• ĐỖ BÌNH, PARIS,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    TIỂU TỬ MỘT NHÀ VĂN NHÂN BẢN

    Ở xứ người, ngôn ngữ chúng ta dùng hàng ngày là tiếng bản xứ, tiếng mẹ đẻ ít được sử dụng nên dần dần bị quên lãng! Dù sống tha hương đã lâu nhưng chắc  hẳn trong mỗi người Việt khi ra đi đều mang trong tâm hồn hình bóng quê hương và văn hóa dân tộc, do đó họ đã sáng tác những tác phẩm văn học nghệ thuật, và thành lập những trung tâm dạy Việt ngữ, các trung tâm phát hnàh những băng nhạc, các cơ sở truyền thanh, truyền hình, báo chí…
     Mười mấy năm qua trên các diễn đàn mạng, và tạp chí văn học hải ngoại xuất hiện một cây bút với lối văn rất đặc thù của miệt vườn, sông nước miền Nam. Miệt vườn ở đây là tác giả đã sử dụng bút pháp để diễn tả những tình cảm con người, lối sống, phong tục tập quán bằng những ngôn ngữ đặc sản địa phương của người dân Nam Kỳ Lục Tỉnh đã có từ hàng thế kỷ truước còn lưu truyền đến ngày nay, đó là sự thật thà và phóng khoáng.
     Trong kho tàng văn học Việt Nam có mấy loại văn chương, có thứ nhằm phục vụ đại chúng, có thứ văn chương mang tính đặc thù của miệt vườn địa phương,  có thứ văn chương dành cho giới tiểu tư sản thành thị, giới trí thức, tiêu biểu là các nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn,  các tạp chí Sáng Tạo, Bách Khoa, Hiện Đại, Văn Hoá Ngày Nay, Gió Mới, Văn Học, Thế kỷ 20 v.v… Ở miền Nam vào thế kỷ trước những nhà văn miệt vườn tiêu biểu như: Nhà văn Hồ Biểu Chánh, nhà văn Bình Nguyên Lộc, nhà văn Sơn Nam… sau này hải ngoại có một số nhà văn đã sử dụng văn phong miệt vườn. Canada: cố nhà văn Nguyễn Văn Ba, nhà văn Võ Kỳ Điền,  nhà vễn Tiểu Thu… ở Mỹ: nhà văn Bình Nguyên Lộc, nhà văn Trần Long Hồ, nhà văn Xuân Vũ, nhà văn Nguyễn Văn Sâm… ở Marseille Pháp: nhà văn An Khê, Rouen: nhà văn Hà Ngọc Bích, Troyes: nhà văn Hồ Trường An, Lille: nhà văn Võ Đức Trung, Paris có nhà văn Kiệt Tấn và nhà văn Tiểu Tử…
    Như các bạn đã biết nhà văn Tiểu Tử nguyên là một kỹ sư tốt nghiệp tại Pháp năm 1955, và về nước khởi đầu bằng nghề dạy học. Nguyên nhân nào từ một nhà khoa học, một nhà giáo Võ Hoài Nam lại trở thành nhà văn?
    Tôi may mắn được chính nhà văn Tiểu Tử và nhà báo Đặng Văn Nhâm kể:

    “Ngày từ thuở còn đi học ông Võ Hoài Nam đã được trời ban cho một tâm hồn đầy cảm xúc và đôi bàn tay khéo léo để vẽ những bức tranh sơn dầu bằng những đường nét ấn tượng. Ông vẽ rất đẹp và đã vẽ phông cho các tuồng tích cải lương, vẽ ký họa, biếm họa cho các nhật báo Sài Gòn thuở ấy, điển hình là tờ báo Tiến mà chủ nhiệm là nhà báo Đặng Văn Nhâm.

    Thời trẻ nhà văn Tiểu Tử đã đam mê nghệ thuật như hội họa, cải lương, và báo chí, những thứ đó đã cho ông nhiều chất liệu sống trong việc sáng tác văn chương sau này. Cải lương giúp cho ông có cái nhìn nội tâm về các nhân vật diễn tả những tình cảm ẩn chứa trong từng vai, nhất là cách trích đoạn tuồng. Hội họa giúp cho ông có cái nhìn về đường nét, màu sắc, cận ảnh, viễn ảnh, còn báo chí cho ông có cái óc quan sát và ghi nhận. Nhà văn Tiểu Tử đã tiếp thu những kiến thức, những cảm nhận đó trong tâm hồn mình làm chất liệu viết tiểu thuyết. Trong lãnh vực văn chương ông đã dùng một lối văn phong đặc thù miền Nam, câu văn giản dị nhưng ý tưởng sâu sắc. Để diễn tả tâm ý nhân vật trong tiểu thuyết, câu chữ trong đối thoại được chọn lọc có ẩn ý. Điểm đặc biệt trong những tiểu thuyết của nhà văn Tiểu Tử là ông đã dùng một lối văn phong hiện thực phê phán chế độ xã hội chủ nghĩa VN, ở đó đầy rẫy những bất công xã hội, chất ngất những lời than, tiếng dân ai oán..Từ văn hóa suy đồi, nhân quyền bị chà đạp thân phận con người bị ngược đãi…. Nhà văn đã thu những hình ảnh đó và đồng cảm với những nỗi đau của họ qua ngòi bút đã tạo một sắc thái riêng nhưng giữ được nét đặc thù của tiếng mẹ đẻ.
    Nhân dịp ngày ra mắt sách: “Tuyển Tập Tiểu Tử“ được các hội đoàn tổ chức tại Paris 05 tháng 6 năm 2016, tôi được hân hạnh cùng với các vị:  giáo sư Trần Văn Cảnh, tiến sĩ Nguyễn Văn Trần, nhà văn Từ Thức, giới thiệu về Tác phẩm và Tác giả Tiểu Tử.
    Với tính chất trong những tác phẩm tiểu thuyết của ông trong văn học, chúng tôi nhìn nhà văn Tiểu Tử là một nhà văn nhân bản, nhà văn hóa. Những cống hiến của ông đã lưu lại những trang sách Việt trên  xứ người góp phần vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa Việt hải ngoại.

    Đỗ Bình‘ Paris 05 tháng 6 năm 2016

    Tiểu Sử Nhà Văn Tiểu Tử

    NHÀ VĂN TIỂU TỬ, tên thật là Võ Hoài Nam, sinh quán Tây Ninh, Việt Nam, định cư tại Paris, Pháp quốc.
    Tốt nghiệp kỹ sư vào năm 1955 tại Marseille.
    Giáo sư các trường trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký niên khóa 1955-1956.

    Làm việc cho hãng xăng Shell Việt Nam từ tháng 10 năm 1956 đến 30 tháng tư năm 1975.
    Vượt biên năm 1979 và định cư tại Pháp.

    Làm việc cho công ty nhà nước tại Côte d’Ivoire. Hiện đang nghỉ hưu tại Paris.

    Khởi sự viết từ trước năm 1975 phụ trách mục biếm văn “Trò Đời“  trên nhật báo Tiến.
    Cộng tác với nhiều tập san, tạp chí ở hải ngoại.

    Tác phẩm đã xuất bản:

    Những Mảnh Vụn (Làng Văn 2004). Bài Ca Vọng Cổ (2006)
    Chị Tư Ù ( 2012). Chuyện Thuở Giao Thời (2014)
    Tuyển Tập Tiểu Tử (Người Việt 2016)
    Tiểu Tử Toàn Tập (Tác giả xuất bản 1917)
    Ông là thành viên Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris.

  • ĐỖ BÌNH, PARIS,  NGHIÊN CỨU,  Văn Thơ

    TRUYỆN KIỀU QUA ÂM NHẠC

    Hành trrình vào cõi thơ là làm một cuộc phiêu lưu vô tận. Thơ vốn sãn trong thiên nhiên, hàm chứa nhiều tính chất trong trời đất. Ngôn ngữ của thơ đôi khi ẩn trong văn, nhạc và hội họa bắt nguồn từ cảm xúc tâm hồn. Trong nền văn học Việt Nam thi phẩm Ðoạn Trường Tân Thanh của đại thi hào Nguyễn Du không những là một tác phẩm trác tuyệt hàng đầu của đất nước mà còn là đóa hoa muôn sắc trên thi đàn quốc tế. Thi phẩm được dịch sang nhiều thứ tiếng ở những quốc gia có nền văn học cao như Pháp, Anh, Đức, Ý, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Hoa, Nga, Tiệp, Hung, Ba Lan, v.v, năm 1965, tác giả Nguyễn Du đã được tổ chức Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO vinh danh là một đại văn hào của thế giới.

    Rất nhiều văn nhân, họa sĩ, trí thức, học giả, nhà phê bình..vv.. đã viết, phân tích, diễn thuyết, minh họa, biên kịch, cải lương… về giá trị tác phẩm của thiên tài Nguyễn Du qua những nét đẹp về phương diện văn chương, tư tưởng và hội họa..vv… Những ai từng đọc truyện Kiều chắc sẽ bùi ngùi thương cảm cho nàng Kiều bạc phận long đong chịu nhiều bất hạnh. Ngưòi đọc không khỏi thắc mắc:Tại sao thi hào Nguyễn Du đã đặt tên cho tác phẩm là Đoạn Trường Tân Thanh là Tiếng Kêu Mới về sự Đau Khổ? Tiếng kêu mới nơi đây phải chăng là quan niệm mới về đau khổ, khác với quan niệm cũ về đau khổ, nhìn sự đau khổ là những chuyện tất nhiên ? Hành trình từ đau khổ dẫn đến giải thoát, từ phiền não dẫn đến bồ đề, đó là nội dung tư tưởng mà Nguyễn Du đã thể hiện nơi Đoạn Trường Tân Thanh? Nếu thế, nỗi đau đó không còn của riêng Thúy Kiêu, mà nỗi đau của nhân sinh.  

    Những năm gần đây truyện Kiều đã được nhìn qua nét đẹp nghệ thuật âm nhạc, giới nhạc sĩ đã thực hiện phổ nhạc Đoạn Trường Tân Thanh, đã gieo vào vườn hoa nghệ thuật thêm sắc màu.  Thơ và nhạc là hai nghệ thuật riêng biệt nhưng rất khắn khít nhau làm say đắm lòng người». Thơ là nghệ thuật của «lờì», nhạc là nghệ thuật của «âm thanh.. 

    « Thơ phổ nhạc là nghệ thuật đem thêm âm hòa với âm thanh sãn có trong thơ, hoặc thay đổi âm thanh của thơ chuyển thể thành những nốt nhạc để hát.

    Trong 3254 câu thơ Kiều, những thanh bằng trắc tạo những nốt trầm bổng cao độ chỉ là “nhạc thơ” có sẵn chứa trong câu thơ. Trong khi “thơ trong nhạc” hay còn gọi là “tính nhạc” gồm những hình tượng, ngôn ngữ được ngắt nhịp theo tiết tấu riêng để diễn tả giai điệu toàn bài chuyên chở tứ thơ. Trong thi tập Đoạn Trường Tân Thanh gồm khá nhiều câu, chữ, chứa sẵn nhạc thơ tạo nên những tiết tấu, ngắt nhịp, xuống câu. Ví dụ:

     Nhịp 2 gồm 3 từ:

    “ Mai cốt cách/ tuyết tinh thần.

    Nhịp 4 gồm 2 từ:

    Mỗi người/ một vẻ/ mười phân/ vẹn mười….”

    Hoặc có thể phân làm 2 nhịp gồm 4 từ :
    «Mỗi người một vẻ / mười phân vẹn mười…»

    Hay những câu nhịp 2 gồm 3 từ
    “ Làn thu thủy/ nét xuân sơn »

    Và nhịp 2 gồm 4 từ:
    Hoa ghen thua thắm/ liễu hờn kém xanh”, vv…

    Để đọc, hay hát trọn vẹn toàn thi phẩm Kiều, người nghệ sĩ đã sáng tạo ra cách ngâm lảy Kiều, sa mạc..vv.. giúp giới mộ điệu thưởng lãm những cái hay, nét đẹp của lời thơ ý truyện bằng âm thanh.». Ngôn ngữthơ trong truyện Kiều là những hình tượng, nhạc sĩ phải đặt nhạc vào những thanh âm bằng trắc của thơ tạo thành những cung bậc, giai điệu riêng để diễn tả những tình tiết, tâm lý của những khía cạnh độc đáo từng nhân vật trong truyện. Người nhạc sĩ còn phải đồng cảm với tác giả, hòa vào từng con chữ để thấy cái sâu lắng chất chứa những âm thanh như tiếng kêu ai oán: «Đoạn Trường Tân Thanh»


    Nhạc sĩ Phạm Duy là người tiên khởi đem âm nhạc vào Kiều, ông lựa những đoạn, câu thơ chứa nhiều tính nhạc trong Kiều phổ thành ca khúc. Nhạc sĩ đã dung hợp nhạc giao hưởng tây phương với nhạc ngũ cung, trong đó chất ngũ cung để câu nhạc dễ luyến láy diễn tả được ý thơ, chất giao hưởng tạo cho câu nhạc được êm, vút cao, trầm bổng theo ý nhạc mà không theo thanh bằng trắc của vần thơ lục bát. Nhạc sĩ Phạm Duy gọi là: Minh Họa Kiều. Mấy năm gần đây dòng thơ phổ nhạc ở trong nước cũng như hải ngoại nở rộ, thơ nương nhạc chấp cánh, nhạc dựa thơ bay cao, cho dù muốn phổ được một bài thơ «đạt» đúng nghĩa là một nghệ thuật rất khó! Phổ thi tập Kim Vân Kiều thành nhạc là một việc làm còn khó hơn, cái khó nhất là vì đó là một tác phẩm lớn của dân tộc đòi hỏi nhạc sĩ phải có thực tài, nắm bắt được cái tinh hoa của hồn thơ, tính nhạc toàn thi tập. Nhạc sĩ phải dàn trải giai điệu, nhịp điệu, sắp đặt thể loại soạn thành những cấu trúc đoạn nhạc khác nhau; nhưng vẫn hài hòa, tạo ra từng phân đoạn hợp với tình tiết câu thơ theo nhân vật trong truyện.

    Cái khó của thơ lục bát là nhịp mạnh thường rơi vào cuối câu vần bằng, do đó nhạc sĩ phải khéo dùng những biến cung để dòng nhạc chuyển tiếp linh động không nhàm chán, lê thê. Từ trước đến nay những bài thơ lục bát của nhiều nhà thơ, nếu được phổ thành nhạc, hầu hết những bài thơ đó không dài quá 30 câu để nhạc sĩ dễ cảm nhận phổ thành ca khúc. Muốn thực hiện bản trường ca, nhạc sĩ phải bỏ thời gian để phân tích dàn trải cấu trúc toàn thi tập, tạo những thể điệu, những chuỗi hình nốt, giai điệu, tiếp nối nhau diễn tả dựa trên lời thơ không gián đoạn ý mà soạn cấu trúc nhạc theo lối tây phương, nhưng vẫn giữ được chất nhạc Việt.

    Điểm khó nữa đối với một thi phẩm lớn là không được sửa lời thơ, hay đổi thứ tự chữ để giai điệu, câu nhạc có cái kết hay.Do đó nhạc sĩ phải dừng nhiều biến cung thăng, giáng để dòng nhạc ít quay về chủ âm (tonique), hoặc khéo léo dùng những thể điệu, tiết tấu, uyển chuyển  của dòng nhạc đương đại.. tạo sự bìến đổi cấu trúc giai điệu thành từng đoạn khác nhau làm phong phú ý nhạc.
    Trong số những nhạc sĩ phổ truyện Kiều ngoài nhạc sĩ Phạm Duy, ở hải ngoại còn có nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã phổ toàn tập Kim Vân Kiều.


    Để thực hiện bản trường ca Đoạn Trường Tân Thanh nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã bỏ ra thời gian 6 tháng nghiên cứu, phân tích dàn trải cấu trúc của toàn thi tập, tạo ra những thể điệu khác nhau làm phong phú giai điệu trên dòng thơ Lục Bát, và hơn 4 năm kể từ đầu năm 2005 đến 2009 ông mới hoàn tất trường ca. Gọi là trường ca vì những chuỗi hình nốt âm nhạc, giai điệu gồm nhiều đoạn nhạc, khúc nhạc  khác nhau được tiếp nối nhau chặc chẽ theo một đề tài để diễn tả, dựa trên lời thơ theo phong cách viết nhạc Tây phương, pha lẫn nhạc ngũ cung Việt Nam.

    Tác giả đã dùng nhiều nốt thăng, giáng để biến cung giúp cho dòng nhạc phổ thơ Lục bát ít trở về chủ âm (tonique), hoặc khéo léo thay đổi những tiết tấu để cấu trúc nhạc thành những thể điệu của dòng nhạc Balade pha lẫn Blue Jazz, Bossa Nova, Boléro, Valse, Rock Lente, Mambo, Boston, Tango…tạo sự biến đổi cấu trúc giai điệu thành từng đoạn khác nhau làm phong phú ý nhạc. Nhạc sĩ muốn sáng tạo để làm mới nhạc, nhưng lại làm gai điệu xa cách lời thơ và hồn thơ, vì dòng thơ lục bát bị gò bó theo luật thanh âm vần điệu bằng trắc rất đặc thù của Viêt Nam, do đó rất nhiều khúc nhạc dù thay đổi tiết tấu, thể điệu nhưng vẫn bị những thanh bằng trắc của thơ cuốn hút làn dòng nhạc lập lại truùng nhau!

    Bước vào cõi nhạc của Qucáh Vĩnh Thiện trong trường ca Đoạn Trường Tân Thanh để thưởng thức nhữnng giai gai điệu đặc biệt của nhạc sĩ, là cùng nhạc sĩ đi vào thế giới kỳ bí của thi ca: Mở đầu bằng cung Ré thứ chậm buồn nhạc sĩ diễn tả nỗi lòng của thi hào Nguyễn Du, dòng nhạc chuyển sang tiết điệu Boléro mềm mại gần với Dân ca, rất quen thuộc trong làng tân nhạc Miền Nam trước năm 1975. Để diễn tả ý thơ, dòng nhạc chuyển sang chủ âm Mi thứ và chuyển điệu Bossa Nova tempo chậm diễn tả một nỗi buồn xa vắng. Ở đoạn thơ khác nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã dùng thể điệu Lambada nhưng tempo chậm, có lẽ để phát âm rõ ràng. Lambada là một ca khúc bắt guồn từ xứ Bolivia Nam Mỹ được nổi tiếng ở Bresil sau đó trở thành làn điệu quốc tế, nhưng rất hiếm trong làng nhạc Việt Nam. Dòng nhạc của Quách Vĩnh Thiện sử dụng rất nhiều biến cung, tiết tấu, và nhịp điệu thay đổi, từ Balade trữ tình lãng mạn chuyển sang Rock Lente linh động, rộn ràng.

    Dòng nhạc lại thay đổi nhịp điệu, tiết tấu qua giai điệu Slow nhẹ nhàng rồi chuyển sang Blues Jazz một chất nhạc u uất, não nề phát từ những nỗi buồn hân phận của kiếp người nô lệ da màu xa xưa. Giai điệu pha lẫn chất nhạc ngũ cung Việt Nam nên vợi chất bi ai. Dòng nhạc chuyển sang giai điệu Mambo vui lẫn chút bùi ngùi thưnơg tiếc, sau đó dòng nhạc chyển sang Libre diễn tả sự buồn bã, đau khổ của Thúy Kiều, và chuyển sang Samba, thể điệu rất hiếm trong làng nhạc Việt Nam. Tác giả cố ý dùng Tempo chậm lại để phát  âm rõ ràng. Dòng nhạc biến đổi rất nhiều từ Boston mềm mại chuyển qua Valse Andantino dìu dặt nhẹ nhàng. Từ cung Mi thứ giai điệu Valse khoan thai dòng nhạc biến cung thành Mi giáng thứ giai điệu Pop Rock, làm thay đổi sắc thái dòng nhạc.

    Ở những đoạn nhạc khác, từ điệu Jazz nhẹ nhàng nhạc sĩ lướt qua Tango, đây là cách soạn nhạc rất mới và hiếm thấy thể nhạc này trong vòm trời âm nhạc ? Đoạn tiếp theo là Jazz và Valse, nhạc sĩ  Quách Vĩnh Thiện đã phá cách, mang hai thể điệu có cấu trúc khác nhau hòa lại với nhau mà chưa có người hạc sĩ Việt nào viết.


    Thực hiện bản trường ca Đoạn Trường Tân Thanh nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã gieo vào vườn hoa nghệ thuật một hạt mầm để ươm thêm màu sắc cho muôn hoa bằng những dòng nhạc khai phá sáng tạo của riêng mình. Đây cũng là tấm lòng của ông bày tỏ sự ca ngợi thi phẩm của thi hào Nguyễn Du đã cho đời một tác phẩm hay, và cho nhạc sĩ một nguồn cảm hứng phổ nhạc. Ngoài ra, truyện Kiều còn được chuyển thể thành một vở ca kịch đương đại dàn dựng theo phong cách Broadway, được nghiên cứu từ bản dịch Anh ngữ tác phẩm Kiều“Tale of Kieu” do nhà soạn kịch Kiêm đạo diễn Burton Wolfe kết hợp cùng nhà soạn nhạc Scott Gehman, và Giáo sư, nhạc sĩ Linh Phương chuyển dịch lời ca tiếng Anh ngược lại tiếng Việt.

    Ở trong nước có nhạc sĩ Vũ Đình Ân phổ toàn tập, soan thành một đại hợp xướng Truyện Kiều, với sự cố vấn nghệ thuật Giáo sư nhạc sĩ Ca Lê Thuần. Ttrong cõi bất tận của âm thanh, những dòng nhạc hôm nay đi vào lòng người. Thơ và nhạc quyện nhau, nhạc nhập vào thơ giúp những con chữ thơ nằm bất động trên trang sách được những người yêu thơ thưởng lãm bằng mắt, cảm nhận bằng tâm, nay hồn thơ cất lên giai điệu, tiếng hát truyền cảm, diễn tả tâm trạng, cảm xúc từng nhân vật trong tác phẩm bằng một thực thể sống động, thoát khỏi thế giới ảo, mơ hồ. Người nhạc sĩ hôm nay phổ thơ có nhiều sáng tạo, không chỉ dựa vào cái thanh bằng trắc có sãn cao độ trầm bổng trong thơ, mà phổ cái hồn thơ, cái tư tưởng, hay những hình ảnh ngôn ngữ trong thơ mang màu sắc hội họa…Chẳng có nhạc sĩ nào nhân danh sự sáng tạo dám viết lệch cảm xúc của thi sĩ? Không ai lại soạn một khúc nhạc thật buồn để mừng ngày vui hội ngộ của gia đình Thúy Kiều, và ngược lại không thể viết những tiết tấu giai điệu của thể loại nhạc kích động, cuồng loạn, khi Thúy Kiêu đang gởi mình vào chốn thiền tu?

    Những ai cảm tác về truyện Kiều, chắc sẽ cảm nhận được nỗi cô đơn tư tưỏng của Nuyễn Du khi gởi gấm tâm sự vào tác phẩm, tác giả đã than rằng:

     «Bất tri tam bách dư niên hậu,
     Thiên hạ hà nhân  khấp Tố như »
    :300 năm sau mới có người hiểu mình !.

    Qua sự thâm thúy của tác phẩm tư tưởng, đượm đầy triết lý nhân sinh, người đọc hôm nay đã hiểu, và khám phá được cái lẽ đạo trong Kiều. Ở một cõi nào đó , thi hào Nguyễn Du sẽ vui, khi biết ở thời đại sau vẫn còn nhiều người ca ngợi, và tưởng nhớ đến ông. Tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh vẫn là nguồn cảm hứng cho đời diễn thuyết, biên khảo, sáng tác ở các bộ môn nghệ thuật , trong đó có giới nhạc sĩ vẽ lại chân dung truyện Kiều bằng âm nhạc. Đó là tấm lòng người thời nay nhớ và tri ân người xưa.


    Đỗ Bình

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Tin tức

    LIÊN HIỆP CÁC TRƯỜNG VIỆT NGỮ HẢI NGOẠI. (UNION OF OVERSIAS VIETNAMESE LANGUAGE SCHOOLS

    Tháng 12 năm 1988 Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Miền Nam California được thành lập như một tổ chức khởi đầu cho sinh hoạt Việt Ngữ tại Nam California. Ngày 30 tháng 10, 2000, Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California – The Association of Vietnamese Language & Culture Schools of Southern California được hình thành, đệ nạp lên chính phủ tiểu bang California và liên bang Hoa Kỳ để được chấp thuận như một tổ chức bất vụ lợi theo điều khoản 501(c) (3). Tính từ năm 1988 đến năm 2023 đã hoạt động liên tục được 35 năm. 

    Từ năm 2022 đổi danh xưng thành LIÊN HIỆP CÁC TRƯỜNG VIỆT NGỮ HẢI NGOẠI (LHCTVNHN) – UNION of OVERSEAS VIETNAMESE LANGUAGE SCHOOLS (UOVLS) với 33 thành viên trong Hội Đồng Quản Trị (HĐQT), cùng cộng tác với khoảng 3,000 thầy cô giảng dạy trên 300 trường Việt Ngữ khắp nơi cho khoảng 30,000 đến 40,000 học sinh từ mẫu giáo lên đến lớp 12 (K-12) phần lớn ở Hoa Kỳ và Canada.

    Sứ mệnh (tôn chỉ & mục đích) của hội là: 

    Bảo tồn và phát huy văn hoá  Việt Nam, dẫn dắt bởi triết lý giáo dục: nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

    Tương trợ và trao đổi kinh nghiệm trong việc truyền bá Việt Ngữ.

    Liên Hiệp Các Trường Việt Ngữ Hải Ngoại là một tổ chức văn hoá và giáo dục bất vụ lợi, hoạt động cho lợi ích chung của Cộng Đồng Việt Nam và không lệ thuộc bất cứ tổ chức hoặc đảng phái chính trị nào.

     Trụ sở và địa chỉ chính  được đặt tại vùng Nam California, USA.    

    12221 BROOKHURST, # 210 GARDEN GROVE, CA 92840.

     ĐIỆN THOẠI: (714) 203-5777.        E-MAIL: info@taviet.org  

  • Khánh Lan,  Lê Nguyễn Nga,  VNATV-57.3-NVNT & TTG

    TALK SHOW KY 13

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em vào xem buổi nói chuyện của Khánh Lan cùng Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga.

    PHẦN I:

    PHẦN 2:

    PHẦN III:

  • PHẠM QUỐC BẢO,  THO

    Em Bước Vào Thu   

    Thơ Trần Quốc Bảo

    Em bước vào Thu như vào mộng,

    Cây lá chung quanh, một sắc vàng.

    Nắng vẫn chờ em ngoài cửa động,

    Sao chân ngập ngừng… em hoang mang?

    Em bước vào Thu chiều hư ảo,

    Thảm cỏ nằm, tương tư mầu xanh.

    Khu vườn nhớ mùi hương thạch thảo,

    Chiếc lá đầu cành, rơi rất nhanh!

    Em vào Thu, dẫm trên xác lá,

    Có nghe vụn vỡ, tiếng dòn tan!

    Âm thầm chịu đau thương tàn tạ, 

    Làm sao em biết, lá thở than?

    Em bước vào Thu, rừng nức nở,

    Thoảng nghe tiếng chim kêu lạc đàn!

    Trong chòm lá, nai vàng bỡ ngỡ…

    Đầu cành mắt lệ, giọt sương tan!

    Em bước vào Thu, trăng sắp rụng,

    Thời gian đậu trên cánh phong lan.

    Như mây phù du… Em sao biết

    Thu vừa đến, là Thu sắp tàn!

    Em vào Thu nghe gió thở dài.

    Vàng Thu rực rỡ, để tàn phai!

    Ngọn đèn bừng sáng, khi gần tắt,

    Còn gì lưu luyến để ngày mai! (?)

    Trần Quốc Bảo, Richmond, Virginia, quocbao_30@yahoo.com

  • Khánh Lan,  LỊCH SỬ,  Tin tức

    Đâu Là Sự Thật Ý Nghĩa Ngày 19/8 & 2/9 Đối Với Người Việt Hiện Nay

    Kính thưa quý Giáo sư, Văn thi sĩ và các anh chị em,

    NVNT & TTG xin trân trọng giới thiệu một tài liệu lịch sử quý báu của tác giả Minh Phương. Theo như tờ nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa số 194, “Tác giả Minh Phương (Cựu sĩ quan QLVNCH, du học Mỹ, tốt nghiệp tiến sĩ) là giáo sư, thức giả với hành văn ôn hòa đã dựa vào các tài liệu, sự kiện chính xác qua các bài biên khảo để dẫn chứng.”

    Đây là một công trình được biên soạn công phu, với nhiều tâm huyết, ghi lại diễn biến gần 80 năm lịch sử hiện đại của đất nước Việt Nam. Bài viết sử dụng dẫn chứng cụ thể từ người thật, việc thật, cùng những tư liệu của các chứng nhân lịch sử, mang đến giá trị đặc biệt cho việc tìm hiểu và ghi nhớ những chặng đường đã qua. 

    Bài viết của tác giả Minh Phương, đăng trong trang Việt Báo Foundation ngày 25 tháng 9, 2025

    “Mấy chục năm sau nhìn lại, theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, cuộc “Cách mạng tháng Tám” của Mặt trận Việt Minh năm 1945, thực ra chỉ là một chuyện cướp chính quyền.” Minh họa: Đinh Trường Chinh.

    LTS: Tuần qua, tòa soạn nhận được bản tin từ trang VTMP có tựa đề: Picnic “Mừng” Cách Mạng Tháng Tám Ngay Thủ Đô Tị Nạn của Tổ Chức VietRise. Bản tin viết: Ngày 16 tháng 8, VietRise đã tổ chức một buổi picnic mùa hè, với chủ đề về Cách Mạng Tháng Tám (CMT8) và Hồ Chí Minh (HCM), nhấn mạnh  ‘thành tích’ giành lại chủ quyền dân tộc cho Việt Nam và phong trào này đã ‘thành công’ ra sao.

    Cũng trong thời điểm này, nhà văn Nguyễn Phan Quế Mai – một ngòi bút Việt nổi bật trong những năm gần đây, người được mời tham dự chương trình “50 Năm Chấm Dứt Chiến Tranh Việt Nam” do Đại học Columbia tổ chức hồi tháng 5, 2025 – đã đăng trên trang Facebook cá nhân (ngày 18 tháng 8) của Cô: “Tập thơ mới của tôi, Màu Hòa Bình, sẽ được Black Ocean Publishing xuất bản tại Hoa Kỳ đúng vào ngày 2 tháng 9 (ngày Quốc khánh Việt Nam).”

    Những sự việc nối tiếp ấy đã làm dấy lên nhiều thư từ và bài viết phản biện, khơi lại ý nghĩa lịch sử thật sự của ngày 19 tháng 8 và ngày 2 tháng 9 đối với cộng đồng người Việt tị nạn. Bài viết dưới đây của tác giả Minh Phương là một biên soạn công phu, góp phần vào cuộc đối thoại này. (Bài cập nhật ngày 10 tháng 9, kèm thêm bản Anh Ngữ).

    Hàng năm, cứ đến tháng 8 dương lịch là chế độ CS Việt Nam tưng bừng tổ chức ăn mừng ngày 19 tháng 8, ngày họ cướp được chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945, và ngày 2 tháng 9, ngày ông Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập” tại công trường Ba Đình, Hà Nội. Ít hàng phía sau nhằm cung cấp chút hiểu biết cần thiết cho một số bạn ở thế hệ trẻ, những người chưa có hoàn cảnh biết nhiều về hai sự kiện lịch sử ấy.

    Những người Cộng sản Việt Nam cũng luôn luôn khoa trương rằng họ có công lãnh đạo dân tộc trong hai cuộc chiến tranh lớn: 1) Đánh Pháp để giành độc lập, và 2) Đánh Mỹ để thống nhất đất nước. Vì thế họ có quyền – và được độc quyền — lãnh đạo đất nước. Họ đồng hóa thể chế của họ với Tổ quốc Việt Nam. Ở trong nước, ai lên tiếng phê phán chế độ sẽ bị ghép  vào tội phản quốc.

    Năm nay 2025, đúng 80 năm sau khi những người CS Việt Nam giành được chính quyền năm 1945 và đưa dân tộc vào hai cuộc chiến tranh thảm khốc, tuy chấm dứt năm 1975 nhưng hậu quả và tình trạng phân hóa tới nay vẫn còn trầm trọng, chúng ta cũng nên bình tâm xét lại thực chất của cuộc “cách mạng” cùng nguyên do của hai cuộc chiến tranh ấy, rồi nhận định một cách khách quan xem công nghiệp của đảng CS Việt Nam lớn đến mức nào.

    1. “Đánh Pháp để giành độc lập”

    Sau khi Thế chiến thứ 2 (World War II) chấm dứt năm 1945, các cường quốc Âu Mỹ ý thức được rằng trong hoàn cảnh mới, việc tiếp tục giữ các nước châu Á làm thuộc địa là điều không chấp nhận được nữa. Chế độ thuộc địa đã đến lúc phải cáo chung. Vì thế:

    — Hoa Kỳ trả độc lập cho Philippines. Philippines tuyên bố độc lập ngày 4 tháng 7 năm 1945.

    — Anh trả độc lập cho Ấn Độ. Ấn Độ độc lập từ năm 1947.

    — Anh trả độc lập cho Miến Điện (tên cũ Burma, tên hiện nay Myanmar). Miến Điện độc lập từ tháng 1-1948.

    — Anh trả độc lập cho Mã Lai (tên cũ Malaya, tên hiện nay Malaysia). Vốn do nhiều tiểu bang hợp lại, khung cảnh chính trị có phần phức tạp, Mã Lai được tự trị năm 1948, và hoàn toàn độc lập năm 1957.

    — Hòa Lan trả độc lập cho Nam Dương. Lúc đầu, giới thực dân Hòa Lan tham lam không chịu trả, dân Nam Dương phải tranh đấu bằng võ lực trong 4 năm. Sau nhờ áp lực của thế giới, nhất là từ Hoa Kỳ, Nam Dương được hoàn toàn độc lập từ tháng 12-1949.

