-
tran quang hai sings jingle bells for christmas with overtone singing style.
-
Hà Nguyên Du Với Niềm Đam Mê Thi Ca
Trần Việt Hải – Los Angeles.Viết về một người bạn văn nghệ mà tôi thân thiết từ bên nhà qua tình đồng hương quê quán Tây Ninh cũng như tình đồng cảm về thú tao nhã văn nghệ như VănThơ Nhạc, tôi muốn đề cập về anh Hà Nguyên Du…
Những phạm trù văn nghệ như Văn Thơ Nhạc anh đều tham dự đủ cả, anh tham gia say mê và anh góp mặt tích cực, đặc biệt là hai lãnh vực thi ca cổ nhạc và rồi đến tân nhạc. Anh viết nhiều ca khúc và đã phổ thơ cho các nhà thơ Tân Hình Thức…
Hẳn Hà Nguyên Du là một tên tuổi nổi bật trong thi ca của nhiều áng thơ.
Anh là cây bút trước 1975. Anh sáng tác nhiều thể loại thơ, từ thơ vần điệu cho đến thơ hiện đại là thơ Tân Hình Thức. Và anh cũng là một soạn giả nhiều bản tân cổ nhạc. Đây là điều khá hiếm, một sự quý báu khi mà nơi hải ngoại nếu không vun bồi hay phát huy tinh hoa cổ nhạc, ngành truyền thống để nó mai một là điều đáng buồn, buồn lắm.
Hà Nguyên Du cho xuất bản tuyển tập thơ thứ tư sau tác phẩm thơ Tân Hình thức là “Gene Đại Dương” qua nhóm Văn Học Nghệ Thuật “Nhân Ảnh Tân Văn và Tiếng Thời Gian”.
(Tính tác phẩm thơ xuất bản hôm nay là tác phẩm thứ tư chỉ tính riêng về Thơ)Tuyển tập thơ mới xuất bản hôm nay là:
“Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng”. Hoa quỳ khá giống hoa sen về hình dáng, màu sắc; sen và quỳ đều tòa hương thơm trong sự thanh cao… Và một loại Quỳ vàng chính là hoa hướng dương với ý nghĩa thể hiện niềm tin và nguồn hy vọng vươn lên với ánh mặt trời hay luôn hướng về điều tươi sáng nhất.Hà Nguyên Du đề tựa theo ý nghĩ của Nhà văn Thalassa Cruso, vốn yêu cỏ cây thiên nhiên, trong tác phẩm :
“To Everything There is a Season”
(năm 1973), bà Cruso cho là:
“Hương thơm mang lại những kỷ niệm, và nhiều kỷ niệm mang lại niềm vui hoài hương.” (Scents bring memories, and many memories bring nostalgic pleasure).Do vậy, những Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng, tự nó dâng hương thơm khi gợi lại niềm vui thi ca về quê xưa của tình hoài hương.
Trong khi nhà văn Ấn quốc APJ Abdul Kalam quan niệm :
“Thi ca xuất phát từ hạnh phúc cao nhất hoặc nỗi buồn sâu thẳm nhất”
(Poetry comes from the highest happiness or the deepest sorrow).Trong mấy mươi bài thơ của tác giả Hà Nguyên Du mà bạn cầm thi tập trên tay, thơ có bài vui và có bài buồn vì là tính thơ…
Hà Nguyên Du mang đam mê thi ca như ý tưởng của nhà văn Edgar Allan Poe:
“Với tôi thơ không phải là một mục đích, mà là một niềm đam mê”.
(With me poetry has not been a purpose, but a passion).Tương tự, thi hào Khalil Gibran nói: “Thơ là một sự thỏa mãn của niềm vui và nỗi đau và nỗi trăn trở, với một dấu gạch ngang nối kết của quyển từ điển.
(Poetry is a deal of joy and pain and wonder, with a dash of the dictionary).Hà Nguyên Du cổ xuý, ngợi ca thơ mới, hay làm thơ cách tân, hoặc thơ tân hình thức, dù rằng anh cũng đã sáng tác thơ đường luật hay lục bát theo lối thơ từ vần điệu cổ điển đến thơ tự do…
Nói về thơ Tân Hình Thức (New Formalism, Nouveau Formalisme) xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng đầu thập niên 30 của thế kỷ 20. Những người chủ trương phong trào thơ mới lúc bấy giờ muốn phá bỏ hình thức thơ “tám câu năm vần” và loại thơ mới ban đầu này là cuộc cách mạng thơ được hưởng ứng rất mạnh mẽ và kéo dài cho đến nay đã gần 80 năm rồi.
Trong vườn thơ Việt Nam trong thế kỷ 20, nổi bật những áng thơ đường của Quách Tấn, Thinh Quang, Đông Hồ, Chính Quách,… hay Hà Thượng Nhân; còn phong trào thơ mới có những gương mặt như Bích Khê, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng,… tôi muốn thêm tên anh bạn tác giả tuyển tập thơ này, người vốn lưu luyến, đã bỏ nhiều nỗ lực hầu chắt chiu, trau chuốt những áng thơ tân hình thức, do tim óc, phạm vi mà anh rất trân trọng và dành nhiều thì giờ một khoảng thời gian dài cho cái mình yêu thích.
Yêu thích thi ca bởi lẽ như nhà văn Pháp George Sand nói là :
“Người thu hút sự thích thú cao quý từ tình cảm của thơ là một nhà thơ thực sự, mặc dù ông chưa bao giờ viết một dòng trong suốt cuộc đời mình”.
(Celui qui attire les plaisirs des sentiments de la poésie est un vrai poète, mais il n’a jamais écrit une ligne dans toute sa vie).Trong khi nhà văn Gustave Flaubert cho cảm tưởng về thơ như một nhu cầu ở khắp nơi đều có nó:
“Không có một hạt nhỏ nào trong cuộc sống không chứa thơ trong đó”.
(Il n’y a pas une particule de vie qui ne porte pas de poésie en elle.)Nói về thi ca trong tác phẩm “Mon cœur mis à nu”, đăng trong tạp san Journaux intimes, 1864, thi hào Charles Baudelaire ghi nhận như :
“Hãy luôn luôn là một nhà thơ, ngay cả trong văn xuôi”.
(Soyez toujours un poète, même en prose) .
Charles Baudelaire (1821-1867) là nhà thơ lớn của văn học Pháp thế kỷ XIX thuộc trường phái tượng trưng chủ nghĩa.Arthur Rimbaud nhận định về Charles Baudelaire là “Vua của các nhà thơ”.
Những bài thơ được chú ý nhất của Charles Baudelaire như là Tương Ứng (tức Correspondances) đã khiến ông trở thành người đi tiên phong của trường phái thơ tượng trưng. Nhà thơ sống với tình yêu đối với thi ca và bắt đầu sáng tác ngay từ tuổi đôi mươi.
Mặc dầu sống trong những đam mê để rồi ấp ủ tâm hồn nhưng những bài thơ của Charles Baudelaire vẫn đạt được trình độ nghệ thuật cao của thi ca, để ông tồn tại cho tới mãi về sau này. Xem bài thơ Tương Ứng (Correspodances) như sau…
“Thiên nhiên là ngôi đền, hàng cột là hàng cây
Đôi lúc thốt ra những lời nói xa xôi
Rừng tượng trưng nhìn những người qua lại
Với ánh nhìn từng quen biết đã lâuNhư những tiếng vang dài nơi xa thẳm
Hoà vào nhau thuần nhất, thẳm, đen
Mênh mông tựa ánh sáng và màn đêm
Đều tương ứng các âm thanh và hương sắc..”
(lời dịch Phạm Nguyên Phẩm)(Correspondances
La Nature est un temple où de vivants piliers
Laissent parfois sortir de confuses paroles
L’homme y passe à travers des forêts de symboles
Qui l’observent avec des regards familiers.Comme de longs échos qui de loin se confondent
Dans une ténébreuse et profonde unité,
Vaste comme une nuit et comme la clarté,
Les parfums, les couleurs et les sons se répondent…)Hãy xét xem hai bài thơ tiêu biểu trong thi tập này:
“Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng”
NHỮNG CON CHỮ MẦU NHIỆM
bàn phiếm con pu ter thành ra
vũ trường cho những bước chân lã
lướt tung tăng của những con chữ
những con chữ tinh khôi bước ratừ nguồn mạch não của người làm
thơ và người làm thơ cảm nhận
hạnh phúc qua mười ngón tay ông
biến thành những đôi chân cho nhữngcon chữ tung tăng như bước chân
chim tuổi học trò trên sân trường
những con chữ dan cing đẹp mắt
trên vũ trường phiếm khiến con mousemột mực hưởng ứng trên màn ảnh
trông dễ thương như bàn tay vẫy
của cô bé tuổi ô mai bàn
tay vẫy cô bé nhưng thừa quyềnnăng điều khiển và ra lệnh cho
người làm thơ sung sướng vâng lời
làm theo những con chữ như những
chiếc xe tải đầy hình ảnh vàý nghĩa ẩn dụ những con chữ
luôn biến hóa thành những con chuột
bạch mà người làm thơ dùng làm
thử nghiệm các thể loại thi cahay dòng thơ của mình những con
chữ thật mầu nhiệm ơi! thật mầu
nhiệm những con chữ vận mệnh
những con chữ thiêng liêng những conchữ đích thực mang sứ mệnh cao
cả những con chữ quyết định mọi
việc sinh tồn cho dân tộc mình cho
chính mình một người làm thơ chomạch dẫn hay mạch nối hai con
tim tình yêu của anh và em
mỗi ngày qua ứng xử và giao
tiếp những con chữ biến hóa chovũ trụ nắng mưa cho bầu trời
trong sáng cho không gian tối tăm
anh ước mơ những con chữ luôn
ngoan mỗi ngày nhảy nhót tungtăng như những dan cing trên vũ
trường bàn phím com pu ter anh
để những con chữ nói lời yêu
em mỗi ngày để những con chữ
biến thành dòng máu tim anh đềunhịp đập để những con chữ kết
đầy hoa trên cành cây thơ của
người làm thơ hay ai ai đó
đã dùng những con chữ thường ngàyơi.! những con chữ mầu nhiệm hỡi
em yêu… hỡi bạn bè khắp chốn..!!Đượm nét thơ tân hình thức,một dòng thơ mới hiện đại, bài thứ hai của thi sĩ Hà Nguyên Du chuyên chở ý tưởng thi ca như sau:
NGÓN TAY CỦA EM
ngón tay búp măng nõn nà của
em có cái móng cong cong dài
em thường vẽ lên đó một nụ
hồng màu tươi rói như màu máutrái tim rất lãng mạn của tôi
ngón tay của em hàm chứa nguyên
trinh cuộc đời tôi như một nhiệm
mầu! cái ngón tay có cái túiđựng hai chiếc chìa khóa dùng đề
mở hai cánh cửa thiên đàng và
địa ngục cái ngón tay trắng ngà
màu vàng sữa như một magicngón tay đã nhiều lần làm tôi
có những cảm giác như một thỏi
sắt rơi tũm xuống đáy biển hoặc
như một vật nhẹ bỗng bay vúthăng thiên cái ngón tay đã khảy
lên dây thần kinh tôi những thanh
âm tuyệt trần và cũng chính ngón
tay ấy đã mở nấp bầu lệtôi tuôn như suối nguồn thiên tạo
tôi sẽ tạc tượng ngón tay của
em bằng thạch cao có đeo lủng
lẳng hai chiếc chìa khóa nhưng tôikhông biết tụng niệm thần chú làm
sao để lồng vào đó cuộc đời
tôi như một linh hồn của ngón
tay được tạc tượng bằng thạch caongón tay búp măng nõn nà của
em có cái móng cong cong dài
ngón tay đã vẽ nên bức tranh
lập thể như tranh Picassomà chỉ có tôi xem mới hiểu
và khóc với bức tranh ấy từ
ngón tay của em làm ra chính
ngón tay em ngón tay lịch sử ..!!Tóm lại thơ tân hình thức đã gột bỏ những luật lệ gò bó của thơ vần điệu hay thơ cổ điển, tính phóng khoáng, thoáng mát như làn gió mới, nên thơ thu hút nhiều người trong giới thi ca, nhất là giới trẻ trong nước và hải ngoại. Giới trẻ vốn không vướng vấp đến thi ca vần điệu hay thơ truyền thống…
Nay tác giả Hà Nguyên Du, (người đã đến với thơ Tân Hình Thức ngay từ khi khởi phong trào, đóng góp sớm với tác phẩm thơ THT):
“ Gene Đại Dương”Và giờ đây, chúng ta có thêm thi tập: “Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng” ra đời, dù tác phẩm này bao gồm nhiều thể loại, nhưng nổi bật nhất, chúng ta cần chú ý đến dòng thơ mà anh nổ lực đóng góp lâu nay, là dòng thơ Tân Hình Thức…
Tôi nghĩ “ Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng” Là thơ như một Vầng Trăng Tỏa Sáng “ Trên Đóa Quỳ Vàng” trong đêm Và Đóa Quỳ Vàng của ngày đầy nắng ấm Để đóa quỳ Thi Ca vươn lên cùng ánh mặt trời nghệ thuật…
Xin trân trọng giới thiệu.
Trần Việt Hải – Los Angeles
Chút xíu thơ Hà Nguyên Du:
https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/1479557308801601?hc_location=ufi -
Bình yên trong hoàng hôn

Các bạn thân! Sau một thời gian… nhờ cô em gái C.K miệt mài làm việc, từ tập hợp những tản mạn văn thơ, sắp xếp, layout …Bây giờ, quyển ebook “ Bình yên trong hoàng hôn” của Trầm Hương Ptt.hoàn thành để “ khoe” cùng bạn.
Nếu bạn là bạn đọc của Trầm Hương Ptt. thì nội dung của ebook nầy sẽ không có điều chi mới lạ, vì chúng ta đã từng chia sẻ những suy nghĩ rời nầy cho nhau, đã từng cho nhau những lời comments dấu ái, thân tình.
Quyển ebook nầy chỉ là nơi giữ những kỷ niệm, những tâm tình rời được xâu lại , liên kết nhau thành một “bức tranh văn “ với từng phân đoạn, vẽ lên dòng đời của một người.
Như món quà nhỏ Trầm Hương Ptt gửi về bạn. Mong bạn đón nhận tâm tình nầy với vòng tay rộng mở và nụ cười an nhiên.
Trầm Hương Ptt.
các bạn muốn đọc sách hay in thì bấm vào dòng chữ sau
Ref.Link:
BÌNH YÊN TRONG HOÀNG HÔN _Final
Bình yên trong hoàng hôn” của Trầm Hương Ptt:http://tongphuochiep-vinhlong.com/…/B%C3%8CNH-Y%C3%8AN-TRON…
Tình thu mênh mang của Trầm Hương Ptt
Canada mùa thu lại đến..Trong thời khắc giao mùa , thơ Trầm Hương Ptt. lại trở về. Vẫn những câu thơ không nằm trong vần điệu của thơ. Cách gieo vần, ngắt câu tự do, phóng khoáng, nhưng mời các bạn xem đây là chút hương thu của người xa xứ gửi tình về quê nhà…
Tình thu mênh mang
1-
Buổi sáng trên đường, ngắt cánh hoa thạch thảo, mân mê cánh hoa trên tay. Có phải hoa chở mùa thu về?
Chiếc lá bên hiên bay theo cơn gió, tiếng rơi nhẹ đất trời.
Bải cỏ đọng sương mai. Vàng hoa cúc. Lạnh heo may.
Nắng quái xuyên qua khung cửa. Ánh trăng vàng trong đêm.
Không gian êm êm. Giọt mưa thầm thì cùng cây cỏ. Lay tỉnh mùa thu thức dậy
mùa thu đến như mơ.
2-
Mùa bay trên những chồi hoa. Hạt mưa nghiêng nhẹ. Tàn rơi bao chiếc lá. Mưa có chia nổi buồn ?
Bầy thiên di hỏi Trời xanh… Thu về chưa sao hoàng hôn chở gió?
Phố nhỏ nằm đìu hiu dưới bóng trăng. Tôi đưa tay vớt chút trăng vàng, nhặt chiếc lá và gửi vào lá một nụ hôn .
Tôi hỏi chiếc lá có ước mơ không? Có muốn cùng gió bay đi muôn phương ? Như có lần anh hỏi tôi…Có muốn cùng anh đi hết con đường ?
Tay nắm tay đi dưới trời thu. Hoa tiểu cúc cười. Trăng vàng e lệ.
Lá khóc theo bước chân người, lá có đau ?
3-
“Yên Chi hoàng diệp lạc, Thiếp vọng tự đăng đài. Hải thượng bích vân đoạn, Thiền Vu thu sắc lai.” Đọc thơ Lý Bạch, rồi tự hỏi Đời mình còn được mấy mùa thu . Sân ga cuối trong tuổi hoàng hôn gần như hơi thở. Tôi chờ thu hay thời gian chở muà sang ?… 4- Phút giao mùa đến … “Chinh khách vô quy nhật”*..Chút hương thu tôi gửi đến người.
Trầm Hương Ptt
Dịch nghĩa của trích đoạn bài Thu Tứ của Lý Bạch.*Yên Chi vàng lá rụng
Lên gác thiếp trông xa
Trên biển mây xanh tán
Ngoài biên thu lại qua**Chinh khách chưa quay lại
Xuân nồng trong nắng đông của Trầm Hương Ptt
Ngày đăng: 28/01/2017 3:20 chiều / ý kiến phản hồi (10)
Đón xuân trong tuyết trắng mùa đông, tưởng nhớ đến những mùa xuân nơi quê nhà có hoa mai, hoa đào, có nắng xuân nồng ấm. Nơi đây mùa đông giá lạnh nhưng lòng người tha hương bỗng như ấm lại bên ly rượu nồng, thêm lời chúc tụng ngây thơ của các cháu nội ngoại mừng Tết ông bà. Một thoáng nhớ nhung đưa người viễn xứ trở về với những kỷ niệm xa xưa lúc tuổi xuân thì…
LTHK
0 co t 1
Xuân nồng trong nắng đông
Hương xuân thoảng trong không gian…Mênh mông tuyết phủ.
Mai đào, dẫn xuân về…lộc đất trời…
Tôi giang tay đón nhận mùa xuân.
Xuân đẹp, xuân nồng, tình xuân lan khắp.
Lời yêu thương và lời tình tự…Hơi thở mùa Xuân nhẹ đến bên thềm.
Bánh mứt dâng cúng ông bà, mang ước vọng bình an, ấp ủ nhớ thương trong khói nhang trầm mờ tỏ.
Dịu dàng nét xuân, đàn chim én gọi bầy, ríu rít bên nhau, trên những cành thông xanh lá.
Xuân cất tiếng gọi mời thân thiết, ấm trong cốc rượu nồng, xua đi giá lạnh mùa đông.
Xuân trong đôi mắt hòn bi ve, long lanh cuả các cháu, nụ cười với những chiếc răng sữa đang thay, vô tư hồn nhiên, chúc ông bà bằng câu nói quê hương ngọng nghịu…
“Chúng con mừng tuổi ông bà, kính chúc ông bà sống lâu trăm tuổi”.
Đôi má hồng, câu nói ngây thơ, trong sáng quá xuân ơi.
Tuyết đổ nhẹ bên hiên, chút bâng khuâng hoài niệm.
Xuân như con nước xuôi dòng.
Sáng mồng một đón xuân về trong nỗi nhớ, trái tim buồn rớt bên song.
Hong tình quê xa lắc. Có những hồi ức mùa xuân chứa cả quê nhà.
Lòng muốn ôm cả trời quá khứ….nghìn xuân mơ giấc mộng thường…
Ngày xuân ấy, tôi thả niềm vui trong ánh mắt môi cười, đời màu hồng trước mặt…
Những chiều ba mươi tết, chiếc Honda chạy trên đường vắng, thương câu ca
“Có ai lựa buổi chợ chiều mà đi….”
Lòng tôi như cánh hoa thủy tiên gửi về quê nhà, đón mừng năm mới…Lộc trời chan chứa tình xuân…Một mùa xuân xa xứ, dâng đời nỗi nhớ đầy vơi.
“Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau
Tóc xanh dù có phai màu
Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng
Xin chào nhau giữa lúc này
Có ngàn năm đứng ngó cây cối và
Có trời mây xuống lân la
Bên bờ nước có bóng ta bên người …”
Mượn bài thơ “Chào Nguyên Xuân” của nhà thơ Bùi Giáng.Gửi bạn một chút xuân nồng trong nắng đông.
Hạt Sương Nho Nhỏ 2 – Thơ: Trầm Hương Thơ – Nhạc: Phanxicô:
https://www.youtube.com/watch?v=SGAYiaJpf-4 -
Trần Quang Hải – Thơ tình Anh Việt ngữ

-
DÂN CA DÂN NHẠC VN – LÝ MIỀN NAM
Miền Nam nước Việt chúng ta là một lảnh thổ có một lịch sử trải dài qua nhiều thời đại, khởi thủy bằng Vương quốc Phù Nam từ thế kỷ 1.
Phù Nam (tiếng Phạn: नाम) là một quốc gia cổ trong lịch sử Đông Nam Á, xuất hiện khoảng đầu Công Nguyên, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông. Theo nhiều thư tịch cổ Trung Hoa, thì trong thời kỳ hưng thịnh, Vương quốc này về phía Đông, đã kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung Bộ (Việt Nam), về phía Tây đến thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Mã Lai.
Quốc gia này tồn tại cho đến khoảng nửa thế kỷ 7 (sau năm 627) thì bị sáp nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp. Mãi đến thế kỷ 17-18, phần lãnh thổ xưa kia được coi là trung tâm của Phù Nam, tách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, tức Nam Bộ ngày nay.
Chân Lạp (tiếng Khmer: ចេនឡា/Chenla, phát âm: Chên-la; Hán-Việt: 真臘) có lẽ là Vương quốc đầu tiên của người Khmer tồn tại trong giai đoạn từ khoảng năm 550 tới năm 802 trên phần lảnh thổ phía Nam của bán đảo Đông Dương gồm cả Campuchia và một số tỉnh phía Nam của Việt Nam hiện nay.
Chân Lạp-Phù Nam, vào năm 600.
Triều đại các vị vua của Vương quốc Chân Lạp theo truyền thuyết có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại “Campu”, lấy nàng Naga (con gái thần nước, biến từ rắn thành thiếu nữ). Từ “Campu” cũng bắt nguồn cho tên gọi của Campuchia sau này.Các vương quốc láng giềng xung quanh vào thời kỳ ban đầu của họ là Chăm Pa ở phía Đông, Phù Nam ở phía Nam và Dvaravati (thuộc Thái Lan ngày nay) ở về phía Tây Bắc.
Ban đầu là một nước chư hầu của Vương quốc Phù Nam (khoảng cho tới năm 550), trong vòng 60 năm sau đó nước Chân Lạp đã giành được độc lập và dần dần lấn lướt Phù Nam. Đến thế kỷ 6 thì họ đã xâm chiếm được miền Bắc của Phù Nam. Cuối cùng, trong thế kỷ 7 (khoảng giai đoạn 612-628), Chân Lạp đã xâm chiếm toàn bộ Phù Nam, chiếm toàn bộ dân cư của Vương quốc Phù Nam nhưng lại hấp thu nền văn hóa của họ. Năm 613, Ishanapura trở thành kinh đô đầu tiên của đế quốc mới Chân Lạp.
Bản đồ Đế quốc Khmer (Khmer Empire) cuối thế kỷ 12.
Đế quốc Khmer, tách ra từ Vương quốc Chân Lạp, là một cựu đế quốc rộng lớn nhất Đông Nam Á (với diện tích lên đến 1 triệu km², gấp 3 lần Việt Nam hiện nay) đóng trên phần lãnh thổ hiện nay thuộc Campuchia, đã từng cai trị và có phần đất phiên thuộc mà ngày nay thuộc lãnh thổ của các quốc gia: Lào, Thái Lan và miền Nam Việt Nam.Sự khởi đầu của kỷ nguyên Vương quốc Khmer Angkor được cho là bắt đầu từ năm 802 sau Công nguyên. Trong năm này, vua Jayavarman II đã tự xưng “Chakravartin” (Hoàng đế của thiên hạ).
Trong quá trình tạo lập nên đế chế này, người Khmer đã có các mối quan hệ thương mại với Đế quốc Java và sau đó với Đế quốc Srivijaya giáp biên giới Đế quốc Khmer về phía Nam. Di sản lớn nhất của Đế quốc Khmer là Angkor – kinh đô của Đế quốc này vào thời cực thịnh của nó. Angkor là chứng tích của sức mạnh và sự thịnh vượng của Đế quốc Khmer và cũng là hiện thân của nhiều tín ngưỡng mà nó đã mang trong mình. Các tôn giáo chính thức của đế chế này là: Ấn Độ giáo, Phật giáo Đại thừa cho đến khi Phật giáo Nam truyền chiếm ưu thế sau khi được du nhập từ Sri Lanka vào thế kỷ 13.
Tuy nhiên tới năm 1431, cuối cùng thì Angkor thất thủ trước quân Thái. Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 là giai đoạn suy tàn liên tục và thu hẹp đất đai của Đế quốc Khmer. Từ giữa thế kỷ 15, Đế quốc Khmer liên tục bị các cuộc xâm lăng của vương quốc Ayutthaya (Thái Lan cổ) tàn phá. Angkor liên tục bị chiếm đóng và tàn phá.
Tượng vũ nữ bằng đá thời Phù Nam, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng An Giang.
Sang đầu thế kỷ 17, Đế quốc Khmer có sự gắng gượng ổn định đôi chút dưới thời vua Chay Chettha II, tuy không thể bằng các thời kỳ trước đặc biệt là thời Angkor, với việc thành lập một thủ đô mới tại Oudong năm 1618. Vua Chey Chettha II đã mở rộng quan hệ với chúa Nguyễn ở Đàng Trong của Việt Nam, để cân bằng ảnh hưởng từ vương quốc Ayutthaya của Thái Lan. Ông đã cho phép một số ít người Việt đến sống tại Prey Nokor (sau này là Sài Gòn). Bằng sức ép lên đất nước còn đang suy yếu, vua chúa Việt Nam từ từ chiếm được tất cả các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bắt người Khmer phải đổi họ, tên theo tiếng Việt.Từ giữa thế kỷ 17 trở đi, Đế quốc Khmer trở nên suy yếu trầm trọng trước hai láng giềng hùng mạnh và tham vọng bành trướng là Xiêm và Đàng Trong (Việt Nam). Sự định cư của người Việt ở châu thổ sông Cửu Long từ đầu thế kỷ 17 dẫn tới việc họ sáp nhập hoàn toàn vùng đó vào năm 1757, vì thế Đế quốc Khmer mất một trong những vùng lãnh thổ trù phú nhất của họ.
Đến cuối thế kỷ 17, Đại Việt hoàn thành việc chiếm đóng vùng đất Miền Nam, Việt Nam bây giờ.
Một hố khai quật khảo cổ trong khu di tích Nam Linh Sơn, nằm cách chùa Linh Sơn (Ba Thê) 60m.
Một hố khai quật khảo cổ trong khu di tích Nam Linh Sơn, nằm cách chùa Linh Sơn (Ba Thê) 60m.
oOoDân ca Dân nhạc cổ truyền của mỗi dân tộc trên thế giới đều có những nét đặc thù độc đáo riêng biệt. Những nét đặc thù độc đáo riêng biệt này đã đóng góp tạo nên một kho tàng văn hóa phi vật thể vô giá trên toàn cầu cho mọi người.
Dân ca Dân nhạc cổ truyền Việt Nam có những âm điệu ngũ cung đa dạng, phong phú. Những âm điệu và ca khúc dân dã này đã được sáng tác và truyền miệng trong dân gian qua nhiều thế hệ sau khi đã được gọt giũa, sàng lọc, phổ biến, vững bền cùng năm tháng.
Nền âm nhạc cổ truyền này mang âm hưởng của nhiều vùng miền cùng với nhiều thể loại trên khắp cùng đất nước. Và hôm nay mình trân trọng giới thiệu đến các bạn từng thể loại của từng vùng miền và trong những bài kế tiếp.
Đầu tiên mình giới thiệu đến các bạn các thể loại “Dân ca Miền Nam” ở miền Nam nước Việt. Câu châm ngôn “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò” là câu đã được sự đồng tình của đa số các nhà nghiên cứu nền dân ca truyền thống Việt Nam.
Trong dân ca miền Nam, “Lý” là một làn điệu dân ca đặc trưng của những người nông dân mộc mạc chất phát. Những lời ca trong những điệu “Lý” luôn nói lên tinh thần tích cực và sức sống mạnh mẻ của nông dân, lời lẽ thường chân thật và mộc mạc, không văn chương, nhưng diễn tả tình cảm bộc trực mà đậm đà.
Dưới đây mình có bài “Hồn Quê Trong Các Điệu Lý Đồng Bằng Sông Cửu Long” của Trân Phạm, và bài “Hát Lý Và Những Điệu Lý Nam Bộ” của ông Nguyễn Hữu Hiệp để các bạn tiện việc tham khảo về bộ môn nghệ thuật dân gian đặc thù này của miền Nam chúng ta.
