• Kiều My,  Sinh Hoạt

    BUỔI TIỆC LỄ TẠ ƠN & LỜI TRI ÂN TRONG CUỘC SỐNG

    Tác giả: Kiều My & Hình ảnh và trang tri: Khánh Lan

    Giữa cuộc sống tất bật, giữa những bề bộn mưu sinh, giữa những khao khát chưa thành, con người vẫn luôn cần một nơi để tâm hồn được nghỉ ngơi. Ngày Lễ Tạ Ơn chính là dịp để mỗi người nhìn lại quãng đường đã đi, nhìn những gương mặt thân thương ở quanh mình và khẽ thì thầm: “Tạ ơn vì tất cả.”

    Buổi tiệc Thanksgiving ngày Chủ nhật 16 tháng 11 năm 2025 tại tư gia của nữ chủ nhân Mộng Thủy, vị nữ lưu này đã ưu ái mở rộng cửa chào đón các bạn hữu trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đến mừng lễ Tạ Ơn trong ngôi nhà ấm cúng và sang trọng. Giữa khung cảnh ấm áp, tiếng trò chuyện thân mật và sự hiện diện của những gương mặt thân yêu với những nụ cười rạng rỡ…chính là tấm gương phản chiếu tinh thần thiêng liêng của ngày lễ này. Và bài viết hôm nay là lời ghi chép lại những cảm xúc ấy: sâu lắng, chân thành và chan chứa yêu thương trong tình bạn tuyệt vời!

    Vùng trời Nam California mấy hôm nay mưa nhiều, nhưng mọi người vượt qua mưa gió trên những con đường ướt đẫm để đến với nhau trong buổi tiệc Tạ Ơn, để sưởi ấm nhau trong tình bạn hữu thân thương.

    Vui biết bao…khi Kiều My nhìn thấy có sự hiện diện của Cô Dương Hồng Anh, các anh: Nguyễn Quang, Phạm Quốc Bảo, Hoàng Đình Khuê, Vương Trùng Dương, Phạm Gia Đại, Trần Việt Hải, Alain Đức, chị Nguyễn Nga, cùng những người bạn: Hùng Ngọc, Khánh Lan, Mạnh Bỗng, Lệ Hoa, Thụy Lan, Michael, Tuyết Nga, Minh Châu, Minh Thư và keyboardist Ngọc Tú.

    Mọi người thật vui vẻ, thân thiện cùng nhau chia sẻ một đêm vui chơi, ăn uống, ca hát, nhảy nhót…thật tưng bừng. Ngoài tình bạn hữu ra, nhóm Nhăn Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian còn có “tình nghĩa văn chương” như lời thơ trong “Bạn Bè Của Tôi” của nữ sĩ Dương Hồng Anh. Thật đẹp!

    Những món ăn thơm ngon được nữ chủ nhân và cũng là chief cook Mộng Thủy khoản đãi rất chu đáo ân cần. Nào là, mì xào tôm với rau củ, bánh xèo miền Nam, hủ tiếu Mỹ Tho, xôi gấc (đây là những món tuyệt chiêu của Mộng Thủy). Cảm ơn Mộng Thủy thật nhiều đã tạo cơ hội cho cả nhóm có những khoảnh khắc tuyệt vời mà sẽ nhớ mãi trong lòng mọi người. Ngoài ra các bạn còn mang đến những món ăn thuần túy Việt như: bò kho, cơm chiên, chả giò, chè, appertizer v.v…

    Quây quanh bàn ăn, chúng tôi cùng nâng ly, chia sẻ từng miếng ăn, chăm sóc cho nhau, kèm theo những nụ cười giòn tan, rạng rỡ trên gương mặt mọi người, dù cho tuổi đời đã đi thật xa. Tuổi tác và thời gian dường như dừng lại… để chiêm ngắm niềm vui lan tỏa trong sự thân thiện, ngọt ngào.

    Kiều My rất thích thú khi nghe các bậc đàn anh bảo rằng: Các anh đã từng đi dự nhiều buổi tiệc họp mặt, nhưng không có nhóm nào vui vẻ và chân thành như nhóm NVNT&TTG.