    — Dân tộc duy nhất ở châu Á phải tranh đấu gian khổ đến năm 1954 và sau đó, đất nước bị chia cắt, là Việt Nam. Tuy có cảm tình với nền độc lập của Việt Nam, Hoa Kỳ đã không làm áp lực với chính phủ Pháp như đã làm với chính phủ Hòa Lan tại Nam Dương, không ép họ phải trả độc lập cho chính phủ Hồ Chí Minh. Lý do: Đó là một chính thể Cộng sản, và Hồ Chí Minh với nhiều bí danh khác nhau, đã được phát hiện là một chuyên viên của Cộng sản quốc tế, từng được huấn luyện ở Nga. Theo Gs. Tường Vũ, trong cuốn Vietnam’s Communist Revolution (New York: Cambridge University Press, 2017), sau khi tìm đọc thật kỹ trong Văn Kiện Đảng Toàn Tập của chế độ CS Hà Nội, vị giáo sư Chính trị học và Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Á châu tại University of Oregon đã phát hiện rằng ngay từ năm 1946, trước khi Mao Trạch Đông thành công ở Trung Hoa, trong các văn kiện Đảng, chính thể Hồ Chí Minh luôn luôn ca ngợi “các lực lượng của xã hội chủ nghĩa” do Liên Xô dẫn đầu và kịch liệt đả kích “chủ nghĩa đế quốc” (chỉ Hoa Kỳ) ¹. Tuy cộng tác với một số sĩ quan OSS của Hoa Kỳ năm 1945, tuy dùng một tấm hình mang chữ ký của tướng Claire L. Chennault để khoe với nhiều người là “được Mỹ giúp,” tuy dẫn lời bản “Tuyên ngôn độc lập” của Hoa Kỳ cho bản Tuyên ngôn do mình soạn, ông Hồ Chí Minh không phủ nhận sự kiện là một người Cộng sản. Trong những năm 1945, 1946, bên cạnh việc viết thư cho Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, ông cũng viết thư kêu gọi sự giúp đỡ của lãnh tụ Liên Xô Stalin, và cùng không được trả lời. Ngay từ những năm 1941, 1942, báo Việt Nam Độc Lập do Hồ Chí Minh chủ trương, đã đăng những bài ca tụng nước Nga như một thiên đường, và viết, “Chỉ khi nào nước Nga toàn thắng, thế giới mới được thấy những ngày vinh quang” ². Cuối năm 1945, tuy tuyên bố “đảng Cộng sản tự ý giải tán” để che mắt dư luận, báo Sự Thật của “Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác” do Trường Chinh điều hành, trong số ra ngày 5 tháng 12, 1945, vẫn xác quyết, “Con đường duy nhất có thể đưa nhân loại đến tự do, hòa bình, và hạnh phúc, là ‘thực hiện triệt để’ chủ nghĩa Mác” (các trang 104-105) ³.

    Mấy chục năm sau nhìn lại, theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, cuộc “Cách mạng tháng Tám” của Mặt trận Việt Minh năm 1945, thực ra chỉ là một hành động cướp chính quyền, và những người CS cũng dùng động từ “cướp.” Đáng buồn hơn, việc cướp ấy không cần thiết vì ở Việt Nam, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945, ở Việt Nam có một khoảng trống quyền lực:

    — Người Pháp: Đã bị người Nhật gạt ra bên lề sau cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945, các nhân vật trọng yếu bị Nhật bắt giam.

    — Người Nhật: Đã đầu hàng sau khi thua trận, nhất là sau khi nước Nhật bị hai quả bom nguyên tử.  Họ đang chuẩn bị giao nộp võ khí để sẽ được đưa về nước.

    — Chính phủ Trần Trọng Kim: Gồm một số nhà giáo, trí thức … không có tham vọng chính trị, được kêu gọi đứng ra quản trị đất nước sau khi chính quyền Pháp bị Nhật đánh đổ, chỉ quan tâm đến các vấn đề xã hội, cứu tế (đang có nạn đói trầm trọng), y tế, giáo dục …. Các vị sẵn sàng từ chức khi có người thay, và sau đó đã từ chức.

    — Vua Bảo Đại: sẵn sàng thoái vị, tuyên bố “Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.”

    Trong cuốn Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California : Truyền Thống Việt, 2017), Gs. Phạm Cao Dương đưa ra nhiều tài liệu cho thấy trong phiên họp giữa Hoàng đế Bảo Đại và Nội các Trần Trọng Kim ở  Huế ngày  17 tháng 8 năm 1945, bên cạnh ý kiến giao hẳn quyền cho Việt Minh, có ý kiến của Luật sư Vũ Văn Hiền, Bộ trưởng Tài chánh, là: Việt Nam cần có một chính phủ hợp pháp để bảo đảm được trật tự, và để khi Đồng Minh tới, có sẵn một chính phủ đúng danh nghĩa pháp lý, có tư thế và thẩm quyền đối thoại với họ, không để họ mượn cớ là Việt Nam đang hỗn loạn, vô chính phủ mà giúp thực dân Pháp trở lại Việt Nam. Để đạt mục đích ấy, nên trao cho lực lượng Việt Minh quyền lập chính phủ, nhưng giữ lại thể chế quân chủ hiện có (đổi thành quân chủ lập hiến) ⁴. Ý kiến ấy được các vị Bộ trưởng am hiểu về luật, các ông Trịnh Đình Thảo, Trần Văn Chương và Phan Anh tán thành. Một đạo Dụ được soạn thảo ngay sau đó: Dụ số 105 ngày 17 tháng 8 năm 1945. Vua Bảo Đại sẵn sàng giao chính quyền cho Việt Minh là một tổ chức đấu tranh, và mời các lãnh tụ Việt Minh tới Huế để thành lập Nội các ⁵ .

    Ngay từ đầu tháng 8 năm 1945, trong cương vị người cầm đầu Chính phủ, Thủ tướng Trần Trọng Kim cũng đã có ý định mời những người Việt Minh cộng tác. Nhân từ Huế ra Hà Nội, cụ nhờ Khâm sai Phan Kế Toại bắn tiếng mời Việt Minh cử đại diện đến nói chuyện. Tuy người tới gặp cụ còn rất trẻ, nhà giáo lão thành, tác giả Việt Nam Sử Lược đã nói như sau:

    “Chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi, chứ không có ý cầu danh lợi gì cả, tôi chắc đảng các ông cũng vì nước mà hành động. Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau nhưng cũng một mục đích như nhau. Các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau, kẻ ở trong người ở ngoài, để cứu nước được không?”  Trong những hàng phía sau, cụ Trần Trọng Kim tóm lược cuộc đối thoại giữa cụ và người đại diện của Việt Minh:

    Người ấy nói: “Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trình nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. Chúng tôi có thể làm lấy được.”

    —  “Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi, nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn.”

    —  “Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai.”

    —  “Theo như ý các ông như thế, tôi sợ rất hại cho dân, mà chưa chắc đã thành công được.”

    —  “Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Nếu có hại cũng không cần, có hại rồi mới có lợi. Dù người trong nước mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại, còn hơn với chín phần kia” (nhấn mạnh của người chép lại).

    Rồi người ấy ngồi đọc một bài hình như đã thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. Thấy thái độ người ấy như thế, tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được. Tôi nói:

    —  “Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà, sao các ông không vào chính phủ làm việc, cần gì phải đánh phá cho khổ dân?”

    —  “Chúng tôi sẽ cướp lấy quyền để tỏ cho các nước Đồng Minh biết chúng tôi mạnh, chứ không chịu để ai nhường.”

    —  “Các ông có chắc là các nước Đồng Minh tin ở sức mạnh của các ông không?”

    —  “Chắc lắm. Chắc trăm phần trăm.”

    —  “Tương lai còn dài, các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử ” ⁶.

    Theo Gs. Phạm Cao Dương, người thay mặt Việt Minh đến gặp cụ Trần Trọng Kim hôm ấy là Lê Trọng Nghĩa. Các tài liệu về ông Nghĩa cho thấy ông sinh năm 1922 (năm 1945 mới 23 tuổi). Sau khi Việt Minh thành công ông được bầu vào Quốc Hội, rồi làm Cục trưởng cục Quân báo. Ông được thăng đến Đại tá Chánh Văn phòng, làm Trợ tá cho tướng Võ Nguyên Giáp. Năm 1968 ông bị bắt vì bị coi là có liên quan đến nhóm “Xét lại chống Đảng,” bị giam và phải “lao động cải tạo” từ 1968 đến 1976. Ông bị khai trừ khỏi đảng CS, mất hết chức vụ và quyền lợi. Sau 47 năm giữ im lặng, trước khi qua đời năm 2015 ông để lại di chúc yêu cầu được minh oan. Theo một bạn thân của ông là Trần Đĩnh (Đèn Cù, Quyển 2, trang 535-549), ông Nghĩa rất đau lòng vì nỗi khổ của các con: trong lý lịch, họ bị coi là con một người phản Đảng. “Nghĩa sau đó vào Cầu Giấy kể lại với tôi. Rồi ngơ ngác, ‘Thế là mất hết à’?” ⁷

    Lệ Trọng Nghĩa còn được mời tới gặp Khâm sai Phan Kế Toại  sáng ngày 16 tháng 8 năm 1945. Lần này ông Toại chính thức mời Mặt trận Việt Minh cộng tác với chính phủ Trần Trọng Kim, và “vui lòng chờ Mặt trận cử người tham gia chính phủ.” Người cùng đi với ông Nghĩa, ông Nguyễn Khang (Chủ tịch Ủy ban Quân sự Cách mạng Hà Nội) dứt khoát trả lời, “Tốt nhất ông Toại nên từ chức, trao chính quyền lại cho Việt Minh” ⁸.

    Theo nhà biên khảo David G. Marr trong cuốn Vietnam 1945 (Berkeley, CA : University of California Press, 1995), dựa theo các tài liệu từ phía Hà Nội, thì trước khi gặp ông Lê Trọng Nghĩa ngày 16 tháng 8, Khâm sai Phan Kế Toại đã tiếp một phái đoàn của Việt Minh do ông Nguyễn Khang cầm đầu ngày 13 tháng 8. Qua ông Khang, Khâm sai Toại mời Việt Minh giữ một số chức vụ trong chính quyền, nhưng ông Khang nhất quyết từ chối ⁹.

    Trong lần tiếp xúc sau, xảy ra lúc 8 giờ sáng ngày 18 tháng 8 năm 1945, tại một biệt thự ở số 101 đường Gambetta, nay là đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội, đại diện chính phủ Trần Trọng Kim là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật, một học giả lỗi lạc và uy tín đương thời.  Giáo sư Hãn tự giới thiệu là “người đại diện cao cấp nhất của Thủ tướng Chính phủ tại Hà Nội,” và tới để báo tin, “Chúng tôi biết chắc chắn có tin quân đội Đồng Minh đã bắt đầu lên đường, chia nhau vào chiếm Nam Bắc vĩ tuyến 16 nước ta rồi. Đất nước đang có nguy cơ đe dọa lại bị xâm chiếm và chia cắt một lần nữa.” Giáo sư Hãn gợi ý, “Chúng ta hãy tiếp tục thương thảo, nói chuyện với nhau. Việt Minh các ông cứ nắm tất cả các vùng nông thôn, nhưng để cho chính phủ quản lý một số thành phố lớn, cốt để có danh nghĩa mà nói chuyện với Đồng Minh trong lúc này, không thì nguy cả” ¹⁰.

    Các học giả Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn không phải là những người có tham vọng chính trị. Khi đề nghị Việt Minh duy trì thể chế quân chủ nhưng được quyền lập chính phủ điều hành việc nước, cũng như khi đề nghị Việt Minh để lại cho chính phủ đương thời một số thành phố lớn để có tư thế đối thoại với các lực lượng Đồng Minh sắp đến Việt Nam, các ông chỉ nghĩ đến quyền lợi của quốc gia. Hành động “cướp chính quyền” của Việt Minh đã khiến chính phủ do họ lập ra năm 1945 không được nhìn nhận là một chính phủ có căn bản pháp lý. Giữa tháng 9 năm 1945, khi tướng Douglas Gracey của Anh đem quân tới Sài gòn để tước khí giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16, đối mặt với những cuộc biểu tình hỗn loạn và tranh chấp bạo động dẫn tới đổ máu diễn ra quanh Sài gòn nhưng không tìm được người đại điện hợp pháp của Việt Nam để đối thoại, ông ta đã có những hành động thuận lợi cho người Pháp.  

    Theo Gs. Phạm Cao Dương, Lê Trọng Nghĩa còn đến dinh Khâm sai một lần nữa vào chiều ngày 18 tháng 8 để gặp bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, người đại diện chính phủ thay Khâm sai Phan Kế Toại đã từ chức, nhưng không phải để thảo luận mà chỉ cốt thăm dò tình hình.

    Trong các lần tiếp xúc, trừ lần cuối cùng, các cụ Trần Trọng Kim, Phan Kế Toại và giáo sư Hoàng Xuân Hãn đều chân thành mời Việt Minh vào chính phủ làm việc để “cùng lo cho quyền lợi đất nước” nhưng tất cả đều bị từ chối. Lý do là Việt Minh, với nòng cốt là đảng Cộng sản, đã chủ trương “cướp chính quyển” để một mình lãnh đạo đất nước hầu thực hiện một cuộc cách mạng theo đường lối riêng, bất chấp những tai hại và nguy hiểm có thể xảy tới cho dân tộc, đúng như lời tuyên bố của Lê Trọng Nghĩa, “Dù người trong nước mười phần chết mất chín, chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại, còn hơn với chín phần kia.”  Đó cũng là lý do trong những năm 1945, 1946, trước và sau khi giành được chính quyền, Việt Minh đã tìm cách tiêu diệt toàn bộ các nhà trí thức có uy tín và những người hoạt động chính trị không phải là Cộng sản. Chúng ta có thể kể Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch, Ls. Dương Văn Giáo, bs. Hồ Vĩnh Ký và vợ là bs. Nguyễn Ngọc Sương, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Nhượng Tống… Các lãnh tụ tôn giáo có ảnh hưởng như Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ của Phật giáo Hòa Hảo cũng bị sát hại.

    Ngày 17 tháng 8-1945 ở Hà Nội, lúc 3 giờ chiều, nhân một cuộc biểu tình của Tổng hội Công chức trước Nhà hát lớn để ủng hộ chính phủ sau khi Nhật đầu hàng, cán bộ Việt Minh tới cướp máy vi âm, hô “Hoan hô Việt Minh” và trương cờ đỏ sao vàng. Nhà biên chép lịch sử Đoàn Thêm cho biết như sau, “Rồi đoàn biểu tình được lệnh chuyển bước, tuần hành qua nhiều đường lớn… Tới ngã sáu Cửa Nam, vài anh áo cộc quần đen, chắc chắn không phải là công chức, vừa chạy vừa phất lá cờ đỏ giữa có ngôi sao vàng, anh khác giơ một vật ít thấy ở thời đó là khẩu súng lục, bắn vài phát như để thị uy: “Anh em hãy cùng tôi hô ‘Mặt trận Giải phóng muôn năm’.” Vài công chức, có lẽ hoảng sợ quá, đành “Muôn năm” theo một cách gượng gạo và máy móc” ¹¹.

    Ngày 19 tháng 8, từ sáng sớm, Việt Minh tổ chức biểu tình tuần hành từ trước Nhà hát lớn để đi “cướp chính quyền.” Theo hồi ký của nhà biên khảo Hoàng Tường trong Việt Nam Đấu Tranh (Westminster, CA : Văn Khoa, 1987), “Lúc mới xuất phát chỉ độ 500 người, nhưng sau đó cứ mỗi khu phố đi qua lại có dân chúng hiếu kỳ đi theo, nên đoàn biểu tình trở nên đông đảo, ước độ 2000 người, đa số là thanh niên, thiếu nữ, thiếu nhi. Dẫn đầu là một lá cờ lớn (nền đỏ sao vàng), rồi đến biểu ngữ lớn nhỏ… Hai bên đoàn người biểu tình diễn hành còn có một đám người cỡi xe đạp cắm cờ trên ghi đông, vừa đạp vừa hô, “Ủng hộ Việt Minh nắm chính quyền” ¹² . Bác sĩ Nguyễn Tường Bách kể lại, “Có người cầm cờ đỏ, nhỏ, bằng giấy, có người hô khẩu hiệu, “Ủng hộ độc lập, Đả đảo thực dân Pháp.” Thỉnh thoảng có vài người đi kèm, họ chia nhau rẽ vào các nhà bên đường xua người ra phố tham dự biểu tình. Vì vậy người xuống đường càng ngày càng đông, nam nữ già trẻ đều có; vì nếu không hồ hởi để đi biểu tình, cũng khó mà từ chối không dự vào một hoạt động để ủng hộ độc lập” ¹³.

    Nhà biên khảo Hoàng Tường viết tiếp, “Đầu tiên đoàn biểu tình dừng lại trước phủ Khâm sai. Trong khi tiếng hô “Ủng hộ Việt Minh nắm chính quyền” vang dậy thì một bọn chừng hơn 10 người tách khỏi đoàn biểu tình tiến vào trong dinh, trước bộ mặt ngơ ngác của một anh Bảo an binh đứng gác. Đi đầu là hai người tay cầm lăm lăm khẩu súng sáu, và hai người khác khiêng một lá cờ đại, nền đỏ sao vàng. Thế rồi chỉ một lát sau, lá cờ được kéo lên trước cửa dinh, ngạo nghễ tung bay trước gió. Anh Bảo an binh gác ngoài cửa cũng được thay thế luôn: một người trong đám biểu tình tách ra, nhận lấy cây súng trường anh Bảo an binh trao cho, và đứng gác trước dinh.¹⁴ ” Khâm sai Phan Kế Toại có cảm tình với Việt Minh, nhất là sau khi Phan Kế An, con trai ông, gia nhập và hoạt động cho họ. Tối 17 tháng 8, sau khi biết việc xin từ chức đã được chấp thuận, ông rời dinh Khâm sai về nhà riêng. Trước khi đi, ông dặn viên Chánh quản và một Bảo an binh có nhiệm vụ canh giữ dinh, “Không nổ súng” để tránh đổ máu một cách vô ích.

    Sau đó, đoàn biểu tình lần lượt diễn hành đến tòa Thị chính, nhà máy đèn, nhà bưu điện, rồi đến các ty sở khác, đài phát thanh. Cuối cùng họ kéo đến trại Bảo an binh … Cuộc đoạt chính quyền diễn ra êm ru. Đảng viên Cộng sản xuất hiện rất đông đảo, khoa tay múa chân, miệng hô: “Cách mạng thành công! Cách mạng thành công!” ¹⁵

    Thật ra, nếu đáp ứng lời mời của vua Bảo Đại, vào Huế lập chính phủ trong tinh thần đạo Dụ số 105 ngày 17-8-1945 như đã nói trên, những người Cộng sản cũng sẽ làm chủ tất cả những dinh thự ấy cũng như các dinh thự khác trên toàn quốc, vì trong thể chế quân chủ lập hiến, ngôi vua chỉ mang tính cách biểu tượng quốc gia. Nhưng điều họ muốn là có thanh thế thật mạnh (cướp được chính quyền) để sau đó có thể thực hiện thêm nhiều hành động “ngày long trời, đêm lở đất” khác.

    Trong hồi ký Một Cơn Gió Bụi, học giả Trần Trọng Kim cho biết, “Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi: “Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng Minh đến thay. Nếu chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự”. Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Đồng Minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa, và lại mang tiếng “cõng rắn cắn gà nhà”. Tôi từ chối không nhận” ¹⁶.

    Gần 70 năm sau, Trần Đĩnh, một nhà văn và biên khảo trưởng thành trong chế độ Hà Nội, cũng viết: “Tổng tư lệnh Nhật vào Huế, gặp Bảo Đại và Trần Trọng Kim, nói, ‘Nếu các vị yêu cầu, Nhật với 50,000 quân tinh nhuệ, có thể dẹp Việt Minh trong một đêm. Việt Minh có quá lắm là 5000 người, còn súng ống lại càng quá ít.’ Nhưng hai ông này từ chối” ¹⁷.

    Sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội ngày 19 tháng 8-1945, vua Bảo Đại thoái vị, trao kiếm và ấn tượng trưng vương quyền cho đại diện của họ (Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận) ngày 25 tháng 8-1945. Một tuần sau, ngày 2 tháng 9-1945, ông Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn độc lập.

    Nhưng niềm vui không được lâu. Hơn 10 hôm sau, ngày 13 tháng 9-1945, theo tinh thần Thỏa ước Potsdam, Thiếu tướng Douglas Gracey của Anh đem quân tới Sài gòn để tước khí giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16. Tình trạng chính trị ở miền nam Việt Nam những năm 1945-1946 không ổn định. Nhiều nhân sĩ trí thức ái quốc, nhiều tổ chức tôn giáo không chấp nhận sự thao túng và những biện pháp khống chế của các nhân vật Cộng sản. Phía Cộng sản khủng bố, hạ sát nhiều nhân vật ưu tú của miền Nam, đưa tới việc nhiều tổ chức tôn giáo và nhân sĩ (như nhà giáo Trần Văn Hương) vừa lo sợ vừa bất mãn, tách khỏi phong trào kháng chiến do CS chỉ huy. Tình trạng mất an ninh quanh khu vực Sài gòn – Chợ Lớn khiến tướng Gracey ban lệnh thiết quân luật và cho võ trang một số thường dân Pháp, giúp Pháp có lợi thế. Sau khi tướng Leclerc của Pháp đem quân tới vào tháng 10-1945, ông mở rộng phạm vi kiểm soát của Pháp đến hầu hết các thị trấn và tỉnh lỵ miền Nam, dồn lực lượng Việt Minh vào thế co cụm, phải lẩn tránh vào các vùng hẻo lánh, bưng biền. Một trong những tài liệu đáng tin cậy, giúp chúng ta biết một cách khái quát vể tình trạng miền Nam những năm ấy là cuốn Gió Mùa Đông Bắc của bác sĩ Trần Nguơn Phiêu (Amarillo, TX : Hải Mã, 2008). Sinh năm 1927, ở đúng tuổi 18 năm 1945, ông đã tích cực dấn thân vào phong trào tranh đấu cho độc lập trong mấy năm đầu ¹⁸.

    Sau khi tạm ổn định trong Nam, tướng Leclerc đem quân ra Bắc, chuẩn bị đổ bộ ở Hải Phòng. Ngày 6 tháng 3 năm 1946, đại diện của Pháp là Jean Sainteny ký với ông Hồ Chí Minh một Hiệp ước sơ bộ, trong đó Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do trong khối Liên hiệp Pháp và trong Liên bang Đông Dương. Để đổi lại, chính phủ Hồ Chí Minh đồng ý cho Pháp đưa 15,000 quân vào miền Bắc trong vòng 5 năm. Mâu thuẫn Việt-Pháp sau đó gia tăng. Đêm 19 tháng 12-1946, Việt Minh tấn công quân đội Pháp ở Hà Nội, mở màn cho cuộc chiến tranh Việt Minh – Pháp kéo dài tới Hiệp định Geneva tháng 7 năm 1954.

    Khi Việt Minh khởi sự giao tranh với Pháp cuối năm 1946 rồi bỏ Hà Nội và các đô thị chạy lên chiến khu, chỉ một tỷ lệ nhỏ dân chúng có phương tiện chạy theo hay tản cư tới những vùng tương đối an ninh gần quanh. Cư dân còn ở lại các thành phố vẫn cần được bảo vệ, trong đó có những trí thức và thành phần tư sản sẽ bị sát hại hoặc đàn áp nếu tới sống ở vùng do Việt Minh kiểm soát. Việc nhiều nước Á Châu được trả lại độc lập đã khiến một số không nhỏ người Việt nhận thấy nếu tập hợp quanh một nhân vật có uy tín, đủ tư thế đại diện, có thể tiến tới việc điều đình với người Pháp để thu hồi độc lập dần dần. Tháng 5 năm 1947, Cao ủy Pháp tại Đông Dương là Émile Bollaert đọc một bài diễn văn quan trọng ở Hà Đông, đưa ra quan niệm “độc lập trong sự liên lập,” và tuyên bố “sẵn sàng tham khảo tất cả các phe phái chính trị ở Việt Nam.” Đó là lý do khiến cựu hoàng Bảo Đại, người đã tự nguyện thoái vị năm 1945 với câu “Không muốn làm vua một nước nô lệ” được nhiều khuynh hướng chính trị người Việt tìm tới yết kiến, thỉnh cầu đứng ra làm đại diện. Cuộc chiến tranh cũng bị dư luận Pháp lên án. Vì thế Pháp và Việt Nam dần dần tiến tới Thỏa ước Hạ Long năm 1948, rồi Hiệp định Élysée năm 1949, trong đó Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam. Năm 1949 cũng là năm Cộng sản toàn thắng trên lục địa Trung Hoa. Hai khuynh hướng chính trị thành hình ở Việt Nam. Một bên là đoàn kết quanh một nhân vật có uy tín để điều đình với Pháp hầu thu hồi độc lập qua từng giai đoạn (phe Quốc gia), một bên là dựa vào sự giúp đỡ của Trung Cộng để đánh Pháp (phe Cộng sản).   

    Hiệp định Elysée chưa phải một hiệp định toàn hảo. Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập “trong Liên hiệp Pháp,” và xác nhận Nam Kỳ trở về lãnh thổ Việt Nam, nhưng về ngoại giao Việt Nam chưa hoàn toàn tự do. Việt Nam còn phải “phối hợp hoạt động với đường lối chung của Liên hiệp Pháp,” “các quốc gia được Việt Nam cử phái đoàn ngoại giao phải có sự tương đồng của chính phủ Cộng hòa Pháp.” Nói cách khác, năm 1949 khi ký Hiệp định Elysée, chính thể Quốc gia Việt Nam chưa được độc lập về phương diện đối ngoại.

    Được tin Pháp ký Hiệp định Elysée với cựu hoàng Bảo Đại, ông Hồ Chí Minh phẫn nộ, tuyên bố “đó chỉ là một tờ giấy lộn.” Nhưng so với bản Hiệp định do chính ông ký với Pháp ngày 6 tháng 3 năm 1946, thì Hiệp định Elysée là một bước tiến xa và ở một cấp cao hơn.

    —  Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự do “trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp.” Trong Hiệp định Elysée, Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập “trong Liên hiệp Pháp.” Liên hiệp Pháp là một hình thức kết hợp giữa một số quốc gia từng là thuộc địa của Pháp, cũng tương tự khối Liên hiệp Anh (British Commonwealth), gồm một số quốc gia từng có những gắn bó với Anh (như Úc, Tân Tây Lan [New Zealand], Canada, South Africa, và một số quốc gia nhỏ).

    — Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, Pháp không cam kết sẽ trả Nam Kỳ cho Việt Nam, chỉ nói rằng “chính phủ Pháp hứa sẽ thừa nhận những quyết định của dân chúng qua cuộc trưng cầu dân ý.”  Trong Hiệp định Elysée, Pháp xác nhận Nam Kỳ trở về lãnh thổ Việt Nam.

    —  Người ký Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946 với Hồ Chí Minh là Jean Sainteny, trong tư cách “phái viên của phủ Cao ủy Pháp, được sự ủy quyền của Đô đốc d’Argenlieu, đặc sứ toàn quyền của Cộng hòa Pháp.” Người ký Hiệp định Elysée với Cựu hoàng Bảo Đại là Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc Vincent Auriol.

    —  Trong Hiệp định ngày 6 tháng 3-1946, ông Hồ Chí Minh nhận đón 15,000 quân Pháp vào đóng ở miền Bắc Việt Nam. Nói cách khác, ông không chống lại mà hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp trong lãnh thổ Việt Nam.

    Từ đó trên đất nước Việt Nam hiện diện hai chính phủ song hành là chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo, và chính phủ Quốc Gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu. Chính thể Quốc gia là một lối thoát cho nhiều nhà hoạt động chính trị với tinh thần dân tộc và cho những người dân không thể sống dưới chế độ Cộng sản. Những năm sau đó, dân chúng bỏ vùng Việt Minh, hồi cư về các thành phố để sống dưới chính thể Quốc gia càng ngày càng đông.

    Nhờ sự tận lực  giúp đỡ của Trung Cộng, phe Cộng sản thắng Pháp ở Điện Biên Phủ năm 1954 và đất nước Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17. Miền Bắc theo chế độ Cộng sản. Những người tự thấy không thể sống với Cộng sản ở miền Bắc phải lánh vào miền Nam.  

    Trong cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp từ 1946 đến 1954, theo tài liệu của Việt Minh, số quân nhân tử trận và mất tích là 191,605 người. Theo các sử gia Tây phương, con số ấy từ 175,000 tới 300,000 người. Số thường dân Việt Nam bị chết được ước lượng từ 125,000 tới 400,000 ¹⁹. Việt Minh theo chính sách tiêu thổ kháng chiến, nên tất cả các đô thị bị đập phá tan hoang.

    1. “Đánh Mỹ để thống nhất đất nước”

    Những hàng phía trên đã cho ta thấy khi Thế chiến thứ 2 chấm dứt năm 1945, nếu ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản không khăng khăng đưa đất nước vào con đường Cộng sản, Việt Nam có thể đã độc lập, nếu không sớm như Philippines và Ấn Độ (từ 1945 đến 1947), thì cũng tương tự Nam Dương (năm 1949), hay trễ lắm như Mã Lai (năm 1957). Đâu cần phải cầu xin Trung Cộng giúp đỡ để đánh Pháp rồi sau đó bị họ khống chế? Nếu các nhà lãnh đạo miền Bắc không khăng khăng áp dụng chủ thuyết Cộng sản, đất nước đâu đến nỗi phân đôi? Đâu cần một cuộc nội chiến thảm khốc để thống nhất đất nước?

    Mặt khác, trong cuộc Chiến Tranh Lạnh (the Cold War) giữa hai đại cường quốc Nga – Mỹ (1947-1991), Việt Nam không phải quốc gia duy nhất bị chia đôi. Chúng ta cũng thấy có Đông – Tây Đức và Nam – Bắc Hàn. Đông – Tây Đức giữ tình trạng chia cắt cho đến khi thống nhất trong hòa bình năm 1990. Bắc Hàn chủ động tấn công năm 1950, gây nên cuộc chiến tranh Cao Ly (the Korean War) trong những năm 1950-53, nhưng sau tháng 7-1953 cũng chấp nhận chia cắt ở vĩ tuyến 38, giới hạn cuộc tranh chấp ở mức độ “chiến tranh miệng.” Việt Nam là quốc gia duy nhất trải qua một cuộc chiến thảm khốc với:

    —  Ở miền Bắc:

    —  Trên 849,000 quân nhân tử trận

    —  Trên 600,000 quân nhân bị thương

    —  Trên 232,000 quân nhân mất tích

    —  Số thường dân ở vùng do CS kiểm soát bị chết vì chiến tranh: từ 30 ngàn tới 182 ngàn.

    — Ở miền Nam:

                – 313,000 quân nhân tử trận

                – 1,170,000 quân nhân bị thương

                – Từ 195 đến 430 ngàn thường dân bị chết oan ²⁰.

    Đúng là “nhất tướng công thành, vạn cốt khô”. Dân trong nước đã đưa ra lời nhận xét, “Con đường Bác đi là con đường bi đát.”

    Đầu thập niên 1980, khi tướng Võ Nguyên Giáp bị đổi sang phụ trách “Ủy ban Sinh đẻ có kế hoạch,” trông coi việc hạn chế sinh đẻ và ngừa thai, người dân miền Bắc cũng đưa ra cặp câu đối:

                Tướng Võ không còn Nguyên Giáp nữa,

                Bác Hồ cũng chẳng Chí Minh đâu!

    Đất nước hiện đã thống nhất nhưng lòng người vẫn chưa thổng nhất. Việt Nam bị tàn phá, trở nên lạc hậu, thua kém xa các lân bang. Trong khoảng đầu thập niên 1960, mức sống ở Hàn Quốc, Thái Lan, Mã Lai … thấp hơn ở Nam Việt Nam. Hiện nay họ tiến hơn rất xa. Có phải đó là “sự nghiệp vĩ đại” để các nhà lãnh đạo đảng CSVN muốn dân Việt phải “nhớ ơn?”

    Để ép dân miền Bắc hi sinh, những người Cộng sản dùng tinh thần dân tộc và phương pháp lừa dối. Họ xuyên tạc là dân miền Nam bị “đế quốc Mỹ và tay sai” áp bức, vô cùng cực khổ, không có gì để ăn, nên thanh niên thiếu nữ miền Bắc cần hi sinh vào để “cứu” bà con ruột thịt miền Nam, như tinh thần câu thơ của Bùi Minh Quốc:

    Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy

    Dầu xa xôi gấp mấy cũng lên đường

    Bùi Minh Quốc đã cùng vợ, nhà văn Dương Thị Xuân Quý, vào chiến trường miền Nam, gửi người con duy nhất của hai người là Bùi Dương Hương Ly nhờ bà ngoại nuôi hộ. Nhà văn Xuân Quý hi sinh ở miền Nam khi mới 28 tuổi, và khi con của hai người mới được 2 tuổi.  

    Ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo chân đoàn quân chiến thắng vào tiếp thu Sài Gòn, nhà văn Dương Thu Hương đã “ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết,” vì nhận ra rằng, “Cái mô hình xã hội của miền đất bại trận mới chính là mô hình của nền văn minh, và chúng tôi, người trong đội ngũ chiến thắng, thì thực ra đã chiến đấu cho một mô hình xã hội man rợ.” “Điều đó khiến tôi hết sức cay đắng. Cả thế hệ của chúng tôi đã bị lừa…”. Theo bà, “Dân Việt Nam đã bị đẩy vào một cuộc chiến vô nghĩa.”   Phía sau là đường dẫn đưa một số lời phát biểu đặc sắc của bà:

    Little Saigon Radio Phỏng Vấn Nhà Văn Dương Thu Hương: Dân Vn, Dù Mù Chữ Đều Xấu Hổ Vì Đảng Quá Tối Tăm Ngu Dốt – Tin Trong Ngày – Việt Báo Foundation – A Nonprofit 501 (c)(3) Organization

    Đứng về phương diện kinh tế, mặc dầu trong hoàn cảnh chiến tranh, mức sống tại miền Nam vẫn cao hơn tại miền Bắc nhiều. Ca sĩ Ái Vân kể lại ngày đầu tiên bà từ Hà Nội đến thăm gia đình người chị ruột của thân phụ ở Sài gòn: 

    “Khi đến thăm cô Cả, cô sinh viên nghèo Ái Vân cũng mang biếu gia đình chút quà từ tiêu chuẩn ăn của mình. Chị Nga, … là con dâu trưởng của cô Cả, hỏi, “Cô mang cho chúng tôi quà gì thế?” Tôi trịnh trọng vừa mở bọc vừa nói, “Em biếu gia đình 2 cân gạo ạ, chắc nhà mình cũng đang cần.”

    Ối giời, cả nhà cười nghiêng ngả, chị Nga cười đến nỗi suýt té từ trên ghế xuống sàn. Chị nói, “Giời ạ. Lại mang gạo cứu trợ cho chúng tôi nữa cơ đấy. Khổ thân em.” Rồi chị dắt tôi tới mở thùng gạo to tướng bằng nhựa, bên trong đầy ắp gạo, thứ gạo trắng muốt và thơm phức, nõn nà. Bây giờ tôi mới để ý trong nhà ngoài ti vi, tủ lạnh, còn có máy giặt và nhiều thứ lạ lẫm khác, cho thấy một cuộc sống rất tiện nghi, không thể có trong bất kỳ nhà nào ở miền Bắc tại thời điểm đấy…” ²¹.