Theo khám phá của các nhà nghiên cứu, Dân ca Miền Nam có trên vài trăm bài “Lý”. Nhưng phổ biến nhiều nhất trong dân gian là các bài mà mình xin tạm giới thiệu đến các bạn sau đây… Lý Chiều Chiều, Lý Con Sáo, Lý Chim Quyên, Lý Quạ Kêu, Lý Kéo Chài, Lý Cây Bông, Lý Con Sam, Lý Ngựa Ô, Lý Cái Mơn.
Đồng thời mình còn có 12 clips tổng thể các điệu “Lý Miền Nam” giới thiệu đến các bạn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Chiều Chiều. Hồn Quê Trong Các Điệu Lý Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trong kho tàng văn hóa dân gian của Việt Nam, dân ca có một vị trí quan trọng. Dân ca khắp ba miền Bắc Trung Nam có lịch sử hình thành khá lâu đời và dân ca Tây Nam bộ là một bộ phận của dân ca Nam bộ, có nguồn gốc từ những khúc hát cung đình (ngũ cung) lan ra giao thoa với ca hát dân gian (hát dâng bông, bóng rỗi) rồi biến hóa, linh động từ nội dung và hình thức, cô đặc lại, cấu thành món “đặc sản” tinh thần của người bình dân.
Tây Nam bộ hay Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất được tiền nhân khai mở sau cùng trong quá trình Nam tiến. ĐBSCL với địa hình thấp, mênh mang sông nước, vừa có biển lớn nhiều cá tôm, vừa có đồng bằng phì nhiêu rộng lớn, vườn tược xanh tươi, ở phía Tây Nam còn có núi non hùng vĩ. Cư dân ĐBSCL xưa nay được tiếng hiền lành, chân thật, cần cù, nhân nghĩa rạch ròi, cởi mở, hiếu khách và có lối sống thích nghi, sáng tạo. Dân ca Tây Nam bộ hầu như phản ánh hầu hết các nội dung trên.
Thông thường, nói đến sinh hoạt ca hát dân gian vùng ĐBSCL, nhiều người hình dung đến chiếu đờn ca tài tử, hoặc những bài bản vọng cổ giữa mênh mang sông nước. Nhưng sẽ là thiết sót nếu bỏ qua những điệu hò, hát ru và đặc biệt là các điệu lý xuất hiện khá nhiều trong sinh hoạt văn hóa dân gian và thường được dùng như một chất liệu để làm phong phú thêm các bài bản vọng cổ hay các vở cải lương. Lý là những khúc hát ngắn gọn với nhịp điệu phong phú và sinh động.
Lời hát của lý đa phần có vần điệu dễ nhớ nhưng khác với ca dao, hò, vè ở chỗ lý mang tính nhạc (hát), trong khi ca dao, hò, vè mang thuộc tính của thi ca (thơ). Các bài lý tiêu biểu, đại diện cho dân ca của các “miệt”, địa phương miền Tây Nam bộ như: Lý ngựa ô, Lý Cái Mơn, Lý cây bông, Lý con sáo Gò Công (Lý con sáo sang sông), Lý con sáo Bạc Liêu, Lý quạ kêu, Lý chiều chiều, Lý bông dừa, Lý Năm Căn, Lý Ba Tri, Lý tòng quân, Lý Mỹ Hưng, Lý kéo chài, Lý qua cầu… Các bài lý có nhịp điệu sinh động nhưng vẫn giữ sự chân chất mộc mạc, pha chút cảm giác mênh mông của hò. Lý cũng có những phân biệt câu cú, khúc, đoạn; phần âm điệu mạch lạc, nhất quán, không cầu kỳ. Mỗi bài lý cũng có thể có nhiều lời ca, soạn giả có nhiệm vụ quan trọng là làm sao cho lời ca mượt mà đi vào lòng người, hòa quyện với giai điệu.
Cũng như âm điệu, mỗi điệu lý đều có một nội dung rõ rệt, hoặc phổ biến những kinh nghiệm sản xuất, ca ngợi những đức tính, thiên nhiên tươi đẹp, hoặc oán trách nhau, hoặc mỉa mai, châm biếm bọn lý trưởng, cường hào… Nghiên cứu về dân ca Tây Nam bộ, người ta thấy rằng hầu như đa phần trong các điệu lý đều có hình bóng con sông, bến nước, làng quê và những làn điệu trữ tình tha thiết ấy luôn chứa đựng tình cảm nhớ quê hương, nhớ về ký ức lứa đôi nơi quê nhà. Ví dụ như lời ca trong bài “Lý Cái Mơn”:
Đàn cò bay về nơi thương nhớ
Nhớ bến sông xưa in hình bóng của người yêu…
… Sắc hương hoa đôi bờ sóng vỗ tình quê
Có hay chăng thuyền xa bến bến trông thuyền về
Thuyền tình ơi hãy chờ đợi ta bao tháng năm trôi qua
Nhưng người xưa vẫn luôn ngóng đợi tình chungly11
Không gian làng quê hiện ra thơ mộng, lãng mạn với nỗi hoài niệm man mác. Hay trong bài “Lý qua cầu”:
Trời bình minh chim về đây líu lo trên cành
Như mọi ngày dòng sông với con đò mong manh…Bài Lý qua cầu cũng nói về một mối tình trên dòng sông, bến nước có cô lái đò và người lữ khách. Và chuyện tình ấy có kết cuộc dang dở, buồn tênh! Một bài lý nữa cũng gắn liền với sông nước- “Lý bông dừa”:
Sông dài còn chảy xuôi theo dòng
Mà sao xa vắng em tôi biết tìm nơi đâu
Dòng sông còn chứa chan ân tình
Nay dang dở tình đầu ta còn gắn đợi ai…Tóm lại, các điệu lý ĐBSCL thường nghe mượt mà, dễ thương với vần điệu, lời ca giàu chất trữ tình, mang nhiều nỗi niềm hoài niệm quê hương, tình yêu, làng quê, dòng sông bến nước. Do đó các điệu lý thường khá dễ hát, dễ biểu diễn và cũng dễ đi sâu vào lòng người. Lý cũng như nhiều thể loại dân ca cổ nhạc khác đã in sâu vào lòng người đồng bằng, từ thuở tiền nhân khai mở đất phương Nam. Ngày nay các điệu lý là một bộ phận không thể thiếu được trong biểu diễn dân ca cổ nhạc. Những điệu lý với lời ca đẹp; nghệ sĩ – nghệ nhân biểu diễn đúng chất luôn được người thưởng thức trân trọng và mến mộ.
(Trân Phạm)
ly26
Hát Lý Và Những Điệu Lý Nam Bộ
Trên hầu khắc đất nước ta, nơi nào cũng có xuất hiện, định hình những làn điệu dân ca trữ tình rất ngọt ngào, đáng yêu. Có không ít làn điệu đã trở thành đặc sản của địa phương, khu vực, như hát ả đào, hát nói, hát đám, hát quan họ, hát huê tình, nói thơ, hò lờ… Nhưng chung nhất và phổ cập nhất của thời trước là “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”.
Giúp ta hiểu rõ thêm câu tục ngữ này, ông Trương Vĩnh Ký giải thích trong “Giáo trình Hát, lý, hò An Nam” (in thạch bản, 1886): “Người trong Nam (từ Đồng Nai ra tới Quảng Nam) thì hát lý hay hơn cả; còn ca, phú, thơ, vịnh thì người miền Bắc; còn về việc hò thì tại nơi kinh kỳ (Huế)”. Lẽ dĩ nhiên từ “hát” nói ở đây không mang hình thức diễn xướng như hát bội, hát cải lương… nó đích thực là một thể loại dân ca đặc hữu của những người thôn dân chân chất. Hát lý không chỉ đã đi vào sinh hoạt đời sống nhân dân ta từ hàng nghìn năm trước mà di sản văn hóa phi vật thể này còn biểu thị tinh thần lạc quan, sức sống mãnh liệt của dân tộc.
Chính vì thế nên khi xua quân xâm lược nước ta, vua Minh (Thành Tổ) ban chỉ dụ: “Một binh lính vào nước Nam… hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến những loại ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ nhỏ… một mảnh, một chữ đều phải đốt hết…” (đạo dụ ngày 21/8/1406). Rồi không đầy 9 tháng sau, ngày 16/5/1407, Minh Thành Tổ lại ban thêm một đạo chỉ dụ nữa, nội dung nhắc lại tinh thần chỉ dụ trước, đồng thời quở trách các tướng sĩ, khi bắt gặp “những thứ ấy” thì phải ra lệnh đốt ngay chứ không được xem rồi mới đốt, tức phải y lịnh thi hành cho nhanh, cho triệt để! Song như chúng ta đều đã biết, chẳng những họ đã không làm được điều đó mà còn bị nghĩa quân của Lê Lợi quét sạch ra khỏi cõi bờ! Nước nhà độc lập, tự chủ. Thế là giọng lý lại được tôn vinh, cất cao lên khắp các thôn làng! Nhân dân hát lý ở bất cứ nơi đâu, bất cứ vào dịp nào: một mình lúc đang làm đồng, chèo ghe, nghỉ lưng trên cánh võng; hoặc cùng bạn bè trong những cuộc hội hè, tết nhứt, giỗ quải…, có kẻ xướng người xô càng thêm hứng khởi. Ở miền Nam xưa được các nghệ sĩ xếp đứng đầu trong các điệu hát: “Nhứt lý, nhị ngâm, tam Nam, tứ oán…”.
Ta biết, lý là quê mùa, là điệu hát mà ca từ chính là những câu phong dao, ca dao được đệm lót thêm một số nhóm từ, cụm từ, tuy là “hư từ”, sáo rỗng và vô nghĩa nhưng lại rất cần để nhằm ngâm nga, đẩy đưa, hỗ trợ làn hơi, đồng thời nghệ nhân cũng hát xen những tiếng láy, điệp ngữ – chính là điệp khúc… làm cho tiết điệu thêm mượt mà, khúc chiết, khi thì tình tứ thiết tha, khi thì buồn thảm não nùng, khi thì nhẹ nhàng phấn khởi… Chính nhờ đề tài và nội dung phản ánh mọi hiện tượng xảy ra trong sinh hoạt đời thường của ca dao, nói được những góc cạnh tình cảm trong cuộc sống, và cũng nhờ ca từ giản dị tươi vui, dí dỏm nên lý dễ đi vào lòng người, rất được người bình dân ưa chuộng.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Ngựa Ô.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Ngựa Ô. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Về lý, ông Huỳnh Tịnh Của có giải thích và phân biệt rõ trong Đại Nam quốc âm tự vị (Imp, Rey Curiol & Cie Saigon, 1895):Hát lý: Hát bắt nhịp, giọng cao giọng thấp, lặp đi lặp lại.
Lý hát: Và kể và hát có mau có chậm (hiểu là vừa kể vừa hát… và “hát theo điệu ca ngâm”).Mà ca ngâm thì “muôn màu muôn vẻ”, thành ra hát lý phong phú đến mức có đến hàng trăm điệu (gần như mỗi bài là một điệu). Hiện người ta đã sưu tầm được ngót 160 bài! Con số này sẽ không dừng lại nếu các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian có điều kiện thực hiện thêm những chuyến điền dã tâm huyết.
Trong khẩu ngữ thông thường, dân gian ít phân biệt ca lý và hát lý, vì vậy ở khía cạnh này ta có thể hiểu ca hát là một. Về điệu lý, theo Lư Nhất Vũ – Lê Giang tác giả Tìm hiểu dân ca Nam Bộ thì, cũng như ở Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ, ông bà ta ở Nam Bộ có mấy cách đặt tên cho nhiều điệu lý, đại thể:
a) Lấy nội dung lời hát (ca dao) mà đặt: lý con cúm núm, lý con sam, lý con sáo, lý ngựa ô, lý cây bần, lý cây gòn, lý trái bắp, lý trái mướp, lý dầu dừa, lý mù u, lý bình vôi, lý cái phảng, lý chúc rượu, lý qua cầu, lý cấy, lý đương đệm, lý cảnh chùa, lý vọng phu v.v.
b) Lấy mấy chữ đầu câu hát mà đặt: lý con cua, lý con chuột, lý con mèo, lý chim chi, lý chim sắc, lý chim chuyền, lý cây xanh, lý cây bông, lý cây ớt, lý mạ non, lý dừa tơ, lý trồng hường, lý chẻ tre, lý chiếu bông, lý chiều chiều, lý bánh canh, lý dĩa bánh bò, lý ông hương, lý nàng dâu, lý ba xa kéo chỉ, lý xăm xăm, lý liễn vũ v.v.
c) Lấy tiếng đệm lót hoặc tiếng láy đưa hơi mà đặt: lý í a, lý băng rù, lý bằng lưu thủy, lý bằng rằng, lý cống xê xang, lý giọng ứ, lý hố khoan, lý hố mơi, lý kỳ hợi, lý lu là, lý tú lý tiên, lý rị đa (hoặc lý đu đê), lý rường ơ, lý tang tình, lý ợ, lý yến ảnh v.v.
Nghệ sĩ Linh Phượng
Nghệ sĩ Linh Phượng. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Ngoài ra người ta còn dựa vào xuất xứ của loại hình ca bóng rỗi mà đặt tên các điệu lý giọng bông; dựa vào đặc tính của nhóm tiếng đệm mô phỏng các bậc âm của “chữ đờn” dân tộc; hoặc tiếng tụng niệm kinh kệ mà đặt tên như: lý bản đờn, lý cống chùa v.v.Cũng có trường hợp lấy địa danh để đặt cho: lý Ba Tri, lý Cái Mơn… Điều này ít thấy phổ biến trong dân gian. Tất nhiên vẫn có trường hợp cùng một làn điệu nhưng mang tên lý khác nhau, và ngược lại. Việc phân loại chỉ mang tính tương đối bởi “định danh” như vậy không thể tránh được tình trạng nhập nhằng – nhập nhằng cả về việc “định lượng” nữa.
Theo chiều dài lịch sử và tiến trình mở nước, ca dao dân ca lan toả khắp nơi, tuỳ theo hình thái địa lý, hoàn cảnh xã hội, và nhất là do cách phát âm từng nơi mà dân ca nói chung, điệu lý nói riêng có sắc thái mang dấu ấn của vùng miền, chung nhất là dân ca ba miền. Rồi do giao lưu, tiếp xúc mà âm điệu, thanh điệu và cả những tiếng đưa hơi cũng được biến hóa, co giãn, làm cho làn điệu thêm phong phú, đồng thời cũng làm bật lên nét đặc thù ngôn ngữ âm nhạc. Thí dụ như điệu lý con sáo, chỉ với câu ca dao Ai đem con sáo sang sông, Cho nên con sáo sổ lồng bay xa, các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, sơ bộ đã ghi nhận có tới 30 bài, trong đó có 4 bài lý con sáo trung du Bắc Bộ trong hát ghẹo, 3 bài lý con sáo Bắc trong hát quan họ Hà Bắc và hát trống quân, 1 bài lý con sáo Thanh Hóa, 4 bài lý con sáo Huế, Nam Bình Trị Thiên, 2 bài lý con sáo Quảng vùng Nam Trung Bộ, và hơn 10 bài lý con sáo Nam Bộ. Tác giả cuốn sách chuyên khảo về dân ca Nam Bộ đã dẫn có nhận xét: Trong lịch sử âm nhạc chắc chưa có hiện tượng nào cùng một đề tài xuất xứ, từ hai câu ca dao mà có tới hàng chục làn điệu với sắc thái khác nhau và muôn màu muôn vẻ!
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục Liên Khúc Lý miền Nam: Lý Cây Bông, Lý Con Sáo, Lý Chim Quyên, và Lý Quạ Kêu.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Liên Khúc Lý Miền Nam: Lý Cây Bông, Lý Con Sáo, Lý Chim Quyên, và Lý Quạ Kêu. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Vì sao lý “con sáo sang sông – con sáo sổ lồng – con sáo bay xa” được các nghệ nhân dân gian ưa chuộng đến vậy?Lý, ngoài sức cuốn hút nhất định của âm điệu, nội dung của câu ca dao này đã phản ánh trung tâm tư, ước vọng của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân: truyền thống đấu tranh bất khuất, không chấp nhận làm nô lệ, luôn tìm mọi cách để “sổ lồng”, “sang sông”, “bay xa” tìm đến chân trời hạnh phúc. Và, thật kỳ diệu, dân tộc Việt Nam đã làm được điều đó!
Với hàng chục điệu lý như vừa nói, tưởng đã quá đủ để minh chứng tình cảm, cá tính người Nam Bộ – cũng là biểu tượng của sự hiên ngang, phóng khoáng của nhân dân. Nhưng nếu có chút tinh tế, ta sẽ thấy ở vùng miền nào cũng bật lên rất rõ nét sự tôn vinh điệu lý! Nếu lý ngựa ô đã có cuộc hành trình khắp nước thì lý con sáo cũng là bài lý thuộc loại dân ca ba miền, được các soạn giả dựa theo các làn điệu của lý mà sáng tác lời mới để mồi cho một làn điệu, một lớp, hay chuyển sang một ý khác đang diễn trên sân khấu nhằm làm thay đổi “thính vị” người nghe. Nó thường được đưa xen vào những bài vọng cổ, ca nhạc cải lương vì trước hết, đó là một điệu thức quen thuộc, dễ ca, có vui, có buồn nên dễ cảm nhận (nhưng dùng điệu lý trong những trường hợp vui dễ thành công hơn) như lý con sáo, lý giao duyên, lý vọng phu, lý ngựa ô, lý Phước Kiến, lý thập tình…
Trong khuôn khổ của một bài viết nhỏ, chúng ta chỉ có thể cảm nhận về lý một cách khái quát và mang tính chung nhất mà thôi. Việc tìm hiểu, phân tích sâu hơn tất nhiên đòi hỏi phải có công trình chuyên khảo dày công của các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, ở đó không thể thiếu phần ký âm từng điệu, giọng của các lão nghệ nhân.
Dưới đây là vài làn điệu lý “cùng lời khác nhạc” mà các nghệ nhân dân gian đã khéo xử lý những tiếng đệm lót, đệm phụ nghĩa, tiếng lý, tiếng đưa hơi, điệp ngữ… để nhằm hoàn chỉnh cấu trúc âm nhạc. Chúng tôi muốn giới thiệu một số làn điệu bài lý con sáo.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Con Sam.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Con Sam. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Trước tiên là bài được hát với tốc độ nhanh, nhịp điệu “nhát gừng”, khoẻ khoắn:– Ai đem con sáo (ký) qua sông (ký) qua sông. Cho nên con sáo (ơ sáo) sổ lồng (à xa mà) bay xa. Cho nên con sáo (á sáo) sổ lồng (ờ xa mà) bay xa (Ai… xa).
Bài khác, hát theo giọng “ợ”, xử lý nhóm tiếng đệm “ừ vậy phải đó thê” với cơ cấu giai điệu cũng như cơ cấu điệu thức rất mượt mà, có duyên (do Huỳnh Ngọc Trảng sưu tầm):
– Ai đem con sáo (này ơ ợ là sông cái) qua sông (bớ em ôi! Dạ ừ vậy phải đó thê).
Cho nên con sáo sổ lồng bay xa (đồn rằng tang tình bớ mà… bay xa).Và một bài nữa với giọng “bằng”, sử dụng cụm từ “ưng ứng ưng” (do Hoàng lê và Trần Kiết Tường ghi):
– Ai, ai đem, ai đem bằng chim sáo, ưng ưng ứng ưng ưng.
Sang sang sang sang sang sông ai đem chim sáo sang sông.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Cho, cho nên, cho nên bằng chim sáo, ưng ưng, ứng ưng ưng.
Sổ sổ sổ sổ sổ lồng cho nên chim sáo sổ lồng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Quay Tơ.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Quay Tơ. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Đúng như câu tục ngữ “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”, một thời hát lý từng được thế nhân coi là một thể loại dân ca trội bật ở miền Nam. Đặc biệt, ở Nam Bộ hát lý có sức cuốn hút rất mãnh liệt, đến mức:Con cua quậy ở dưới hang,
Nó nghe giọng lý kềnh càng bò lên!
(Lý con cua quầy)“Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”, rõ ràng Nam Bộ không chỉ đã kế thừa cái vốn văn hóa cổ truyền có cội nguồn từ miền Bắc mà còn phát triển mạnh mẽ, làm tôn vinh cái vốn chung của dân tộc.
(Nguyễn Hữu Hiệp).
Article link: https://dotchuoinon.com/…/14/dan-ca-dan-nhac-vn-ly-mien-nam/
-
GSTS Trần Quang Hải biểu diễn đàn môi

-
GS.TS. Trần Văn Khê phát biểu về độc đáo ca trù và sáng tạo hát thơ (2002)

-
CÕI ĐẸP

Cao Huy Thuần
Qụyển sách nhỏ này động đến một giai đoạn lịch sử lớn, lớn về mọi mặt: chính trị, xã hội, phong hóa, ngôn ngữ, văn chương, báo chí, mỹ thuật – nói chung là văn hóa. Chỉ trong vòng mười lăm năm, từ 1930 đến 1945, dằng co giữa cái cũ và cái mới trong xã hội đẩy dần cái cũ vào bóng tối đồng thời với những chuyển biến chính trị chấm dứt một quá khứ thuộc địa đau thương. Giới hạn trong lĩnh vực xã hội, văn hóa, hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay là hai mũi dùi bén nhọn nhất trong chiến trận giữa cũ và mới, đưa Lý Toét lên địa vị danh tướng có một không hai trong lịch sử báo chí Việt Nam.
Chị Phạm Thảo Nguyên là một trong những người đã có công lớn sưu tầm để đưa lên mạng toàn bộ Phong Hóa và Ngày Nay tản mác khắp nơi. Đọc lại hai tờ báo oanh liệt một thời ấy, chị có dịp khám phá thêm tài ba xuất chúng của Nhất Linh trong những địa hạt mà ít người biết đến, nhất là mỹ thuật. Ngoài tiểu thuyết, Nhất Linh còn là họa sĩ, từng thi đậu vào trường Mỹ thuật Đông Dương, từng vẽ tranh trong báo, từng tạo không gian đẹp cho báo bằng tranh của các họa sư, chưa kể là cha đẻ của Lý Toét. Nhưng công lớn nhất về mỹ thuật của Nhất Linh, nghĩa là của Phong Hóa và Ngày Nay, là đưa một tài ba hiếm có lên ngai vàng của một vương quốc mà tôi xin được gọi là Cõi đẹp. Tài ba ấy là Cát Tường, tác giả của “Áo dài Lemur”, chiếc áo đã nhập vào hình hài Việt Nam một cách hài hòa đến nỗi bây giờ nghiễm nhiên trở thành biểu trưng của bản sắc Việt Nam. Mượn giọng trào phúng của Phong Hóa và Ngày Nay, Cát Tường trào phúng hóa tên mình để đặt tên cho tác phẩm: tiếng Pháp “le mur” là cái tường, là bức tường, tên ấy cũng là cái mới đang đánh nhau với cái cũ, cái cũ ở đây là hai chữ Hán “Cát Tường”, rất bác học, rất nghiêm trang, rất không biết cười. Ông Cát Tường đưa tiếng cười vào áo: áo dài Lemur trước hết là một tiếng cười, tiếng cười trẻ trung, tươi vui, lạc quan, yêu đời của những nhan sắc đôi mươi thấy mình đã là bướm, không còn bị giam giữ nữa trong chiếc kén bí hiểm của gia đình, xã hội. Phải đặt áo ấy vào trong bối cảnh tươi vui của Phong Hóa và Ngày Nay mới thấy rõ toàn diện bức tranh của một xã hội chuyển mình, đổi mới từ trong ra ngoài, từ tâm hồn đến y phục.
Chúng tôi sinh ra trong khoảng thời gian chuyển mình ấy, nhưng quá nhỏ và lại ở chốn quê mùa, chỉ biết ông Cát Tường qua một mẫu áo dài duy nhất. Gần đây, nhờ xem một buổi trình diễn áo dài để kỷ niệm tác giả của áo, và bây giờ đọc sách này của chị Phạm Thảo Nguyên, tôi mới được biết ông Cát Tường không phải chỉ vẽ một mẫu áo mà nhiều mẫu áo dài khác nhau để mặc tùy mỗi hoàn cảnh, khi đi dự tiệc, khi đi chơi mát, khi hóng gió biển, khi trời lạnh mùa đông, khi nóng bức mùa hè, khi xuân đến, khi thu sang, mùa nào màu sắc nấy, ngày đêm đậm nhạt đổi thay, sang trọng, duyên dáng, thướt tha, hoa bay bướm lượn. Cảm tưởng gì gợi lên trong tôi? Không thể kể lịch sử của chiếc áo Lemur, cũng như không thể kể Tự Lực văn đoàn, tách rời khỏi sự xuất hiện tươi mát của một giai tầng xãhội trung lưu, trí thức, mơ mộng cái mới, giã từ cái cũ. Gọi họ là “tiểu tư sản” thì cũng được thôi, nhưng không có “tiểu tư sản” ấy thì không có sáng tạo Lemur này.
Nói như vậy không có nghĩa là chỉ có “tiểu tư sản” mới sáng tạo ra cái Đẹp. Chị em nông thôn ta ngày trước đã sáng tạo ra chiếc yếm mỹ miều. Nhưng áo dài Lemur có cái đặc sắc kỳ diệu là vượt ra khỏi lý lịch khai sinh tiểu tư sản để ban quốc tịch Việt Nam cho mọi người, không phân biệt ngoài hay trong, quê nhà hay lưu đày tứ xứ, ban cho cả người nước ngoài muốn có cái hãnh diện được làm “dâu Việt Nam”. Mẹ tôi ngày trước, khi khách đến nhà, phải mặc áo dài rồi mới ra ngồi trên phản tiếp khách. Lễ lược, cưới xin: áo dài. Dân thị thành còn bắt chước Âu Mỹ mặc áo đầm cho cô dâu; phụ nữ thôn quê có lễ phục nào trang trọng hơn: áo dài? Thậm chí, ở Huế ngày trước, nóng nực dường ấy, mà các chị bán cháo bán chè, khi quảy gánh ra đường, cũng mặc áo dài. Đâu là tiểu tư sản? Cái đẹp tiểu tư sản thuở khai sinh biến thành cái đẹp đạo đức của mọi tầng lớp. Thậm chí hơn nữa, áo dài còn xuất hiện trong cả đấu tranh chính trị ở nước ngoài. Cầm cờ đi đầu biểu tình hay cầm biểu ngữ, chắc chắn phải là hai phụ nữ, hai chiếc áo dài. Báo chí Paris vừa đăng lại hình ảnh ấy để kỷ niệm 50 năm một năm 1968 lịch sử. Có người Việt Nam nào không thấy hồn của mình phất phới trên tà áo dài duyên dáng kia?
Từ hình ảnh, xin bắt qua bài hát. Chúng tôi, nhi đồng thuở ấy, đứa nào mà không hát Lưu Hữu Phước? Đứa nào mà không yêu nước khi hát các bài ca của ông? Nhưng Lưu Hữu Phước đâu phải chỉ có anh hùng ca! Ông còn tình tứ, lãng mạn, ga-lăng, và đặc sệt tiểu tư sản với các cô gái thanh xuân trong hành khúc mang tên là “Thiếu nữ Việt Nam”. Thiếu nữ nào vậy?
Trông hoa xuân thắm tươi trên muôn cành
Lòng niên thiếu chan chứa hương xuân
Reo lên trong nắng mớitrong vui mới
Vì chị em ấy hoa của đời.Thiếu nữ nào cũng là mùa xuân cả, thiếu nữ nào cũng là hoa xuân cả, thiếu nữ nào cũng là nắng mới cả. Nhưng hát lên trong giaiđoạn Cát Tường ấy, hát lên trước chiếc đũa thần của chàng nhạc trưởng sinh viên Hà Nội ấy, khó mà tưởng tượng có bóng dáng một chiếc liềm cùng đi trong hành khúc, khó mà tưởng tượng không có hoa bướm áo dài tung bay trong hứng khởi của người sáng tác. Toàn là thiếu nữ Cát Tường cả thôi. Toàn là những xuân thì mới mẻ, vui sống, yêu đời, gieo rắc tiếng cười lạc quan quen thuộc trong văn chương Tự Lực văn đoàn, Ngày Nay, Phong Hóa. Cùng với văn chương ấy, tiểu tư sản không kém một phân, Lưu Hữu Phước thúc đẩy chị em:
Đi ta đi dắt nhau ta đi lên cùng
Và ca hát trong ánh nắng mai
Reo tươi vui khắp nơi reo vui sống
Vì chị em ấy hương của đờiĐồng nội cũng có hương hoa, nhưng khó mà tưởng tượng hương hoa bay lên trong hành khúc không phải là những tiên nga Hà thành, đối tượng của Cát Tường, tha thướt với Lemur. Thế nhưng, ngay trong chốn quê mùa của tôi, ai mà chẳng thấy mình cũng đi, vô duyên quá, con trai gì màđi với con gái, nhưng gái trai đâu có phân biệt gì trong tiếng reo vui từ cùng một lổng ngực của tuổi trẻ? Nắng, hoa, hương của trời đất là tài sản chung, có riêng ai là triệu phú, riêng ai là vô sản đâu! Và cái Đẹp, ở đâu mà chẳng có, nếu biết nhìn một bông hoa thì ngay cả một bông cỏ hèn mọn cũng chứa đựng tất cả diễm lệ của vũ trụ.