    Cảm tạ hảo ý của các anh. Thật vậy! Chúng ta đến với nhau bằng tấm chân tình, yêu thương và trân quý nhau, học hỏi nhau trên con đường văn chương.

    Bữa tiệc đêm nay không chỉ là bữa ăn sum họp, mà còn là khoảnh khắc cảm nhận  sự ấm áp lan tỏa trong trái tim mình. Tiếng cười của bạn bè, ánh mắt xúc động khi nâng ly chúc phúc, món ăn được chuẩn bị bằng cả tấm lòng – tất cả góp thành một bản hòa âm của hạnh phúc. Dưới ánh đèn, có lẽ các bạn đã thấy mình thật may mắn: sau bao năm tháng sống nơi đất khách, những kết nối này trở thành gia đình mở rộng – những vòng tay đỡ đần nhau trong một cuộc đời rộng lớn.Ta còn được yêu thương, còn được nhớ đến, còn được đồng hành. Đó là một phúc lành!

    Nào cùng cạn ly…

    Trong bữa tiệc Tạ Ơn tối nay cũng là dịp mừng sinh nhật  anh Trần Việt Hải. Hai chiếc bánh cake thật đẹp: mừng Lễ Thanksgiving và chúc mừng Birthday của Việt Hải. Cả 2 chiếc bánh thơm ngon, ngọt ngào, đẹp mắt, đều mang ý‎ nghĩa tốt đẹp cho sự chúc mừng.

    Mừng Sinh nhật của Anh Trần Việt Hải 

    Happy birthday to you….and many more….

    Happy birthday to ME ????

    Buổi tiệc này không chỉ là bữa ăn, mà đó là kỷ niệm, là tiếng cười, là sự hiện diện của những tấm lòng chân thật, với những lời cầu chúc tốt đẹp cho ngày sinh nhật của anh Trần Việt Hải.  Happy Birthday to you…Happy Birthday to You…

    Trong ánh sáng lung linh và hương thơm của món ăn, ta đã cảm nhận được điều mà không sách vở nào có thể diễn tả.

    Mừng Lễ tạ Ơn: Là cơ hội cho gia đình, bạn hữu sum họp để cùng cảm tạ vì tình người đã trao cho nhau, cùng quây quần bên nhau chuyện trò. Khi tiếng nói cười chan hòa trong căn phòng ấm áp, ta nhận ra rằng sự hiện diện của nhau chính là món quà quý giá nhất mà cuộc sống ban tặng. Hạnh phúc chính là được ngồi giữa những người thương yêu mình.

    Vì sao có ngày lễ Tạ Ơn? Nguồn gốc ngày lễ Tạ Ơn như thế nào?

    Ngày Lễ Tạ Ơn đã có mặt trong văn hóa Hoa Kỳ hơn bốn thế kỷ. Khi những người di dân đầu tiên đặt chân lên vùng đất mới xa lạ, họ đã phải đối mặt với giá lạnh, đói khát và muôn vàn thử thách. Với sự giúp đỡ của người bản địa, họ đã vượt qua mùa đông khắc nghiệt đầu tiên, gieo hạt, gặt hái mùa màng và tìm lại niềm hy vọng cho sự sống.

    Ngày họ cùng nhau quây quần, dâng lời tạ ơn Thượng Đế vì sự chở che và cho một mùa màng bội thu, chính là khởi nguồn của Thanksgiving. Tinh thần ấy vẫn còn nguyên vẹn đến ngày nay: biết ơn vì mình còn sống, còn được yêu thương, còn có gia đình và cộng đồng để nương tựa.