    Không riêng gì mức sống vật chất, nếp sống về tinh thần ở miền Nam năm 1975 cũng cao hơn ở miền Bắc. Ca sĩ Ái Vân cho biết tiếp:

    “Trước đây cứ nghe nói đồng bào miền Nam “bị Mỹ Ngụy kìm kẹp,” khổ lắm, cứ hình dung dân Sài Gòn đói khổ lắm. Mới vào Sài Gòn tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, trang điểm, đi lại, ăn nói nhẹ nhàng; chỉ cần ra chợ mua gì cũng có câu cảm ơn và túi nilon đựng đồ đủ biết mình không cùng đẳng cấp văn minh với người ta rồi. Biết mình bị ngộ nhận với thông tin lệch lạc” ²².

    Phía sau là những hàng tự thuật và nhận xét của một chuyên viên kỹ thuật miền Bắc được cử vào để “tiếp thu” miền Nam, Trương Minh:

    “Xe vừa vào địa giới miền Nam, chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới. Nhà cửa người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn miền Bắc. Đi rồi nghỉ ngơi rồi đi tiếp cho đến khi đoàn xe đến được khu công nghiệp Biên Hòa. Có quá nhiều nhà máy tại đây. Đoàn 18 người  chúng tôi nhìn ngang nhìn dọc từng dãy nhà máy trong khu vực này, và tuy không ai nói với ai, đều trầm trồ trước công nghiệp miền Nam.

    “… Ngay từ lúc còn ngồi trên xe buýt nhìn cảnh vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài Gòn, tôi đã thấy vượt trội nhiều lần so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh, lộ ra từ cách phục sức, sinh hoạt của người dân miền Nam.

    “… Sài Gòn, hay nói rộng ra cả miền Nam, không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo đài Hà Nội mô tả… Đây là mô hình của một xã hội văn minh, và người nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội XHCN tại miền Bắc. Tiếc thay! Một xã hội như thế lại vừa bị cướp mất đi” ²³.

    Theo nhà nghiên cứu văn hóa Vương Trí Nhàn, “Không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn. Không chỉ đường xá tốt mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc. Trình độ hiểu biết và tuân thủ pháp luật tốt. Giữa người với người có quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.” ²⁴

    Trong bài “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” đăng trong tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 7-8 (114-115) năm 2014, với chuyên đề “Giáo dục miền Nam Việt Nam 1954-1975,” ông nhận xét thêm: “Trong khi khác biệt với giáo dục miền Nam, thì giáo dục miền Bắc cũng khác nhiều so với thế giới. Đủ hiểu tại sao sau khi đào tạo trong nước, ra tiếp xúc với xã hội hiện đại, cánh học sinh, sinh viên miền Bắc bọn tôi thường ú ớ, lạc lõng, trong khi những người được giáo dục miền Nam đào tạo thì hội nhập rất tự nhiên và hiệu quả” ²⁵ Phía sau là đường dẫn đưa tới trang blog đăng những bài suy tư của ông:

    Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc

    Xã hội miền Nam năm 1975 chưa phải là một xã hội toàn hảo. Nền dân chủ miền Nam đang xây dựng năm 1975 chưa phải là một nền dân chủ kiện toàn. Nhưng theo nhận xét của một nhà văn (Dương Thu Hương), một nghệ sĩ (Ái Vân), một chuyên viên kỹ thuật (Trương Minh), một nhà nghiên cứu văn hóa (Vương Trí Nhàn) cùng tới từ miền Bắc, xã hội ấy không cần các lãnh tụ Cộng sản tại Hà Nội xua quân vượt Trường Sơn để “giải phóng.” Hơn hai triệu người Việt đã bị hi sinh trong một cuộc chiến huynh đệ tương tàn thảm khốc và vô nghĩa. Như vậy ngày 19 tháng 8 năm 1945, ngày Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim ở Hà Nội, trong khi vua Bảo Đại và các cụ Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn … nhiều lần mời cộng tác, có đáng được coi là một ngày để dân Việt “hân hoan kỷ niệm” hay không?

    Minh Phương biên soạn

    GHI CHÚ

    1.         Tường Vũ, Vietnam’s Communist Revolution (New York : Cambridge Univ. Press, 2017), trang 105.

    2.         Sách đã dẫn, trang 95-96.

    3.         Sách đã dẫn, trang 104-105.

    4.         Phạm Cao Dương, Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California : Truyền Thống Việt, 2017), pp. 288-289. Xem thêm Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế đến Chiến Khu Việt Bắc (Tp HCM : NXB Trẻ, 1996), pp. 76-77.

    5.         Phạm Cao Dương, op. cit, pp. 289-290.

    6.         Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi  (Saigon: Vĩnh Sơn, 1969), pp. 86–88.

    7.         Trần Đĩnh, Đèn Cù, Vol. 2 (Westminster, CA : Người Việt Books, 2014), pp. 545–547.

    8.         Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 307–309.

    9.         Marr, David G. Vietnam 1945 (Berkeley: University of California Press, 1995), p. 374.

    10.       Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 309-311.

    11.       Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, 1939–1954 (Sài Gòn: Nam Chi Tùng Thư. Reprinted Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1969), pp. 47–48.

    12.       Hoàng Tường, Việt Nam Đấu Tranh (Westminster, CA : Văn Khoa, 1987), p. 68.

    13.       Nguyễn Tường Bách, Việt Nam Một Thế Kỷ Qua: Hồi Ký, Vol. I. (Westminster, CA: Thạch Ngữ, 1998), p. 169).

    14.       Hoàng Tường, op. cit, p. 68-69.

    15.       Ibid., p. 69.

    16.       Trần Trọng Kim, op. cit., p. 93.

    17.       Trần Đĩnh, op. cit., p. 478.

    18.       Trần Nguơn Phiêu, Gió Mùa Đông Bắc (Amarillo, TX: Hải Mã, 2008).

    19.       From Wikipedia:

    First Indochina War – Wikipedia

    20.       From Wikipedia:

    Vietnam War – Wikipedia

    21.       Ái Vân, Để Gió Cuốn Đi: Autobiography (Saigon: Hội Nhà Văn Pub., 2016), pp. 156–157).

    22.       Ibid., p. 156.

    23.       Trương Minh, “Chuyện kể của một người chiến thắng khi vào Nam” (Story of a victor entering the South.” In Nguyễn Tường Tâm, Cuộc Chiến Việt Nam 50 Ngày Cuối Cùng (San Jose, CA : NT Tâm, 2025), pp. 509–512.

    24.       “Cú sốc giáo dục khi vào Nam tiếp quản” (The educational shock when entering the South for takeover). In Nguyễn Tường Tâm, op. cit., pp. 517-518.

    25.       Vương Trí Nhàn, “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” (Some reflections on the differences between southern and northern education), in Nghiên Cứu và Phát Triển (Research and Development), Nos. 7–8 (114–115), 2014, p. 267.

    ***
    (English version)

    The Meanings of the August 19th and September 2nd Celebrations

    to the Vietnamese People Today

    Every year when August comes, the Vietnamese Communist regime jubilantly celebrates August 19th — the day they seized power from the government of Trần Trọng Kim in 1945 — and September 2nd, when Hồ Chí Minh read the “Declaration of Independence” at Ba Đình Square in Hà Nội.

    The following lines aim to provide some basic knowledge for younger Vietnamese, those who have not had the opportunity to know much about these two historical events.

    Meanwhile, the Vietnamese Communists have always boasted that they successfully led the nation in two great wars:

    1. The war against France to gain independence, and
    2. The war against the United States to unify the country.

    Therefore, they claim the right — and the monopoly — to rule the nation. They equate their regime with the Vietnamese Fatherland. Inside the country, anyone who speaks out to criticize the regime is accused of treason.

    This year, 2025, marks the 80th year since the Vietnamese Communists seized power in 1945 and dragged the nation into two devastating wars, which ended in 1975 but whose consequences and deep divisions remain severe to this day. It is therefore appropriate for us to calmly re-examine the true nature of the Vietnamese communist revolution and the origins of those wars, and then objectively assess just how great the achievements of the Vietnamese Communist Party really were.

    I. “Fighting the French to Gain Independence”

    After World War II ended in 1945, the Western powers became aware that in the new global context, continuing to hold Asian nations as colonies was no longer acceptable. The colonial system had reached its end. For that reason:

    • The United States granted independence to the Philippines. The Philippines declared independence on July 4, 1945.
    • Britain granted independence to India. India became independent in 1947.
    • Britain granted independence to Burma (now Myanmar). Burma became independent in January 1948.
    • Britain granted independence to Malaya (now Malaysia). Since Malaya consisted of several states and territories, its politics were complex. Malaya was granted self-rule in 1948 and full independence in 1957.
    • The Netherlands granted independence to Indonesia. At first, the Dutch colonialists greedily refused, forcing the Indonesians to wage armed struggle for four years. Under global pressure, especially from the United States, Indonesia finally achieved full independence in December 1949.
    • The only Asian nation that had to fight bitterly until 1954 and then suffered partition was Vietnam.


    Although the U.S. sympathized with Vietnam’s independence, it did not pressure France the way it pressured the Dutch in Indonesia. There were several reasons, but the main one was: the Hồ Chí Minh’s regime was communist, and under various pseudonyms Hồ had already been identified as an agent of the international Communist movement, trained by the Comintern in Moscow.

    According to Prof. Tường Vũ in his book Vietnam’s Communist Revolution (New York: Cambridge University Press, 2017), after carefully examining the Văn Kiện Đảng Toàn Tập (Collected Party Documents) of the Hanoi regime, the professor — a political scientist and director of the Center for Asian Studies at the University of Oregon — discovered that as early as 1946, three years before Mao Zedong’s victory in China, secret party documents of the Viet Minh regime had always praised the “socialist forces” led by the Soviet Union, and  criticized “American imperialism” ¹.

    Although Hồ collaborated with some U.S. OSS officers in 1945, although he used a signed photo of General Claire L. Chennault to claim he had “American backing,” and he quoted the U.S. Declaration of Independence in his own declaration, he never denied being a Communist.

    In 1945–1946, alongside writing letters to U.S. President Harry Truman, Hồ also wrote to Soviet leader Stalin asking for support — and received no reply in either case. As early as 1941–1942, the Việt Nam Độc Lập newspaper, founded by Hồ, praised the Soviet Union as a paradise and wrote: “Only when Russia wins completely will the world see glorious days.” ²

    In late 1945, although Hồ publicly announced the “voluntary dissolution” of the Vietnamese Communist Party to deceive public opinion, Sự Thật (Truth), the biweekly journal of the “Association for Marxist Studies,” run by Trường Chinh, still declared in its debut issue of December 5, 1945: “The only path that can lead humanity to freedom, peace, and happiness is the thorough implementation of Marxism.” ³

    Looking back decades later, many historians have concluded that the so-called “August Revolution” of the Việt Minh in 1945 was in fact nothing more than a power grab, and the Communists themselves used the verb “cướp” (to seize, to rob). Even more sadly, that “cướp” action was not necessary, because after Japan surrendered to the Allies on August 15, 1945, a political power vacuum existed in Vietnam:

    • The French: sidelined by the Japanese coup of March 9, 1945; key officials were imprisoned.
    • The Japanese: having surrendered, especially after the atomic bombings, they were preparing to hand over weapons and be repatriated.
    • The Trần Trọng Kim government: composed of teachers and intellectuals with no political ambition, formed to administer the country after the French collapse. They focused only on social issues, famine relief, health, and education. They were ready to resign when others could replace them, and eventually did resign.
    • Emperor Bảo Đại: ready to abdicate, declaring, “I would rather be a citizen of an independent country than a king of a subjugated one.”

    In the book Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California: Truyền Thống Việt, 2017), Prof. Phạm Cao Dương let us know that in the meeting between Emperor Bảo Đại and the Trần Trọng Kim Cabinet in Huế on August 17, 1945, alongside the opinion of handing full power to the Việt Minh, there was also the view of Lawyer Vũ Văn Hiền, Minister of Finance, who argued: Vietnam needed a legitimate government to guarantee order, and so that when the Allies arrived there would already be a legally constituted government, with status and authority to deal with them. Otherwise, they might use the pretext that Vietnam was in chaos and without a legitimate government as a reason of helping the French colonialists return. To achieve that, the power to form a government should be granted to the Việt Minh, but the monarchical institution should be retained (transformed into a constitutional monarchy) ⁴.

    This opinion was supported by legally knowledgeable ministers such as Trịnh Đình Thảo, Trần Văn Chương, and Phan Anh. A royal decree was immediately drafted: Decree No. 105, dated August 17, 1945. In it, Emperor Bảo Đại expressed the readiness to hand power to the Việt Minh as a national liberation organization, and invited their leaders to Huế to form a cabinet ⁵.

    As early as the beginning of August 1945, Prime Minister Trần Trọng Kim, in his capacity as head of government, had already intended to invite Việt Minh representatives to cooperate. While traveling from Huế to Hanoi, he asked Khâm sai (Royal commissioner) Phan Kế Toại to discreetly sound out the Việt Minh. The one who came to meet him was still very young, but the elderly teacher, author of Việt Nam Sử Lược (A Brief History of Vietnam), said:

    • “We are working only for the country, not seeking fame or profit. I am sure your party also acts for the nation. If so, then though we travel different paths, we share the same goal. Let us see if we can cooperate—some inside, some outside—to save the country, can’t we?”

    In subsequent lines, Trần Trọng Kim summarized the dialogue between him and the Việt Minh representative:

    • The representative said: “Our actions are based on our own ideology and program to bring the country to complete independence. We can achieve it ourselves.”
    • Trần Trọng Kim: “The pursuit of independence is also our goal, but since the straight path has many obstacles, we must take a winding route, slowly, perhaps more securely.”
    • The representative: “We have only one straight path to full independence, not two.”
    • Trần Trọng Kim: “According to your way, I fear it will greatly harm the people, and it is uncertain whether you will succeed.”
    • The representative: “We are certain to succeed. If harm comes, it does not matter—only after harm comes benefit. Even if nine out of ten people die, we will build a new society from those who remain, which is better than keeping the other nine parts.” (emphasis by the chronicler)


    Then the representative recited from memory a monologue outlining Việt Minh activities. Seeing such an attitude, I knew reason could not prevail. I said:

    • “If you are sure of securing independence, why don’t you enter the government to work, instead of causing upheavals to the people’s sufferings?”
    • The representative: “We will seize power to show the Allies that we are strong, not accept anyone handing it to us.”
    • “Are you sure the Allies will believe in your strength?”
    • “Absolutely sure. One hundred percent.”
    • “The future is long; you take responsibility before the nation and history” ⁶.


    According to Prof. Phạm Cao Dương, the Việt Minh envoy who met Trần Trọng Kim on that day was Lê Trọng Nghĩa. Records show he was born in 1922 (only 23 years old in 1945). After the Việt Minh’s success, he was elected to the National Assembly, then became Director of Military Intelligence, later rising to Colonel, Chief of Staff, and aide to General Võ Nguyên Giáp. In 1968 he was arrested, accused of ties to the “Nhóm Xét lại chống Đảng”  (“Revisionist Anti-Party” group), imprisoned and sent to “reeducation labor” until 1976. He was expelled from the Communist Party and stripped of rank and privileges. After 47 years of silence, before his death in 2015, he left a will requesting exoneration. His close friend Trần Đĩnh, in the book Đèn Cù, recorded Nghĩa’s grief over his children’s suffering: in their dossiers they were branded “children of an anti-Party traitor.” Trần Đĩnh recalled Nghĩa’s words in bewilderment: “So, it’s all gone?” ⁷

    Lê Trọng Nghĩa was also received by Commissioner Phan Kế Toại in the morning of August 16, 1945. This time, Toại officially invited the Việt Minh Front to cooperate with the Trần Trọng Kim government, “gladly awaiting the Front to appoint participants to the cabinet.” But Nguyễn Khang (Chairman of the Hanoi Revolutionary Military Committee), coming with Nghĩa, bluntly replied: “It is best that you resign and hand power over to the Việt Minh” ⁸.

    The historian David G. Marr, in Vietnam 1945 (Berkeley: University of California Press, 1995), based on Hanoi sources, notes that before the August 16 meeting with Lê Trọng Nghĩa, Commissioner Phan Kế Toại had already received a Việt Minh delegation led by Nguyễn Khang on August 13. Through Khang, Toại invited Việt Minh to hold positions in government, but Khang firmly refused ⁹.

    The next contact occurred at 8 a.m. on August 18, 1945, at a villa at 101 Gambetta Street (now Trần Hưng Đạo Street, Hanoi). The government representative was Professor Hoàng Xuân Hãn, Minister of Education and Fine Arts, a highly respected scholar. He introduced himself as “the highest-ranking representative of the Prime Minister in Hanoi,” and announced: “We are certain that Allied troops have begun moving, dividing to occupy our country north and south of the 16th parallel. The nation faces the threat of re-occupation and partition once again.”

    Professor Hãn suggested: “Let us continue negotiating. You, the Việt Minh, may control all rural areas, but allow the government to administer some major cities—simply for legitimacy in dealing with the Allies now, otherwise the danger is grave” ¹⁰.

    Neither Trần Trọng Kim nor Hoàng Xuân Hãn were men of political ambition. Their proposals—that the Việt Minh maintain the monarchy while forming the government, or that they leave the cabinet a few major cities for holding dialogue with the Allies—were solely for the sake of national interest. The Việt Minh’s act of “seizing power” meant that the government they formed afterwards lacked a solid legal basis.

    By mid-September 1945, when the British General Douglas Gracey arrived in Saigon to disarm Japanese troops south of the 16th parallel, facing chaotic protests and bloody clashes around Saigon but finding no recognized legal Vietnamese authority to deal with, he acted in ways favorable to the French.

    According to Prof. Phạm Cao Dương, Lê Trọng Nghĩa went once more to the Khâm Sai Palace on the afternoon of August 18 to meet with Dr. Nguyễn Xuân Chữ, who was representing the government in place of Khâm Sai Phan Kế Toại (after the latter had resigned). But the purpose was not discussion, only to probe the situation.

    In these meetings—except for the last—Trần Trọng Kim, Phan Kế Toại, and Prof. Hoàng Xuân Hãn all sincerely invited the Việt Minh to join the government, to “work together for the interests of the nation.” But all such offers were refused. The reason was that the Việt Minh, whose core was the Communist Party, had already determined to “seize power” (cướp chính quyền) in order to lead the country alone and carry out a revolution according to their own line—regardless of the harms and dangers this might bring to the nation. Lê Trọng Nghĩa himself declared:

    “Even if nine out of ten people die, we will build a new society from those who remain, which is better than keeping the other nine parts.”

    This was also the reason that in 1945–1946, before and after seizing power, the Việt Minh systematically sought to eliminate all prominent intellectuals and non-Communist political activists. We can list: Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch, lawyer Dương Văn Giáo, Dr. Hồ Vĩnh Ký and his wife Dr. Nguyễn Ngọc Sương, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Nhượng Tống… Even influential religious leaders such as Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ of Hòa Hảo Buddhism were assassinated.

    On August 17, 1945 in Hanoi, at 3 p.m., during a rally of the Civil Servants’ Association in front of the Opera House—organized to support the government after Japan’s surrender—Việt Minh cadres stormed the loudspeakers, shouted “Long live Việt Minh!” and raised the red flag with the yellow star. Historian Đoàn Thêm recorded:

    “Then the demonstration was ordered to march, parading through many major streets… At Cửa Nam six-way intersection, a few young men in short shirts and black trousers, clearly not civil servants, ran while waving the red flag with yellow star. Another raised an object rarely seen at that time—a revolver—and fired several shots as if to intimidate, ‘Comrades, let us shout together: Long live the Liberation Front!’ Some civil servants, perhaps too frightened, reluctantly and mechanically shouted ‘Long live’!”¹¹

    On August 19, early in the morning, the Việt Minh organized a mass rally in front of the Opera House with the aim of “seizing power.” According to the memoirs of the researcher Hoàng Tường in the book Việt Nam Đấu Tranh:

    “At first there were only about 500 people, but as the march passed through each street section, onlookers joined in. The demonstration grew to about 2,000 people, mostly youth. At the head was a large flag (red background with yellow star), followed by banners big and small… Alongside the marchers was a group riding bicycles with flags attached to their handlebars, shouting, ‘Support Việt Minh to seize power’.” ¹²


    Dr. Nguyễn Tường Bách recalled:

    “Some people carried small red paper flags, some shouted slogans: ‘Support independence, Down with French colonialism.’ From time to time, a few would peel off into nearby houses, urging people to come out and join the rally. Thus the number of people in the street grew larger and larger, men and women, old and young. For even if one was not eager to march, it was hard to refuse participation in an activity to support independence.”¹³

    Hoàng Tường continued:

    “The march first stopped at the Khâm Sai Palace. As the chants ‘Support Việt Minh to seize power’ thundered, a group of about 10 people broke off and entered the palace, before the bewildered face of a single Bảo An guard at his post. Leading were two men with revolvers, followed by two others carrying a large red flag with yellow star. Moments later, the flag was raised in front of the palace, fluttering arrogantly in the wind. The Bảo An guard at the gate was immediately replaced: one demonstrator took the rifle from him and stood guard in his place.” ¹⁴

    Khâm Sai Phan Kế Toại had sympathies with the Việt Minh, especially after his son, Phan Kế An, joined them. On the evening of August 17, once his resignation was accepted, he left the Khâm Sai Palace for his private home. Before leaving, he instructed the commander of the Bảo An guards and another trusted guard: “Do not fire” in order to avoid needless bloodshed.

    Afterwards, the demonstration marched in turn to the City Hall, the power plant, the post office, and other offices, including the radio station. Finally, they went to the Bảo An barracks… The takeover unfolded smoothly. Communist Party members appeared in great numbers, waving their arms and shouting: “Revolution successful! Revolution successful!” ¹⁵.

    In truth, had the Communists accepted Emperor Bảo Đại’s invitation (through Imperial Edict no. 105 of August 17, 1945) to come to Huế to form a government within the constitutional monarchy framework, they would have the control of all these palaces and institutions anyway, since the emperor’s role in a constitutional monarchy was only symbolic. But what they wanted was to gain prestige by “seizing power” forcefully, so that later they could launch further “earth-shaking” actions.

    In his memoir Một Cơn Gió Bụi, the scholar Trần Trọng Kim wrote:

    “At that time the Japanese came and told me: ‘The Japanese army is still responsible for maintaining order until the Allies arrive. If the Vietnamese government openly requests Japanese help, the Japanese can still maintain order.’ I thought: the Japanese have already surrendered, the Allies are about to arrive, so why should we ask the Japanese to suppress our own people? That would be disgraceful—‘bringing snakes in to harm your own chickens.’ I refused” ¹⁶.

    Nearly 70 years later, the writer Trần Đĩnh, who grew up under the Hanoi government, also recorded:

    “The Japanese Commander-in-Chief went to Huế, met Bảo Đại and Trần Trọng Kim, and said: ‘If you wish, Japan, with 50,000 elite troops, can crush the Việt Minh in one night. The Việt Minh have at most 5,000 people, and even fewer weapons.’ But both men declined” ¹⁷.

    After the Việt Minh seized power in Hanoi on August 19, 1945, Emperor Bảo Đại abdicated, handing the imperial sword and seal—the symbols of royal authority—to their representatives (Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận) on August 25, 1945. A week later, on September 2, 1945, Hồ Chí Minh read the Declaration of Independence.

    But the joy was short-lived. Barely ten days later, on September 13, 1945, in accordance with the Potsdam Agreement, British Major General Douglas Gracey brought troops into Saigon to disarm the Japanese south of the 16th parallel.

    The political situation in southern Vietnam in 1945–1946 was unstable. Many patriotic intellectuals and religious organizations did not accept the Communist leaders’ manipulations and control. The Communists responded with terror, assassinating and executing many prominent southern figures. This caused many religious groups and intellectuals (such as the prominent educator Trần Văn Hương) to withdraw from the Communist-led resistance, out of both fear and resentment.

    The insecurity around Saigon–Chợ Lớn led General Gracey to impose martial law and to  arm certain French civilians, giving the French an advantage. When General Leclerc arrived in October 1945 with French forces, he expanded French control to most towns and provincial capitals in the South, driving the Việt Minh into retreat, hiding in remote forests and swamps.

    One reliable source that gives us a broad picture of conditions in the South during those years is Dr. Trần Nguơn Phiêu’s Gió Mùa Đông Bắc. Born in 1927, at the age of 18 in 1945, he actively engaged in the struggle for independence during those early years ¹⁸.

    Having the South stabilized, General Leclerc moved his troops north, preparing to land at Hải Phòng. On March 6, 1946, French representative Jean Sainteny signed with Hồ Chí Minh a Preliminary Agreement in which France recognized Vietnam as a “free state” within the French Union and within the Indochinese Federation. In return, Hồ’s government agreed to allow 15,000 French troops into the North for five years.

    Vietnam–France tensions then escalated. On the night of December 19, 1946, the Việt Minh attacked French forces in Hanoi, opening the war that would last until the Geneva Agreement of July 1954.

    When fighting began and the Việt Minh abandoned Hanoi and other cities for the resistance zones, only a small portion of the population could flee with them. Most city residents remained, still needing protection—among them intellectuals and the middle commercial class, who would have been killed or repressed had they go to Việt Minh areas.

    The wave of decolonization in Asia led many Vietnamese intellectuals to believe that, if united behind a reputable leader capable of representing them, they could negotiate with the French for the gaining of independence step by step. In May 1947, the French High Commissioner Émile Bollaert gave a major speech in Hà Đông, proposing the concept of “independence in cooperation,” and declared himself “ready to consult all political factions in Vietnam.”

    That was why former emperor Bảo Đại—who had voluntarily abdicated in 1945 with the statement “I do not want to be the ruler of a nation in bondage”—was sought out by many Vietnamese nationalist factions and politico-religious groups, urging him to serve as their representative.

    Public opinion in France also condemned the war. Gradually, France and Vietnam reached the Hạ Long Agreements of 1948 and then the Élysée Accords of 1949, in which France recognized the independence of Vietnam.

    1949 was also the year the Communists triumphed in mainland China. Two political lines crystallized in Vietnam: one rallying around a respected figure to negotiate independence step by step with France (the Nationalist side), the other relying on Chinese Communist aid to fight France (the Communist side).

    For Vietnam, the Élysée Accords were not perfect. France recognized Vietnam as an independent nation “within the French Union” and confirmed the return of Cochinchina to Vietnam. But in foreign affairs, Vietnam was not fully free yet: it still had to “coordinate with the common policy of the French Union,” and any states with which Vietnam wished to establish diplomatic relations had to be in line with France. In other words, in 1949, when the Élysée Accords was signed, the State of Vietnam was not fully independent in foreign affairs.

    When Hồ Chí Minh learned of the Élysée Accords, he was furious and angrily dismissed it as “just a scrap of paper.” But compared to the agreement he himself had signed on March 6, 1946, the Élysée Accords was a far greater step forward.

    In the March 6, 1946 Agreement, France recognized Vietnam as “a free state,” “within the Indochinese Federation and the French Union.” In the Élysée Accords, France recognized Vietnam as an independent nation “within the French Union.” The French Union was a looser association of former French colonies, similar to the British Commonwealth.

    In the March 6, 1946 Agreement signed with Ho Chi Minh, France made no promise to return Cochinchina, only that “the people might decide via referendum.” In the 1949 Élysée Accords, France confirmed Cochinchina’s return to Vietnam.

    The 1946 Agreement was signed by Jean Sainteny, envoy of the French High Commissioner, with authorization from Admiral d’ Argenlieu, French Special Commissioner. The Élysée Accords was signed by the President of the French Republic, Vincent Auriol.

    In the 1946 Agreement, Hồ Chí Minh accepted the stationing of 15,000 French troops in northern Vietnam, thus legitimizing their presence.

    From then on, Vietnam had two governments: the Democratic Republic of Vietnam under Hồ Chí Minh, and the State of Vietnam under Chief of State Bảo Đại. The State of Vietnam became a refuge for nationalists and for the people unable to live under Communism. Over the following years, several groups of people abandoned the Việt Minh areas to return to the cities under the Nationalist government.

    Thanks to massive Chinese Communist aids and the participation of Chinese Communist military advisors, the Vietnamese Communists defeated French forces at Điện Biên Phủ in 1954. Vietnam was partitioned at the 17th parallel: the North under Communism, the South as a non-Communist state. Those unable to live under Communism fled southward.

    During the war with France (1946–1954), Việt Minh sources admit 191,605 troops killed or missing. Western historians estimate between 175,000 and 300,000. Civilian deaths are estimated at 125,000–400,000 ¹⁹. The Việt Minh’s “scorched earth” policy left all cities devastated.

    II.              
    “Fighting the Americans to Unify the Country”

    The preceding paragraphs showed us that when World War II ended in 1945, if Hồ Chí Minh and the Communist Party had not dogmatically forced the country down the Communist path, Vietnam could have become independent—if not as early as the Philippines and India (from 1945 to 1947), then at least like Indonesia (in 1949), or at the latest like Malaya (in 1957).

    There would have been no need to beg Communist China for help to fight the French, only to then fall under their control. If the northern leaders had not insisted on imposing Communist ideology, the country would not have been divided in two. There would have been no need for a catastrophic civil war to unify the nation.

    On the other hand, during the Cold War (1947–1991) between the two superpowers, the United States and the Soviet Union, Vietnam was not the only country to be partitioned. We also saw East and West Germany, and North and South Korea.

    East and West Germany remained divided until they peacefully reunified in 1990.

    Although North Korea launched an attack in 1950, igniting the Korean War (1950–53), after July 1953, they too accepted division at the 38th parallel, limiting the conflict to a “war of words.”

    Vietnam was the only country that endured a catastrophic war, with casualties as follows:

    In the North:

    • Over 849,000 soldiers killed in action
    • Over 600,000 soldiers wounded
    • Over 232,000 soldiers missing
    • Civilian deaths in Communist-controlled areas due to the war: between 30,000 and 182,000


    In the South:

    • 313,000 soldiers killed in action
    • 1,170,000 soldiers wounded
    • Between 195,000 and 430,000 civilians killed ²⁰.


    Indeed, it was truly a case of “When one general succeeds, ten thousand bones are left to dry.”

    People inside the country have remarked: “Con đường Bác đi là con đường bi đát” (The path Uncle Ho chose to take was a tragic one).

    In the early 1980s, when General Võ Nguyên Giáp was reassigned to head the “Committee for Birth Control and Family Planning”—overseeing contraception and population limits—people in the North came up with a satirical couplet:

                Tướng Võ không còn Nguyên Giáp nữa

                Bác Hồ cũng chẳng Chí Minh đâu

    (General Võ, no longer the Prime Armor
    Uncle Hồ, no longer the Bright Mind)


    The nation is now unified, but hearts and minds remain divided. Vietnam has been devastated, left backward, lagging far behind its neighbors. In the early 1960s, living standards in South Korea, Thailand, and Malaya were lower than those of South Vietnam. Today, they are far ahead. Is this really the “great achievement” for which the leaders of the Communist Party of Vietnam expect the Vietnamese people to be “grateful”?


    To force the North’s population to sacrifice, the Communists exploited nationalism and used deception. They distorted reality, claiming that Southerners were oppressed by “American imperialists and their puppets,” living in utter misery with nothing to eat. Therefore, the youth of the North had to sacrifice themselves to “rescue” their southern brethren, in the spirit of the lines by the poet Bùi Minh Quốc:


    “At twenty years old, when one sees the meaning of life,
    However distant, one sets out on the road.”


    Bùi Minh Quốc himself, together with his wife, the writer Dương Thị Xuân Quý, went to the southern battlefield, entrusting their only child, Bùi Dương Hương Ly, to the grandmother’s care. Writer Xuân Quý died in the South at the age of only 28, when their child was just two years old.

    On April 30, 1975, following the victorious troops into Saigon, the writer Dương Thu Hương sat down on the sidewalk, covering her face and weeping like at the funeral of her father, because she realized:

    “The model of society in the defeated South was in fact the true model of civilization, while we, the victors, had fought for a barbaric model of society.”


    She continued:

    “That realization filled me with bitterness. Our entire generation had been deceived… The Vietnamese people were pushed into a meaningless war.”

    (Little Saigon Radio Interview with Writer Dương Thu Hương: ‘Vietnamese People, Even the Illiterate, Are Ashamed Because the Party Is Too Dark and Ignorant’ – Việt Báo Foundation, a Nonprofit 501(c)(3) Organization).


    From an economic perspective, even in wartime conditions, the standard of living in the South in 1975 was far higher than in the North.

    The singer Ái Vân recounted her first trip from Hanoi to visit her paternal aunt’s family in Saigon:

    “When coming to visit Aunt Cả, the poor student Ái Vân also brought a small gift for the family, from my food ration. My cousin-in-law, chị Nga, the eldest daughter-in-law of Aunt Cả, asked: ‘What did you bring us as a gift?’ I solemnly opened the package and said: ‘I brought two kilos of rice for the family, since I thought you might be in need.’ Oh dear, the whole house burst out laughing, chị Nga laughed so hard she nearly fell off her chair. She said: ‘Goodness me, you’ve even brought us relief rice! Poor child.’ Then she led me to a huge plastic rice bin, full to the brim with snowy white, fragrant, tender rice. Only then did I notice the television, refrigerator, washing machine, and many other unfamiliar things in the house, showing a life of great convenience—something unimaginable in any northern home at that time”  ²¹.

    Not only material life, but also the cultural and social life in the South in 1975 was superior to that in the North. Ái Vân continued:

    “Before, we always heard that southern compatriots were ‘oppressed by Mỹ-Ngụy,’ living in misery. I always imagined Saigonese to be destitute. But when I first entered Saigon, I was utterly astonished. Just by looking at the way people dressed, wore makeup, moved about, spoke gently; just by going to the market, where every purchase came with a ‘thank you’ and a plastic bag, one could immediately tell that we did not belong to the same level of civilization. I realized then that I had been deceived by distorted information” ²².

    Following are the personal accounts and reflections of a Northern technical specialist who was sent into the South for the takeover, Trương Minh:

    “As soon as the vehicle crossed into Southern territory, we squeezed each other’s hands, marveling at the new scene. The houses of the people and the urban constructions such as bridges and roads near the main highways looked far more beautiful and civilized than those in the North. We traveled, rested, and traveled again until our convoy reached the Biên Hòa industrial zone. There were so many factories there. The 18 of us looked left and right at each row of factories in the area, and although no one said anything aloud, all were in awe of Southern industry.

    “… Already, while still sitting on the bus, watching the scenery along the roads and the neighborhoods leading into Saigon, I could see that it was many times more advanced than the capital Hanoi. A bright, civilized appearance radiated from the clothing, lifestyle, and manners of the Southern people.

    “… Saigon—or to speak more broadly, the entire South—was not a backward, poor, starving society, full of exploitation as the Hanoi press and radio had for so long told (or forced upon) the Northern people… This was the model of a civilized society, and anyone who lived in this society was truly more fortunate than living in the socialist society in the North. What a pity! Such a society has just been stolen away” ²³.

    According to the cultural researcher Vương Trí Nhàn:

    “Not only was the economy better, but education in the South at that time was also superior. Not only were the roads better, but the personal conduct of the people there in general was more mature than that of Northerners. Their level of knowledge and respect for the law was high. People treated each other decently; the youth at that time were eager to study and knew how to study better” ²⁴.