Bởi vậy, chẳng lẽ có ai ganh tỵ với những chiếc áo dài tươi vui trên sân khấu thị thành, chẳng lẽ có đôi vai quang gánh nào mỉa mai “Thiếu nữ Việt Nam” trong hành khúc không phải là tôi? Chẳng lẽ có anh chàng lý thuyết gia nào còn lẩm nhẩm ôn bài học “quan niệm đẹp của giới thống trị là quan niệm đẹp thống trị”? Này anh ơi, có ai không hãnh diện cái đẹp của áo dài là cái đẹp Việt Nam, hơn thế nữa, là cái Đẹp trong Cõi Đẹp mà ai cũng là nghệ sĩ, mà ai cũng là trọng tài của chính mình?
Hỡi linh hồn của tác giả áo dài Lemur, trong Cõi đẹp của ông có bóng dáng giai cấp chăng?
Cao Huy Thuần
-
Hương vị đời

Hương vị đời
Chút đăng đắng trong cuộc sống
cũng là chút hương vị đời. (NVS)
Thằng Chà hí hửng cầm hai cuốn truyện Tàu bước qua ngạch cửa khi trời vừa hừng sáng. Bữa nay chúa nhựt ba nó ở nhà nhưng đã cho phép nó đi đổi truyện. Ngày thường ông đạp xe máy ra Trà quít làm việc tối mịt mới về, lợi dụng giờ giấc nó tự ý đi không cần phép tắc, nhưng khi ông ở nhà thì phải hỏi phải thưa. Nó bước nhè nhẹ ngang qua chuồng gà tính mở cửa ngỏ thì con Ô nhảy ra chuồng hồi nào không biết lật đật chạy theo quấn quít bên chưn. Con Ô thân thiện thiệt tình nhưng sáng nay sự thân thiện đó không làm cho thằng Chà khoái chí chút nào. Hai cuốn truyện Tàu được đưa ra quơ quơ làm võ khí nhưng con Ô chỉ cần né đầu là tránh được dễ dàng rồi cứ lẩn quẩn theo cản chưn trở cẳng. Thằng Chà tức khí đứng lại tính ăn thua đủ thì con Ô cũng khựng lại, ngóng cao cổ đập cánh phành phạch rồi cất tiếng gáy. Không khí đương yên tĩnh bỗng sôi động lên, đàn gà mái nhao nhao vừa cục tác vừa gục gặc đầu đủng đỉnh đi tới đi lui trong chuồng hay chõ mỏ qua khe rào kêu réo. Thằng Chà thừa cơ hội, lận hai cuốn truyện vô bụng, kéo áo phủ xuống, cuốn nào cũng đã được chủ nhơn đóng bằng giấy dầu nên nó không sợ mồ hôi làm ướt. Mau chưn nó phóng ra ngoài. Con Ô sau một giây ngơ ngác, chạy đuổi theo chủ chừng 5, 7 thước thì bỏ cuộc, quay vô bay đậu lên hàng rào chuồng chừng một vài phút rồi nhảy xuống hăm hở rượt đuổi bầy thê thiếp, không còn tha thiết gì tới chủ nữa.
Đã tờ mờ sáng. Đằng xa kia, nơi chưn trời một chút ánh hồng bắt đầu ló dạng. Tiếng ếch nhái đã hết inh ỏi. Màn sương khuya và gió lạnh báo hiệu cho thằng Chà bằng một cơn nhảy mũi dài tiếp theo một cái rùng mình nổi ốc từ duới chưn cẳng lên tới tay chưn. Nó kéo hai vạt áo lại sát nhau, bẻ cao cổ áo rồi lấy tay đập nhè nhẹ lên đầu để cái nón nỉ cũ của cậu nó vạt ra cho được chắc hơn. Nó nhắm hướng cầu Ngang đi miết…
Con đường đê tháng Hè đất cứng, chủ ruộng đã xắn đất đắp nện tạo một chút phẳng phiu xe máy chạy được, nhưng với đứa đi chưn không như nó một lúc thì thấy hơi nhói nhói dưới gót. Nó cảm thấy vậy thôi, không quan trọng lắm nên vừa đi vừa suy nghĩ tới lúc gặp mặt con Quyên đổi hai cuốn truyện nầy lấy hai cuốn truyện khác. Tùng dịp nói vài ba chuyện bâng quơ ngó mặt cho đở nhớ.
Nghĩ tới đây thằng Chà cười hí hí một mình, nhảy chưn sáo vài ba cái trước khi đi lại như bình thường.
Mấy người đàn bà đi chợ sớm bước mau qua mặt nó. Một người quay lại hỏi chọc:
‘Chà, Chà, mầy đi xóm sớm ha! Đi đổi truyện Tàu hay đi thăm nhỏ Quyên đó mậy?’
Một bà xồn xồn, bà con xa với phía ba nó, lên giọng răn đe của người trưởng thượng:
‘Coi chừng đó, nó lớn hơn mầy hai tuổi lận, lơ mơ nó đánh cho sặt máu mũi. Năm sau thì nó tới tuổi bẻ gảy sừng trâu, vật mầy như vật ếch, đừng có tưởng bở!’
Chị ta nói tới đây thì như thích thú day qua phân bua với người đồng hành:
‘Chị coi, con nhỏ lớn sộ, thằng nầy có chút nhí mà tối ngày tò vè, xẩn quẩn. Muốn lắm nên kiếm chuyện tới lui hoài. Mà khổ, con nhỏ coi bộ chịu đèn mới chết một cửa tứ mấy thằng trang lứa lối xóm của nó.’
Chị ta coi bộ hứng chí với lời châm chọc của mình, bèn cười hô hố sau câu nói.
Người đàn bà đầu tiên thấy vui vui, quay qua thằng Chà, dạy đời:
‘Chà mầy đừng có lớ ngớ đứng ngoài vàm nữa nha, không múm vô vàm thì thiên hạ ẳm mất tiêu giờ. Con nhỏ cũng ngộ đến chứ có sứt môi méo miệng gì đâu nà! Da nó lại trắng nữa, dân ruộng rẫy mà như vậy thì kiếm đâu được đứa thứ hai!’’
Được mợi cái người có bà con bước gần tới vò đầu nó:
‘Ối chà! Trước khi đi thăm mèo cậu đã hớt tóc tai đàng hoàng ha. Thầy hù nào mà hớt coi được đến. Con Quyên nó chết mê chết mệt còn gì!’
Thằng Chà cười cười trong họng mà ngượng ngịu ngang, không trả lời trả vốn gì hết, cắm đầu cắm cổ bước mau qua khỏi đám đàn bà nhiều chuyện. Họ quay qua nói với nhau rậm ran về đề tài trai gái bồ bịch tình tang trong xóm. Nó bối rối, ngó ngoái lại coi họ có nói gì về mình nữa không. Hình như đề tài đã được đổi quaq chuyện cá mắm, chồng con. Nhìn từng cái rổ tre, từng cái giỏ xách đong đưa theo mấy cánh tay đánh đồng xa của các bà, nó nghĩ ngợi bâng quơ về một hình ảnh ôm ấp trong trí.
Trời sáng lần, âm thanh và cảnh tuợng đêm tối đã được thay bằng giai điệu của hoạt cảnh ban mai. Tiếng gió nhẹ xào xạc qua kẻ lá tre hòa với tiếng nghiến răng của hai thân tre cọ vô nhau theo gió mạnh, tiếng chó sủa xa xa và tiếng lịch bịch của mấy con trâu bị chủ đánh ra đồng…
Bỗng nhiên thằng Chà xuýt xoa rồi cong một chưn lên, nhảy cò cò. Đổ cộc, nó rủa thầm:
‘Mắc dịch mấy thằng cha hút thuốc liệng tàn bậy bạ. Vái cho chết tiệt hết khỏi hại người khác. Tàn thuốc hút rồi cũng không biết liệng xuống ruộng, liệng bậy trên đường đê, con nít đạp nhằm một cái đau thấu mây xanh! Trời mới tưng bửng sáng đã làm tầm bậy rồi! ’
Nó giơ bàn chưn lên dòm dòm. Tuy đau nhưng cũng không tới nỗi nào. Nó sửa sửa lại hai cuốn truyện Tàu cho yên vị rồi tiếp tục đi. Cây me keo làm ranh giới Xóm Me Keo cuối làng nó với xóm Mả Lạn đầu làng của nhỏ Quyên đã được bỏ lại sau lưng. Mặt trời sau rặng cây bên kia sông đương hé dạng.
Nó lầm lũi đi tới, chỗ nầy đồng vắng nhưng đất đồng khô nứt nẻ không phải ruộng, mấy tháng trước đội banh hai xóm đá giao hữu được vài lần thì giải tán vì thường xảy ra xích mích, đánh lộn đánh lạo khiến mích lòng mích bề người lớn một thời gian. Nhớ tới chuyện đó thằng Chà xuýt xoa thầm tiếc. Nó thấy lời nói thầy Thìn là đúng: ‘Bây chơi thể thao mà không có tinh thần thể thao chút nào hết! Thường thì phải theo phong cách mã thượng: Ăn không kiêu ngạo hay hạ nhục địch thủ, thua không làm trận làm thượng rồi kiếm cớ gây sự. Điệu nghệ chơi bời là vậy… Ai đời tụi bây bị ôm mấy trái thì bữa sau chận đường đánh thằng đá vô gôn, còn đương đá thì đốn giò, chặt ống quyển mấy thằng giỏi của đội kia. Chơi vậy thì chơi với chó chớ chơi với ai! Cái mửng chơi xấu nầy lớn lên có nước nằm nhà, dầu đá hay cách mấy cũng không ai cho vô hội tuyển trung bình chớ đừng mong gì được vô hội danh tiếng như Ngôi Sao Gia Định hay AJS.’
Từ hình ảnh thầy Thìn nó nhớ tới hai má lúm đồng tiền của nhỏ Quyên và thấy lòng mình mát rượi, xao xuyến. Nó vừa đi vừa đá một cục đất tròn theo từng bước chưn, tưởng tượng là trái banh mà nó đương lừa để kiếm cách giao cho bạn làm bàn.
‘Bữa nay tía đi coi mạch bốc thuốc cho ông quản Hên ở làng bên.’ Nó mừng rơn khi nghe con Quyên báo tin đó. Con nhỏ hí hửng:
‘Chà ngồi chơi một lát nha, Quyên đi nấu chè táo xọn hai đứa mình ăn chờ tía về. Có cuốn Phong Kiếm Xuân Thu tía mới mua tháng trước, quí lắm, Chà coi sơ cho đỡ ghiền trong khi đợi chè.’
Con nhỏ lăn xăn chạy lên chạy xuống vừa lo nồi chè vừa tiếp bạn. Lửa củi nóng hắt làm má nó hồng hồng, thằng Chà ngó thiếu điều rớt cặp mắt. Con nhỏ bẽn lẽn lấy khăn lông lau mồ hôi mặt, ngồi xuống đối diện bạn chơi hỏi đố chuyện Tàu.
‘Chà đố trước đi.’
Cũng cái mửng cũ, nó hỏi chuyện ai cũng biết để lấy lòng bạn:
‘Chuyện Tôn Tẩn giả điên trong bộ nào bà biết không?’ Nó dùng tiếng bà thay vì kêu bằng Quyên như mọi khi.
‘Dễ ợt! Xuân Thu Oanh Liệt!’
‘Lúc cuối cùng ông ta ra sao vậy kà?’
‘Ổng vô núi Thạch Nhân tu luyện.’
‘Rồi sao nữa?’
‘Mất biệt, không ai biết gì hơn. Có lẽ theo thầy Quỷ Cốc tu luyện linh đơn rồi thành tiên.’
‘Hay ha! Bà rành sáu câu ha. Thiệt ra ông làm như vậy mới là có cốt tiên. Thành công giúp đời rồi thì lo tu dưỡng cho mình. Trần thế vốn nhiều bụi nhơ, người có cốt tiên không ai màng.’
Con Quyên đưa tay lên chồng sách nhón lấy bộ Xuân Thu Oanh Liệt cầm tay, hỏi:
‘Mà Chà còn nhớ bài thơ khen Tôn Tẩn của người đời sau không?’
‘Ba năm luyện pháp núi Vân Mộng,
Một lúc đem ra giúp vạc Tề.’
Nhỏ Quyên thấy thằng Chà thuộc nên cùng đọc với bạn hai câu sau:
‘Công toại danh thành lòng chẳng động,
Về non tu luyện lánh cơn mê.’
Hai đứa cười lớn khi hết câu. Con Quyên vui quá, giơ cao bộ truyện đập xuống chồng truyện trên bàn. Ngực nó bật tung một cái nút bóp. Nó lật đật đưa tay lên che. Thằng Chà lần đầu tiên thoáng thấy mãng trăng trắng huyển ảo trước ngực bạn, lập lại mấy tiếng lánh nơi mê theo giọng hỏi làm cho Quyên mắc cở bỏ vô nhà trong một nước sau tiếng nói lầm thầm: Đồ quỉ!
Ngồi đó hèn lâu mà con nhỏ không ra, buồn tình nó đứng dậy nói lớn:
‘Tui đi về nha bà! Chè táo xọn đâu không thấy đợi hoài. Lại còn bị giận hờn.’
Tiếng con Quyên sau bếp vọng ra:
‘Hơi (mới) có! Bộ đói lắm sau mà hối vọng ngược vọng xuôi vậy?’
Nó mừng rơn khi con nhỏ hai tay bưng chén chè đầy ắp để trên dĩa đàng hoàng. Đưa tay đở, tùng dịp đụng vô mấy ngón tay ngà ngọc, nó nói theo kiểu ‘làm quen’ để địch thủ hết giận:
‘Chà thích cách nói thiệt là miền Hậu giang của Quyên: hơi (mới) có, tiếng mới được nuốt đi tạo một thổ ngơi đặc biệt dễ mến cách gì, cũng như nghe mấy thiếm bán hàng nói thồi lại, nói giùm làm, Chà thấy chơn chất gần gũi làm sao ấy!’
Cặp môi cắn chỉ mím nhẹ chịu đựng chừng vài giây rồi mới hơi mỉm cười. Nó nói nhỏ giọng thủ thỉ êm đềm của người tình:
‘Đừng giận nha! Cho Chà xin lỗi nha.’
Con Quyên nhỏ nhẹ:
Bạn hữu thì ai chấp nhứt gì, nhưng xin đừng nói chơi, nó nhẹ thể con người mình đi!’
Hai đứa cúi đầu mạnh ai nấy ăn, không khí tuy đã không còn nặng chình chịch như hồi nảy nhưng lòng nó vẫn còn mặc cảm như đã làm một lỗi lầm rất lớn. Nó cố gắng không ôn lại trong trí cái mình vừa mới thấy mà nghĩ tới cách làm sao cho con Quyên hết giận.
Thầy Thìn về nhà coi như một sự cứu bồ đúng lúc, thằng Chà lật đật rút lui sau khi xin phép mượn lại bộ La Thông Tảo Bắc với bộ Phong Thần Diễn Nghĩa. Con nhỏ không thèm ngó nó từ giả.
Vậy mà con Quyên hết hờn sau đó không lâu. Những lần tới đổi truyện tiếp theo hai đứa vẫn thân mật như thường. Có lần con nhỏ nói giọng người lớn không ngờ:
‘Truyện Tàu tức là truyện của người Tàu, truyện bên Tàu. Nước người ta có nhiều tuồng tích hay ho như vậy người nước mình thì mạt rệp từ đường, đi cày đi cấy cực khổ đã không đủ ăn thì chớ lại còn bày đặt rượu chè be bét như hủ hèm. Lúc say xỉn thì lè nhè rồi đánh đập vợ con hay gây sự đâm chém thiên hạ. Còn lúc bình thường bị làng xã ức hiếp, bị phú lít mã tà đá đít bộp tai thì ôm đầu máu chịu, im re chẳng dám phản kháng.’
Thằng Chà không nói gì. Những chuyện nầy nhan nhãn đầy trời nên trở thành thường sự. Hèn lâu nó mới nói một câu lãng xẹt:
‘Bà biết hảo hớn là gì không? Là anh hùng đó!’
Con Quyên chép miệng:
‘Người Tàu họ tinh quái lắm. Họ không nói dũng nhơn, hão dũng, anh kiệt hay gì gì đó mà nói hão hớn có nghĩa là người Tàu tốt, người Tàu giỏi, hay người Tàu anh hùng. Làm như thiên hạ không ai là anh hùng như người Tàu, người Hán.’
Thằng Chà lại ngồi im, há hốc miệng nghe nhỏ Quyên lý thuyết. Nó thấy Quyên hơn mình về mặt nầy. Con nhỏ thoát ra khỏi mấy cuốn truyện Tàu còn nó thí dính cứng vô đó. Thuộc lòng La Thông, La Côn, La Xán lúc nhỏ lúc lớn lúc già, thuộc lòng tên và hành trạng mấy chục anh hùng hão hớn Lương Sơn Bạc nhưng không có cái nhìn về thực tế cuộc đời trước mặt như con Quyên.
Nó ngó bạn không nháy mắt, thầm thán phục lẫn ước mơ. Ôi cặp má lúm hai đồng tiền nho nhỏ, hồng hồng với vài sợi gân đỏ lờ mờ dưới lớp da mịn màng, khiến nhỏ ta đỏ mặt quay đi chỗ khác.
3.
Cửa nhà thầy Thìn đã mở. Ông đương ngồi tréo ngoảy bên cái bàn giữa nhà. Bình trà trước mặt. Một tay cầm cuốn sách đóng bằng giấy manh (main), tay kia cầm tách nước đưa tới gần miệng nhưng đã ngừng lại ở đó. Ông đọc chậm rãi từng câu:
Ta chay trường khinh mạn lục thân,
Bạn bè tới thăm chẳng rần rần.
Nhắp chén trà thơm không rượu uống,
Dọn dĩa rau dưa chẳng thịt mần.
Hạ nhẹ tay cầm sách xuống, Thầy Thìn đưa tay cầm tách nước lên chút xíu nữa, chầm chậm nhắp một ngụm. Thoáng thấy cảnh đó Thằng Chà hơi khựng lại khi bước tới hàng rào mồng tơi. Trong cửa buồng con Quyên nảy giờ đứng im lặng kính cẩn ngó cha mình ngâm thơ, thấy dạng thằng Chà bèn nháy mắt hất hàm ra dấu biểu đừng bước tới nữa.
Thầy Thìn hạ tách nước xuống, đưa sách lên cao ngang tầm mắt, ngâm tiếp, giọng nho nhỏ vừa đủ nghe:
Bằng hữu lạ ta sao ăn chay,
Chỉ bởi Thiên Đường – Địa Ngục hai.
Ăn chay rau giá vậy mà tốt,
Dẫn tới Linh Sơn khoái thích thay!
Thiều quang thấp thoáng lẹ lắm mà,
Mỗi ngày tâm niệm Phật Di Đà.
Hiểu lẽ Tử – Sinh, chuyện phải có,
Chốn cố hương về lòng hoan ca.
Con Mực nằm dưới đất cuộn mình ngoan ngoản lim dim nhưng đưa mõm gác lên một bàn chưn chủ, thầy Thìn lấy chưn kia xoa xoa lên mình con vật, nó cựa cựa uốn éo như thưởng thức tình thương, như tỏ lòng biết ơn. Người chủ ngó xuống con vật cưng của mình rồi cầm sách lên ngâm nga tiếp:
Thời gian trần thế có mấy hồi,
Đời người ngày tháng thoáng như thoi.
Nam choắc thành ông, nữ thành bà,
Bao người nhận thấy dung nhan đổi!
Con Mực thình lình phóng ra hực hực chào người quen. Tách nước trên bàn được Thầy Thìn uống cạn sau khi chậm rãi để sách xuống, ngó ra sân. Con Quyên bước thụt vô buồng. Thằng Chà lật đật buớc vô, chào thưa bác nói mình đem đổi truyện.
Nó trịnh trọng để hai cuốn truyện lên bàn, lí nhí:
‘Dạ, cháu thấy kẹp trong hai cuốn nầy, mỗi cuốn có một tờ giấy oảnh. Chắc bác để lâu rồi quên. Xin nhắc bác hổng thôi rớt mất uổng.’
Thầy Thìn lật ra chỗ có tiền, lấy bỏ túi. Thầy ngó ngoái lại cố ý kiếm đứa con gái rượu để thầm trao đổi gì đó, nhưng không thấy. Một lúc sau con Quyên mới bưng ra một chồng truyện Tàu và một xấp Sách Bạn Trẻ của nhà xuất bản Nam Việt để lên bàn.
‘Lần nầy tía cho Chà mượn hai loại luôn nha! Coi chuyện Tàu hoài cũng nhàm. Loại Sách Bạn Trẻ nầy tốt hơn, thực tế hơn.’
Thầy Thìn cười lớn:
‘Con biết ý tía đa! Đọc cho mở mắt ra với người. Mà sao con cho nó mượn nhiều như vậy? Chắc sợ nó đổ đường tới đây mất công chứ gì! Chà nó có lý do để đi một tuần hai ba lần. Xá gì đường xa!’
Đứa con gái hơi xẻng lẻng, cười mím chi nói tía chọc con hoài, tụi con chỉ là bạn hữu cùng xóm cùng làng. Chà mất công đổ đường thì ăn nhập gì tới con!’
‘Để nói cho hai đứa nghe. ’ Thầy Thìn sửa lại bộ ngồi. ‘Đọc truyện Tàu thì phải biết là cái tụi Tàu nó viết toàn là khoe dân tộc nó anh hùng, nào là người Tàu có sức mạnh cử đỉnh ngàn cân, nào là người Tàu giỏi thập bát ban võ nghệ. Họ kêu những người đó là tướng, là người Trời, là thái tử con Ngọc Hoàng đầu thai, là một ngôi sao trên trời bị đọa. Họ kêu dân mình là Nam man, mấy dân tộc chung quanh là Đông di là Bắc dịch là Thổ Phồn…, kêu người Âu Mỹ là Bạch quỷ. Tóm lại ai không phải người Tàu đều là kẻ xấu, người dở, dã man, hèn mọn…’
‘Mà thôi!’ Tách nước lại được thổi, húp. Sau cái chép miệng, thầy Thìn tiếp: ‘Tại người mình không chịu viết truyện là do làm biếng suy nghĩ với làm biếng tưởng tượng, có viết thì ăn cắp ý, có khi còn cọp-py nguyên con. Để cho thiên hạ viết thay mình thì phải bị như vậy thôi. Tía nói cho hai đứa nghe nè: Đọc thì đọc, mê thì mê nhưng phải biết cái tốt để theo cái dỡ để tránh, đừng có lậm mấy cái pháp thuật bày đặt của họ mà quên thực tế ngoài đời… Cuộc sống bên ngoài không dễ như trong sách đâu nà. Kẻ xấu tràn đầy như giòi đục thịt sình, như ruồi bu xác chết. Nhưng học trung hiếu tiết nghĩa trong truyện thì được, bắt chước làm anh hùng thì không nên. Chết như không đó!’
Con Quyên liếc liếc thằng Chà như ngầm bảo rằng tía nói thì rán nghe để tía vừa lòng. Thằng Chà đứng im rơ, chăm chú như nuốt từng lời vàng ngọc của thầy Thìn. Ngó vô miệng thầy nhưng trong lòng tưởng tượng về đôi môi cắn chỉ, về má lúm đồng tiền, về cặp mắt hột nhãn của con Quyên…
‘…Tía thấy thằng Chà thẳng ngay. Lớn lên sẽ là người tốt, không phải là tụi ‘cầu điền vấn xá’, tụi ‘ái bất thích thủ’ như thiên hạ nhan nhãn thời nay!…’
‘Dạ ‘cầu điền vấn xá’ là gì hả tía, ‘ái bất thích thủ’ cũng vậy. Tía nói chữ mắc quá con không hiểu. Không biết Chà có hiểu không.’
Ánh mắt thầy Thìn rọi vô mặt nó, thằng Chà nhè nhẹ lắc đầu.
‘Là bọn đêm ngày cầu mong có được ruộng vườn chim bay gảy cánh chó chạy cong đuôi, gạt đầu nầy cướp đầu nọ để được nhà sang cửa rộng ấy mà! Bọn ham cái gì thì ôm cứng không chịu buông tay ra. Cầu biệt thự thênh thang ở Ô Cấp, ở Đà Lạt, ở Nha Trang, Phú quốc…, kéo vô, kéo vô cho tràn họng, cho ngập mặt thì hỏi làm sao có lòng với người nghèo khổ, với tổ quốc được. Khi lòng tham muốn quơ quào quá lớn thì lòng thiện còn đâu chỗ trú? Chà nó có tấm lòng thành thật. Sẽ là người tốt. Tía nói vậy đó, bây tính sao thì tính. Làm sao coi được thì thôi.’
Người cha quay mặt ngó thẳng vô khách hèn lâu rồi quay qua đứa con gái:
‘Chim chóc có cái hay mà loài người không biết bắt chước. Chim mẹ đi kiếm mồi cho chim con lúc con còn nhỏ. Khi chim con tới độ ra ràng thì giúp đẩy cho bay. Một hai lần khi chim con bay được thì thôi không xía vô nữa. Tía cũng vậy, chuyện tình cảm của con cái tía để con cái quyết định, không cản trở cũng không khuyến khích.’
Con Quyên bỏ chạy vô buồng. Thầy Thìn lắc đầu cười. Thằng Chà không hiểu hết ý nghĩa câu nói của thầy Thìn nhưng lờ mờ thấy rằng mình không bị ghét bỏ. Nó nghĩ rằng rồi đây nó sẽ được tới căn nhà nầy thường xuyên hơn. Và nó đưa mắt vô nhà trong, tay nắm chặt như một người chiến thắng.
4.
Ông già mơ màng ngó ra vườn. Khu vườn đẹp theo kiểu Việt Nam với vài thứ cây ăn trái và một vuông đất nhỏ cho mấy bà còn mạnh mạnh xới đất trồng rau. Không ăn uống gì ba cái thứ đó nhưng ‘tưới nước ngắt lá’ để nhớ ‘thời chưa bịnh, lúc còn sởn sơ’ là câu cửa miệng của một số ông bà còn đi lại được. Ông già còn đủ sức để điều khiển xe lăn ra hưởng khung cảnh khu vườn. Tôi vài lần đi thăm người bác cùng lứa tuổi ông cũng ở trong nursing home nhiều người Việt Nam nầy từ đó quen ông và được nghe kể về chuyện hơn bảy mươi năm trước…
‘Chúng tôi thân thiết với nhau như vậy tới ba bốn năm, tôi nhổ giò bể tiếng, đứng nhĩnh hơn Quyên nửa trán khi thi đậu bằng Thành Chung rồi đậu luôn kỳ thi còm-mi làm việc ở tòa bố tỉnh Sốc Trăng. Hai đứa không thề thốt gì nhưng trong lòng coi nhau như đã cặp bồ, không còn là bạn hữu nữa. Những lần tới nhà Quyên tự nhiên hơn và cũng chẳng cần đổi truyện. Được cho uống nước đá chanh muối, được trách cứ nhẹ nhàng sao không chịu đội nón dang đầu trần ra đường coi chừng cảm nắng… Nhiều lần còn được ngồi ăn chung với thầy Thìn để nghe thầy giảng chữ nghĩa thánh hiền. Những khi thầy đi bắt mạch xa, chúng tôi ngồi đối diện nói chuyện tự nhiên hơn. Cũng chỉ là chuyện trời trăng mây nước, chuyện Tề Thiên Đại thánh đánh quỷ trừ yêu. Nhiều lắm là một hai cái nắm tay. Rồi thôi. Trong sáng.
Vậy mà… Bỗng nhiên tôi mất tung tích Quyên. Tôi lúc đó như người chết đuối trôi sông. Đâu chừng là đầu năm 1950. Quyên đi đâu thầy Thìn cũng không biết, chỉ để lại bức thư tạ lỗi bất hiếu đại ý là thấy cảnh nước nhà tang thương, người nghèo khổ bị bóc lột, kẻ cô thế bị ức oan, Tây tà nạt nộ chưởi bới dân… Lòng quặn đau không chịu nổi. Quyên không nói mình đi với phe phái nào. Quân lưu động trong đầm lầy, trên sông cùng rạch cạn của tướng Lê Quang Vinh, tướng Trần Văn Soái, quân đóng ngay tại Sàigòn hoa lệ của tướng Lê Văn Viễn Bình Xuyên… hay gì gì nữa!’
Ông già ngừng một lúc hèn lâu, mắt mơ ngàng ngó vô mấy con chim nhảy nhót trên bãi cỏ, vài ba con sóc vui đùa leo lên leo xuống mấy gốc cây cao. Tôi ngó vô con người sức mõn chỉ còn lại chút trí nhớ le lói ánh chiều tàn mà nghĩ tới mai hậu mình… Cuộc sống một người sau cùng rồi cũng như vậy sao? Tưởng ông đã quên những gì đã nói bỗng ông tiếp, không cần ngó tôi, như là để nói với chính mình, hợp lý như nảy giờ không có lúc ngừng nghỉ:
‘Quyên vô bưng làm nữ cứu thương sống đời nguy hiễm rày đây mai đó hay theo phe quốc gia làm nữ quân nhân như một nghề, sống an lành với chồng con xa chiến trường… Tôi biệt biết. Cha Quyên cũng biệt biết. Chúng tôi hai người đàn ông liên kết nhờ tình yêu đối với một người nữ đã biền biệt tăm hơi, thường ngó nhau buồn thảm. Những cuốn sách của ông đóng bụi trong tủ chẳng còn mời gọi tôi như ngày xưa. Thầy Thìn từ đó lặng lẽ như cái bóng, chuyện coi mạch hốt thuốc ai năn nỉ lắm mới chịu đi, còn thì ngồi trên cái ghế năm xửa năm xưa với bình trà mọi thuở, nhiều khi đến lần sau cách lần trước cả tháng cũng thấy ông trong vị trí đó, trong dáng điệu đó, khiến tôi có cảm tưởng ông ngồi một chỗ, uống trà để cầm hơi, bỏ ăn bỏ ngủ. Ông lắm khi lãm nhãm về những thang thuốc hay như Tứ Quân thang, Ngũ Vật thang, Bổ Trung Ích Khí thang …. rồi chép miệng thở dài. ‘Cũng bởi những nữ tướng kiểu Đào Tam Xuân, kiểu Phàn Lê Huê, những Thập Nhị Quả Phụ, những Sở Vân, những Mạnh Lệ Quân… chuyện sách vở không dễ như chuyện đời. Nó bồng bột quá, nó tưởng mình là con nhà tướng, nó tưởng đâu là súng đạn cũng như cung tên có thể né tránh được.’
