuân

    Bài hợp ca bế mạc. Buổi họp mặt kết thúc lúc 3:00 pm, chấm dứt một ngày vui.

    Khánh Lan, tháng 2 ngày 4, 2025

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN: CHÚC MỪNG SINH NHẬT 80 NỮ SĨ LÊ NGUYỄN NGA

    Khánh Lan tường trình

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em vào xem video trên để theo dõi diễn tiến buổi chúc mừng sinh nhật Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga ngày 12 tháng 01, 2025 vừa qua.

    Trong bầu không khí thân mật và ấm cúng, buổi chúc mừng sinh nhật thứ 80 của Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga diễn tiến thật hoàn mỹ. Hiện diện trong bữa tiệc, Khánh Lan nhận thấy có sự tham dự của rất nhiều quý giáo sư, văn thi sĩ và các bạn bè gần xa cũng như các anh chị em trong gia đình Lê Nguyễn đều có mặt đầy đủ để mừng tuổi Mẹ và bà Ngoại.

    NVNT & TTG GIRLS: Minh Thư, Xuân Tạ, Lệ Hoa, Minh Khai, Minh Châu, Khánh Lan, Kiều My chào mừng quan khách

    Đại Gia Đình: Lê & Nguyễn

    Chương trình đươc soạn thảo thật thứ tự, mở đầu với những bản “Warm-up musics” của chị Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, anh Hùng Ngọc, anh Huỳnh Anh, anh Dương Viết Đang, v.v… Sau phần chào quốc kỳ, con gái Katherine Minh Thư và con rể Brian song ca nhạc phẩm God Bless The USA. Và tiếp theo đó là những bài thơ của Nữ Sĩ như Lá Rơi Bên Thềm, Giấc Mơ Xuân, Nắng Chiều Ngừng Trôi, phổ nhạc bởi Ca Nhạc Sĩ Lâm Dung và Nhạc Sĩ Tuấn Nguyễn được lần lượt trình diễn song song với những sáng tác của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn như Nắng Chiều và Cát Biển, v.v…

    Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga và con gái Katherine Minh Thư

    Trong phần chia sẻ tâm tình cùng Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga của các vị: GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, Ca Sĩ Thanh Mỹ, HS Hoàng Vinh, TS Đình Phương, NS Dương Hồng Anh, v.v… là những lời chúc tụng và kể lại kỷ niệm của những ngày tháng cũ.

    Cũng trong chương trình, Khánh Lan đã diễn ngâm một bài thơ Gió Đông Xuân, Thơ Lê Nguyễn Nga, viết vào mùa đông 2021 để kính tặng Nữ Sĩ nhân ngày kỷ niệm sinh nhật thứ 80 của bà. Kính chúc Nữ Sĩ luôn dồi dào sức khỏe và tiếp tục lan tỏa ngọn lửa nghệ thuật đến nhiều thế hệ mai sau.

    Hàng đứng: John Tạ, Thụy Lan, Susan Tạ, Khánh Lan, ông bà Tẩu Bùi. Hàng Ngồi: Phu Nhân họa sĩ Hoàng Vinh, NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, NS Lê Nguyễn Nga.

    Hàng đứng: CSVSQVB Đà Lạt Hoàng Đình Khuê, CSQHQ Tẩu Bùi và phu nhân, NV Nguyễn Quang, TS Đình Phương, NV Kiều My, CS Thụy Lan. Hàng Ngồi: NS Dương Hồng Anh, HS Hoàng Vinh, NV Việt Hải, NS Lê Nguyễn Nga, GS Dương Ngọc Sum.

    Hôm ấy cũng là ngày giới thiệu tác phẩm mới nhất của Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga: TUYỂN TẬP THƠ NHẠC LÊ NGUYỄN NGA sẽ được ra mắt cộng đồng trong dịp Xuân Ất Tỵ. Đây là một tuyển tập kết hợp giữa âm nhạc vả thi ca, gồm gần 80 bản nhạc được trình bày dưới dạng video trên youtube và 75 bài thơ được thể hiện qua tranh thơ đầy nghệ thuật mà mỗi bức tranh là một câu chuyện, một khung cảnh gắn liền với những vần thơ sâu lắng, phản ảnh tình yêu và những kỷ niệm trong hành trinh thơ nhạc dưới dạng ebook. Tuyển tập thơ & nhạc sẽ được tác giả gởi đến quý bạn bè, thân hữu và quý vị yêu thơ như một món quà đặc biệt trong dịp xuân về.

    Mộng Thủy, HS Hoàng Vinh, GS Trần Huy Bích, GS Dương Ngọc Sum, NV Việt Hải, NS Lê Nguyễn Nga, TS của hội Văn Bút, NS Dương Hồng Anh, CS Thanh Mỹ.

    HAPPY BIRTHDAY TO YOU……HAPPY BIRTHDAY TO YOU…….AND MANY MORE……..

    KÍNH CHÚC NS LÊ NGUYỄN NGA TRƯỜNG TRƯỜNG THỌ

    VĂN NGHỆ…VĂN NGHỆ…

    Khánh Lan, Mùa Xuân Ất Tỵ 2025

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    NVNT & TTG’S CHRISTMAS 2024

    NVNT & TTG KÍNH CHÚC QUÝ GIÁO SƯ, VĂN THI SĨ VÀ CÁC ANH CHỊ EM MỘT MỦA GIÁNG SINH ANH LÀNH VÀ HẠNH PHÚC

    Từ trái qua phải: Viết Đang, Kiều My, Khắc Đức, Tuyết Nga, Anh Chị Kính, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Gia Đại, Thầy Sum, Chị Nga, Việt Hải, Lệ Hoa, Minh Thư

    NV Thùy Nhơn, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, NS Lê Nguyễn Nga, GS Dương Ngọc Sum, HS Hoàng Vinh & Phu Nhân

    Khánh Lan, Lệ Hoa, Đức Học, Tuyết Nga, Kiều My, Cô Hoa, Minh Khai, Lâm Dung, Kim Hương, Minh Thư

    Khánh Lan

  • Khánh Lan,  TẾT

    YEAR OF 2025

    LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN mến chúc quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Anh Chị Em cùng toàn Quý Quyến tân Niên 2025 Vạn An, Vạn Vạn Phúc.

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    NVNT & TTG MỪNG LỄ GIÁNG SINH 2024

    Khánh Lan

    NVNT & TTG CHÀO MỪNG QUAN KHÁCH

    QUANG CẢNH BỮA TIỆC MỪNG GIÁNG SINH CỦA NVNT & TTG

    NVNT & TTG’s girls

    Ns. Lê Nguyễn Nga và NVNT & TTG’s boys

    Trong bầu không khí ấm cúng và thân mật Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG đã tổ chức một buổi họp mặt mừng lễ Giáng Sinh cùng với một số bạn bè thân quý tại Diamond Seafood 3 ngày 15 tháng 12, 2024.

    Mở đầu chương trình với hai MC khả ái và duyên dáng Mộng Thủy &  Minh Thư  chào mừng cũng như giới thiệu quan khách đã đến tham dự buổi tiệc. Tiếp theo là Nv. Việt Hải ngỏ lời chúc lành đến các vị trưởng thượng, các thành viên và thân hữu. Nv. Khánh Lan cũng được mời lên để tường trình về những sinh hoạt trong năm 2024 và những dự định của năm 2025.

    Ts. Thùy Nhơn, Nv. Nguyễn Quang, Nv. Việt Hải, Ns. Lê Nguyễn Nga, Gs. Đặng Ngọc Sum, Hs. Hoàng Vinh và phu nhân.

    Dương Viết Đang, Kiều My, Khắc Đức, Ngọc Châu, Tuyết Nga, Anh Chị Kính, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Gia Đại, Việt Hải, Chị Nga, Thầy Sum, Lệ Hoa và Minh Thư

    Trong phần giới thiệu ban chấp hành gồm có gồm có các vị cố vấn: Gs. Dương Ngọc Sum và Nv. Nguyễn Quang (rất tiếc là Gs. Trần Huy Bích, Gs. Quyên Di và Gs. Phạm Thái không đến được ngày hôm ấy), Nv. Khánh Lan, CNS Lâm Dung, MC Mộng Thủy và Thủ quỹ Minh Thư.

    CNS Lâm Dung, Nv. Khánh Lan, TS MC Mộng Thủy, Thủ Quỹ-Ds. Minh Thư và Nv. Việt Hải

    Đúng 12:30 pm, những món ăn được nhà hàng đơn dọn lên với:

    Tám món ăn ngon…..

    Nv. Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm, Nv. Việt Hải, Gs. Dương Ngọc Sum, Nv. Nguyễn Quang và Mạnh Bổng

    Cô Kim Thanh, Ts. Vũ Thùy Nhơn (VBVNHN), Ts. Võ Ngọc Hoa (VBHNVN), CNS Lâm Dung, Ns. Lê Nguyễn Nga

    Trong lúc đó những bài thánh ca mừng giáng sinh được vang lên bởi những giọng hát của các anh chị Đình Khôi, Kiều My và Kim Phượng trình diễn nhạc phẩm “Hang Bê-lem”, phần đệm nhạc của Ns Vũ Đình Ân. Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương, thơ Kiều My, nhạc Phạm Thái do Đình Khôi & Kim Phượng, CNS Lâm Dung với nhạc phẩm Silence Night cùng sự phụ họa của 3 giọng nữ.

    Anh Ngọc Tú và Ns. Vũ Đình Ân

    Lâm Dung, Kiều My, Kim Phương và Đình Khôi với nhạc phẩm Silence Night

    Và rồi lần lượt những bài hát về Giáng Sinh theo sau Magical Christmas Night, nhạc và lời của Gs. Ns. Phạm Thái, Minh Thư trình bày. Bài Thánh Ca Buồn do Ngô Thiện Đức, Disco Xmas Medley by Shellies-Rivers of Babylon / Mary’s Boy Child với Thụy Lan, Minh Thư, Lệ Hoa, Tà Áo Đêm Noël với Tony Hiếu.

    Bài Thánh Ca Buồn với Ngô Thiện Đức

    Magical Christmas Night với Minh Thư

       Tà Áo Đêm Noël  với Tony Hiếu

    Disco Xmas Medley by Shellies-Rivers of Babylon / Mary’s Boy Child với Thụy Lan, Minh Thư, Lệ Hoa

    Sau phần ăn trưa, một tiết mục đặc biệt mà ban tổ chức của chúng tôi không thể thiếu trong bữa tiệc giáng sinh: Đó là màn xổ số vui và sôi động do Cô thủ quỹ Minh Thư thực hiện, gồm 10 giải thưởng. Món quà  trúng giải là những chai rượu, chai nước mắm, chai mắm ruốc, v.v… Tất cả món quà đều được bỏ vào một thùng giấy lớn. Các anh chị trúng giải thưởng đã được mời lên sân khấu và họ tự rút ra trong thùng giấy món quà của mình. Đây là ý kiến rất độc đáo của Thủ quỹ Minh Thư, cô bé luôn có những sáng kiến hay và tạo ngạc nhiên thích thú đến cho mọi người đi theo những trận cười nghiêng ngả của mỗi mọi người.

    Minh Thư và chị Kim Hương trúng giải thứ …

    Tường Anh…đã quá…tối nay khỏi ngủ luôn…uống cho say….

    Kiều My…đỡ quá…nhà bếp của ta không còn một chai nước mắm nào…

    Các thành viên trúng số….cuối năm rồi mà còn hên quá ta…

    Quy luật được lãnh giải chỉ dành riêng cho thành viên NVNT & TTG, gia đình và thân hữu. Các vị cố vấn NVNT và ban chấp hành bị lọt sổ nên Gs. Dương Ngọc Sum và Nv. Nguyễn Quang đã kịch lịch phản đối…

    Gs. Dương Ngọc Sum đang “complain” vì không được dự phần vào cuộc vui…với Mộng Thủy và Chị Trầm Hương…

    Sau phần xổ số là tiết mục khiêu vũ, cắt bánh Sinh Nhật, chụp hình lưu niệm. Chương trình bế mạc lúc 3 giờ chiều.

    Cắt bánh mừng Giáng Sinh 2024

    Dancing all night

    Tường Anh

    Minh Thư với I will survive

    Thụy Lan

    Ngọc Châu, Tuyết Nga, Khánh Lan

    MỘT NGÀY VUI TRỌN VẸN. MERRY CHRISTMAS TO EVERYONE. LOVE FROM NVNT & TTG.

    Khánh Lan, Dec. 15, 2024

  • Khánh Lan,  Phạm Hồng Thái,  RA MẮT SÁCH

    RA MẮT TÁC PHẨM VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI CỦA NHÀ VĂN TRẦN VIỆT HẢI

    Khánh Lan & Thái Phạm

    Cho ta gởi đôi ba dòng tâm sự

    Của những tháng cũ đã xa xôi

    Mảnh tâm tình bao năm ta ấp ủ

    Vương vấn trong tim suốt cả đời.

    Chủ nhật ngày 08 tháng 12, 2024. Nhà Văn Việt Hải đã ra mắt tác phẩm VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI trong ngày sinh nhật thứ 72 của ông sau hơn 25 năm cầm bút và gần 30 năm kể từ ngày ông bị tai biến mạch máu. (1996-2024) tại Viet Life Club, số 15609 Beach Blvd., Westminster, CA 92683. 

    Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật chào mừng quan khách

    28 năm trước, Nv. Việt Hải đã trải qua bước ngoặt lớn khi ông bị hai lần đột quỵ ở tuổi 42. Cơn đột quỵ đã khiến anh gặp nhiều khó khăn trong việc đi đứng, nói chuyện, và chỉ còn có thể sử dụng một cánh tay trái. Với nhiều người, đây là một thử thách khó có thể vượt qua, nhưng đối với anh, đó là sự khởi đầu của một hành trình mới – hành trình tìm kiếm ý nghĩa và mục đích sống. Anh đã tìm lại được niềm tin và khám phá niềm vui trong thế giới văn chương nơi ông kết nối với những người bạn văn thơ khắp nơi. Phải chăng trong cuộc đời có những thử thách tưởng chừng không thể vượt qua, nhưng chính trong khoảnh khắc đen tối ấy tinh thần con người lại thể hiện ý chí phấn đấu mãnh liệt nhất!

    Click vào hình để đọc sách

    VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI là tập hợp những bài viết tiêu biểu của Nv. Việt Hải trong suốt gần ba thập niên qua. Mỗi bài viết không những chỉ chứa đựng kiến thức uyên bác về văn học nghệ thuật, mà còn là minh chứng cho sự kiên cường, lòng đam mê văn chương và tinh thần phục vụ nghệ thuật của tác giả. Điều đáng trân trọng là dù đã viết rất nhiều bài có giá trị trên nhiều bài báo, tuyển tập và trang website, facebook, v.v…Nv. việt Hải chưa từng nghĩ đến việc viết riêng cho mình một tác phẩm. Đây là biểu hiện cao đẹp của một tâm hồn luôn khiêm nhường, biết quý trọng, và hy sinh vì bạn bè.

    Món quà sinh nhật đặc biệt đầy ngạc nhiên, riêng tặng Nv. Việt Hải của Nv. Khánh Lan

    Những bài viết của Nv. Việt Hải đươc lưu trữ trong website ninhhoa.com lên đến cả ngàn bài. Chúng tôi rất vinh hạnh đã được Nv. Việt Hải đã cho phép chọn ra một số bài viết trong các bài viết của ông để thực hiện quyển sách đầu tiên này. Để tỏ lòng kính trọng tác giả, một món quà sinh nhật đặc biệt đầy ngạc nhiên với gần 1000 bài viết của anh do Nv. Khánh Lan edit và layout hai quyển sách dày gần 500 trang với tên TÂM TÌNH VÀ KỶ NIỆM I & II, in trên giấy màu, đẹp và trang nhã, để kính biếu đến một tâm hồn văn học “Nghệ thuật vị nghệ thuật” của Nv Việt Hải.

    QUAN KHÁCH THAM DỰ

    Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga, Thi Sĩ chủ tịch Đình Duy Phương và các thi sĩ trong hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ.

    Kiều My, Tuyết Nga, Ngọc Châu, Mạnh Bổng, Quốc Dân, Kim Hương và hai vị quan khách.

    Theo lời yêu cầu của Nv. Việt Hải, đây là một buổi giới thiệu tác phẩm xuất bản đầu tiên của ông trong bầu không khí thân mật và ấm cúng, nhưng tụ họp những bạn bè thân thiết mà ông yêu quý. Hiện diện trong buổi ra mắt sách, chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của các vị như Gs. Ts. Trần huy bích, Gs. Ts. Quyên Di, Gs. Ts. Mai Thanh Truyết từ Texas, Gs. Đặng Ngọc Sun, Gs. Ns. Lê Văn Khoa và phu nhân, Ca Sĩ Ngọc Hà, Họa sĩ Hoàng Vinh và phu nhân, Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, Thi Sĩ Đình Duy Phương và các thi sĩ trong Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Miền Tây Nam Hoa Kỳ, các nhà văn & ký giả: Vương Trùng Dương, Phạm Quốc bảo và Thanh Huy, Nhiếp Ảnh Gia Nguyễn Thiệu Minh, Nv. Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm và phu nhân, Nv. Kiều My, Khoa Học Gia Lâm Quốc Dân và phu nhân, Kim Hương, Chủ Tịch Công Ty Dược Thảo Princess Lifestyle, John Tạ và phu nhân Suzan Tạ, cựu SVSQDL Hoàng Khuê và nhiều nhân vật nổi tiếng trong làng văn học cũng như các anh chị em trong liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian.

    Sau phần chào quốc kỳ, giới thiệu quan khách tham dự là giây phút tâm tình cùng quý giáo sư và các văn thi sĩ.

    Nv. Việt Hải trò chuyện cùng quan khách trong vòng 1:30 phút trước khi bước vào phần văn học.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và MC CS Thụy Lan

    Trong dịp này, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh đã đọc tặng Nv. Việt Hải bài thơ “Mừng sinh nhật nhà văn Trần Việt Hải“:

    Mừng sinh nhật nhà văn Trần Việt Hải

    Cali nắng ấm chan hòa

    Mừng xuân đang đến mượt mà tươi xinh

    Dang tay ôm nắng bình minh

    Mừng anh Việt Hải cánh chim đầu đàn

    Tin vui ra sách vừa loan

    Văn chương thơ nhạc tao đàn nở hoa

    Tin vui lan khắp gần xa

    Tao nhân mặc khách đàn ca đón chào

    Tặng anh một đóa hồng đào

    Xây nền văn học biết bao chăng đuòng

    Tặng anh ngọn bút văn chương

    Thơ văn trẻ mãi muôn phương sáng ngời

    Vườn hoa văn nghệ tuyệt vời

    Nhân văn nghệ thuật bừng tươi suối hồn

    Chờ mai xuân đến xuân hồng

    Bút thơ dệt mộng non sông bốn mùa

    Tao đàn thơ nhạc niềm mơ

    Trời mây lãng đảng Hương đưa ngọt ngào.

    Dương Hồng Anh

    Anh Tiến Trần là em trai của Nv. Việt Hải, anh nói về ảnh hưởng của Phật giáo và anh Ngô Thiện Đức nói về ảnh hưởng của Đạo Cao Đài trong văn chương Việt Nam.

    Trước khi vào phần văn học, chương trình khai mạc với tứ ca Thụy Lan, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh và Ái Liên qua nhạc phẩm hào hùng “Việt Nam Minh Châu Trời Đông“.

    PHẦN VĂN HỌC

    Mở đầu phần văn học, MC Mộng Thủy giới thiệu vị diễn giả đầu tiên, Gs. Ts. Trần Huy Bích qua phần giới thiệu tác phẩm VĂN HỌC-VANG BÓNG MỘT THỜI. Sau phần tóm lược sách, Gs. Trần Huy Bích đã sử dụng một kỹ thuật mới lần đầu tiên và cũng là người tiên phong dùng AI  (Artificial Intelligence) nói về một nhân vật trong bài diễn văn tại buổi Ra Mắt Sách của NVNT & TTG. Gs. Bích đã dùng AI để phân tích về nhân vật: Trần Việt Hải, nghe rất hay, rất lạ, rất bùi tai và rất đúng.

    Gs. Trần Huy Bích giới thiệu tác phẩm

    AI phân tích về tiểu sử và lãnh vực đóng góp trong văn chương của Nv. Việt Hải như sau: Trần Việt Hải là người giữ vai trò quan trọn trong lãnh vực lưu giữ và quảng bá văn hóa Việt Nam trong bối cảnh xa quê hương. Trong lãnh vực nghiên cứu và viết lách, ông viết dưới nhiều chủ đề từ phân tích vấn đề văn hóa, lịch sử, giáo dục, khoa học thực tiễn, v.v… với tinh thần trách nhiệm, sâu sắc và truyền đạt, bảo tồn giá trị truyền thống thông qua các bài viết đến thế hệ trẻ tại hải ngoại. Ông tham gia, góp phần và có ảnh hưởng trong những sinh hoạt cộng đồng, hội thảo giao lưu và học hỏi của người Việt tại hải ngoại.

    Nói về Nhóm NVNT & TTG, AI phân tích như sau: Là một tập hợp trí thức bao gồm văn thi nghệ sĩ và văn nhân, thành lập sau năm 1975 tại hải ngoại với mục đích gìn giữ, phát triển, duy trì và quảng bá văn hóa và nghệ thuật Việt Nam do một số văn sĩ di cư ra hải ngoại. Với mục đính giữ gìn bản sắc văn hóa Việt và tập trung vào các tác phẩm có giá trị, sáng tác và nghiên cứu…

    Để kết luận, Gs. Trần Huy Bích nói: “Hữu xạ tự nhiên hương” có nghĩa là “Khi mình làm được nhiều điều tốt thì tự nhiên mọi người sẽ biết”. Sau cùng Gs. Trần Huy Bích chúc mừng sinh nhật và cầu chúc Nv. Việt Hải có nhiều sức khỏe để duy trì và truyền bá văn hóa Việt Nam.

    Diễn giả thứ hai là Gs. Quyên Di, ông nói về ba điểm quan trọng trong cuộc đời của Nv. Trần Việt Hải.