    In his essay “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” (Some reflections on the differences between southern and northern education), Vương Trí Nhàn further observed:

    “Just as different from Southern education, Northern education was alsovery different from the rest of the world. It is enough to understand why, after being trained in the North, when we came into contact with modern society, Northern students like us were often tongue-tied, out of place, while those who had been educated in the South integrated very naturally and effectively” ²⁵.

    Here is the blog link that collects some of his reflections:

    “Some Reflections on the Differences between Southern and Northern Education.”


    South Vietnamese society in 1975 was by no means a perfect society. The democracy being built in the South in 1975 was not yet a fully consolidated democracy. But according to the reflections of a writer (Dương Thu Hương), an artist (Ái Vân), a technical specialist (Trương Minh), and a cultural researcher (Vương Trí Nhàn)—all of whom came from the North—that society and the people living in it did not need the Communist leaders in Hanoi to send troops across the Trường Sơn mountains to “liberate” them. More than two million Vietnamese were sacrificed in a fratricidal war, both catastrophic and meaningless. Thus August 19, 1945, the day the Việt Minh seized power from the Trần Trọng Kim government in Hanoi—while Emperor Bảo Đại and elder statesmen such as Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn … had repeatedly invited them to cooperate—should really be regarded as a day for the Vietnamese people to commemorate with joy?

    Minh Phương 


    Notes

    1. Tường Vũ, Vietnam’s Communist Revolution (New York : Cambridge Univ. Press, 2017), p. 105.
    2. Ibid., pp. 95-96.
    3. Ibid., pp. 104-105.
    4. Phạm Cao Dương, Bảo Đại, Trần Trọng Kim và Đế quốc Việt Nam (California : Truyền Thống Việt, 2017), pp. 288-289. See also Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế đến Chiến Khu Việt Bắc (Tp HCM : NXB Trẻ, 1996), pp. 76-77.
    5. Phạm Cao Dương, op. cit, pp. 289-290.
    6. Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi  (Saigon: Vĩnh Sơn, 1969), pp. 86–88.
    7. Trần Đĩnh, Đèn Cù, Vol. 2 (Westminster, CA : Người Việt Books, 2014), pp. 545–547.
    8. Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 307–309.
    9. Marr, David G. Vietnam 1945 (Berkeley: University of California Press, 1995), p. 374.

    10. Phạm Cao Dương, op. cit., pp. 309-311.

    11. Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, 1939–1954 (Sài Gòn: Nam Chi Tùng Thư. Reprinted Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1969), pp. 47–48.

    12. Hoàng Tường, Việt Nam Đấu Tranh (Westminster, CA : Văn Khoa, 1987), p. 68.

    13. Nguyễn Tường Bách, Việt Nam Một Thế Kỷ Qua: Hồi Ký, Vol. I. (Westminster, CA: Thạch Ngữ, 1998), p. 169).

    14. Hoàng Tường, op. cit, p. 68-69.

    15. Ibid., p. 69.

    16. Trần Trọng Kim, op. cit., p. 93.

    17. Trần Đĩnh, op. cit., p. 478.

    18. Trần Nguơn Phiêu, Gió Mùa Đông Bắc (Amarillo, TX: Hải Mã, 2008).

    19. From Wikipedia:

    First Indochina War – Wikipedia

    20. From Wikipedia:

    Vietnam War – Wikipedia

    1. Ái Vân, Để Gió Cuốn Đi: Autobiography (Saigon: Hội Nhà Văn Pub., 2016), pp. 156–157).

    22. Ibid., p. 156.

    23. Trương Minh, “Chuyện kể của một người chiến thắng khi vào Nam” (Story of a victor entering the South.” In Nguyễn Tường Tâm, Cuộc Chiến Việt Nam 50 Ngày Cuối Cùng (San Jose, CA : NT Tâm, 2025), pp. 509–512.

    24. “Cú sốc giáo dục khi vào Nam tiếp quản” (The educational shock when entering the South for takeover). In Nguyễn Tường Tâm, op. cit., pp. 517-518.

    25. Vương Trí Nhàn, “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc” (Some reflections on the differences between southern and northern education), in Nghiên Cứu và Phát Triển (Research and Development), Nos. 7–8 (114–115), 2014, p. 267.

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt,  Tin tức

    Lễ Trùng Tu Động Thổ Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu Westminster, Orange County

    Khánh Lan tường trình

    Thành phố Westminster hôm nay đã diễn ra một buổi lễ rất quan trọng đó là lễ động thổ công trình trùng tu thánh thất và điện thờ Phật mẫu Orange tọa lạc trên đường Chestnut. Đây là niềm ước mơ của tất cả các quý vị đồng đạo thuộc tiểu bang California nói riêng và tất cả mọi nơi trên thế giới nói chung.

    Mô hình trùng tu Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu Orange. (Hình: Ban tổ chức cung cấp)

    Ngay từ sáng sớm khánh Lan đã thấy các vị đồng đạo trong y phục màu trắng, xếp hàng ngay ngắn trước building để chuẩn bị cho chương trình nghi lễ.

    Trước giờ hành lễ, khánh Lan thấy có sự hiện diện của Ký giả Trà Nhiên, ký giả của tòa báo người Việt, anh Phạm khanh của đài Little Saigon TV, PhocalibolsaTV, anh John Trần đang phỏng vấn một số viên chức trong phòng hội và các đầu bếp.

    Từ Xướng ngôn viên Phạm Khanh của đài Little Saigon TV

    Từ PhocaliBolsaTV

    Video từ John Trần

    Khánh Lan tiếp tục: Chương trình nghi lễ dự định sẽ bắt đầu lúc 10.30 sáng và đã khai mạc rất đúng giờ đã dự định. Khánh phòng đã tràn đầy quan khách và các vị Đầu Tộc Đạo từ Arizona, San Diego, Sacramento, San Jose, Orange County, v.v…

    đến tham dự trong đó Liên Nhóm NVNT & TTG cũng có mặt. Khánh Lan nhận thấy có sự hiện diện của NV Việt Hải & phu nhân Lệ Hoa, NV Kiều My, NV NB Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm, NT Nguyễn Đại Thành, GS Dương Ngọc Sum, Ngọc Quỳnh, v.v…Sau phần chào quốc kỳ và phú mặc niêm, Hiền Tài Ngô Thiện Đức khai mạc buổi lễ Động Thổ.

    Hiền Tài Ngô Thiện Đức

    Theo như Hiền Tài ngô Thiện Đức thì đây là niềm mong ước của tất cả các huynh trưởng và các huynh muội từ khi rời khỏi quê hương Việt Nam sau năm 1975, đều mong ước có một nơi để thờ phượng Đức Chí Tôn đúng theo hình mẫu của Tòa thánh Cao đài, cũng như để duy trì và phát triển đạo tại Hải ngoại. Ngày nay, niềm ước mơ của các vị huynh trưởng đã ra đi sắp thành hiện thực, bởi sau ngày Lễ động thổ hôm nay, hy vọng sang năm, Thánh Thất và Điện thờ Phật Mẫu sẽ hoàn tất. Đó là điều hân hoan, vui mừng của tất cả các đồng đạo ở đây nói riêng và tất cả các đồng đạo trên khắp nơi nói chung, vì đó là sự chứng minh rằng Đạo Cao Đài ở hải ngoại phát triển đúng như theo ý của Đức Chí Tôn.

    Một vị huynh trưởng khác tiếp lời: Trước khi mua lại mảnh đất này, chúng tôi sinh hoạt tại một căn nhà ở trên đường Lamson và dùng nơi ấy để thờ cúng Đức Chí Tôn và Phật Mẫu. Tuy nhiên, vì các đạo hữu đến càng ngày càng đông, các sinh hoạt ngày càng thêm phát triển. Đôi lúc có đến gần 200 em thanh thiếu niên, mỗi cuối tuần đến sinh hoạt, gây ồn ào, nên lối xóm than phiền và cảnh sát đến không cho sinh hoạt nữa.

    Đầu Tộc Đạo Orange County

    Chính Trị Sự Hà Vũ Băng cũng như Giáo Sư Nguyễn Thanh Giàu trước khi trình bày về công trình dự án xây cất Thánh Thất, hai vị đã ngỏ lời chào đón và cảm ơn tất cả các quý vị đã đến đây để dự lễ Động Thổ. “Kính thưa quý vị, nơi đây, nơi mà chúng ta đang hiện diện là do chúng tôi đã mua lại của một nhà thờ tin lành vào năm 1999, rất cũ kỹ và mục nát. Sau đó, ngôi nhà này được sửa lại để làm nơi thờ phượng cúng kiếng cũng như là để sinh hoạt. Bởi là một cơ sở quá lâu đời và cũ, nên hư hại rất nặng và mỗi khi trời mưa xuống thì mái nhà bị dột, ướt khiến cho việc cúng kiếng và sinh hoạt đạo khó khăn vô cùng. Chính vì những trở ngại đó nên đồng đạo chúng tôi đã quyết định là xin phép thành phố Westminster để trùng tu lại. Số tiền chi phí cũng khá cao nên tất cả chúng tôi đã gom tiền.”

    Qua hai vị, Khánh Lan còn được biết, ngoài mục đích khác là nhằm giới thiệu những hình ảnh độc đáo của tôn giáo Cao Đài với xã hội Hoa Kỳ, một xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa. Đồng thời để tiếp tục thực hiện khát vọng lớn lao trong Tam kỳ Phổ độ. Đây không phải là buổi gây quỹ, nhưng ban tổ chức không khỏi ngạc nhiên khi số tiền từ các nhà hảo tâm, mạnh thường quân tự nguyện ủng hộ lên đến trên $120,000.

    Các vị đại diện thành phố

    Các dân cử tham dự gồm có Dân Biểu Trí Tạ của California, Nghị Viên Cindy Trần của Garden Grove, Ủy Viên Frances Nguyễn Thế Thủy của Học Khu Westminster, Luật Sư Nguyễn Quốc Lân – chủ tịch Học Khu Garden Grove, ông Tony Bùi – ủy viên Quy Hoạch Westminster, và cựu Nghị Viên Kimberly Hồ của Westminster… 

    Đại diện thành phố Westminster

    Ban Tổ Chức chia sẻ, “Hôm nay không phải là tiệc gây quỹ mà là một bữa tiệc chay do tất cả các chị em ở đây đã bỏ hết tâm huyết vào những món ăn chúc cho quý vị, những món ăn thật là ngon miệng để mời quý vị dùng. Sau đó  cũng chúc quý vị khi ra về thượng lộ bình an, khi về đến nhà vẫn còn phản phất những kỷ niệm của buổi tiệc hôm nay và cũng hy vọng là gặp lại quý vị trong những buổi tiệc khác trong tương lai.“

    Khánh Lan & NV Vi Khiêm đại diện NVNT & TTG chúc mừng cho sự thành công.

    Khi được hỏi về diện tích của thánh Thất, Hiền Tài ngô Thiện trả lời: quận orange chỉ cho phép được sử dụng tối đa là 5000 feet, gồm hai tầng, tầng dưới và tầng trên. Tầng dưới là những buổi sinh hoạt trong những ngày lễ, và tầng trên lầu để thờ Đức chí tôn và phật mẫu. Hai bên sẽ là lầu chuông lầu trống giống như mô hình của thánh khách cao đài tại Tây Ninh, Việt Nam.

    Sau đó, toàn thể khách mời bước ra trước tòa nhà để chứng kiến nghi thức động thổ. 

    Tiến hành buổi Lễ Động Thổ

    Liên Nhóm NVNT & TTG

    Tiệc chay và văn nghệ: Sau buổi lễ Động Thổ, phần khoản đãi tiệc chay thân mật thắm tình đồng đạo, Ban Tổ Chức khai mạc bữa tiệc: “Đây là ước mơ của tất cả đồng đạo ở khắp nơi, địa phương này có một hình thể của Đức Chí Tôn tại thế để chúng ta giới thiệu tôn giáo Cao Đài và khi đi qua đây tất cả mọi người nhìn vào là biết đây là tôn giáo cao đài. Đó là một biểu tượng riêng biệt và rất đặc sắc của đạo cao đài. Vì vậy, mà tất cả mọi người đều mong ước. Dù hôm nay không phải là bữa tiệc gây quỹ nhưng chúng tôi vô cùng cảm động và biết ơn những mạnh thường quân đã giúp một cánh tay để cho ngôi thánh thất này sớm được hoàn thành.”

    Tiệc chay do các anh chị em “đầu bếp” chuyên nghiệp nấu.

    Và phần văn nghệ

    Lời cảm tạ của Ban Tổ Chức và chương trình bế mạc khoảng 3 giờ chiều. Chúc mừng buổi Lễ Động Thổ thành công.

    Khánh Lan, California Sept. 2025

    BÀI ĐỌC THÊM:

    Ý NGHĨA CỦA LỄ CÚNG ĐỘNG THỔ TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

    Trần Việt Hải sưu tầm

    Lễ cúng động thổ là một nghi thức truyền thống quan trọng trong văn hóa Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng và nông nghiệp. Nghi lễ này không chỉ mang tính tâm linh mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với đất đai và các vị thần linh cai quản.

    Trong văn hóa dân gian, người Việt tin rằng mỗi mảnh đất đều có thần Thổ Công cai quản. Trước khi bắt đầu xây dựng hay canh tác, việc cúng động thổ nhằm xin phép và cầu mong sự chấp thuận của các vị thần, từ đó mang lại sự thuận lợi và bình an cho công trình hoặc mùa vụ.

    Lễ cúng động thổ thường được tổ chức vào những ngày đầu năm hoặc trước khi khởi công xây dựng. Nghi lễ này bao gồm việc chuẩn bị mâm cúng với các lễ vật truyền thống và thực hiện các nghi thức cầu khấn trang trọng.

    Thất Thánh Cao Đài Westminster, OC: 14072 Chestnut St., Westminster, CA 92683; Phone: (714) 899-2886

    Thánh Thất Cao Đài là một ngôi đền của đạo Cao Đài nằm tại thành phố Westminster, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Ngôi đền được thành lập vào năm 1976 và là một trong những ngôi đền lớn nhất và nổi tiếng nhất tại khu vực Nam California.

    Khi bước vào Thánh Thất Cao Đài, tôi cảm nhận được sự uy nghi linh thiêng do những kiến trúc độc đáo của ngôi đền. Thánh Thất được xây dựng theo phong cách kiến trúc truyền thống của đạo Cao Đài, với các mái đình và tường rào được chạm khắc tỉ mỉ. Bên trong ngôi đền, có nhiều bức tượng của các vị thần Cao Đài, các vị sư huynh và bậc thầy được làm từ đá, gỗ và đồng, tất cả đều được chạm khắc với tinh tế và tôn trọng.

    Thánh Thất Cao Đài là nơi để tìm kiếm sự bình an và cảm nhận sự thanh tịnh trong cuộc sống. Nơi đây có nhiều không gian tĩnh lặng để người ta cầu nguyện và thực hành các nghi lễ của đạo Cao Đài. Thánh Thất cũng tổ chức các khóa học và buổi tĩnh tâm, giúp mọi người tìm lại sự cân bằng và bình yên trong cuộc sống. Thánh Thất Cao Đài cũng là nơi tổ chức nhiều hoạt động tôn giáo như các lễ hội Vu Lan, lễ Tết Nguyên Tiêu và lễ Tết Đại Lễ Cao Đài. Ngoài ra, đền còn cung cấp các dịch vụ tâm linh khác như thăm dò mệnh, đốt nhang cầu nguyện cho các vong linh và tư vấn tâm linh cho người đến thăm.

    Ngoài các hoạt động tôn giáo, Thánh Thất Cao Đài cũng có nhiều chương trình xã hội hữu ích cho cộng đồng như cung cấp những buổi lễ tâm linh tôn giáo hằng tuần, nni sinh hoạt hảnh dạo, hỗ trợ giáo dục dạy Việt ngữ cho trẻ em và cũng như sinh hoạt hướng đạo, sinh hoạt thể thao cho thanh thiếu niên,… Đây là một sự đóng góp quan trọng của Thánh Thất Cao Đài trong việc cải thiện cuộc sống của cộng đồng địa phương.

    Động thổ trùng tu Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu Orange

    Phần dưới đây, Khánh Lan xin trích dẫn toàn bài của Ký Giả Trà Nhiên của tòa báo Người Việt bởi bài tường trình rất chi tiết và đầy đủ.

    September 13, 2025 : 10:02 PM

    Trà Nhiên/Người Việt

    WESTMINSTER, California (NV) – Lễ động thổ trùng tu Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu Orange, Châu Đạo California, diễn ra long trọng vào sáng Chủ Nhật, 7 Tháng Chín, với sự hiện diện đông đảo của đồng đạo từ nhiều châu đạo khắp California và các tiểu bang lân cận, cùng các vị dân cử, trong không khí trang nghiêm. 

    Dân cử và đại diện các châu đạo thực hiện nghi thức động thổ. (Hình: Trà Nhiên/Người Việt)

    Buổi lễ được cử hành tại Châu Đạo California, Westminster, và bắt đầu với nghi thức hát quốc ca VNCH và Hoa Kỳ.

    Chánh Trị Sự Hà Vũ Băng, quyền Đầu Tộc Đạo Orange County, cho biết buổi lễ động thổ để cầu nguyện ơn trên theo niềm tin tôn giáo ban ơn lành, cúng hữu cảnh, đất đai và dương trạch chuẩn bị cho việc khởi công, xây dựng lại trong hai tuần tới.

    “Hôm nay là một ngày rất vui của đồng đạo chúng tôi. Tòa nhà nơi đây đã cũ, mục nát, và đôi chỗ bị dột mỗi khi trời mưa ảnh hưởng đến việc cúng kiếng và sinh hoạt của đồng đạo, nên chúng tôi xin phép thành phố trùng tu lại Thánh Thất cho khang trang hơn như một nén nhang tri ân tiền nhân,” chánh trị sự nói.

    Ban tổ chức cho biết tòa nhà được xây dựng năm 1967. Vào năm 1999, với sự quyên góp từ những tín đồ Cao Đài và bạn bè thân hữu, tòa nhà thuộc nhà thờ Tin Lành tại địa chỉ 14072 Chestnut St., Westminster, được mua lại và tu sửa làm Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu, để tín đồ có nơi cúng kiếng và sinh hoạt đạo.

    Ông cũng tri ân các mạnh thường quân và các vị dân cử ủng hộ tinh thần và đóng góp vật chất để có được ngày hôm nay.  

    “Theo lời kiến trúc sư và kỹ sư cho biết, trong vòng chín tháng cho tới một năm thì công trình sẽ hoàn tất và hy vọng sau này Westminster có một ngôi Thánh Thất uy nghi,” Chánh Trị Sự Hà Vũ Băng chia sẻ.

    Chánh Trị Sự Ngô Thiện Đức cho hay: “Không bút mực nào tả xiết niềm vui tại lễ động thổ hôm nay vì đây là ước mơ của cha mẹ tôi và cô chú bác đi trước cùng mong có một Điện Thờ Phật Mẫu ở Westminster, để quảng bá nền tân tôn giáo của chí tôn ở hải ngoại.”

    Ông tiếp: “Đây cũng là một di tích văn hóa của tôn giáo, đặc biệt là của đạo Cao Đài.”

    Chánh Trị Sự Ngô Thiện Đức nói tính theo năm đạo thì năm nay đúng 100 năm khai đạo Cao Đài nên thực hiện buổi lễ động thổ vào đúng cột mốc này thì càng thêm ý nghĩa cho tộc đạo.      

    Tại buổi lễ, ban tổ chức cũng trình bày sơ lược về tiểu sử Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu, đồng thời giới thiệu ban xây dựng công trình.

    Theo ban tổ chức, Tháng Bảy, 2023, toàn thể đồng đạo Tộc Đạo Orange County quyết định nộp đơn xin giấy phép trùng tu tòa nhà để có nơi thờ phượng trang nghiêm. Đến Tháng Chín, 2024, thành phố Westminster chấp thuận và cấp giấy phép. 

    Tổng kinh phí trùng tu khoảng $2 triệu. Ban tổ chức cho biết, hiện đã quyên góp được 50% số tiền.

    Tiếp đến, đại diện các châu đạo và dân cử có đôi lời chúc mừng cầu chúc công trình thành công.

    Giáo Sư Nguyễn Thanh Giàu nói: “Hội Đồng Liên Tôn Hoa Kỳ từng dùng bữa cơm thân mật ở tòa nhà này mấy lần, và tôi sẽ báo lại với Hội Đồng rằng năm sau chúng ta sẽ có ngôi nhà mới để ăn các bữa cơm chay có thể nói là ngon nhất.”

    “Xin được chúc mừng các tín hữu Cao Đài sắp có ngôi mới khang trang và ngày càng phát triển,” vị giáo sư cười nói.

    Giáo Sư Nguyễn Thanh Giàu là hội trưởng Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Trung Ương Hải Ngoại và là phó chủ tịch ngoại vụ Hội Đồng Liên Tôn Hoa Kỳ. 

    Các dân cử tham dự gồm có Dân Biểu Trí Tạ của California, Nghị Viên Cindy Trần của Garden Grove, Ủy Viên Frances Nguyễn Thế Thủy của Học Khu Westminster, Luật Sư Nguyễn Quốc Lân – chủ tịch Học Khu Garden Grove, ông Tony Bùi – ủy viên Quy Hoạch Westminster, và cựu Nghị Viên Kimberly Hồ của Westminster…  

    Sau đó, toàn thể khách mời bước ra trước tòa nhà để chứng kiến nghi thức động thổ được các dân cử và đại diện các châu đạo cùng thực hiện. 

    Buổi lễ khép lại với phần khoản đãi tiệc chay thân mật thắm tình đồng đạo, nơi mọi người quây quần chuyện trò, chia sẻ niềm vui và cùng nhau hướng về công trình trùng tu đầy ý nghĩa. [đ.d.]

  • John Ta,  VNATV-57.3-NVNT & TTG

    TALK SHOW KỲ 12: NGƯỠNG CỬA ĐẠI HỌC & SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG

    Khánh Lan

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Anh Chị Em,

    Talk show kỳ 12, Khánh Lan rất hân hạnh đón tiếp một vị khách quý, Giáo Sư Phạm Thị Huê. Nói đến GS hẳn chúng ta đều biết Cô là một trong những vị giáo sư hiện sinh hoạt rộng rãi trong cả hai lãnh vực: giáo dục và xã hội cộng đồng.

    Lướt qua phần tiểu sử của GS Phạm Thị Huê, Khánh Lan rất thán phục và ngưỡng mộ bởi sự dấn thân và sự hết lòng cống hiến công sức cho cộng đồng và nhất là về phương diện giáo dục.

    Xin mời quý GS, VTS, ACE vào xem buổi phỏng vấn cùa Khánh Lan với GS Phạm Thị Huê.

    PHẦN I:

    PHẦN II:

    PHẦN III:

  • DU LỊCH,  Khánh Lan

    Du lịch Na Uy (Norway)

    Khánh Lan

    Na Uy là quốc gia thuộc bán đảo Scandinavia, giáp danh với Thuỵ Điển, Phần Lan và Nga, dân số khoảng 5.2 triệu người và 95% người dân nói tiếng Na Uy; ngoài ra người dân ở đây còn có thể nói tiếng Pháp và Đức. Tiền tệ được sử dụng tại đây là đồng NOK. Tôn giáo chính là Luther, một số ít còn lại theo Công giáo.

    Na Uy nằm ở Bắc Âu, nổi tiếng với phong cảnh đa dạng và hoang sơ, là một trong những quốc gia có đường bờ biển dài, Được mệnh danh là nơi có những vịnh hẹp với những dãy núi hùng vĩ. Các hồ với khung cảnh hoang dã và thiên nhiên, những cánh đồng cỏ xanh mướt ngút ngàn, những cao nguyên, vịnh, đảo đẹp hút hồn bên cạnh những thành phố phát triển, náo nhiệt.

    Na Uy với nền văn hóa của người dân Sami, họ yêu thích những sinh hoạt ngoài trời như leo núi, lướt sóng trên tuyết. Hầu hết người Na Uy đều thích trượt tuyết bởi họ được tập luyện từ khí vừa chớm biết đi. Na Uy thuộc vùng Bắc Âu, nên có mùa hè mát mẻ và dễ chịu, nhưng mùa đông khí hậu lạnh buốt. Na Uy đẹp nhất là vào khoảng từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm.

    August 2003, gia đình của chúng tôi đã một lần ghé thăm Olso, Na Uy trên một chuyến du thuyền (Scandinavia Cruise) của Princess Cruise Line. Trên tuyến đường này, du thuyền dã ghé qua Copenhagen (Denmark), Nynashamn-Stockholm (Sweden), Helsinki (Finland), St. Petersburg (Rusia), Tallinn (Estonia), Gdynia (Poland) và Oslo (Norway). Du lịch bằng du thuyền sẽ không có cơ hội thăm viếng những thành phố của các nước lâu được vì tàu chỉ dừng lại tại các hải cảng trong vòng một hay hai ngày mà thôi.

    Cũng như những lần du lịch trước, chúng tôi cùng 4 người bạn (Quốc Dân,Kim Hương, Đức Hạnh, Tuyết Nga, Khánh Lan, Mạnh Bổng) quyết định trở lại Na Uy bằng đường bộ của hãng du lịch Wingbuddy Inc., có trụ sở tại Montreal, Quebec. Đây là tour du lịch bằng đường bộ (Land tour) nhưng lại đặc biệt ở điểm là bao gồm bus, thuyền và xe lửa nên rất thú vị. Tour với tên gọi là Highlight of Norway , Chúng tôi mua tour vào cuối tháng Tám 2025 nên khí hậu rất dễ chịu, thời tiết giống như mùa Thu tại California. Land Tour đi từ miền Đông sang miền Tây và qua rất nhiều thành phố nổi tiếng của Na Uy gồm: Oslo, Geilo, Flam, Sognefjord, Voss, Bergen, riksdall Glacier, Loen, Geiranger Fjord, Troll’s Road, Molde, Atlantic Road, Otta Region rồi quay trở về lại Oslo.

    Đoàn du lịch có khoảng trên dưới 35 người, Mira Malina là Tour Leader và là ngưởi trẻ nhất trong đoàn, vui vẻ, hồn nhiên, thân mật và thật dễ thương. Cô Mira Malina là người Đức, sanh ra tại Đức nhưng lớn lên và định cư tại Na Uy trên 13 năm, nói thông thao ba thứ tiếng: Anh, Đức và Na Uy.

    Mira Malina là người đứng giữa 4 con “dế mèng”

    TROLL: Đó là một loại sinh vật thường được đề cập trong văn hóa dân gian và trong truyện thần thoại vùng Scandinavia. Troll, còn được biết đến như nhân vật khổng lồ độc ác trong truyện thần thoại Bắc Âu, troll được mô tả dưới dạng một loài sinh vật đáng sợ thuộc nhóm quái vật ăn thịt người. Văn học Bắc-Âu, đã miêu tả troll với đôi tai và cái mũi to quá khổ và là nhân vật tưởng tượng trong văn học hiện đại, nhưng trong các tác phẩm hội họa và ký họa lại thường mô tả nó với kích thước nhỏ thường sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh hoặc ở vùng hoang dã, sống dưới những ngọn đồi, hang hay núi. Trong các đảo Faroe, Orkney, shetland có những truyện cổ tích, về người khổng lồ gọi là troll, được kể trong tiếng Na-Uy vào thời của người Viking.

    Ngày nay, troll được ghép thành nhân vật trong các trò chơi điện tử. Tại Na Uy, troll rất phổ biến trong dân gian và có nhiều hình tượng của troll được thấy ở một số thành phố du lịch.

    Trollveggen hay Troll Wall là vách đá dựng đứng cao nhất châu Âu. Với chiều cao khoảng 1.100 mét từ chân vách đến đỉnh, vách đá này sừng sững trên Thung lũng Romsdalen.

    LAX-FRANKFURT-OSLO. Sau hai chuyến bay hơn 14 tiếng từ Los Angeles (LAX) – Frankfurt (FRA) – Oslo (OSL) ngày 14 tháng 8, 2025, chúng tôi đã đến phi trường Oslo International ngày 15 tháng 8, 2025. Sau khi ra khỏi hải quan và lấy hành lý, đồng hồ chỉ 7:30 tối. Chúng tôi lấy xe lửa Flytoget airport express từ phi trường Quốc Tế Oslo đến Oslo Central Station, rồi thuê taxi đi đến khách sạn Clarion the Hub, Oslo để gặp hướng dẫn viên du lịch ở lobby, cô Mira Malina.

    Check-in khách sạn xong chúng tôi được tự do để đi thăm khu phố Oslo gần khách sạn. Clarion the Hub nằm ngay tại trung tâm thành phố “Kingdom of Norway” và hôm ấy là ngày Chủ Nhật nên thành phố tràn ngập ánh đèn, trên đường phố đông nghẹt người, các nhà hàng chật ních khách hàng và tiếng đàn  từ các dàn nhạc ngoài trời vang lên rầm rộ.

    OSLO là thủ đô của Na Uy đồng thời cũng là trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị, nó thể hiện cho một nếp sống hiện đại và văn hóa độc đáo của một thành phố lâu đời nhất vùng Scandinavia. Điểm đặc biệt là tại đây có sự dung hòa giữa khung cảnh nông thôn thanh tịnh và một thành thị hiện đại cuồng nhiệt.Đi song song với khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống văn minh, Oslo được xem như là cái nôi văn hóa & lịch sử của thành phố cổ kính, với những công trình kiến trúc xưa được xây dựng từ nhiều thế kỷ trước như lâu đài Akershus, cung điện hoàng gia Kongelige Slott.

    Lâu đài Akershus cổ kính được truyền là nơi sinh sống của loài ma quái

    SOGNEFJORD, GUDVANGEN. Sau bữa sáng tại khách sạn, chúng tôi chuẩn bị lên xe bus của hãng du lịch và bắt đầu cuộc hành trình du ngoạn qua những phong cảnh của Na Uy, nơi có một số vịnh hẹp ngoạn mục và những núi non hùng vĩ. Trên đường đến Gudvangen, xe bus chở chúng tôi đi qua Hồ Tyrifjord, một trong những hồ lớn nhất ở Na Uy, nổi tiếng với nhiều loài chim và những sinh vật khác nhau. Cạnh hồ, các làng mạc nhỏ bé ẩn mình giữa thiên nhiên đem lại một không gian yên bình và tĩnh lặng.

    Hồ Tyrifjord và những ngôi làng Skjolden

    Sau đó, chúng tôi lên du thuyền qua Vịnh Sognefjord thơ mộng, một Di sản Thế giới được UNESCO công nhận. Vịnh Sognefjorden có biệt danh là Vua của các vịnh hẹp (Fjordenes konge). Đây là vịnh dài nhất và sâu nhất ở Na Uy, nằm ở hạt Vestland, Tây Na Uy, trải dài trên 205 km lấn vào đất liền, từ đại dương đến ngôi làng nhỏ Skjolden thuộc đô thị Luster. Vịnh Sognefjorden được đặt tên theo quận Sogn, tên gọi này có liên quan đến và từ tiếng Na Uy súg- “hút”, có lẽ là do sự dâng trào hoặc sự hút của các dòng thủy triều ở cửa vịnh hẹp.

    Khu phố cạnh Vịnh Sognefjord thơ mộng trước khi xuống du thuyền và thưởng ngoạn phong cảnh của vịnh Sognefjorden

    Khi đến FLAM, chuyến xe lửa Flamsbana đưa chúng tôi đi ngắm phong cảnh nổi tiếng và đẹp như tranh vẽ cùa Na Uy, băng qua những cánh đồng thiên nhiên tuyệt đẹp, những ngọn núi dốc thẳng đứng ẩn hiện sau màn sương, những thác nước xanh màu ngọc bích, những đồng cỏ dài bất tận…cho đến khi xe lửa vượt qua những đường hầm để trên đường đến Voss. Na Uy là nước có đường hầm xuyên qua núi nhiều nhất thế giới, theo cô Nira (Tour Leader), Na Uy có tổng cộng hơn 1600 đường hầm. Flam là nơi lý tưởng để tận hưởng không khí trong lành và chiêm ngưỡng những khung cảnh đẹp đến nao lòng.

    Chuyến xe lửa Flamsbana đi qua VỊNH AURLAND, một kiệt tác của thiên nhiên, được bao bọc bởi những dãy núi cao chót vót và các vách đá dựng đứng, tạo nên một cảnh quan ngoạn mục.

    Phong cảnh với suối nước chả qua các tường núi đá.

    Ngọn núi cao chót vót và các vách đá dựng đứng

    Với vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ và kỳ vĩ, nổi bật giữa những dãy núi cao chót vót bao quanh mặt nước xanh biếc, cùng nhiều thác nước trắng xóa đổ từ các vách đá, tạo nên một bức tranh sống động.

    Những thác nước cuồn cuộn và những thác nước kỳ vỹ với dòng nước chảy gần như bất tận đổ xuống từ các ngọn núi cao, tạo nên một cảnh tượng vừa tráng lệ vừa huyền bí. Mỗi dòng thác đều mang một vẻ đẹp riêng, như những dải lụa trắng xóa giữa nền xanh của núi rừng.

    Những ngọn núi khoác lên mình màu xanh tươi mát đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp, độc đáo. Có khác nào một bức tranh tuyệt sắc.

    Chuyến xe lửa Flamsbana đưa chúng tôi đến THÁC KJOSFOSSEN với dòng nước chảy mạnh, ồ ạt đổ từ độ cao hàng trăm mét, tạo nên âm thanh vang dội khắp thung lũng và làm tăng thêm vẻ hoang dã & sống động cho vùng vịnh.

    Bên cạnh thác Kjosfossen là những thác nước khác như thác Styvi và Thác Tvinnefossen cũng mang đến những ấn tượng sâu sắc. Đứng dưới chân những dòng thác này, chúng tôi cảm nhận được sức mạnh nguyên sơ của thiên nhiên và vẻ đẹp kỳ diệu của vùng đất Na Uy.

    Thác Tvinnefossen

    THUNG LŨNG FLAM nằm ở vùng vịnh Aurland và là một nhánh lớn của Sognefjord, vịnh hẹp dài và sâu nhất Na Uy. Ẩn mình sâu trong lòng vịnh Aurland là ngôi làng Flam thơ mộng, một viên ngọc quý của Na Uy, thu hút khách thưởng ngoạn bởi không khí thanh bình và những ngôi nhà gỗ truyền thống, khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ ấy đã làm say đắm lòng người.

    Thung lũng Flam trong vùng vịnh Aurland

    LÀNG FLAM nằm sâu trong Vịnh Aurland, là một trong những ngôi làng đẹp và yên bình nhất của Na Uy. Với những ngôi nhà gỗ truyền thống nằm ẩn mình giữa những ngọn núi xanh ở cạnh ven bờ hồ, Flam hiện lên như một bức tranh cổ tích. Flam được đánh giá là ngôi làng đẹp nhất ở Na Uy, với phong cảnh núi hùng vĩ và thung lũng xanh mướt. Làng có lịch sử lâu đời, nổi bật với kiến trúc gỗ đặc trưng của Na Uy, qua những con đường mòn quanh co đưa chúng tôi đến ngôi nhà thờ gỗ Flam, xây dựng từ thế kỷ 17, là một điểm đến lịch sử và kiến trúc mang đậm dấu ấn văn hóa địa phương.