Cái xe lăn được điều khiển để ra chỗ có chút ánh nắng sớm. Gương mặt ông già có chút rạng rỡ hơn.
‘Nói về thầy thuốc Thìn ai ghét thì ghét chứ tôi thương đứt ruột. Ông ngâm nga thơ phú làm mình mất thời giờ, ông tuông điển tích nầy nọ chẳng ăn nhập gì tới cuộc sống chung quanh làm mình khó chịu nhưng đó là những kiến thức quí dàng trời.’
Ông già hom hem lục túi lấy chai Dầu Xanh Con Ó ra xức vài quẹt trên nhơn trung, trên yết hầu, trên chớn thủy:
‘Khổ thiệt! Muốn xức dầu phải trốn ra đây! Xức trong đó y tá họ rầy, nói nhiều người chịu không được mùi dầu. Nhứt là thằng y tá người Mễ. Nó nhăn nhăn mũi như là dầu nầy thúi không bằng. Hồi xưa đi hành quân tôi thủ theo mấy chai Nhị Thiên Đường đề phòng trường hợp… Hồi còn má tôi, mỗi khi tôi đi đâu xa má tôi cắt củm mua cho mấy chai….’
Tôi làm thân, đưa tay mượn chai dầu của ông, quẹt trên mũi mình mấy cái.
‘Tôi còn nhớ thầy Thìn cắt nghĩa chữ Nhị Thiên Đường mà chắc trên đời nầy không mấy người Việt Nam nào biết: Nhị Thiên Đường là nhà thuốc cứu người. Dầu Nhị Thiên là dầu cứu người. Nó như ông Trời thứ hai đã cứu mạng ta, ông trời thứ nhứt là cha mẹ đã sanh ra ta…’
Thấy ông già vừa nói vừa ngó những chùm hoa hồng trắng vương giả, tôi liếc mau về phía cửa sổ rồi day qua bứt lẹ cho ông hai cái hoa thiệt đẹp. Đưa bàn tay run rẫy khô cằn đầy gân xanh ra nhận, ông gật gật đầu mà con mắt đã ươn ướt:
‘Ngày trước đâu có tiền để mà tặng hoa tặng quà. Bây giờ muốn tặng bao nhiêu cũng được thì đã không còn người để tặng.’
Tôi được dịp đi sâu hơn chút nữa vào đời tư ông:
‘Bác có bao giờ gặp lại bà Quyên không?’
‘Có mà không, không mà có. Chẳng biết sao mà nói cho đúng!’
‘?????’
‘Cuối năm 58, đại đội tôi đi tiếp ứng, bị phục kích, tan nát. Tôi bị thương nặng ở hai chưn, thằng hiệu thính viên cố kéo ra khỏi trận địa chừng 100 thước, đẩy vô một lùm bụi, lấy cây lá đậy điếm cẩn thận rồi chạy đi vì tiếng nói lào xào của họ đã tới gần. Họ đến kéo xác đồng đội và thu dọn chiến trường. Nằm trong bụi tôi thấy một cái ót quen thuộc, một dáng đi điệu đứng quen quen. Người xưa nói nếu chẳng quen lung đố nhìn nhau cho đặng mà! Chỉ có cặp mắt thôi, cô ta quấn khăn rằn ngang mũi che kín mặt, chỉ chừa có bao nhiêu đó. Tôi định chừng hết 80% là Quyên của tôi. Tôi nín thở, không biết nên im lặng hay kêu lên tên em. Để bảo tồn sanh mạng, tôi quyết định nằm im. Cô ta đi về phía tôi, hơi khựng lại một chút khi nhìn thấy cặp mắt của tôi qua kẻ lá rồi quay về, kéo theo hai người đồng đội nam, mặt đằng đằng sát khí vừa bước tới…
Ngày ấy tới nay đã bốn chục năm rồi tôi chưa giải được bài toán đó. Có thể là Quyên, có thể không. Có thể người ấy thấy tôi, có thể không. Đời mà! Thiệt thiệt hư hư, tỉnh tỉnh mê mê. Phải phải quấy quấy, như sự ra đi của Quyên. Để yên lòng, tôi đồ chừng lúc đó mình bị thương nên mê man và hình ảnh cái cô bận bà ba đen bịt mặt bằng khăn rằn kia là không có thiệt. Mê mà!’
Tôi nói vuốt đuôi và đưa tay đẩy cái xe lăn vài ba thước cho ông vui.
‘Có thể là mê đó bác, chuyện nầy người ta kêu là sảng, không có thiệt đâu. Nhứt là khi mình bị thương quá đau đớn, quá cận kề lằn mứt tử sanh.’
‘Sau trận đó tôi thường nằm chiêm bao thấy Quyên, rõ ràng, nhưng mặt buồn dười dượi mà vía tôi trong chiêm bao cũng buồn, cái buồn lạ lắm, kéo dài tới thức dậy hồi lâu vẫn còn. Vía tôi hỏi gì Quyên cũng lắc đầu không nói rồi đi xuyên qua người tôi, mất biệt. Tôi đồ chừng Quyên đã….’
Ông già Chà bật khóc nức nở. Tôi để tay lên vai ông an ủi.
Một luồng gió lạnh thổi qua hơi lâu. Tôi rùng mình. Ông già hắt hơi hai ba cái thiệt mạnh như muốn văng ra khỏi cái xe lăn rồi im trong vị thế ngồi không được thoải mái với cái đầu nghẻo xuống, cằm chấm ngực. Tôi đợi một lúc lâu mới đưa tay lên mũi ông để nghe hơi thở.
Êm re.
Tránh qua một bên để nhân viên nursing home làm việc, ngó gương mặt buồn man mác nhưng đượm chút thanh thản của người chết, tôi nghĩ rằng Trời đất đã ban cho ông một hương vị đời, tuy thật tế có chua cay đắng chát nhưng hương thơm của tình yêu trai gái thuở thiếu thời còn đọng hoài trong trái tim, cứ thoang thoảng dịu êm làm ông mang cảm giác buồn buồn dễ chịu.
Ông già Chà ra đi mang theo cuộc tình không trọn. Tôi biết chắc tình yêu của ông với bà Quyên nào đó là mối tình trọn vẹn trong lòng ông nếu không nói là đẹp đẽ vô song. Không đẹp sao ông ôm ấp nâng niu tới hơi thở chót, không đẹp sao ông mang vác từ quê hương tới xứ người?
Trên đường lái xe về, tôi lại muốn nghĩ rằng người nữ mà ông già Chà thấy không phải là bà Quyên. Và người đó cũng không thấy ông đương nằm vái Trời trong bụi rậm. Mà Trời Đất Quỷ Thần ơi! Tại sao tôi lại bận trí về chuyện tình thời xa xưa của một ông già chẳng thân tộc gì với mình! Biết đâu lúc hắt hơi cuối đời là lúc ông nhìn thấy cái má lúm đồng tiền của người con gái năm xưa trong khói sương mờ ảo của Vô Thức. Biết đâu người tình của ông chờ đợi bao nhiêu năm nay mà ông cứ nấn níu hoài trên cái cõi trần tạm bợ để mong có ngày gặp lại cố nhân “lai vô ảnh khứ vô tung …”Nguyễn Văn Sâm
(Khởi bút, Sàigòn đầu tháng 3, 2018. Kết bút, California cuối tháng 5.)Lời người viết truyện:
Quí bạn,
Truyện hơi dài dòng há! Tôi vừa viết vừa nhớ lại vài ba chuyện của Nguyễn Tuân ấy mà: Nét Bút Người Tử Tù. Đố chữ (?)… Mấy câu thơ ông thầy đông y Thìn ngâm nga, thấy trong kinh ‘Bách Tuế Tu Hành Kinh’ của Vân Thê đại sư百歲修行經﹣雲棲大師戒殺修行勸世文, kinh Phật bình dân của Tàu phổ biến ở VN vào cuối thế kỷ 19. Dịch thoát mấy đoạn đầu: 我吃長齌慢六親 親朋來到冷淨靜 只有茶來沒有酒 只有素菜沒有葷…. Cũng nên nhắc lại vài ba từ ngữ thời của truyện này, cuối 40 đầu 50, nay đã đổi thay hay đã mất, xe máy: xe đạp; giấy oảnh: tờ giấy hai chục đồng Đông dương. Tiền nầy có giá trị rất lớn thời đó, có thể bằng 20 triệu tiền hồ bây giờ. Xin lỗi nếu truyện làm bạn chán đọc. Hình như tôi viết cho những người ở tuổi thất thập cổ lai… (NVS)
-
Nói thêm về tác giả NgọcCường
Như hầu hết quý vị có thể đã biết, tôi đọc tác giả Bâng Khuâng từ ngày ông còn là một cậu bé chưa tới 10 tuổi, viết những đoản văn thật ngắn về những điều tỉ mẩn xảy ra trong cuộc sống đời thường hàng ngày.
Kể từ kỷ niệm xa xôi ấy, đến nay đã hơn nửa thế kỷ, tôi thực sự không còn nhớ chi tiết của bài viết ký tênTường Cường, chỉ chiếm chừng nửa trang giấy khổ nhỏ của tờ Văn Hóa Ngày Nay, bộ mới, dưới sự chăm sóc của cố văn hào Nhất Linh. Tuy nhiên, ấn tượng sâu đậm vềmột Con Muỗi bị kẹt trong cái màn buông trên giường ngủ của cậu bé tác giả, ở lại rất lâu, rõ nét, trong trí nhớ tôi.
Mãi tới năm 2014, khi tác giả từ Ohio về quận Cam ra mắt tập truyện ngắn đầu tay Bèo Giạt, ông có nhã ý mời tôi nói ít lời về cuốn sách trong lần gặp mặt đầu tiên ấy, nghe tôi vui mừng nhắcchuyện cũ mà ông không hề hay biết, cũng không nhớ chính ông là tác giả đoản văn tôi đang nói đến, nên ông ngạc nhiên và bối rối ra mặt. Phần tôi, cũng bối rối không kém dù không chút ngờ vực về trí nhớ của mình. May mà ông là nhân vật có thật, đang ngồi trước mặt tôi, có tác phẩm trình làng, từng ký bút hiệu Tường Cường nay thay đổi chữ lót, trở thành Ngọc Cường để ghi nhớ tên cô con gái đầu lòng đã mất thời ông chinh chiến xa nhà. May hơn nữa là ông nhận có viết lách ngày còn bé vì không biết làm gì thời thơ ấu lang thang nhàn rỗi ấy, chỉ không nhớ chuyện Con Muỗi.
Sở dĩ tôi mạn phép lan man như thế chỉ để đi tới kết luận là sau ngần ấy năm tháng tích lũy những gìông tha thiết cưu mang, cần viết ra, tác giả Ngọc Cường của đầu thế kỷ 21 trong bối cảnh một nước Mỹ to lớn, quyền lực, hung hãn, phức tạp, vẫn y nguyên là Tường Cường của một thời trẻ dại, sớm mồ côi mẹ, trôi nổi giữa thành phố Saigon không có nơi an trú yên ấm cho thể tánh mỏng manh và đa cảm của cậu. Do bản năng sinh tồn hay do thiên khiếu sớm sủa báo trước văn tài, cậu bé Cường đi tìm nơi ẩn náu trong đám đông sinh vật hiện hữu xung quanh bằng cách chú tâm quan sát cuộc sống của những sinh vật nào cậu có cơ hội tiếp cận, bắt đầu bằng Con Muỗi. Cùng với tuổi đời, khung trời tuổi nhỏ của cậu ngày càng mở rộng. Hết quan sát và vui chơi thân thiện với loài vật, cậu hướng đến con người, vô hình chung, tạo ra một trường phái sáng tác riêng biệt.
Tôi gặp lại Tường Cường của thập niên 50 thế kỷ 20, sau rất nhiều phong ba, bão tố xảy đến cho Việt Nam ở một thời khoảng lịch sử nhiều biến động, thế nhưng tưởng chừng tác giả Con Muỗi vẫn y nguyên là ông với đôi mắt điềm tĩnh nhìn đời như một thiền sư an nhiên trước sự an bài không tránh khỏi của duyên nghiệp tiền định.
Cảm giác lập tức của độc giả khi đọc Bèo Giạt, như tôi đã chia sẻ trong lần ra mắt tập truyện cách nay bốnnăm, là sự tẻ nhạt. Tựa như khi chúng ta xem một cuộn phim không có nhiều tình tiết hư cấu gay cấn, không có cả sự phóng tay làm ra số phận của các nhân vật theo ý riêng mà chỉ là một chuỗi nối kết những gì xảy ra cho các nhân vật củaông trong đời thường, được ghi lại bằng ống kính của một nhiếp ảnh gia nhìn thấu suốt sự bất lực của kiếp người. Cho tới nay, có lẽ không có nhiều tác giả có được sự khép mình để chấp nhận, để có cách nhìn khiêm nhượng nếu không nói là hàng phục của Ngọc Cường. Bên trong, bên dưới cảm giác nhạt nhẽo, nhàm chán, còn một cảm giác bi thương ít ai chịu nhìn nhận, mà, cho dù nhìn nhận hay không, nỗi bi thương vẫn đè nặng lên mỗi phận người. Tuyệt đối trung thành, một cách tỉ mỉ trong mỗi ghi nhận, ông cũng dùng đúng thứ ngôn ngữ tuyệt đối giản dị trao đổi hàng ngày giữa các nhân vật ông chọn đưa vào sổ thiên tào. Để tuyệt đối là một người kể chuyện đứng ngoài, ông giấu nhẹm mình, không chịu trách nhiệm về những vui /buồn hay may/rủi mà các nhân vật ấy phải nhận lãnh, trong đó có bản thân ông cũng cố lờ đi buồn/vui, may/rủi của chính mình.
Có một lý thuyết được công nhận rộng rãi, kể cả với nhà văn Ngọc Cường, rằng chính khán giả, độc giả của mọi công trình trước tác hay sáng tác được hình thành bởi các tác giả có tác phẩm, mới là những người thực sự kếtthúc các tác phẩm ấy, cho chúng một linh hồn, một dung mạo và một ý nghĩa. Đọc Bèo Giạt, đọc Hệ Lụy hay đọc Bâng Khuâng của Ngọc Cường là trường hợp điển hình cho lý thuyết này.
Câu chuyện nào của ôngcũng lơ lửng tầng mây, là những bức ảnh khoanh lại một mảng thời gian không đầu, không đuôi, như thể ai rồi cũng chỉ có một quãng đời để sống, với gặp gỡ rồi biệt ly ở nơi đến và nơi đi, bằng tiếng cười thoảng qua, bằng tiếng khóc ở lại, không bao giờ biết rõ xuất xứ cũng như chung cuộc của sự xuất hiện những khoảng khắc vô nghĩa ấy.
Hơn nửa thế kỷ viết trong cưu mang lặng lẽ hay viết xuống những mặt giấy lạnh lẽo, Ngọc Cường tạo ra một trường phái của riêng ông qua ngót nghét gần ngàn trang sách phản chiếu một nhân sinh quan nhất quán xuyên suốt ba tác phẩm tuần tự góp mặt trên văn đàn hải ngoại mỗi hai năm một cuốn, 2014, 2016 và 2018. Bày tỏ trong lời mở ở phần đầu cuốn Bâng Khuâng quý vị đang có trong tay, tác giả chia sẻ: “Do ngôn ngữ và chữ viết có giới hạn khi diễn tả hay tiếp nhận tư tưởng cùng cảm xúc nên không ai có thể tường tận hết được người viết muốn nói gì. Phật đã cảnh cáo các môn sinh trong câu “Như Lai xưa nay chưa nói lên điều gì cả.”
Ông ở trong và cũng ở ngoài tác phẩm. Ông viết để chữ nghĩa cất lên tiếng nói của chúng. Y như chúng ta ai cũng có một cuộc đời mà mình không thực sự làm chủ, tưởng là có hóa ra không, muốn thế này, nó ra thế nọ. Ngẫm cho cùng, nỗi bi ai đeo đẳng con người, kim cương hay châu ngọc long lanh có khác gì hàng mã? Biết vậy nhưng con ngườihết đời này qua đời khác, vẫn phải gánh vác thánh giá và chặng đường khổ ải trong nhọc nhằn vinh quang này, sau cùng, được giải thích bằng nước mắt yêuthương của Mẹ hiền Maria hay của Phật Bà Quán Thế Âm luôn đổ xuống thân phận con cái các bà như một cứu rỗi. Ngọc Cường ca ngợi tình yêu/tình thương, thấy trong đó sự an ủi: “Dường như ở làng Jaux hẻo lánh hay bất cứ nơi xa xôi nào khắp thế giới, một khi có tình yêu gia đình và tình thân của bạn bè, nơi đó có niềm vui và hy vọng.” (Lưu Vong, tr. 94) “Phải chăng tình yêu chỉ có ý nghĩa khi làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn?” (Yêu và Hận, tr. 46) Độc giả sẽ gặp những câu trích dẫn tương tự rải rác ở nhiều nơi khác trong cả 3 tập truyện của NC.
Để minh họa những lời liều lĩnh vượt cả khuyên răn của Như Lai trong phần bày tỏ hôm nay, tôi xin mượn ba truyện kể của tác giả NC trong tập Bâng Khuâng, được chọn ra do chính tác giả,một văn hữu cùng họ tộc Nguyễn Tường và một người đọc phái nữ, là các truyện Long và Thủy (tr. 13) Lưu Vong (tr. 79) và Mối Chân Tình (tr. 95) để giới thiệu cùng quý vị.
I.- Truyện Long và Thủy, ngay đầu sách, mô tả một đôi tình nhân thời loạn ly, đang trong tình cảnh sắp phải chia tay bên ngoài cổng phi trường. Long sẽ trở lại đơn vị với cuộc sống đầy bất trắc của người lính xưa nay chinh chiến mấy ai về? Thủy từ đây sẽ không còn là cô sinh viên vô tư đi bên lề vận mệnh đất nước như bao lâu trước mà bắt đầu biếtlo âu thế sự. Thế nhưng trong giây phút chập chùng biệt ly ấy, cả hai “vẫn đứng yên một chỗ, không biết nói gì với nhau.” Nàng thì liên tưởng tới một cảnh trong phim Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết, khi người lính Đức còn trẻ bị bắn gục, trên tay còn nắm lá thư của người tình hậu phương báo tin nàng có thai, tỉnh bơ như chuyện của ai khác, liên tưởng nhưng không nghĩ chuyện liên quan tới chính mình cũng đang trong cảnh ngộ kẻ hậu phương, người tiền tuyến yhệt các nhân vật trong phim. Ngồi trong quán nước, họ tính nhẩm cả chuyện ai sẽ trả tiền món giải khát và khi Thủy “đưa cho Long ly rau má, chàng lắc đầu, nàng bèn uống một lèo hết ly.” (Tr. 22.)
Kể lại nguồn gốc cuộc tình, Thủy cho biết: “Hôm đó không phải là lần đầu hai người gặp nhau nhưng lại là thời điểm bỗng dưng nàng biết chắc chắn mình đã yêu, rõ ràng như định mệnhđã an bài.” Nghĩ về tương lai cuộc tình, Thủy chia sẻ dự tính chắc mà cũng không chắc của một cô dâu ngày cưới, lấy chồng thời chiến chinh: “Em sẽ đi dạy học, tiện thời gian lo việc nhà cửa, con cái nhưng đó chỉ là giấc mơ xa vời trước hoàn cảnh bấp bênh của Long.” Rồi nàng thấy tủi thân, bất lực, như bị một guồng máy khổng lồ nghiền nát mình.” (Tr.20) Rồi nàng nhận ra “cuộc đời của họ – gồm 4 người, hai chị em Thủy và Hà, hai người bạn Long và Châu- đều mong manh, bấtđịnh, như đám mây lơ lửng trên đầu đôi tình nhân trưa nay không biết sẽ trôi vềđâu? (Tr. 20) Truyện kết thúc bằng câu hỏi vẩn vơ không có lời giải đáp của Châu lúc Saigon sắp mất và Châu sắp ra đi không có Hà theo: “Cớ sao người bạn thân thiết nhất của mình (là Long) lại có thể là người lính cuối cùng gục ngã cho cuộc chiến?” Không chỉ Long không có mặt, cả Châu cũng mơ hồ như chiếc bóngbên đường của ai khác vào giây phút hạ màn bi thảm trong vở kịch của họ.
Truyện “Long và Thủy” đóng lại bằng cảnh hai người lính già vô danh lạc lõng trong một tiệc cưới tràn trề bia rượu và tiếng nói cười huyên náo ở Bắc Cali. Họ nhắc tới Long và Thủy như chút kỷ niệm đã xa mờ trên dòng thời gian phôi pha.
II.- Truyện Lưu Vong, tr.81, xoay quanh bữa ăn tối do vợ chồng Lan và Thọ thết đãi vợ chồng Oanh và Dũng tại nhà. Thọ là bác sĩ, chẳng biết duyên nghiệp bởi đâu, đã định cư ở Jaux, một ngôi làng nhỏ, cách Paris 60 cây số hướng Bắc. Chồng hành nghề thầy thuốc, v ợ cặm cụi đi làm công chức cho thành phố mấy chục năm, họ xây được một dinh cơ đồ sộ bốn tầng lầu ở ven làng và sống sung túc. Bữa ăn tối tuy đãi bạn các món quốc hồn quốc túy, rau muống luộc đánh dấm cà chua, cá nục kho song vẫn theo lối Tây, uống rượu khai vị và tráng miệng bằng bánh hạnh nhân. Dũng vốn không ưa Thọ vì sự cách biệt giai cấp xã hội nên dù Thọ cầu thân, Dũng vẫn không muốn gần gũi nhiều. Chàng muốn vợ từ chối lời mời nhưng rồi vốn quen để vợ quyết định, chàng lại theo đi. Ăn xong, thấy nụ cười đắc ý trên môi Lan, hãnh diện vì bữa cơm ngon, thấy Thọ xoa bụng trong một cử chỉ thỏa thuê, khoe đã bảo được vợ phải đi chợ Tăng Frères để mua thức ăn hiếm quý mời bạn nhưng Dũng không bận tâm nữa mà thoải mái thưởng thức cái ghế bành đặt cạnh lò sưởi, hơi ấm lửa củi nhà Thọ dễ chịu hơnhẳn cái máy sưởi cũ kỹ nhà mình, thậm chí “cảm giác êm ái như đang được sống dưới mái ấm gia đình.” Hai vợ chồng đã hẹn nhau phải ra về cho kịp chuyến xe lửa cuối rời làng lúc 11 giờ đêm nhưng rồi họ để cho nhiều sự tình cờ lôi cuốn và cuối cùng ở lại không chỉ qua đêm mà cả ngày hôm sau nữa. Quan trọng hơn, thông qua cảm nghĩ đổi thay trong bản thân, Dũng nhận ra dáng vẻ ung dung, phong lưu quý phái của vợ chồng chủ nhà thật ra cũng đáng yêu, chỉ chính mình đáng trách vì đã xét người hời hợt. Biên giới giữa đáng yêu và đáng trách có thật mỏng manh, dễ xóa nhòa như thế không hay đấy là sự thỏa hiệp để mà sống, kiểu Bài không tên số 6 của Vũ Thành An, “Hãy cố yêu người mà sống, lâu rồi đời người cũng qua?” Còn gì tội nghiệp hơn thếcho một kiếp nhân sinh? Sau cùng, nhân vật Mụ Hường trong cùng truyện khiến Dũng khám phá ra ý nghĩa sâu xa hơn của hai chữ Lưu Vong, là mất quê hương vàcũng mất chính mình, vong quốc hay vong thân như bóng với hình.
III.- Trong truyện Mối Chân Tình, tr. 95, tác giả mô tả cảnh đời khó nghèo của đôi vợ chồng Lan và Thân từ khi còn ở trong nước và trước nữa, khi họ còn là hai thành viên trong một nhóm nhỏ sinh hoạt Phật sự, lấy nhau trong mơ hồ, không biết do tình yêu hay chỉ là tình bạn mà chỉ “với một nội dung đơn giản là một khi đã là bạn với nhau, họ sẽ là bạn suốt đời như dấu ấn in đậm nét lên trang giấy trắng” (tr.102) Biến cố30/4/75 xảy ra, Thân mang cấp bậc trung úy, chỉ huy một đại đội cố thủ ở Phước Tuy, không bỏ chạy theo Tiểu đoàn trưởng đã đào ngũ mà hô hào binh sĩ thuộc quyền bắn hạ cả xe tăng T54 của địch để rồi kẹt lại và phải trình diện vào trại cải tạo. Lan một mình lăn lóc, bươn chải chợ Trời nuôi hai đứa con dại và chồng tù tội vắng nhà. Nhiều đêmtrên căn gác nhỏ, nhìn con thơ say ngủ, Lan vừa ứa nước mắt thương thân vừa hãnh diện không biết bằng cách nào mà mình có thể chu toàn cả hai vai trò làm mẹ và làm vợ tù như thế? Các nhân vật của Ngọc Cường sống lam lũ, vất vả, đếm từng giọt mồ hôi, nước mắt để sinh tồn nhưng luôn với tâm thế bơ vơ, lạc lõng, như những chiếc lá bị gió cuốn đi.
Thân trả nợ cải tạo xong, thời cuộc đưa đẩy cả gia đình qua Mỹ định cư. Hai vợ chồng, hai đứa con hội nhập khó khăn vào xã hội mới. Ngoài công việc của một nhân viên gác đêm để kiếm sống, Thân tìm khuây khỏa bằng cách lên chùa làm công quả để chỉ thấy cảnh chùa và cảnh Bolsa cũng na ná như nhau song chàng không có lựa chọn nào khác.Ngoài đi chùa, khi có cơ hội, Thân mời bạn bè tới nhà nhậu nhẹt, nhắc chuyện ngày xưa. Đứa con gái lớn lên, lấy chồng, sinh con đẻ cái và sống làng nhàng quangày với công việc của một cô thợ móng tay. Đứa con trai ham chơi, lang bạt,không chịu học hành, không chịu đùm đềvợ con như con cái nhà khác cho cha mẹ có cháu nội bế bồng. Thân giận lắm nhưng vẫn không từ bỏ được con. Lan vừa tạm ổn định cuộc sống thì biết làmình bị ung thư, phải làm hóa trị. Nghe chồng mời bạn tới nhà, chị phàn nàn“Tôi mệt quá mà anh còn kiếm thêm việc, tôi không dọn dẹp được đâu đấy, uống vừavừa thôi, đừng để say quá rồi nói năng bậy bạ.” Nói là nói thế nhưng chập sau, chính Lan lại đề nghị chồng mời thêm bạn và tự nguyện móc túi đưa thêm tiển để chồng chợ búa, mua thêm rượu và thức ăn. Cứ như họ là những quân cờ dưới bàn tay của một kỳ vương đầy quyền năng và có lòng tốt đáng tin cậy như tác giả nhận định (tr. 105) Câu chuyện cứ thế mà kéo lê thê qua 14 trang giấy, mô tả cuộc sống của một tập thể nhỏ người Việt di tản quần cư ở tiểu bang California có đông người Việt nhất, cách sống, cách ứng xử của họ với nhau và với cảnh ngộ bất ưng, những buồn vui họ trải qua, nhiều tâm sự giống nhau và khác nhau tùy thuộc những thành công hay thất bại trong nỗ lực riêng; chuyện cha mẹ trong hai gia đình cố cựu đành quên ước hẹn hôn nhân cho con cái trong nỗi ngại ngùng vì địa vị xã hội nay quá chênh lệch; chuyện đi hay không đi biểu tình như một cách bày tỏ lập trường chống cọng vì tuy lập trường chỉ có một nhưng động cơ và quan điểm thể hiện không nhất quán từ góc nhìn của mỗi người; chuyện một ông đại tá như đại bàng gãy cánh trong tháng tư đen, chịu hàng phục nghịch cảnh để trở thành cai tù đối với anh em cùng trại giam, sớm tối tả tơi quát tháo anh em y như một nhân vật phường tuồng để rồi qua đây, chui nhủi vì hổ thẹn và cuối cùng xuốngtóc đi tu; chuyệnkhi qua đời, có những cựu chiến binh quân lực VNCH lưu vong trối trăn xin đừng phủ cờ trên quan tài vì họ đã không có cái vinh dự hy sinh ngoài chiến trường..vv..