    Ý nghĩa thiêng liêng của ngày lễ Tạ Ơn

    Ngày Lễ Tạ Ơn không chỉ là lời cảm tạ hướng lên Thượng Đế, mà còn là lời tri ân dành cho gia đình, cho bạn hữu, và cho chính cuộc đời đã cho ta cơ hội được yêu thương, được chia sẻ, được có mặt trên đời này. Ngày Lễ Tạ Ơn là ngày lễ truyền thống của người dân Hoa Kỳ, khởi nguồn từ thế kỷ XVII, không chỉ là là một lễ hội văn hóa, mà là một lời tạ ơn sâu sắc. Những người di dân đầu tiên, sau mùa đông khắc nghiệt với đói khát, bệnh tật và mất mát, đã dâng lời cảm tạ Thượng Đế khi mùa màng bội thu. Từ thời khắc ấy, truyền thống tạ ơn hình thành, giản dị nhưng bền vững. Ngày nay, giữa thế giới hiện đại, ý nghĩa ấy càng đẹp hơn. Bởi dù cuộc sống thay đổi, trái tim con người vẫn cần một nơi để trở về, để tự nhắc mình rằng: trong đời này không có gì là “đương nhiên”.

     Lời tạ ơn Thượng Đế

    Điểm chính yếu của Thanksgiving là lời tạ ơn hướng về Đấng Tối Cao. Dù mỗi người có một truyền thống và đức tin riêng, nhưng khi ta dâng lời “cảm tạ”, trái tim nào cũng cùng chung ánh sáng. Ta biết ơn Thượng Đế:

    – Vì mỗi sáng còn được mở mắt, còn thở, còn sống

    – Vì những điều tốt đẹp lẫn những thử thách, vì cả hai đều dạy ta trưởng thành.
    – Vì những người Ngài đã đưa vào đời ta đúng lúc — để nâng đỡ, để yêu thương, để soi sáng.

    – Vì niềm hy vọng âm thầm Ngài gieo vào lòng ta mỗi khi ta tưởng như không còn đứng dậy được.

    Thanksgiving vì thế không chỉ là một ngày lễ — mà là một lời cầu nguyện.

     Tình thân gia đình – mái nhà của những yêu thương đầu tiên

    Gia đình luôn là điểm xuất phát của mọi yêu thương. Dù mỗi người một phương trời, dù thời gian và tuổi tác có đổi thay, thì mỗi dịp Lễ Tạ Ơn, những sợi dây vô hình của tình thân lại kéo ta về gần nhau hơn. Ta biết ơn cha mẹ – những người trao ta sự sống, dạy ta nhân nghĩa. Ta biết ơn anh chị em – những người cùng ta đi qua tuổi thơ. Ta biết ơn con cháu – những mầm xanh cho ta hy vọng mới.

    Trong mỗi gia đình đều có những câu chuyện không ai nói ra, nhưng ai cũng hiểu: những hy sinh thầm lặng, những nỗ lực không lời, những yêu thương bền bỉ theo năm tháng. Thanksgiving là lúc để nhìn lại và nói: “Cảm ơn”

     Tình bạn – món quà đẹp đẽ của đời sống

    Bạn hữu không chung huyết thống, nhưng lại chung nhịp đập tâm hồn.
    Có những người bạn chỉ gặp vài lần nhưng trở nên thân thiết từ lúc nào.
    Có những người bạn đi bên ta suốt mấy chục năm trời. Có những người bạn tri kỷ — như một món quà hiếm hoi trời dành riêng cho ta, là tình người, sự chia sẻ và lòng quý trọng nhau.

    Hành trình 50 năm trên đất Mỹ

    Đối với những người Việt tị nạn, Thanksgiving không chỉ là nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của Hoa Kỳ; nó còn là một phần của hành trình dài 50 năm sinh sống, làm việc và trưởng thành ở xứ sở này. Chúng ta đã trải qua những mùa Thanksgiving đầu tiên còn bỡ ngỡ. Những mùa lễ tiếp theo là nỗi nhớ gia đình nơi quê nhà. Rồi những năm sau, chúng ta dần tìm được cộng đồng, tìm được những người bạn đồng hương và trở thành gia đình thứ hai.

    Cứ thế, mỗi mùa Thanksgiving đi qua, trong ta lại lớn lên một niềm biết ơn mới — không chỉ vì những gì ta có, mà vì những điều ta đã vượt qua.