    1. Nhạc phẩm Niềm Vui Mới đánh dấu một kỳ niệm sâu đậm giữa Gs. Ns. Trần Quang Hải, Gs. Quyên Di và phu nhân, Ns. Hồng Trang và Nv. Việt Hải. Bài hát do Nv. Việt Hải viết lời, Gs. Ns. Trần Quang Hải hòa Âm với sự phụ giúp của Ns. Hồng Trang và Gs. Quyên Di. Bài nhạc gồm 3 phiên khúc: Phiên khúc I: Đề cao tình bạn. Phiên khúc II: Vinh danh Thiên Chúa và phiên khúc III: Vinh danh các thuyền nhân đã vượt biển đi tìm tự do trong năm 1975.
    2. Nhạc phẩm Và Con Tim Đã Vui Trở Lại của Ns. Đức Huy. Đây là bài hát mà ông đã nghe được trên con đường từ Nursing Home về nhà sau 4 tháng nằm liệt giường. Vâng, một niềm vui vô tận khi ông nhận ra rằng mình đã đánh bại lưỡi hái của tử thần. Thật đúng với bản nhạc “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại”.
    3. Gs. Quyên Di nói tiếp: Con người của Việt Hải có đến 5 cái dài: Thứ nhất là tay dài vì đã kết nối được nhiều bạn bè, ai cũng là người quen và ai cũng là bạn. Thứ hai là ngón tay dài vì đánh máy có một ngón tay và “cừ ” ra phết. Môi dài vì nói nhiều và dài quá đến nỗi môi cũng phải xưng “vếu” lên. Đầu dài hay đầu to vì cái gì, đề tài gì cũng viết được thế mới tài chứ (?). Chân dài vì đi đâu cũng đi, chẳng quản ngại đường xa (mà chỉ ngại cho người đẩy xe lăn cho anh như Mạnh Bổng và Lệ Hoa thôi, như có lần Lệ Hoa nói: Chỉ có anh Việt Hải là sung sướng và thoải mái thì Mạnh Bổng vội đáp lời Lệ Hoa là: Việt Hải càng thoải mái thì Mạnh Bổng càng đổ mồ hôi dầu & hết xí quách…)

    Bài diễn văn thứ ba của MC Mộng Thủy, cô MC duyên dáng, khả ái, văn hay chữ tốt và dí dỏm của NVNT & TTG luôn để lại trong lòng quan khách những trận cười nghiêng ngả với những mẩu chuyện “chưa từng kể, chưa ai biết, chẳng ai hay về những bí mật của cuộc đời Trần Việt Hải”. Bài diễn văn của Mộng Thủy tuy rất dài nhưng rất thu hút người nghe. Nhưng trong bài viết này, Khánh Lan chỉ xin tóm lược một vài đoạn như sau.

    “…5 “top secrets” quốc phòng do AI tiết lộ:

    1. Các “Miêu Miêu” từ New York và Paris yêu cầu Việt Hải làm rể phương xa nhưng ông phải gạt bỏ tình cảm riêng tư để chu toàn bổn phận giúp Mẹ nuôi các em. (Miêu Miêu ở đây có nghĩa là “EX-GIRLFRIEND”, Mộng Thủy giải thích)…
    2. 39 năm trước, trong một chuyến theo người anh họ thăm thành phố Sacramento. Nv. Việt Hải đã “bén mắt” vào Lệ Hoa. Vỉ thế nên: “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”. Và sau đó, Việt Hải trở về nhà tâm tư âu sầu, lòng lo trăm mối, trăm thương ngàn nhớ, tơ tình vương vấn…
    3. Nếu còn duyên nợ đợi chờ nhau, xin hẹn nghìn năm ở kiếp nào… Lệ Hoa có nợ từ tiền kiếp trước và …kiếp sau Việt Hải phải trả ơn bội hậu cho Lệ Hoa….Kết thúc là …Việt Hải xin nâng khăn sửa túi cùng người đẹp Lệ Hoa…còn Lệ Hoa thì kiếp sau mà lỡ có gặp lại Việt Hải thì nàng sẽ quay mặt làm ngơ…
    4. Đi cầu tự tại Chùa Vàng (Golden Temple) tại Thái Lan. Việt Hải đã đi 1993 cầu tự một mình và kết quả là Hải Nam chào đời và chỉ 14 tháng sau Hải Việt theo ra sau đó. Khiến vui vẻ cả nhà…
    5. Việt Hải trổ tài lái xe về nhà sau một party lúc 1 giờ sáng….và kết quả là…”RẦM“… xin quý độc giả đoán xem là chuyện gì đã xảy ra nhé.

    PHẦN CẮT BÁNH SINH NHẬT

    HAPPY BIRTHDAY VIỆT HẢI & VÀ CON TIM ĐÃ VUI TRỞ LẠI

    Đây mới là phần chính của chương trình: Đó là mừng sinh nhật thứ 72 của Nv. Việt Hải. Thật vậy, cả khánh phòng vang lên lời chúc tụng đến ông và bài hát Happy Birthday & Và Con Tim Đã Vui Trở Lại vang dội. Chưa bao giờ chúng tôi thấy Nv. Việt Hải vui như vậy, với vẻ mặt sáng ngời, với nụ cười “xả ga”, ông nói không lên lời. Trong buổi tiệc mừng sinh nhật này, toàn thể anh em trong nhóm và các thân hữu tham dự muốn gởi đến Nv. Việt Hải lòng tri ân về những gì ông đã đóng góp cho văn học Việt cũng như tấm gương nghị lực phi thường và tình yêu thương mà ông đã khơi dậy trong lòng mọi người.

    Nụ cười trong hạnh phúc và sung sướng

    Nếu còn duyên nợ đợi chờ nhau, xin hẹn nghìn năm ờ kiếp nào.

    Phu nhân Lệ Hoa tặng hoa cho phu quân Việt Hải kỷ niệm 39 năm “Hấp Hôn”

    NVNT & TTG kính chúc Nv. Việt Hải trường trường thọ, hạnh phúc và yêu đời mãi mãi.

    Nào cùng cạn ly chúc mùng Nv. Việt Hải….Anh ơi có bao nhiêu, 72 cuộc đời…cho thêm 28 năm nữa, sẽ là 100 thôi…Khó gì?

    Khánh Lan & Phạm Thái

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Vương Trùng Dương

    Ra mắt tuyển tập thơ nhạc của Dương Viết Điền

    Tường trình: Vương Trùng Dương & Khánh Lan

    Trưa Chủ Nhật 24/11/2024 nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức ra mắt tuyển tập Thơ & Nhạc của Dương Viết Điền trong vòng thân mật tại Viet Life Club, 15609 Beach Blvd., Westminster, CA 92683.

    Nhà Văn Dương Viết Điền ra mắt sách

    Sau phần chào Quốc Kỳ, Nhà Văn Việt Hải đại diện NVNT & TTG chào mừng quan khách tham dự, ông nói:

    “Đã không biết bao nhiều lần tôi lên đây để thưa chuyện cùng quan khách, thế mà lần này tôi run quá, có lẽ vì mối thân tình mà tôi và VTNS Dương Viết Điền quá thân thiết trong hơn 30 năm qua và chúng tôi coi nhau như anh em trong một nhà…..”

    Giáo Sư Trần Mạnh Chi cũng có mặt để chia vui cùng VTNS Dương Viết Điền nhưng ông phải về sớm vì có buổi họp quan trọng lúc 3:00 giờ chiều.

    VTNS Dương Viết Điền và GS Trần Mạnh Chi

    Các diễn giả gồm có sự góp mặt của Giáo Sư Trần Huy Bích, Văn Thi Sĩ Khánh Lan và MC Mộng Thủy. GS Trần Huy Bích nói về nội dung, ý thơ và những bản nhạc trong tuyển tập Thơ và Nhạc của Văn, Thơ, Nhạc Sĩ Dương Viết Điền,

    Tiếp theo, Khánh Lan chia sẻ về hình thức, kỹ thuật layout và vẻ đẹp của tuyển tập sau khi in ấn. Khánh Lan đã duyệt qua 3 lãnh vực chính trong Tuyển Tập Thơ và Nhạc của VTNS Hạ Ái Khanh Dương Viết Điền, gồm những bài thơ viết cho người vợ thủy chung, Hoàng Thị Kim Cúc qua hai bài thơ Thương Em và Thương Người Vợ Ở Quê Nhà.

    Thương em quá, lệ sầu thường nhỏ giọt

    Khóc cho em, mai một tuổi xuân thì

    Trời xanh kia, sao gây cảnh biệt ly

    Để kẻ ở, người đi không về được…

    …Ai xa vắng, mà không buồn tê tái

    Ai xa nhau, mà không mãi sầu thương

    Dù chuyện thần thoại, cũng vấn vương

    Nói chi nữa, đến tình thương chồng vợ

    Hay trong bài thơ THƯƠNG EM, DVD viết:

    Ngày ấy năm nào

    Thân cò lặn lội tìm vào Rừng sâu

    Nuôi chồng “Cải tạo”, âu sầu

    Đầm đìa giọt lệ, úa màu Thời gian

    Nắng mưa, Những mấy thu tàn

    Bao mùa lá rụng, triền miên ngậm ngùi….

    Nói về tình mẫu tử, về hình bóng Mẹ già lên trại cải tạo thăm con và chờ đợi ngày người con tù tội trở về qua bài thơ Ra Thăm Mẹ đã gây lên sự xúc động trong lòng quan khách tham dự.

    Chín năm biền biệt rừng sâu chưa về

    Nay gặp mẹ, vui tràn trề

    Mừng mừng, tủi tủi, mải mê chuyện trò

     Mẹ hỏi con: “Thế bao giờ

    Con về với mẹ, đợi chờ còn lâu?

    Hay sự bàng hoàng trong nỗi mừng tủi lẫn lộn khi nhìn thấy Mẹ.

     Thấy con mẹ khóc, ngẩng đầu nhìn chăm

    Con mừng nhìn mẹ đăm đăm

    Rưng rưng giọt lệ, chín năm mong chờ

    Thấy mẹ con thật không ngờ

    Mẹ nay khác hẳn, ngày xưa ở nhà

    Thảo nà, nhìn mẹ không ra

    Tóc mẹ bạc hết, tuổi già từ lâu

    Da nhăn, má hóp, mắt sâu

    Nhớ con mẹ khóc, mẹ sầu lắm không?

    Và sau cùng, trong nỗi xót xa, chua chát khi Dương Viết Điền nhớ về những người bạn đã cùng ông sống sót trong cảnh lao tù, ông đã ví các người tù như những con hổ bị nhốt trong cái bẫy lao lý, không bản án, không hẹn ngày trở về qua bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ tặng Nguyễn Tường Tam (Lời con Hổ ở vườn Bách thú)

    Gặm một khối, căm hờn trong cũi sắt,
    Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
    Khinh lũ người kia, ngạo mạn, ngẩn ngơ,
    Giương mắt bé, riễu oai linh rừng thẳm

    Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
    Để làm trò, lạ mắt, thứ đồ chơi.
    Chịu ngang bầy, cùng bọn gấu dở hơi,
    Với cặp báo, chuồng bên vô tư lự.

    Ta sống mãi, trong tình thương nỗi nhớ,
    Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
    Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,

    Với khi thét khúc, trường ca dữ dội
    Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng

    Lượm tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng

    Vờn bóng âm-thầm, lá gai, có sắc

    Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc

    Là khiến cho mọi vật đều im hơi

    Ta biết ta, chúa tể của muôn loàiGiữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi…

    Diễn giả sau cùng là MC Mộng Thủy, hơn bao giờ hết, cô thật duyên dáng, dí dỏm và yêu kiều trong phần nói chuyện cùng khán giả về “Những điều chưa biết về VTNS Dương Viết Điền”. Ai có thể ngờ rằng VTNS họ Dương của chúng ta đã từng là Hollywood Movie Star đóng vai “Anh Thượng-sáu múi” nay chỉ còn “một múi” (theo lời NVKG Vương Trùng Dương).

    Hậu quả của 10 năm tù đầy, sức khỏe của VTNS Dương Viết Điền bị suy giảm rất nhiều trong thời gian gần đây, ông không còn tham dự vào nhiều sinh hoạt văn học trong cộng đồng như xưa cũng như với nhóm NVNT & TTG, nhưng lần nầy, ông đã cố gắng hiện diện trong buổi RMS.

    Ngoài phần văn học, phần văn nghệ cũng rất đặc biệt với những bài hát do VTNS Dương Viết Điền phổ nhạc qua những bài thơ của ông. Với giọng ca ấm và truyền cảm của Thụy Lan đã đi vào lòng người và Khánh Lan cũng đã có cơ hội ngâm bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ để tặng ông và quan khách. Đây là buổi RMS đầu tiên mà NVNT & TTG đã lồng vào phần văn học với những tác phẩm mà tác giả sáng tác. Phần văn nghệ, chúng tôi nhận thấy có sự góp mặt của Ca Sĩ Ngọc Hà, Mạnh Bổng, Ngọc Quỳnh, Lệ Hoa, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Anh Hiếu, Huỳnh Anh, v.v…

    DVĐ cùng Khóa Nguyễn Trãi I ở Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị với Nhà Văn Ký Giả Vương Trùng Dương và ông đã viết hai bài trong hồi ký Những Kỷ Niệm Với Các Nhạc Sĩ Việt Nam và trong tuyển tập nầy. Dương Viết Điền đã ấn hành khoảng hơn 20 tác phẩm gồm văn, thơ, nhạc từ khi định cư tại Los Angeles.

    Kết thúc buổi RMS là phần cắt bánh chúc VTNS Dương Viết Điền nhiều sức khỏe để cùng sinh hoạt văn hóa với NVNT & TTG.

  • DU LỊCH,  Khánh Lan

    NVNT & TTG DU LỊCH HÀN QUỐC & NHẬT BẢN

    Khánh Lan tường trình

    Năm nay, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) đã du lịch-thưởng ngoạn ngắm hoa vàng trên du thuyền Norwegian Spirit từ ngày 12 tháng 10, 2024 đến ngày 23 tháng 10, 2024 tại hai quốc gia Nhật Bản và Đại Hàn. Chuyến đi này có khá đông các anh chị tham dự, 30 người gồm NVNT & TTG cùng các anh & chị cựu nữ sinh trường Trưng Vương và Chu Văn An, Sài Gòn.

    Mạnh Bổng, Khánh Lan, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Kim Hương, Quốc Dân

    Mạnh Bổng và các anh cựu nam sinh trường Chu Văn An, chị cựu nữ sinh trường Trưng Vương, Sài Gòn

    NGÀY 09 THÁNG 10, 2024, BAY SANG ĐẠI HÀN

    Chuyến bay 11 tiếng đáp xuống phi trường Seoul Incheon International Airport lúc 5:50 pm ngày 10 và sau khi lấy hành lý, chúng tôi thuê taxi về khách sạn Travelodge Myeongdong Namsan và Fairfield by Marriot Seoul-Gyeongin-ro. Tất cả chúng tôi đều mệt và buồn ngủ, nên chỉ kịp ăn vội bữa cơm dã chiến ngoài phố, về lại khách sạn và chuẩn bị lên giường …Thế là đã mất một ngày…

    INCHEON, ĐẠI HÀN là nơi du thuyền Norwegian Spirit cập bến tại Incheon International Cruise-Teminal 438, Gukjchan-daero-yeonsu-gu, Incheon Port. Incheon thuộc tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc cùng với Yeoju, Incheon được biết đến là trung tâm sản xuất đồ gốm Hàn Quốc và là thành phố thủ công mỹ nghệ & nghệ thuật dân gian của UNESCO. Là nền văn hóa bảo thủ truyền thống của Hàn Quốc, Incheon là nơi giao hòa giữa văn hóa indie và giới trẻ của Seoul.

    MÙA THU HÀN QUỐC

    Trước khi chuẩn bị cho chuyến du lịch, chúng tôi thầm nghĩ: Hàn Quốc vào mùa thu chắc sẽ tuyệt đẹp, thời tiết mát dịu và se se lạnh…Nhưng chúng tôi đã lầm to… Nhiệt độ ẩm và không khí ngột ngạt, oi bức của mùa hè tưởng đã đi qua để nhường lại cho một bầu trời trong xanh, mang theo cơn gió lành lạnh của những ngày đầu Thu chỉ là lòng ao ước của chúng tôi. Thật vậy, năm nay nhiệt độ và thời tiết tại Đại Hàn và Nhật Bản đã không dễ chịu mà còn giữ nguyên cái nóng bức của mùa hè, biến tháng 10 thành khoảng thời gian chẳng lý tưởng cho việc đi du lịch ngắm lá thu vàng. Lòng ao uớc được khám phá cảnh thiên nhiên với vẻ đẹp tuyệt vời của những khu rừng cây đang thay lá, đổi màu không như chúng tôi chờ đợi. Cái tiết Thu êm ả của tháng 10 đầy thơ mộng và lãng mạn đã không xảy ra.

    Ôi! Chỉ là giấc mơ thôi!

    NGÀY 11 THÁNG 10, 2024. INCHEON, KOREA

    Namchang-dong and Gyeongbokgung Palace

    Sau một đêm nghỉ ngơi, chúng tôi hăng hái lên đường đi “bát phố”trên con đường Hoehyeon-dong-ga. Incheon là một thành phố nhỏ nên chỉ mất khoảng vài tiếng là đã đi hết phố. Tuy là tháng 10, nhưng khí hậu nóng như mùa hè, vậy mà chúng tôi đứa nào cũng áo đơn áo kép thế có chết người không cơ chứ.

    Hoehyeon-dong-ga, Seoul

                Vừa đi vừa nói chuyện nên khoảng 2 tiếng sau chúng tôi đã đến khu Namchang-dong, Seoul. Đây là khu shopping bày bán không thiếu một thứ gì, từ thức ăn, quần áo, giầy dép, nón mũ, túi sách tay bình dân với giá rất rẻ.

    Namchang-dong, Seoul

    Sau bữa ăn trưa, chúng tôi rủ nhau thuê taxi đến seoul-Sejongno, thăm Gyeongbokgung Palace hay Royal Palace. Không ngờ nơi đây đã để lại trong chúng tôi một ngày vui và nhiều kỷ niệm đẹp. Để không phải trả tiền vé vào cửa của Gyeongbokgung Palace chúng tôi mướn bộ trang phục truyền thống của Hàn Quốc, Hanbok với giá $35 một bộ trong vài tiếng. Nhưng đến khi mặc bộ áo Hanbok vào người, chúng tôi không khỏi bật cười nhất là nhìn Khánh Lan và Kim Hương, trông hai đứa như hai cái “lu biết đi” vì cả hai chúng tôi đều bị “yêu cầu” phải để nguyên cái áo len dầy cộm ở bên trong áo Hanbok. Cái cảm giác ban đầu khi nhìn bộ trang phục Hanbok là nó có vẻ sặc sỡ, cồng kềnh, cứng đơ làm khó chịu cho người mặc, nhưng trang phục này lại biểu tượng tính chất văn hóa và thể hiện được rõ nét thanh lịch và nét đẹp của phụ nữ Hàn quốc.

    Gyeongbokgung Palace-Royal Palace-Sejongno, Seoul Và 3 bà lão vớ được trai tơ (hehehe…)

    Hanbok là một biểu tượng lịch sử bắt nguồn từ thời kỳ Cao Câu Ly, một quốc gia nổi tiếng trong Tam Quốc nằm trên bán đảo Triều Tiên từ năm 37 TCN đến năm 668. Hanbok có màu sắc tươi sáng, đường may đơn giản và không có túi, trở thành biểu tượng của văn hóa Hàn với quan niệm về sự hòa hợp giữa các yếu tố như trời – đất, nước – lửa, cây – gió. Hanbok nổi bật với sự kết hợp tinh tế giữa đường nét và sự phong phú của màu sắc tự nhiên. Sự mộc mạc nhưng đầy sang trọng của Hanbok. Trong lịch sử của Hàn Quốc, tồn tại hai loại Hanbok phân biệt cho giai cấp quý tộc và dân thường. Những giai cấp quý tộc thường ưa chuộng trang phục mang đậm ảnh hưởng phong cách từ ngoại quốc, trong khi đó, dân thường thì trung thành với trang phục truyền thống Hàn Quốc.

    NGÀY 12 THÁNG 10, 2024-INCHEON-DU THUYỀN ORWEGIAN SPIRIT

    Tàu Norwegian Spirit là tàu lâu đời nhất của Norwegian Cruise Line, ra mắt vào năm 1998. Đây không chỉ là tàu lâu đời nhất mà còn là tàu nhỏ nhất trong Norwegian Cruise Line. Tàu có chiều dài là 880 ft, số hành khách trên tàu là 1972 người và 904 nhân viên.

    Norwegian Spirit welcome NVNT & TTG

    Giờ lên tàu của chúng tôi là 12 giờ trưa nên sau khi làm xong thủ tục “check in” chúng tôi kéo nhau lên trên boong tàu và chụp những tấm hình lưu niệm.

    Khánh Lan, Đức Hạnh, Tuyết Nga và các anh chị Chu Văn An & Trưng Vương Ngày đầu trên du thuyền Norwegian Spirit

    NGÀY 13 THÁNG 10, 2024-JEJU ISLAND

    Jeju Island là một hòn đảo có diện tích 1850 km2 và lớn nhất Hàn Quốc. Nằm ở phía nam bán đảo Triều Tiên, được hình thành bởi sự bồi tụ, xếp chồng của các mảng địa chất kết thành khi các ngọn núi lửa dưới lòng đại dương hoạt động. Đó là lý do vì sao chúng tôi đã mua tour Jeju Island Highlight.

    Nhưng sự hy vọng ấy đã trờ thành thất vọng khi đọc lá thư của Norwegian Cruise Line Shore Excursions để trên bàn phấn, báo cho chúng tôi biết là tour Jeju Island Highlight sẽ thay thế bởi tour Jeju City Highlight. Tour Jeju Highlight gồm Thác Cheonjiyeon có dòng nước đổ thẳng xuống từ một vách đá dựng đứng có tên là Cheonjiyeon, nghĩa là “bầu trời nối liền với đất liền”. Thác Cheonjiyeon nằm ở một vị trí đặc biệt, nổi tiếng bởi sự hùng vĩ và nằm giữa núi rừng. Thác còn có tên là “đầm nước của thần linh” bởi điểm kết thúc của thác là một con suối với dòng nước chảy trắng xóa.

    Vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thác nước Cheonjiyeon

    Thác nước Cheonjiyeon nằm ở phía đông nam của đảo Jeju với vẻ đẹp thơ mộng và huyền ảo. Cao 22 mét và rộng 12 mét. Phía dưới thác là hồ nước lớn nhân tạo, sâu 20 mét. Thác nước Cheonjiyeon với một truyền thuyết bí ẩn là xưa kia có 7 nàng tiên hạ trần đi ngang qua Thác, họ say đắm với cảnh sắc nơi đây và đã xuống con thác để tắm. Thác Cheonjiyeon có sự đa dạng sinh học với nhiều loài cây cối tươi tốt tạo nên một thảm thực vật phong phú.

    Nằm dưới chân thác Cheonjiyeon là khu rừng Dampalsu được công nhận là di tích thiên nhiên của Hàn Quốc và có rất nhiều loài cây quý hiếm. Con hồ dưới chân thác có loài lươn Mutae là loài lươn rất quý hiếm, chúng có thân hình to lớn, màu đen tuyền, vẩy bóng loáng, loài lươn này được coi là biểu tượng của sức khỏe và tài lộc.

    Norwegian Cruise Line Shore Excursions Jeju City Highligh

              Đây là tour mà du thuyền thay thế cho tour Jeju Island. Sau bữa điểm tâm, chuyến xe bus mang số 17 đưa chúng tôi đến thăm thành phố Jeju. Thắng cảnh đầu tiên là Yongduam Rock hay Dragon Head Rock. Có rất nhiều truyền thuyết bí ẩn về Dragon Rock, một trong những truyền thuyết cho rằng sự hình thành của Dragon Head Rock là do dung nham thạch từ những núi lửa dưới đáy biển phun trào lên, khi chúng gặp gió mạnh và sóng lớn đánh vào và qua hàng nghìn năm, chúng kết hợp thành hình thể giống như đầu con rồng.

    Dragon Head Rock

    Điểm dừng chân kế đến là Viện Bảo tàng Lịch sử Folklore and Natural History Museum, nơi trưng bày các di tích dân gian và lịch sử của hòn đảo từ khi thành hình, đến hệ sinh thái của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nền văn hóa độc đáo của hòn đảo.

    Kim Hương, Đức Hạnh, Tuyết Nga, Khánh Lan và Liên

    Sau cùng xe bus chở chúng tôi đến thăm ngôi Chợ truyền thống Dongmun, một trong những khu chợ lớn nhất tại Thành phố Jeju trải dài từ Suối Sanju đến đường Jungang, khu chợ này là nơi hoàn hảo để quan sát người dân địa phương sinh sống trong cuộc sống hàng ngày của họ.

    Quốc Dân, Kim Hương, Liên, Hùng, Khánh Lan, Mạnh Bổng

    Trong chợ truyền thống Dongmun bày bán đủ mọi thứ, nào là bánh gạo truyền thống Jeju hay bánh Omegitteok là một món ăn rất được ưa chuộng. Bánh gạo truyền thống Jeju làm bằng bột kê nếp, kết hợp cùng với bột đậu tương hoặc đậu đỏ nghiền.

    Chợ truyền thống Dongmun

    Quýt Hallabong là một đặc sản khác cũng nổi tiếng không kém của Jeju, nó có vị ngọt, thơn, mọng nước và hàm lượng vitamin C cao, tốt cho sức khoẻ và có thể làm giảm mệt mỏi.

    Quýt Hallabong

    THỨ HAI NGÀY 14 THÁNG 10, 2024: AT SEA

    Du thuyền vượt đại dương để đến hải phận của nước Nhật Bản. Sau 4 ngày đi lang thang ngoài phố, hôm nay là ngày hoàn hảo để chúng tôi lấy lại sức mà đi ngao du tiếp khi đến sứ phù tang. Hôm nay cũng là ngày cho các “chàng & nàng” tha hồ “dress-up” và chụp hình đấy.

    Dressing-up for the party

    MÙA THU ĐÔNG KINH (NHẬT BẢN)

    Mùa Thu Đông Kinh vẫn được cho là đẹp tuyệt diệu từ tháng 10 cho đến giữa tháng 12. Đó là thời điểm đẹp nhất để thăm viếng Nhật Bản khi nhiệt độ giảm xuống mức dễ chịu với lượng mưa ít hơn và phong cảnh mùa thu đang vào thời kỳ tuyệt vời. Thế nhưng, những ước mơ ngắm cảnh đồi núi với những rừng cây đầy màu sắc, tận hưởng sắc thu đều là trong mộng tưởng. Bởi nhiệt độ tại Nhật Bản chẳng khác gì Đại Hàn với khí hậu nóng và oi bức.

    Ôi! Chì là giấc mơ thôi!

    THỨ BA NGÀY 15 THÁNG 10, 2024-ISHIGAKI-OKAWA

    Nằm ở phía Tây đảo Okinawa, thuộc Quần đảo Yaeyama và ở phía Đông của Đài Loan. Đảo Ishigaki được xem là một trong những hòn đảo lớn nhất thuộc Quần đảo Yaeyama.

    Điểm dừng chân đầu tiên tại Nhật Bản là đảo Ishigaki, đảo này được mệnh danh là Thiên đường của biển với đại dương xanh ngát, trong veo như pha lê và những bãi cát trắng trải dài, những ngọn đồi, rặng núi phủ đầy rêu phong.
     

    Đảo Ishigaki là một hòn đảo đặc biệt vì có sự giao hòa giữa nền văn minh hiện đại mà vẫn giữ được nét đẹp hoang sơ, thuần khiết của thiên nhiên. 

    Dạo phố Ishigaki: Hùng, Liên, Lệ Hoa, Khánh Lan, Mạnh Bổng,

    Tuyết Nga, Quốc Dân, Đức Hạnh, Việt Hải

    Thế nhưng chúng tôi đã không đi tắm biển mà rủ nhau đi đạo phố. Lang thang trên đường phố sau gần hai tiếng dưới cơn nóng trên 85 độ khiến mọi người đều mệt nhoài và khát nước. Lúc này thì những chiếc áo len mặc trước khi ra phố được dịp và tha hồ tra tấn thân xác những ai lỡ dại mặc nó. Đã vậy, thỉnh thoảng trời lại đổ mưa, nên hôm ấy thật đúng với câu “dầm mưa dãi nắng”.

    Nhưng “trời mưa thì mặc trời mưa”, cuối cùng chúng tôi đã đến khu mua sắm chính của thành phố Ishigaki. Một khu phố bình dân nhưng rất lớn và bày bán không thiếu một thứ gì mà giá cả lại rất rẻ.

    THỨ TƯ NGÀY 16 THÁNG 10, 2024-NAHA-OKINAWA

                Quần đảo Okinawa bao gồm Naha, Okinawa, Kerama  Naha là thủ phủ của Okinawa, là trung tâm thương mại, văn hóa, giáo dục và là thành phố lớn nhất của tỉnh Okinawa. Naha được thành lập vào năm 1920 tại địa điểm trước là kinh đô của vương quốc Ryukyu từ đầu thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 19. Naha nằm bên bờ biển phía Nam đảo chính Okinawa, rộng 39,98 km².

    Naha nổi tiếng với Thành Shuri, hoàng thành của vương quốc Ryūkyū, một di sản văn hóa thế giới bao gồm quần thể thành trì. Đại lộ, sân bay Naha và cảng Naha kết nối thành phố này với các vùng đất khác của Nhật Bản. Naha cũng là cảng hàng không chính của Okinawa. Hệ thống monorail Yui Rail đi tuyến đường từ nhà ga của sân bay Naha tới Đại lộ Kokusai, Shintoshin. Ga Shuri gần thành Shuri. Naha là nơi phát xuất môn phái võ Naha-te cùng với Tomari-te (miền Nam Trung Quốc) và Shuri-te (võ của hoàng gia Ryukyu) là các nguồn gốc của Okinawa-te, tiền thân của Karate.

    Sau khi ăn sáng trên du thuyền, chúng tôi rủ nhau tản bộ trên Đại lộ Kokusai và ngộ ra rằng đó là một sai lầm vô cùng tai hại, bởi cả ngày hôm ấy khí hậu thật cay nghiệt, nhiệt độ lên đến gần 90°C và trời trở mưa, nắng thật bất thường. Chúng tôi, không ai chuẩn bị áo mưa hay dù nên cả lũ bị ướt và lạnh. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn không nản trí và cứ “lội mưa mà đi”.

    “Con đường Kokusai” là một khu phố sầm uất với các cửa hàng mua sắm, quán ăn nhộn nhịp tọa lạc ở trung tâm thành phố Naha, dài 1.6km. Con đường này thành hình sau khi chiến tranh kết thúc, với mong muốn vực dậy nền kình tế Okinawa với cái tên “Kiseki no Mairu – 1 dặm kì tích”.

    Sau đó, chúng tôi ghé thăm ngôi chợ hải sản Makishi. Khu chợ này có thể xem như là “nhà bếp” của Okinawa với hơn 115 hàng quán, bày bán tất cả mọi thực phẩm do Okinawa sản xuất từ đủ loại trái cây, rau củ quả nhiệt đới. Các quầy thịt heo và hải sản lúc nào cũng đầy ắp những mặt hàng hóa không thể thấy được ở các tỉnh khác của Nhật.

    Khu hàng bán hải sản Makishi

    THỨ NĂM NGÀY 17 THÁNG 10, 2024-AT SEA

    Hôm nay là ngày thứ hai At Sea, là ngày mà chúng tôi tận hưởng những giây phút “relax” tuyệt diệu cho cả nhóm sau hai ngày vật lộn với thời tiết khắc nghiệt của Nhật Bản. Một vài người trong nhóm đã húng hắng ho trong đó có cả chúng tôi. Chị Kim Hương và Tuyết Nga ví như một nhà thuốc lưu động sẵn sàng cung cấp thuốc cho chúng tôi khi cần. Tuy thế, bệnh tật cũng chẳng làm chùn bước chân của nhóm “trẻ và khỏe” NVNT & TTG, nên chúng tôi vẫn tiếp tục ăn, chơi và đấu láo từ 7 giờ sáng đến 12 giờ đêm và cà ngày bận rộn với rủ nhau đi ăn rồi lại rủ nhau đi ăn…

    Du thuyền Norwegian Spirit gọi “Formal Dress” là “Smart Dress” nên đã tạo nhiều “confuse” cho chúng tôi, chính vì thế mà 4 chúng tôi (Lan, Hương, Hạnh, Nga) quyết định đánh một vòng trên khu “Central Deck” xem thiên hạ “diện” ra sao. Ôi! Tí nữa thì quê chết được, tại Central Deck, người ta, nào là “quần là áo lượt” dập dìu “tài tử giai nhân” đứng chờ đến phiên chụp hình. Thế là 4 bà xã xệ chuồn về phòng ngay để chuẩn bị đi “dung dăng dung dẻ” với thiên hạ chứ…
     

    At Sea còn là ngày mà mọi người đi bộ thể dục thể thao trên du thuyền, nhóm NVNT chạy đua cùng các anh chị Trưng Vương & Chu Văn An. Và dĩ nhiên, kết quả vẻ vang đã về tay nhóm NVNT. Hihihi…hahaha và nhất là được thưởng thức những món ăn ngon mà hãng tàu cung cấp.

    THỨ SÁU NGÀY 18 THÁNG 10, 2024-HIROSHIMA

    Mùa Xuân 2005, chúng tôi đã có dịp ghé thăm Nhật Bản để tận hưởng vẻ đẹp của mùa hoa anh đào. Những cánh hoa sắc hồng và trắng tràn ngập bầu trời trong xanh và bao phủ khắp các thị trấn, công viên, đồi núi trên xứ phù tang, nhưng lần ấy, land tour SuperValue đã không dừng lại ở hòn đảo Honshu. Lần này, du thuyền Norwegian Spirit dừng lại ở đảo Honshu 8 tiếng, nên chúng tôi không thể không ghé thăm một địa danh lịch sử, nghĩ vậy; chúng tôi đã quyết định mua tour Panoramic Hiroshima với du thuyền để không bị bỏ lỡ cơ hội thăm Hiroshima Peace Memorial Park.

    Hiroshima, hình chụp từ trên boong tàu

    Hiroshima là một tỉnh của Nhật Bản, nằm ở vùng Sanyo và vùng núi Chugoku trên đảo Honshu. Với diện tích 90501 km vuông bao gồm một số dãy núi, sông, đồng bằng ven biển và nhiều đảo nhỏ. Hiroshima là thành phố đầu tiên của thế giới phải đối mặt với chiến tranh hạt nhân. 

    Công viên Tưởng niệm Hòa bình, Hiroshima Peace Memorial Park

    Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên “Little Boy” đã thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản lúc 8:15 sáng. Quả bom thứ hai mang tên “Fat Man” đã phát nổ tại thành phố Nagasaki ngày 9 tháng 8 năm 1945, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đế quốc Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện với Khối Đồng Minh và ký vào văn kiện đầu hàng ngày 2 tháng 9 năm 1945, chính thức chấm dứt chiến tranh thế giới thứ hai.

    Đồng hồ trên đỉnh chỉ giờ khi quả bom nguyên tử đầu tiên đã thả xuống Hiroshima lúc 8:15 sáng ngày 6 tháng 8 năm 1945.

    Trái bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki trong thế chiến thứ hai

    Quả bom nguyên tử đầu tiên có ​​sức công phá tương đương 15.000 tấn thuốc nổ TNT. Hiroshima được chọn làm mục tiêu vì đây là một cảng quan trọng ở phía nam đảo Honshu và là trụ sở của Tập đoàn quân số 2 của Nhật Bản với 40.000 quân nhân trong thành phố, và là thành phố lớn duy nhất không có trại tù binh chiến tranh. Dự định ném xuống Cầu Aioi, quả bom đã trượt mục tiêu 240 m (790 ft) và phát nổ ngay trên Bệnh viện Shima, rất gần với Genbaku Dome. Tâm vụ nổ nằm cách Dome 150 m (490 ft) theo chiều ngang và 600 m (2.000 ft) theo chiều dọc.

    Các cột dọc của tòa nhà, một phần của tường ngoài bằng bê tông và gạch vẫn còn nguyên vẹn. Genbaku Dome gần như vẫn đứng nguyên như sau vụ đánh bom ngày 6 tháng 8 năm 1945. Từ năm 1950 đến năm 1964, Công viên Tưởng niệm Hòa bình Hiroshima được thành lập xung quanh mái vòm bom nguyên tử Genbaku. Hội đồng Thành phố Hiroshima thông qua nghị quyết bảo tồn vĩnh viễn Vòm Genbaku hay Đài tưởng niệm Hòa bình Hiroshima năm 1966.

    Mái vòm Bom Nguyên tử Genbaku

    Excursion: Panoramic Hiroshima

    Từ 9 giờ sáng chúng tôi đã có mặt tại Stardust Theater của du thuyền Norwegian để chuẩn bị lên xe bus. Đúng 9:30 sáng, xe bus #17 chở chúng tôi đi xem thành phổ Hiroshima, thỉnh thoảng xe dừng lại tại các điểm nổi bật trong lịch sử và những khu vực đã được tái tạo trong thành phố sau sự tàn phá gần như hoàn toàn bởi một quả bom nguyên tử vào năm 1945. Điểm dừng chân đầu tiên là Hiroshima Peace Memorial Park với Mái vòm Bom Nguyên tử Genbaku, một công trình kiến ​​trúc duy nhất còn sót lại sau vụ nổ bom nguyên tử và nó đã trở thành biểu tượng của hòa bình và hy vọng loại bỏ vũ khí hạt nhân.

    Mái vòm Bom Nguyên tử Genbaku

    Lâu đài Hiroshima, biểu tượng kiên cường của thành phố Hiroshima

    Điểm dừng chân thứ hai là sự tái thiết tuyệt vời của Lâu đài Hiroshima, một tòa nhà lịch sử đã bị bom nguyên tử san bằng. Nằm ở quận Naka, được xây dựng lại vào năm 1958, lâu đài bằng đá và gỗ cao 5 tầng trên khu đất có quang cảnh tuyệt đẹp được bao quanh bởi một con hào bảo vệ. Thành phố Hiroshima đã tồn tại qua nhiều biến cố thăng trầm, chứng kiến sự phát triển và những mất mát của thành phố. Lâu đài Hiroshimalà một trong những hành trình lịch sử và văn hóa của Nhật Bản.

    Lâu đài Hiroshima

    Lâu đài Hiroshima được xây dựng vào cuối thế kỷ 16 bởi Fukushima Masanori, là trung tâm quyền lực và là nơi cư trú của các lãnh chúa vùng Hiroshima cho đến cuối thời Edo (1868). Kiến trúc của lâu đài kết hợp hài hòa giữa phong cách xây dựng kiên cố và tính thẩm mỹ tinh tế. Lâu đài chính là mái nhà được thiết kế cong cong, mang biệt danh “Hijo-jō” (Lâu đài Cá chép).

    Lâu đài Hiroshima đã phải trải qua nhiều lần tu sửa và xây dựng lại sau trận động đất năm 1875 và thảm họa sau vụ đánh bom nguyên tử vào Hiroshima năm 1945 khiến hầu như toàn bộ kiến trúc của lâu đài bị phá hủy. Sau chiến tranh, người dân Hiroshima khôi phục lại di sản văn hóa, và công cuộc tái thiết Lâu đài Hiroshima bắt đầu vào năm 1958. Lâu đài Hiroshima là một trong những lâu đài đầu tiên ở Nhật Bản được xây dựng bằng đá. Bên trong khuôn viên lâu đài làBảo tàng Lịch sử Thành phố Hiroshima, trưng bày các hiện vật và tư liệu quý giá về lịch sử của thành phố.
     

    THỨ BẢY NGÀY 19 THÁNG 10, 2024-OSAKA-KYOTO & CHỦ NHẬT NGÀY 20 THÁNG 10, 2024-OSAKA

    Thành phố Osaka nằm ở phía tây giáp vịnh Osaka. Khi thành phố được thành lập vào năm 1889, ngày nay là các phường Chuo và Nishi. Osaka nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm ướt với bốn mùa rõ rệt. Mùa đông thường với tháng giêng là tháng lạnh nhất. Mùa xuân khi hậu ôn hòa, nhưng có khi nóng và ẩm với tsuyu (mưa xuân) xảy ra từ đầu tháng 6 tới cuối tháng 7. Mùa hè rất nóng và ẩm ướt, tháng 8 là tháng nóng nhất. Mùa thu ở Osaka mát mẻ, với lượng mưa rất nhiều.

    Thành phố Osaka là tỉnh lỵ của tỉnh Osaka và là một đô thị của quốc gia Nhật Bản. Osaka nằm ở vùng Kinki trên đảo Honshu (Tokyo, Osaka, Kyoto, Hiroshima), ngay cửa sông Yodo trên vịnh Osaka. Thành phố Osaka chiếm phần lớn nhất vùng đô thị Keihanshin, Kyoto-Osaka-Kobe là thành phố lớn thứ hai ở Nhật Bản. Đây là trung tâm thương mại, là trung tâm công nghiệp và hải cảng chính, là trái tim của vùng đô thị Kansai.

    Khi du thuyền cập bến tại cảng Osaka, chúng tôi không mua tour mà tự mướn hai taxi, mỗi taxi chở 4 người, gồm Việt Hải, Lệ Hoa, Quốc Dân, Kim Hương, Mạnh Bổng, Khánh Lan, Hạnh và Nga. Từ Cảng Osaka Tempozan Wharf 3 đến Osaka khoảng 1 giờ bằng xe hơi. Những địa điểm chúng tôi sẽ ghé thăm là Katsuo-ji Temple, Dotombori Canal, Osaka Castle, Nara Deer Park.
     

    Cảng Osaka Tempozan Wharf 3

    Katsuo-ji Temple

    Là điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi, hôm ấy đúng là ngày đầu của mưa Thu, mưa nhẹ hạt nhưng cũng làm ướt cả người nên chúng tôi ghé lại một gift shop trước cửa chùa để mua vé vào cửa, dù và áo mưa. “Trời mưa thì mặc trời mưa” chúng tôi vẫn tung tăng trên những con dốc và bậc thang bằng đá dài lê thê, nào là chụp hình, ngắm vẻ đẹp như tranh vẽ quanh chùa, v.v… và quên cả trời mưa.

    Đây là ngôi chùa được mệnh danh là chùa may mắn. Rất nhiều người tới đây để cầu xin được thành công trong kinh doanh, buôn bán…. Các sĩ tử thì tời cầu xin thi cử đỗ đạt…

    Katsuoji-ngôi chùa nổi tiếng để cầu may mắn tại osaka

    Chùa Katsuoji được xây dựng từ hơn 1100 năm trước. Truyền thuyết kể rằng, Thiên Hoàng thời đấy bị bệnh nặng và mọi người đã tới chùa này cầu nguyện cho Thiên Hoàng mau chóng khỏi bệnh. Để cảm tạ Thiên Hoàng đã đặt tên cho ngôi chùa này là Katsuo-ji (Thắng Vương Tự), nhưng từ “Thắng Vương” bị cho là phạm thượng, vì vậy sau này được đổi tên lại là “Thắng Vĩ Tự” hay Katsuo-ji.

    Chùa Katsuoji

    Búp bê Daruma tại chùa Katsuo-ji còn được gọi là Kachi-darumak, khuôn mặt của búp be Daruma không có mắt, khi muốn cầu xin một điều gì đó, người ta tự vẽ lên trên mặt Daruma một con mắt, và sau khi lời nguyện xin trở thành sự thật, thì họ trở lại và vẽ thêm con mắt thứ hai. Cảnh sắc 4 mùa tại Katsuoji có vẻ đẹp khác nhau, nhưng đẹp nhất vẫn là mùa thu với nhiều lá đỏ và mùa xuân với hoa anh đào sắc hồng phủ kín khắp ngôi chùa, đặc biệt là hoa anh đào rủ, đẹp quyến rũ.