Cứ thế, cứ thế, chi tiết, tỉ mẩn, kiên tâm, Ngọc Cường ôm hếtcuộc sống trong vòng tay, chăm chút, thương yêu quan sát, ghi chép. Không có gì lớn lao cả nhưng đó là những mảnh đời có thật dưới ánh mặt trời, những buồng phổi người đã cố gắng thở, những trái tim người đã cố gắng đập và sẽ không bao giờ được biếtđến như những trang ngoại sử mà chính sử sẽ thiếu sót nếu không có ai thấy mìnhở trong và ghi chép lại. Ngườichiến sĩ vô danh hy sinh trên mặt trận súng đạn được tri ân với đài tưởng niệm,được ghi công và tuyên dương bằng sử sách; người thường dân vô danh chết trên mặt trận sinh tồn của nhân loại không có lúc nào ngưng nghỉ cũng cần được quan hoài vì những đóng góp của họ để xây dựng xã hội. Đọc Ngọc Cường để có những giây phút thấm ngấm phận người và phận mình, là phiên bản của nhau trên dòng sinh mệnh vô tận chung, may ra chúng ta sẽ dễ dàng đến với nhau và xót thương nhau hơn, sẽ cùng nhau hoàn chỉnh bản nháp CON NGƯỜI, tác phẩm đầu tiên của Thượng Đế, mộ tcách có ý nghĩa hơn .
Mạo muội chia sẻ vài nhận định thô thiển với ít nhiêu chủ quan của tôi hôm nay về tác phẩm thứ 3, Bâng Khuâng, của nhà văn Ngọc Cường, kính mong quý vị và tác giả lượng thứ mọi suy diễn hạn hẹp, sai sót chắc chắn phải có của chúng tôi, xin quý vị mỗi người hãy cầm một cuốn Bâng Khuâng về nhà, đọc để tự mình đón nhận những gửi gấm tâm huyết và chân tình của tác giả, để qua đó, thấy cuộc đời như giòng sông, chỗ sâu chỗ cạn nhưng luôn chan chứa sức sống bền bỉ của nhân loại, trong đó, mỗi chúng ta được vinh hạnh thấy có mình dự phần.
Bùi Bích Hà
-
Tản Mạn Về Mùa Xuân Qua Thi Ca
Việt Hải, LA
Bây giờ tháng 12, cận cuối năm 2018, giới báo chí chuẩn bị bài vở cho Giai phẩm Mùa Xuân. Xuân cũng là dịp Tết. Hình như không gian đang rộn rã và hình như lòng tôi cũng đang hân hoan lắm. Nói đến Tết thì Tết lại vào mùa Xuân, là Năm Mới, là Lễ Hội. Tôi lại vung bút ca “bài ò e con ma đánh đu” tiễn đưa Năm Cũ Mậu Tuất 2018 ra đi và để đón mừng Năm Mới 2019, theo âm lịch là năm Kỷ Hợi.
Thật vậy, Tết mang tính linh thiêng đối với mọi người, mọi nhà, mọi giới và mọi tôn giáo.Tết Nguyên đán là thời điểm giao mùa đón Xuân sang. Mùa Xuân vốn là mùa các thi sĩ có nhiều cảm hứng với thi ca. Từ Đông sang Tây, như từ Nguyễn Bính, Huy Cận,Vũ Đình Liên, J. Leiba, Đinh Hùng, Hồ Dzếnh, Hàn Mặc Tử, Phạm Anh Dũng, Hồng VũLan Nhi, Cao Mỵ Nhân, Yên Sơn, Trần Dạ Từ, Lê Hân, Khiếu Long, Kim OanhAustralia, Annie Trần, Nguyễn Hiền, Kim Tuấn, Hồ Dzếnh, Hà Huyền Chi, Quyên Di,Hải Vân Sagittaires, Marie Christine TV, Thái Tú Hạp – Ái Cầm, Trần Việt Hải,Trần Mạnh Chi,… đến Victor Hugo, Paul Verlaine, Emily Dickinson, WilliamBlake, William Shakespeare, Théophile Gautier, và Charles Baudelaire.
Khi nào là Tết? Khi nào hết Tết?
Thuở nhỏ khi ta nhắc đến Tết như là cái gì còn lâu lắm, là cái gì phải trông chờ. Do vậy trong dân gian có những từ ngữ vui vui như: Tết Mán mọi, Tết Ma-rốc, Tết Công-gô,… như cái gì “còn khuya”, “còn lâu”!
“Cu kêu ba tiếng cu kêu,
Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè”.Với dân miệt Lục Tỉnh, hễ qua ngày Mồng 10 tháng Chạp là coi như Tết rồi. Mãi hết ngày Mồng 10 tháng Giêng năm sau thì cái không khí Tết mới hết dần đến cuối tháng Giêng là hết Tết.
Mùa xuân là một trong bốn mùa thường được công nhận ở những vùng ôn đới và vùng cận cực nam bắc, tiếp nối mùa đông và diễn ra trước mùa hạ. Về mùa xuân có rất nhiều định nghĩa, nhưng cách sử dụng khác nhau tùy vào khí hậu, văn hóa và tập quán của mỗi khu vực. Khi ở Bắc bán cầu đang là mùa xuân thì ngược lại ở Nam bán cầu sẽ là mùa thu. Vào ngày xuân phân, ngày dài xấp xỉ 12 giờ và kể từ đó trở đi quãng thời gian ban ngày bắt đầu tăng lên. Ngoài đề cập đến một mùa trong năm, mùa xuân hay “thời kỳ mùa xuân” còn thường được liên tưởng đến sự tái sinh, trẻ hóa, đổi mới, sự sống lại và tái phát triển.
Trong phạm vi văn chương thì năm tháng hay bốn mùa (có mùa Xuân, danh từ chung) dùng để tính thời gian đã trôi qua, ví dụ như:
“Xuân này đến nữa đã ba xuân,
Đóm lửa tình duyên tắt nguội dần.”
(Nguyễn Bính)hay
“Anh cho em mùa xuân
nụ hoa vàng mới nở,
chiều đông nào nhung nhớ…Anh cho em mùa xuân
mùa xuân này tất cả
lộc non vừa trẩy lá”
(nhạc Nguyễn Hiền, thơ Kim Tuấn).hay
“Bầy chim hót líu lo chào mừng
Nụ xuân ngát hương dịu ngọt ngào
Làn gió mát đưa tình lên cao…Mầu môi thắm sao mà nồng nàn
Dòng tóc vắng bay trong chiều vàng
Em có biết xuân về hay chăng?”
(nhạc Phạm Anh Dũng)Về ý nghĩa”Xuân” như một tĩnh từ thì trong văn chương như “xuân sắc”,”xuân xưa”, “xuân xanh”, “thanh xuân”,… thuộc về tuổi trẻ, hay thuộc về thời xưa cũ, đã qua, hoặc hàm ý là tươi đẹp, tràn đầy sức sống như tuổi xuân, ví dụ như trong câu thơ sau:
“Gió đưa cây trúc ngã quỳ,
Ba năm chực tiết còn gì là xuân!”
(Ca dao)hay
“Đi bên nhau hồn chậm với vai gần
Tiếng ca buồn ôi tiếng hát thanh xuân
Ta dừng lại và nghe chiều rét mướt
Em mười sáu, tuổi kiều thơm dịu ngọt”
(bài “Ngự Trị”, Trần Dạ Từ).hoặc
“Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời.
Bao cô thôn nữ hát trên đồi.
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi”.
(“Mùa Xuân Chín”, Hàn Mạc Tử).Trong thiên văn học người ta định nghĩa mùa xuân bắt đầu từ thời điểm diễn ra tiết xuânphân (khoảng ngày 21 tháng 3 ở Bắc bán cầu và ngày 23 tháng 9 ở Nam bán cầu) và kết thúc vào thời điểm diễn ra tiết hạ chí (khoảng ngày 21 tháng 6 ở Bắc báncầu và 21 tháng 12 ở Nam bán cầu). Trong khí tượng học, để thuận tiện thì người ta tính mùa xuân bao gồm toàn bộ các tháng Ba, Tư và Năm ở Bắc bán cầu còn tại Nam bán cầu là toàn bộ các tháng Chín, Mười và Mười Một.
Tuy nhiên,theo truyền thống thì lịch của một số nền văn hóa như lịch Ireland chẳng hạn, người ta tính toàn bộ các tháng Hai, Ba và Tư. Tại Việt Nam cũng như các nướckhác chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa thì người ta tính mùa xuân bắtđầu từ thời điểm diễn ra tiết lập xuân (khoảng ngày 5 tháng 2) và kết thúc tạithời điểm diễn ra tiết lập hạ (khoảng ngày 5 tháng 5).
Tết là mùaxuân của vạn vật. Mỗi năm xuân về một lần. Thế thì con gái tuổi nào là tuổi xuân? Xưa các cụ nói con gái tuổi trăng tròn là xuân. Tuổi đời của mỗi ngườ iđẹp nhất là thuở thanh xuân và nó lại càng đẹp hơn khi tuổi thanh xuân ấy bỗng xuất hiện một bóng hình để ta nhung nhớ và yêu thương, hãy xem thơ Đinh Hùng. Để rồi ta nghĩ ngợi về hồn thơ thi nhân Đinh Hùng nhìn xuân sang mà nhớ hương xuân người xưa:
“Xuân nào như xuân mới?
Hương nào như hương xưa?
Lòng chàng không có tuổi
Duyên chàng se tình cờ”.Trong bài”Năm qua”, nhà thơ J. Leiba (tức Lê Văn Bái đồng thuở với những TháiCan, Đông Hồ, Thế Lữ,…) cho thơ tỏa nét âu yếm yêu kiều của nỗi lòng vui buồn của người xuân nữ ở lứa tuổi trăng tròn:
“Em nhớ năm em lên mười lăm
Cũng ngày đông cuối sắp sang xuân
Mừng xuân, em thấy tim hồi hộp
Nhìn cái xuân sang khác mọi lần”.Khi mùa xuân mới về mọi người chúc tụng những điều tốt đẹp an lành, hãy nghe thơ Cao Mỵ Nhân:
“Hãy chúc nhau Xuân vàng bất tận
Trên quê hương đại mộng viên thành
Những cành lê tuyết từ muôn dặm
Trao tặng non sông vạn ý lành”.hay
XUÂN MUÔN Ý
Mở cửa xem Xuân đến cách nào
Xuân từ tám hướng gọi xôn xao
Trầm hương nhã nhạc lan trên sóng
Cánh én bay cùng tiếng hát caoXuân đến khi ta mải đợi chờ
Xin cùng ta sánh bước vào thơ
Ở đây không kể thời gian nữa
Ta với Xuân chung một cõi mơTa hỏi Xuân tươi trọn cuộc đời
Xuân cười: năm tháng có đầy vơi
Nhưng, bao giờ cũng vui như Tết
Bạn hỡi, mau về dự hội chơiXuân ở bên ta mãi nhé Xuân
Bốn bề bát ngát bóng giai nhân
Nguồn thơ bất tận dâng muôn ý
Xuân bỗng thăng hoa đẹp bội phần …
(thơ Cao Mỵ Nhân)Đón mừng, cung nghinh mùa xuân mới, thơ chào mùa xuân sang:
Nhịp Xuân
“nghe trong cành lá chờn vờn
tiếng gió tâm sự van lơn nhánh cành
màu xanh mướt rượt màu xanh
nắng xuân vừa lót long lanh nét tìnhtôi nghe gót bước bình minh
đi vào thành phố cung nghinh em về
dáng mai huệ sánh đề huề
bên lan bên cúc tỉ tê bước cùngáo hoa vạt lụa tà nhung
lâng lâng chở mộng vào chung với người
góp nhau từng mắt môi cười
cho đời thắm thiết xuân tươi trổ màunghe thăm thẳm lời nguyện cầu
trời cao đất rộng lòng người bao la”.
(thơ Lê Hân).Trong bài “Khi Em Về Mùa Xuân” như lời bình minh khi xuân về, như khi em về đất trời tưng bừng rực rỡ, vì em là mùa xuân và vì mùa xuân là em, trông đàn bướm vàng bay lượn giữa mùa xuân, ta nhìn em lòng sao nhiều bỡ ngỡ, những mùa xuânxưa khi xa vắng nhau lòng nhớ nhung vô ngần, và nay…
Khi Em Về Mùa Xuân
“Khi em về đất trời bừng rực rỡ
Đàn bứom vàng bay lựon giữa mùa xuân
Ta nhìn em lòng sao nhiều bỡ ngỡ
Xưa xa nhau lòng rạn vỡ vô ngầnKhi em về mùa hoa đăng nở rộ
Cúc, Mai, Đào thơm ngát những mùi hưong
Hồn ta như lạc vào cơn mê lộ
Trong gió xuân ai hát khúc mê thừongKhi em về ta giật mình ngoảnh lại
Đã một thời mình đánh mất đời nhau
Kỷ niệm buồn mắt nhìn nhau ngần ngại
Dấu yêu xưa như chợt sớm phai màu”.
(thơ Khiếu Long).Với ngườ ilính năm xưa, xuân về trong tháng ngày xông pha chinh chiến, chinh nhân trôi nổi theo vận nước, nay trong kiếp sống lưu vong biệt xứ, ta đón mùa xuân nghe sao cằn cỗi trong lòng…
“Anh tiếp tục cuộc đời làm lính
Sinh tử, phiêu bồng đến 1975
29 tháng Tư trời đất hờn căm
Anh thảng thốt theo dòng người
Lìa xa Tổ Quốc
Gần ba mươi bảy năm qua
Vẫn không thể nào quên được
Một thuở ngang trời
Một khúc chia ly
Sáng hôm nay đầu mùa Xuân
Anh ngồi ở nơi đây
Ngồi với cốc cà phê nhỏ giọt
Tai nghe nhạc phong linh cùng tiếng chim ca hót
Đón Xuân về
Sao nghe cằn cỗi trong tim!”
(thơ Yên Sơn)Nhà thơ Vũ Đình Liên là một trong những thi nhân xuất sắc của phong trào Thơ mới. Thuở 1936 ông sáng tác bài thơ “Ông đồ” đăng trên báo Tinh hoa. Bài thơ đi vào văn học sử, ý thơ cho thấy sự thay đổi xã hội, chuyển mình từ nền nho họcs ang tây học.
Bài thơ này được đánh giá như một thi phẩm tuyệt tác và được nhìn từ nhiều góc độ loại nhịp thơ ngũ ngôn, chất bi kịch xã hội tính, nét triết lý về thời gian, tinh thần dân tộc tính, nỗi buồn hoài cổ, nỗi u hoài trước sự xâm lăng của người Pháp,… Điểm chính trong bài viết này là áng thơ nói về mùa xuân…
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua
…Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”Vũ Đình Liên vốn chịu ảnh hưởng Baudelaire. Vũ Đình Liên là nhà thơ kiêm nhà giáo tận tụy với công việc sư phạm, ông dạy học (môn Pháp văn) và dịch thơ, mà hầu như chỉ dịch thơ đại thi hào Pháp Charles Beaudelaire. Do vậy, sự kiện ông thích thơ Beaudelaire, ít nhiều chất thơ tự do tây phương (vers libre occidental) đã là nét đột phá cho ông thành công trong phong trào thơ mới thuở ban sơ, nên bạn bè gọi ông là “Baud Liên”, vắn tắt như là một “BaudelaireVietnamien”.
Thơ Pháp Charles Baudelaire.
CharlesBaudelaire là chủ soái của phong trào thi ca lãng mạn Pháp. Sự lãng mạn vô song trong thi ca yêu đương đầy nét xuân tình của Baudelaire qua trích đoạn phân đoạn I trong bài thi ca như sau…
” Que m’importe que tu sois sage ?
Sois belle ! et sois triste ! Les pleurs
Ajoutent un charme au visage
Comme le fleuve au paysage
L’orage rajeunit les fleurs.Je t’aime surtout quand la joie
S’enfuit de ton front terrassé
Quand ton cœur dans l’horreur se noie
Quand sur ton présent se déploie
Le nuage affreux du passé.Je t’aime quand ton grand œil verse
Une eau chaude comme le sang
Quand, malgré ma main qui te berce
Ton angoisse, trop lourde, perce
Comme un râle d’agonisant.J’aspire, volupté divine !
Hymne profond, délicieux !
Tous les sanglots de ta poitrine,
Et crois que ton cœur s’illumine
Des perles que versent tes yeux !”
(bài Tình khúc buồn, Madrigal triste).Phần chuyển ngữ
“Anh không cần em phải hiền ngoan.
Em hãy đẹp! Và hãy buồn! Đầy nước mắt.
Làm tăng thêm vẻ quyến rũ cho khuôn mặt.
Như dòng sông làm cho phong cảnh đẹp hơn
Như dông bão càng làm cho hoa trẻ lại.Tôi yêu em hơn hết – khi niềm vui
Lẩn tránh vầng trán em nặng trĩu.
Khi trái tim em chết đuối trong kinh dị.
Khi sự hiện diện của em phơi bày.
Đám mây xấu khủng khiếp của thời quá khứ.Tôi yêu em, khi đôi mắt to của em tuôn chảy
Một dòng nước mắt nóng như máu.
Mặc dù tay anh xoa dịu.
Nỗi thống khổ của em quá đỗi nặng nề, làm khoét thủng.
Như để tiếng rên của người hấp hối.Anh hút vào sự khoái lạc thần tiên.
Bài ngợi ca thâm trầm tuyệt diệu.
Với tất cả tiếng thổn thức trong lồng ngực của em.
Và anh tin rằng trái tim em rực sáng.
Qua những hạt ngọc trai long lanh từ mắt em tuôn chảy”.
(thơ Charles Baudelaire)Theo cung cách thi ca lãng mạn như của Baudelaire, xin đan cử ví dụ bài thơ sau:
“Nắng thức dậy tô son con gái
Thắm má đào bỏng cháy hồn si
Đôi mắt biếc thầm nói những gì
Lời hò hẹn xuân thì mở ngõTrang vở ước dòng thơ tình tỏ
Pha mực hiền gắn bó xuyến xao
Xếp từ Y-Ê-U con chữ kề nhau
Trang giấy mới xôn xao thương nhớÝ nguyên trinh đắm say bỡ ngỡ
Đoá mộng đầu e ấp bờ môi
Đời trổ hoa thơm ngát tinh khôi
Chim ríu rít trên đồi Xuân mớiNắng Xuân nay, gió mùa chướng tới
Ký ức hồi tung bới tình xưa
Hồn ai vướng víu ngoài khung cửa
Kìa Xuân! Mùi trầm thoảng hương đưa.(“Kìa Xuân”, Kim Oanh, Australia)
Sự lãng mạn trong thi ca của thi nhân Hồ Dzếnh trước chúa xuân như sau:
Ý Xuân
Trời đẹp như trời mới tráng gương,
Chim ca, tiếng hát rộn ven tường.
Có ai bên cửa, ngồi hong tóc
Cho chảy lan thành một suối hương…Sắc biếc giao nhau, cành bắt cành,
Nước trong, hồ ngợp thủy tinh xanh.
Chim bay, cánh trĩu trong xuân ý,
Em đợi chờ ai, khuất bức mành?Giữa một giờ thiêng, tình rất đẹp,
Mắt buồn và rất… rất thanh thanh.
Mày ai bán nguyệt, người ai nhỏ,
Em ạ, yêu nhau…chết cũng đành!(Hồ Dzếnh, hay Hà Triệu Anh, 1916–1991).
Kế đến, xét qua thơ của nhà thơ lãng mạn Pháp khác là Théophile Gautier. Xem rằng ý thơ khá táo bạo về tình cảm yêu đương…
Nụ cười đầu tiên của mùa xuân (Premier sourire du printemps)
Premier sourire du printemps
Tandis qu’à leurs œuvres perverses
Les hommes courent haletants,
Mars qui rit, malgré les averses,
Prépare en secret le printemps.Pour les petites pâquerettes,
Sournoisement, lorsque tout dort,
Il repasse des collerettes
Et cisèle des boutons d’or.Dans le verger et dans la vigne,
Il s’en va, furtif perruquier,
Avec une houppe de cygne,
Poudrer à frimas l’amandier.La nature au lit se repose ;
Lui, descend au jardin désert
Et lace les boutons de rose
Dans leur corset de velours vert.Tout en composant des solfèges,
Qu’aux merles il siffle à mi-voix,
Il sème aux prés les perce-neiges
Et les violettes aux bois.Sur le cresson de la fontaine
Où le cerf boit, l’oreille au guet,
De sa main cachée il égrène
Les grelots d’argent du muguet.Sous l’herbe, pour que tu la cueilles,
Il met la fraise au teint vermeil
Et te tresse un chapeau de feuilles
Pour te garantir du soleil.Puis, lorsque sa besogne est faite,
Et que son règne va finir,
Au seuil d’avril tournant la tête,
Il dit : “Printemps, tu peux venir !”.”Phần chuyển ngữ
“Đương khi con người chạy hết hơi
Đến với những công trình tai quái của họ
Tháng Ba cười, dẫu những cơn mưa rào ào ạt
Vẫn ngấm ngầm soạn sửa mùa xuânVới những bông hoa cúc nhỏ xinh
Nó thầm lén khi mọi vật còn đang thiếp ngủ
Là đi là lại những cổ áo xếp nếp
Rồi tỉa tót những nụ vàng tươiTrong ruộng nho trong vườn cây quả
Nó đến rồi, gã thợ cạo lẻn qua
Với một nhúm tua mào chim thiên nga
Rắc sương giá lên vườn cây hạnhTrên giường thiên nhiên đang ngơi nghỉ
Còn nó, đi xuống vườn hoang
Và thắt giùm hoa hồng những nụ
Trong chiếc yếm nịt nhung xanh kiaVừa sáng tạo những hoà âm
Nó huýt khẽ với đàn chim sáo
Vừa gieo những bông hoa tuyết trên đồng
Còn trong rừng gieo hoa tím rung rinhTrên đám cải xoong bên dòng suối
Tai nghe ngóng, hươu cúi đầu uống nước
Bằng bàn tay kín đáo nó lẩy từng bông
Hoa chuông bạc long lanh của cây linh lanDưới cỏ, để cho anh hái được
Nó đặt trái dâu, da mọng hồng tươi
Và dệt cho anh chiếc mũ lá cây
Để tránh ánh nắng trờiThế rồi, khi công việc đã xong xuôi
Sự trị vì sắp đến hồi kết thúc
Bên ngưỡng cửa tháng Tư quay đầu lại
Tháng Ba ta bảo rằng: “Mùa xuân ơi, xuân đến rồi đó!”.
(Bản dịch của Đào Duy Hiệp).Nói về mùaxuân trong thi ca Pháp có lẽ không thể không nhắc đến bài thơ Printemps của thi sĩ Victor Hugo,
Mùa xuân (Printemps)
“Voici donc les longs jours, lumière, amour, délire !
Voici le printemps ! mars, avril au doux sourire,
Mai fleuri, juin brûlant, tous les beaux mois amis !
Les peupliers, au bord des fleuves endormis,
Se courbent mollement comme de grandes palmes ;
L’oiseau palpite au fond des bois tièdes et calmes ;
Il semble que tout rit, et que les arbres verts
Sont joyeux d’être ensemble et se disent des vers.
Le jour naît couronné d’une aube fraîche et tendre ;
Le soir est plein d’amour ; la nuit, on croit entendre,
A travers l’ombre immense et sous le ciel béni,
Quelque chose d’heureux chanter dans l’infini.”
(Victor Hugo).Phần chuyển ngữ
“Đây rồi những ngày dài, ánh sáng, tình yêu, điên quá!
Mùa xuân tới rồi! tháng ba, tháng tư với nụ cười dịu ngọt,
Tháng năm đầy hoa, tháng sáu cháy da, những tháng đẹp bạn của ta!
Rặng dương bên bờ những con sông đang ngủ,
Uốn thân mềm như cành cọ thật to;
Chim phập phồng trong đáy rừng yên ấm;
Mọi vật như cất tiếng cười, và cây xanh
Vui vì được bên nhau, trao nhau những lời thơ.
Ngày mới chào đời quấn trên đầu bình minh hiền tươi mát;
Buồi tối đầy tình yêu; đêm đến tưởng như nghe,
Qua bóng tối mênh mông và dưới bầu trời đầy ơn phước,
Một niềm vui đâu đây hát trong vô tận bốn bề.”
(Hồ Văn Hiền dịch).Sau đây là trích đoạn của bài thơ Impression de printemps của thi sĩ Paul Verlaine.
Impression de printemps
Il est des jours – avez-vous remarqué? –
Où l’on se sent plus léger qu’un oiseau,
Plus jeune qu’un enfant, et, vrai! plus gai
Que la même gaieté d’un damoiseau (*).
(poème de Paul Verlaine).Ấn tượng khi mùa xuân về
Ấy là những ngày hỡi bạn còn nhớ chăng ?
Thuở mà bạn cảm thấy mình quởn hơn loài chim,
Vô tư hơn một đứa trẻ, và thật vậy! vui tươi hơn
Đó cũng là nỗi hân hoan của loài chim hải đảo. (*)
(thơ Paul Verlaine, VHLA chuyển ngữ.)*: chimtrogon damoiseau > loài chim hoang dã có nhiều ở hải đảo Haiti suốt ngày ca hót hồn nhiên, vô tư.
Kế tiếp là trích đoạn thơ xuân của ba thi sĩ Mỹ Emily Dickinson; William Blake và WilliamShakespeare, người Anh.
Trời xuân.
Nắng xuân phơi phới đã về
Quanh năm chẳng thấy đông hè thu sang
Khung trời tươi mát không gian
Tháng ba xuân đáo mai vàng hiếm khi.
(VHLA phóng tác thơ Emily Dickinson)A Light Exists In Spring
(Poet Emily Dickinson).A light exists in spring
Not present on the year
At any other period.
When March is scarcely here
(Poem by Emily Dickinson).Thơ trích đoạn của William Shakespeare, bài Spring.
Vườn Xuân
Vườn xuân mùa hoa cúc trổ bông
Khung trời hiển hiện màu trắng bạc
Cúc vàng chào đón mùa xuân sang
Tô màu đồng hoa màu thỏa thích.
(VHLA phóng tác)Spring
When daisies pied, and violets blue,
And lady-smocks all silver-white,
And cuckoo-buds of yellow hue
Do paint the meadows with delight.(William Shakespeare, derived from Love’s Labors Lost, by William Shakespeare (1564-1616).
Thơ trích đoạn của William Blake, bài Spring.
Sound the flute!
Now it’s mute.
Birds delight
Day and night.
Nightingale
In the dale,
Lark in the sky,
Merrily,
Merrily, merrily to welcome in the year.
(poem William Blake)Mùa xuân
Chim muông thay tiếng thanh tiêu
Dạ oanh cất tiếng sáo chiều xuân sang
Sơn ca tíu tít nắng vàng
Đêm ngày tiếng hót âm vang năm dài.
(VHLA phóng tác từ thơ xuân William Blake)Mùa xuân buồn ly hương, cảm tác thơ sầu viễn xứ, xem thi ca Hà Huyền Chi.
Dạo Phố Mùa Xuân
Chi Dậu người hoa bắt giây leo
Vàng phai lá nhớ tay chiều ngùi thương
Hôm mai sầu rụng bên đường
Còn trên lưng gió chút hương hải tần
Dặm dài cho biết phù vân
Về đâu thì cũng cát lầm bèo trôi
Lội mòn vỉa phố quê người
Họa may tìm gặp cái tôi ngang tàng
Giao thừa lửa đốt buồng gan
Mỗi xuân lữ thứ có ngàn dao đâm”.
(thơ Hà Huyền Chi)Thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi cảm tác bi “Xuân Đợi Chờ”.
“Mai nở vàng cành khoe sắc tươi
Mang màu hoa thắm đến tô đời
Nắng hồng trải mông xuân như ý
Đem thái hòa gieo khắp cõi trời.Xuân không hẹn, xuân về rồi đó
Xuân của xum vầy của tình vui
Riêng chỉ một người hiu hắt nhớ
Cánh chim còn bay lạc phương trời.Đep quá tháng ngày quấn quít nhau
Tiếng cười như suối chảy dòng sâu
Thời gian không đủ hong tình nhớ
Một phút xa nhau, một phút sầu.Bao mùa xuân đến, bao mùa đợi
Chỉ thấy lòng quay quắt ngóng trông
Tình ơi sao cứ xa vời vợi
Để kẻ đầu sông kẻ cuối dòng”.
(thơ Hồng Vũ Lan Nhi).“Trăng 14”, nhớ mùa xuân xưa với nhà thơ Quyên Di.
“Nhớ buổi xuân thì ngày xưa ấy
Rạo rực lòng trai buổi trăng về
Ngây ngất hương trời người con gái
Bờ môi trót nếm rượu đam mê.Trăng lên vời vợi ngang đầu núi
Trăng tàn bờ lạnh dải ngân hà
Một bóng chim trời bay rất vội
Về nơi viễn phố nẻo sương pha.Là lúc qua rồi thời xuân sắc
Chén đời đã cạn rượu đam mê
Những lúc đêm về ngồi trầm mặc
Quên cả trăng xanh phủ bốn bề.“
(thơ Quyên Di, Nhân Văn Nghệ Thuật).Xuân Vui Say
Rót chén mừng xuân rượu vui đầy
Nâng lên cùng uống chúc lộc may
Tân niên hạnh phúc bình an tiến
Dốc hết bầu thơ tửu ngất ngây
Xuân nhật vinh quang phú quý lai
Say mèm cạn chén ôi men cay
Tấn tài tấn phát tết an khang
Hồn chếch choáng vui trong giấc say!