    Trong niềm vui cùng ý nghĩa sâu sắc của lễ Tạ Ơn, lời ca tiếng nhạc trổi lên có lúc sống động, có lúc êm dịu qua tiếng hát của anh Vương Trùng Dương, Phạm Gia Đại, Mạnh Bỗng, Kiều My, Lệ Hoa, Thụy Lan, Minh Thư, Alain Đức, Minh Châu. Tiếng hát đi vào lòng người…đượm thắm nồng men rượu đỏ… làm ấm áp trái tim và làm hồng thêm đôi má.

    Đêm đã tàn và cuộc vui cũng đã tan. Mọi người chia tay ra về và hẹn nhau mùa Lễ Tạ Ơn năm sau! Vì Thanksgiving đến là một cơ hội để ta mở lòng hơn, yêu thương nhiều hơn, và gắn bó với nhau sâu sắc hơn. Để thấy rằng hạnh phúc thật sự không nằm ở những điều lớn lao, mà ở những điều giản dị: một cái ôm, một nụ cười, một lời cầu chúc, một buổi tối quây quần bên những người bạn thân yêu…

    Kiều My & Việt Hải-Mùa Lễ Tạ Ơn 2025


     [KL1]

  • Sinh Hoạt,  Viet-Hải

    CUỘC SỐNG VÀ TÌNH BẠN

    Tác giả: Việt Hải-Hình ảnh & Trình bày: Khánh Lan

    Từ trái sang phải: NV Nguyễn Quang và NV Việt Hải

    NGƯỜI BẠN CHÂN THÀNH CỦA TÔI

    Bạn luôn đến với tôi khi tôi cần

    Và giúp dỡ tôi đứng dậy khi tôi thất bại,

    Nhưng bạn không bao giờ phàn nàn trách móc về tôi,

    Hỡi người bạn chân thành của tôi!

    Tu es toujours là pour moi quand j’ai besoin de toi,

    Et tu me relèves quand je tombe,

    Mais tu ne te plains jamais et tu ne me blâmes jamais,

    Mon ami si fidèle!

    You always come to me when I need you

    And help me up when I fail,

    But you never complain or blame me,

    My true friend!

    VHLA

    TÌNH BẠN THÂN LÀ GÌ NHỈ?

    Triết gia Aristotle cho rằng: “Bạn bè là gì nếu không phải là gì một tâm hồn đơn độc trú ngụ trong hai cơ thể.“

    Trong tạp chí Pháp Madmoizelle có bài viết về tình bạn thân (L’amitié étroite, A close friendship). Ôi, tình bạn! Kho báu quý giá mà tất cả chúng ta đều muốn tìm thấy và được ở gần ngay bên nó, được gói gọn bằng một tình bạn lâu năm.

    Bạn bè trước tiên và trên hết là một đồng minh, là người thực sự vui mừng trước hạnh phúc và thành công của bạn mình. Tình bạn thực sự là giúp đỡ người khác “miễn phí“, vì hạnh phúc của họ cũng là một phần nhỏ sự “cho đi” của bạn. Những người thực sự quý giá, những người truyền cho bạn năng lượng, cảm hứng, hỗ trợ và bổ sung cho bạn, nhiều hơn bạn nghĩ.

    Hiện nay, con số hội viên bạn bè của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, khoảng trên dưới 40 người, nhưng rất thân tình và khắng khít bên nhau như anh em cùng một nhà. Trong đó bao hàm một tình thương mến, thông cảm và nâng đỡ lẫn nhau. Ta mừng khi thấy bạn phát triển trong mọi lãnh vực, ta buồn khi thấy bạn gặp phải khó khăn, hoạn nạn. Là những người bạn thân, ta thực sự có thể cảm nhận được những gì bạn ta đang trải qua, dù là ta đã từng trải qua hay chưa.