    Nhà thờ gỗ Flam, xây dựng từ thế kỷ 17

    Đến Flam, chúng tôi không chỉ được chiêm ngưỡng cảnh đẹp mà còn có thể tìm hiểu về văn hóa và cuộc sống của người dân địa phương. Các cửa hàng thủ công mỹ nghệ bày bán những sản phẩm độc đáo, phản ánh nét tinh hoa của vùng đất này. Các món ăn truyền thống Na Uy như cá hồi tươi, thịt cừu hầm, hay bánh mì kẹp phô mai nâu đặc trưng.

    THÀNH PHỐ VOSSEVANGEN (gọi tắt là VOSS), nằm phía Tây của Na Uy (Western Norway), thuộc Quận Hordaland giữa những dãy núi hùng vĩ và hồ nước trong xanh biếc. Đây là điểm dừng chân lý tưởng cho những ai đam mê khám phá thiên nhiên và tìm kiếm sự yên bình cho riêng mình. Voss không chỉ là một thị trấn nhỏ mà còn là biểu tượng của vẻ đẹp hoang sơ, nơi giao hòa giữa văn hóa truyền thống và những hoạt động mạo hiểm.

    Voss, mỗi mùa đều mang trong mình một vẻ đẹp riêng biệt. Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 tuyết phủ trắng xóa trên các sườn núi. Khi xuân đến, từ tháng 3 đến tháng 5, Voss bắt đầu bừng lên sức sống với những thảm hoa dại nở rộ. Mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8, Voss rực rỡ với những ngày dài, nắng ấm và thời tiết dễ chịu. Mùa thu từ tháng 9 đến tháng 11, Voss thời tiết ấm áp. Dù bất kỳ mùa nào, Voss cũng đem đến vẻ đẹp khác nhau.Nằm giữa vịnh Sognefjord và Hardangerfjord, thành phố Voss được coi là thủ đô của các hoạt động mạo hiểm ở Na Uy và là điểm dừng chân của các nhà mạo hiểm, yêu thiên nhiên, thích trượt tuyết.

    HỒ VANGSVATNET, nằm ngay trung tâm thành phố, là nơi lý tưởng để tận hưởng cảnh đẹp thanh bình.

    Với nước trong xanh như ngọc, hồ này là nơi hoàn hảo để câu cá, bơi thuyền hay chỉ ngồi ngắm cảnh.

    Hồ Vangsvatnet với dòng nước trong xanh như ngọc, với những dãy núi in bóng trên mặt hô trong suốt như gương. Ôi! đẹp tuyệt vời và…

    “We Left our heart in Voss“…

    THÁC TVINDEFOSSEN nằm ngay trên đường chính, cách Voss vài phút lái xe và là một trong những thác nước đẹp và nổi tiếng ở Na Uy, với chiều cao đáng kể  và dòng nước đổ xuống tạo nên cảnh tượng hùng vĩ. Rất tiếc là xe bus chỉ dừng lại tại đây có 10 phút để chụp hình nên chúng tôi đã không đủ thời gian để tận hưởng vẻ đep của thác Tvindefossen. Hẹn một dịp khác vậy.

    Thác Tvindefossen hùng vĩ với nhưng sợi nước đổ xuống từ trên cao, nong manh nhưng đài các, trong suốt và trinh bạch như một tấm khăn đội đầu của cô dâu.

    Voss không chỉ nổi tiếng với cảnh đẹp mà còn phong phú trong văn hóa với nền ẩm thực độc đáo. Món “Vossa Korv” – một loại xúc xích truyền thống thơm ngon được chế biến từ thịt cừu và thịt heo. Ngoài ra, bánh “lefse“, một loại bánh mỏng làm từ khoai tây.

    HỒ RINGEDALSVATNET chứa nước gần như tinh khiết nhất trên thế giới.

    Con đường uốn lượn dọc cao nguyên núi Hardangervidda, là cao nguyên núi rộng nhất ở châu Âu. CON

    Đi đến đâu chúng tôi cũng thấy những con suối ở rải rác khắp nơi do những khối băng sơn trên đỉnh núi tan dần. Đây cũng là nguồn nước sạch có thể uống được. Nước suối trong suốt, có vị ngọt thanh và mát. Theo Mira, do khí hậu quá lạnh gần như quanh năm và ít khi có ngày nắng, vì vậy, trong những ngày nắng ấm, người dân Na Uy rất yêu thích ra phơi nằng ở bất cứ nơi nào có ánh nắng kể cả đầng sau nhà.

    ĐƯỜNG LYSEFJORD chạy dọc dãy núi có phong cảnh đẹp như tranh vẽ ở Rogaland, miền tây nam Na Uy. Có những con đường chạy zích-zắc, hẹp rất hiểm trở. Để không gây ra tai nạn, nó đòi hỏi những người lái chuyên nghiệp và có kinh nghiệm. Ông Andor là tài xế xe bus của chúng tôi, ông đã lái xe trên tuyến đường này hơn 10 năm và chưa xảy ra một tai nạn nào.

    Ông Andor và Khánh Lan, Kim Hương, Đức Hạnh

    Con đường Lysefjord chạy dọc dãy núi có phong cảnh đẹp như tranh vẽ ở Rogaland, miền tây nam Na Uy.

    CON ĐƯỜNG TROLLSTIGEN nổi tiếng chạy qua các thung lũng, rừng cây, hồ và các dãy núi hùng vĩ. Xây năm 1939 với 11 khúc cua nguy hiểm, hẹp và chỉ có “one lane” duy nhất nên rất nguy hiểm, các tài xế lái xe lái trên con đường này phải tự nhường lối cho nhau đi qua.

    THÁC KJOSFOSSEN, cao 225 m, nằm cạnh tuyến đường sắt kết nối ngôi làng Flåm và thành phố Myrdal.

    Đặc biệt là trên đỉnh thác này, chúng tôi thấy xuất hiện một vũ công đang trình diễn cùng với tiếng nhạc trổi lên mỗi 30 phút.

    Các bạn có thấy người vũ công mặc áo màu đỏ đang múa trên trườn núi bên tay phải ấy không?

    Nàng tiên áo đỏ đấy thôi…

    BERGEN NAUY: Sau bữa sáng tại khách sạn, xe bus chở chúng tôi đi theo con đường hướng đến Bergen. Thành phố Bergen, Di sản Thế giới được UNESCO công nhận là nổi tiếng với lịch sử và văn hóa phong phú. Bergen là thành phố lớn thứ 2 Na Uy sau thủ đô Oslo, có diện tích 445 km², dân số cuối năm 2007 là 247,746 người.  và là thành phố ẩm ướt nhất thế giới, vì nằm ngay rìa Bắc Đại Tây Dương và là thành phố cảng ở vùng Tây Nam Na Uy, thủ phủ của hạt Hordaland.

    Tên ban đầu là Björgvin, thành phố này đã được thành lập bởi vua Olaf III năm 1070, đã phát triển và trở thành một trung tâm thương mại xầm uất. Trước đây là thủ đô của Na Uy từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 13. Từ giữa thế kỷ 14 đến năm 1560, thành phố này thuộc kiểm soát của Liên minh Hanseatic, một liên đoàn thương mại của các thành phố châu Âu. Thành phố này đã bị nhiều cơn hỏa hoạn vào những năm 1702, 1855, 1916, và đã bị thiệt hại nặng trong thế chiến II khi bị quân Đức chiếm đóng.

    Bergen nằm giữa hai vịnh hẹp nổi tiếng nhất của Na Uy – Sognefjord ở phía bắc và Hardangerfjord ở phía nam. Bergen được bao quanh bởi những ngọn núi và vịnh hẹp với những ngôi nhà nằm cheo leo bên sườn đồi, những con đường nhỏ lát đá cuội và các danh lam thắng cảnh nổi tiếng thế giới. Ngọn núi cao nhất là núi Ulrikan cao 642 mét so với mực nước biển. Ngày nay, thành phố này được coi là một trong những thành phố hải cảng nổi tiếng nhất ở Na Uy bời nó cung cấp cho người dân địa phương những nguồn hải sản tươi ngon.

    Bergen là một trung tâm tàu biển, ngư nghiệp, văn hóa. Các ngành chế tạo gồm: thép, tàu biển, ngư cụ, chế biến thực phẩm, thiết bị điện. Bergen nằm trong một thung lũng gồm 7 ngọn núi và là thành phố còn giữ lại một nền văn hoá lâu đời cùng các công trình kiến trúc cổ đại. Đó là những ngôi biệt thự cổ nhưng to lớn, trang trọng, những nhà thờ rộng lớn như Saint Mary (thế kỷ 12t),, pháo đài cổ Bergenhu và tòa nhà Håkonl (xây năm 1261; xây lại từ thập niên 1940), tháp Rosenkranz, tượng Edvard, Đại học Bergen (1948), nhạc viện (1905).

    QUẬN BRYGGEN‍ thời trung cổ đã có một đặc sản là stockfish hay cá tuyết sấy khô bằng gió và quận Bryggen là nơi các thương nhân Hanseatic buôn bán loại hàng này. Những dãy nhà gỗ đầy màu sắc có niên đại từ thế kỷ 18 nhưng là những bản sao của những ngôi nhà Hanseatic nguyên bản. Chợ Cá là một trong những chợ lâu đời nhất và nhộn nhịp nhất ở Na Uy và các nhà hàng gần đó là nơi tuyệt vời để thưởng thức hải sản nổi tiếng của Bergen.

    Núi Fløyen, được bao quanh bởi 7 ngọn núi, một trong số đó Mt. Fløyen. Muốn lên được đỉnh núi thì phải đi bằng xe kéo Fløibanen Funicular. Fløibanen là một tuyến đường sắt leo núi—một loại đường sắt cáp chạy trên đường rầy lên dốc. Floibanen Funicular đi trên tuyến đường sắt leo núi từ trung tâm thành phố lên đến đỉnh núi Fløyen.

    Xe kéo đi lên đường sắt leo núi Fløibanen Funicular.

    Khi lên đến đỉnh Mt. Fløyen, toàn thể thành phố hiện ra trước mắt chúng tôi, thật tuyệt đẹp, một quang cảnh ngoạn mục của thành phố Bergen với các vịnh hẹp xung quanh và đại dương bao la. 

    Quang cảnh của thành phố Bergan nhìn xuống từ trên đỉnh núi Floyen

    Đỉnh núi Fløyen nối liền với một khu rừng bằng con đường đi bộ, trên những con đường dốc hoặc đường mòn dẫn đến một khu rừng nhỏ, chúng tôi thấy những chú dê rừng đi lang thang. Những chú dê rừng này rất hiền và hình như chúng đã quá quen thuộc và giao tiếp với con người nên chúng tôi tha hồ chụp những tấm hình lưu niệm với chúng.

    WOW! Nơi mô mà đẹp wá ta?

    Bận về, thay vì đi xe leo núi để quay về, hoặc bạn có thể đi bộ trở lại thị trấn qua khu rừng nhỏ hoặc đi bộ xa hơn vào những ngọn núi xung quanh gần đó như núi Ulriken. 

    Khoảng thời gian đặc biệt khi đến Bergen là vào ngày 17 tháng 5, đó là ngày Hiến pháp của Na Uy. Theo truyền thống lâu đời truyền lại, người dân địa phương tràn ra đường trong trang phục truyền thống của Na Uy được gọi là lễ hội bunad.

    Chợ cá Bergen, là một trong những địa điểm nổi tiếng nhất ở Bergen, nơi mang đến hương vị đặc biệt của các loại thực phẩm thời xưa (quá khứ) và nay (hiện tại). Một điểm quan trọng nhất của thành phố trong lịch sử là lưu giữ được nét độc đáo của thành phố. Hiện nay, cảng cá Bergen là điểm giao thương chính ở Bắc Âu, mặc dù không lớn nhưng chợ cá Bergen có bán đủ loại cá được đánh bắt từ vùng biển địa phương của Na Uy kể cả trái cây, rau củ và đồ thủ công. Chợ cá nằm đối diện bến cảng Vågen và khu phố cổ Bryggen. Chợ cá dọc theo bờ sông là nơi bán cá lâu đời và là cảng biển nhộn nhịp nhất Na Uy.

    Bergen là thành phố ẩm thực sáng tạo của UNESCO trong văn hóa ẩm thực. Có hơn 3.000 nông dân gần đó có thực phẩm hữu cơ, hơn 500 người làm việc trong ngành đánh cá và nuôi trồng thủy sản. Do mối quan hệ giữa ẩm thực, con người và thiên nhiên, thành phố đã được vinh danh là một trong những thành phố ẩm thực sáng tạo của UNESCO. 

    LAVIK – BRIKSDAL GLACIER

    Sau bữa sáng tại khách sạn, chúng tôi lên phà đi từ Oppedal qua vịnh Sognefjord đến Lavik. Xe bus đưa chúng tôi đi qua những vùng đồi núi tuyệt đep, những đồng cỏ xanh mướt đến tận chân trời, xa xa những ngôi làng rải rác dưới chân đồi.

    Những dòng sông, hồ với mặt nước phẳng lặng phản chiếu trên mặt hồ những ngọn núi cao chót vót tạo nên một phong cảnh đẹp như tranh vẽ.

    Đó là chưa kể đến những con suối, thác nước rãi rác khắp nơi, lần lượt hiện ra trước mắt khiến khách thưởng ngoạn có cảm giác thích thú như đang xem một cuốn phim chiếu cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ ngoài trời.

    Thành phố Lavik hiện ra trước mắt, một đô thị cũ thuộc hạt Sogn og Fjordane cũ, Na Uy. Đô thị này nằm ở phía tây của đô thị Høyanger ngày nay, hạt Vestland và ở phía bắc của vịnh hẹp Sognefjorden. Một phần nhỏ của Lavik nằm ở phía nam của vịnh hẹp Sognefjorden, một dải đất hẹp chạy về phía nam quanh vịnh hẹp Ikjefjorden, qua làng Øystrebø, kéo dài về phía nam đến biên giới với hạt Hordaland. Đô thị Lavik tồn tại từ năm 1838 đến năm 1861 và sau đó tiếp tục tồn tại từ năm 1905 đến năm 1964. Lavik có diện tích 220 km², trung tâm hành chính của đô thị là làng Lavik.

    LÀNG LAVIK rất quyến rũ nằm giữa những vịnh hẹp ngoạn mục của vịnh hẹp Sognefjord! Nằm ở cực tây của vùng đất tuyệt đẹp với vẻ đẹp hoang sơ của thiên nhiên núi non. Ngôi làng nhỏ này trải dài dọc theo phía tây của vịnh Sognefjord, nhìn ra vịnh Sognefjord để được khung cảnh hùng vĩ của một số phần vịnh Sognefjord.

    Ngôi làng nằm trên bờ phía bắc của vịnh hẹp Sognefjorden, cách thành phố Bergen khoảng 100 km (62 dặm) về phía bắc và cách trung tâm thành phố Høyanger khoảng 50 km (31 dặm) về phía tây. Lavik nằm cách các làng Kyrkjebø và Austreim khoảng 40 km (25 dặm) về phía tây, và cách làng Vadheim khoảng 25 km (16 dặm) về phía tây nam. Năm 2001, khu vực Lavik có dân số khoảng 1000 người, với khoảng 285.

    Tên Khu vực làng được đặt theo tên của trang trại Ladvik cũ (tiếng Na Uy cổ: Lamvíkum), vì nhà thờ Lavik tọa lạc tại đó. Yếu tố đầu tiên bắt nguồn từ từ hlað trong tiếng Na Uy cổ có nghĩa là “cọc” hoặc “tải”. Yếu tố thứ hai có thể bắt nguồn từ từ víkr trong tiếng Na Uy cổ có nghĩa là “cửa vào”. Trong lịch sử, cách viết đã thay đổi rất nhiều. Vào thế kỷ 16, Laduigh được gọi là Laduig, vào thế kỷ 17, Ladvig, vào thế kỷ 18, Ladevig, vào thế kỷ 19, và cuối cùng là Lavik vào thế kỷ 20.

    Năm 1861, đô thị Lavik được sáp nhập với đô thị Brekke để thành lập đô thị Lavik và Brekke. Từ năm 1861 đến năm 1905, làng Lavik cũng là trung tâm hành chính của đô thị đó. Năm 1905, đô thị này lại được chia thành đô thị Lavik và Brekke. Ngôi làng tiếp tục là trung tâm hành chính của Lavik cho đến năm 1964 khi đô thị Lavik được sáp nhập vào đô thị mới Høyanger. Làng Lavik là một ngôi làng thuộc đô thị Høyanger, hạt Vestland, Na Uy.

    Làng Lavik trước đây là một cộng đồng nông nghiệp nhưng gần đây đã phát triển thành một trung tâm giao thông dọc theo tuyến đường cao tốc châu Âu, tuyến đường cao tốc chính từ Bergen đến Trondheim. Lavik là điểm phía bắc của tuyến phà Lavik-Ytre Oppedal do Fjord1 Nordvestlandske vận hành, đi qua Sognefjorden trên đường cao tốc. Ngôi làng này cũng là nơi có Nhà thờ Lavik và về mặt lịch sử, nơi đây từng là trung tâm hành chính của đô thị Lavik cũ từ năm 1838 đến năm 1861.

    DÒNG SÔNG BĂNG ĐÁ BRIKSDAL (BRIKSDAL GLACIER)

    Ra khỏi Lavik, xe bus đưa chúng tôi đến thung lũng Briksdalen để chiêm ngưỡng vẻ hùng vĩ, sắc xanh của dòng Sông băng sơn Briksdaal và thác nước. Một vẻ đẹp kinh hồn mà tạo hóa đã ban cho đất nước Na Uy, chúng tôi như bị thu hồn vào bức tranh thiên phú ấy. Sông băng Briksdal nằm trong Thung lũng Oldedalen ở phía tây Na Uy, không xa ngôi làng Olden.

    Sông băng sơn Briksdaal

    Để lên được dòng sông băng đá ấy, chúng tôi phải mướn xe “xe troll”, một loại xe nhỏ, rất độc đáo không chỉ là một cách thú vị để lên núi mà chúng còn là một phần lịch sử của Briksdal và đã hoạt động từ những năm 1930. Chiếc xe troll nhỏ chở 7 người, đón chúng tôi từ Brikstal và đưa chúng tôi đến sông băng Briksdal. Triền thuyết kể rằng, hơn 100 năm trước, những người nông dân ở Oldedalen đã vận chuyển du khách bằng xe ngựa nhưng đến năm 2004, xe ngựa đã được thay thế bằng “xe Troll“.

    Cái tên “Troll Car” gợi nhớ đến văn hóa dân gian Na Uy, nơi người ta nói rằng troll sống trong núi rừng, ngày nay, chúng được vận hành bởi Briksdal Adventure và được thiết kế riêng để phù hợp với con đường dốc, quanh co.

    Xe Troll hoạt động từ mùa xuân đến mùa thu, nếu thời tiết cho phép, và đi qua một số địa điểm đẹp nhất trong các vịnh hẹp, xuyên qua những thác nước đổ ầm ầm, những vách đá cao chót vót và cảnh quan núi non hoang dã tựa như bước ra từ truyện cổ tích.

    Chuyến đi mất khoảng 10–15 phút, rồi dừng lại, đậu cách sông băng đá khoảng 1,5km. Chặng cuối cùng là phải đi bộ để tận hưởng quang cảnh bao la của núi rừng.

    Khi Troll Car thả chúng tôi xuống một khu rừng cây cách sông băng đá khoảng 700 mét, chúng tôi đi bộ một đoạn ngắn trên mặt đất khá bằng phẳng. Từ xa, chúng tôi đã nghe tiếng nước đang đổ xuống trên đỉnh núi, gầm rú với sức mạnh và uy lực đáng sợ.

    Đến gần hơn nữa. Ôi thật tuyệt vời! Một dòng sông băng hùng vĩ màu xanh biếc hiện ra trước mắt, và chúng tôi, lòng tràn ngập một cảm giác phấn khởi, thích thú.

    BRIKSTAL GLACIER là một phần của cánh đồng băng Jostedal nổi tiếng, cánh đồng băng lớn nhất lục địa châu Âu. Sông băng cao tới 1,200 mét và có màu xanh màu xanh thẫm, nằm giữa những vách đá dựng đứng. Màu sắc của sông băng có thể thay đổi tùy thuộc vào ánh sáng, sông băng có thể mang nhiều màu sắc khác nhau, từ trắng sữa đến xanh ngọc lam. một cảnh tượng như trong phim Disney, nước đổ xuống thung lũng bên dưới trông giống như một thảm chiếu băng sơn khổng lồ từ trên trời rơi xuống.

    Không khí của đầu mùa Thu tại Na Uy rất trong lành đem theo hơi se se lạnh khiến chúng tôi như bị cuốn hút bởi cảnh đẹp xung quanh. Đứng dưới đáy sông băng khiến chúng tôi cảm thấy thật nhỏ bé trong vụ trụ bao la. Bao quanh bởi những tiếng gầm rú của thác nước với dòng nước xanh biếc từ trên cao đổ xuống, nhưng lạ thay chúng tôi lại cảm thấy yên bình và thời gian như ngừng lại để tận hưởng và chiêm ngưỡng khung cảnh hùng vĩ.

    Dòng sông băng Briksdal với vẻ đẹp băng giá là một trong những nhánh của Sông băng Jostedalsbreen, sông băng lớn nhất lục địa châu Âu, bao phủ khoảng 480 km vuông. Sông băng như đang sống dậy, di chuyển chậm rãi theo thời gian, nó thực sự mang đến cho chúng tôi một cảm giác về sức mạnh của thiên nhiê bởi những âm thanh của dòng nước tan chảy ào ạt. Đây là một trong những nhánh sông băng nổi tiếng nhất của sông băng Jostedalsbreen và là sông băng lớn nhất lục địa châu Âu.

    LOEN – GEIRANGER FJORD – TROLL’S ROAD

    Ăn sáng tại khách sạn xong, chúng tôi đi du thuyền trên Vịnh Geiranger nổi tiếng vì được bao quanh bởi vách đá lớn với những thác nước tuyệt đẹp ở cả hai bên.

    Sau đó chúng tôi ghé qua hai địa danh nổi tiếng “The Seven Sisters” và “The Veil of the Bride”.

    “The Seven Sisters” vì thác nước tẽ ra và chảy xuống triền núi theo 7 dòng nước khác nhau và bên cạnh nhau.

    “The Veil of the Bride” bởi nó trong giống như khăn đội đầu của cô dâu trong ngày cưới.

    Do you see what I see?

    EAGLE ROAD, nổi tiếng với những khúc cua gấp và độ cao của nó, khiến nơi này có biệt danh là Eagle Road vì chiều cao từ trên nhìn xuống trông giống như chim đại bàng. Đường rất hẹp, zích-zắc và chỉ có “one lane”. Có những đoạn đường gần sát ngay vực thẳm, dốc thẳng đứng và vách núi đá. Nhưng bù lại, phong cảnh ở đây rất đẹp, hùng vĩ.    

    Khi đến Eidsdal, chúng tôi lên phà đi Linge trước khi lên xe buýt đến Đường Troll, một con đường dốc xuống từ trên núi với tầm nhìn ngoạn mục. 

    Trollstigen là một trong những tuyến đường ngắm cảnh mang tính biểu tượng nhất Na Uy. Tuyến đường ngắm cảnh Geiranger-Trollstigen của Na Uy chạy giữa Khu cắm trại Soggebru ở Romsdalen và hồ Langvatnet ở Geiranger. Tuyến đường ngắm cảnh này cắt ngang qua những quang cảnh tuyệt đẹp nhất của Tây Na Uy và lên đến độ cao 852 mét so với mực nước biển. Khung cảnh choáng ngợp với những sườn núi dốc đứng, thác nước cao chót vót, vịnh hẹp sâu thẳm và thung lũng xanh tươi.

    Chuyến đi dọc theo con đường Trollstigen cho thấy một kiệt tác kỹ thuật thiên nhiên kỳ thú. Trollstigen được bao quanh bởi những ngọn núi hùng vĩ như Bispen (1.462 m), Kongen (1.614 m), và Dronninga (1.544 m) ở phía tây, và Stigbottshornet (1.583 m) và Storgrovfjellet (1.629 m) ở phía đông. Những ngọn núi này khiến bạn cảm thấy mình nhỏ bé và có cảm giác lâng lâng khi nhìn xuống thung lũng.

    Về mặt lịch sử, Trollstigen là một đèo núi cũ nằm giữa Åndalsnes, dưới chân Romsdalen, và Valldal ở phía trong Sunnmøre. Một lý do quan trọng để xây dựng con đường xuyên qua núi Stegafjellet là vì một phiên chợ thường niên lớn tại trang trại Devoll, Trollstigen được mở cửa vào năm 1936, và trở thành một điểm nổi tiếng. Quãng đường dài 106 km, trên đường đi, đặc biệt là dừng chân tại các điểm ngắm cảnh như hẻm núi Gudbrandsjuvet và Ørnesvingene. Tận hưởng khung cảnh hùng vĩ của những ngọn núi cao chót vót, thung lũng xanh tươi, thác nước và hẻm núi. Cao nguyên Trollstigen có tầm nhìn tuyệt đẹp ra quang cảnh xung quanh. Cầu và đường dẫn đến đài quan sát được thiết kế bởi công ty kiến ​​trúc Reiulf Ramstad Arkitekter. Cầu và đài quan sát được làm bằng thép và kính, theo nhu cầu thời tiết thay đổi và để hòa hợp với môi trường xung quanh. Một phần của cầu và đài quan sát được khoét sâu vào đá, các phần khác được hỗ trợ bởi tường đá.
     

    Hành trình của chúng tôi kết thúc bằng một chuyến phà ngắn từ Vestnes đến Molde.

    MOLDE – ATLANTIC ROAD

    Sau khi ăn sáng tại khách sạn, chúng tôi lên xe bus, khởi hành một ngày dài trên con đường Atlantic Road. Con đường này được chọn là “tác phẩm nghệ thuật của thế kỷ” (Work of art of the century) và được xếp hạng là tuyến đường bộ tốt nhất trên thế giới.

    Tại đây, chúng tôi có thể ngắm phong cảnh tuyệt đẹp giữa đất liền, biển cả và băng sơn qua những cây cầu bắc ngang qua bờ đại dương dọc theo con đường. Xe bus chạy qua những cánh đồng cỏ xanh mướt, những vùng quê đẹp với phong cảnh thơ mộng, và những ngôi làng Na Uy quyến rũ.

    CON ĐƯỜNG ATLANTIC – CON ĐƯỜNG NGHẸT THỞ

    Con đường Atlantic là một trong những điểm nổi bật của Na Uy và đây không phải là điểm đến cho những người yếu tim, bởi những con dốc cao vun vút, những tuyến đường với độ cong vô định, uốn lượn như rắn, hoặc những khúc quanh lúc hiện lúc biến tạo nhiều căng thẳng cho người lái. Đôi khi có các đợt sóng trắng xóa ập thẳng vào thành xe…

    Những con đường trông như mất hút cuối chân trời.

    Khi đi qua con đường Đại Tây Dương này, chúng tôi đã chứng kiến nhiều cái lạ mắt, chẳng hạn bỗng dưng xuất hiện trên đường những đàn dê lạc chuồng, thản nhiên và tự do đi trên đường…

    Những căn nhà xinh xắn trên biển hồ in bóng trên mặt nước phẳng lặng…

    Và những căn nhà lợp cỏ. Đó là những căn nhà được xây theo lối cổ xưa với mục đích đều hòa nhiệt độ bên ngoài theo từng mùa, bởi nó có thể giữ độ ấm vào mùa đông và độ mát vào mùa hè. Ngày nay, loại nhà này không còn thịnh hành, tuy nhiên, một số nhà có mái lợp bằng cỏ được bảo tồn theo truyền thống lịch sử.

    Những căn nhà lợp cỏ để đều hòa nhiệt độ theo thời tiết của từng mùa

    VỊNH HẸP GEIRANGER được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, vịnh Geiranger ăn sâu vào đất liền và là một trong những vịnh đẹp, bởi những thác nước đổ ào ạt từ trên những vách đá dốc thẳng đứng xuống, những màn sương từ thác lơ lửng trên không… làm tăng sự thú vị để chiêm ngưỡng quang cảnh thiên nhiên trông như một bức tranh sơn thuỷ hữu tình.

    Vịnh hẹp Geirange với phong cảnh hữu tình

    OTTA REGION

    LILLEHAMMER

    Ăn sáng tại khách sạn chúng tôi rời Molde đến Lillehammer. Tại đây, chúng tôi có khoảng hai giờ rảnh rỗi để khám phá Thành phố Olympic. Thế vận hội Mùa đông 1994, hay Thế vận hội Mùa đông XVII, được tổ chức từ 12 tháng 2 đến 27 tháng 2 năm 1994 tại Lillehammer, Na Uy. Tất cả có 67 quốc gia tham dự.

    Để lên được trên đỉnh này, chúng tôi đã phải trèo lên cả tram bậc thang sắt, hẹp, nguy hiểm và rất khó đi, thật là liều và không có cái dại nào bằng cái dại này. Leo xuống được dưới mặt đất thật vất vả và bở cả hơi tai…

    Thế vận hội Mùa đông 1994 (tên chính thức là Thế vận hội Mùa đông XVII và còn được gọi là Lillehammer 1994) là một sự kiện thể thao mùa đông đa môn Lillehammer đã không giành được quyền đăng cai sự kiện năm 1992, nhưng đã được trao quyền đăng cai Thế vận hội Mùa đông 1994 vào năm 1988, sau khi đánh bại Anchorage, Alaska; Östersund, Thụy Điển; và Sofia, Bulgaria. Thế vận hội này là lần đầu tiên được tổ chức vào một năm khác với Thế vận hội Mùa hè, là kỳ duy nhất được tổ chức hai năm sau Thế vận hội Mùa đông trước đó và là kỳ cuối cùng được tổ chức tại một thị trấn nhỏ. Thế vận hội này cũng là kỳ Thế vận hội thứ hai được tổ chức tại Na Uy và là Thế vận hội Mùa đông thứ hai được tổ chức tại các nước Bắc Âu, sau Oslo năm 1952.

    Sau đó, xe bus hướng về Oslo dọc theo bờ Hồ Mjosa, một hồ nước lớn nhất ở Na Uy. Khi đến Oslo, chúng tôi đến thăm Công viên Frogner, Cung điện Hoàng gia, Tòa thị chính và Pháo đài Akershus.

    OSLO là thủ đô của Na Uy và cũng chính là quê hương của Giải Nobel Hòa bình. Khi chúng tôi đến Oslo thì trời đã xế chiều. Sau khi ông Andor và cô Mira đón bà Local Tour Leader, xe bus của hãng du lịch chở chúng tôi đi thăm thành phố Oslo. Xe bus đi qua những con đường trong thành phố Oslo nổi tiếng với nét quyến rũ của hoàng gia và những con phố nhộn nhịp. Thỉnh thoảng, xe bus dừng lại ở một vài địa điểm như:

    CÔNG VIÊN ĐIÊU KHẮC VIGELAND (CÔNG VIÊN FROGNER), là một công viên với 212 bức tượng khỏa thân. Đây cũng là công viên điêu khắc lớn nhất thế giới do nhà điêu khắc gia Gustav Vigeland tạo ra. Ông là người chịu trách nhiệm thiết kế và bố trí kiến trúc trong công viên. Công đoạn khắc trên đá và đúc đồng do thợ thủ công lành nghề đảm nhiệm. Tuy nhiên, ông đã chết năm 1943 trước khi công viên được hoàn thành năm 1946. Những bức tượng khỏa thân sống động, phản ánh cuộc sống muôn màu muôn vẻ của con người và tập trung vào chủ đề về sự sống và cái chết của con người. Công viên Frogner là một công viên công cộng nằm ở quận Frogner ở thành phố Oslo, Na Uy, và là một phần lịch sử của Frogner Manor, nằm ở phía nam của công viên và là nhà của Bảo tàng Thành phố Oslo. Cả công viên, toàn bộ quận Frogner cũng như Frognerseteren đều lấy tên của dòng họ Frogner Manor.

    Công trình được khởi công xây dựng từ năm 1939 và hoàn thành năm 1949, với 212 bức tượng được chế tác từ các chất liệu khác nhau như: đồng, granite và sắt và đều ở trạng thái nguyên thủy. Khi đặt chân đến công viên Vigeland, chúng tôi không cảm thấy sự trần tục, thô thiển, mà thay vào đó có thể là những triết lý nhân sinh ẩn sau mỗi tác phẩm. Những hành động, biểu cảm thường ngày của con người được khắc họa bằng tượng như: chạy, nhảy, múa, ôm, nắm tay, khóc, tức giận… mà không có bất kỳ lời chú giải nào.

    212 bức tượng khỏa thân nghệ thuật

    Với diện tích khoảng 320.000m2, trải dài trên trục đường chính dài 850m, các bức tượng chia làm 5 khu chính từ ngoài vào lần lượt là: khu cổng lớn, cây cầu với sân chơi, đài phun nước, tháp đá nguyên khối “The Monolith” và vòng quay cuộc đời (The Wheel of Life).

    Tháp người “The Monolith” có thể được coi là trung tâm của công viên Vigeland, được chạm khắc từ đá granit nguyên khối cao hơn 14 mét, mô phỏng 121 tượng người chất chồng lên nhau từ chân tháp đến đỉnh tháp. Có người nói đây là hình ảnh thể hiện sự phục sinh của loài người, có người lại nói tác phẩm tượng trưng cho khát vọng của con người. Nhưng lại cũng có ý kiến cho rằng tháp đá “The Monolith” cho người xem cảm giác “Togetherness” – gắn kết cùng chung thân phận con người.

    Quảng trường Tòa thị chính, quảng trường này lớn như Quảng trường Đỏ ở Moscow; hay Quảng trường Saint Peters ở Rome. Quảng trường này là trung tâm của thành phố Fjord và có nhiều di tích lịch sử quan trọng. Được lát bằng đá granite xám, Quảng trường Tòa thị chính nằm ở phía trước mặt tiền phía nam của tòa nhà Tòa thị chính. Quảng trường được trang trí bởi một nhóm điêu khắc “Synken”, gồm ba đài phun nước và bốn bức tượng phụ nữ trong các tư thế khác nhau. Đây cũng là nơi tổ chức nhiều lễ hội, các buổi hòa nhạc và các sự kiện ngoài trời khác.