    Búp bê Kachi-Daruma – mang đến sự may mắn.

    Dotonbori Canal là con kênh nổi tiếng có từ năm 1600 và nằm trong khu Dotonbori, một khu giải trí và ẩm thực đường phố của Osaka. Dọc theo tuyến đường thủy, các con phố chật cứng với các cửa hàng quần áo, izakaya, quầy hàng thực phẩm và các biển hiệu neon cao chót vót. Từ du thuyền trên kênh qua Cầu Dōtonboribashi đến Cầu Nipponbashi ở quận Namba thuộc phường Chūō là khu vực có cuộc sống về đêm chính của Osaka. Đôi khi người ta gọi đó là sông “Dotonbori”, nhưng thực ra đó là con kênh “Bori Kanji”. Người dân địa phương đặt biệt danh cho nó là ‘Tonbori‘, hoặc viết là “Dotombori”. Từ “Doton” bắt nguồn từ người đàn ông bắt đầu đào kênh vào thế kỷ 17, Yasui Doton với kế hoạch là nối nhiều con sông của Osaka lại với nhau. Ông đã tử trận trước khi hoàn thành, những người anh em họ của ông đã tiếp tục hoàn thành công việc và đặt tên cho kênh đào là Dontonbori để tưởng nhớ ông. 

    Osaka Castle

                Khi xe dừng lại ở lâu đài Osaka thì trời vẫn còn mưa nho nhỏ, nhưng những hạt mưa bụi ấy không làm chùng lòng chúng tôi. Một khung cảnh thơ mộng, đáng yêu trên khắp nẻo đường từ cổng dẫn vào khu vực của lâu đài. Trên đường, từng hàng người nối đuôi nhau với những chiếc dù muôn màu, chuyển động nhịp nhành trên đường trông như một cuốn phim đang quay chậm, thật đẹp mắt. Chúng tôi cũng không ngoại lệ, chân vẫn bước, mắt vẫn mở lớn, trông trước nhìn sau và tay không rời cái iphone, nhấn nút máy hình luôn.

    Ôi! Tòa lâu đài đẹp và nguy nga quá, ai có thể không dừng chân lại để chụp ít nhất vài tấm hình kỷ niệm.

    Lịch sử Nhật Bản vào thế kỷ 16 gắn liền với 2 nhân vật là Oda Nobunaga và Toyotomi Hideyoshi. Nobunaga là lãnh chúa với tham vọng thống nhất Nhật Bản với sự phò tá của Toyotomi Hideyoshi. Lâu đài Osaka hay thành Osaka được lãnh chúa Toyotomi Hideyoshi xây dựng vào năm 1583 để làm nơi cư ngụ và tốn 16 năm để hoàn tất. Đây cũng chính là lâu đài lớn nhất khi ấy, được dựng trên nền của đền Ishiyama Honganji đã bị phá hủy Ozaka-jo.

    Lâu đài Osaka vào mùa thu vào dầu tháng 11 với những hàng cây muôn màu và mùa xuân với hoa anh đào nở rộ vào cuối tháng 3 là những mùa đẹp nhất tại đây với phong cảnh thên nhiên của hoa lá phản chiếu trên mặt hồ. Một khung cảnh thần tiên.

    Dựa theo Internet, khi Nobunaga chết sau một cuộc đảo chính, Hideyoshi chính là người thay ông thống nhất toàn cõi và xây dựng thành Osaka để kỷ niệm. Thành Osaka được các con hào bao quanh và bảo vệ người sống bên trong, một phần lớn tường thành đã bị thiêu rụi khi gia tộc Toyotomi diệt vong. Lâu đài Osaka chính là biểu tượng cho sự hùng mạnh, thịnh trị của triều đại Hideyoshi với 5 tầng bên ngoài và 8 tầng bên trong, hai bên trang trí bằng vàng kể cả phòng trà của Hideyoshi. Lâu đài Osaka được xem là một trong Tam đại danh thành của Nhật Bản, bên cạnh lâu đài Nagoya và lâu đài Kumamoto. 

    Năm 1615, sau khi Hideyoshi chết lâu đài Osaka đã bị Tướng quân Tokugawa Ieyasu đốt cháy thành tro. Năm 1620, lâu đài được xây dựng lại nhưng sau đó bị sét đánh 2 lần và bị thiêu rụi vào năm 1660 và 1665. Những cuộc bạo loạn thời Minh Trị và các trận đánh bom trong Thế chiến thứ II cũng gây tổn hại nặng nề cho lâu đài Osaka. Đến năm 1990, chính phủ Nhật Bản chính thức tài trợ khôi phục lại bên ngoài cho lâu đài và có đặt thêm thang máy. Trong thành lũy và bên ngoài lâu đài vẫn còn lưu giữ được nhiều tài sản văn hóa quan trọng như cổng Sakuramon, cổng Otemon, 5 tháp canh bao gồm Tháp pháo Tamon, 2 nhà kho và mái nhà trên giếng Kinmeisui. Tòa tháp canh chính và các tháp Yagura còn lại hiện tại đã được xây dựng từ thời Edo.

    Trong thành lũy và bên ngoài lâu đài

    Tường đá hùng vĩ của cổng Otemon là những bức tường đá và hào nước được giữ nguyên từ thời Tokugawa và được trùng tu lại vào thời Showa. Từ Osakajo Otemae Shibafu Hiroba, những viên đá được xếp theo thứ tự trong khi bức tường bên trái xếp chồng lên nhau. Thời gian xây thành Osaka kéo dài đến 10. Lâu đài Osaka đã sử dụng từ 500.000 đến 1 triệu viên đá lớn. Các bức tường hào cao tới 20 mét và rộng 90 mét.

    Cổng Sakuramon được xây vào năm 1626 trong thời kỳ đầu Edo nhưng sau đó bị cháy rụi năm 1868 và khôi phục lại vào năm 1887. Tên cổng bắt nguồn từ “sakura” tức hàng cây hoa anh đào được trồng gần cổng khi Toyotomi xây lâu đài Osaka. Những tảng đá khổng lồ hai bên cổng Sakuramon là Ryukoishi, tức đá rồng và đá hổ, gắn liền với sự tích hình ảnh rồng và hổ sẽ xuất hiện trên đá sau khi trời mưa. 

    Tháp lâu đài Osaka được xem là biểu tượng của cả thành phố Osaka nói riêng và Nhật Bản nói chung. Tòa tháp trắng lộng lẫy trên bức tường cao là chứng nhân cho biết bao sự kiện trong lịch sử. Trên tầng thượng tháp có tác phẩm điêu khắc Shachihoko bằng vàng (sinh vật có đầu hổ và mình cá trong văn hóa dân gian Nhật Bản), và trên bức tường đen là một con hổ vẽ bằng vàng.Đài quan sátnằm trên tầng 8 là địa điểm ngắm nhìn toàn cảnh thành phố.

    Bảo tàng Lâu đài Osaka, tọa lạctrên tầng 2, lưu trữ nhiều hiện vật lịch sử khác nhau như con hổ vàng, bản sao của vật trang trí trên mái nhà bằng vàng Shachihoko. Lâu đài Osaka là một địa danh nổi tiếng ở Nhật Bản và là nhân tố chủ chốt trong quá trình thống nhất đất nước vào thế kỷ 16. Lâu đài là một bảo tàng sống, với mỗi tầng trưng bày một giai đoạn khác nhau trong lịch sử Nhật Bản như các hiện vật samurai trong các phòng trưng bày và các tác phẩm điêu khắc treo trên tường.

    Vườn Nishinomaru trồng 600 cây hoa anh đào cùng một quán trà với phong cảnh tuyệt đẹp.  

    Vườn Nishinomaru

    CHỦ NHẬT NGÀY 20 THÁNG 10, 2024-OSAKA-KYOTO

              Du thuyền Norwegian Spirit ở lại qua đêm tại Osaka, do đó chúng tôi có cơ hội thăm Kyoto. Cũng như ngày hôm trước, chúng tôi thuê 2 taxi và mất khoảng 1 giờ 15 phút thi đến khu phố Kyoto. Kyoto thành hình từ hơn 1000 năm và được ví như “cái nôi” của văn hóa truyền thống và được mệnh danh là “linh hồn của Nhật Bản”, một vùng đất mang đậm văn hóa và lịch sử, nhiều chùa chiền và các đền thờ Thần Đạo, nơi chứng kiến bao thăng trầm của đất nước.

    Kyoto là cố đô của nước Nhật với đường phố nhỏ hẹp và những ngôi nhà thấp. Đặc biệt, thành phố không có các tòa nhà chọc trời hay bất kỳ công trình hiện đại nào. Mảnh đất này là hiện thân của nước Nhật cổ xưa – nơi có nhịp sống chậm rãi, thanh bình và hòa nhã. Thành phố Kyoto có khoảng 17 địa danh được Unesco công nhận là Di sản thế giới. Đặc biệt, cố đô có tới 1.600 ngôi chùa Phật giáo và khoảng 400 ngôi đền thờ Thần đạo, rất nhiều công trình kiến trúc cổ xưa như cung điện, lâu đài, v.v… vẫn còn được gìn giữ nguyên vẹn cho đến ngày nay.

    Rừng trúc Arashiyama hay Rừng tre Sagano (Sagatenryujitateishicho)

    Điếm đầu tiên là Rừng trúc Arashiyama. Nằm dưới chân núi Arashiyama, phía Tây cố đô Kyoto, gần dòng sông Hozu và bao phủ một diện tích rộng lớn khoảng 16 km². Đây là một khu rừng tre tự nhiên với vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, nổi bật với những hàng tre mōsō xanh mát trải dài bất tận, tạo nên một khung cảnh yên bình và cuốn hút. Những thân tre cao vút, thẳng tắp, lá xanh mướt, tựa như một mê cung tự nhiên, kỳ diệu. Đặc biệt, khi dạo bước trong rừng tre Sagano, âm thanh xào xạc của lá tre như làm mê hoặc người nghe, tựa như lời thì thầm của thiên nhiên. Âm thanh tự nhiên này đã được Bộ Môi Trường Nhật Bản đưa vào danh sách 100 âm thanh cần bảo tồn.

    Sự kết hợp hài hòa giữa môi trường rừng tre và các khu vườn truyền thống Nhật Bản tạo nên một bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc và môi trường sống lành mạnh. Khu vực này không chỉ là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và bảo vệ môi trường sinh thái của vùng Kyoto. Rừng tre Sagano mang vẻ đẹp tự nhiên và ẩn chứa những giá trị văn hóa lâu đời của Nhật Bản. Tre trong văn hóa Nhật là biểu tượng của sự bền bỉ, sức mạnh và thanh tao. Rừng tre Sagano đã xuất hiện trong nhiều hoạt động và lễ hội truyền thống của người Nhật, gắn liền với đời sống tinh thần của dân tộc này qua nhiều thế kỷ.

    À há! vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm!

    Tenryu-ji Zen Temple-Sogenchi Garden và Haritsunajinja Shrine

    Gần rừng tre Sagano là chùa Tenryuji, một ngôi chùa nằm trong danh sách Di sản Thế giới của UNESCO. Ngôi chùa này nổi tiếng với kiến trúc tinh tế và khu vườn Zen độc đáo, mang đến sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Cây tre được cho là có khả năng xua đuổi tà ác, nên chùa Tenryu-ji đã được xây dựng gần rặng tre như một cách bảo vệ và tôn vinh sức mạnh thiên nhiên.

    Một thú vị bất ngờ là khi đến thăm rừng tre Sagano, du khách có thể thuê và mặc bộ Kimono truyền thống, chụp ảnh giữa khung cảnh tuyệt đẹp của rừng tre khiến người ta có cảm giác như đang hòa mình vào không khí văn hóa Nhật Bản xưa.

    Xe kéo (jinrikisha, nghĩa đen là “xe chạy bằng sức người”), 30 phút cho hai người có giá khoảng 9000 yen

    Chùa Kinkakuji-The Golden Pavilion – Rokuon-Ji

    Kinkakuji trở thành biểu tượng văn hóa đặc trưng của “xứ sở hoa anh đào” và là một ngôi chùa nổi bật với sự kết hợp của dát vàng cùng kiến trúc truyền thống.

    Chùa vàng là công trình nổi tiếng và được UNESCO công nhận

    Nằm ở phía Bắc thủ đô Kyoto và từng là dinh thự của tướng Ashikaga Yoshimits, ngôi chùa Kinkakuji được xây vào năm 1408 và được dùng để làm đền thờ Zen của giáo phái Lâm Tế. Chùa Kinkakuji sở hữu vẻ đẹp cổ kính, trang nghiêm, kết hợp cùng phần vàng thật được dát xung quanh làm cho vẻ đẹp của chùa trở nên uy nghi với cảnh vật thiên nhiên lãng mạn, nhẹ nhàng bao quanh. Từ ao hồ, đến cây xanh, tầng gác đều góp phần tạo nên một cảnh đẹp quanh chùa. Ngay nay, chùa Kinkakuji đã trở thành di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận.

    Đức Hạnh & Tuyết Nga

    Chùa Kinkakuji có 3 tầng được xây dựng ngay bên ao Kyoko-chi, nên trong những ngày đẹp trời, hình ảnh của ngôi chùa in bóng trên mặt nước của hồ tựa như một bức tranh thủy mạc tuyệt đẹp. Với lối kiến trúc độc đáo của văn hóa Nhật Bản đã tạo nên ấn tượng cho chùa Kinkakuji, đó chính là lối kiến trúc kết hợp giữa gỗ, thạch cao theo phong cách Shinden thường thấy tại các cung điện thuộc thời kỳ Heian. Bên trong tầng một được đặt tượng Đức Phật Shaka và tượng của Yoshimitsu. Tầng thứ hai sử dụng phong cách Bukke thường thấy của các dinh thự samurai và có mặt bên ngoài dát vàng thật. Trong tầng hai được đặt tượng Bồ tát Kannon, Đức Phật Shaka và Tứ Đại Thiên Vương… Ở tầng thứ ba sử dụng kiểu xây dựng đặc trưng của Thiền Đường Trung Quốc được mạ vàng bên ngoài và phần đỉnh Phượng Hoàng cũng mạ vàng nổi bật.

    Mạnh Bổng & Khánh Lan và Lệ Hoa & Việt Hải

    Ngắm nhìn cảnh vật chùa qua bốn mùa, chùa Kinkakuji với cảnh vật lãng mạn, thu hút. Bao quanh chùa là cây xanh tự nhiên và ao Anmintaku trong vắt không bao giờ cạn. Sự thay đổi khác nhau trong năm theo từng mùa góp phần vào việc tạo vẻ đẹp uy nghiêm, tĩnh lặng của một ngôi đền Zen lâu đời. Xung quanh khu vực chùa có đền Fudo Hall thờ tượng Fudo Myoo – Một trong những vị vua thông thái của Nhật Bản và luôn bảo vệ Phật giáo.

    Hồng Thủy, Khánh Lan, Theresa, Thanh Bình, Kim Hương

    Japan’s Nara Park Deer and Todaiji Temple

    Công viên Nara nằm ở thành phố Nara dưới chân núi Wakakusa, thành lập vào năm 1880, và là một trong những công viên lâu đời nhất ở Nhật Bản. Về mặt hành chính, công viên nằm dưới sự quản lý của Tỉnh Nara, một trong những “Địa điểm danh lam thắng cảnh” được Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (MEXT) công nhận là di sản văn hóa. Hơn 1.200 con hươu hoang thả tự do đi lại trong công viên và được phân loại là báu vật thiên nhiên. Trong khu diện tích khoảng 502 ha (1.240 mẫu Anh), bao gồm khuôn viên của Tōdai-ji, Kōfuku-ji với Đại Phật đường Todaiji và bức tượng Phật bằng đồng lớn nhất thế giới, nặng ước tính 300 tấn. Đền Kasuga và Bảo tàng Quốc gia Nara được bao quanh bởi Công viên Nara, có diện tích lên tới 660 ha (1.600 mẫu Anh).

    Theo truyền thuyết địa phương, loại hươu sika được Đền thờ Kasuga và Kōfuku-ji coi là linh thiêng và cao quý do Takemikazuchi, một trong bốn vị thần của Đền thờ Kasuga đã đến thăm công viên từ Đền thờ Kashima ở Tỉnh Ibaraki. Ông cưỡi một con hươu trắng và xuất hiện trên Núi Mikasa (Núi Wakakusa). Giết một trong những con hươu này là một tội tử hình cho đến năm 1637. Để cho hươu ăn, một loại bánh quy đặc biệt được bán độc quyền bởi công ty WNOW.
     

    Sau Thế chiến II, loài hươu chỉ được coi là di tích thiên nhiên và được bảo vệ. Vào tháng 1 năm 2023, một nhóm nghiên cứu từ Đại học Fukushima, Đại học Yamagata và Đại học Sư phạm Nara cho rằng trong số những con hươu sika sinh sống ở Bán đảo Kii là một quần thể di truyền độc đáo. Kết quả nghiên cứu di truyền cho thấy trong 18 kiểu gen DNA ở những con hươu sống trong công viên Nara là những loài hươu sống ở Bán đảo Kii. Sự phân hóa di truyền của loài hươu Công viên Nara với quần thể hươu Bán đảo Kii diễn ra cách đây khoảng 1,400 năm trước. Về mặt di truyền gần với năm 768, khi Đền thờ Kasuga được xây dựng. Kết quả nghiên cứu này xác nhận rằng người Nhật đã bảo vệ loài hươu ở khu vực này trong hơn 1.000 năm với tư cách là sứ giả của Takemikazuchi, vị thần chính của Đền thờ Kasuga. Điều này cho thấy loài hươu ở khu vực này duy trì quần thể của chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    THỨ HAI NGÀY 21 THÁNG 10, 2024-NAGOYA

    Nagoya nằm ở trung tâm Nhật Bản, Nagoya là thủ phủ của tỉnh Aichi và được bao quanh bởi biển, núi, sông và đồng bằng. Đồng bằng Nobi rộng, bằng phẳng và màu mỡ là nơi lý tưởng cho việc sản xuất lúa và trồng cây. Biển phía nam là ngư trường phong phú. Nhiều con sông xung quanh là nơi lý tưởng cho giao thông và thương mại. Gỗ, đất sét và đá từ những ngọn núi, khu vực giàu có này là trung tâm của thời Chiến Quốc, vì vậy, khi Oda và Tokugawa chọn Nagoya là địa điểm lý tưởng để xây lâu đài. Con Robot gỗ đầu tiên trên thế giới, gọi là búp bê Karakuri được phát minh ở Nagoya vào đầu những năm 1600. Ban đầu được sử dụng trong ngày lễ hội truyền thống ở khu vực này. Những kỳ quan cơ khí bằng gỗ thủ công đã dẫn đến việc sản xuất máy dệt tự động, ảnh hưởng đến công nghệ và đưa đến một ngành công nghiệp mạnh mẽ ở Nagoya. Sản xuất đồ sứ trong hơn 1.000 năm và nổi tiếng với các ngành công nghiệp dệt may. Những hãng xe Toyota, Rinnai, Brother, Noritake, NGK, Buffalo, Mitsubishi Heavy Industries phát xuất từ Nagoya.

    Khi du thuyền Norwegian Spirit cặp bến cảng Kinjo Whart-80-Minato-Ku, 8 chúng tôi lại thuê 2 taxi để đi xem thành phố. Những địa điểm gồm có Osu-kannon Temple, Lâu đài Nagoya, Haritsuna-jinja Shrine và Atsuta Jingu Shrine.

    Osu-kannon Temple

    Chùa Osu Kannon được xây vào thế kỷ 20 ở khu vực Hashima của thành phố Gifu vào thế kỷ 14 bên ngoài thành phố Nagoya trong thời kỳ Kamakura (1192-1333). Ngôi chùa với nét kiến trúc truyền thống Nhật Bản, mái ngói cong, cột gỗ đỏ sẫm và các chạm khắc tinh xảo. Năm 1612, ngôi chùa được Tokugawa Ieyasu (Shōgun đầu tiên của Mạc phủ Tokugawa, nắm quyền từ sau trận Sekigahara năm 1600 cho đến Minh Trị Duy Tân năm 1868) chuyển đến vị trí như hiện nay và bị lũ lụt tàn phá nhiều lần, các điện thờ ngày nay được tái xây dựng vào thế kỷ XX.

    Osu-kannon Temple

    Chùa Osu Kannon (Đại Tự Quan Âm) với vẻ đẹp cổ kính và thanh tịnh giữa lòng thành phố Nagoya. Ngôi chùa không chỉ là chốn linh thiêng bậc nhất của Phật giáo Nhật Bản, mà còn là một bảo tàng sống động, lưu giữ những giá trị văn hóa và lịch sử lâu đời. Trong chính điện, một chiếc lồng đèn màu đỏ rất lớn để người hành hương viết những điều ước muốn trên những mảnh giấy nhỏ và gắn vào dây đỡ lồng đèn để được đức Phật Quan Âm chứng giám. Bên dưới chính điện là Thư phòng Shinpukuji nơi lưu giữ hơn 15,000 văn thư cổ của Trung Quốc và Nhật Bản. Ngoài ra, nơi đây cũng lưu trữ nhiều đồ vật linh thiêng được gọi là báu vật của quốc gia, di sản văn hóa của Nhật Bản cũng như 7 bản sao viết tay được cho là cổ nhất của Kojiki – biên niên sử về lịch sử và thần thoại thời kỳ đầu của Nhật Bản được biên soạn vào năm 712.

    Chính điện được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ với các chi tiết được ghép nối khéo léo mà không cần sử dụng đinh. Bên trong chính điện được trang trí bằng nhiều bức tranh treo trên tường, tượng Phật, đèn lồng và các vật dụng thờ cúng khác tạo nên một không gian linh thiêng. Trên các cột, kèo, những hình chạm khắc tinh xảo về hoa lá, chim muông, rồng phượng và các nhân vật trong Phật giáo. Bên trong chính điện có bức tượng Phật Bà Quan Âm được làm bằng gỗ phủ vàng.