    Bạn thân ơi! Có còn gì quý hơn tình bạn? Tình bạn thật tuyệt vời và luôn ở bên cạnh để khích lệ ta khi ta đang trong tình trạng chán nản, buồn bã, bạn ta là người cổ vũ tinh thần cho ta, bạn nhắc nhở ta về những điều tuyệt vời mà chỉ có bạn bè thân tình mới có thể mang lại cho ta một thế giới luôn tập trung vào những phẩm chất tích cực, giúp ta toại nguyện và tỏa sáng liên ngành hoạt động. Bạn thân của chúng ta luôn ủng hộ ta! Dù trong bất kỳ tình huống nào, bạn thân ta luôn ở bên cạnh ta, họ luôn có mặt.

    Như nhạc của James Taylor và Carole King hát:

    Bạn chỉ cần gọi tên tôi

    Và bạn biết tôi ở đâu

    Tôi sẽ chạy đến gặp bạn lần nữa

    Đông, xuân, hạ hay thu

    Tất cả những gì bạn cần làm là hãy gọi

    Và tôi sẽ có mặt

    Vâng, tôi sẽ có mặt

    Bạn có một người bạn thân.

    Người bạn thân là người mà ta có thể tin tưởng và cảm thấy thoải mái khi ở bên cạnh. Một người bạn thực sự luôn ủng hộ bạn bè và khiến bạn bè cảm thấy được trân trọng. Tình bạn chứng tỏ được sự quan tâm chân thành đến cuộc sống của ta, chấp nhận và tôn trọng con người ta, khiến tình bạn bè cảm thấy tốt đẹp hơn. Tình bạn đích thực bao gồm một loại tình thân mặc nhiên, luôn luôn đồng hành cùng chúng ta qua những thăng trầm của cuộc sống. Bạn có biết những sinh hoạt nhóm qua lâu ngày nối kết tình bạn thân thiết bền vững, rất có giá trị cho hạnh phúc và thành công cá nhân của từng bạn bè. Một người bạn tốt là người bạn muốn sinh hoạt chung, chia sẻ trách vụ, niềm tin khiến ta cảm thấy tuyệt vời khi tin tưởng nhau. Tình bạn cần sự cảm thông, hiểu tánh tình nhau, cho nhau tiếng cười, vì nụ cười là liều thuốc của cuộc sống.

    Các bạn của tôi ơi! Uống cho say ngheng….. không say không zìa à ngheng….

    Minh Thư: Hey, hey, ai nói chi đó …… Hông say hổng zìa à nghe……

    Ừa….thì không say không Zìa….Dô..dô…dô…

    Những người bạn tuyệt vời sẽ giúp chúng ta giảm bớt căng thẳng. Theo nghiên cứu được công bố trên tờ American Journal of Lifestyle Medicine (Tạp chí Y học Lối sống Hoa Kỳ), sự hài hước giúp giảm căng thẳng và cải thiện chứng trầm cảm, lo âu. Vậy nên, nếu bạn bè cho ta niềm vui, tiếng cười, giúp ta cải thiện sức khỏe và hạnh phúc cho chính ta và bạn bè.

    Phải, “Best friends forever” là một ý tưởng mô tả tình bạn thân thiết kéo dài mãi mãi. “Mãi Mãi Tình Bạn” được viết tắt là MMTB.

    Định nghĩa về MMTB là thuật ngữ chỉ bạn thân QUEN LÂU NGÀY hoặc bạn thân thiết của những ai đó và được đặc trưng bởi sự bền vững, bất kể ý nghĩa của tình bạn đã thay đổi bao nhiêu lần trong cuộc đời họ. MMTB thường có mối tương quan mật thiết và có những trải nghiệm chung, chẳng hạn như sinh hoạt chung nhóm hoặc cùng chia sẻ “goût” thi ca, văn học hay âm nhạc.

    Nhà văn Sir Pelham Grenville nói: “Không có nền tảng nào vững chắc hơn cho một tình bạn đẹp hơn là cùng nhau thưởng thức goût văn chương văn học.”