    Cạnh đó là Tòa thị chính: Tòa thị chính thành phố Oslo là nơi làm việc của hội đồng và cơ quan hành chính thành phố và nhiều cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Tòa nhà được xây giữa những năm 1932 và 1950 khi đang diễn ra Thế chiến thứ II. Được thiết kế bởi hai kiến trúc sư Arnstein Arneberg và Magnus Poulsson. Tòa thị chính được xây bằng gạch đỏ với hai tòa tháp có chiều cao lần lượt là 63m và 66m. Nội và ngoại thất của tòa nhà được trang trí với các phong cách mỹ thuật Na Uy trong những năm 1900-1950, với các mô hình diễn tả lại lịch sử, văn hóa và cuộc sống ngày thường tại đất nước Na Uy.

    Ngoài việc phục vụ như một văn phòng chính phủ, Tòa thị chính thành phố Oslo còn là nơi diễn ra nhiều buổi lễ trang trọng khác như lễ trao giải Nobel Hòa bình vào tháng 12 hàng năm. Những mái nhà của tòa tháp phía đông có một dàn chuông gồm 49 chiếc và đánh lên mỗi giờ đồng hồ. Tòa thị chính nằm ở Pipervika trong trung tâm trung tâm thành phố Oslo. Khu vực này được hoàn toàn tái thiết và xây dựng lại, để nhường chỗ cho hội trường thành phố mới trở lại trong cuối những năm 1920. Tháng 6 năm 2005, nó được đặt tên là “Cấu trúc của thế kỷ” của Oslo.

    Nhà NHÀ HÁT OPERA với kiên trúc khác lạ, nằm tại trung tâm thủ đô Oslo. Đây được coi là một trong những công trình thiết kế độc đáo nhất tại Na Uy, được xây dựng đầu thế kỷ 14. Hình thành từ ý tưởng của tảng băng trôi. Nhà hát được thiết kế sang trọng và hiện đại, mỗi ghế trong nhà hát được trang bị thêm màn hình hiển thị phụ đề bằng 8 thứ tiếng. Lối đi xoắn ốc quanh nhà hát được lót gỗ sang trọng và có thể ngắm nhìn thắng cảnh thành phố qua lớp kính trong suốt. Oslo Opera đã trở thành biểu tượng của thành phố, gắn kết thành phố với các hoạt động trên sông.

    Điểm nổi bật của tòa nhà này là mái dốc lên từ mặt nước của nhà hát Oslo và là một quảng trường công cộng có thể đi lại bên trên. Nhà hát cũng đã từng giành được nhiều giải thưởng quốc tế về ý tưởng thiết kế độc đáo cũng như khả năng chinh phục thiên nhiên của con người.

     HẢI CẢNG AKER BRYGGE SẦM UẤT được xây dựng xung quanh một nhà máy đóng tàu bị bỏ hoang. Khu vực Oslo’s Aker Brygge là trái tim và linh hồn của thành phố. Nơi này luôn nhộn nhịp và sôi động. Kiến ​​trúc tuyệt đẹp của nó là sự pha trộn tuyệt vời của cái mới và cũ. Lối đi bộ ven biển, mua sắm cao cấp, nhà hàng tuyệt vời và các quầy bar ấm cúng quanh năm với những tấm thảm và lò sưởi ấm cúng. Khi đến đây, bạn hãy ghé thăm Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Astrup Fearnley. Bảo tàng bao gồm hai tòa nhà: một cho bộ sưu tập các tác phẩm của những vĩ nhân như Andy Warhol, Damien Hirst và Jeff Koons.

    TRUNG TÂM HÒA BÌNH NOBEL, Trung tâm Hòa bình Nobel được quốc hội Na Uy (Stortinget) quyết định thành lập năm 2000 và khai trương năm 2005, nằm trong tòa nhà chính của Nhà ga xe lửa phía tây cũ (Vestbanestasjonen), gần Tòa thị chính Oslo.Trung tâm Hòa bình Nobel cung cấp các thông tin về Alfred Nobel; giải Nobel Hòa bình; những người đoạt giải Nobel Hòa bình; các xung đột hiện nay trên thế giới cùng các nỗ lực kiến tạo hòa bình. Trưng bày hình ảnh của các cuộc triển lãm; các buổi nói chuyện; các cuộc hội thảo cùng các hoạt động khác dành cho cả người lớn và trẻ em đều diễn ra tại đây. Ban lãnh đạo Trung tâm do Ủy ban Nobel Na Uy bầu chọn.

    TỪ OSLO (OSL) TRỜ VỀ LOS ANGELES (LAX)

    Chuyến bay của chúng tôi khởi hành lúc 7 giờ sáng, vì vậy chúng tôi không kịp ăn sáng tại hotel. Cô Mira Malina đã cẩn thận và đặt thức ăn sáng cho chúng tôi trong hộp. Đúng 4 giờ sáng, chiếc xe SUV của hãng du lịch đã đậu sẵn ở trước cửa khách sạn và đưa chúng tôi ra phi trường Oslo International Airport. Kết thúc một chuyến du lịch thật tuyệt vời.

    Khánh Lan, California August 14, 2025

    Alta là điạ điểm ngắm cực quang đẹp nhất Na Uy, là điểm đến lý tưởng cho những ai đam mê những hiện tượng thiên văn học kỳ thú. 

    Alta có biệt danh là “thị trấn của Bắc cực quang” khi hiện tượng này thường xuyên diễn ra vào khoảng giữa cuối tháng 9 và đầu tháng 4. Đay cũng là nơi thu hút những nhà thiên văn học bởi tại đây có Đài thiên văn Bắc cực quang đầu tiên trên thế giới.

  • Âm nhạc,  Tha Nhân

    MẮT BIẾC HỒ THU

    Thi sĩ Tha Nhân đã sáng tác nhạc phẫm Mắt Biếc Hồ Thư dựa theo thơ của Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh dể tưởng niệm vị Khoa Học Gia đã mang tiếng vang cho dân tộc Việt.

  • Khánh Lan,  TALK SHOW,  Tin tức,  VNATV-57.3-NVNT & TTG

    TALK SHOW KỲ 11-CHỌN MỘT HƯỚNG ĐI CHO TƯƠNG LAI

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Các anh chị em,

    Đề tài talk show kỳ 11 đã để lại cho chúng ta một miềm hy vọng trong tương lai rằng văn chương Việt sẽ luôn mãi lưu truyền qua các thế hệ con cháu của chúng ta sau này. Trong kỳ talk show này, Khánh Lan rất vinh hạnh chào đón Giáo sư Trang Đài và sự tham gia của thế hệ trẻ vào vườn hoa văn hóa & giáo dục Việt Nam. Giáo Sư Tiến sĩ Trang Đài còn rất trẻ nên Khánh Lan xin mạn phép gọi Giáo Sư bằng Cô trong lúc phỏng vấn.

    Giáo Sư Tiến Sĩ Trang Đài Glassey Tranguyen

    Với những thành công vượt bực trong lãnh vực giáo dục, Giáo sư Tiến sĩ Trang Đài Glassey, Trầnguyễn hẳn là một thần đồng của nước Việt với nhiều khả năng và kỹ năng phú bẩm. Sanh ra sau khi Sài Gòn thất thủ năm 1975 trong một gia đình có cha là Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt, Giáo sư Trang Đài đã chịu nhiều thiệt thòi và gặp nhiều gian nan trong cuộc sống, nhất là không được hưởng quy chế theo học trường đại học, vì là con của chế độ cũ. Tuy vậy, những khó khăn ấy đã không làm chùng lòng và huy diệt giấc mơ của Giáo sư Trang Đài. Sau 19 năm sống tại Viêt Nam, GS Trang Đài đã định cư tại Hoa Kỳ, và Cô đã dùng tất cả thời gian còn lại để đạt được một thành công tuyệt diệu như ngày hôm nay.

    Giáo sư Trang Đài hiện là Founder/Director, Vietnamese Diasporas Projects, Life Member, Fullbright Association và Dana Point Historical Society. Điều đáng thán phục là với một thời gian ngắn, GS Trang Đài đã hoàn tất 4 bằng cử nhân cùng một lúc về Phát Triển Thanh Thiếu Niên, Anh Ngữ, Nhân Văn Đa Khoa, và Sắc tộc học; Tốt nghiệp Cao học ngành Lịch Sử với hai giải xuất sắc toàn trường, Cao học ngành Nhân chủng học tại Đại học Stanford và Cao học ngành Đông Nam Á.

    Với bằng Tiến sĩ ngành Nhân chủng học, GS Trang Đài đã nghiên cứu về người Việt hải ngoại, là học giả đa ngành đầu tiên thực hiện nghiên cứu thực tế và phỏng vấn lịch sử truyền khẩu tại Little Saigon, Quận Cam, California, tại Stockholm năm 2004-2005, đồng thời Cô đã lãnh học bổng Fulbright toàn phần, bậc tối ưu. Tiến sĩ Trangđài Glassey-Trầnguyễn (trangdai.net) là một tác giả song ngữ đoạt nhiều giải thưởng. Với khả năng sáng tạo, kỹ năng lãnh đạo, và phục vụ cộng đồng với trên 50 giải thưởng. Không những thế, Cô còn đảm trách chức vụ Giám Đốc Sáng Lập của Dự Án Người Việt Hải Ngoại và là học giả duy nhất trên thế giới đã thực hiện hàng trăm cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu và các dự án nghiên cứu về người Việt ở cả bốn châu lục Á, Âu, Úc, và Mỹ trong ba thập niên qua.

    Là Giáo Sư giảng dạy, nghiên cứu, xuất bản, và thuyết trình song ngữ: Việt và Anh về những đề tài liên quan đến văn hoá Việt Nam, tiếng Việt, và người Việt hải ngoại trong 30 năm qua trên khắp thế giới. Trong lãnh vực văn chương, GS Trang Đài bắt đầu sáng tác văn thơ từ đầu thập niên 1990 và là một tác giả đã xuất bản trên 3,000 tác phẩm thơ, gồm 7 tập thơ song ngữ với bản dịch mười ba thứ tiếng. Với óc sáng tạo, Cô đã dịch các tài liệu học thuật, sách giáo khoa từ Kindergarten đến lớp 12, các tuyển tập và đăng bài  trên báo chí trên thế giới bằng tiếng Anh và Việt.

    Mặc dù với những thành công trong cuộc sống và có một sự nghiệp vẻ vang, nhưng GS Trang Đài lại rất giản dị, lễ độ, khiêm nhường và rất dễ mến. Kính mời quý Giáo sư, Văn Thi Sĩ cùng anh chị em vào xem buổi phỏng vấn Tiến sĩ Trang Đài Glassey Tranguyen dưới đây.

    Khánh Lan kính mời

    PHẦN I:

    PHẦN II:

    PHẦN III:

  • Khánh Lan,  Kiều My,  Sinh Hoạt

    KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP CỦA NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN

    Kiều My & Khánh Lan tường trình

    Trong bầu không khí hân hoan và ấm áp ngày Chủ nhật 24 tháng tám, năm 2025 tại Nam California, buổi tiệc kỷ niệm 10 năm thành lập Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã diễn ra như một cột mốc đầy ý nghĩa. Đây không chỉ là dịp để nhìn lại chặng đường mười năm xây dựng, tồn tại và phát triển; mà còn là cơ hội để tri ân những tấm lòng đã chung tay góp sức, nuôi dưỡng tinh thần nghệ thuật và nhân văn; đồng thời thắt chặt hơn tình thân ái giữa những người cùng chung lý tưởng bảo tồn văn hóa Việt và niềm đam mê văn chương nghệ thuật.

    Vừa bước vào khánh phòng chúng tôi đã nhận thấy sự hiện diện của hai phóng viên. Cô Nhã đại diện cho tòa báo Người Việt và Anh Phạm Khanh đại diện cho đài phát hình Little Saigon TV. Cả hai vị đều chia sẻ rằng họ biết được buổi họp mặt của NVNT & TTG trên TV và trang Facebook.

    Đại diện của tòa báo Người Việt phỏng vấn Nv. Khánh Lan về buổi họp mặt kỷ niệm 10 năm thành lập của Liên nhóm NVNT & TTG.

    Xin bấm vào link dưới đây để đọc bài tường trình của báo Người Việt viết về ngày kỷ niệm 10 năm thành lập của Liên Nhóm NVNT & TTG.

    http://nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nhan-van-nghe-thuat-tieng-thoi-gian-ky-niem-10-nam-gieo-hat-van-hoc/

    Xướng ngôn viên của đài Little Saigon TV, anh Phạm Khanh cũng có mặt rất sớm và kiên nhẫn chờ đợi để phỏng vấn Nv. Khánh Lan về hành trình cũng như thành quả mà Liên nhóm NVNT & TTG hoàn tất trong 10 năm qua (2015-2025)

    CÁC THÀNH VIÊN CỦA NVNT & TTG CHÀO ĐÓN QUAN KHÁCH

    Từ khi thành lập đến nay, Liên nhóm NVNT & TTG không có ban tiếp tân. Trong những buổi họp mặt, dù quan trọng hay không, tất cả chúng tôi đều có mặt tại khánh phòng từ rất sớm để cùng nhau chuẩn bị và góp sức hoàn tất công việc.

    Từ trái sang phải: Hồng Phúc, Nv. Vân Bằng (Phu nhân của cựu thẩm phán Nguyễn Trọng Nho), Khánh Lan, Minh Thư, Xuân Mai, Lệ Hoa.

    Gs. Mai Thanh Truyết (Texas), Khánh Lan, học trò của Gs. Truyết, anh Phạm Hồng Thái (San Jose), Xuân Mai (Sacramento), Lệ Hoa (phu nhân Nv. Việt Hải), và Ngọc Quỳnh.

    Thi sĩ Quỳnh Giao, Khánh Lan, Mộng Thủy, Lệ Hoa, Kim Hương, Minh Thư, Hồng Phúc, Thúy Giao, Ngọc Quỳnh, em gái Thúy Giao.

    Chương trình được bắt đầu bằng những lời chào mừng nồng nhiệt và cảm tạ chân thành đến hàng trăm quan khách hiện diện đông đảo trong khánh phòng.

    Chúng tôi hân hạnh ghi nhận sự hiện diện của quý Tiến sĩ, Giáo sư, Bác sĩ, Dược sĩ; các văn nhân, thi sĩ thuộc Văn Bút và Tao Đàn Thời Đại; cùng các ca nhạc sĩ, giới truyền thông, ký giả, các tổ chức, hội đoàn, cựu quân nhân, sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và đông đảo thân hữu gần xa.

    Trong khoảnh khắc thiêng liêng và tĩnh lặng, nghi lễ chào quốc kỳ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa được cử hành trang trọng, biểu lộ niềm tự hào của cả hai dân tộc Mỹ–Việt. Tiếp nối trong bầu không khí trang nghiêm, phút mặc niệm lắng đọng diễn ra để tưởng nhớ các anh hùng vị quốc vong thân, những văn nhân thi sĩ đã quá cố, đồng bào bỏ mình trên đường tìm tự do, cùng tất cả những người đã tận hiến cho tiền đồ dân tộc.

    Khai mạc buổi họp mặt, Giáo Sư Trần Mạnh Chi xin thay mặt liên nhóm NVNT & TTG hân hoan chào đón quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ, các Anh Chị Em và thân hữu. Ông nói: “Từ tháng 5 năm 2015 cho đến nay đánh dấu cột mốc 10 năm thành lập của Liên nhóm NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN, một dấu ấn quan trọng trong hành trình tồn tại và phát triển của một nhóm văn học. Sự hiện diện của quý vị hôm nay là một vinh hạnh cho chúng tôi”.

    MC Mộng Thủy và GS Trần Mạnh Chi

    Tiếp lời ông là MC Mộng Thủy, cô nói: “Trong không khí ấm áp và đầy ân tình của buổi tiệc ngày hôm nay, quý vị đã đến đây không chỉ vì để chia sẻ niềm vui cùng chúng tôi, mà còn là dịp để nhìn lại những giá trị sâu sắc qua từng chặng đường 10 năm mà NVNT & TTG đã thực hiệm. 10 năm, một hành trình không ngắn nhưng cũng chưa đủ dài. Nhưng đó là quãng thời gian đủ để liên nhóm của chúng tôi vun đắp những mối tương quan bền chặt, xây lên một nền tảng vững chắc, và cùng nhau vượt qua bao thử thách khó khăn với những niềm tin lý tưởng và sứ mệnh để phục vụ cộng đồng và văn chương Việt”.

    Hàng dưới: Từ trái sang phải: Nv. Vi Khiêm, Gs. Trần Huy Bích, Gs. Dương Ngọc Sum, Nv. Việt Hải, Nv. Nguyễn Quang, Gs. Quyên Di, Thi sĩ Minh Đức. Hàng trên: MC Mạnh Bổng, Gs. Trần Mạnh Chi, MC Mộng Thủy.

    Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian được thành lập năm 2015, với thành phần sáng lập và điều hành gồm:

    Sáng lập viên: Nhà văn Trần Việt Hải, Giáo sư Trần Mạnh Chi, Họa sĩ Lưu Anh Tuấn, Giáo sư Lý‎ Tòng Bá (quá vãng)

    Cố vấn văn học: Nhà văn Nguyễn Quang, Giáo sư Dương Ngọc Sum, Giáo sư Trần Huy Bích, Giáo sư Quyên Di, Nhà văn Vi Khiêm Nguyễn Văn Liêm, Nhà văn Phạm Gia Đại

    Cố vấn kỹ thuật:  Giáo sư Phạm Hồng Thái.

    Trưởng nhóm âm nhạc:   Ca nhạc sĩ Lâm Dung

    Trưởng nhóm văn học:  Nhà văn Khánh Lan

    Điều hành sân khấu:  MC. Mộng Thủy

    Thủ quỹ:  Katherine Minh Thư

    Trước khi bước vào chương trình chính, ba vị sáng lập viên cùng các giáo sư, nhà văn trong Ban Cố Vấn được mời lên phát biểu đôi lời với quý quan khách. Nhà văn Trần Việt Hải, đại diện các vị sáng lập, đã chân thành cảm ơn sự hiện diện của quan khách trong buổi kỷ niệm 10 năm thành lập Liên Nhóm NVNT & TTG.

    Tiếp đó, Giáo sư Quyên Di, thay mặt Ban Cố Vấn, chia sẻ: Khởi đầu, liên nhóm mang tên Nhân Ảnh Tâm Văn. Một năm sau, khi nhóm đã đứng vững và có thể hoạt động độc lập, chính ông là người đặt tên Nhân Văn Nghệ Thuật, mở ra một môi trường sinh hoạt phong phú về văn học, thi ca, hội họa, âm nhạc và kịch nghệ.

    Giáo sư cũng nhấn mạnh vai trò và trọng trách của người ‘cố vấn’ – không chỉ là chỗ dựa tinh thần mà còn là người dìu dắt, khích lệ và nâng bước các cây viết trẻ trên con đường văn học.

    Cũng trong dịp này, thi sĩ Đình Duy Phương đại diện Nhóm Văn Bút Hải Ngoại trao tặng tấm plaque cho Nv. Việt Hải và Liên nhóm NVNT & TTG.

    Những chiếc máy ảnh của nhiếp ảnh gia Nguyễn Thiều Minh, Chị Tâm An, Anh Trần Mạnh Chi “sáng” lên liên tục, lưu lại hình ảnh thân thương giữa quan khách và các thành viên trong liên nhóm.

    Hàng ngồi: Gs. Dương Ngọc Sum, Gs. Trần Huy Bích, Nv. Việt Hải, Thi sĩ Minh Đức, Gs. Quyên Di, Nv. Nguyễn Quang. Hàng đứng: Nv. Khánh Lan, CNS Hồng Tước, Giám Đốc tòa báo Người Việt, Thi sĩ Xuân Mai, Nv. Phạm Gia Đại

    Hàng ngồi: Thi sĩ Quỳnh Giao, Ns. Lê Nguyễn Nga, Ns. Dương Hồng Anh, Thi sĩ Đình Duy Phương. Hàng đứng: Mạnh Bổng, NAG Thiều Minh, Gs. Phạm Hồng Thái, CNS Hồng Tước, chị Trầm Hương, Thi sĩ Huy Anh.

    Từ trái sang phải: KQ Vũ Hòa, Anh Alain Đức, chị Ngọc Châu, Ngọc Quỳnh, Kim Hương, KHG Lâm Quốc Dân, Gs Ts. Mai Thanh Truyết

    Sau đó, các vị cố vấn và sáng lập viên đã cùng đặt tay và cùng cắt chiếc bánh sinh nhật 10 tuổi của Nhân văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, khai mạc buổi tiệc.

    Chương trình kỷ niệm 10 năm đã được chúng tôi chuẩn bị chu đáo từ đầu năm 2025, với nội dung kết hợp hai phần:

    • Phần I: Giới thiệu những nhạc phẩm do các thành viên Liên Nhóm NVNT & TTG sáng tác.
    • Phần II: Khiêu vũ và văn nghệ do các thành viên cùng thân hữu trình diễn.

    Mở đầu chương trình là nhạc phẩm Nắng Đẹp Miền Nam, sáng tác của cố nhạc sĩ Lam Phương, được nhạc sĩ Hồ Đình Phương đặt lời năm 1955. Bản nhạc khơi gợi trong ký ức chúng ta hình ảnh 70 năm trước, khi Hiệp định Geneva chia đôi đất nước và hàng triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam (1954–1955). Tiếp nối, năm 1975 trở thành cột mốc của 50 năm viễn xứ, khi làn sóng người Việt di tản khắp năm châu.

    Bài hát đã đem lại không khí rộn ràng, phấn khởi cho khánh phòng qua phần trình diễn của Ban Hợp Ca Tiếng Thời Gian. Âm điệu tươi sáng ấy cũng gợi trong lòng người nỗi bồi hồi, nhớ về những ngày nắng đẹp nơi miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

    NHỮNG THÀNH QUẢ 10 NĂM CỦA NVNT & TTG:

    Đặc biệt kỳ nay, quan khách được mãn nhãn với background slideshow do Gs. cố vấn Kỹ thuật Phạm Hồng Thái và Nv. Khánh Lan thực hiện qua những hình ảnh sống động và màu sắc rực rỡ, ghi lại hình ảnh và hoạt động của liên nhóm trong 10 năm qua (2015-2025).

    Giáo sư cố vấn kỹ thuật Phạm Hồng Thái

    Phối hợp với phần trình chiếu slideshow là bài tường trình của nhà văn Khánh Lan và thi sĩ Huy Anh về bước tiến đáng kể trong việc bảo tồn văn hóa Việt Nam qua hai lĩnh vực: Văn Hóa & Âm Nhạc gồm có:

    Nhà văn, nhà báo Vi Khiêm, nhà văn Khánh Lan, Thi sĩ Huy Anh

    1. Tổ chức hơn 50 buổi ra mắt sách cho các thành viên, bạn bè và thân hữu từ năm 2015- 2025
    2. Website: nhanvannghethuat.com – Ghi nhận những sinh hoạt của nhóm trong lĩnh vực: văn, thơ, nhạc…
    3. Xuất bản tác phẩm gồm: Tưởng Niệm Gs. Nguyễn Thanh Liêm (2018); Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút hậu Duệ (2019); Tuyển tập Những Đóa Hoa Trong Vườn Thi Ca Hải Ngoại (2021); Tự Lực Văn Đoàn, Hậu Duệ và Thân Hữu: Tưởng Nhớ Nhất Linh (2023); Những Bài Thơ Tiêu Biểu Trong Thi Ca Việt Nam (2024); Tuyển Tập Tưởng Nhớ Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh (2025).
    4. Giới thiệu những tác phẩm mới do NVNT xuất bản khởi đầu từ năm 2015 đến 2025. 3 tác phẩm mới nhất trong năm 2025 là Những Đứa Trẻ Lạc Loài dưới dạng flipbook. Tam cá nguyệt san NVNT số 1 và 2 dưới dạng flipbook. Những Con Chim Họa My và Sơn Ca Trong Vườn Cây NVNT & TTG và Tuyển tập Tưởng Nhớ GS Nguyễn Xuân Vinh.
    5. Mở lớp âm nhạc online cho các thành viên năm 2023 do Ca Nhạc Sĩ Minh Trí đảm trách.
    6. Mở lớp huấn luyện kỹ thuật năm 2025 gồm: Cách sử dụng Chat GPT; Photo Editing: chỉnh sửa hình ảnh; Canva 101: trình bày poster, card, bookcover, flipbook, layout, kênh Youtube; Suno: kỹ thuật sáng tác nhạc.
    7. Phụ trách chương trình “talkshow” Nhân Văn Nghệ Thuật trên đài Vietnam America Television năm 2025.
    8. Thành lập Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa, tháng 6 năm 2025.
    9. Xuất bản Tam Cá Nguyệt San Nhân Văn Nghệ Thuật 1 & 2m do sự kết hợp của hai nhóm NVNT & TTG và Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa năm 2025 dưới dạng Flipbook
    10.  Tổ chức các chuyến du lịch tại: Mexico, Pháp, Arizona, Las Vegas, Napa Valley, Nhật Bản, Đại Hàn, Caribbeans.

    VĂN NGHỆ PHẤN I:

    Đây là phần văn nghệ rất đặc biệt được trình diễn những nhạc phẩm do các thành viên của nhóm NVNT & TTG sáng tác; đồng thời quan khách cũng được thưởng thức những món ăn ngon thơm lừng do nhà hàng Seafood Diamond 3 phục vụ. Cùng lúc ấy, giai điệu luân vũ nhẹ nhàng vui tươi đã trổi lên trong ca khúc đầu tiên:

    1. Bạn Bè Của Tôi – thơ nữ sĩ Dương Hồng Anh do ca nhạc sĩ Lâm Dung phổ nhạc và hòa âm qua điệu valse, với phần hợp xướng của nhóm NVNT & TTG. Ca khúc này đã trở thành NVNT & TTG HÀNH KHÚC từ năm 2019.
    • Dòng Sông Muôn Thuở – thơ và nhạc của nhà văn Kiều qua thể điệu luân vũ uyển chuyển, trữ tình… gợi lại âm vang của bản nhạc nổi tiếng Danube Bleu do Johann Strauss II sáng tác 1867; gợi nhớ hình ảnh dòng sông Danube xanh biếc…mang ‎y nghĩa tôn vinh vẻ đẹp thiên nhiên cũng như tình yêu cuộc sống. Nhạc phẩm này do Kiều My trình bày.
    • Bay Theo Dải Ngân Hà – Thơ Trần Việt Hải; nhạc Phạm Hồng Thái qua giọng hát của nhà văn Phạm Gia Đại. Bản nhạc này để tưởng nhớ Gs. Khoa học gia tài ba Nguyễn Xuân Vinh, người đã mang lại niềm hãnh diện cho dân tộc Việt.
    • Cô Gái Việt Nam – Thơ Khánh Lan, nhạc sĩ Phạm Hồng Thái phổ nhạc do Ngọc Quỳnh và Ái Liên trình bày. Bài hát đề cao người phụ nữ Việt Nam với tâm hồn trong sáng, nhu mì, thùy mị, vui tươi và chung thủy.  
    • Hạ Long Bay – Thơ John Tạ, do nhạc sĩ Vinh Nguyễn phổ nhạc. Phiên bản tiếng Anh do Thụy Lan trình bày. Trong cuộc du lịch Vịnh Hạ Long, nhà thơ John Tạ đã say mê vẻ đẹp thiên nhiên vào đêm trăng của vịnh, mà bài thơ Hạ Long Bay được sáng tác.
    • Thương Em – thơ và nhạc của nhà văn Dương Viết Điền qua tiếng hát Ái Liên. “Thương em anh nhìn mây trời, chiều buồn hoang vắng đơn côi. Thương em thương mãi suốt đời, dù rằng không nói một lời. Tình chiều chắp cánh bay rồi, ôi buồn thương nhớ đầy vơi.” Thật cảm động!
    • Hai Vì Sao Lạc – Thơ thi sĩ Lê Nguyễn Nga, phổ nhạc Hạnh Cư qua phần trình bày của Ngọc Quỳnh. “Mắt em đôi.. sao-sáng Rơi vào tâm hồn anh. Nhìn hai vì sao-lạc. Thương em tình mong-manh. Sao trời đẹp  hơn tranh.Bên em, anh mơ tưởng.Ôm em vòng tay-ấm. Tóc em ngát mùi-hương…”

    Lệ Hoa, Gs. Mai Thanh Truyết, Nv. Vương Trùng Dương, Ông Hoàng Khuê, Thụy Lan, Xuân Mai

    Nv. Kiều My, Gs. Mai Thanh Truyết, Nv. Khánh Lan, Nv. Việt Hải

    Khánh Lan và ông bà John & Susan Tạ, Chủ tịch công ty dược thảo Princesslife

    Chị Kim Ngân, Giám Đốc Viện Việt Học và Nữ Sĩ Dương Hồng Anh

    Gs. Phạm Hồng Thái, Nv. Du Miên, Nv. Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa

    Hàng đứng: Gs. Trần Mạnh Chi, Gs. Phạm Hồng Thái, CNS Hồng Tước. Hàng Ngồi: Thi sĩ Quỳnh Giao, Ns. Lê Nguyễn Nga, Ns. Dương Hồng Anh

    Giờ đây trên sân khấu, màn ca vũ Thoi Tơ do các diễn viên trong trang phục tứ thân của nhóm Mây Thu trình diễn; gồm có: Ánh Tuyết, Bá Thu, Cẩm Loan, Cẩm Tú, Ngọc Tuyết, Trực, Hòa …qua tiếng hát tuyệt vời của ca sĩ Ngọc Mai trong bản Thoi Tơ của nhạc sĩ Đức Quỳnh…rất ngoạn mục đã gây cho quan khách sự thích thú vô cùng.

    Nhóm vũ Mây Thu với nhạc phẩm Thoi Tơ

     Và Ca sĩ Ngọc Mai

    Tiếp theo, với giọng ngâm đầy truyền cảm, nhà văn Khánh Lan diễn ngâm bài thơ Tin Mừng Văn Học do nữ sĩ Dương Hồng Anh sáng tác.

    Tin mừng văn học niềm vui mới

    Kỷ niệm vàng son đã đến rồi

    Tôi thấy hồn tôi xao xuyến quá

    Nhạc thơ bừng sáng bốn phương trời

    Kỷ niệm 10 năm thành lập hội

    Nhân Văn Nghệ Thuật Tiếng Thời Gian

    Chim đầu đàn anh Trần Việt Hải

    Vẫn miệt mài chẳng quản gian nan

    Đem tim óc đắp xây văn học

    Tao nhân mặc khách lại thêm đông

    Nhạc thơ ra sách mừng sinh nhật

    Tiến bước văn chương đẹp hội trường

    Hân hoan chào đón trăm bạn mới

    Lấp lánh sao bay rực rỡ đèn

    Ánh mắt thân thương cùng chia sẻ

    Tâm tình văn nghệ khắc trong tim.

    Nhân ngày kỷ niệm thành lập liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, Thi sĩ Tha Nhân có gởi bài thơ góp vui cùng Việt Hải và các thân hữu nhân ngày kỷ niệm 10 năm. Bài thơ đã được Ngọc Quỳnh diễn ngâm.

    KỶ NIỆM MƯỜI NĂM THÀNH LẬP NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT VÀ TIẾNG THỜI GIAN 

    KỶ vật em trao lúc mở đường

    NIỆM điều nhân bản hãy còn vương

    MƯỜI lăm mười sáu dài thêm nữa

    NĂM đó lần đầu để khai trương

    THÀNH bại trải qua rồi đứng vững

    LẬP nên nền móng giữ Văn Chương

    NHÂN cơ hội tốt gìn Chữ Nghĩa

    VĂN hóa Việt Nam sẽ vĩnh trường

    NGHỆ sĩ khắp nơi tể tựu hội

    THUẬT mời gọi phô diễn yêu thương

    VÀ người lèo lái đầy tâm huyết

    TIẾNG dội xa gần khắp bốn phương

    THỜI khắc đang cần cho phát triển

    GIAN nan nào sá dẫu thơm Hương!                

    ThaNhân cảm tác góp vui với Việt Hải và quý thân hữu. Camthành August 24th, 2025

    Thi sĩ Hà Phương cũng gởi tặng một bài thơ nhưng rất tiếc chúng tôi không có đủ thời gian để diễn ngâm.

    CHÚC MỪNG “THẬP NHIÊN HỘI” (NVNT & TTG)

    Biết bao năm, quê nhà cách biệt

    Nhớ tre làng nhớ mái nhà xưa

    Sợi thương, sợi nhớ đong đưa

    Hồn dân tộc trong tình thơ Ý nhạc

    Đã bao năm, quê người xứ lạ

    Bên nhau ngọt bùi với thời gian

    Chung lòng, chung sức hân hoan

    Văn hóa Việt ta đồng thanh tương ứng

    Quê hương còn đó

    Canh cánh bên lòng

    Bờ Tây mắt bờ Đông

    Bao nhiêu thương nhớ

    Chất chồng bao đêm

    Hôm nay, tâm lắng ưu phiền

    Tao nhân mặc khách trải niềm xa quê

    Dù cho còn lắm  bộn bề

    Nhân văn nghệ thuật cũng về chung vui

    Hà Phương cảm tác, Anaheim, 20-08-2025

    Một tiết mục rất hấp dẫn gây sự chú ‎ý của mọi người trong bản nhạc Every Litle Thing Của Carlene Carter, qua sự ca hát và đệm đàn Tây Ban Cầm của tam ca Minh Thư, Thúy Giao và Hồng Phúc trong y phục “cao-bồi Bolsa” rất ngoạn mục. 

    Tam ca Thúy Giao, Hồng Phúc, Minh Thư trong nhạc phẩm Every Litle Thing

    Sau đó, ca sĩ Ngọc Quỳnh diễn ngâm thật điêu luyện bài thơ KỶ NIỆM MƯỜI NĂM THÀNH LẬP do thi sĩ Tha Nhân sáng tác với thiện ý của tác giả “ThaNhân cảm tác góp vui với Việt Hải và quý thân hữu nhân ngày kỷ niệm 10 năm thành lập.”

     VĂN NGHỆ KHIÊU VŨ PHẦN II

    Bước vào phần II của văn nghệ, ban hợp xướng NVNT & TTG đã làm sống dậy dư âm của mùa hè quê nhà trong ca khúc Hè Về vui tươi sống động của nhạc sĩ Hùng Lân. Tiếp diễn, là màn Line Dancing trong thể điệu chachacha, qua nhạc phẩm Sway do các thành viên NVNT & TTG trình diễn với tiếng hát mạnh mẽ của nam ca sĩ Mạnh Bổng.

    Line dance with Ánh Tuyết, Thúy Giao, Minh Thư, Hồng Phúc và Bá Thu

    Màn trình diễn cuốn hút với ngũ ca: Thụy Lan, Lệ Hoa, Minh Thư, Hồng Phúc và Thúy Giao trong một nhạc phẩm nổi tiếng của ban nhạc Bonni M mang tên Rivers Of Babylon, đã mang đến sự thích thú cho mọi người. Tiếp theo là những bản nhạc khiêu vũ trổi lên làm nao nức lòng người kéo nhau ra sàn nhảy với các thể điệu trữ tình, sôi động… cho đến cuối giờ.

    Ngũ ca Thụy Lan, Hồng phúc, Lệ Hoa, Thúy Giao, Minh Thư trong nhạc phẩm Rivers Of Babylon.