    Lâu đài Nagoya

    Lâu đài Nagoya còn gọi là Nagoyajō, đây là một trong những công trình kiến trúc lịch sử quan trọng và đẹp nhất ở Nhật Bản. Nằm ở trung tâm thành phố Nagoya, lâu đài này đã trở thành biểu tượng độc đáo của vùng Chubu và có một lịch sử hùng vĩ, bắt đầu vào thế kỷ 17 khi Tokugawa Ieyasu ra lệnh xây. Mục tiêu của việc xây lâu đài này là để thể hiện sự thống nhất và kiểm soát của shogunate Tokugawa trên khu vực Chubu. Từ đó, lâu đài Nagoya trở thành một phần quan trọng của hệ thống lâu đài trên toàn quốc và đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định và an ninh. Một điểm đặc biệt của lâu đài Nagoya là lối kiến trúc bằng gạch và gỗ với tầng trên lớn và tầng dưới nhỏ hơn.

    Lâu đài Nagoya là một trong những tòa tháp lâu đài lớn nhất và được cho là cung điện tốt nhất trong lịch sử Nhật Bản. Được xây dựng bởi Tướng Ieyasu Tokugawa và hoàn thành vào năm 1612. Ở Nagoya, có một bộ sưu tập vũ khí và vật dụng hàng ngày lớn nhất của daimyo, đồ nội thất, quần áo, dụng cụ pha trà và đồ dùng cá nhân tại Bảo tàng Nghệ thuật Tokugawa.

    Lối kiến trúc bên trong lâu đài mới đáng kể, đó là những căn phòng nhỏ với những bức họa tuyệt mỹ vẽ trên tường của mỗi căn phòng.

    Thành Nagoya

    Thành Nagoya được xây dựng theo lệnh của tướng quân Tokugawa Ieyasu để bảo đảm một vị trí quan trọng mang tính chiến lược trên tuyến đường Tokaido và ngăn ngừa các cuộc tấn công từ hướng Osaka của quân Toyotomi. Thành được xây dựng và hoàn thành vào năm 1612. Vào tháng 05 năm 1945, trong các cuộc không kích của quân Mỹ đã phá hoại một số công trình kiến trúc trong tòa thành, nhưng tòa tháp và một số công trình như cánh cổng vẫn còn nguyên vẹn. Cung điện Hommaru mới được phục hồi trong năm 2009 và 2018.

    Haritsuna-jinja Shrine

    Ngôi đền này nằm ở Thành phố Inuyama, đó là một sochinju, nó có nghĩa là trung tâm để cầu nguyện các vị thần địa phương cho khu vực Nobi, và được cho là vị thần hộ mệnh của Lâu đài Inuyama. Vì chú của Oda Nobunaga, Oda Nobuyasu, đã tặng một bức tượng chó được chạm khắc thủ công. Hàng năm vào tháng 4, Lễ hội Inuyama nổi tiếng được tổ chức và đặc biệt khi hoa anh đào nở rộ và có một cuộc diễu hành vào ban đêm với những chiếc xe diễu hành di chuyển xung quanh dưới ánh sáng của đèn lồng giấy, tạo nên một cảnh tượng rực rỡ.

    Tại chùa, có những cập vợ chồng trè đến để cầu nguyện xin phước lành cho việc thụ thai, sinh nở dễ dàng và trường thọ
     

    Phong cảnh ở đây rất thơ mộng và hữu tình, một số cây quanh chùa đã đổi màu như báo hiệu nàng Thu đang đến.

    Atsuta Jingu Shrine

                Đây là ngôi đền được kính trọng thứ hai ở Nhật Bản, thành lập cách đây 1,900 năm trước và là nơi lưu giữ thanh kiếm Kusanagi huyền thoại, là ba trong số những báu vật thiêng liêng của đất nước. Nagoya là nơi sinh ra của Shogun Gen Yoritomo, Nobunaga Oda, Hideyoshi Toyotomi và Ieyasu Tokugawa, họ là những người đã trở thành Shogun cùng với nhiều samurai, xây dựng nền tảng vững chắc cho Nhật Bản hiện đại.

    Lối vào chùa

    Ngoài ra, vì là trung tâm của thời Chiến Quốc, khu vực Nagoya và môi trường xung quanh cũng trải qua những trận chiến nổi tiếng nhất trong lịch sử.

    THỨ BA NGÀY 22 THÁNG 10, 2024-SHIMIZU-MT. FUJI

                Khi du thuyền cặp bến Hinode Warft, Shimizu-ku, Shizuoka, chúng tôi lại mướn hai taxi chở chúng tôi đi 4 chỗ gồm làng cổ Oshino Hakkai, Đồi Cỏ Hồng Fujikawaguchiko-Oishi, Fujinomiya-KamlideOtodome no Taki Waterfalls và Mt. Fuji World Heritage Center.

    Làng Cổ Oshino Hakkai

    Làng cổ Oshino Hakkai toạ lạc bên dưới chân núi Phú Sĩ, tại tỉnh Kanagawa. Làng sở hữu nét kiến trúc đậm chất Nhật Bản cổ xưa với khung cảnh thanh bình tuyệt đẹp. Khu vực xung quanh núi Phú Sĩ xưa kia được bao bọc bởi hệ thống các hồ là Kawaguchi, Yamanaka, Sai, Motosu, Shoji; làng Oshino Hakkai chính là hồ thứ 6 tuy nhiên nơi đây đã cạn nước từ hàng trăm năm trước và hình thành nên ngôi làng nhỏ cho cư dân sinh sống. Hiện trong làng cổ Oshino Hakkai vẫn còn sót lại 8 hồ nước nhỏ nằm bên trong làng.

    Làng cổ Oshino Hakkai

    Làng cổ Oshino Hakkai nổi tiếng với không khí yên tĩnh, thanh tịnh và giản dị mang đến cảm giác rất thanh bình. Nơi đây có nhiều ao hồ cùng các mảng cỏ xanh mát mẻ, xa xa là các ngôi nhà được lợp bằng các loại cỏ đặc biệt.Trên những hồ lớn được xây những chiếc cầu tuyệt đẹp bắc ngang. Đây cũng chính là nơi rất lý tưởng để ngắm nhìn toàn cảnh làng Oshino Hakkai.

    Giữa hồ còn có thêm các guồng quay nước bằng gỗ. Các hồ nước tại làng được kiến tạo từ macma phun nước. Tại làng cổ Oshino Hakkai có một chiếc hồ có độ sâu đến 8m, làn nước trong vắt với từng đàn cá Koi bơi lội tung tăng bên dưới. Nước tại hồ này chính là từ băng tuyết tan chảy trên núi Phú Sĩ, thấm qua nhiều lớp dung nham kiến tạo 80,000 năm. Chính vì thế mà chiếc hồ này được dân làng tại đây trân quý và tôn trọng.

    Đặc biệt, phần đáy của hồ có cấu tạo chủ yếu là nhan thạch do quá trình kiến tạo địa chất và lấy nguồn nước từ băng tuyết chảy từ trên đỉnh của núi Phú Sĩ. Những hồ nước này ngày càng đẹp và tinh khiết hơn nhờ sự chăm sóc và giữ gìn của người dân nơi đây. Lối kiến trúc độc đáo mang vẻ đẹp hoài cổ, thanh nhã vừa yên bình.

    Nghi thức rửa tay trước vào làng.

    Nghi thức rửa tay trước khi vào làng cổ Oshino Hakkai bao gồm: Dừng chân trước bể nước, dùng gáo nước bằng ống tre dội lên tay trái trước, rồi mới đến tay phải sau đó dùng nước xoa nhẹ lên mặt. Tiếp theo, bạn lấy thêm một chút nước, giữ gáo bằng hai tay và xối nước xuống phần tay cầm, cuối cùng đặt gáo nước vào vị trí cũ cho những người dùng kế tiếp.

    Nghi thức rửa tay truyền thống trước khi vào làng

    Ngoài ra, du khách cũng có thể rửa tay ở một bể nước khác gần đó. Bể nước được thiết kế theo hình núi Phú Sĩ có ghi dòng chữ: mời du khách nhúng hai tay vào bể nước trong một phút. Bên trong bể chứa là nguồn nước chảy từ đỉnh núi Phú Sĩ với nhiệt độ ngoài trời khoảng 22 độ C. Thường thì nước trong hồ có màu xanh ngọc bích nhưng khi tiến lại gần hồ thì màu sắc của hồ thay đổi thành tím sậm.

    Khung cảnh làng Oshino Hakkai vào mùa đông

    Hồ Fujikawaguchiko-Oishi và Cỏ Hồng Kochia

    Hồ Fujikawaguchiko ở Tỉnh Yamanashi là Di sản Thế giới nằm dưới chân Núi Phú Sĩ với quang cảnh tuyệt đẹp của những ngọn núi hùng vĩ của Nhật Bản, đẹp nhất là từ Công viên Oishi của hồ.

    Công viên Oishi cũng nổi tiếng vi quang cảnh ngoạn mục trong tháng 10 với những bụi cỏ kochia đỏ rực.

    Fujinomiya-KamlideOtodome & Shiraito No Taki Waterfalls

    Thác Otodome là một trong hai thác nước lớn có thể đi bộ đến được trên Sông Shiba ở Fujinomiya (thác còn lại là Thác Shiraito). Thác Otodome chảy mạnh trên vách đá và đổ xuống hồ nước bên dưới từ độ cao 25 ​​mét, là thác nước nổi tiếng nhất ở Shizuoka và được chọn là một trong 100 thác nước hàng đầu của Nhật Bản cùng với Thác Shiraito no Taki! Ngược lại với Shiraito no Taki, nước ở Thác Otodome đổ xuống với lực cực mạnh.

    Thác Kamlide Otodome & Mt. Fuji

    Thác Shiraito No Taki gồm một thác lớn và nhiều thác nhỏ dọc theo vách hẻm núi đổ xuống một hồ nước tuyệt đẹp. Nằm ở Thành phố Fujinomiya, Thác Shiraito no Taki có độ cao 20 mét và chiều rộng khoảng 150 mét. Thác nước này có tên như vậy là do nước ngầm từ núi Phú Sĩ chảy qua cùng với những sợi nước mỏng trông giống như những sợi tơ trắng treo lơ lửng (shiraito).

    Thác Shiraito No Taki

    Mt. Fuji & Kawaguchi Lake

    Núi Phú Sĩ là ngọn núi cao nhất (4,700m) và là biểu tượng quốc gia của Nhật Bản và đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới như một địa điểm linh thiêng.

    Hồ Kawaguchi nằm ngay thị trấn Fuji Kawaguchi, đây là khu vực ranh giới của Minobu và Fuji Kawaguchi, nằm trong số ngũ hồ, có đường bờ hồ dài nhất và diện tích lớn thứ 2 trong 5 hồ nước. Hồ nước nằm trên độ cao gần 800m. Tùy theo mùa, quanh hồ được phủ lên những tấm áo rực màu hoa đào, hoa Lavandula, hoa Mitsuba Tsutsuji sắc đỏ cạnh những rừng lá phong tươi tốt.

    Từ Hồ Kawaguchi vào ngày trời trong xanh có thể thấy Núi Phú Sĩ in bóng trên mặt hồ trong như gương. Hồ Kawaguchi nằm ở phía đông nam của Yamanashi, gần giáp ranh Shizuoka. Vào mùa xuân, hồ được bao quanh bởi những cây anh đào nở rộ. Những cây ở bờ phía bắc sẽ được thắp sáng vào ban đêm trong Lễ hội Hoa anh đào Fuji-Kawaguchiko vào giữa tháng 4. Vào mùa hè, Lễ hội Thảo mộc Kawaguchiko được tổ chức, và sắc tím của những bông hoa oải hương tràn ngập bờ biển từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 7. Lễ hội Lá mùa thu Fuji-Kawaguchiko cũng được tổ chức ở bờ phía bắc của hồ từ ngày 1 tháng 11 và kéo dài trong suốt tháng, với cảnh Núi Phú Sĩ được bao quanh bởi những tán lá phong. Mùa đông, một lớp tuyết bao phủ trên đỉnh núi khiến cho núi Phú Sĩ trở nên tuyệt đẹp, đây là thời điểm tốt nhất để ngắm Núi Phú Sĩ rõ ràng.

    Mt. Fuji World Heritage Centre (Shizuoka-ken Fujisan Sekisan Centre)

    Trung tâm Di sản Thế giới Núi Phú Sĩ là một bảo tàng ở Fujinomiya dành riêng cho Núi Phú Sĩ. Mở cửa vào năm 2017 để kỷ niệm việc ngọn núi được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới bốn năm trước đó, trung tâm có một đài quan sát và nhiều cuộc triển lãm liên quan đến địa chấn, lịch sử và ý nghĩa văn hóa của núi lửa. Tòa nhà có hình nón ngược phản chiếu xuống ao bên ngoài để lộ hình dạng của ngọn núi Fuji. Tòa nhà gồm có ba tầng và được bao phủ bởi lưới gỗ có hình nón ngược. Lưới gỗ này được làm từ cây bách Fuji. Từ tầng trên cùng nhìn ra khung cảnh hùng vĩ của Núi Phú Sĩ đẹp như tranh vẽ. 

    THỨ TƯ NGÀY 23 THÁNG 10, 2024-TOKYO & THỨ NĂM NGÀY 24 THÁNG 10, 2024-TOKYO

    Hành trình du lịch Đại Hàn và Nhật Bản trên du thuyền Norwegian Spirit chấm dứt 8 giờ sáng nay.  Lấy hành lý xong, chúng tôi thuê taxi đi về hotel Marita Tobu Hotel Airport. Hotel rất đẹp, khang trang và lịch sự nhưng hơi xa thành phố Tokyo.  

    Marita Aeon Mall with Tuyết Nga, Khánh Lan, Đức Hạnh, Lệ Hoa

    Chính vì thế mà chúng tôi quyết định đi dạo phố Narita và dùng cơm tối tại Narita Aeon Mall. Thức ăn bán ngay trong chợ, ngon và rẻ. Sashimi tươi, sushi vừa miệng, Tempura vừa chiên nóng & dòn tan ngon và rẻ. Japanese noodle soups, Shimp và pork dumpling dù chiên hay hấp cũng không được ngon như ở các nhà hàng nhật tại California.

    Bữa cơm tối Sashimi Narita Aeon Mall

    Sáng ngày 24, sau khi ăn điểm tâm tại khách sạn Marita Tobu, chúng tôi lấy xe lửa Skyliner #1 và mất khoảng 1 giờ 15 phút thì đến Tokyo. Thời tiết tháng 10 tại Tokyo Nhật Bản, nhiệt độ cao hàng ngày từ 75°F xuống 66°F. Nhiệt độ thấp vào ban đêm từ 50°F đến giữa 30°F từ nam ra bắc. Điều này làm cho việc sinh hoạt ngoài trời trở nên dễ chịu vào ban ngày.

    Hình trên Ga xe lửa đi Asakusa. Hinh dưới: Quốc Dân, Lệ Hoa, Việt Hải, Khánh Lan

    Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là khu phố Nakamise cạnh chùa Asakusa Kannon-SensoJi, lúc ấy đã quá trưa, chúng tôi quyết định dừng lại một tiệm ăn trong phố Nakamise để dùng cơm trưa. Khi còn đi loanh quanh và không biết vào tiệm nào thì chúng tôi nhìn thấy một tiêm ăn rất đông khách, phần lớn khách là các bạn trẻ tuổi, chúng tôi quyết định ăn trưa tại đây. Những món ăn trông rất lạ mắt nên chúng tôi đành gọi món ăn bằng cách liếc qua bàn bên cạnh xem là họ ăn món gì, thì gọi theo món ấy. Kết quả những món ấy lạ và rất ngon miệng.

    Ăn trưa tại phố Nakamise

    Món Mì sào hải sản

    Món gì đây? Không biết, nhưng rất ngon

    Nakamise dori

    Nakamise dori là con đường mua sắm, dài khoảng 250m kéo dài từ Kaminarimon đến Hozomon. Ban đầu được thành lập vào năm 1685, con đường được lát gạch, hai bên đường là những cột nhà màu đỏ son. Có khoảng 90 gian hàng hai bên đường. Tại đây, ngoài những món quà lưu niệm truyền thống đặc trưng của Nhật Bàn như yukata hay quạt giấy, còn có những quầy hàng lưu niệm và ẩm thực độc đáo của địa phương Asakusa. Ở cuối phố mua sắm là cổng thứ 2 của ngôi đền gọi là Hozomon.

    NVNT’s girls trong quốc phục Kimono

    Việc đầu tiên phải làm là 5 chúng tôi (Kim Hương, Lệ Hoa, Đức Hạnh, Tuyết Nga, Khánh Lan) phải vào tiệm mướn ngay bộ quốc phục Kimono để đi dạo phố. Giá tiền một bộ là $50 và phải trả trước 5 giờ chiều. Trong 5 đứa chúng tôi, Kim Hương và Đức Hạnh trông giống phụ nữ nhật nhất còn Khánh Lan và Lệ Hoa thì trông thật là “đẫy đà và phúc hậu”.

    NVNT girls trong quốc phụ Kimono dạo phố Nakamise dori

    ĐỀN ASAKUSA KANNON- SENSO JI

                Asakusa là trung tâm của shitamachi (“thành phố thấp“), một trong những quận của Tokyo. Điểm thu hút chính của Asakusa là Sensoji, một ngôi chùa Phật giáo nổi tiếng, xây vào thế kỷ thứ 7, ngôi chùa được tiếp cận thông qua Nakamise, một phố mua sắm và bán thức ăn nhẹ truyền thống, địa phương và đồ lưu niệm.

    Trong nhiều thế kỷ, Asakusa từng là khu giải trí hàng đầu của Tokyo. Trong thời kỳ Edo (1603-1867), Asakusa là địa điểm của các nhà hát kabuki và một khu đèn đỏ lớn. Vào cuối những năm 1800 và đầu những năm 1900, có sư xuất hiện của các loại giải trí hiện đại như rạp chiếu phim. Tuy nhiên, phần lớn Asakusa đã bị phá hủy trong các cuộc không kích năm 1945. Khi các khu vực xung quanh Sensoji được xây dựng lại thì khu giải trí của Asakusa lại không và việc khánh thành Tokyo Skytree cao 634 mét, cách Asakusa hai mươi phút đi bộ qua Sông Sumida, đã khiến lãnh vực du lịch tăng trở lại.

    Đền Asakusa Kannon còn được biết đến với tên gọi là Sensoji. Senso là một cách gọi khác của Asakusa, còn “ji” tiếng Nhật có nghĩa là đền, chùa. Sensoji là ngôi đền cổ xưa nhất không những của Asakusa, mà là của cả thành phố Tokyo. Xây dựng vào năm 645 dùng để thờ, tôn vinh bức tượng bồ tát Kannon. Sau này có nhiều bức tượng được đem đến đây và nơi đây trở thành trung tâm văn hóa Edo.

    Việt Hải & Mạnh Bổng cùng 4 kiều nữ: Khánh Lan, Lệ Hoa, Tuyết Nga, Đức Hạnh

    Lịch sử về Chùa Asakusa Kannon- Senso Ji

    Theo truyền thuyết vào năm 628 trong khi đánh bắt cá trên sông Sumida, hai anh em Hinokuma Hamanari và Hinpkuma Takenari đã tìm thấy một bức tượng Phật Quan Âm có chiều cao là 5.5 cm, mặc dù đã thả bức tượng nhiều lần đi nhưng không hiểu sao nó vẫn trôi dạt về chỗ hai người. Các vị trưởng lão ở trong làng Hajino Nakamoto đã nhận thấy đây là điều linh thiêng và lập một ngôi đền nhỏ để thờ Phật Quan. Năm 645 sau công nguyên ngôi đền được thành lập và trở thành ngôi đền linh thiêng nhất ở Tokyo. Ngôi đền được dành cho Guan Yin hoặc Bồ tát Kannon người được cho là đã bảo vệ con người suốt 1.500 năm.

    Kaminarimon – Cổng Sấm

     Kaminarimon-Cổng Sấm là cổng chính của ngôi chùa Asakusa (Cổng thứ nhất). Ban đầu nó được xây dựng từ năm 942 bởi Tairano Kinmasa, người cai trị quận Musashi. Cổng đã bị phá hủy nhiều lần và vẫn giữ nguyên hình dạng hiện tại kể từ năm 1950. Trước cổng treo một chiếc đèn lồng đỏ cao 4m, chu vi 3,4m, nặng khoảng 670kg, hai bên có hai vị thần sấm và gió. Do đó, tên chính của cánh cổng phải là Furaijin Mon – Cổng sấm và gió. Trước đây, cổng nằm gần Komagata, nhưng sau đó nó đã được xây dựng lại tại vị trí hiện tại sau thời Kamakura (1192-1333), do người ta tin rằng đó là nơi vị thần sấm sét và thần gió lần đầu tiên xuất hiện.

    Cổng Hozomon

    Hozomon là cổng chính thứ 2 của ngôi đền Asakusa, cổng cũng bị cháy nhiều lần và được xây dựng lại bằng bê tông vào năm 1964. Tính năng độc đáo: Một đôi dép rơm khổng lồ treo ở một bên. Trước đây, cổng còn được gọi là (Niomon) vì có hai vị thần bảo vệ Nioh của Đức Phật ở hai bên cổng. Ngày nay, cánh cổng được gọi là Hozomon: Hozo có nghĩa là nhà kho báu, vì nhiều kho báu của chùa Asakusa được cất giữ tại đây. Trước cổng là sân chính và chùa Asakusa. Bên phải là khu lăng mộ Kasakura; phía bên trái là ngôi chùa 5 tầng và điện Dempoin. 