    Các mối liên quan được gọi là BFF hay MTMB được phổ biến ở trong các nhóm sinh hoạt đồng sở thích và tiệm tăng theo tháng năm sinh hoạt chung. Thuật ngữ BFF không nhất thiết mang ý nghĩa độc quyền; nhưng lại tùy thuộc vào cách hiểu hoặc triết lý riêng của mỗi người về khái niệm mãi mãi tình bạn, “BFF”, một người có thể không có nhiều hơn một bạn bè “BFF” cùng một lúc.

    Nguồn gốc xuất phát từ trong tập phim “The One at the Beach” của loạt phim Friends, Phoebe sử dụng thuật ngữ MMTB hay BFF và phải giải thích với những người còn lại trong nhóm rằng nó có nghĩa là “best friends forever“.

    Nhà văn Barbara Delinsky mô tả một người bạn thân là: “Một người mà bạn không cần phải gặp mặt mỗi ngày mà vẫn giữ được sự kết nối, một người thương mến bạn dù bạn có thường xuyên nói chuyện hay không, một người sẵn sàng bỏ mọi thứ và luôn bắt chuyện hay chia sẻ tiếp theo những gì bạn cần. Đó là một người không quan tâm đến việc bạn ấy ăn ở đâu hay ăn gì, miễn là bạn ta luôn quan tâm về bạn.”

    Bạn bè là những người đặc biệt mang đến sự tích cực giúp đỡ nhau và hỗ trợ cho cuộc sống của chúng ta. Họ làm cho những khoảnh khắc vui vẻ trở nên ngọt ngào hơn và giúp chúng ta vượt qua những khó khăn. Nhưng trở thành một người bạn tốt cũng đáng trân trọng không kém! Điều đó có nghĩa là bạn cũng dành cho họ lòng tốt, sự kiên nhẫn và sự thấu hiểu mà bạn mong muốn nhận được, nuôi dưỡng một mối quan hệ được xây dựng trên tình yêu thương và sự tôn trọng lẫn nhau.

    Bạn bè cho ta niềm vui, tiếng cười…..

    Nhà văn Richelle Mead: “Chỉ có một người bạn thân thực sự mới có thể bảo vệ bạn khỏi những nguy hiểm không ngờ.” (Người dám hy sinh vì bạn).

    Trong trường hợp của GS Luật ở Harvard Elisabeth Foley cho là: Thật là một khám phá thú vị, tuyệt vời nhất mà những người bạn thực sự tạo ra là họ có thể phát triển riêng biệt tài năng mà không ở xa cách bạn. Tình bạn đích thực vượt qua những cản trở về thời gian cho sự đổi thay. Bạn bè có thể theo đuổi những ước mơ khác nhau, dù ở xa nhau hoặc khám phá ra những sở thích mới, nhưng mối liên kết tình bạn với họ vẫn luôn bất biến.

    Trong tình bạn bè chúng ta chấp nhận và trân trọng sự phát triển tài năng của nhau, biết rằng mối tương quan bằng hữu của họ đủ mạnh mẽ để vượt qua những biến động của cuộc sống. Ngay cả khi con đường của họ rẽ sang hướng khác, mối liên kết đặc biệt đó vẫn là điểm tựa của sự hỗ trợ và yêu thương.

    Đối với triết gia Pháp Albert Camus ghi nhận là bạn đừng đi sau tôi; tôi có thể không dẫn đầu. Và bạn cũng đừng đi trước tôi, tôi có thể không theo sau bạn. Chỉ cần bạn đi bên cạnh tôi và làm bạn với tôi. Camus nhấn mạnh sự bình đẳng trong tình bạn. Ông mong muốn một người bạn thân đồng hành cùng mình, chứ không phải một người chỉ huy chỉ đạo hay đi theo mà không góp ý kiến.

    Một người bạn thân thực sự là người luôn sát cánh bên bạn dù khó khăn, luôn dành cho bạn lòng trung thành và sự tin tưởng tuyệt đối. Họ là những người luôn ủng hộ bạn, bất kể những thử thách trong cuộc sống có thể xảy ra.Theo một nghiên cứu của tạp chí Psychology Today, lòng trung thành là một trong những phẩm chất được đánh giá cao nhất trong tình bạn, với 92% số người được hỏi cho rằng đây là điều thiết yếu. Một người bạn thân là người giữ bí mật cho bạn, bảo vệ bạn khi bạn vắng mặt và ăn mừng thành công của bạn như thể đó là thành công của chính họ.