(Trần Việt Hải).Nắng xuân
Gió nhẹ ru làn nước
Liễu rủ ven bờ hồ
Đong đưa cành lá vàng
Mơn man chút tâm tư
Man mác thoáng nỗi lòng
Hôm nay xuân lại về
Không gian trời vắng lặng
Sao ta chợt thấy buồn?
(Hải Vân Sagittaires, aka Marie Christine TV, Espagne)Xuân Sang
Nắng đẹp bình minh tỏa ánh vàng
Khung trời cảnh sắc lúc xuân sang
Không gian gió thoảng lâng lâng nhẹ
Phố xá tươi màu phố thênh thang
Lữ khách thập phương mừng trẩy hội
Cành mai khóm trúc tranh xóm làng
Giao thừa hái lộc vui pháo tết
Chúc phúc an bình nẽo quan san.
(thơ xuân Trần Mạnh Chi).Mừng Chúa Xuân
Xuân về tươi thắm cành đào
Hoa Mai vàng rực đón chào tết sang.
Chim muông ríu rít rộn ràng,
Trời xuân tỏa ngát mênh mang an lành
Xuân về thắm đượm trời xanh,
Mai đào trúc cúc họp thành tứ hoa
Tiết xuân trải lộc mọi nhà
Khung trời nắng đẹp bao la mây ngàn
Mùa xuân thay áo không gian
Chan hòa cảnh vật bình an đất trời.”
(thơ Annie Trần, Texas)Mùa xuân là mùa để bắt đầu một chu kỳ của thiên nhiên mới, dù thơ của nhà thơ Annie Trầncho là tiết xuân trải lộc mọi nhà, khung trời nắng đẹp bao la mây ngàn, và mùa xuân thay áo không gian, chan hòa cảnh vật bình an đất trời. Mọi cảnh quan có thể thay đổi, nhưng đối vì tình yêu cần sự trung trinh, sự thủy chung như thơ của nhà thơ Thái Tú Hạp. Mời xem áng thơ sau.
Mùa Xuân Yêu Em
(Thái Tú Hạp dành tặng Ái Cầm).“mùa xuân từ thuở yêu em
núi non xứ Quảng cũng mềm bước đi
hàng cây nẩy lộc thầm thì
nghe như giòng suối từ bi cội nguồn
mùa xuân từ độ bao dung
tiếng chung thuỷ ở, tiếng đường mật vui
tiếng hờn ghen, tiếng ngậm ngùi
tiếng đau dao cắt, tiếng mùi mẫm yêu
lúc khuya sớm thuở quê nghèo
lúc chinh chiến lửa phận treo tuổi mình
lúc ngã ngựa, khi tàn binh
lúc non cao vẫn trọn tình thăm nuôi
trùng dương u thảm phận người
quẩn quanh hải đảo tiếng cười đắng cay
xa rồi thác lũ trời tây
đời hư ảo thoáng chim bay cuối ngàn
đất trời thơm ngát lộc non
cho ta xuân thắm vô vàn yêu em.”oOo
Lời kết bài,thi ca bốn mùa luôn luôn là đề tài gây cảm tác dễ dàng cho giới thi nhân hay giới nghệ sĩ; xuyên suốt bài viết này là nhiều áng thi ca ca tụng mùa xuân cùng tình yêu lãng mạn được trích dẫn, bởi vì hai chủ đề này không bao giờ xưa cũ cả. Phàm là con người chúng ta vẫn phải đối diện với Mùa Xuân và Tình Yêu, mãi mãi vã mãi mãi.
Để chấm dứt bài viết, người viết bài xin chúc mọi người, mọi gia đình một mùa xuân mới nhiều an lành và hạnh phúc, đặc biệt trong tình yêu thương vợ chồng, tình yêu của gia đình.
Trần Viết Hải, Los Angeles, tháng 12 năm 2018.
-
Hình ảnh buổi RMS “Bâng Khuâng” – Dec 12.2018
-
Trương Vĩnh Ký – Nhà Giáo Dục Yêu Nước Của Việt Nam
Trương Vĩnh Ký – Nhà Giáo Dục Yêu Nước Của Việt Nam.
Nguyễn Quang Duy
Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường.
Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.
Sau 30/4/1975, khi ngôi trường trung học Petrus Trương vĩnh Ký bị đổi tên và bức tượng bán thân giữa sân trường bị dời đi, học sinh chúng tôi thường tranh luận về “công và tội” của Petrus Ký khi mượn tay người Pháp giúp nền văn học nước nhà.
Chúng tôi thường kết thúc bằng ngạn ngữ được Pétrus Ký dùng nhiều lần khi viết thư “Sic vos non vobis”.
Hồi ấy chúng tôi hiểu câu ngạn ngữ trên là “Ở với họ mà không theo họ”, vừa tránh dẫn đến chuyện bị quy kết “phản động”, vừa tỏ bày tâm sự “Ở với cộng sản mà không theo cộng sản”.
Gần đây tôi mới biết câu ngạn ngữ tiếng La Tinh “Sic vos non vobis” có 2 nghĩa và dịch như trên là hoàn toàn sai ý Pétrus Ký.
Winston Phan Đào Nguyên phổ biến trên trang Nghiên Cứu Lịch Sử bài “Minh oan cho Pétrus Trương Vĩnh Ký về câu ‘ở với họ mà không theo họ’ ”, theo tác giả thì Pétrus Ký dùng một nghĩa khác của ngạn ngữ là “Làm điều lợi cho người khác chứ không cho chính mình.”
Tác giả đã trình bày rất rõ và rất thuyết phục triết lý sống của Pétrus Ký là mỗi người phải làm tròn vai trò hay số phần trong đời để làm cho xã hội của mình tốt đẹp hơn.
Cuộc đời của Pétrus Ký đã chứng minh triết lý sống này đặc biệt là sự cống hiến ông dành cho chữ Quốc ngữ và nền Quốc văn hiện tại.
Hoàn cảnh xã hội…
Pétrus Ký sinh ra cuối triều vua Minh Mạng, khi ấy nhà vua dầu muốn nhưng thất bại trong việc canh tân đất nước, triều thần chỉ toàn những nhà Nho biết làm thơ phú chứ không có ai có khả năng trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật.
Vua Minh Mạng lại thường hành xử thiếu công minh, nhất là đối với kẻ công thần, nhiều người giỏi đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh nẩy nở mỗi ngày một nhiều, quan tham mỗi ngày một tăng.
Các vua nhà Nguyễn còn ra lệnh bế môn tỏa cảng không giao thương với nước ngoài, cấm đạo Công giáo, dân tình đói khổ, loạn lạc khắp nơi, để cuối cùng đất nước lọt vào tay Pháp cả trăm năm.
Petrus Ký là người công giáo, Pétrus là tên Thánh, theo học trường dòng ở Mã Lai về nước đúng lúc thực dân Pháp đem quân sang xâm chiếm nước ta.
Pháp tấn công Đà Nẵng ngày 1/9/1858 không thành nên chuyển sang tấn công 3 tỉnh miền Đông Nam Phần. Ngày 18/2/1859 Pháp chiếm thành Gia định.
Việc cấm đạo Công giáo trở nên gay gắt hơn. Petrus Ký phải trốn lên Sài Gòn và được Giám mục Dominique Lefèbre giới thiệu làm thông ngôn cho Pháp, nên từ đó bị kết tội là tay sai cho giặc.
Pétrus Ký, nỗi oan thế kỷ …
Sau 30/4/1975, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn giữ độc quyền đánh giá “công và tội” của Petrus Ký.
Năm 1993, ông Nguyễn Văn Trấn, một đảng viên Cộng sản từ hồi 1930, được Ban Khoa học xã hội thành ủy Tp HCM cho phép phát hành quyển “Trương Vĩnh Ký, Con Người Và Sự Thật” nhưng sách đã bị tịch thu sau khi in mà không biết lý do.
Đầu tháng 1/2017, cuốn “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” do nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu soạn đã được Cục Xuất bản cho phép lưu hành, nhưng chỉ ít ngày trước khi phát hành thì một “lệnh miệng” được ban xuống yêu cầu hủy bỏ buổi ra mắt sách.
Ông Nguyễn Đình Đầu cho trang BBC tiếng Việt biết ông đã phát hiện một tư liệu nói về sự hợp tác của ông Trương Vĩnh Ký với người Pháp từ đầu đã không có suôn sẻ như người ta vẫn tưởng:
“Trong những lời đối đáp khi chính quyền Pháp yêu cầu Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn, có những văn thơ chứng tỏ là Trương Vĩnh Ký rất bất mãn trong chuyện người Pháp cư xử với người Việt Nam, cho nên ông không muốn hợp tác.“.
Bức thư giả ký tên Petrus Key…
Còn ở hải ngoại từ năm 1996, nhà nghiên cứu sử Vũ Ngự Chiêu cho phổ biến nhiều bài viết về một lá thư ông Chiêu cho là do chính Petrus Ký viết, bằng tiếng Pháp, với chữ ký là Petrus Key.
Trong lá thư Petrus Key cầu khẩn quân Pháp đến giải cứu cho những người An Nam theo đạo Thiên Chúa ở Nam Kỳ.
Mặc dù kết tội Petrus Ký nhưng ông Chiêu chưa bao giờ cho công bố lá thư gốc bằng tiếng Pháp nên không thuyết phục được nhiều người.
Nhưng nhiều nhà nghiên cứu sử trong nước lại dựa vào các bài viết không chứng cớ của ông Vũ Ngự Chiêu để tiếp tục kết tội Petrus Ký là tay sai cho Pháp.
Cũng trên trang Nghiên Cứu Lịch Sử, Winston Phan Đào Nguyên cho phổ biến một công trình nghiên cứu sử với tựa đề “Petrus Key và Petrus Ký – Chuyện một lá thư mạo danh Trương Vĩnh Ký vào thế kỷ 19”, gồm 3 bài viết.
Trong bài thứ nhất ông Nguyên cho biết đã tìm thấy lá thư ký tên Petrus Key, mà ông Vũ Ngự Chiêu bấy lâu nay giữ kín, tại Văn Khố Service Historique De La Defense ở Chateau Vincennes, Paris, Pháp.
Ông Nguyên so sánh văn phong, nội dung, hình thức, chữ viết, chữ ký… để kết luận rằng đây không phải là bức thư của Pétrus Trương Vĩnh Ký và đã có người mạo danh Petrus Ký viết lá thư này.
Trong bài thứ hai ông Nguyên cho biết kiếm thấy một lá do chính tay Petrus Trương Vĩnh Ký viết cho các bạn học ở Penang vào ngày 4/2/1859 bằng tiếng Latin khi Petrus Ký đã vào tới Sài Gòn lánh nạn cấm đạo.
Trong lá thư Petrus Ký đã kể về việc ông trốn quan quân nhà Nguyễn truy lùng và cho biết quan điểm về việc cấm đạo cũng như quan điểm về cuộc xâm lăng của liên quân Pháp và Tây Ban Nha.
Theo Petrus Ký, sự bắt đạo, tuy rất tàn ác, nhưng lại là một điều tất yếu phải xảy ra, cũng như một cơn mưa bão trước một sự yên bình, hay nói cách khác, là một thử thách của Chúa.
Nhưng ông hoàn toàn phản đối sự can thiệp bằng vũ lực của Pháp. Với ông, cách dùng vũ khí và bạo lực để can thiệp của quân Pháp là một giải pháp còn tệ hơn là bạo lực bắt đạo của vua quan nhà Nguyễn.
Trong bài thứ 3, Winston Phan Đào Nguyên chứng minh chính bà Pauline Jaricot người sáng lập ra Hội Truyền Bá Đức Tin đã mạo danh Pétrus Trương Vĩnh Ký để viết thư lá thư ký tên Petrus Key.
Công trình nghiên cứu của Winston Phan Đào Nguyên bổ sung cho một cách nhìn khác về việc truyền đạo Công giáo vào Việt Nam và cả việc thực dân Pháp xâm chiếm Đông Dương.
Công trình nghiên cứu còn cho thấy ngay từ ban đầu Trương vĩnh Ký đã không có ý định theo Pháp nhưng vì hoàn cảnh không thể tránh được.
Chữ Quốc ngữ giữ văn hóa nước nhà
Về việc giữ gìn tiếng Việt trong sách giáo khoa sử An Nam bằng tiếng Pháp xuất bản tại Sài Gòn năm 1875 (Cours d’histoire annamite à l’usage des écoles de la Basse-Cochinchine, Impr. du Gouvernement, Saigon, 1875) trang 13 Pétrus Trương Vĩnh Ký đã nhận xét (được dịch) như sau:
“Sĩ Nhiếp đã du nhập toàn bộ văn học Trung Hoa, cùng đạo lý Khổng Tử, ép buộc dân An Nam phải tiếp nhận làm văn hóa của mình, và cấm dân An Nam dùng thứ chữ viết phiên âm đặc biệt riêng của người An-nam.
Vì biện pháp nghiệt ngã ấy mà người An-nam đã hoàn toàn mất đi thứ chữ viết riêng của mình”.
Sĩ Nhiếp (137–226) là một người Việt gốc Hán được triều đình Trung Hoa phong Thái Thú cai trị Quận Giao Chỉ.
Sĩ Nhiếp được sử sách chính thống các triều đại Việt Nam đánh giá rất cao vì đã dạy cho dân ta chữ Hán, văn hóa, phong tục và văn minh Trung Hoa.
Vừa là sử gia vừa là nhà ngôn ngữ học Trương Vĩnh Ký đã đánh giá Sỹ Nhiếp là người hủy diệt chữ viết cổ của người Việt, đồng thời áp đặt cách cai trị và văn hóa của người Hán giết chết văn hóa cổ của người Việt Nam.
Điều này cho thấy ông hiểu rất rõ khi phải mượn tay người Pháp phổ biến chữ Quốc ngữ để cạnh tranh và loại bỏ ảnh hưởng tiếng Hán và cả tiếng Pháp, để giữ gìn văn hóa, phong tục và ngôn ngữ Việt Nam.
Pétrus Ký tổ báo chí Việt ngữ.
Năm 1864, Pétrus Ký được cử là Hiệu trưởng trường Thông ngôn (Collège des Interprètes) và theo lời đề nghị của ông người Pháp cho lập tờ Gia Định báo bằng tiếng Việt.
Để phân biệt với tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Nôm, Pétrus Ký gọi cách viết tiếng Việt theo kiểu La Tinh là chữ Quốc ngữ còn văn học thì được gọi là Quốc văn.
Gia Định báo phát hành số đầu tiên ngày 15/4/1865 tại Sài Gòn dưới hình thức một tờ Công Báo do ông Ernest Potteaux làm chánh tổng tài (chủ nhiệm hay tổng biên tập) và ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.
Ngày 16/9/1869, thống đốc Nam Kỳ G. Ohier ký quyết định số 189 giao tờ Gia Định Báo cho ông Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài và ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.
Gia định báo gồm các văn kiện và quyết định của nhà cầm quyền bằng tiếng Pháp do Nha nội vụ cung cấp và được ông Trương Vĩnh Ký dịch ra chữ Quốc ngữ. Và những bài viết tiếng Việt về thời sự, về lịch sử, về luân lý dân gian giúp truyền bá chữ Quốc ngữ.
Trên Gia Định báo và nhiều tài liệu khác ông lấy bút hiệu là Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký. Trong số 11 ra ngày 8/4/1870 ông kêu gọi cộng tác viên như sau:
“Lời cùng các thầy thông ngôn, ký lục, giáo tập… đặng hay: Nay việc làm Gia Định Báo tại Sài Gòn ở một chỗ nên không có lẽ mà biết các việc mới lạ các nơi trong sáu tỉnh mà làm cho thiên hạ coi; nên xin các thầy cứ mỗi tuần hay là nửa tháng hãy viết những chuyện mình biết tại chỗ, tại xứ mình ở như: ăn trộm, ăn cướp, bệnh hoạn, tai nạn, rủi ro, hùm tha, sấu bắt, cháy chợ, cháy nhà, mùa màng thể nào, tại sở nghề nào thạnh hơn…“.
Cũng như đoạn văn trên, đa số các bài viết tiếng Việt trên Gia Định báo đều bằng văn xuôi, ngắn gọn, đơn giản, dễ đọc, dễ hiểu, viết theo cách nói của người miền Nam, viết một cách đàng hoàng theo lễ giáo Việt Nam.
Ông giữ vai trò chánh tổng tài đến năm 1872 thì giao lại cho ông Ernest Potteaux không rõ vì lý do gì.
Như vậy, Trương Vĩnh Ký chính là chủ nhiệm báo Việt ngữ đầu tiên và theo cách ông hướng dẫn làm báo thì ai cũng có thể làm báo, không khác gì cách làm báo mạng ngày nay.
Năm 1888, Trương Vĩnh Ký cho xuất bản tạp chí Thông Loại Khóa Trình, như vậy ông cũng là chủ báo tư nhân đầu tiên tại Việt Nam.
Thông Loại Khóa Trình là một tạp chí văn học sưu tập nhiều văn thơ, câu đối, câu hò, câu hát dân gian, nhằm cổ vũ phong tục cổ truyền, phổ biến văn hóa dân tộc có cả thơ văn chống Pháp và lịch sử Việt Nam.
Thông Loại Khóa Trình cho thấy tinh thần yêu nước của Petrus ký với nhiều bài viết về các nhân vật lịch sử có tài chống ngoại xâm của Việt Nam, như Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt, Mạc Đĩnh Chi, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản…
Thông Loại Khóa Trình còn phổ biến những bài thơ chống Pháp của Bùi Hữu Nghĩa, những bài vè như vè Khâm sai và cả hịch chống Pháp của Nguyễn Tri Phương.
Cộng tác với Thông Loại Khóa Trình có các ông Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Trần Chánh Chiếu, Lương Khắc Ninh, và nhiều người yêu nước khác.
Những người đọc báo biết chữ quốc ngữ khi ấy đều là công chức Pháp hay học sinh trường Pháp nên nhà cầm quyền Pháp tìm cách tẩy chay, báo không bán được.
Thiếu vốn, Thông Loại Khóa Trình chỉ ra được 18 số đến tháng 10/1889 thì đóng cửa. Trong số báo này Trương Vĩnh Ký cho biết: “Nay vì bởi không có vốn cho đủ in luôn Thông Loại Khóa Trình nữa nên ta cực chẳng đã, phải đình in”.
Petrus Trương vĩnh Ký ông Tổ báo chí Việt Nam qua đời 1/9/1889 trong nghèo khó và nợ nần.
Tạo nền tảng Quốc văn và giáo dục…
Ngay từ năm 1866 Trương Vĩnh Ký đã cho in ấn phẩm văn xuôi đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ là cuốn Chuyện Đời Xưa.
Từ đó ông không ngừng viết và để lại một di sản văn học với ít nhất 119 tác phẩm cả tiếng Việt lẫn tiếng Pháp.
Các tác phẩm đều là những công trình soạn thảo một cách cẩn thận và khoa học nhưng dễ hiểu, dễ quảng bá, bao trùm mọi thể loại từ ngôn ngữ, tự điển, sách giáo khoa lịch sử, địa lý, pháp luật, dân tộc học, kinh tế, chính trị, sinh học và văn học.
Kho tàng văn học này là căn bản định hình cho một nền Quốc văn với chủ trương gìn giữ đạo lý văn hóa dân tộc nhưng học hỏi văn minh Tây Phương để cải cách đất nước, mở mang dân trí giúp nước nhà độc lập và giàu mạnh.
Để truyền bá chữ Quốc ngữ và tư tưởng canh tân, Trương Vĩnh Ký còn chọn việc dạy tiếng Việt và đào tạo hằng ngàn thanh niên theo tân học tạo nền tảng cho Phong trào Duy Tân và Đông Du sau này.
Ảnh hưởng triết lý và tư tưởng của Trương Vĩnh Ký đến nền văn hóa và giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là lấy nhân bản, dân tộc và khai phóng làm căn bản.
Nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn…
Trong chuyến đi sứ sang Pháp cùng Phan Thanh Giản năm 1863, Petrus Ký gặp và làm quen với nhà bác học Paul Bert.
Ông Paul Bert là giáo sư khoa học đại học Bordeaux và Paris, ông tham gia cách Mạng Pháp năm 1870 và trở thành Tổng trưởng Giáo dục và Nghị sĩ Quốc hội Pháp.
Tháng 2/1886, ông được bổ nhiệm Thống sứ triều đình Huế. Ông chủ trương tiến bộ và muốn thực hiện cải cách nên đã đích thân thăm và mời Trương vĩnh Ký ra Huế giúp vua Đồng Khánh.
Nhà vua phong Petrus Ký chức Hàn lâm viện thị giảng học sĩ và dạy cho vua Đồng Khánh tiếng Pháp.
Năm 1887, Petrus Ký có dâng vua Đồng Khánh 24 điều để đối phó với Pháp. Trong đó ông có đề cập việc cải cách giáo dục, bỏ dạy chữ Hán, dạy chữ Quốc ngữ và học hỏi văn minh Tây phương.
Đến cuối thời vua Thành Thái các đề nghị của Petrus Ký mới được nhà vua ban sắc lệnh cho thi hành.
Chính sắc lệnh này đã dẫn tới phong trào Duy Tân, dùng chữ quốc ngữ để thoát Hán được trình bày khá rõ trong bài viết trước “Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn”.
Nhà giáo dục Trương Vĩnh Ký với triết lý sống chẳng vì mình nên không cần chúng ta phải “minh oan”.
Ngược lại chúng ta cần tìm ra sự thật, cần hiểu biết sự thật và cần phổ biến sự thật để qua đó chúng ta có thể ghi nhận ân đức cũng như học hỏi từ Trương Vĩnh Ký và những bậc tiền bối những người đã có công đóng góp cho nền văn học nước nhà.
Đồng thời chúng ta cần tiếp tục giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, văn hóa và phong tục để truyền lại cho con cháu chúng ta.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
6/12/2018
Winston Phan Đào Nguyên, 2017, Minh oan cho Pétrus Trương Vĩnh Ký về câu ‘ở với họ mà không theo họ’, Nghiên Cứu Lịch Sử.
Winston Phan Đào Nguyên, 2018, “Petrus Key và Petrus Ký – Chuyện một lá thư mạo danh Trương Vĩnh Ký vào thế kỷ 19”, gồm 3 bài viết trên Nghiên Cứu Lịch Sử.
Nguyễn Quang Duy, 2018, Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn, BBC tiếng Việt.
(https://www.bbc.com/vietnamese/forum-45407297)
Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các Vua nhà Nguyễn.
Nguyễn Quang Duy
Tìm hiểu lịch sử là công việc vô cùng thiết yếu vì có hiểu người xưa, có hiểu được lịch sử mới hiểu được vận mệnh nước nhà mà khôi phục lại.
Trên Diễn đàn BBC nhà báo Nguyễn Giang đưa ra một cách nhìn khá mới lạ để ghi công và đánh giá những nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ.
“Các vị truyền giáo có công tạo ra bộ mẫu chữ, nhưng việc này không có gì quá độc đáo hay quá khó khăn và giả sử nếu không có họ thì việc đó cũng có thể làm được sau này.“
Ý kiến cũng nói rằng Trung Hoa, Thái Lan, Ấn Độ, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều quốc gia khác đều đã có những văn tự bằng tiếng La Tinh nhưng chưa bao giờ trở thành chữ Quốc ngữ của họ.
Cũng theo nhà báo Nguyễn Giang, Đông Kinh Nghĩa Thục chỉ xóa hàng rào cản tâm lý quá lạc hậu để giới sỹ phu yên tâm dùng chữ Quốc ngữ.
Và rằng chính nỗ lực tiên phong quảng bá Quốc ngữ là của trí thức miền Nam và nhờ chính sách tiến bộ, khoa học của chính quyền Pháp tại Đông Dương tạo đà cho chữ Quốc ngữ lan tỏa.
Nhưng tôi nghĩ cũng lạ tại sao ba nước Việt, Miên và Lào có chung hoàn cảnh, đều là thuộc địa của Pháp mà Miên và Lào lại không sử dụng La Tinh làm chữ Quốc ngữ.
Ở đây cần xem công lao các vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, dù họ không thực sự nắm quyền thời Pháp thuộc.
Sắc lệnh của Vua Thành Thái
Theo sử gia Liam Kelley (2016) vào đầu thế kỷ XX cả người Pháp lẫn những nhà cách mạng đều không đủ quyền lực để chữ Quốc Ngữ có thể lan sâu rộng xuống đến tận cấp độ làng quê.
Qua nghiên cứu những nguồn tài liệu trong giai đoạn này, sử gia Liam kết luận chính nhà Nguyễn mới đi đầu trong công cuộc cải cách giáo dục.
Trong bài “Emperor Thành Thái’s Educational Revolution”, sử gia Liam Kelley (2016) đã công bố sắc lệnh của vua Thành Thái được lưu trữ trong sách Đại Nam Hội Điển Sử Lệ Tục Biên.
Bài viết được Nguyễn Hồng Phúc lược dịch có đoạn như sau:
“Hoàng đế Thành Thái đã tuyên bố trong một sắc lệnh rằng vào năm trị vì thứ 18 của ông (năm 1906), cha mẹ có thể quyết định việc cho con theo học một trường ấu học Hán văn hoặc một chương trình giảng dạy Nam âm (Quốc ngữ).
Với những người học theo chương trình Hán văn, sẽ có một cuốn sách giáo khoa được soạn ra nhằm giới thiệu những từ chữ Hán theo cấp độ khó dần. Nó cũng bao gồm một danh mục các Hán tự kèm theo phiên âm và định nghĩa bằng quốc ngữ được dùng trong tài liệu.
…Trong khi, một cuốn sách giáo khoa bằng quốc ngữ khác sẽ được soạn ra để dạy những người theo chương trình học ‘Nam âm’ nhằm giới thiệu cho họ những thông tin cơ bản về xứ Đông Dương, thiết chế cai trị của nó, những phong tục tập quán…
Thêm vào đó, cũng có thêm một cuốn sách nữa được dịch từ Hán văn sang Nam âm nhằm cung cấp những loại thông tin mà học viên đang luyện thi khoa cử cần biết. Bản dịch này được soạn ra cho những người không muốn thi khoa cử, nhưng nó vẫn được đưa vào chương trình để cho họ biết thêm về những gì mà những người đang luyện thi khoa cử phải học…”
Sắc lệnh này vô cùng quan trọng vì khi nhà vua ra lệnh sử dụng chữ Quốc ngữ là nhà vua đã công khai ý định muốn thấy tầng lớp quan lại và sỹ phu phải thoát khỏi ảnh hưởng Trung Hoa trong giáo dục, văn hóa, và nhất là tư tưởng.
Vừa thoát Trung vừa chống Pháp
Xin nhắc lại về cuộc đời vị vua trẻ tuổi.
Vua Thành Thái lên ngôi năm 1889, đến năm 1907 bị Pháp ép thoái vị. Ngài bị quản thúc ở Vũng Tàu rồi đến năm 1916 bị đày sang đảo Réunion.
Vua là người cầu tiến, học tiếng Pháp, có hiểu biết khá toàn diện, cắt tóc ngắn, mặc âu phục, phong cách của người theo tân học.
Nhà Vua thường xuyên tiếp xúc với sỹ phu và dân chúng, đồng thời trọng dụng nhiều nhân tài, thanh liêm, đức độ với hy vọng khôi phục và canh tân đất nước.
Sắc lệnh cho dạy quốc ngữ chính là văn bản ủng hộ Phong Trào Duy Tân (1906) và Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) thúc đẩy việc theo tân học và dùng chữ quốc ngữ.
Cắt tóc ngắn trở thành một dấu hiệu của người theo tân học.
Nhiều thanh niên lúc ấy sắm cho mình một cái kéo, đi tuyên truyền, vận động cắt tóc và vận động canh tân.
Đến khi Vua bị người Pháp ép thoái vị năm 1907 hình ảnh một vị vua yêu nước, chống Pháp, cắt tóc ngắn nhanh chóng lan tỏa xuống đến tầng lớp nông dân.
Tháng 3 năm 1908, bắt đầu từ tỉnh Quảng Nam, nông dân đầu cắt tóc ngắn lũ lượt kéo đến các phủ huyện đòi giảm sưu giảm thuế.
Tất cả đều hớt tóc ngắn đi thành đoàn, phong trào mở rộng vào Nam đến Bình Định, Phú Yên và ra Bắc đến Nghệ An, Hà Tĩnh.
Pháp và triều Nguyễn gọi cuộc biến động này là Giặc cắt tóc, ở Bình Định gọi là Giặc đồng bào, sau nầy được đổi lại là cuộc Dân biến Trung kỳ.
Đây là cuộc đấu tranh bất bạo động đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và đoàn biểu tình lấy biểu tượng là Vua Thành Thái một vị vua yêu nước, theo tân học và chống Pháp.
Như vậy ngay từ đầu thế kỷ thứ 20, người Việt đã công khai thực hành phương pháp đấu tranh bất bạo động với biểu tượng vua Thành Thái, có tổ chức, có chiến thuật, có mục tiêu và có chiến lược một cách rất rõ ràng.
Cuộc đấu tranh bất bạo động bị Pháp đàn áp dã man. Nhiều người tổ chức và tham dự bị bắt, phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục bị dập tắt.