    Hozomon – Cổng chính thứ 2 của ngôi đền Sensoji

    Tháp 5 tầng Gojunoto

    Tổng chiều cao của tháp là 53m, trong đó các cột trụ cao 5m, được xây bởi Tairano Kinmasa từ năm 942, ngôi đền đã bị phá hủy nhiều lần và được xây dựng lại từ năm 1648, nhưng nó tiếp tục bị đốt cháy trong cuộc không kích vào Tokyo năm 1945. Tháp được tu sửa lại vào năm 1973. Mái ngói của chùa bằng hợp kim nhôm.

    Đức Phật Busshari (Tro của Đức Phật) và Reihai (Bài vị của Đức Phật) được đặt tại Tháp 5 tầng này.

    Kannondo – Điện Quan Âm

    Kannondo là đại điện chính của đền thờ Asakusa, được xây lại từ năm 1649 và được công nhận là di tích văn hóa cấp quốc gia. Thế nhưng, từ năm 1945, đại điện đã bị thiêu rụi trong cuộc không kích Tokyo và hiện được xây lại bằng bê tông từ năm 1958 (năm thứ 33 của thời đại Chiêu Hòa). Đại điện hướng về phía nam và bên trong đại điện được chia thành hai khu vực: 1) Khu vực dành cho tín đồ ở phía trước. 2) Khu vực đặt các bức tượng Phật quan trọng bên trong. Hàng năm, đến ngày 13 tháng Chạp, cửa chánh điện được mở nhưng tín đồ chỉ được thắp hương và ngắm tượng Phật Quan Âm ở bên ngoài còn khu vực tượng Phật quan trọng bên trong không được vào.

    Kannondo – Điện Quan Âm: đại điện chính của chùa Asakusa

    Nitenmon – Cổng Nhị Thiên

    Nitenmon – Cổng Nhị Thiên gần Điện Quan Âm và đền thờ thần đạo Asakusa. Đây là cổng phía đông của chùa Asakusa, phía đông của Điện Quan Âm và phía tây của đền thờ thần đạo Asakusa. Trước kia là cổng Zuishin Mon của Đền Asakusa Toshogu. Năm 1642, đền Toshoga bị cháy, nhưng cổng Nhị Thiên vẫn còn tồn tại. Bởi vì nó là nơi tọa vị của hai vị thần Toyoiwamadonomikoto and Kushiiwamadonomikoto của đền Toshogo, nên nó được gọi là cổng Yadaijin. Tuy nhiên, vào đầu thời Minh Trị, hai trong số bốn vị thần trong kinh Phật của đền Tsurugaoka Hachimangu Shrine đã được chuyển đến đây, vì vậy tên được đổi thành Niten Mon (Niten có nghĩa là hai vị thần). 

    Nhà hàng Kobe Beef

    Dạo phố Nakamise và viếng Đền Asakusa Kannon xong mọi người lại đói meo. Đến Nhật mà không thử món bò Kobe là một điều đáng tiếc, thế nên chúng tôi ghé vào nhà hàng Kobe trong phố Nakamise. Giá tiền rất mắc, chúng tôi phải trả $140 cho mỗi phần ăn và cho mỗi người. Tuy giá mắc nhưng thức ăn không nhiều “chỉ độ dính răng” mà thôi. Nhưng phải công nhận là miếng thịt bò rất mềm, thơm và không ngấy. Quả thật, Kobe beef với vị ngọt, có hương thơm khi thưởng thức.

    Nhà hàng Kobe Beef trong khu phố Nakamise

    Dựa trên fyer của nhà hàng về loại thịt bò này cũng rất đặc biệt, để trở thành Kobe Beef thì thật là một quá trình độc đáo! Đầu tiên, những chú bò Tajima được sinh ra và nuôi dưỡng tại tỉnh Hyogo, chúng phải thuộc hệ thuần chủng. Sau đó, khi chúng được 2 đến 5 tuổi, chúng phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt nên không phải tất cả những chú bò Tajima đều có thể đáp ứng các quy tắc này. Công ty Kisshokichi Group sử dụng Nakanishi Ranch để nuôi và sản xuất ra số lượng thịt bò Kobe. Kisshokichi Group đích thân tham dự phiên đấu giá thịt bò Kobe để đảm bảo sự an tâm cho khách hàng.

    Thực đơn $140 một phần cho một người

    Thứ Sáu ngày 25 tháng 10, 2024-flight to California

    Đức Hạnh, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Quốc Dân, Kim Hương, Tuyết Nga lưu luyến chia tay cùng các anh chị trong nhóm Chu Văn An & Trưng Vương

                Ngày cuối ở Nhật Bản, nhóm 30 người chúng tôi cùng gặp nhau ở Loby của khách sạn Narita Tobu sau khi ăn sáng. 15 ngày trôi qua nhanh quá, chúng tôi chia tay mỗi người một ngả trở về “Home sweet home”. Quả đây là một chuyến du lịch với nhiều kỷ niệm và luôn nhớ mãi.

    Lưu luyến chia tay

    Cùng các anh chị trong nhóm Chu Văn An

    Và các chị trong nhóm Trưng Vương
     Xin quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các Anh Chị Em bấm vào link dưới đây để xem thêm hình.

    https://drive.google.com/drive/folders/1BVcm3zge8_qqbnzU3XByd_hD8fzMLuRn?usp=sharing

    Khánh Lan

  • Khánh Lan,  Kiều My,  RA MẮT SÁCH,  Tin tức

    BUỔI RA MẮT NĂM TÁC PHẨM VĂN THƠ TẠI LITTLE SAIGON CỦA NỮ SĨ DƯƠNG HỒNG ANH, NHÀ VĂN KIỀU MY & KHÁNH LAN

    Video do chị Tâm An thực hiện và phía dưới là XNV Phạm Khanh phỏng vấn Khánh Lan và anh John Tạ, chủ tịch công ty dược thảo Pricess Lifestyle.

    “Thơ văn là vẻ đẹp của đời sống, là ngôn ngữ của trái tim” – William Somerset Maugham từng viết như thế. Chính với tinh thần ấy, nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi ra mắt năm tác phẩm của ba tác giả: nữ sĩ Dương Hồng Anh, văn thi sĩ Kiều My và văn thi sĩ Khánh Lan, góp phần làm phong phú thêm vườn hoa văn học Việt Nam hải ngoại.

    Để buổi RMS được hoàn hảo trong sự mong ước của chúng tôi, một ngày trước buổi RMS anh em chúng tôi đã có một buổi họp bỏ túi tại tư gia của nhà văn Nguyễn Quang, buổi họp gồm có Nv. Ngyễn Quang, anh Phạm Hồng Thái, chị Kiều My, Khánh Lan và Đại Thành. Một cái “list việc phải làm và phân chia bổn phận” được hoàn tất.

    Hôm RMS, chúng tôi và một số bạn bè của ba chúng tôi (Hồng Anh, Kiều My, Khánh Lan) đã đến NT STUDIO từ 10 giờ sáng để chuẩn bị thức ăn cho quan khách. Nhờ sự giúp đỡ của các bạn (Đức Hạnh, Bảo Trâm, Ngọc Châu, Đức Học, Tuyết Nga, Kim Hương và các cháu của Kiều My & Hồng Anh), thức ăn được bỏ vào hộp tươm tất. Các anh Mạnh Bổng, Duy Nhật, Đại Thành, Mạnh Chi lo việc treo Banner, dựng cờ, xếp bàn ghế, v.v…

    Kiều My, Vee Hương, Ngọc Châu Bảo Trâm, Đức Hạnh, Vee Hương

    Buổi ra mắt sách được tổ chức vào Chủ Nhật, ngày 3 tháng 11 năm 2024 tại Little Saigon, Nam California. Dù cùng thời điểm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng khác trong cộng đồng, như lễ giỗ tưởng niệm cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng buổi ra mắt sách vẫn thu hút được trên 125 quan khách tham dự, vượt ngoài mong đợi của ban tổ chức. Bãi đậu xe chật kín và khán phòng đông đúc là minh chứng cho sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng đối với văn học nghệ thuật.

    Buổi ra mắt sách vinh dự đón tiếp nhiều nhân vật quen thuộc trong cộng đồng. Trong số quan khách tham dự có các giáo sư Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Phạm Thị Huê, Quyên Di; các nhạc sĩ Lê Văn Khoa, Phạm Hồng Thái, Vũ Đình Ân; các bác sĩ Nguyễn Xuân Quang và phu nhân luật sư Michelle Thanh Mai, bác sĩ Phạm Quang Thùy và phu nhân Kim Đức, bác sĩ Dương Hồng Tạo. Khoa Học Gia Dân Quốc Lâm và phu nhân Kim Hương. Giới truyền thông báo chí chúng tôi thấy có có sự hiện diện của nhà văn ký giả Vương Trùng Dương, Văn Lan (Báo Người Việt), Thanh Huy,Thanh Phong (Báo Viễn Đông), Phạm Gia Đại, Tâm An, Thiều Minh, xướng ngôn viên Phạm Khanh và nhân viên thu hình của đài Little Saigon. Các văn thi sĩ chúng tôi nhận thấy có Trần Việt Hải, Lê Nguyễn Nga, Vũ Thùy Nhân. Hội văn thơ Tao Đàn Tài Tử có Hà Phương, Vũ Lang, Tha Nhân. Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ gồm các văn thi sĩ: Đình Duy Phương, Huỳnh Công Kình, Trần Huy Biên, và chủ tịch Viện Việt Học Cô Kim Ngân. Đặc biệt có sự góp mặt của các ca sĩ Ngọc Hà, Kim Đức, Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Thụy Lan, Lyly, Giáng Tuyết, Minh Thư, Lệ Hoa, Mỹ Lan, Minh Phượng và Đình Khôi.

    Đặc biệt trong ngày ra mắt sách, NT Đình Duy Phương có gởi tặng Khánh Lan một bài thơ sau đây:

    Khánh Lan xinh đẹp và ngoan

    Cô nàng nhanh nhẹn, cao sang có tài

    Chịu thương chịu khó trình bày

    Sẵn lòng giúp đỡ, viết bài chỉnh chu

    Hôm nay trời chớm vào thu

    Không gian tươi mát mấy mùa đã tan

    Nắng chen sáng rọi huy hoàng

    Ngày ra mắt sách, rỡ ràng tặng em

    Chị Đình Duy Phương, VBVNHN vùng Tây Nam Hoa Kỳ

    Cali. Nov. 3, 2024

    Từ trái sang phải: Trần Mạnh Chi, Nguyễn Đại Thành, Phạm Hồng Thái, Lưu Mạnh Bổng, Lâm Quốc Dân

    Chương trình khai mạc với nghi thức chào cờ Hoa Kỳ qua giọng ca của Minh Thư, tiếp theo là Quốc thiều VNCH do Ukrainian National Presidental Orchestra trình bày, với phần hòa âm và phối khí của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Sau phút mặc niệm tưởng nhớ những người đã hy sinh vì tự do dân chủ của Việt Nam.

    Khai mạc chương trình, nhà văn Trần Việt Hải, trưởng nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian chào mừng khán giả và giới thiệu ba nữ lưu: Nữ sĩ Dương Hồng Anh (tác giả thi tập CÕI THƠ); Kiều My (tác giả thi tập Như Lá Cỏ Tàn Phai và Tản Văn (Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương); Khánh Lan (tác giả thi tập Bóng Thời Gian và hồi ký Sinh Lầm Thế Kỷ hay Born In The Wrong Century). Sau đó, nhà văn Trần Việt Hải trao tặng những đóa hồng xinh tươi như lời chúc mừng cho ba vị nữ lưu.

    Phần văn học nghệ thuật được mở đầu bằng nhạc phẩm “Mẹ Việt Nam Ơi” của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, qua giọng ca của tam ca Lâm Dung, Ngọc Quỳnh và Ái Liên. Tiếp theo đó là phần giới thiệu tác phẩm của các diễn giả.

    Diễn giả mở đầu phần giới thiệu tác giả và tác phẩm là Giáo sư Trần Huy Bích, ông giới thiệu hi tập “Cõi Thơ” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh như một tác phẩm tràn đầy sinh lực với những áng thơ yêu đời, yêu người, ngôn ngữ thi ca đậm nét nhân hậu.

    Kế đến là Giáo sư Phạm Thị Huê giới thiệu tác giả Khánh Lan và thi tập “Bóng Thời Gian” của Cô, một tác phẩm thể hiện niềm tin mãnh liệt về tôn giáo, gia đình, tình bạn và tình yêu, ghi lại ký ức một nỗi nhớ quê hương khôn nguôi và những đổi thay tại quê nhà.

    Giáo sư Quyên Di nhận xét về thi tập “Như Lá Cỏ Tàn Phai” của Kiều My như một tác phẩm sâu sắc về tình cảm gia đình, tâm linh, thiên nhiên và quê hương, với vần điệu độc đáo.

    THI TẬP: CÕI THƠ (Dương Hồng Anh); NHƯ LÁ CỎ TÀN PHAI (Kiều My); BÓNG THỜI GIAN (Khánh Lan) là 3 thi tập với nội dung tôn vinh nét đẹp thi ca lãng mạn khi biểu đạt thi tính vào văn chương và nghệ thuật qua những áng thơ trong sáng, nhẹ nhàng đầy cảm xúc chứa chan tình yêu dành cho thiên nhiên, gia đình, bạn hữu, tha nhân và quê hương.

    Nói về tác phẩm văn học, nhà văn Phạm Gia Đại giới thiệu hồi ký “Sinh Lầm Thế Kỷ” và bản dịch “Born In The Wrong Century” của Khánh Lan, một tác phẩm chân thực về cuộc sống hậu 1975, phản ảnh nỗi đau thương chiến tranh và khát vọng tự do. SINH LẦM THẾ KỶlà hồi ký của một người Việt xa xứ, hồi tưởng lại trong ký ức những đau thương về chiến tranh và nỗi khốn khổ của những người ở lại cũng như những nạn nhân phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm tự do. Đây cũng là một tác phẩm văn học phản ảnh các sự kiện lịch sử và bi kịch của dân tộc và đất nước Việt Nam. Tác giả bày tỏ nỗi tiếc thương cho dân tộc, với ước mơ về hòa bình và tự do đã bị thay thế bởi ngục tù và áp bức.

    Cuối cùng, cựu sĩ quan Đà Lạt Hoàng Đình Khuê đã nhận định về tản văn “Thêm Ngày Nữa Để Yêu Thương” của Kiều My như một tác phẩm phản ảnh nét đẹp của tình người và sự đồng cảm sâu sắc với số phận phụ nữ. Trong tiểu đề “Thế Giới Của Trẻ Em”, tác giả vinh danh sự đóng góp tài năng và lòng nhiệt thành của giáo sư, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đối với tương lai đất nước, qua sự đào tạo những mầm non trở thành những người hữu dụng cho xã hội mai sau. THÊM NGÀY NỮA ĐỂ YÊU THƯƠNG là tuyển tập truyện ngắn cô đọng về nét đẹp của tình người với tấm lòng rộng mở, yêu thương với những xót xa cho kiếp hồng nhan mang nhiều khổ lụy. Thân phận con người rất đỗi mong manh, những hệ lụy của chiến tranh, gia đình ly tan, đất nước tang thương vỡ vụn!

    Bên cạnh phần giới thiệu các tác phẩm thu hút và lôi cuốn của diễn giả, khán giả cũng được thưởng thức những bản nhạc về quê hương qua phần trình bày đầy xúc cảm của các nghệ sĩ như Ngọc Hà trong ca khúc Tình Ca, Thụy Lan với Thương Về Miền Trung, Biết Bao Giờ Trở Lai với Kim Đức, và Về Đây Nghe Em với song ca Lily & Giáng Tuyết, v.v… Những ca khúc về quê hương đã được lựa chọn kỹ càng để phù hợp với chủ đề của tác phẩm.

    Thêm vào đấy, với sự điều khiển khéo léo của hai MC Mộng Thủy và Thanh Ngọc, buổi ra mắt sách khép lại trong không khí ấm áp, với những trang sách thấm đẫm cảm xúc và tâm tư. Mỗi độc giả ra về đều mang theo những tác phẩm văn chương giá trị, góp phần làm đẹp thêm đời sống tinh thần của cộng đồng người Việt hải ngoại.

    NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN TẠM BIỆT VÀ HẸN GẶP LẠI

    Please click to the below link and click on https:// photos.app ql/p next to see all of the pictures.

    https://photos.app.goo.gl/pkjyfrSDjuvvSq9K7

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    RA MẮT TÁC PHẨM MANIFEST DESTINY CỦA NV NGUYỄN QUANG

    Tường trình bởi Khánh Lan

    Manifest Destiny-An Odyssey Of Human Process là một tài liệu nghiên cứu lịch sử được nhà văn Nguyễn Quang viết trong 4 năm, từ năm 2021 đến năm 2024 bằng Anh ngữ, sau được ông chuyển sang Việt ngữ với tựa đề Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân Loại.

    Bán sách

    Trong bài viết này, Khánh Lan rất đồng ý với lời mở đầu bài diễn văn của Giáo sư Nhà văn Quyên Di bởi quả thực đây là một tác phẩm vĩ đại. Vĩ đại không phải vì bề dày của quyển sách mà chính là về nội dung của nó đã chất chứa những ngôn từ trí thức và gói ghém nhiều sự kiện lịch sử, trải qua từ thời thượng cổ và kéo dài cho đến ngày hôm nay. Đó chính là sự vĩ đại của tác phẩm.

    NV NGUYỄN QUANG TRONG BUỔI RMS TẠI VIỆN BẢO TÀNG RVN, ARMED FORCES

    NV Nguyễn Quang ký sách tặng quan khách

    Buổi ra mắt sách được tổ chức rất long trọng tại Viện Bảo Tàng RVN Armed Forces lúc 1:00 pm ngày 25 tháng 08 năm 2024. Hôm ấy, Khánh Lan đã có cơ hội phỏng vấn bác sĩ Nguyễn Hoàng Quan về lịch sử của Viện Bảo Tàng này. Bác sĩ Quan cho biết, Viện Bảo Tàng RVN trước kia là viện bảo tàng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, sau được Bác sĩ Quan và một số anh chị em thiện nguyện viên đứng lên bảo trợ tài chánh, thời gian và công sức để bảo trì Viện Bảo Tàng. Cũng theo BS Quan, đây là một tổ chức chức vô vụ lợi nhằm mục đích phục vụ cộng đồng hải ngoại, lưu trữ những tác phẩm văn học, những tài liệu có giá trị cũng như những kỷ vật của các nhà tiền bối. Bảo tàng viện RVN hiện tọa lạc tại số 9842 Bosa Ave., #205, Westminster, CA 92683 và dự trù sẽ rời đến một địa điểm mới, rộng lớn hơn trong tháng 10 năm nay. BS Quan nói, người có công nhiều nhất trong ban tổ chức là Nha Sĩ Crystal Kim Nguyễn, anh Phạm Đạt và anh Phạm Thái, là những người đã bỏ ra rất nhiều thời gian để điều hành và hoạch định chương trình cũng như hoàn tất tác phẩm Manifest Destiny-An Odyssey Of Human Process hay Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân Loại.

    Họa Sĩ Lê Minh Châu, BS Nguyễn H. Quan & phu nhân, Pauline

    NV Nguyễn Quang nhận MÓN QUÀ LƯU NIỆM TỪ BẢO TÀNG VIỆN RMS TRAO TẶNG

    Buổi ra mắt sách bắt đầu với 3 MC: Mộng Thủy, Thúy Anh và Đinh Quang Anh Thái. 

    MC Thúy Anh & MC Đinh Quang Anh Thái

    Được biết trong chương trình, ngoài những bài diễn văn ra, những nhạc phẩm được chọn lọc kỹ càng, hát xen lẫn giữa các bài diễn văn khiến buổi giới thiệu sách trở nên thú vị và không buồn chán. Những bài ca thắm đậm tình quê hương như Dòng Sông Mẹ, Ai Trở Về Xứ Việt phổ theo thơ của Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh viết trước năm 1962 tại Pháp, dưới thời Việt Nam còn chịu ảnh hưởng nặng nề của chính quyền Pháp. Bài hát được sáng tác do nguồn cảm hứng khi thấy một toán tù binh xuống sông tắm trước khi về trại. Ai Về Xứ Việt được chuyên chở qua giọng hát truyền cảm của anh Robert Nguyễn đã làm rung động trái tim của những người con Việt sống viễn du.

    AI TRỞ VỀ XỨ VIỆT VỚI ROBERT NGUYỄN

    Ai trở về xứ Việt
    Nhắn giùm ta người ấy ở trong tù
    Nghe đâu đây vang giọng hờn rên siết
    Dài lắm không?… Đằng đẵng mấy mùa thu
    Ai trở về xứ Việt
    Thăm giùm ta người ấy ở trong tù
    Cho ta gửi một mảnh trời xanh biếc
    Thay giùm ai mầu trời ngục âm u
    Các bạn ta ơi bao giờ được thả
    Đến bao giờ ăn được bát cơm tươi
    Được lắng nghe tiếng chim cười trong gió lá
    Đến bao giờ?
    Bao giờ hờn uất mới nguôi?
    Người bạn tù ơi, ta không quên đâu
    Nhớ hôm xưa nhìn đôi tay cùm xích
    Hàng song thưa chia cách vạn tình ngâu
    Ai tra tấn nghe lòng ai kim chích
    Anh sửa soạn lên đường về xứ Việt
    Ta gửi về theo một ít tự do
    Và nhiều lắm, nhiều nhớ thương tha thiết
    Đến cửa ngục tù chia bớt chút buồn lo
    Còn bạn nữa, biết nhau từ ngày ấy
    Ta sẽ về đón ở cửa âm u
    Đời sẽ đẹp, mùa xuân hồng biết mấy
    Dầu ngoài kia mây có trĩu mùa thu.

    Minh Đức Hoài Trinh, Paris 1962

    Michelle Thanh Mai, Quyên Di, Ái Liên, Robert Nguyễn, Khánh Lan.

    Vâng, Ai Trở Về Xứ Việt cho ta gởi về 2 chữ TỰ DO.

    Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Thụy Lan, Mộng Thủy, Lệ Hoa, Ngọc Lân, NS Võ Tá Hân, CSQVBDL Hoàng Khuê

    GIỜ KHAI MẠC:

    Đồng hồ điểm đúng 2:00 pm, khi 2 bản quốc ca Hoa Kỳ và Việt Nam cũng như phút mạc niệm chấm dứt. MC Mộng Thủy giới thiệu quan khách và lướt qua phần chương trình. Khánh Lan ghi nhận qua lời giới thiệu của MC Mộng Thủy là có rất nhiều vị khách quan trọng trong cộng đồng đến tham dự như Dân Biểu Tạ Đức Trí, cô Michelle Đỗ đại diện cho văn phòng của Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn. Cơ quan truyền thông báo chí có ký giả Thanh Phong, Thanh Huy, Tina Hà Giang, v.v…Nhiệp Ảnh Gia Tào Nguyễn, NAG Thiên Sơn, Điều phối viên Đạt Phạm, Nha Sĩ Christal Kim Nguyễn, Ký Giả Nhà Văn Vương Trùng Dương, Nha Sĩ Cao Minh Hưng và phu nhân, BS Nguyễn Xuân Quang và phu nhân Michelle Thanh Mai, BS Nguyễn H. Quan và phu nhân, NS Võ Tá Hân và phu nhân, Họa Sĩ Lê Minh Châu. GS Dương Ngọc Sum, CSQVBDL Hoàng Đình Khuê, NV Kiều My, GS Quyên Di, Princess lifestyle’s president, John Tạ, GS Phạm Thị Huê và phu quân, Chị Tâm An của Mạng Lưới Nhân Quyền, Quản Lý Viện Việt Học, Kim Ngân, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và anh Nguyễn Đại Thành, NV Phạm Gia Đại, Thi Sĩ Lê Nguyễn Nga, v.v…

    Đi theo sau phần giới thiệu quan khách là bản hợp ca Việt Nam Minh Châu Trời Đông vang lên, hùng hồn, mãnh liệt với ban hợp ca của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG). Ngoài những tiếng hát của NVNT & TTG còn có nhiều tiếng hát khác như Thúy Anh, Nga My, Quốc Bảo, Thụy Lan, Phạm Gia Đại, Minh Khai, Anh Hiếu & chị Mai, Mộng Thủy, v.v…

    Cô Michelle Đỗ đại diện cho văn phòng của Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn

    Dân Biểu Tạ Đức Trí

    Quan khách tham dự

    Quan khách tham dự buổi RMS

    Tiếp tục chương trình, MC Thúy Anh giới thiệu Nhà Văn Việt Hải & Nhà Văn Khánh Lan đại diện cho Liên Nhóm NVNT & TTG lên chúc mừng NV Nguyễn Quang. NV Việt Hải nói về mối liên hệ mật thiết giữa Liên nhóm NVNT & TTG và những tác phẩm mà NV Nguyễn Quang đã cho ra mắt đồng hương trong 10 năm qua. Vì thời gian không cho phép, NV Khánh Lan thay mặt cho NVNT & TTG gởi lời chào đến quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ, các anh chị trong giới truyền thông báo chí và tất cả các quý quan khách hiện diện trong buổi RMS, cũng như gởi lời chào và chúc mừng đến NV Nguyễn Quang. Cầu chúc ông luôn có sức khỏe và an khang trường thọ.

    Nhà Văn Việt Hải & Nhà Văn Khánh Lan

    Mở đầu phần giới thiệu tác phẩm Manifest Destiny-An Odyssey Of Human Process, MC Đinh Quang Anh Thái giới thiệu diễn giả Giáo Sư Phạm Thị Huê, Khoa cố vấn giáo dục tại Orange Coast College. Trong phần này, Khánh Lan xin tóm tắt một phần bài diễn văn của GS Huê như sau:

    GS Phạm Thị Huê

    Ngày nay chương trình hướng học đã thay thế cho lãnh vực nông nghiệp, nhất là khi có sự xuất hiện của AI và nó hiện đang phát triển rộng rãi trên thế giới. Vì vậy, dù muốn hay không, chúng ta không thể đứng ra ngoài cuộc hành trình này, bởi nếu không chúng ta sẽ bị đẩy lùi lại phía sau. Các em học sinh nên ghi nhớ rằng, chọn một ngành nghề cho chính mình trong tương lai rất quan trọng, bởi nếu chúng ta không chọn đúng ngành nghề ấy thì các học sinh ngoại quốc sẽ nhận hết việc đó. Cho nên, chúng ta phải đi theo sự vận chuyển của thời thế thì mới mong vượt qua được. Hành trình của nhân loại tiến hóa qua nhiều thời đại, nếu chúng ta không đáp lại thì sẽ bị đào thải ra ngoài cuộc sống bởi vì văn minh của nhân loại sẽ tiếp tục tiến. Kết thúc bài diễn văn, Giáo sư Huê cũng không quên gởi một thông điệp nhắn nhủ đến các em học sinh rằng:

    “we are living in the world changing so much. Our ancestors develop sources for us to utilize them, but you, yourself, what can you do for your future?”

    Diễn giả kế tiếp là Giáo sư Nhà văn (GSNV) Quyên Di. Trong phần này, Khánh Lan cũng xin được tóm tắt như sau: trước hết, GSNV Quyên Di ngỏ lời chúc mừng đến Nhà văn Nguyễn Quang đã cho ra một tác phẩm vĩ đại ghi lại những sự kiện lịch sử từ thời thượng cổ đại.

    GS NV Quyên Di

    GSNV Quyên Di nói: Trong tác phẩm Manifest Destiny-An Odyssey Of Human Process hay Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân Loại có đề cập đến nhiều sự việc, nhưng có lẽ một vấn đề mà Nhà văn Nguyễn Quang chưa đề cập đến hoặc sẽ viết sau này là bí mật của lịch sử nhân loại, tại sao nó lại bị triệt thoái hoặc biến mất theo thời gian? Nguồn gốc của con người từ đâu mà ra? v.v… GSNV Quyên Di ví Nhà văn Nguyễn Quang như một hậu duệ của người khổng lồ với trái tim to và khối óc lớn. Bởi có trái tim to nên ông dễ bị xúc động điển hình là trong một buổi tiệc với chủ đề “MẸ” và khi nói về Mẹ mình, Nhà văn Nguyễn Quang đã khóc, cũng như khi nói tới Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh ông lại cũng khóc, và bây giờ, trong lúc này, ông lại sắp sửa khóc.

    Đối với người khổng lồ Nguyễn Quang, GSNV Quyển Di nói: “Nhà văn Nguyễn Quang với cái đầu to mà khôn bởi vì tác phẩm của ông chất chứa nhiều tính trí thức. Ngẫm lại cá nhân bản thân mình, GSNV Quyên Di muốn nói đến quan điểm niềm tin của con người và thuyết khoa học đối với vũ trụ. GSNV Quyên Di cho rằng Phật giáo là một tôn giáo gần nhất với thuyết khoa học và được coi như là “cái duyên”. Chính cái duyên đã tạo nên tất cả mọi sự trong cuộc sống. Vậy, trong triết lý và niềm tin thì Phật giáo là thuyết gần nhất với sự phát triển của nhân loại.

    Giáo sư nhà văn Quyển Di kết luận: Định mệnh của con người là thế, vậy định mệnh của cá nhân thì sao? Phải chăng mỗi chúng ta đều có một định mệnh riêng? Như vậy, chúng ta có thể nói là: Định mệnh nằm ở trong tay của chúng ta như GS Huê đã đề cập trong bài diễn văn của bà. Lại trong tuyệt tác phẩm Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du có câu: “Nhân định thắng thiên”. Vậy chúng ta phải làm gì để có thể thắng thiên định? Cuối cùng GSNV Quyên Di kết thúc bài nói chuyện của ông với bài thơ Giờ Quốc Sử của Đoàn Văn Cừ, một bài thơ đã trải qua hơn 70 năm nhưng nội dung có một giá trị rất cao trong lãnh vực giáo dục và luôn được ghi nhớ.

    Những buổi sáng, vừng hồng le lói chiếu

    Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,

    Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe

    Tiếng thầy giảng suốt trong giờ Quốc sử.

    Thầy tôi bảo: “Các em nên nhớ rõ,

    Nước chúng ta là một nước vinh quang.

    Bao anh hùng thưở trước của giang san,

    Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.

    Các em phải đêm ngày chăm chỉ học,

    Để sau này nối được chí tiền nhân.

    Ta chắc rằng, sau một cuộc xoay vần,

    Dân tộc Việt sẽ là dân hùng liệt.

    Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,

    Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam.

    Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm,

    Đầy chiến thắng, đầy vinh quang máu thắm.”

    NV Nguyễn Quang, Dr. Miller và em Thọ Nguyễn

    Tiếp theo chương trình MC Đinh Quang Anh Thái giới thiệu một người bạn thân của nhà văn Nguyễn Quang từ Pháp đến, Dr. Miller và người cháu nội đích tôn của NV Nguyễn Quang, em Thọ Nguyễn. Dr. Miller và em Thọ Nguyễn gởi lời chúc mừng đến Nhà văn Nguyễn Quang và cảm ơn khán giả đã đến chia vui cùng Nhà văn. Kế đến là cô Vĩnh Thụy, (con gái của chị Bảy Minh Khai, em gái út của NS Lam Phương) đại diện BTC lên tặng hoa cho NV Nguyễn Quang và gởi lởi chúc mừng ông.

    NHỮNG PHÚT GIÂY HẠNH PHÚC

    NV Nguyễn Quang ngỏ lời cám ơn quan khách đến tham dự buổi RMS. Đứng bên cạnh ông là người cháu đích tôn Thọ Nguyễn đến từ Pháp.

    NV Nguyễn Quang ngỏ lời cảm tạ đến các diễn giả, quan khách đến tham dự và những anh chị em, bạn bè đã giúp ông tổ chức buổi RMS

    Để tỏ lời cám ơn quan khách đã đến tham dự buổi RMS, NV Nguyễn Quang với giọng nói như nghẹn trong cổ họng, có lẽ ông đã trải qua một cơn xúc động bởi sự nhiệt tình của quan khách, bạn bè đã đến rất đông và chúc mừng cho sự thành công của ông. Lời lẽ ngắn gọn với giọng run run, NV Nguyễn Quang giải thích lý do vì sao ông đã quyết định nghiên cứu những tài liệu về Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân Loại và vì sao ông lại quyết định viết bằng Anh Ngữ. Bởi ông hy vọng với tác phẩm này sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu về cội nguồn của các em và những biến cố đã xảy ra cho tố tiên cũng như đất nước Việt Nam.

    Chương trình giới thệu sách chấm dứt sau 4:00 pm. Một tiết mục rất đặc biệt mà theo lời giải thích của Nhà Văn Nguyễn Quang thì đó là tiết mục “phóng sinh bồ câu” nguyện cầu hòa bình cho thế giới. Những con chim bồ câu trắng tung bay trong gió, nổi bật trên nền trời xanh biếc giữa tiếng cười vang và nét mặt hân hoan của mọi người. Trong số đó có lẽ Nhà Văn Nguyễn Quang là người vui nhất, sự vui tươi ấy đã hiện rõ trên nét mặt hiền hòa đôn hậu của ông.

    Khánh Lan, August 2024

    Phóng Sinh chim bồ câu trắng cầu nguyện cho thế giới hòa bình

    Cô Vĩnh Thụy & NV Phạm Gia Đại: Xin hãy đem hòa bình về cho thế giới và hạnh phúc cho nhân loại

    Giới thiệu sách Manifest Destiny (Định Mệnh) của Nhà văn Nguyễn Quang RMS bởi Ký giả Nhà văn Vương Trùng Dương

    Trong bài viết về nhà văn Nguyễn Quang vào tháng 6/2024. Nhập đề tôi viết “Chiều Thứ Sáu, 17/5/2024, nhân ngày giỗ cố nhạc sĩ Lam Phương tại tư gia Minh Khai (em gái Lam Phương) thành phố Fountain Valley, Nam California. Vì trong tình thân hữu nên chỉ có ít thân hữu và Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tham dự. Nhà văn Nguyễn Quang và tôi ra sân sau trò chuyện, ông cho biết sẽ thực hiện hồi ký lịch sử viết tiếng Anh…”. Tôi nghĩ vì cuộc đời ông đã trải qua giai đoạn thăng trầm từ thập niên 1940’ cho đến nay qua tám thập niên. Tôi nghĩ tác phẩm nầy sẽ có giá trị vì tác giả là chứng nhân thời cuộc ghi lại từ trong nước đến hải ngoại. Tác phẩm Manifest Destiny của nhà văn Nguyễn Quang viết tiếng Anh để độc giả (nhất là giới trẻ) biết thêm về sự đóng góp của người Việt lưu vong đã đóng góp theo dòng lịch sử thế giới và Hoa Kỳ. Nay nhà văn Nguyễn Quang ở tuổi 94, có thể nói là một trong những người Việt lưu vong cao tuổi nhất vẫn còn minh mẫn thể thực hiện hoài bảo cùng với các thế hệ con, cháu…

    Gẩn đây tuy đi đứng tuy khó khăn nhưng với tâm nguyện tác giả cho biết sẽ RMS quyển Manifest Destiny (Định Mệnh) vào lúc 1 giờ trưa Chủ Nhật, ngày 25/8/2024 tại Museum RVN, 9842 Bolsa Ave # 205. TP Westminster. Đây là quyển sách tóm lược về lịch sử thế giới…

    Tóm lược quyển Định Mệnh – Nguyễn Quang

    Trong FB của nhà văn Nguyễn Quang tóm lược quyển Định Mệnh với tiếng Viêt, Anh:

    Cuốn sách Định Mệnh là một hành trình xuyên suốt lịch sử loài người, từ những bước đi đầu tiên ở châu Phi cách đây hàng triệu năm đến thế giới hiện đại ngày nay.

    Tác giả dẫn dắt người đọc qua các mốc quan trọng như sự phát triển của nông nghiệp, sự ra đời của chữ viết và những nền văn minh đầu tiên. Tác giả khắc họa chân dung của những nhà lãnh đạo và chinh phục vĩ đại trong lịch sử, từ Alexander Đại đế đến Thành Cát Tư Hãn, và phân tích tác động của họ đối với sự phát triển của nhân loại.

    Tác giả cũng đánh giá lại những nhân vật lịch sử này dưới góc nhìn của thời đại Khai sáng, cho thấy vai trò phức tạp của họ trong việc kết nối các nền văn minh. Từ thời kỳ Phục hưng với những thiên tài như Leonardo da Vinci, cuốn sách tiếp tục khám phá thời đại Khám phá và chủ nghĩa thực dân, trước khi tập trung vào sự ra đời và phát triển của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

    Tác giả so sánh lý tưởng cách mạng của Mỹ với lịch sử lâu đời của các cường quốc châu Âu. Phần cuối của cuốn sách bàn về những sự kiện định hình thế kỷ 20 như hai cuộc thế chiến, chiến tranh lạnh và cuộc đua không gian cũng như sự nghịch lý của tiến bộ dẫn đến những xung đột và tàn phá. Cuốn sách kết thúc bằng những suy tư về tương lai của nhân loại, nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục đạo đức, hợp tác toàn cầu và sử dụng công nghệ một cách khôn ngoan.

    Tác giả tin rằng sự trùng hợp về hình dạng của bản đồ Hoa Kỳ với Tàu Noah nói lên sứ mệnh của Mỹ trong vai trò dẫn dắt thế giới tới một tương lai hòa bình và thịnh vượng.

    Summary of The Book Manifest Destiny by Nguyen Quang

    Destiny chronicles the journey throughout human history, from the first steps in Africa millions of years ago to today’s modern world.

    The author guides the reader through significant milestones such as the development of agriculture, the advent of writing, the first civilizations, and the great leaders and conquerors in history, from Alexander the Great to Genghis Khan.

    The book highlights the extraordinary intelligence of Renaissance polymaths like Leonardo da Vinci, whose talents spanned art, science, engineering, and invention.

    It also recounts the Age of Exploration, colonialism, and the imperial ambitions of European powers such as France and Britain and their impact on the Americas, Africa, and Asia.

    In addition to summarizing the formation of the United States, from the Declaration of Independence and the drafting of the Constitution to the forces driving westward expansion, the author also draws comparisons between American revolutionary ideals and the histories of ancient European powers like France and Britain. Important events of the 20th century, such as the two World Wars, the Cold War, and the Space Race, are discussed. Conflicts and wars are shown to have driven social changes, technological breakthroughs, and the spread of knowledge while also causing immense destruction.

    The book concludes with reflections on the future of humanity, emphasizing the importance of moral education, global cooperation, and the wise use of technology. With the belief that the United States can lead the world towards a future of peace and prosperity, the author makes an intriguing comparison of the shape of the United States map to Noah’s Ark, suggesting that both symbolize a mission of global unity and harmony. Americans have learned to live in harmony, respect each other’s cultural diversity and beliefs, and create a model of unity for the world. Global leadership requires persistent and long-term efforts to carry out this noble mission.

    Trân trọng kính mời

    Vương Trùng Dương

  • Âm nhạc,  Khánh Lan

    DÒNG NHẠC BOLÉRO

    BOLERO VÀ NGUỒN GỐC

    Sánchez (guitar, left) and Emiliano Blez (tres) with three singers (standing)

    Bolero là một thể loại âm nhạc, kèm theo nhạc cụ và khiêu vũ, bắt nguồn từ thành phố Santiago de Cuba và lan rộng khắp Cuba. Santiago là một thành phố phía đông nam đảo quốc Cuba, nơi thịnh hành những nghệ sĩ du ca dùng guitar đàn hát để lưu diễn và kiếm sống trong ba thập niên cuối của thế kỷ 19.  Những sáng tạo đầu tiên của bolero đều từ Santiago. Một trong những người tiên phong, chủ xướng, định hình phong cách đặc trưng cho bolero là Pepe Sánchez (1856 – 1918), một nghệ sĩ – thầy giáo, người đã sáng tác bản bolero đầu tiên Tristezas (Những niềm đau) vào khoảng năm 1883.

    Pepe Sánchez (1856 – 1918)

    Với giai điệu sang trọng, tinh tế, những bài bolero với sức hấp dẫn của âm nhạc nhảy chậm buồn và lãng mạn, giai điệu bolero nhanh chóng lan truyền sang Mexico và các quốc đảo ở vùng Caribe cũng như các quốc gia Nam Mỹ như Brazil, Argentina, Colombia, Chile, Venezuela, Ecuador, Bolivia và Tây Ban Nha.

    Thời kỳ hoàng kim của bolero ở các quốc gia Mỹ Latin bắt đầu từ những năm 1930 và kéo dài liên tục trong suốt ba thập kỷ, với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như: Antonio Machin, cặp song ca Los Compadres (Cuba), nhóm nhạc Los Panchos, Los Hermanos Martínez Gil và Trío Tarácuri, Agustín Lara (Mexico),… , Lucho Gatica (Chile)… Thời kỳ này, bolero cũng ảnh hưởng sang thế giới nói tiếng Anh, được biểu diễn bởi nhiều nghệ sĩ Mỹ như: Bing Crosby, Nat King Cole hay Frank Sinatra.

    Bolero du nhập vào các quốc gia vùng Caribe và Nam Mỹ được đón nhận nồng nhiệt bởi nó gần gũi với kiểu chơi nhạc lãng mạn, trữ tình và phóng khoáng của người Mỹ Latin và đương nhiên Bolero trở thành âm nhạc của quần chúng. Những bản bolero nổi tiếng bậc nhất thế giới, minh chứng cho những đỉnh cao và sự bền bỉ của một trong những dòng nhạc đứng vững như một biểu tượng văn hóa đại chúng của các nước Mỹ La Tinh. Theo hai tác giả Lisa Shaw, Stephanie Dennison của cuốn sách Pop Culture Latin America: Media, Arts, and Lifestyle (Văn hóa đại chúng Mỹ La Tinh: Truyền thông, Nghệ thuật và Lối sống), hầu hết giới nghiên cứu cho rằng nhạc bolero xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 19. Những bài bolero đầu tiên khởi sinh từ Cuba, nhanh chóng lan tỏa sang các đảo quốc ở vùng biển Caribbean và Mexico.

    THĂNG TRẦM CỦA TRĂM NĂM

    Nhạc sĩ hai nước Cuba và Mexico có công phát triển bolero, biến tấu nó với các giai điệu tương tự viết theo phép ký âm 4/4, tạo ra một dòng nhạc bolero mới; xôn xao hơn, rực rỡ hơn, lãng mạn hơn và đậm chất Latin. Dòng nhạc bolero này bao gồm các điệu bolero, rumba, rumba bolero, mambo, calypso, baiao; kể cả tango, tango habanera, chachacha. Mẫu số chung là kiểu viết nhạc 4/4 tương tự nhau; chỗ khác nhau là cách thức biểu diễn ca khúc.

    Như các thể loại khác, bolero được cho là từ một điệu nhạc nhảy theo nhịp ¾ ở Tây Ban Nha vào thế kỷ 18, nhưng điệu bolero mới này đã thay đổi nhịp thành 2/4, và sau đó là nhịp 4/4. Tuy nhiên, nó cũng bị pha trộn bởi nhiều điệu nhạc gốc Châu Âu và Châu Phi như danza, habanera, trova, son bởi tiếng đệm đàn guitar ảnh hưởng lên giai điệu.

    Los Panchos là một trong những nhóm nhạc bolero nổi tiếng khu vực châu Mỹ La tinh vào những năm 30 của thế kỷ 20. Những bản tình ca sang đã làm rung động hàng triệu con tim như “Besame Mucho”, “Guantanamera”, “My Heart Will Go On” hay thậm chí “Yesterday” của nhóm nhạc lừng danh. Có lẽ bản bolero nổi tiếng nhất trong lịch sử chính là Bésame mucho (Hãy hôn em thật nhiều, 1941), được nữ nghệ sĩ người Mexico Consuelo Velásquez sáng tác vào năm cô chỉ mới 15 tuổi.