    Và sau cùng là dancing all night…

    Cuộc vui nào rồi cũng tàn! Mọi người chia tay ra về nhưng dư âm của buổi tiệc kỷ niệm vẫn còn vang vọng trong lòng người tham dự. Mười năm qua là một hành trình đáng tự hào, và mười năm tới hứa hẹn sẽ mở ra nhiều trang mới rực rỡ hơn. Với niềm tin, sự gắn bó và tình yêu nghệ thuật, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian chắc chắn sẽ tiếp tục tỏa sáng, chẳng những mang đến những giá trị nhân văn sâu sắc mà còn ghi lại dấu ấn bền lâu trong lòng mọi người.

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    Hội ái hữu Bến Tre, Kiến Hòa

    Khánh Lan tường trình

    Xin bấm vào hình trên để xem.

    Từ trái qua phải: Thanh Châu, Ngọc Lan, Khánh Lan, Anh Đào, Thanh Hằng

    Đã lâu lắm tôi mới tìm lại được một ngày cuối tuần với những niềm vui trọn vẹn như hôm nay (August 3, 2025). Thật vậy, có lẽ cũng đã hơn 7 năm trôi qua kể từ ngày tôi rời xa nhóm vũ Phù Sa, rời xa những người bạn thân thương cùng trang lứa với cùng một niềm đam mê văn nghệ. Ngày ấy, lũ chúng tôi còn đang ở trong lứa tuổi 50-60, cái tuổi mà người ta cho rằng sắp toan về  già, thế mà đối với chúng tôi thì đây mới chính là cái tuổi hoàn mỹ. Công thành danh toại … thì đã đến lúc phải “ăn chơi” thôi…

    Thời gian thấm thoát trôi qua, nhanh như một cơn gió thoảng. Đẩy lùi lại sau lưng Lũ chúng tôi mỗi đứa “riêng một góc trời” và tự chọn cho mình một niềm đam mê mới. Nhất là từ khi nhóm vũ Phù Sa tan rã, chúng tôi không còn có nhiều cơ hội để gặp nhau thường xuyên nữa. Bởi lẽ, lũ chúng tôi còn mải mê đeo đuổi niềm ước vọng khát khao của riêng mình. Phải chăng ấy chính là vị trí mà Thượng Đế đã dành cho lũ chúng tôi.

    Em Đi Xem Hội Trăng Rằm: màn vũ sau cùng với nhiều kỷ niệm đã để lại trong tôi nhiều xúc động với buồn nhiều vui ít, trước khi nhóm vũ Phù Sa tan rã. Màn vũ trình diễn tại Hội chợ Tết Sinh Viên, Orange County fairground. Từ trái qua phải: Thanh Châu, Khánh Lan, Ngọc Nga, Anh Khoa, Vĩnh Cửu, Thanh Hằng, Ngọc Lan, Băng Tâm.

    Từ trái sang phải: Băng Tâm, Thanh Châu, Hoài Anh, Ngọc Lan, Anh Khoa, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Ngọc Nga.

    Sau ngày nhóm vũ Phù Sa vĩnh viễn rời xa ánh đèn sân khấu, lũ chúng tôi mỗi đứa một nơi: Ánh Tuyết và Bá Thu lập nhóm vũ Mây Thu với những sinh hoạt khá rộng rãi qua những buổi trình diễn văn nghệ, ca vũ, đem niềm vui cuối tuần đến cho cộng đồng, cho các vị lão thành tại các viện dưỡng lão vùng Westminster, Garden Grove và khu Little Saigon. 

    Bá Thu & Ánh Tuyết (Ngồi quay tơ) và các vũ công của nhóm vũ Mây Thu

    Thanh Châu gia nhập nhóm Line dance và Hoài Anh ghi danh lớp guitar của nhạc sĩ Võ Tá Hân. Cả hai anh chị đều là thành viên kỳ cựu của ban hợp xướng Ngàn Khơi. Ngọc Lan và Anh Khoa là cánh tay phải của chị Thanh Mỹ thuộc hội ROF. Anh Sơn chị Đào, anh Cửu chị Thanh Hằng tham gia những buổi trình diễn văn nghệ trong cộng đồng, trong khi anh Hải Huyền Trang là chủ tịch của hội Bến Tre, Kiến Hòa và Băng Tâm đã lâu lắm tôi không gặp lại…

    Ôi! Những người bạn thân thương đã  để lại trong tim tôi nhiều kỷ niệm vui, buồn và khó quên…

    Tôi viết văn…

    Còn tôi, tôi đã chọn cho mình một hướng đi hoàn toàn trái ngược với niềm đam mê của mình ngày xưa. Tôi đã bỏ nhóm vũ để chọn nghề cầm bút, để ngày đêm miệt mài với những trang tiểu thuyết, biên khảo phê bình, làm thơ, học nhạc. Cái gì đã thay đổi trong tôi và đã xô ngã bức tường nghệ thuật trong tôi đến 180 như thế nhỉ? Phải chăng niềm đam mê văn nghệ trong tôi nay đã trở nên già nua theo ngày tháng? Hay con tim đã bắt đầu khô héo theo thời gian? Phải, tôi đã giã từ sân khấu để chọn con đường dùng ngòi bút để trải lòng mình.

    (?) Trời ơi quên tên bạn này mất rồi, Khánh Lan, Huyền Trang, Thanh Châu

    Đời có gì vui gặp lại bạn hiền (Ánh Tuyết, Thanh Châu, Anh Đào)

    Nắm tay nhau ca hát dưới trời xanh…..

    Gặp lại các bạn cũ khiến cho con tim tôi bỗng vui trở lại. Phải chính thế, tôi đã gặp lại những người bạn thân quý của tôi ngày xưa. Những Thanh Châu & Hoài Anh, Anh Đào & Sơn, Ngọc Lan  & Anh Khoa, Anh Hải &  Huyền Trang, Ánh Tuyết & Bá Thu, Thanh Hằng trong hai buổi họp mặt cuối tuần: Hawaii party tại nhà anh Ngọc Huỳnh và  hội ái hữu Bến Tre, Kiến Hòa.

    Hawaiian Party tại nhà của anh Ngọc Huỳnh: Bá Thu & Ánh Tuyết, Sơn & Anh Đào, Khánh Lan & Mạnh Bổng, Kim Thoa

    Hội chợ vui quá! Cái không khí của những ngày xưa thân ái trên quê hương Việt Nam trở lại trong ký ức mọi người chứ chẳng phải chỉ riêng tôi. Tiếng người rao kẻ bán, người mua rộn ràng như một buổi sáng họp chợ đón xuân.

    Quán chè trôi nước Cây Mống

    Quán nước xi-rô đá bào

    Bánh mì pate-chả lụa Vân-An

    LƯU LUYẾN CHIA TAY…

    Những kỷ niệm của ngày xưa cũ như sống lại trong chúng tôi, tiếng cười nói lại vang lên và ánh mắt trìu mến, thân thương trao cho nhau giữa những nụ cười nở rộ trên môi. Những bàn tay siết chặt, những cái ôm gắn bó như chẳng thể rời xa nhau.

    Ôi! Những người bạn thân quý của tôi ơi.

    “Đời có gì vui gặp lại bạn hiền, gặp gỡ nhau chuyện trò thân mật quá “.

    Khánh Lan, Mile Square Park, August 03, 2025

  • Sinh Hoạt,  Việt Hải

    MỪNG LỄ NGÂN KHÁNH CỦA NỮ TU THERESA THANH THẢO

    Trần Việt Hải tường trình

    Nữ tu Theresa Thanh Thảo

    May God continue to bless you with good health and fortune, so that you can continue to serve the Catholic Church with all your faith, love and hope. Congratulations to Sister Theresa Thanh Thảo on her 25th anniversary of a meaningful life of dedication!

    Bài này viết về một nữ tu Công giáo – Theresa Thanh Thảo. Ghi lại cột mốc thành tựu thứ 25 của bà trong hành trình truyền giáo từ thiện. (The write-up on the catholic sister Theresa Thanh Thảo of her 25th milestone of achievement in charity missionary journey.)

    Nhân dịp tham dự ngày lễ Ngân Khánh, kỷ niệm 25 năm khấn hứa trọn đời của nữ tu Theresa Thanh Thảo, thuộc Dòng Truyền Giáo Thánh Tâm Chúa Giêsu – MSC (Missionarii Sacratissimi Cordis) trong hành trình truyền giáo từ thiện. Nhìn dáng dấp bé nhỏ của vị nữ tu, nhưng lại có trái tim vị tha và lòng bác ái thật to lớn, khi quên bản thân mình để phục vụ cho những người kém may mắn khắp đó đây trên hành tinh này. Những việc bác ái từ thiện mà nữ tu Thanh Thảo đã thực hiện – như hương thơm của những đóa hoa ban mai lan tỏa vào không gian, vào lòng người…đã gây nên  nỗi xúc cảm ngập tràn, để tạo thành một bài viết mộc mạc mà người viết muốn chia sẻ cùng quy độc giả.

    Hôm nay ngày Chủ nhật 10 tháng 8 năm 2025, tại nhà hàng Paracel, tôi nhận thấy có sự tham dự của các vị Linh mục và các tu sĩ Công giáo, các hội đoàn, bạn hữu gần xa v.v…hân hoan đến chúc mừng nữ tu Theresa Thanh Thảo, là ái nữ của ông cố Hùng Ngọc…đã trải qua 25 năm hành trình tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa và tha nhân. Đây có thể nói là một việc phi thường được thực hiện bởi một người phụ nữ Việt Nam nhỏ nhắn và khiêm hạ.

    Chúng tôi, nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cũng đã góp mặt trong sự kiện đặc biệt này. Mc. Mộng Thủy thay mặt nhóm đã phát biểu những cảm nghĩ và chúc mừng soeur Thanh Thảo như sau:

    Kính thưa quy vị,

    Hôm nay, chúng ta cùng quy tụ nơi đây để chúc mừng một cột mốc thiêng liêng và đầy ý nghĩa kỷ niệm 25 năm đời sống tận hiến của Soeur Theresa Thanh Thảo.

    Hai mươi lăm năm không phải là một chặng đường ngắn. Đó là hành trình của sự kiên trì, tình yêu thương và lòng tận tụy không ngừng nghỉ. Qua bao thăng trầm, Soeur đã sống trọn vẹn với ơn gọi của mình, không ngừng trưởng thành trong đức tin và lan toả lời Chúa đến những người xung quanh.

    Soeur Theresa Thanh Thảo thân mến! Cuộc đời của Soeur trong suốt 25 năm qua là một bản hòa ca tuyệt vời của sự dịu dàng, mạnh mẽ và đầy lòng yêu thương. Soeur đã xây dựng nên những giá trị thiêng liêng trong đời sống cá nhân, trong sứ vụ và trong từng mối tương quan.

    Hôm nay, chúng ta cùng nhau tôn vinh một cuộc đời dâng hiến đầy ý nghĩa, một hành trình đã chạm đến trái tim của biết bao người, để lại những ký ức đẹp và là minh chứng sống động cho sự cống hiến chân thành.

    Thay mặt cho Liên Nhóm NVNT & TTG hiện diện hôm nay, Mộng Thuỷ xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Ông Cố Hùng Ngọc và toàn thể đại gia đình của Soeur Theresa Thanh Thảo. Xin cảm ơn Soeur đã là một tấm gương sáng ngời, sự khôn ngoan, lòng nhiệt thành và trái tim luôn hướng về Chúa.

    Nguyện xin Thiên Chúa tiếp tục gìn giữ và ban muôn ơn lành trên Soeur để Soeur tiếp tục phục vụ Giáo Hội Công Giáo với tất cả niềm tin yêu và hy vọng. Xin chúc mừng Soeur Theresa Thanh Thảo nhân dịp kỷ niệm 25 năm “Ngân Khánh Khấn Dòng”đời sống dâng hiến đầy ý nghĩa!

    Con xin trân trọng cảm tạ quý Cha, Ông Cố Hùng Ngọc và toàn thể quý vị. Chúc mừng Soeur Theresa Thanh Thảo.

    Tiếp theo, là phần trình bày của Katerine Le về ‎‎y nghĩa của 25 năm tận hiến của nữ tu Thanh Thảo:

    Dear Ladies and Gentlemen,

    Today, we gathered here to celebrate a significant and meaningful milestone—the 25th anniversary of Sister Theresa Thanh Thao’s dedicated life.

    Her journey has been a process of continuous exhibition, love, and grace. Through many ups and downs, Sister has lived her calling, constantly growing in faith and spreading God’s words to those around her.

    To Sister Theresa Thanh Thao, your life over the past 25 years has been a beautiful symphony of vulnerability, strength, and love. You have built spiritual values—in your personal life, in your ministry, and in your relationships with people. Today, we celebrate a meaningful dedicated life, an act that has touched the hearts of those who know, left beautiful memories, and is a living testament to sincere dedication.

    On behalf of the NVNT & TTG Group present today, Minh Thu would like to express our deep gratitude to Cố Hùng Ngọc and the entire family of Sister Theresa Thanh Thao. Thank you for being a shining example, for your intelligence, enthusiasm and heart that always turned to God.

    May God continue to bless you with good health and fortune, so that you can continue to serve the Catholic Church with all your faith, love and hope.

    Congratulations to Sister Theresa Thanh Thảo on her 25th anniversary of a meaningful life of dedication!

    …Chúa Cứu Thế Ngài đã giáng trần

    Vác Thập Giá chuộc tội trần gian

    Chúa ơi! Xin cứu rỗi hồn con

    Chúa nhân từ…huyền dịu trong tim con

    (Trích trong bài hát Tìm Về Bên Chúa của Việt Hải & Kiều My)

    Vài nét về sự thành lập của Dòng Truyền Giáo Thánh Tâm Chúa Giêsu

    Dòng Truyền giáo Thánh Tâm (viết tắt MSC) Dòng Truyền giáo Thánh Tâm Chúa Giêsu (MSC; tiếng Latinh: Missionarii Sacratissimi Cordis; tiếng Pháp: Missionnaires du Sacré-Coeur) là một dòng truyền giáo của Giáo hội Công giáo. Dòng được thành lập năm 1854 bởi Jules Chevalier tại Issoudun, Pháp, thuộc Giáo phận Bourges.

    Dòng Nữ tu Truyền giáo Thánh Tâm Chúa Giêsu (M.S.C. Sisters). Sự truyền giáo chia sẻ về sứ mệnh của các Nữ tu M.S.C. là “làm cho Chúa Giêsu được lưu tâm đến và yêu mến khắp mọi nơi” đã nói lên tinh thần truyền giáo của vị nữ tu Theresa Thanh Thảo. Soeur Theresa Thanh Thảo, CMRM đã viết bài tùy bút  về hành trình từ lúc vượt biển rời Việt Nam đến ơn gọi của mình như sau:

    Xưa và Nay – Mãi Mãi

    “Một chiếc thuyền lặng lẽ rời bến trong bóng tối ma quái vào một đêm cuối tháng 12 năm 1985, hướng về vịnh Thái Lan. Trên thuyền có hơn 50 người Việt Nam đủ mọi lứa tuổi. Lòng họ tràn ngập hy vọng rằng họ sẽ đến được miền đất hứa tự do bên ngoài Việt Nam.

    Một buổi sáng đẹp trời bắt đầu, bầu trời trong xanh và nắng ấm. Tất cả mọi người trên thuyền đều biết rằng không còn đường quay trở lại. Họ, hoặc sẽ đến nơi an toàn hoặc sẽ chết ở đâu đó giữa biển khơi mênh mông và khắc nghiệt. Nỗi sợ hãi về sự bất định và những điều chưa biết vẫn còn lởn vởn trong tâm trí họ. Liệu họ có đang đi đúng hướng? Liệu họ có sống sót? Liệu họ có bị bão ập đến hay đối mặt với những tên cướp biển tàn ác? Không ai có câu trả lời.

    Đối với gia đình họ Nguyễn và hàng trăm ngàn người đồng hương miền Nam Việt Nam, đó là khởi đầu của một cơn ác mộng kéo dài hàng thập kỷ – Cơn ác mộng đã dẫn đến một trong những cuộc di cư hàng loạt lớn nhất trong lịch sử hiện đại, khi những người tị nạn chính trị chạy trốn, năm này qua năm khác, trên những chiếc thuyền ọp ẹp qua Biển Đông.

    Vào ngày thứ ba của chuyến đi, mây đen bao phủ trên đầu và gió mạnh thổi vào chiếc thuyền gỗ nhỏ bé. Mặt biển tĩnh lặng bỗng trở nên khuấy động bởi những con sóng dữ dội đẩy thuyền lệch hướng. Không thấy bóng dáng đất liền đâu cả. Mọi người sợ hãi la khóc kêu cứu. Họ cũng đang cạn kiệt lương thực. Cá sống đã trở thành nguồn thực phẩm chính, nhưng ngay cả điều đó cũng rất hiếm hoi. Người ta đặc biệt có thể nghe thấy tiếng trẻ con khóc lóc đòi ăn trong khi cha mẹ chúng bất lực và thất vọng.

    Khi thuyền trôi vào vùng nước sâu hơn, một cơn bão lớn ập đến. Với mỗi cơn sóng, tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng chiếc thuyền sẽ chìm xuống đáy biển. Mọi người nôn ói lên nhau, mọi người la hét và khóc lóc… thật kinh khủng. Cơn bão kéo dài suốt đêm, và rồi tôi nghe thấy mọi người cầu nguyện và ca hát.

    Mọi người trên thuyền đều cầu nguyện theo cách riêng của họ… tất cả chúng tôi đều tụng kinh. Đột ngột – nó ập đến cùng một lúc. Đó là một âm thanh mà tôi sẽ không bao giờ quên. Từ xa, chúng tôi nghe thấy tiếng trực thăng; em trai út của tôi được bế lên cao để chứng minh rằng có trẻ em và phụ nữ dưới sàn thuyền. Họ cho chúng tôi nước ngọt và đá để uống. Cốc nước ngọt ấy ngon như thiên đường! Rồi họ chỉ đường cho chúng tôi về đất liền và con thuyền đã vượt qua cơn lũ lụt để đến đảo Thái Lan.

    Gia đình tôi rời thuyền để đối mặt với những thử thách to lớn tại trại tị nạn trong hai năm. Tôi đã chứng kiến sự quyết tâm của những người đàn ông, phụ nữ và trẻ em, những người đã liều lĩnh bỏ lại tất cả – từ nhà cửa, bạn bè, gia đình, thậm chí cả mạng sống – để có cơ hội được tự do. Chúng tôi đã vượt qua mọi khó khăn, mặc dù 1/3 số thuyền nhân Việt Nam đã chết trên biển do bị sát hại, bão tố, bệnh tật hoặc thiếu lương thực (theo báo cáo của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn).

    Vào mùa hè năm 1987, giấc mơ của tôi cuối cùng đã thành hiện thực khi gia đình tôi đến được Mỹ an toàn. Tôi lớn lên tại Tổng giáo phận Los Angeles. Giáo xứ quê hương của tôi là Giáo xứ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ở Claremont, California. Chính tại đây, tôi đã tham gia Phong Trào Thiếu Nhi Fatima; phong trào đã thấm nhuần trong tôi lòng sùng kính đặc biệt đối với Đức Maria và Kinh Mân Côi. Tôi tin chắc rằng việc lần hạt Mân Côi là một trong những điểm thu hút mạnh mẽ nhất đưa tôi đến sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Giêsu.

    Ave Maria! Con kính chào Mẹ!

    Kính mừng Maria, Kính mừng Maria

    Mẹ tràn đầy hồng phúc Chúa ban

    Ánh hào quang chiếu tỏa rạng ngời

    Con khiêm cung quỳ dưới chân Mẹ

    Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của chúng con

    Dâng lên Mẹ tràng hạt Mân Côi

    “Kính mừng Maria Mẹ đầy ơn phúc”…

                (Trích trong bản nhạc  Ave Maria! Kính Chào Mẹ của (Việt Hả i& Kiều My)

    Năm 1990, gia đình tôi chuyển đến Giáo xứ Thánh George ở Ontario, California. Tình yêu của tôi dành cho Chúa và Bí tích Thánh Thể đã lớn lên trong Phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam. Câu chuyện về những công trình phi thường của Chúa trong cuộc sống thường nhật của chúng ta là một mầu nhiệm mà ngôn từ chỉ có thể kể lại một phần nhỏ. Tiếng Chúa không được nghe một cách kịch tính; đúng hơn, giống như Ê-li, qua những làn gió nhẹ nhàng, dai dẳng. Tiếng Chúa dịu dàng đến nỗi phải mất nhiều năm tôi mới nhận ra Tiếng Gọi Thiêng Liêng này.”

    soeur Thanh Thảo tường thuật về nguyên do, hay căn nguyên nào mà soeur đã trải lòng dâng cuộc dời tu học theo Chúa Jesus, và những sinh hoạt nhân đạo bác ái giúp đời…

    “Tiếp theo là một cuộc hành hương đến Rôma—một chuyến viếng thăm trung tâm của Giáo hội trong Năm Thánh 2000. Được bao quanh bởi hàng ngàn người trẻ tràn đầy đức tin, khi tôi bước đi trên những con đường mà hàng ngàn vị thánh đã đi qua, tôi cảm thấy được củng cố và thực sự sống động.

    Đêm canh thức cầu nguyện với Thánh Gioan Phaolô II, tôi đứng giữa đám đông hành hương, lòng tràn ngập niềm vui được gặp gỡ Giáo hội sống động. Tôi nhìn thấy Chúa Giêsu trên khuôn mặt họ. Trong khi chờ đợi, cầu nguyện, trông chờ Đức Thánh Cha, Chúa Giêsu đã ban cho tôi ơn biết chắc điều Người đang xin nơi tôi và lòng can đảm để không quay lưng lại.

    Với bốn năm sống đời tu trì cùng các nữ tu thuộc Dòng Nữ tu Maria Nữ Vương Lòng Thương Xót, tôi càng yêu mến sâu sắc hơn đời sống cầu nguyện, giản dị, vui tươi và hiệp nhất của họ. Hơn thế nữa, tôi càng yêu mến Chúa Giêsu hơn.

    Vào ngày 10 tháng 6 năm 2008, tôi đã được hưởng một ân sủng vô biên và khó hiểu khi được kết hôn vĩnh viễn với Chúa Giêsu Kitô qua lời khấn khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Ngày này sẽ mãi mãi là ngày quan trọng nhất trong cuộc đời tôi. Đó là ngày tôi tự nguyện dâng hiến trọn vẹn con người mình cho Tình Yêu.”

    Cuối bài, phần kết luận, soeur Theresa Thanh Thảo viết như sau:

    “Suốt những năm tháng này, cuộc đời tôi vẫn tiếp tục là lời đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa và trải nghiệm tình yêu của Ngài. Lời mời gọi ấy mạnh mẽ đến nỗi người ta cảm thấy cần phải đáp trả bằng cách phó thác cuộc đời mình trong Tay Chúa. Đó là lời mời gọi chia sẻ cuộc đời và sứ mệnh của Chúa Giêsu; làm cho Ngài hiện diện trong thế gian bằng cách sống như Ngài đã sống: khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục.

    Trở thành một nữ tu không phải là lựa chọn của tôi một lần; đó là lựa chọn của tôi mỗi ngày! Trở thành và là người bạn đồng hành trung thành của Chúa Giê-su là cả một cuộc đời! Hôm nay, tôi hân hoan cảm tạ Chúa vì tình yêu thương trung thành của Ngài trong cuộc đời tôi và vì Lời Gọi của Ngài.”

    Soeur Theresa tâm sự thêm:

    “Sứ mệnh của chúng tôi tại Hội Truyền giáo Nữ tu Chúa Thánh Thần Hoa Kỳ cũng hiện diện qua Công tác truyền giáo.

    Công việc truyền giáo đã mang đến cho tôi nhiều bài học về việc rèn luyện tính kiên nhẫn. Mọi việc không phải lúc nào cũng diễn ra theo ý muốn của tôi với tư cách là một nhà truyền giáo. Trải qua những thời điểm khó khăn đã dạy tôi tính kiên nhẫn và khả năng đối phó với những tình huống khó khăn. Nó giúp tôi cân bằng giữa trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm cá nhân. Kinh nghiệm này giúp tôi tập trung vào những điều quan trọng vĩnh cửu, chứ không chỉ trong khoảnh khắc hiện tại. Gia đình tôi và tôi đã được ban phước vô cùng nhờ kinh nghiệm truyền giáo của tôi.

    Ở đây, người dân có rất ít của cải vật chất, nhưng họ vẫn hạnh phúc và hài lòng với hoàn cảnh của mình. Công việc này rất mệt mỏi vì sự gắn bó về mặt tình cảm của tôi với công việc mình đang làm, và cũng vì có rất nhiều thất vọng. Thật đáng buồn khi chứng kiến những giáo dân ở các giáo xứ khác nhau không sống đúng với đức tin của họ. Nhưng mọi nỗi tuyệt vọng mà tôi trải qua đều tan biến khi tôi làm việc với những trẻ em khao khát Tin Mừng của Chúa và tràn đầy niềm vui. Thời gian tôi ở bên các em thật sự rất bổ ích, và tôi đã trưởng thành và học hỏi được rất nhiều điều về những người đến từ một nền văn hóa hoàn toàn khác, về thế giới, về nhà thờ, về các vị lãnh đạo, về chính bản thân tôi, và về những điều tôi thực sự tin tưởng. Bất chấp mọi thử thách, tôi vẫn tiếp tục công việc truyền giáo của mình – gieo mầm và để Chúa lo liệu phần còn lại.”

    (Soeur Theresa Thanh Thảo Nguyễn, SSpS), Hội bác ái Servants of the Holy Spirit of Perpetual Adoration (SSpSAP), Những tu sĩ phục vụ Chúa Thánh Thần hằng vĩnh cửu (SSpSAP).

    Hallelujah…Hallelujah

    Chúa uy nghi thắp sáng tầng trời

    Bằng những lời yêu thương

    Ban bình an cho người trần

    Hồn con bao ngày khắc khoải

    Như đất khô chờ cơn mưa rào

    Chúa gọi con trở về bên Chúa

    Chúa ơi! Con đã về đây!

    Hồn con nhẹ nhàng gần kề bên Chúa…

    (Trích trong bản nhạc Hallelujah…Hallelujah của Việt Hải & Kiều My)

    Ơn gọi của Chúa là gì?

    (What is a Christian Vocation?)

    Nói một cách đơn giản nhất, “ơn gọi” có nghĩa là một “lời kêu gọi”. Nói chung, ơn gọi của bạn là những gì Chúa kêu gọi bạn thực hiện trong cuộc đời mình. Mọi người đều được kêu gọi để biết, yêu thương và phụng sự Chúa trong cuộc sống này, để được hạnh phúc mãi mãi với Ngài trên thiên đàng. Tuy nhiên, mỗi người thực hiện điều này trong một ơn gọi riêng biệt, chẳng hạn như hôn nhân, đời sống tu trì, hoặc chức linh mục.

    Cuối cùng, việc khám phá ơn gọi của bạn là một quyết định được đưa ra thông qua cầu nguyện, nhưng cũng đòi hỏi một quyết định sáng suốt, bao gồm cả lời khuyên từ bạn bè, gia đình và các vị lãnh đạo tinh thần đáng tin cậy. Trang này cung cấp tài liệu cho những ai đang cân nhắc ơn gọi sống đời thánh hiến, tu trì hoặc linh mục.

    Tiến trình ơn gọi:

    Chúa đã ban cho bạn một trái tim rộng mở với những chân trời rộng mở; đừng ngại dấn thân trọn vẹn cuộc đời để phục vụ Chúa Kitô và Tin Mừng của Người! Hãy lắng nghe Người như Người đã nói một lần nữa hôm nay: “Lúa chín đầy đồng, nhưng thợ gặt thì ít.”

    Khi nhận ra rõ ràng ơn gọi đến từ Thiên Chúa, con người cảm nhận được sự bất toàn của chính mình. Thậm chí, con người còn cố gắng tự vệ trước trách nhiệm của ơn gọi này. Và vì vậy, gần như không mong muốn, ơn gọi trở thành một cuộc đối thoại nội tâm với Thiên Chúa; và đôi khi, thậm chí còn dẫn đến một cuộc chiến với Ngài. Đối mặt với sự do dự và những khó khăn mà lý trí con người đặt ra, Thiên Chúa ban tặng sức mạnh ân sủng của Ngài. Và nhờ sức mạnh của ân sủng này, con người có thể hoàn thành ơn gọi của mình.

    Hãy trả lời bằng một tiếng “Vâng!” đầy đức tin. Nên nhớ:  Ơn gọi luôn đi kèm với những khó khăn.

    Khi một vị nữ tu dâng đời mình cho Ơn gọi của Thiên Chúa, hẳn cũng nên đề cập về sự hy sinh, dâng hiến cuộc đời của Mẹ Teresa cho Thiên Chúa.

    Tiểu sử về Mẹ Teresa.

    Maria Teresa Bojaxhiu MC (còn được gọi là thánh Teresa thành Kolkata; tên khai sinh là Anjezë Gonxhe Bojaxhiu; phát âm tiếng Albania: [aˈɲɛzə ˈɡɔndʒɛ bɔjaˈdʒi.u]; 26 tháng 8 năm 1910 – 5 tháng 9 năm 1997), được biết rộng rãi với danh hiệu Mẹ Teresa, là một nữ tu và nhà truyền giáo Công giáo Roma người gốc Albania, Ấn Độ.

    Bà sinh tại Skopje (thủ đô Cộng hòa Bắc Macedonia ngày nay), khi đó thuộc Đế quốc Ottoman. Sau khi sống ở Macedonia trong 18 năm, bà tới Ireland rồi Ấn Độ, nơi bà sống trong phần lớn cuộc đời còn lại. Bà sáng lập Dòng Thừa sai Bác Ái tại Kolkata (Calcutta), Ấn Độ năm 1950. Trong hơn bốn mươi năm, bà chăm sóc người nghèo, bệnh tật, trẻ mồ côi, người hấp hối, trong khi hoàn tất nhiệm vụ lãnh đạo dòng tu phát triển khắp Ấn Độ, và đến các quốc gia khác.

    Năm 1970, Mẹ Teresa trở thành một nhân vật toàn cầu nổi tiếng với các hoạt động nhân đạo cứu giúp người nghèo và những người sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, một phần là nhờ một quyển sách và cuốn phim tư liệu tựa đề Something Beautiful for God của Malcome Muggeridge. Bà được trao Giải Nobel Hòa bình năm 1979 như một vinh danh cho các hoạt động nhân đạo của bà.

    Cuối đời của Mẹ Teresa

    Mẹ Teresa bị cơn đau tim khi đến Rôma năm 1983 trong chuyến viếng thăm Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Sau cơn đau tim thứ hai năm 1989, bà được đặt máy tạo nhịp tim nhân tạo. Năm 1991, sau khi mắc bệnh cúm lúc đang ở Mexico, bệnh tim trở nặng. Bà muốn từ nhiệm khỏi vị trí lãnh đạo Dòng Thừa sai Bác ái, nhưng các nữ tu, trong một cuộc bỏ phiếu kín, yêu cầu bà ở lại. Mẹ Teresa đồng ý tiếp tục công việc lãnh đạo dòng tu.

    Tháng 4 năm 1996, bà bị té ngã gãy xương đòn, rồi phải qua lần phẫu thuật tim, sức khỏe bà suy giảm rõ. Ngày 13 tháng 3 năm 1997, Mẹ Teresa từ chức lãnh đạo dòng tu, và từ trần ngày 5 tháng 9 năm 1997.

    Mẹ Teresa – Vị thánh của những người khốn khổ

    Khi còn sống, Mẹ Teresa luôn trăn trở về việc giúp đỡ người nghèo khó, yếu thế và bà đã dành cả cuộc đời để phụng sự mục tiêu này. Cha bà là doanh nhân thành đạt còn mẹ là một bà nội trợ. Ngay từ nhỏ, Teresa đã là một cô bé chu đáo và thích giúp đỡ người khác. Mẹ bà cũng là một phụ nữ giàu lòng trắc ẩn và sùng đạo. Mẹ Teresa khiêm cung phát biểu:

    “Nếu tôi trở thành một vị thánh, tôi chắc chắn sẽ là vị thánh ‘bóng tối’, liên tục vắng mặt trên Thiên đường để chiếu rọi ánh sáng cho những người chìm đắm trong bóng tối ở Trái Đất”, Mẹ Teresa từng nói. Đây có thể được coi là triết lý sống của cuộc đời bà: Phụng sự vì người yếu thế.”

    Đức Tin của Mẹ là nền tảng của tất cả những gì Mẹ làm. Theo Mẹ, cuộc sống của Mẹ và của các tu sĩ Dòng Thừa Sai Bác Ái tập trung vào Thánh Thể và lời cầu nguyện. Mẹ giải thích: “Chúa ban cho chúng ta Thánh Thể để làm tình yêu đó được sống động hơn, chắc chắn hơn, dịu dàng hơn. Đó là lý do các tu sĩ Dòng Thừa Sai Bác Ái được Thánh Thể nuôi dưỡng để trở thành người đưa tình yêu Chúa đến cho mọi người. Mẹ sống bởi Thánh Thể và nhờ đó  tâm hồn cũng như cuộc sống của Mẹ được hoà nhập với Thánh Thể. Không có tu sĩ Dòng Thừa Sai Bác Ái nào có thể trao ban Chúa Giêsu cho người khác nếu người đó không có Chúa Giêsu trong lòng mình.” (Không có tình yêu lớn hơn, 114-115).

     Lời Cầu Nguyện của Mẹ Teresa:

    Lạy Chúa Giêsu,  xin giúp con lan tỏa hương thơm của Chúa  tới khắp nơi con đi. Xin cho linh hồn con được tràn ngập  với tinh thần và tình yêu của Chúa. Xin Chúa chiếm ngự và sở hữu toàn bộ con người con để tất cả cuộc sống của con  là sự vinh hiển của Ngài. Xin Chúa tỏa sáng qua con, và như thế mọi linh hồn con tiếp xúc  sẽ cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn con. Xin cho họ biết nhìn lên để không còn thấy con nữa mà thấy chỉ mình Chúa.  Xin ở lại với con để rồi con được tỏa sáng như Chúa, như  ánh sáng cho người anh em con. Amen.

    Những câu nói hay của Mẹ Teresa.

    Mẹ Teresa là một nhân vật nổi tiếng được nhiều người biết đến thông qua những câu nói sâu sắc. Vậy đó là những câu nói nào, cùng khám phá 31 câu nói hay của mẹ Teresa dưới đây như sau:

    I have found the paradox, that if you love until it hurts, there can be no more hurt, only more love.

    Tạm dịch: Tôi tìm ra một nghịch lý, rằng nếu bạn yêu sâu sắc tới mức đau đớn, sẽ chẳng thể có thêm đau đớn nữa, chỉ có càng thêm yêu

    Be faithful in small things because it is in them that your strength lies

    Tạm dịch: Hãy tận tâm với những điều nhỏ nhặt, bởi điểm mạnh của bạn nằm ở đó.