Các vị Vua tiếp tục cải cách
Năm 1907 vua Duy Tân tiếp nối việc cải cách giáo dục bằng cách cho thành lập Bộ Học nhằm cai quản việc học hành và thi cử.
Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục là một nhà giáo dục cổ vũ thực học, thực tài, bỏ đi kiểu học từ chương, xa rời thực tế và chủ trương phát triển nền giáo dục “không học vì bằng cấp” mà phải học lấy thực tài để ra giúp dân, giúp nước.
Đáng tiếc ông lại hết sức bài bác chữ Quốc ngữ, nhưng không phải vì thế mà chữ Quốc ngữ bị đưa ra khỏi nền giáo dục.
Theo Trần Gia Phụng từ năm 1909, chương trình thi Hương bắt buộc thí sinh phải làm các đề thi luận văn bằng cả chữ Hán lẫn chữ Quốc ngữ.
Ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ (tức ngày 28/12/1918) vua Khải Định ra đạo dụ chính thức bãi bỏ khoa cử kiểu Hán học.
Năm 1919 là năm cuối mở khoa thi Hương ở Huế, từ đó chữ Quốc ngữ thành chữ viết chính thức của người Việt Nam.
Vai trò của các ông giáo trường làng
Bên cạnh các trường công do triều đình và người Pháp lập ra là một hệ thống trường tư do các thầy đồ sau chuyển thành thầy giáo làng giảng dạy.
Mỗi làng có khi lên đến vài ba trường, hoặc dạy ở nhà thầy, hoặc ở nhà người giàu có nuôi thầy cho con ăn học và cho con các nhà lân cận trong làng theo học.
Thầy đồ đa số là những người có học, có người đỗ tú tài, có người là quan hồi hưu mở lớp dạy học.
Thầy đồ hoàn toàn tự do không chịu sự giám sát của triều đình.
Mặc dầu được tự do mở lớp giảng dạy giới thầy đồ vẫn giữ lòng trung với các vua nhà Nguyễn và với sách Thánh hiền.
Các thầy đồ quyết liệt chống lại các chính sách giáo dục của nhà cầm quyền Pháp với quan niệm chữ Quốc ngữ là sản phẩm của ngoại bang và là công cụ của các nhà truyền giáo.
Với họ, chữ Hán giáo dục về luân lí, về lịch sử, là chữ Thánh hiền còn Quốc ngữ chỉ để đọc báo, đọc Kinh Thánh, những sản phẩm của quân xâm lược, biết đọc chẳng ích lợi gì.
Nhưng khi sắc lệnh cho dạy Quốc ngữ của vua Thành Thái được ban ra thì chính các thầy đồ đã thay đổi đã tự học chữ Quốc ngữ để truyền dạy lại cho học sinh.
Ba lớp Đồng ấu học trước khi học sinh vào tiểu học đều do các thầy giáo trường làng dạy hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ.
Nhờ thế chữ Quốc ngữ trở thành phổ thông đại chúng.
Những bộ sách giáo khoa như Sử ký địa dư giáo khoa thư, Luân lý giáo khoa thư, Quốc văn giáo khoa thư, được học giả Trần Trọng Kim và các cộng sự biên soạn để dạy lớp ấu học trường làng.
Bộ sách giáo khoa ‘Việt Nam Sử lược’ được học giả Trần Trọng Kim soạn để dạy các lớp cao hơn và đã hoàn toàn chỉ cho những người đã biết Quốc ngữ.
Lên lớp nhì và lớp nhất ở trường chính phủ, mỗi tuần chỉ dạy chữ Quốc ngữ một giờ rưỡi và bậc trung học chỉ dạy ba giờ.
Thời gian còn lại học sinh được dạy bằng tiếng Pháp và hầu hết do người Pháp dạy.
Từ đó ta thấy được căn bản tiếng Việt, sử địa, luân lý, văn hóa về Việt Nam của học sinh hầu như đều thu nhận được từ các thầy giáo trường làng.
Vua Bảo Đại là người Tây Học
Tốt nghiệp trường Khoa học Chính trị Paris về nước, vua Bảo Đại bắt tay ngay vào việc cải cách đất nước, mong từng bước khôi phục lại chủ quyền quốc gia.
Ngày 10/12 năm 1932, vua Bảo Đại cho công bố đạo dụ nước ta theo chế độ Quân chủ Lập hiến, nhà vua sẽ trực tiếp điều khiển nội các và cho cải cách hành chính, giáo dục và tư pháp.
Một nội các mới đã được thành lập gồm những người trẻ theo tân học như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Đệ…
Bộ Học được đổi tên thành Bộ Giáo dục và giao cho Phạm Quỳnh từng là chủ nhiệm báo Nam Phong một người luôn tha thiết với chữ Quốc ngữ điều hành.
Các cuộc cải cách của vua Bảo Đại đều bị người Pháp cản trở, riêng cải cách về giáo dục nhờ Phạm Quỳnh được người Pháp tin nên ít bị cản trở.
Chữ Quốc ngữ được tăng giờ dạy ở các trường công.
Nhờ thế sau khi Nhật đảo chánh Pháp, trao trả độc lập cho Việt Nam, chỉ trong vòng 5 tháng chính phủ Trần Trọng Kim đã thực hiện thành công cuộc cải cách lấy chữ Quốc ngữ làm ngôn ngữ chính trong giáo dục.
Bộ trưởng Giáo dục Hoàng Xuân Hãn có công lao lớn khi soạn cả sách toán và kỹ thuật bằng tiếng Việt Quốc ngữ để dạy ngay trong niên học 1945-46 tại miền Bắc và miền Trung.
Từ 1948 đến 1955, chính phủ Quốc gia Việt Nam tiếp tục lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy đến hết bậc trung học.
Bắt đầu từ chuyển biến tư tưởng thời Thành Thái
Học tiếng Pháp, theo tân học thoát khỏi tư tưởng Trung Hoa nên vua Thành Thái đã hiểu rõ những khái niệm về tự do, dân chủ, quốc gia, dân tộc, quân chủ, cộng hòa… hiểu từ sách Pháp không phải từ sách Trung Hoa.
Thay đổi quan trọng nhất của nhà vua là về mặt tư tưởng, về ý thức đất nước không còn của nhà vua nữa mà là của quốc gia của dân tộc.
Quốc gia là một thực thể độc lập có chủ quyền thoát khỏi tư tưởng thuộc địa hay chư hầu Trung Hoa.
Khái niệm ‘quốc gia’ bắt đầu được sử dụng đối nghịch với ‘thuộc địa’, ‘chư hầu’.
Mặc dù không có quyền lực trong tay các vua triều Nguyễn đã thực hiện thành công cải cách từ giáo dục, văn hóa, đến chính trị đưa đất nước thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa.
Bài học các vua triều Nguyễn đã thực hiện là nếu muốn cải cách giáo dục phải bắt đầu bằng thay đổi tư tưởng cho chính mình.
Vì thế, theo tôi, nhu cầu thiết yếu của đất nước ngày nay không phải là cải cách tủn mủn về phát âm, ký tự Quốc ngữ mà phải vừa thoát khỏi ý thức hệ cộng sản, vừa thoát Trung để khôi phục các nền tảng cơ bản cho Việt Nam.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
4/9/2018
Tài Liệu Tham Khảo
Liam Kelley (2016), Cải Cách Giáo Dục Của Vua Thành Thái, Nguyễn Hồng Phúc lược dịch.
Nguyễn Giang, Những người giúp chữ Quốc ngữ ‘làm nên’, BBC World Service
Trần Gia Phụng, Lịch sử chữ Quốc Ngữ.
-
NGUOI-VIET phỏng vấn Nhà văn Ngọc Cường

Click here to see video: https://www.nguoi-viet.com/tv-phong-van/ra-mat-cuon-sach-thu-ba-cua-tac-gia-ngoc-cuong-co-tua-bang-khuang-1/
Click here to see video: https://www.nguoi-viet.com/tv-video-duoc-xem-nhieu-nhat/ra-mat-cuon-sach-thu-ba-cua-tac-gia-ngoc-cuong-co-tua-bang-khuang-2/ -
‘Bâng Khuâng’ – Cuốn sách thứ ba của tác giả Ngọc Cường, sắp ra mắt
Nguồn: NGUOI-VIET.COM

WESTMINSTER, California (NV) – Nếu như ai đã từng biết đến nhà văn Ngọc Cường hẳn sẽ quan tâm tới tác phẩm thứ ba sắp ra mắt của ông. Sau khi xuất bản hai tác phẩm đầu tay là “Bèo Giạt” (năm 2014) và “Hệ Lụy” (năm 2016) được nhiều bạn bè thân hữu, các tạp chí, nguyệt san đón nhận, ông tiếp tục cho ra đời cuốn sách thứ ba, có tựa là “Bâng Khuâng” cũng do Nhà Xuất Bản Người Việt ấn bản và phát hành.
[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”]
Tác giả Ngọc Cường tên thật là Nguyễn Tường Cường, sinh năm 1947 tại Hà Nội nhưng theo gia đình di cư vào Nam năm 1951. Ông từng tình nguyện nhập ngũ trường Võ Bị Thủ Đức, sau đó phục vụ trong các đơn vị Quân Ðội VNCH. Cũng như bao chiến sĩ VNCH khác, sau năm 1975 ông bị Cộng Sản bắt đi tù, ông đã lần lượt bị giam trong 6 trại tù khác nhau tại phía Bắc Việt Nam. Năm 1981 ông vượt biên và định cư ở Ohio.
Nhà văn Ngọc Cường cho biết: “Sau khi viết một số truyện ngắn, tôi nhận thấy rằng cuộc sống này, ai cũng có những lúc vui, có lúc buồn. Nếu dùng một từ để tóm gọn lại cuộc sống này thì có lẽ từ ‘bâng khuâng’ là thích hợp hơn cả. Và một số mẩu chuyện trong cuốn sách này, có các nhân vật cũng mang một tâm trạng ưu tư, buồn vui lẫn lộn. Cho nên tôi đặt tên cuốn sách là ‘Bâng Khuâng.’”
Nói về sự khác biệt giữa cuốn sách mới ra và hai cuốn trước đây, tác giả cho biết: “Cuốn ‘Bèo Giạt’ là những mẩu chuyện về cuộc đời những người mà tôi đã gặp, có gây cho tôi những suy tư, xúc động. Thân phận họ trôi dạt như cánh bèo, tưởng là bản thân có thể quyết định được cuộc sống của mình, nhưng rồi họ cũng bị dòng đời xô đẩy, buộc phải trôi theo. Còn cuốn ‘Hệ Lụy’ lại là những mẩu chuyện nói về những mối ràng buộc giữa người này với người kia. Họ chi phối, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, khiến cuộc đời họ gắn kết liên quan tới nhau như là một ‘hệ lụy.’”
“Còn cuốn ‘Bâng Khuâng’ tôi bắt đầu viết sâu hơn về tâm lý nhân vật và chú ý đến những vấn đề tiêu biểu của đời sống, ví dụ như tương quan giữa các anh em đồng hao, tình yêu đơn giản của vợ chồng, vấn đề phản bội (ở trong tù cũng như ngoài xã hội), vai trò của người lính cũ trong môi trường mới khi qua ở nước Mỹ,” ông nói tiếp.Cuốn sách “Bâng Khuâng” dày gần 200 trang, gồm 9 mẩu chuyện ngắn về các đề tài như tác giả nêu trên. Đáng chú ý là phần mở đầu, có tiêu đề “Đôi giòng về nghệ thuật” là phần mạn đàm khá sâu sắc của ông về: tác giả, tác phẩm và độc giả. Ông cho rằng, chỉ khi độc giả đón nhận một cuốn sách, thì cuốn sách đó mới đáng được gọi là một “tác phẩm” và khi đó, người viết cuốn sách đó mới đáng được gọi là tác giả. Ông viết: “Như vậy chính tác phẩm đã tạo nên tác giả, chứ không phải người viết.” Tác giả Ngọc Cường cũng cho rằng: “Hãy để cho trí tưởng tượng riêng của những người thưởng ngoạn đưa họ vào thế giới của nghệ thuật, đừng xen vào chút lý luận giải thích.”
Tác giả đã lấy bức tranh nổi tiếng có tựa “Đêm đầy sao ở Saint Rémy” của họa sĩ Van Gogh làm trang bìa của cuốn sách “Bâng Khuâng.” Như để giải thích lý do về việc này, ông dành hẳn phần phụ lục để nêu lên hoàn cảnh của họa sĩ Van Gogh khi sáng tác bức tranh đó. Vào năm 1888, khi đang trải qua một cơn khủng hoảng thần kinh, Van Gogh đã tự ghi danh vào nhà thương điên tại một làng quê, để chữa bệnh tâm thần. Ông đã vẽ bức tranh này mà theo các chuyên gia, phần lớn là vẽ bằng trí tưởng tượng.
Nhà văn Ngọc Cường cho rằng, có lẽ tâm trạng Van Gogh vào thời điểm đó, cũng đang nhiều xúc cảm, bâng khuâng, buồn vui lẫn lộn đến mức hoài nghi về bản thân và cuộc đời mình. Chính Van Gogh nghĩ rằng bức tranh này là một “thất bại” trong sự nghiệp sáng tác của ông. Nhưng không ngờ, sau này giới thưởng thức tranh lại đánh giá đây là tác phẩm “có sức lôi cuốn mãnh liệt,” khiến tên tuổi Van Gogh trở nên danh giá. Như vậy là Van Gogh được nổi tiếng là nhờ vào khán giả thưởng thức tranh của ông, chứ chính ông lại hoài nghi, đánh giá thấp về tác phẩm của mình. Nội dung và hoàn cảnh ra đời của bức tranh này đã khiến nhà văn Ngọc Cường tìm thấy nét tương đồng với cuốn sách của ông, nên bức tranh đã được chọn là trang bìa.
Buổi giới thiệu sách sẽ diễn ra từ 1 giờ trưa đến 4 giờ chiều, Chủ Nhật, 9 Tháng Mười Hai, tại Hội Trường Việt Nam Tương Tế, số 7621 Westminster Blvd, Westminster, CA 92683.
Buổi ra mắt sách được tổ chức bởi Hội Nhân Văn Nghệ Thuật, có sự góp mặt của nhà văn Trần Việt Hải, nhà văn Bùi Bích Hà, Giáo Sư Trần Mạnh Chi và nhiều bạn bè thân hữu. (Tâm An)
[/read]
-
Ông Khai Trí của “Sài Gòn, một thời vang bóng”

Ông Khai Trí đứng bên kệ sách nhà ông 
Ông Khai Trí ngồi bên giường đầy sách Cách đây 13 năm khi nghe tin ông chủ nhà sách Khai Trí Nguyễn Hùng Trương mất đi, giới yêu sách Sài Gòn ai cũng bùi ngùi thương mến. Ngày 4 tháng 11, 2018 vừa qua, người vợ đầu ấp tay gối của ông Khai Trí cũng đã mãn phần theo gót ông về cõi tịnh, cùng ông an giấc ngàn thu. Cụ bà Phùng Thị Bông hưởng thọ 89 tuổi, mất tại Little Sài Gòn vào cuối mùa thu.
Tôi đến viếng tang lễ của cụ bà và gặp gỡ những người thân của đại gia đình họ Nguyễn. Những tấm ảnh slide show chiếu trên màn hình nhà tang lễ đã ghi lại những kỷ niệm đẹp của gia đình và cụ ông, cụ bà như một nhắc nhở ân cần đến hình bóng của kẻ ra đi.
[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”]
Tôi được dịp trò chuyện với người con trai thứ của cụ là anh Nguyễn Hùng Tâm và tỏ lòng ngưỡng mộ cụ ông Khai Trí cùng đức độ của cụ khi còn sinh thời. Tiếng vang thơm ngát về lòng yêu thiếu nhi và mối tình gắn bó của cụ với sách vở đã khiến tôi quý trọng con người cụ dù tôi chưa gặp cụ bao giờ.
Dù đang có tang chế anh Hùng Tâm vẫn vui vẻ nghe tôi trò chuyện và hỏi han về những kỷ niệm đẹp còn lưu dấu của song thân anh, hai người đã khuất. Anh kể:
- Đối với cha tôi, những điều tôi trân trọng, lưu giữ trong trí, mến quí và yêu nhất là những giờ phút cuối của cụ. Trong 2 tấm hình chụp ông cụ trên giường, tôi thấy lúc nào quanh ông cũng tràn đầy sách vở. Hình ông cụ ngồi có một cái võng vắt ngang, sách vở cũng đầy giường tủ. Cụ luôn luôn miệt mài cùng sách vở kể cả những phút lâm chung.
- Đối với mẹ tôi, bà là người vợ lúc nào cũng tận tụy với chồng kể cả từ những ngày ban đầu mới thành lập nhà sách Khai Trí. Thuở hàn vi, dẫu không có người làm phụ giúp, bà vẫn hết lòng cùng chồng gánh vác những khó khăn, gian khổ buổi đầu. Những cuốn sách nào có giá trị cha tôi lúc nào cũng đưa cho bà đọc để có cùng một chí hướng với chồng và cùng tạo dựng sự nghiệp.
Anh Nguyễn Hùng Tâm nguyên là chủ nhân và hiệu trưởng của một trường đại học “TTL College” ở San Jose, CA. Anh tâm sự, sở dĩ anh mở trường đại học kỹ thuật này là do dòng máu văn hoá VN của cha anh để lại. Do đó anh muốn thành lập một trường chuyên môn dạy nghề hầu giúp cho người Việt hải ngoại có 1 cái nghề để sinh sống không những cho bản thân mà có thể giúp đỡ gia đình nữa. Ngoài ra anh còn muốn giúp cho những người Việt mới định cư và những người muốn thăng tiến nghề nghiệp có được một trình độ cao hơn. Các giáo sư trong trường đều là người VN.

Bài vị Bà Khai Trí 
Gs. Ts. Trần Huy Bích, ThụyVy (đại diện cho nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật) và anh Nguyễn Hùng Tâm (con ông Khai Trí) 
Toàn gia đình ông bà Khai Trí Khi chụp hình tang lễ, tôi nhận ra gia đình cụ Khai Trí là một đại gia đình như đa số các gia đình VN với nhiều người con. Tôì trộm nghĩ đây có lẽ là lý do cụ rất yêu thiếu nhi và bỏ nhiều tâm huyết vào việc mở mang trí tuệ cho các thế hệ măng non VN trước năm 1975. Để trả lời câu hỏi của tôi về tình yêu thiếu nhi, anh Hùng Tâm cho biết:
- Lúc đương thời, ông cụ luôn có chí hướng muốn tiến lên mãi và muốn làm cái gì đó cho thế hệ mai sau . Quan trọng nhất là thế hệ thiếu nhi nên cụ bỏ ra rất nhiều thì giờ vào thế hệ này. Cụ đã để 1 gian hàng sách thiếu nhi cho những đứa trẻ vào đọc mà không cần phải mua. Khi cụ thấy các em đứng đọc trông thật tội nghiệp, cụ cho lập 1 hàng ghế để các em ngồi đọc thoải mái từ sáng tới chiều. Những em nào không có tiền mua sách, có thể đến gặp cụ, cụ viết cho một tấm thiếp có tên cụ, giống như một tấm chi phiếu. Lúc nào cần sách cứ tới gặp nhân viên, họ sẽ đưa sách đem về nhà mà không cần phải trả tiền. Trên con đường tiến xa hơn nữa, nguyên thủy nhà sách Khai Trí có hai căn, cụ đã mua thêm hai căn sát bên với mục đích nối liền 4 căn với nhau để có diện tích rộng gấp hai nhà sách cũ. Với dự án xây lầu cao hơn, cụ dành một tầng cho sách tiếng Việt, 1 tầng cho sách ngoại quốc và 1 tầng cho sách thiếu nhi. Ước vọng của ông cụ không chỉ có thế, cụ còn có chương trình thành lập bộ sách “Encyclopedia” cho VN. Cụ thấy các quốc gia khác có, tại sao VN chưa có. Cụ đang chuẩn bị để thành lập với những người cộng tác và họ sẽ được cụ trả lương ngồi viết cho đến khi bộ sách hoàn tất. Tuy nhiên những ước mơ của cụ đã bị ngưng vào năm 1975.
Nghe anh H Tâm kể, tôi cảm thấy sững sờ và kính phục cụ Khai Trí với nhiệt tâm và công sức của chỉ một cá nhân mà vẫn muốn thực hiện những dự án lớn lao như Encyclopedia. Anh H Tâm kể tiếp:
- Sau năm 1975, cha tôi bị đi tù. Khi ở trại cải tạo về, ông lại có ý định trở lại với ngành sách vở. Ông đã bỏ ra thì giờ, tiền bạc, đi tìm mua lại những sách cũ đã bị thất lạc, bị tịch thu hay thất thoát ra ngoài đem về cất giữ. Lúc nhận được giấy bảo lãnh qua Mỹ, ông đã có trong tay trên 3000 cuốn sách thuộc nhiều loại khác nhau. Ông đã cố gắng chuyển số sách ấy ra hải ngoại với mục đích mang tiếng Việt ra hải ngoại cho người Việt. Ra đến hải ngoại ông đi thăm tất cả các tiệm sách ở đây và nhận ra 90% số sách ông mang qua đều đã được tái, xuất bản và đang bày bán. Ông vô cùng thất vọng, vì cảm thấy không còn làm gì được nữa đành phải trở về lại VN. Lần này, ông đi mua tất cả những cuốn sách được xuất bản ở hải ngoại sau 75 trong kỳ vọng đem về cho dân trong nước có cơ hội được đọc sách hải ngoại. Tuy nhiên khi về đến VN, ông bị chận lại và bị bắt bỏ tù lần nữa. Tất cả số sách ông mang về bị tịch thu và ông vào tù với tội danh “mang văn hoá đồi trụy vào trong nước”.
Vào những giờ phút bất lực cùng cực, ông vẫn chưa chịu thua, ông tiếp tục tự mình soạn ra những cuốn sách để lại cho hậu thế. Đó là cuốn “Thơ tình Việt Nam và thế giới”. Ông tập trung những lá thư tình của VN và thế giới, Bắc, Trung, Nam về để soạn thảo. Ông muốn nói lên một điều là thơ tình hay tình yêu không phân biệt quốc gia hay cộng sản. Ông đã yêu cầu được in và xuất bản tại Sài Gòn. Buổi ra mắt sách được tổ chức tại Thư Viện Quốc Gia VN tại Sài Gòn vào dịp kỷ niệm 300 năm thành lập Sài Gòn. Trong ngày ra mắt sách, ông đã yêu cầu không có chào cờ cộng sản và những người lên lãnh giải cho cuốn sách ấy là những người đã từng ngồi tù trong trại cải tạo. Mục đích ông muốn cho họ thấy, là họ làm việc có chính nghĩa và trong đất cộng sản họ vẫn được quyền lãnh quyển sách được trao giải đó. Đây là việc làm đáng giá và đáng ghi nhớ ở VN, tại 1 quốc gia cộng sản không có tự do mà ông cụ vẫn làm, mà làm được. Đằng sau cuốn sách có ghi tên ông, chủ nhà sách Khai Trí soạn và xuất bản.
Ngoài ra còn một việc làm thứ hai mà ông đã làm được ở VN là đi đòi tiền bản quyền cho 1 số tác giả viết trước 1975 mặc dù các tác giả đã xuất ngoại, nhưng ông vẫn đòi được. Ông đã gởi tiền đòi được qua cho tôi ở hải ngoại và tôi cầm tiền trao lại cho các tác giả ấy.
Câu chuyện anh H Tâm kể về cụ Khai Trí làm tôi vô cùng xúc động. Không biết tỏ nỗi cảm phục nào hơn, tôi chỉ biết thắp nén huơng lòng gởi đến cho cụ ông, cụ bà Khai Trí và cầu nguyện cho hai cụ mãi mãi thong dong ở cõi yên bình.

Ông Khai Trí trong Tòa soạn báo Thiếu nhi (trước 75) 
Phòng khách Khai Trí 
Ông Bà Khai Trí 1983 Trịnh Thanh Thủy thực hiện
[/read]
-
Tường trình buổi tổ chức giới thiệu hai đứa con tinh thần của Yên Sơn
Tuyển tập truyện ngắn “Mưa Nắng Bên Đời” và CD Nhạc “Góp Chút Hương Cho Đời”
Tại Quận Cam, California ngày 11 tháng 11 năm 2018.
Orange County, thủ phủ Sài Gòn Nhỏ, là Cộng Đồng người Việt đông hàng thứ hai ở hải ngoại, chỉ sau thành phố San Jose, Cali và trước Houston, Texas. Vì thế, cuối tuần nào cũng có những sinh hoạt cộng đồng rất nhộn nhịp, chưa kể tất cả các việc quan hôn tang tế của chúng ta đều phải đợi cuối tuần.
Riêng ngày 11/11/2018, từ 1g trưa, chung quanh tâm điểm Phước Lộc Thọ trên đường Bolsa cũng có rất nhiều sinh hoạt Cộng Đồng; nhưng đặc biệt lễ kỷ niệm 30 Năm ngày thành lập Little Saigon, và tổ chức họp mặt tất cả các trung tâm Việt Ngữ trong vùng đã thu hút rất nhiều quan khách, thi văn hữu, bạn hữu. BTC đã rất lo lắng cho buổi tổ chức giới thiệu hai tác phẩm mới của Yên Sơn từ mấy tuần trước. Dù vậy, nhờ sự giúp đỡ hết lòng của BTC và các nhóm bạn bè, nhất là Việt Hải, Trần Mạnh Chi và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật đã liên tục phát sóng trên các đài truyền hình địa phương và phương tiện FB cũng như internet.
Hôm nay là một ngày đẹp trời như thường lệ của vùng nắng ấm Cali. Trong lòng vui với cảnh vật chung quanh nhưng không khỏi hồi hộp. Buổi sáng gọi điện thoại cho chủ nhân hội trường để xin được nhận phòng sớm hơn dự định vì trong thiệp mời ghi giờ tiếp tân cùng lúc với giờ nhận phòng. Cũng may được Duy Nhật vui vẻ chấp thuận và hẹn tôi sẽ đến lúc 10g30.
Vừa đến nơi đã thấy bạn Trần Mạnh Chi cười tươi. Anh em đứng chờ không bao lâu thì vài người bạn học, bạn KQ và anh Quy cũng đã có mặt. Thêm một lúc nữa DN đến mở cửa là anh em rộn ràng lo việc “treo đèn kết hoa”. Hội trường là một tụ điểm nổi tiếng đối với bà con “hát cho nhau nghe” và “nhảy đầm dưỡng sinh” trong vùng. Hội trường tự nó đã rất khang trang, sang trọng với sàn nhảy rộng rãi, ghế bàn rất tươm tất, trang nhã xếp sẵn vài lớp chung quanh tường. Theo DN, đã có sẵn hơn 120 chỗ ngồi và cho chúng tôi toàn quyền xếp đặt theo ý muốn. Chúng tôi chỉ thay đổi một số bàn ghế gần podium và xin DN mở kho cho mượn thêm mấy chục chiếc ghế nữa để xếp thành mô hình lớp học trước bục trình diễn.
Sau hơn nửa tiếng thì mọi việc đâu vào đó, từ banner trên sân khấu, trước cửa đến đồ ăn, thức uống. Các phu nhân của bạn đồng khoá 4/69 KQ đã giúp cho một bữa ăn nhẹ nhưng rất thịnh soạn, thừa đủ cho 200 khách mời; chỉ tiếc 20 chai rượu vang không được vào cửa.
Dù Thiệp Mời để giờ tiếp tân là 11g, nhưng trên các phương tiện thông tin chúng tôi thông báo giờ tiếp tân và ăn nhẹ từ 12g đến 1g chiều. Thế mà lúc 11g đã có rất đông khách đến. Trong số nầy có nhiều bạn bè và thân hữu đến từ những nơi xa như San Jose, Fresno, San Diego… Và vì có nhiều người cần phải rời sớm để đi tới những tổ chức quan trọng khác như Thị trưởng Tạ Đức Trí, Nghị viên Tony Lâm, và một số nhân sĩ tên tuổi trong vùng trong đó có vài diễn giả của chương trình nên vừa lúc 12g30 chúng tôi buộc phải bắt đầu phần giới thiệu tác phẩm chính thức.
Lúc đông nhất thấy gần chật hội trường có sức chứa 180 chỗ ngồi. Nhưng liên tục có kẻ đến người đi. Có nhiều người đi luôn cũng có người đi rồi trở lại chung vui. Nói chung, không khí rất đầm ấm, thân tình. Ngoài số đông tôi có thể nhận ra, số còn lại là những khách mời rất đặc biệt của BTC cũng như do sự vận động của anh chị em, bạn hữu, văn thi hữu tại địa phương.
Thành phần tham dự gồm (xin lỗi không nhớ hết):
– Chính quyền sở tại: Thị trưởng Westminster Tạ Đức Trí và phu nhân, nghị viên Tony Lâm.
– Giáo sư: Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Nguyễn Song Thuận, Ngọc Loan, Phạm Thị Huệ, Cao Văn Hở, Phạm Trần Anh, Quyên Di, Lê Thị Đường, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Hữu Thời…
– Văn Thi Hữu địa phương: Lê Thị Việt Nam, Tha Nhân, Y Cao Nguyên, Nguyễn Ninh Thuận, Trúc Giang, Hoàng Vinh, Tony Phước, Võ Ý, Lê Văn Sáu, Triều Lam Hồ…
– Võ Thuật: Võ Sư Trần Như Đẩu, Võ Sư Tom Võ.