    BOLERO TẠI VIỆT NAM

    Bolero du nhập vào Việt Nam, khoảng đầu thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Nhiều nhạc sĩ bắt đầu sử dụng giai điệu phương Tây thay cho giai điệu truyền thống. Nền tân nhạc của Việt Nam đã nhanh chóng thẩm thấu giai điệu bolero và biến nó thành một dòng nhạc tình ca. Bolero được sử dụng phổ biến nhất trong các bài nhạc tại miền Nam Việt Nam, và trở thành một phần quan trọng của văn hóa âm nhạc dân gian Việt Nam.

    Đặc điểm của điệu Bolero trên thế giới được các nhạc sĩ áp dụng sáng tác trong cả nhạc cổ điển lẫn nhạc đại chúng. Ở Việt Nam, bolero được áp dụng để sáng tác cho loai nhạc nhẹ bởi khi Bolero du nhập vào Việt Nam được Việt hóa cho hợp với lối nói phát âm của người Việt. Boloro Việt Nam hát theo kiểu truyền thống, ngân rung, làm cho bài hát trở nên vừa dễ hát, vừa dễ thuộc. Ngoài ra nó còn rất hợp với chất cải lương, để hát tân cổ giao duyên.

    ĐẶC ĐIỂM QUAN TRỌNG CỦA NHỮNG BÀI HÁT VIẾT BẰNG ĐIỆU BOLERO VIỆT NAM LÀ:

    • Nhiều bài hát mang đậm chất dân ca Nam Bộ.
    • Giai điệu cấu trúc đơn giản, tiết tấu đều đều, chậm, thường là nhịp 4/4, ít biến đổi nhịp, ít quãng cao, dễ hát, khi hát thường luyến láy, cho mềm mại và mùi mẫn.
    • Lời ca bình dân, có nhiều vần và dễ thuộc, dễ nhớ.
    • Có các đặc điểm như khái quát, buồn.

    Nhạc Bolero rất phổ biến tại miền Nam Việt Nam, và trở thành một phần quan trọng của văn hóa âm nhạc dân gian Việt Nam. Một nhạc sĩ tài hoa kiêm nhà nghiên cứu âm nhạc đã thành công bài rumba bolero đầu tiên, và trở thành bài tình ca nổi tiếng trong thế kỷ 20. Đó là nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với ca khúc Nắng chiều, NS Anh Hoa là người đã nối gót NS Lê Trọng Nguyễn với ca khúc “Trăng phương Nam”, và tiếp theo là “Chiều trong rừng thẳm” của Anh Việt sáng tác trước 1954.

    NẮNG CHIỀU QUA THỂ LOẠI BOLERO

    Nắng Chiều là tên của một nhạc phẩm nổi tiếng của NS Lê Trọng Nguyễn viết trước năm 1950 và hoàn tất năm 1953. NS Lê Trọng Nguyễn với bài tình ca viết dưới thể điệu rumba bolero đầu tiên có sức chinh phục, cuốn hút người nghe đã đem đến một sự thành công vượt bực bởi những ca từ trong Nắng chiều giàu tính văn học, giàu chất thơ, nhẹ nhàng và lãng mạn. Nó thoát ra hẳn phong cách xôn xao, rực rỡ và khá nhanh của dòng bolero Mỹ Latin; tạo nên một phong cách bolero Việt Nam chậm và kể lể (lento recitativo), chậm và diễn cảm (lento expressivo). Nắng chiều với phong cách rumba bolero đã trở thành bài tình ca đẹp của thế kỷ thứ 20 trong âm nhạc Việt Nam. Nắng chiều không chỉ chinh phục khán thính giả Việt mà còn vươn ra ngoài biên giới.

    • Nhạc phẩm Nắng Chiều được các nhà xuất bản An Phú (Sài Gòn), Tinh Hoa Sài Gòn và Huế in ra nhiều lần thành bài rời; mỗi lần in khoảng 3.000 bản.
    • Ca khúc Nắng Chiều được thu thanh lần đầu tiên năm 1953 bằng đĩa do Hãng đĩa Việt Nam (Sài Gòn) sản xuất với tiếng hát của danh ca Minh Trang và NS Lê Trọng Nguyễn là người đã soạn hòa âm và phối khí cho dàn nhạc chơi bài này.
    • Năm 1958, nữ ca sĩ Nhật Bản Satsuki Midori gặp Lê Trọng Nguyễn và đã dịch bài hát sang tiếng Nhật với tựa đề Việt Nam tình ca, thu thanh ở Tokyo. Cũng trong năm 1958, nhạc sĩ Nguyễn Hiền là người điều hợp viên chương trình văn nghệ của Hội Chợ Thị Nghè, ông đã giới thiệu nhạc phẩm này với Midori Satsuki trong đoàn Ca Vũ Nhạc Nhật Bản Toho và mời cô sang trình diễn lần đầu tiên tại Hội Chợ liên tiếp trong hai tuần lễ.
    • Năm 1960, nữ ca sĩ Đài Loan Kỷ Lộ Hà cũng đã hát và thu thanh bài Nắng Chiều bằng tiếng Quan thoại, tựa đề là Tịch dương hay Việt Nam Tình Ca hay Nam Hải Tình Cado Thận Chi đặt lời. Nhạc phẩm này đã được dân chúng Đài Loan và Hồng Kông đón nhận nồng nhiệt cũng như báo chí tại hai nơi này đăng tin Nắng Chiều là một trong những bài tình ca hay nhất.
    • Sau đó, Nắng chiều còn được dịch qua tiếng Anh, tiếng Thái, tiếng Khmer và trở thành một bài Á châu tình ca!
    • Năm 1971, bài hát là nguồn cảm hứng cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Lê Mộng Hoàng.
    • Ngày 20 tháng 8 năm 2005, “Nắng Chiều” được nữ ca sĩ trẻ Doanh Doanh trình bày bằng tiếng Trung Hoa trong chương trình video có thu hình của trung tâm Asia tại thành phố Houston.
    • Sau này,Nắng chiều được phát liên tục trên Đài phát thanh Sài Gòn, Đài Pháp Á và Đài phát thanh Huế qua các giọng ca của các ca sĩ nổi tiếng như Quỳnh Giao, Mai Hương, Kim Tước, Hà Thanh, Anh Ngọc, Ngọc và được người yêu nhạc tán thưởng.

    VÌ SAO NHẠC PHẨM NẮNG CHIỀU TRỞ NÊN NỔI TIẾNG?

    Bởi những ca từ trong nhạc phẩm Nắng Chiều giàu tính văn học, giàu chất thơ, chứng tỏ NS Lê Trọng Nguyễn là con người từng thấu hiểu một cách sâu đậm văn chương Việt Nam. Nắng chiều được viết dưới phong cách rumba bolero và đã trở thành bài tình ca đẹp của thế kỷ thứ 20 trong âm nhạc Việt Nam. Bolero Việt Nam với phong cách chậm và kể lể (lento recitativo), chậm và diễn cảm (lento expressivo). Sau này, Lê Trọng Nguyễn tiếp tục lối sáng tác ấy để viết hai ca khúc Bến giang đầu (Nắng chiều 2) và Chim chiều không tổ. Hai ca khúc này đều viết với cung “re trưởng” với chất bolero thật đậm nét. Ông còn là người dung hợp các điệu nhạc đặc trưng của Mỹ và đảo Hawaii như jazz, blue, boston rock, slow để viết những bài tình ca khác. Cho đến ngày nay, nhạc phẩm Nắng Chiều vẫn giữ một vị trí ưu ái trong lòng khán giả mến yêu âm nhạc và đó là những điểm son của nhạc phẩm Nắng Chiều theo dòng thời gian.

    Tóm lại, Bolero đã trở thành một phần quan trọng của nền văn hóa âm nhạc Việt. Đem đến những giai điệu và lời bài hát sâu sắc, thể hiện những cảm xúc chân thành và tình yêu đích thực. Hy vọng qua bài viết trên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nhạc bolero và những giá trị mà dòng nhạc bolero mang sắc thái bolro tình tự dân tộc Việt Nam.

    Khánh Lan sưu tầm (May 25, 2024)

  • Âm nhạc,  Khánh Lan,  Lâm Dung

    SO SÁNH TRƯỞNG VÀ THỨ

    Bài viết này để ghi nhớ đến hai vị Giáo Sư Âm Nhạc, Cao Minh Tâm và Đỗ Bằng Lăng đã bỏ rất nhiều công sức để dìu dắt chúng tôi trong lớp hòa âm niên khóa 2022-2023.

    TẠI SAO GIỌNG TRƯỞNG VUI VÀ GIỌNG THỨ BUỒN

    Thông thường trong âm nhạc chúng ta thường nghe các nhạc sĩ hay ca sĩ nói một cách vắn tắt khi phân loại hợp âm trưởng và hợp âm thứ là trưởng và thứ. Vậy thì hợp âm trưởng và hợp âm thứ có nghĩa là gì? Trong âm nhạc, khái niệm “trưởng” và “thứ” dùng để mô tả một tác phẩm âm nhạc, Trưởng và thứ thường được ký hiệu trong những bài nhạc cổ điển, đặc biệt trong việc tìm điệu tính của cả bài nhạc.

    Trong Cycle Of Fifth (Vòng Tròn Bậc 5) phân chia rõ ràng các cặp trưởng và thứ. Vậy chúng có gì khác nhau? Hay cùng chúng tôi đi tìm lời giải thích nhé.

    So sánh Âm Giai Trưởng và Thứ

    Tại sao âm giai Trưởng hay giọng trưởng lại “vui” và âm giai thứ hay giọng thứ lại “buồn” là do đâu? Mặc dù, cả 2 âm giai đều có cùng bốn nốt nhạc là 1 2 4 5 giống nhau và ba nốt nhạc khác nhau là 3 6 7. Nguyên do sự đối lập cảm xúc giữa 2 âm giai trưởng và thứ nằm trong ba nốt nhạc khác nhau này. Các nốt thứ 3, 6 và 7 ở các âm giai thứ thấp hơn nửa cung so với các âm giai trưởng. (Để hiểu rõ hơn, chúng ta cần phải hiểu Âm Giai là gì? Vị trí Âm giai trưởng & âm giai thứ và Nhạc Lý Căn Bản #2)

    So sánh Hợp âm Trưởng và Thứ

    Ở đây chúng ta sẽ so sánh hợp âm 3 nốt (Triads). Hợp âm được hình thành khi bạn đánh một nốt trong thang âm, bỏ nốt liền kề ở bên phải và đánh nốt phía trên nó. Sau đó lặp lại cho đến khi bạn có hợp âm mà bạn muốn. (Để hiểu rõ hơn, bạn có thể tìm đọc bài viết về hợp âm là gì? và nó được cấu tạo như thế nào?)

    Thí dụ:

    • A major triad gồm ba nốt trong Hợp âm A (La trưởng) là A C♯ E.
    • A minor triad gồm bộ nốt trong Hợp âm Am (La thứ) là A C E. Nghe có vẻ buồn.

    Hai hợp âm chỉ khác một nốt thứ 3 là C và C#, vậy mà cảm xúc lại trái ngược nhau. Điều này tiết lộ rằng nốt bậc ba, hoặc nốt thứ 3 là thành phần kỳ diệu trong âm nhạc tạo ra các hợp âm và bậc thang âm thanh vui hoặc buồn của chúng. Vậy thì tại sao hợp âm Trưởng nghe vui tai mà hợp âm Thứ lại nghe buồn bã thế? Như 2 phần trước chúng ta thấy:

    • Âm thứ 3 trong bộ ba thứ gần với nốt gốc hơn (ba nửa cung); do đó kém hài hòa hơn, gây ra âm thanh và cảm xúc bất hòa hoặc xung đột, dẫn đến cảm xúc buồn.
    • Âm thứ 3 trong bộ ba trưởng ở xa nốt gốc hơn (bốn nửa cung); do đó, rung động hài hòa hơn, gây ra một phụ âm hay và âm thanh dễ chịu dẫn đến cảm xúc vui.

    Nốt cuối của hai bộ ba này được gọi là nốt bậc 5 hoàn hảo, do tỷ lệ toán học hoàn hảo của nó với nốt gốc. Điều này cũng đúng về quãng tám, đó là lý do tại sao nó còn được gọi là quãng 8 hoàn hảo.

    TÌM CHỦ ÂM CỦA BÀI NHẠC

    Khi nhìn vào bộ khóa ở đầu bài nhạc, ta sẽ thấy có 3 trường hợp xảy ra:

    1. Bộ khóa không có dấu thăng giảm: Chủ âm của bài có thể là Do trưởng (C) hay La thứ (Am).  
    2. Bộ khóa có dấu thăng: Từ dấu thăng cuối cùng, cộng thêm nửa cung thì sẽ có tên chủ âm trưởng, rồi từ đó đếm xuống 2 nốt sẽ có tên âm giai tương ứng là chủ âm thứ.
    3. Bộ khóa có dấu giảm: Nếu có 1 dấu giảm (Bb) thì chủ âm của bài có thể là Fa trưởng (F) hay Re thứ (Dm). Nếu có hơn 1 dấu giảm (Bbb), thì dấu giảm ngay trước dấu giảm cuối sẽ là tên của chủ âm trưởng và sau đó đếm xuống 2 nốt sẽ có tên của chủ âm ở cung thứ.

    Thực tập:

    a) Bộ khóa có 3 dấu thăng: 3 dấu thăng này theo thứ tự là Fa, Do, Sol. Dấu thăng cuối cùng là Sol (G), vậy bài này có thể ở chủ âm (Sol # cộng ½ cung là La) La trưởng (A). Cha tên là La (A) thì bà mẹ (âm giai tương ứng) là gì? Từ La, đếm xuống Sol, rồi xuống Fa (F). Phải chăng bà mẹ tên là Fa thứ? Không hẳn vậy, vì nhìn nơi bộ khóa thì sẽ thấy có dấu F# ngĩa là tất cả các nốt Fa trong bài sẽ mang dấu thăng. Do đó bài này cũng có thể thuộc chủ âm Fa thăng thứ (F#m)

    b) Bộ khóa có 2 dấu giảm: 2 dấu giảm này là Si (B), Mi (E). Dấu giảm trước cuối cùng là Si (B), nên chủ âm bài này có thể là Si giảm trưởng (Bb major) hay Sol thứ (Gm)

    Ðến đây thì bạn đã tìm ra được bài nhạc này có thể thuộc một trong 2 chủ âm. (Ðiều này tương tự như người cha (trưởng), người mẹ (thứ) trong gia đình nhưng chưa biết ai là người … “cầm quyền” trong nhà?)

    TÌM CHỦ ÂM NÀO LÀ CHÍNH?

    Muốn vậy bạn chỉ cần nhìn vào nốt cuối cùng trong bài nhạc, nếu nó là nốt nào trong 2 nốt này thì đó là nốt chủ âm của bài.

    Thí dụ:

    a) Bộ khóa có 2 dấu thăng (Fa# và Do#) và tận cùng bằng nối Si (B): Bài này thuộc cung Si thứ (Bm) và âm giai tương ứng là Re trưởng (D). Nói một cách khác, trong gia đình này thì người vợ (Bm) cầm quyền (!) và người chống (D) chỉ đóng vai trò thứ yếu. Bài nhạc ở cung thứ thường có âm hưởng buồn

    b) Bộ khóa có 3 dấu giảm (Si b, Mi b, La b) và tận cùng bắng nốt Mi b (Eb): Bài này ở cung Eb major và âm giai tương ứng là Do thứ (Cm). Trong “gia đình” này thì người chồng (Eb) cầm quyền, và người vợ (Cm) giữ vai trò thứ yếu.

    Bài nhạc ở cung trưởng có âm hưởng vui tươi, mạnh mẽ

    TÌM CÁC HỢP ÂM TRONG BÀI NHẠC

    Thông thường thì các bài nhạc Việt chỉ dùng 6 hợp âm chính. Thử tưởng tượng trụng cho gia đình này có 4 con, 2 trai và 2 gái. Ta đã tìm được 2 hợp âm chủ nhà rồi thì chỉ cần tìm thêm 4 hợp âm còn lại (tên của 4 đứa con) bằng cách áp dụng luật 1 – 4 –5 như sau:

    Thí dụ:

    Bài nhạc thuộc cung Do trưởng (C) nghĩa là âm giai tương ứng là La thứ (Am). Nếu người cha là Do thì có thể tìm tên 2 đứa con trai bắng cách dùng 5 ngón của bàn tay trái mà đếm như sau:

    1. Ngón cái: 1 Do – ngón trỏ 2 Re bỏ – ngón giữa 3 Mi bỏ – ngón áp út 4 Fa OK – ngón út 5 Sol OK. Như vậy thì bên phía cha và 2 con trai, ta sẽ có 3 hợp âm: Do (C), Fa (F) và Sol (G).
    2. Qua phía người mẹ (âm giai tương ứng), tương tự như trên ta sẽ có tên của người mẹ và 2 con gái là La thứ (Am), Re thứ (Dm) và Mi trưởng (E).

    Thế thì tại sao 2 cô con gái lại là Re thứ (mà không la Re trưởng) và Mi trưởng (mà không là Mi thứ) thì phải biết về các nốt trong 1 âm giai (scale) và tên các quãng (interval). Trong âm giai Am thì các nốt là A-B-C-D-E-F-G#-A, Tên của cô con gái thứ nhất bắt đầu ở nốt thứ 4 (đếm La Si Do “Re”) Hợp âm Re co 3 nốt chồng lên nhau là Re Fa La (D F A) và nốt Fa không có dấu thăng.

    Quãng D-F là quãng 3 thứ, nên cô con gái thứ nhất tên là Re thứ (Dm). Trong khi đó tên của cô con gái thứ hai bắt đầu ở bậc 5 (đếm La Si Do Re “Mi”). Chồng 3 nốt lên nhau ở Mi (E) sẽ có E – G# – B (để ý G# trong âm giai La thứ) và vì quãng E G# là quãng 3 trưởng, nên cô con gái thứ hai sẽ mang tên Mi trưởng (E).

    Nếu muốn tìm 6 hợp âm chính cho bài nhạc chỉ cần nhớ luật 1 – 4 – 5 , đại khái là:

    a) Ba hợp âm theo chủ âm trưởng (cha & 2 trai) : 1 – 4 –5 (tất cả đều trưởng)

    b) Ba hợp âm theo chủ âm thứ (mẹ & 2 gái) : 1 thứ – 4 thứ – 5 trưởng

    Thí dụ:

    Tìm 6 hợp âm dùng trong 1 bài nhạc có 1 dấu thăng:

    a) Bài này có thể thuộc Sol trưởng (G) hay Mi thứ (Em)

    b) Dùng luật 1-4-5 theo nhánh G sẽ có 3 hợp âm G, C, D

    c) Dùng luật 1-4-5 theo nhánh Em sẽ có Em, Am, B

    Sáu hợp âm này là G – C – D – Em –Am – B. Ðây là 6 hợp âm căn bản của mỗi bài nhạc mà người mới chơi đàn cần nắm vững. Từ những hợp âm “gốc” này mà người ta thêm vào thành hàng trăm, hàng nghìn hợp âm mà các bạn có thể thấy trong các tập sách nhạc. Một trong những biến thể đó là loại hợp âm 7, được thành lập bằng cách đặt thêm 1 nốt thứ tư trên 3 nốt của hợp âm căn bản (tức là sẽ có 4 nốt ở bậc1-3-5-7). Để có thể tìm hợp âm nhanh, bạn chỉ cần nhớ 1 điểm nhỏ sau đây:

    Ðể nghe êm tai hơn, tên của người con trai thứ hai và người con gái thứ hai (D và B trong thí dụ trên) có thể đổi thành hợp âm 7. Như thế là tạm thời hoàn tất việc tìm tên 6 người trong gia đình, và theo thí dụ trên thì 6 hợp âm này sẽ là:

    G – C – D7 – Em – Am –B7

    ÐẶT CÁC HỢP ÂM VÀO BÀI NHẠC

    Biết được 6 hợp âm chính dùng trong bài rồi, câu hỏi kế tiếp là làm sao biết khi nào thì đổi hợp âm? Có mấy luật căn bản sau đây:

    a) Thông thường với các bài nhạc Việt thì mỗi ô nhịp dùng 1 hợp âm., đổi ở phách 1, đầu nhịp. Với những bài nhịp 4 thì đôi khi có thề dùng 2 hợp âm trong 1 ô nhịp, đổi ở phách 1 và 3.

    b) Bài nhạc bắt đầu bằng chủ âm và kết ở ô nhịp cuối bằng chủ âm

    c)Tùy theo chủ âm nào (trưởng hay thứ) mà những hợp âm của phe cha hay mẹ nắm đa số. Một bài bắt đầu ở cung La thứ (Am) thì hầu như 2 cô con gái (Dm và E7) sẽ theo sau. Mẹ và con gái hát đã đời các hợp âm Am-Dm-E7 rồi thì ông cha và 2 con trai (C- F-G7) lúc ấy mới … có thể lên tiếng … để thay đổi không khí! Tuy nhiên vì chủ âm là La thứ nên sau đó thì phải trở về cụm Am-Dm-E7 để chấm dứt ở Am

    Nếu nắm vững lý thuyết căn bản âm nhạc thì chỉ cần nhìn vào các nốt trong mỗi ô nhịp là cũng biết ngay ô nhịp ấy thuộc hợp âm gì? Trong trường hợp học đệm đàn “cấp tốc” như sau:

    • Tìm một bản ghi các hợp âm căn bản cho guitar. Bạn không cần những quyển sách dày cộm mà chỉ cần một trang căn bản, in vài chục hợp âm là đủ.
    • Dùng cây guitar đánh trải 6 hợp âm trên cho thật nhuyễn và quen tai.
    • Bắt đầu với chủ âm ở ô nhịp đầu tiên, hát ô nhịp kế tiếp và so với 6 hợp âm trên nghe xem hợp âm nào thuận tai nhất.
    • Nên nhớ theo đúng 3 lời khuyên ghi ở đầu bài 3 này và tránh đừng chuyển đổi hợp âm lung tung.

    Nói một cách vắn tắt, bạn chỉ cần theo mấy luật căn bản trong 3 bài trên đây là có thể tìm được các hợp âm căn bản khoảng … 90% những bài nhạc Việt.

    Chúc các bạn thành công,

    Khánh Lan, California 2024