    Yesterday is gone. Tomorrow has not yet come. We have only today. Let us begin.

    Tạm dịch: Ngày hôm qua đã đi rồi. Ngày mai còn chưa tới. Chúng ta chỉ có hôm nay. Hãy bắt đầu thôi.

    I can do things you cannot, you can do things I cannot; together we can do great things.

    Tạm dịch: Tôi có thể làm điều bạn không thể, bạn có thể làm điều tôi không thể; cùng nhau, chúng ta có thể làm nên những điều lớn lao.

    What can you do to promote world peace? Go home and love your family.

    Tạm dịch: Bạn có thể làm gì để xây dựng hòa bình thế giới? Hãy về nhà và yêu thương gia đình của mình.

    Love begins at home; love lives in homes, and that is why there is so much suffering and so much unhappiness in the world today…Everybody today seems to be in such a terrible rush, anxious for greater developments and greater riches and so on, so that children have very little time for their parents. Parents have very little time for each other, and in the home begins the disruption of the peace of the world.

    Tạm dịch: Tình yêu bắt đầu ở nhà; tình yêu sống trong nhà và đó là vì sao thế giới hôm nay lại nhiều khổ đau và bất hạnh đến như thế… Con người ngày nay dường như ai cũng quá vội vã, lo lắng muốn đạt được những bước tiến xa hơn và của cải nhiều hơn, và đại loại như thế, đến nỗi con cái có quá ít thời gian với cha mẹ mình. Cha mẹ chúng có quá ít thời gian dành cho nhau, và hòa bình thế giới bắt đầu bị chia cắt từ nơi mái ấm gia đình.

    If you judge people, you have no time to love them.

    Tạm dịch: Nếu bạn phán xét người khác, bạn chẳng còn thời gian để yêu thương họ nữa.

    We think sometimes that poverty is only being hungry, naked and homeless. The poverty of being unwanted, unloved and uncared for is the greatest poverty. We must start in our own homes to remedy this kind of poverty.

    Tạm dịch: Đôi khi chúng ta nghĩ nghèo khó chỉ là đói khát, thiếu mặc và vô gia cư. Sự nghèo khó bởi không đạt được mong muốn, không được yêu thương và không được quan tâm mới là sự nghèo khó lớn nhất. Chúng ta phải bắt đầu từ mái ấm của chính mình để cứu chữa loại nghèo khó này.

    The most terrible poverty is loneliness and the feeling of being unloved.

    Tạm dịch: Sự nghèo khó khốn cùng nhất là nỗi cô đơn và cảm giác không được yêu thương.

    Do not think that love, in order to be genuine, has to be extraordinary. What we need is to love without getting tired.

    Tạm dịch: Đừng nghĩ rằng phải thật phi thường để có thể yêu chân thật. Điều chúng ta cần là yêu không mỏi mệt.

    Joy is prayer; joy is strength: joy is love; joy is a net of love by which you can catch souls.

    Tạm dịch: Niềm vui là sự cầu nguyện; niềm vui là sức mạnh: niềm vui là tình yêu; niềm vui là một lưới tình yêu mà với nó bạn có thể bắt được những linh hồn.

    If we have no peace, it is because we have forgotten that we belong to each other.

    Tạm dịch: Nếu chúng ta không có bình yên là do chúng ta đã quên mất mình thuộc về nhau.

    Love begins at home, and it is not how much we do… but how much love we put in that action.

    Tạm dịch: Tình yêu bắt đầu từ gia đình, và không phải là chúng ta làm bao nhiêu … mà là chúng ta đặt bao nhiêu tình yêu vào hành động đó.

    Even the rich are hungry for love, for being cared for, for being wanted, for having someone to call their own.

    Tạm dịch: Ngay cả những người giàu cũng khao khát được yêu, được chăm sóc, được khao khát, được có người gọi là của riêng họ.

    Love is a fruit in season at all times, and within reach of every hand.

    Tạm dịch: Tình yêu là loại quả của cả bốn mùa, và nằm trong tầm với của mọi bàn tay.

    Love begins by taking care of the closest ones – the ones at home.

    Tạm dịch: Tình yêu bắt đầu bằng việc chăm sóc những người thân nhất – những người thân ở nhà.

     Những câu nói hay của mẹ Teresa về việc cho đi

    Không gì đẹp đẽ hơn sự vị tha, lòng nhân ái và biết cho đi, mẹ Teresa là một người có tấm lòng nhân hậu luôn giúp đỡ người khác. Để năng lượng tích cực này đến với mọi người, chúng ta sẽ cùng đọc qua những câu nói hay của mẹ Teresa về việc cho đi ngay dưới đây nhé.

    Let us always meet each other with smile, for the smile is the beginning of love.

    Tạm dịch: Chúng ta hãy luôn gặp nhau với nụ cười, bởi nụ cười là điểm bắt đầu của yêu thương.

    It’s not how much we give but how much love we put into giving.

    Tạm dịch: Quan trọng không phải chúng ta cho đi bao nhiêu, mà là chúng ta dành bao nhiêu sự yêu thương để cho đi.

    Spread love everywhere you go: first of all in your own home. Give love to your children, to your wife or husband, to a next door neighbor… Let no one ever come to you without leaving better and happier. Be the living expression of God’s kindness; kindness in your face, kindness in your eyes, kindness in your smile, kindness in your warm greeting.

    Tạm dịch: Hãy trao tặng tình yêu thương bất cứ nơi đâu bạn tới: trước tiên trong chính mái ấm của mình. Hãy yêu thương con cái, bạn đời, và cả những người hàng xóm… Đừng để ai tới với bạn mà không rời đi tốt đẹp hơn và hạnh phúc hơn. Hãy là hiện thân sống động cho lòng nhân ái của Chúa trời bằng cách thể hiện lòng nhân ái trên gương mặt, trong ánh mắt, trong nụ cười và cả trong những lời chào nồng ấm.

    Not all of us can do great things. But we can do small things with great love.

    Tạm dịch: Không phải tất cả chúng ta đều làm được những điều vĩ đại. Nhưng chúng ta có thể làm những điều nhỏ nhặt với tình yêu vĩ đại.

    Good works are links that form a chain of love.

    Tạm dịch: Việc tốt là những mắt xích tạo nên sợi xích tình yêu.

    We ourselves feel that what we are doing is just a drop in the ocean. But the ocean would be less because of that missing drop.

    Tạm dịch: Chúng ta cảm thấy điều chúng ta đang làm chỉ là một giọt nước trong đại dương. Nhưng đại dương sẽ ít hơn chỉ bởi thiếu đi giọt nước ấy.

    Kind words can be short and easy to speak but their echoes are truly endless.

    Tạm dịch: Lời tử tế ngắn gọn dễ nói nhưng âm vang của nó thực sự vô tận.

    Every time you smile at someone, it is an action of love, a gift to that person, a beautiful thing.

    Tạm dịch: Mỗi khi bạn cười với ai đó, đó là một hành động của yêu thương, một món quà, một điều đẹp đẽ.

    Let no one ever come to you without leaving better and happier. Be the living expression of God’s kindness: kindness in your face, kindness in your eyes, kindness in your smile.

    Tạm dịch: Đừng để ai đến với bạn rời đi phải tốt đẹp hơn và hạnh phúc hơn. Hãy là sự truyền đạt sống động cho lòng nhân từ của Chúa trời: lòng tốt trên gương mặt, lòng tốt trong đôi mắt, và lòng tốt trong nụ cười.

    I alone cannot change the world, but I can cast a stone across the waters to create many ripples.

    Tạm dịch: Một mình tôi không thể thay đổi thế giới, nhưng tôi có thể ném hòn đá lên mặt nước để tạo nhiều gợn sóng.

    If you can’t feed a hundred people, feed just one.

    Tạm dịch: Nếu bạn không thể làm trăm người đỡ đói, thì chỉ cần giúp một người mà thôi.

    None of us, including me, ever do great things. But we can all do small things, with great love, and together we can do something wonderful.

    Tạm dịch: Không ai trong chúng ta, kể cả tôi, làm được những điều vĩ đại. Nhưng tất cả chúng ta đều có thể làm được những điều nhỏ nhặt, với tình yêu lớn lao, và cùng nhau, chúng ta có thể làm được điều gì đó tuyệt vời.

    Spread love everywhere you go. Let no one ever come to you without leaving happier.

    Tạm dịch: Hãy lan tỏa tình yêu thương đến mọi nơi bạn đến. Để không ai đến với bạn mà không hạnh phúc hơn.

    We shall never know all the good that a simple smile can do.

    Tạm dịch: Chúng ta sẽ không bao giờ biết được tất cả những điều tốt đẹp mà một nụ cười đơn giản có thể làm được.

    If you want a love message to be heard, it has got to be sent out. To keep a lamp burning, we have to keep putting oil in it.

    Tạm dịch: Nếu bạn muốn một thông điệp tình yêu được lắng nghe, nó phải được gửi đi. Để giữ cho một ngọn đèn cháy, chúng ta phải tiếp tục châm dầu vào nó.

     Nhà kinh tế học vĩ đại Adam Smith và những câu nói bất hủ theo thời gian:

                  –  Tác động tích cực đến từ những câu nói hay của mẹ Teresa

    Mặc dù đã xuất hiện từ rất lâu nhưng cho đến hiện tại những câu nói hay của mẹ Teresa vẫn được rất nhiều người trích dẫn. Thậm chí nó còn được xem như một “cuốn sách chỉ đường” giúp người đọc có được động lực và cái nhìn đúng đắn hơn trong cuộc sống.

                 –  Tạo động lực cho người đọc

    Với tư cách là một người luôn cho đi cũng như là người sáng lập của một tổ chức từ thiện. Những câu nói hay của mẹ Teresa sẽ là nguồn động lực để bạn vượt qua những lúc khó khăn và muốn từ bỏ.

    Ai cũng biết việc giúp đỡ mọi người nhưng không nhận lại được gì là điều không hề dễ dàng. Vì vậy, dù là ở đâu hay bất kỳ lúc nào bạn cảm thấy mệt mỏi và chán nản thì hãy đọc qua những câu nói của mẹ Teresa vì nó có thể thúc đẩy và làm bạn cảm thấy tốt hơn.

                   -Truyền tải cảm hứng đến người đọc

    Mẹ Teresa là một người có lòng nhân ái, luôn giúp đỡ mọi người khi họ gặp khó khăn mà chẳng mong được đền đáp lại. Mẹ Teresa đã dùng cả cuộc đời của mình để mang đến hạnh phúc cho mọi người, đây cũng chính là sự nghiệp mà mẹ Teresa vẫn luôn theo đuổi.

    Tóm lược: những vị nữ tu như Mẹ Teresa hay soeur Theresa Thanh Thảo có những điểm chung như hy sinh cuộc đời mình cho tha nhân, họ có lòng vị tha bác ái, cho đi ơn phước mà không cầu báo.

    Thật vậy, cuộc đời của Mẹ Teresa, Soeur Theresa Thanh Thảo, hay nhiều vị nữ tu khác chính là tấm gương sáng và hình ảnh đẹp truyền tải cảm hứng đến tất cả mọi người. Chúng ta hãy sống và giúp đỡ những người xung quanh một cách tình nguyện mà không mong nhận lại bất kỳ điều gì. Nguyện xin nữ tu Theresa Thanh Thảo được  tràn đầy hồng ân Thiên Chúa để noi theo và vững bước trên con đường bác ái và hy sinh như Mẹ Thánh Teresa Calculta.

    (Trần Việt Hải, Los Angeles, ghi kỷ niệm, 10/ 18/2025.)

  • HUY ANH,  Khánh Lan,  TALK SHOW

    TALK SHOW KỲ 8

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em vào xem chương trình talk show kỳ 8 do Khánh Lan và Huy Anh thực hiện về sự thành lập, mục đích và những thành quả mà hội đã đạt được trong 10 năm qua (2015-2025) của Liên Nhóm NVNT & TTG và Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa. Đồng thời giới thiệu về ngày kỳ niệm 10 năm thành lập của hội.

    Khánh Lan và Huy Anh

    PHẦN I:

    PHẦN II:

    PHẦN III:

  • Cáo phó - Phân Ưu,  MINH ĐỨC,  Việt Hải,  Viết Về MẸ

    THƠ MẸ TRONG VĂN CHƯƠNG

    Tôi vốn thích văn thơ về Mẹ, nhất là dịp lễ vinh danh Hiền Mẫu, Mother’s Day. Ngày lễ của mẹ, thì trong năm cũng có một ngày để mỗi người con chúng ta dành thời gian để tôn vinh những đóng góp và sự hy sinh cao cả của người hiên mẫu, một người có công sinh thành và che chở cho cuộc đời những đứa con của Mẹ:

    Mẹ già như chuối chín cây,

    Gió đưa mẹ rụng con rày mồ côi.

    Và câu ca dao khác mang ỳ nghĩa hay không kém như sau:

    Đêm đêm con thắp đèn trời,

    Cầu cho Cha Mẹ sống đời với con.

    Nhà thơ Minh Đức có bài thơ về nghĩa Mẹ sinh thành,…

    Mẹ là biển cả thiêng liêng

    Như giòng sữa ngọt mẹ hiền từ tâm

    Bao năm khổ cực âm thầm

    Như gương từ mẫu Quan Âm tình tràn

    Cho con hạnh phúc bình an

    Mẹ là hùng vĩ kỳ quan muôn đời

    Nay con dâng mẹ đôi lời

    Thơ này kính tặng “Mẹ tôi!” nhân từ ,…

    (bài Mẹ Thiêng Liêng)

    Ngô Thiện Đức

    Trong bài văn bình luận thi ca văn học, “Phân Tích Bình Luận Câu Ca Dao” của nhà văn Huy Anh Đại Thành về tư tưởng “Công Cha Nghĩa Mẹ theo thi ý về câu nói từ thuở nằm nôi”, ông phân tích như sau:

    “Bên cạnh ngày lễ của mẹ, thì trong năm cũng có một ngày để mỗi người con chúng ta dành thời gian để tôn vinh những đóng góp và sự hy sinh cao cả của người hiên mẫu, một người có công sinh thành và che chở cho cuộc đời những đứa con thơ. Trong bài viết tri ân ngưuo7i mẹ, nhha2 văn Trần Trung Đạo cho cảm nghii4 như sau:

    “Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe “thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là trái tim người mẹ” Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.

    Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyết đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc.

    Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoát chiếc mền rách, như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đã từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn chờ đơi ngày về của đứa con mãi mê trên đường đi tìm chân lý. Nếu chân lý mà chàng trai trẻ kia đi tìm là tình thương và sự thật thì chân lý sẽ không ở đâu xa mà trái lại vô cùng gần gủi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm.”

    Mọi người nói chung dễ dàng đồng thuận một kỳ quan vĩ đại nhất của thiên nhiên vẫn là người hiền mẫu, như Trần Trung Đạo viết dáng mẹ hiền dù có nhỏ bé, gầy guộc, nhưng lòng của mẹ thương con cái chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm.”

    Tôi có bài thơ Mẹ đăng bài nhận dịnh thi tập “Ơn Mẹ Qua Thi Ca Mạc Phương ” như sau:

    Mẹ như vũ trụ bao la

    Mẹ ru giấc ngủ, Mẹ là quê hương

    Mẹ là suối ngọt tình thương

    Mẹ như sao sáng muôn phương ngút ngàn

    Nhớ Mẹ, con mãi miên man

    Cầu xin Mẹ mãi bình an suốt đời

    Đêm đêm con ngắm sao trời

    Ngân hà tinh tú thấu lời con xin

    Mẹ là ánh sáng bình minh

    Mẹ cho lẽ sống, bóng hình tương lai

    Mẹ như hy vọng sớm mai

    Mẹ ơi, chúc Mẹ vui ngày Mother’s Day.

    (VHLA, bài “Nhớ Mẹ”)

    Bài thơ Mẹ là tất cả -(của Lăng Kim Thanh)

    Mẹ là cơn gió mùa thu

    Cho con mát mẻ lời ru năm nào

    Mẹ là đêm sáng trăng sao

    Soi đường chỉ lối con vào bến mơ

    Mẹ luôn mong mỏi đợi chờ

    Cho con thành tựu được nhờ tấm thân

    Mẹ thường âu yếm ân cần

    Bảo ban chỉ dạy những lần con sai

    Mẹ là tia nắng ban mai

    Sưởi con ấm lại đêm dài giá băng

    Lòng con vui sướng nào bằng

    Mẹ luôn bên cạnh nhọc nhằn trôi đi

    Mẹ ơi con chẳng ước gì

    Chỉ mong có mẹ chuyện gì cũng qua

    Vui nào bằng có mẹ cha

    Tình thâm máu mủ ruột rà yêu thương

    Cho con dòng sữa ngọt đường

    Mẹ là ánh sáng vầng dương diệu kỳ

    Xua đêm tăm tối qua đi

    Mang mùa xuân đến thầm thì bên con.

    Bài thơ Lòng mẹ – (của Minh Lộc)

    Mẹ là tia nắng đời con

    Đêm ngày khổ cực héo mòn sắc xuân

    Bấy lâu mẹ đã thấm nhuần

    Những lọ gạo mắm đổi luân ở đời

    Lo từng giấc ngủ à ơi

    Mảnh quần vải áo những lời hát ru

    Nhiều hôm gió bão mịt mù

    Mái tranh dột nước phải thu lại gần

    Nhọc nhằn mẹ chẳng tiếc thân

    Gánh đời mẹ quẩy vai trần vẫn mang

    Những đêm lệ ướt hai hàng

    Giàu no ít đủ nghèo sang mẹ buồn

    Dẫu trời nắng đổ mưa tuôn

    Chẳng làm cho mẹ phải luôn cúi đầu

    Là con đừng để mẹ sầu

    Thương cha nhớ mẹ tháng ngâu tìm về.

    Nhân tang lễ của bà Elaine Ngô Thị Thu Cúc, bà Elaine Thu Cúc là bào tỷ của nhà thơ Minh Đức, và cũng là mẹ nuôi của các con ông. Do vậy, tôi xin gởi một bài thơ khác vể Mẹ của Minh Đức thi nhân dưới đây:

    Nhớ Mẹ

    Mẹ ơi! nhớ mẹ hoàng hôn

    Suốt đời vất vả chìu chồng nuôi con. 

    Công ơn dưỡng dục tựa non,

    Chín tháng mang nặng lại còn đẻ đau.

    Mẹ mang thai lớn thật mau,

    Sinh con, nuôi dưỡng mai sau giúp đời.

    Con nay tuy đã thành người,

    Bao năm con chỉ như thời trẻ thơ.

    Mẹ như hình ảnh tôn thờ

    Mẹ lo ăn mặc như thuở lên mười.

    Tình mẫu tử cao bằng trời,

    Công ơn cao cả suốt đời chẳng quên.

    Đêm Đêm khấn nguyện bề trên

    Cầu cho cha Mẹ sống đời với con

    Để con đền đáp công ơn

    Sinh thành dưởng dục non sơn cao này

    Mẹ già như chuối chín cây

    Gió lay mẹ rụng con rày mồ côi

    Mồ côi vắng mẹ sinh thời

    Đêm Đêm nhớ Mẹ phận đời nhiêu khê

    Nuôi con vất vả trăm bề

    Tình cha nghĩa mẹ hương quê ngày nào

    Vĩnh hằng một cõi trên cao

    Âm dương cách trở xa nhau mi trào

    Vũ trụ có một vì sao

    Mẹ hiền từ mẫu như sao sáng ngời

    Ca dao đồng ấu nhớ lời

    Sách xưa huấn dụ cả đời nhớ ơn

    “Công Cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ Mẹ kính Cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là Đạo con.”

    Ngô Thiện Đức

    Nhận được cáo phó tin buồn bà Elaine Ngô Thị Thu Cúc, bào tỷ của Trưởng  Minh Đức Ngô Thiện Đức, đã qui vị ngày 25 tháng 7 năm 2025. Tại Hoag Hospital, California, Hoa Kỳ.

    Hưởng thọ 67 tuổi

    Nguyện cầu Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng độ trì cho chơn linh của bà Ngô Thị Thu Cúc được nhẹ nhàng xuất hồn ra khỏi xác phàm và được cứu giúp siêu thăng về Cõi Diêu Trì Thiên Liêng Vĩnh Hằng.

    嗚 呼!

    一 息 不 回,

    千 秋 永 別.

    Hỡi ơi!

    Nhất tức bất hồi,

    Thiên thu vĩnh biệt.

    Tứ phước Thiên quan để những lời,

    Cầu chư tỷ muội lánh trần ngơi,

    Nêu gương cứu thế trong mai hậu,

    Đạo hạnh ngàn thu sáng lạng ngời.

    Chúng tôi thành kính chia buồn sâu sắc cùng toàn thể tang quyến. Cầu mong quý gia tang sớm vượt qua giai đoạn khó khăn này.

    Thành Kính Phân Ưu

    Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa, và

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.    

  • Cáo phó - Phân Ưu,  MINH ĐỨC,  Viet-Hải

    VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

    Nhận được cáo phó tin buồn bà Elaine Ngô Thị Thu Cúc, bào tỷ của Trưởng Minh Đức Ngô Thiện Đức, đã qui vị ngày 25 tháng 7 năm 2025. Tại Hoag Hospital, California, Hoa Kỳ

    Nguyện cầu Đức Chí Tôn và các Đấng thiêng liêng độ trì cho chơn linh của bà Ngô Thị Thu Cúc được nhẹ nhàng siêu thăng về Cõi Diêu Trì Thiên Liêng Vĩnh Hằng.

    Hỡi ơi!

    Nhất tức bất hồi,

    Thiên thu vĩnh biệt.

    Tứ phước Thiên quan để những lời,

    Cầu chư tỷ muội lánh trần ngơi,

    Nêu gương cứu thế trong mai hậu,

    Đạo hạnh ngàn thu sáng lạng ngời.

    Chúng tôi thành kính chia buồn sâu sắc cùng toàn thể tang quyến. Cầu mong quý gia tang sớm vượt qua giai đoạn khó khăn này. 

    Thành Kính Phân Ưu, Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa. Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    Xin chào vĩnh biệt chị! Nếu sống khôn, thác linh, xin chị hãy về chứng giám.

    Thưa quý vị trưởng thượng, quý anh chị em, ông bà cô bác hiện diện nơi đây hôm nay,

    Cách đây không lâu, chị tôi, chị Ngô Thiện Tâm (tên đặt ví dụ) được bác sĩ chẩn đoán bị vướng vào căn bệnh hiểm nghèo, anh chị em chúng tôi trong gia đình vô cùng lo lắng, chỉ biết cầu xin ơn trên và sự tiến bộ y khoa như niềm hy vọng vượt qua chứng bệnh nguy hiểm này. Nhưng rồi kết quả không như mình mong muốn.

    Bây giờ, khi chúng ta phải nói lời tạm biệt với chị Tâm, chúng tôi xin cám ơn sự có mặt của quý vị để tiễn đưa chị tôi.

    Thưa quý vị người xưa có câu nói:

    “Tình thương bao la ví Đông hải

    Dưỡng dục cháu con Thái sơn cao”

    Vâng, với gia đình tôi chịu ơn, chị nhiều, chị chăm sóc cho các con tôi như người mẹ, chị thương các cháu với tấm lòng tình mẫu tử khi vợ tôi, Liên phải đi làm, do vậy như người mẹ thì công lao nuôi nấng, dưỡng dục và nay các cháu đã khôn lớn, trưởng thành trong sự tri ân của vợ chồng con cái chúng tôi.

    Dẫu biết rằng cuộc sống này vốn như cõi tạm, sống thác gởi về, khi người thân ra đi nỗi lòng chúng ta quặn thắt, đớn đau khi nhìn người thân sức khỏe suy tàn trong nỗi bất lực, và vì lực bất tòng tâm. Vậy nếu cuộc đời này vẫn vởi trần gian là tạm bợ, và xưa nay người Việt vẫn thường quan niệm: “Sống gửi, thác về”; Sau cái chết, con người về với ông bà tổ tiên, về cõi ngàn thu vĩnh hằng. Đại thi hào Nguyễn Du tóm tắt đạo lý đó trong câu thơ: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”; Nghĩa là khi chết, thân xác sẽ bị hủy hoại, nhưng tinh thần, chỉ có phần huơng linh hay linh hồn vẫn tồn tại mà thôi.

    Tư tưởng cáo chung vẫn như câu thơ:

    Ta là cát ta sẽ về với bụi

    Trả trần gian những cay đắng muộn phiền

    Hồn ta sẽ về nơi cao xanh ấy

    Không còn buồn lo lắng chốn trần ai!

    Chị Tâm là người con hiếu thảo, một người chị mẫu mực, và còn là người cô đạo đức vẹn toàn, khi con người ở sân ga đáp chuyến cuối đời để về bên kia thế giới, cái hương linh, hay cái di sản đạo hạnh chị lưu lại nhân thế trong sự tri ân của gia đình chúng tôi theo nghĩa rộng. Như lời chúc bình an cho chị ở cõi  trên cao kia…

    Hương lòng một nén xin kính dâng

    Nguyện cầu chị về cõi vĩnh hằng

    Siêu thoát tiêu điêu miền cực lạc

    Phật đài, rực rỡ ánh hoa đăng…

    Nam mô a di đà phật

    Chị Tâm ơi, giờ phút chia tay vĩnh biệt buổi gặp gỡ cuối cùng của chúng ta sẽ như trang vở cuối và không còn nhiều giờ nữa! Chị sẽ đi về cõi an bình ngàn thu, không còn âu lo, như về bệnh hoạn, những khó khăn của cuộc sống, buông bỏ nỗi ưu phiền, bận tâm,… Chị ra đi nhẹ nhàng ung dung, thanh thản, bắt đầu cho một cuộc hành trình mới. Như một cánh “bồng lai” khi giũ áo bụi trần, quyện vào gió, nương theo mây, đi vào chốn hư không, về miền cực lạc. Kính chúc chi thượng lộ bình an, em xin gởi chị bài thơ tâm cảm của em như sau:

    ======================================

    Từ nay chị đành giã biệt thế gian

    Rời miền tục lụy gian nan

    Chu du về cõi Niết Bàn thảnh thơi

    Ngàn thu cực lạc cơ ngơi

    Thân nhân còn lại chơi vơi nhớ người

    Nhớ ơi từng tiếng chị cười

    Nhớ từng giọng nói, nhớ lời thiết tha

    Nhớ gương mặt chị hiền hoà

    Nhớ nét đôn hậu sớm ngày nắng mai

    Nhớ bao nhiêu buổi chiều phai

    Chị em dạo bước cả hai tâm tình

    Nay em còn lại một mình

    Nhạt nhòa kỷ niệm bóng hình sớm bay

    Luận trời chẳng chừa một ai

    Thoát vòng chuyển hóa, thóat ngoài tử sinh

    Tâm tư suy niệm chính mình

    Phù vân số kiếp vô minh chị về

    Buồn như ngày chị thăm quê

    Uu phiền dĩ vãng nhiêu khê chuyện xưa

    Chuyện đời gởi gió gởi mưa

    Gió mưa man mác tâm vừa tiếc thương

    Hoàng hôn cánh hạc tứ phương

    Nhân gian rũ sạch bụi đường từ nay

    Chị em mình dẫu chia tay

    Nghĩa tình thương mến mãi đầy đầy vơi!

    Ngô Thiện Đức, 27/07/2925.

  • Âm nhạc,  Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    THƯ MỜI THAM DỰ NGÀY KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP CỦA LIÊN NHÓM NVNT & TTG

    Kính thưa Quý Trưởng Thượng, Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Các Anh Chị Em cùng Thân Hữu,

    Tháng 5 năm 2025 đánh dấu cột mốc 10 năm thành lập của Liên nhóm NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN (NVNT & TTG) với sự hợp tác của Liên nhóm VĂN CHƯƠNG VIỆT & TIẾNG ĐÀN XƯA – một dấu ấn quan trọng trong hành trình tồn tại và phát triển của một nhóm văn học và âm nhạc. Năm nay, Ban Tổ Chức chọn ngày 24 tháng 8 năm 2025 để tổ chức buổi kỷ niệm 10 năm thành lập nhóm, với hy vọng đây sẽ là thời điểm thuận tiện để tất cả quý vị có thể tham dự buổi tiệc đặc biệt và ý nghĩa này. Kính mong Quý Trưởng Thượng, Giáo sư, Văn thi sĩ cùng toàn thể Anh Chị Em và thân hữu dành chút thời gian để đến chung vui với chúng tôi trong ngày trọng đại này.

    Ban Tổ Chức xin gửi đến quý quan khách bản tường trình “update” của chúng tôi để quý vị tiện việc theo dõi. Và cũng xin thưa, để giúp cho phần đón tiếp quan khách và cho việc xếp bàn cho hoàn hảo, xin quý thân hữu:

    1. Zelle lệ phí về cho Katherine Minh Thư Lê ở số: 626-927-7317.
    2. Hoặc gởi chi phiếu về: Katherine Minh Thư Lê  902 Looking Glass Dr. Diamond Bar, CA 91765

    Chương trình:

    1.              Đón quan khách: 10:30 AM-11:15 AM

     2.             Khai mạc: Đúng 11:15 AM

     3.             Ăn trưa: 11:30 AM – 12:30 PM  

    4.      Chụp hình kỷ niệm: 12:30 PM-12:45 PM

    Văn nghệ đặc biệt phần I: 12:45 PM-1:35 PM.

    • Trình diễn các bài hát do các thành viên của NVNT & TTG sáng tác.
    • Vũ nghệ thuật: do nhóm vũ Mây Thu trình diễn với nhạc phẩm Quay Tơ.
    • Line dance với Chachacha do ban văn nghệ Tiếng Thời Gian. 
    • Song tấu guitar với Lâm Dung & Minh Thư trong nhạc phẩm The Sound Of Silence của Paul Simon.
    • Tam tấu Guitar & Tambourine trong nhạc phẩm Every Little Thing của Carlene Carter do Minh Thư (Guitar), Thúy Giao (Guitar), Hồng Phúc (Tambourine).
    •  Ngâm Thơ: Tin Mừng Văn Học-Thơ NS Dương Hồng Anh do Khánh Lan diễn ngâm.

    Văn nghệ phần II-1:35 PM-3:00 PM: Văn nghệ và khiêu vũ. 

    Trân trọng kính mời,

    Ban Tổ Chức NVNT & TTG

  • Khánh Lan,  TRẦN MẠNH CHI,  VNATV-57.3-NVNT & TTG

    TALK SHOW Kỳ 8: DI CHÚC (LIVING TRUST)

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em,

    Talk show kỳ 8 đề cập đến một đề tài quan trọng không kém gì hai đề tài mà Khánh Lan và nhà địa ốc Trần Mạnh Chi đã trình bày trong hai kỳ talk show 6 và 7. Đó là Thị trường địa ốc hiện nay và Việc đứng tên chủ quyền trên bất động sản tại Hoa Kỳ (Vesting Title). Talk show kỳ 8 là Nên hay không lập một hồ sơ di chúc (Living Trust)?.

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Các Anh Chị Em vào xem.

    Khánh Lan & Trần Mạnh Chi

    PHẦN I:

    PHẦN II:

    PHẦN III:

  • Tin tức,  Việt Hải

    Giáo sư Tiến sĩ Cao Văn Hở

    Trần Việt Hải

    Chúng tôi vừa nhận được tin buồn từ anh Nguyễn An Ninh, thông báo: GS Tiến Sĩ Cao Văn Hở, Pháp danh Quảng Thức, nguyên là Phụ Tá Tổng Trưởng Tài Chánh Việt Nam Cộng Hòa, Cựu Giáo Sư Đại Học Kinh Thương Minh Đức Sài Gòn, đã mệnh chung ngày 19 tháng 6 năm 2025 (nhằm ngày 24 tháng 5, năm Ất Tỵ. Hưởng thọ 82 niên tuế).

    Chúng tôi, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gia xin phân ưu cùng bà quả phụ Cao Văn Hở, khuê danh Huỳnh Xuân Thanh, và cùng toàn thể quý tang quyến trong sự mất mát to lớn này. Hẳn biết rằng không có lời nào có thể xoa dịu nỗi đau mất mát của quý vị, nhưng xin hãy biết rằng tình cảm và tình thân của Giáo sư Tiến sĩ Cao Văn Hở vẫn còn đọng lại trong kỷ niệm của của mỗi chúng ta. Nguyện cầu hương linh của cụ ông Quảng Thức sớm an nghỉ ngàn thu ở cõi vĩnh hằng. 

    NIỆM THI ĐIẾU TIỄN

    Cuộc đời cõi tạm dừng chân trú

    Vui chẳng an bình trọn kiếp người

    Vô thường buông bỏ tài danh vọng

    Phù vân phúc chốc quẳng gánh đời

    Tóc pha sương tuyết tâm Quảng Thức

    Luyến lưu hoài niệm nay vĩnh biệt.

    Lời đưa kính tiễn.

    Lặng lờ gió ngủ bên thềm

    Bâng khuâng hương khói chỉ thêm ngậm ngùi.

    Người đi lòng giã biệt buông xuôi

    Hết cơn bỉ cực sầu nguôi ưu phiền

    Quảng Thức đáo cõi linh thiêng

    Vĩnh hằng an nghỉ cửa thiền ngàn thu.

    Kính tiễn: Đồng Thành Kính Phân Ưu.

    Nguyễn Hải Bình, Nguyễn Thanh Trang, Mai Thanh Truyết, Nguyễn Văn Viễn, Quách Hòa Đạt, Nga Lâm, Hạnh Nguyễn, Nguyễn An Ninh, Phạm Quang Hải, Trần Thanh Long, Lưu Mạnh Bổng, Lưu Khánh Lan, Cao Thái Hải, Phó Đức Trường, Trang Sĩ Phước, Tăng Lệ Hoa, Trần Việt Hải.

    From: Thanh Huynh <thanhxhuynh2003@yahoo.com>;Date: July 17, 2025 at 8:22:26 PM PDT
    To: Melinda Luu <melindalluu@yahoo.com>, thanh huynh <thanhxhuynh@yahoo.com>;Cc: MELINDA KHÁNH LAN LUU <melindalluu@yahoo.com>; Subject: Chân thảnh cảm tạ

    Kính thưa quí vị,

    Tôi xin cảm tạ quý vị đã gởi phân ưu cùng gia đình chúng tôi trong sự mất mát đau đớn này. Trên cõi vĩnh hằng anh Hở sẽ rất vui và ấm áp khi được các bạn thân thương chia sẽ niềm thương tiếc và an ủi tôi và các cháu trong lùc này.

    Thành thật xin lỗi quý vị là theo di ước của anh Hở nếu có ra đi thì gia đình hãy cứ hành tang lễ đơn sơ trong vòng gia đình mà thôi, do dó chúng tôi không có phổ biến cáo phó trên báo chí hay trên internet. Nay tin do bằng hữu, bạn bè loan báo, xin một lần nữa cám ơn tấm thạnh tình quý báu cúa quý vị đã dành cho gia dình chúng tôi.

    Kính bái,
    Hùynh Xuân Thanh