– Trường, Nhóm: LTTH Long Khánh, LTTH Quảng Ngãi, Học Bổng Nguyễn Thái Học, Văn Đàn Thời Đại, VH Nam Cali, CHS Gia Long, CLB Tình Nghệ Sĩ, Nhân Văn Nghệ Thuật, Tiếng Thời Gian…
– Cựu Quân Nhân: KQ Miền Trung Cali, Võ Bị, Thủ Đức, Khoá 4/69, quý niên trưởng KQ.
– Ca nghệ sĩ: Ngọc Quỳnh, Trần Thạch, LD Phú, Phạm Thuỵ, PKNhựt & Ái Liên, Bích Ty…
– Truyền thông: Du Miên, Nguyễn Văn Chuyên, Bích Ty, Thụỵ Vi, Ngô Vân Quy, Trần Mạnh Chi, Việt Hải.
– Diễn giả: Trần Huy Bích, Quyên Di, Nhóm Tiếng Thời Gian, Võ Kỳ Phong, Tạ Đức Trí.Chương trình rất hài hoà, sống động với hai MC Ngô Vân Quy và Mộng Thuỷ. Các diễn giả ngắn gọn, súc tích, đầy đủ cộng với Ban nhạc Duy Nhật và các ca sĩ đã trình bày những nhạc phẩm trong CD rất tuyệt vời, được quan khách tán thưởng bằng những tràng pháo tay không ngớt.
Chương trình chính chấm dứt khoảng 3g chiều; tiếp theo sau là phần văn nghệ tự do rất sôi nổi, giống như dạng “hát cho nhau nghe”, kéo dài tới 5g chiều cho dù hầu hết quan khách lần lượt ra về. Chương trình chấm dứt bằng những bản hợp ca hùng mạnh, vui nhộn với gần 20 ca sĩ lẫn ca lẻ, đứng chật cả podium rộng lớn. Cuối cùng, khách mời còn lại cùng với BTC khoảng 40 người đã chụp với nhau nhiều pô hình kỷ niệm. Sau đó một số anh chị em thân hữu gần 20 nhân mạng đã kéo nhau đến nhà hàng Bò 7 Món Hồng Ân để níu kéo cuộc vui dài thêm vài tiếng đồng hồ trước khi “lưu luyến chia tay”.
Buổi tổ chức được nhiều văn thi hữu địa phương đánh giá là rất thành công, so với những buổi ra mắt sách thời gian sau nầy, trong một ngày có rất nhiều tổ chức quan trọng. Xin trích một vài đoạn trong hai bài viết của hai bạn Việt Hải và Trần Mạnh Chi.
Việt Hải viết:
Buổi giới thiệu tác phẩm mới của thi sĩ và nhà văn Yên Sơn Trương Nguyên Thuận, từ Houston sang diễn ra thành công tốt đẹp. Tuyển tập truyện ngắn “Mưa Nắng Bên Đời” và CD Nhạc “Góp Chút Hương Cho Đời” được tổ chức tại:N T Studio, Westminster, California.Address: 15436 Brookhurst St, Westminster, CA 92683Ngày 11 tháng 11, năm 2018, lúc 11AM.
Cô Võ Minh Phượng đã cảm tác 4 câu thơ tặng tác giả tại chỗ:
Bâng khuâng mưa nắng trải bên đời
Lời thơ man mác, bóng chiều rơi
Về theo thương nhớ trong cung nhạc
Góp chút hương xưa gửi cho đời.
MPVà Giáo Sư Nguyễn Song Thuận, Chủ tịch Hội Hùng Sử Việt cũng gửi tặng 4 câu với lời phi lộ, “Chân thành cám ơn anh Trần Việt Hải và Ban Tổ Chức đã giúp buổi RMS của bạn tôi, nhà văn, nhà thơ Yên Sơn từ Texas xa xôi, tới quận Cam… Thật tuyệt vời!
“Mưa Nắng Bên Đời”… tôi đã hay
Mùa thu tuyệt diệu mới qua đây!
Quận Cam, “Góp Chút Hương” thơm ngát,
Thân tặng Yên Sơn, nhớ mãi ngày…
STNhiều bạn bè, chiến hữu của Yên Sơn cũng như giới tao nhân mặc khách từ nhiều nơi tham dự, chung vui cùng buổi họp mặt văn học và dòng nhạc của Yên Sơn, họ đến từ San Diego, Houston, Dallas, Fresno, San Jose, Los Angeles, Ventura, Arizona, Bakersfield… Cách đây 16 năm, 2002, Yên Sơn cũng đã cho ra thi phẩm thứ ba “Một Đời Tưởng Tiếc” tại đây và bạn bè đến chia vui cùng anh, cũng đông không kém. Yên Sơn xã giao rộng, bạn bè anh nhiều là một yếu tố thành công…
Trần Mạnh Chi viết:
Hôm 11 tháng 11 năm 2018 là ngày ra mắt giới thiệu sách Tuyển Tập Truyện Ngắn “MƯA NẮNG BÊN ĐỜI’ và CD nhạc “GÓP CHÚT HƯƠNG CHO ĐỜI” do nhà văn, nhà thơ Trương Nguyên Thuận với bút hiệu “YÊN SƠN” được tổ chức tại NT Studio thuộc thành phố Westminster, California. Chúng tôi trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian là một trong thành phần hỗ trợ cùng một nhóm Cựu Nữ Sinh Gia Long San Diego và nhóm Cựu Sĩ Quan Không Quân VNCH đã liên hợp với nhà văn YÊN SƠN cùng anh Ngô Văn Quy, chị Bích Ty, Mộng Thuỷ cùng host chương trình này.
Lần đầu tiên một chương trình ra mắt sách rất được thành công trên mọi phương diện cả hình thức cũng như nội dung.
Cũng nhờ tác giả đã từng sinh hoạt lâu dài, sâu đậm trong nhiều lãnh vực và tích cực tham gia trong nhiều môi trường văn học từ trong nước cho ra tới hải ngoại. Nên đã có sự hiện diện của nhiều Giáo Sư, văn thi sĩ, tập thể Cựu Sĩ Quan Không Quân, Nhóm Cựu Nữ Sinh Gia Long, tập thể báo chí ngay cả các giới chức chính quyền sở tại như đương kim Thị Trưởng Tạ Đức Trí và cựu Thị Trưởng Tony Lâm đến tham dự và đã trao bằng tưởng lục của thành phố Westminster cho nhà văn Yên Sơn. Các diễn giả như Giáo Sư Trần Huy Bích, Giáo Sư nhà văn Quyên Di, Giáo Sư Song Thuận gởi gấm chia sẻ cảm tưởng đến sự hăng say, những nỗ lực đóng góp của nhà văn Yên Sơn qua nhiều thập niên…
Kinh nghiệm những lần tổ chức ở các nơi khác, có thể nói đây cũng là buổi tổ chức rất thành công về mọi mặt như lời của anh Trần Mạnh Chị và Việt Hải. Xin cám ơn BTC, cám ơn các bạn hữu, các chiến hữu, quý văn thi hữu… quý mến của tôi; và trân trọng cám ơn đến tất cả quan khách ân nhân đã dành một buổi chiều quý báu đến tham dự và ủng hộ cho buổi tổ chức giới thiệu hai đứa con tinh thần của Yên Sơn.
——————————————————————————
GIỚI THIỆU TRANG NHÀ:
http://thovanyenson.com
http://www.thanphongmartialarts.com[/read]
-
Việt Hải Los Angeles giới thiệu tác phẩm mới

“Bâng Khuâng” là một tập truyện gồm các truyện ngắn được tuyển chọn hệt như một bức tranh lắp ghép mở ra những câu chuyện sống vui buồn, những mảnh đời thăng trầm của người viết từ khi ra nơi tại hải ngoại. Văn phong của Ngọc Cường giản dị, dễ hiểu, không hề có nét bí hiểm nhưng không kém phần sâu sắc. Tôi hình dung về những độc giả sách Ngọc Cường đang đọc, trầm tư, ngẫm nghĩ về những triết tính trong đời sống, Ngọc Cường là người sống nhiều về nội tâm, ông trân quý tình bạn, tình gia đình, văn chương ông chuyên chở những cốt chuyện, những ẩn dụ chất chứa phong văn trong tác phẩm của ông…
[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”]
Tình bạn, tình yêu, những ý nghĩ về cuộc đời chung quanh, tuyển tập văn chương mới này với mười tác phẩm được tác giả khéo léo lồng vào những bài viết như những chuyện ngắn hay bài tùy bút nói lên tâm tư của nhà văn Ngọc Cường, tôi gấp sách sau khi xem qua Yêu và Hận, Người Lính Già, Lưu Vong, Mối Chân Tình, Dưới Ánh Đèn Màu,… còn nữa. Lãng đãng trong tôi kỷ niệm thuở trung học với những Đoạn tuyệt với tình yêu của Dũng và Loan, tác phẩm được ươm mầm với nội dung văn học lãng mạn trong hiện tượng lớp người trẻ dấn thân xã hội, ái tình thương nhớ, rồi chia ly vì phiêu lưu giang hồ mà đôi cặp nam thanh nữ tú dan díu trong một chuyện tình nhiều trắc trở. Nơi trang 13, chuyện tình giữa Long và Thủy éo le, long đong vì chiến cuộc. Chiến tranh cướp đi Long, người chồng sắp cưới của Thủy. Một chuyện tình buồn.
Những ý tưởng của Nhất Linh về Loan và Dũng, tình yêu trải qua bao trắc trở đem tôi về tác phẩm của Ngọc Cường với những xót xa, đoạn trường cho mối tình Long và Thủy, cuộc chiến đẫm máu bi thương nay đã chìm sâu vào trong sách sử xứ tôi.
Vâng, tôi còn nhớ Nhất Linh của những Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Nắng thu, Đôi bạn,… Tưởng cũng nên thêm là nhà văn Ngọc Cường là một hậu duệ của gia đình văn học Nguyễn Tường, tiêu biểu như nhà văn Nhất Linh, một khuôn mặt lớn của nền văn chương Việt Nam.
Bâng Khuâng do Người Việt Books in ấn và phát hành, sẽ ra mắt tại thủ đô Orange County, ngày 9 tháng 12, năm 2018 sắp tới đây. Xin trân trọng giới thiệu sách mới của nhà văn Ngọc Cường đến từ Ohio.
Việt Hải Los Angeles.
-
Hội ngộ Tạ Ơn 2018
Thay mặt BTC Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, chúng tôi xin cám ơn quý đồng hương, quý thân hữu thi văn nhạc, quý bằng hữu nghệ sĩ, truyền thông báo chí đã đến chung vui tham dự buổi hội ngộ Tạ Ơn 2018 vừa qua, 25/11.

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”]
Để đón mừng những ngày cuối năm Noël 2018 và Tết dương lịch 2019, BTC chúng tôi có buổi tiệc tại gia trang của anh chị Lan Bổng tại Anaheim Hills vào tuần sau, với sự phối hợp với tổ chức ROF của ca sĩ Thanh Mỹ, nhân dịp tiếp đón nhà văn Ngọc Cường và phu nhân sang California từ Ohio. Riêng ngày 9 tháng 12, 2018 là ngày Ra mắt tác phẩm mới Bâng Khuâng của Ngọc Cường. Dịp này chúng tôi bắt đầu thu bài cho tác phẩm mới “Tự Lực Văn Đoàn và các ngòi bút hậu duệ”, dự trù ra mắt tại đại học UCLA vào năm 2019.
https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/1948320515258609
Sang đầu năm 2019 dịp Tết âm lịch, Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian phối hợp cùng phân khoa Văn Hóa Ngôn Ngữ đón tiếp GS/TS kiêm Nhạc sĩ Trần Quang Hải sang từ Paris. Buổi lễ có phần thuyết trình về ngành L’ethnomusicologie cùng phần phụ diễn văn nghệ tại hí viện của trường Cal State Long Beach, California (CSULB).
https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/1953280964762564
Mong gặp lại quý bằng hữu văn nghệ sĩ, quý thân hữu hội viên Liên nhóm NVNT và TTG.
tm. Lâm Dung, Trần Mạnh Chi, ThụyVy, Thanh Thanh, Phạm Hồng Thái.
-
Tác phẩm “Mưa Nắng Bên Đời”, Yên Sơn Trương Nguyên Thuận
Hôm 11 tháng 11 năm 2018 là ngày ra mắt giới thiệu sách Tuyển Tập Truyện Ngắn “ MƯA NẮNG BÊN ĐỜI’ và CD nhạc “ GÓP CHÚT HƯƠNG CHO ĐỜI” do nhà văn, nhà thơ Trương Nguyên Thuận với bút hiệu “YÊN SƠN” được tổ chức tại NT Studio thuộc thành phố Westmister, California. Chúng tôi trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian là một trong thành phần hộ trợ cùng một nhóm Cựu Nữ Sinh Gia Long San Diego và nhóm Cựu Sĩ Quan Không Quân VNCH đã liên hợp với nhà văn YÊN SƠN cùng anh Ngô Văn Quy, chị Bích Ty, Mộng Thuỷ cùng host chương trình này.
Lần đầu tiên một chương trình ra mắt sách rất được thành công trên mọi phương diện cả hình thức cũng như nội dung. Cũng nhờ tác giả đã từng sinh hoạt lâu dài ,sâu đậm trong nhiều lãnh vực và tích cực tham gia trong nhiều trong môi trường văn học từ trong nước cho ra tới hải ngoại. Nên đã có sự hiện diện của nhiều Giáo Sư, văn thi sĩ, tập thể Cựu Sĩ Quan Không Quân, Nhóm Cựu Nữ Sinh Gia Long, tập thể báo chí ngay cả các giới chức chính quyền sở tại như đương kim Thị Trưởng Tạ Đức Trí và cựu Thị Trưởng Tony Lâm đến tham dự và đã trao bằng tưởng lục của thành phố Westminster cho nhà văn Yên Sơn. Các diễn giả như Giáo Sư Trần Huy Bích, Giáo Sư nhà văn Quyên Di, Giáo Sư Song Thuận gởi gấm chia sẽ cảm tưởng đến sự hăng say những nỗ lực đóng góp của nhà văn Yên Sơn qua nhiều thập niên.
TMC
Nhiều bạn bè chiến hữu của Yên Sơn cũng như giới tao nhân mặc khách từ nhiều nơi tham dự, chung vui cùng buổi họp mặt văn học và dòng nhạc của Yên Sơn, họ đến từ San Diego, Houston, Dallas, Fresno, San Jose, Los Angeles, Ventura, Arizona, Bakersfield,… Cách đây 16 năm, vào 2002, Yên Sơn cho ra thi phẩm thứ ba là Một Đời Tưởng Tiếc. Bạn bè đến chia vui cùng anh, cũng đông không kém. Yên Sơn xã giao rộng, bạn bè anh nhiều.
Đôi nét về Yên Sơn:
Tên thật là Trương Nguyên Thuận, tuổi Song Ngư, sinh quán tại Quảng Ngãi, Việt Nam. Hiện định cư tại Kingwood, Texas, Hoa Kỳ.
Tốt nghiệp Cử Nhân Quản Trị Kinh Doanh và Computer Engineer (double majors).
Anh đã góp mặt trên văn đàn từ năm 1965 đến nay. Trước 1975, có văn thơ đăng thường kỳ trên các báo Phổ Thông, Thời Nay, Phụ Nữ Diễn Đàn, Trắng Đen. Thành viên Thi Văn Đàn Chim Việt Trà Vinh.Sau 1975 khi ra hải ngoại, Yên Sơn cộng tác thường xuyên với hầu hết các Diễn Đàn Internet Việt ngữ, Đặc san, các Văn Đàn Thi Ca Hải Ngoại, và báo chí Viêt ngữ qua Văn, Thơ, Tùy Bút, Hồi Ký, Phóng sự, Truyện ngắn.
Anh từng giữ chức Cựu Tổng Thư Ký Trung tâm Văn Bút Nam Hoa Kỳ trực thuộc Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, từ 2000-2004. Rồi là Cựu Tổng Thư Ký Ban Chấp Hành Trung Ương Văn Bút Việt Nam Hài Ngoại nhiệm kỳ 2008-2011.
Nguyên Ứng Cử Viên Chủ Tịch VBVNHN nhiệm kỳ 2011-2014. Anh đảm nhiệm vai trò
Cựu Chủ tịch Ủy Ban Định Chế VBVNHN nhiệm kỳ 2011-2013; 2013-2015.Những tác phẩm đã xuất bản:
Có rất nhiều sáng tác phẩm Văn Thơ in chung với nhiều Thi Văn Đàn và Bút Nhóm khác nhau ở Hải Ngoại; ngoài ra, có những tác phẩm riêng như:Tập thơ “Quê Hương và Tuổi Trẻ” in tại Saigon, Việt Nam, tháng 3/1975
Tập thơ “Cho Quê Hương – Tôi – Và Tình Yêu”, phát hành tại San Jose, California, 1998.
Tập thơ “Một Đời Tưởng Tiếc”, phát hành tại Houston, Texas, 2002
Tuyển tập Truyện Ngắn “Mưa Nắng Bên Đời”, phát hành tại Houston, Texas, 2018
Trang Nhà, www.thovanyenson.com, 2009.
Đã thực hiện 2 CD Thi Tuyển cùng với một số thi hữu thân thuộc
Những Giọt Sương Rớt Muộn, 2003
Lối Cũ Vẫn Trong Tim, 2009
và 1 CD Nhạc tự phổ từ thơ của mình:
Gần nhất là CD Nhạc “Góp Chút Hương Cho Đời”, phát hành tại Houston, Texas, 2018Ngoài thơ văn ra anh cũng sáng tác nhạc, cho nên CD “Góp Chút Hương Cho Đời”, đã được trình làng hôm Chủ Nhật vừa qua. Tiêu biểu có 2 bài nhạc của Yên Sơn do ca sĩ Ngọc Quỳnh trình bày. Lâm Dung và Ngọc Quỳnh vốn là đôi song ca quen thuộc tại miền nam California. Song ca phụ nữ hay nam giới có điểm lợi khi họ ca bè bổ túc đệm cho nhau rất hay. Bên Pháp có nhóm ca đôi Brigitte (duo) gồm 2 ca sĩ Sylvie Hoarau và Aurélie Saada; hay nhóm Volo (duo) gồm 2 ca sĩ Frédéric Volovitch và Olivier Volovitch. Ở Mỹ có các nhóm song ca nổi tiếng như The Righteous Brothers (Bill Medley và Bobby Hatfield), Sonny and Cher, The Carpenters (Karen Carpenter và Richard Carpenter), Simon & Garfunkel (Paul Simon và singer Art Garfunkel),… Việt Nam cũng có những đôi song ca Lê Uyên Phương, Minh Xuân – Minh Phúc, Đức Huy -Thanh Tuyền (trước 1975), Từ Dung – Từ Công Phụng (một thuở xa xưa),…
Sáng nay thi sĩ YS làm thơ 6-8 cõng bà ca sĩ, tôi đi theo bắt chước vậy…Ngọc Quỳnh trông đẹp như mơ
Khối giai theo đuổi làm thơ tỏ tình
Cây si có đứa rập rình
Rình cô ca sĩ một mình rinh đi
Xả Hòa lo lắng kể gì (1)
Rằng ai rinh nổi anh Chi cho tiền (2)Notes:
(1): Xả Hòa, anh xả của Ngọc Quỳnh.
(2): Anh PSP TMC cá ai bắt cóc nổi NQ.Hôm nọ post hình Ngọc Quỳnh lên Phây búc, vài bạn facebookers thắc mắc hỏi về Ngọc Quỳnh, bài viết này xin gửi Ngọc Quỳnh lên “Phây” nhé!
Tôi thích bài cổ nhạc kinh điển Dạ Cổ Hoài Lang, trong một bài viết cũ tôi có nhắc đến người nghệ sĩ này. Dạ Cổ Hoài Lang được trình bày qua giọng hát bi ai, thống thiết, với chút sụt sùi, bùi ngùi của nữ nghệ sĩ Ngọc Quỳnh đóng trong vai “Chinh phụ vọng chinh phu”, thui thủi chờ đợi ở khuê phòng cô đơn giá lạnh của nhiệt kế 50 độ Fahrenheit, tương ứng với 10 độ Celsius hay 238 độ trên nhiệt kế Kelvin, khi mà máy sưởi của khuê phòng của madame NQ chỉ độ nhiệt lượng với công suất dưới một ngựa (one horse power) hay 9000 BTU/Hr, khá khiêm nhường theo phép tính của môn Heat Transfer mà Văn Tui còn nhớ bì bõm của năm junior tại đại học của thuở học đại thôi, khuê phòng lạnh giá mà nỗi buồn chờ mong về hình ảnh của đức lang quân từ chiến trường xa xăm khi vinh quang trở về của thi ca: “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu, Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”. Ý tưởng ít nhiều liên quan tới bản Dạ Cổ Hoài Lang mà ca sĩ Ngọc Quỳnh đã trình diễn trong ngày Gia Long hội ngộ toàn thế giới năm nào đã qua rồi.
Ca nghệ sĩ Ngọc Quỳnh – – – Nữ nghệ sĩ Ngọc Quỳnh là ai?
Nàng là một giọng ca của sân trường Gia Long, gốc gia đình di cư từ đất Hà Thành vào Nam sau biến cố đất nước phân ly 1954, dù sinh trưởng và lớn lên tại Sài Gòn, nhưng giọng nói của cô vẫn đặc sệt chất Bắc. Ngọc Quỳnh có khiếu ca hát, cô xem sở thích cầm ca như thú vui nghiệp dư. Nghề kiếm cơm, dốp thơm dằn bao tử “bread and butter”, dốp chính của cô là dạy học bao năm với phấn trắng bảng đen của sân trường Huê Kỳ. Cô cho biết cô vẫn nhớ về thủ đô Sài Gòn Nhỏ, nơi mà những sinh hoạt văn hóa cội nguồn dân tộc đầy ắp, nên mỗi khi sinh hoạt cộng đồng cô phải lái xe từ Los Angeles xuống Orange County vác ngà voi. Nhờ ông xã dễ chịu, anh Vũ Văn Hòa tâm sự với bần bút, khi bà ấy công tác cộng đồng thì anh ở nhà trông nom, tếch-ke như Mr. Mom cho 3 cháu nhi đồng teenager. Anh Hòa là kỹ sư ngành thiết kế tàu bay chiến đấu cho một công ty lớn về quốc phòng, anh đùa là đi làm kiếm tí tiền còm cho bà nhà đổ xăng cho vợ đi phục vụ thiện nguyện xã hội của cộng đồng ta.
Năng khiếu của Ngọc Quỳnh chính ra về ca nhạc tiền chiến, nhạc thính phòng, nhưng cô còn hát nhạc dân ca Bắc Trung Nam, một lãnh thổ toàn vẹn đất đai, Ngọc Quỳnh hát Ả Đào, Ca Trù, Hò Huế, và cái món tôi chú trọng trong bài này là vọng cổ cải lương. Sau Đêm hát tưởng niệm về nhạc sĩ Trần Trịnh tại Emerald Bay vừa qua, Ngọc Quỳnh tâm sự là cô nghe nói giáo sư Nguyễn Thanh Liêm vốn thích nghe cổ nhạc Nam phần, mà chương trình hôm Mừng Thượng Thọ cho giáo sư Liêm tại đài TV VHN lại chật ních, con kiến bò vào không lọt thì làm sao cô dám đề nghị ca tặng cho cô thầy Liêm. Cô bèn gởi bần bút MP3 bài ca của cụ cố soạn giả Cao Văn Lầu đến Thầy Liêm vậy. Tôi bảo là đợi dịp lễ Cúng Kỳ Yên 2013 của Hội Lăng Ông Lê Văn Duyệt vậy. Ngọc Quỳnh nói hát bài Dạ Cổ Hoài Lang của cụ cố Cao Văn Lầu cần có một vị nam lưu trong vai tướng công “Nhứt tướng công thành vạn cốt khô”, vậy ai thủ vai ấy được <?>,….
Nay tôi xin đề nghị kép trẻ soạn giả cổ nhạc Hà Nguyên Du, nhân dáng anh khôi ngô tuấn tú như Dũng Thanh Lâm, mang giọng ca mùi y như Minh Phụng.
Mới đây hôm buổi dinner tiệc đón tiếp thết đãi gia đình Yên Sơn từ xa về Orange County. GS. Quyên Di đề nghị nên có buổi hát dân ca Bắc phần có âm nhạc quan họ Bắc Ninh và hát ả đào, về âm nhạc Trung phần có tiếng hò cung đình Huế và âm nhạc Nam phần có vọng cổ cải lương. Tôi đề nghị hôm RMS tại CSU Long Beach 2019 có âm nhạc Trần Quang Hải, event show này sẽ thích hợp. Sách Trần Quang Hải đào sâu ý niệm dân ca ba miền. Nhạc sĩ Trần Quang Hải đi chuyên ngành về nhạc dân tộc học (ethnomusicologie), đặc biệt nhạc vùng Á châu, esp. l’Indochine. Nhạc sĩ Trần Quang Hải ca, ngâm, hò 3 miền rất hay và vui. Tôi đề nghị 4 giọng ca ngâm hò tứ trụ: Quyên Di, Trần Quang Hải, Bích Ty và Ngọc Quỳnh sẽ trình diễn một clip ngắn dân ca 3 miền cho vui. Vã lại 4 nghệ sĩ này rất tếu lâm và vui tính.
http://www.ninh-hoa.com/VietHai-DaCoHoaiLang-CaoVanLau.htm
Hôm ra mắt sách Yên Sơn, nghệ sĩ NQ đảm nhận ca 2 bài nhạc mới của thi nhạc sĩ Yên Sơn, cô cho biết vì là nhạc mới mà mấy hôm nay kẹt nhiều show nên khi lên sân khấu Ngọc Quỳnh “quíu” hết trơn. Ấy, ấy gái bắc di cư sống tại Sài Gòn xơi giá sống mòn răng đã lâu ngày rồi, ả ta cứ bình dân như vại, cứ thẳng ruột ngựa như dân nam kỳ cuốc thôi.
Kế đến một cô Gia Long khác, ca sĩ Thúy Anh, đúng ra là nghệ sĩ Thúy Anh cho một kỷ niệm với NS Anh Bằng vui vui. Tôi vốn thích bài thơ trong dân gian “Người Ở Đừng Về”, nên tôi đề nghị NSAB phổ nhạc bài này. Hôm sau thì ông đã hoàn tất bài nhạc, nhanh hơn tôi nghĩ vì phổ chỉ trong một ngày là xong. Ông hỏi tôi đề nghị ai hát <?>. Vì nhóm bạn thường gặp nhau khi đó gồm vợ chồng Thúy Anh và Nguyên Vũ cùng Peter Morita, Quyên Di, NSAB và vợ chồng tôi thường đến thăm NS. Lam Phương, mỗi khi hát hò thì Thúy Anh ca và Nguyên Vũ đánh keyboard. Thế là ca sĩ Thúy Anh nhận lời ca cho hôm RMS NS Anh Bằng. Tôi hỏi Thúy Anh thuộc bài chưa, cô bảo nhạc mới, mới ca lần đầu:”Em hơi run, “teo quá”, “nhưng chơi luôn”!”. Tôi tức cười quá xá vì cô này muôn thuở vẫn vui tính, tinh nghịch, đối đáp lanh lẹ, nói năng duyên dáng, Thúy Anh thích đùa và lém lĩnh. Hình như chút gì đó nhắc nhớ vẻ vui tươi như Joyce DeWitt (casted in The 3 Company), nét dí dỏm như Sally Field (casted in Smokey and the Bandit).
Sau đó Nguyên Vũ cho tôi nghe trial version, Thúy Anh hát, Nguyên Vũ đệm keyboard. Thúy Anh ca ngâm giọng bắc bộ thật xuất sắc. Tôi email cho NSAB là tôi rất tâm đắc, ưng ý với giọng ca của Thúy Anh cho bài hát mới của ông, mà lời bài này trong ý nghĩ riêng tôi thơ chất chứa nét dân gian với chút gì đó rất dễ thương…
“Người ơi người ở đừng về
Người về em vẫn khóc thầm
Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa
Người ơi người ở đừng về
Người về em vẫn trông theo,
Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi
Người ơi người ở đừng về
Người về em nhắn tái hồi
Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai”Phân đoạn sau…
“Mình về, ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành:
Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba.
Chữ Trung thì để phần cha,
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình”.Tóm lại, Thúy Anh và Ngọc Quỳnh là 2 cô gái gốc bắc theo học trường Gia Long, ngôi trường nổi tiếng ở miền nam, 2 người nghệ sĩ này vui tính, luôn đối đáp bạn bè bằng những nụ cười thân thiện, nói năng tíu tít dễ thương,… Về phạm vi trình diễn hay ca hát, cả 2 vốn đa năng, đa tài,… Chúc vui cùng lời chia vui với Yên Sơn và kỷ niệm bạn bè…
Cám ơn Thúy Anh và Ngọc Quỳnh!
Việt Hải Los Angeles.
[/read]






















































