    Lời bài hát You’ve Got a Friend

    Khi bạn buồn bã và đau khổ

    Và bạn cần một bàn tay giúp đỡ

    Và chẳng có gì, ôi, chẳng có gì suôn sẻ

    Hãy Nhắm mắt lại và nghĩ về tôi

    Và chẳng bao lâu nữa tôi sẽ ở đó

    Để thắp sáng cả những đêm đen tối nhất của bạn

    [Điệp khúc]

    Bạn chỉ cần gọi tên tôi

    Và bạn biết tôi ở đâu

    Tôi sẽ chạy đến, ôi, yeah, em yêu

    Để gặp lại bạn

    Mùa đông, mùa xuân, mùa hè, hay mùa thu

    Tất cả những gì bạn cần làm là hãygọi

    Và tôi sẽ ở đó, yeah, yeah, yeah

    Bạn có một người bạn thân.

    Minh Thư: …Ái chà! Chú Vương Trùng Dương ui….say quá rồi….ca sao nổi nữa nè trời ……

    You’ve Got a Friend Lyrics

    When you’re down and troubled

    And you need a helping hand

    And nothing, oh, nothing is going right

    Close your eyes and think of me

    And soon I will be there

    To brighten up even your darkest nights

    [Chorus]

    You just call out my name

    And you know wherever I am

    I’ll come running, oh, yeah, baby

    To see you again

    Winter, spring, summer, or fall

    All you got to do is call

    And I’ll be there, yeah, yeah, yeah

    You’ve got a friend

    Vương Trùng Dương: Ai muốn cưới “Cháu Mộng Thủy” của tui…hừ…, thì phải bước qua ….của tui các đã…..

    Paroles de «Tu as un ami»

    Quand tu es triste et que tu as des soucis

    Et que tu as besoin d’aide

    Et que rien, oh, rien ne va plus

    Ferme les yeux et pense à moi

    Et bientôt je serai là

    Pour illuminer même tes nuits les plus sombres

    [Refrain]

    Il te suffit d’appeler mon nom

    Et tu sais que où que je sois

    J’accourrai, oh oui, bébé

    Pour te revoir

    Hiver, printemps, été ou automne

    Il te suffit d’appeler

    Et je serai là, oui, oui, oui

    Tu as un ami

    Theo tạp chí Pháp Philosophie, trong tất cả các mối tương quan liên kết khi triết gia Aristotle phân biệt ra ba loại tình bạn: tình bạn hữu ích, dựa trên lợi ích cá nhân; tình bạn dễ chịu, dựa trên niềm vui; và cuối cùng, tình bạn, hiếm hoi hơn và khắt khe hơn, dựa trên đức hạnh và hướng đến những giá trị tốt đẹp chân thiện mỹ. Trở lại chủ đề thế nào là bạn tốt thì đó là người luôn ở kề bên, trung thực và sẵn sàng chia sẻ, lắng nghe khi bạn cần. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những phẩm chất và cách duy trì một tình bạn bền vững, thực sự đầy ý nghĩa. Chúng ta trải nghiệm khi khám phá ra ngay để biết làm sao trở thành và có được những người bạn tốt trong cuộc sống.

    Theo trên New Philosopher magazine thì một người bạn tốt là người không chỉ cùng ta chia sẻ niềm vui mà còn luôn sẵn sàng đồng hành trong những lúc khó khăn. Dưới đây là những đặc điểm nổi bật của một người bạn tốt luôn lắng nghe những gì bạn chia sẻ, bất kể đó là vấn đề lớn hay nhỏ. Họ sẽ tôn trọng ý kiến của bạn và sẵn lòng đưa ra những lời khuyên chân thành khi cần thiết.Thêm nữa, khi bạn trải qua những giai đoạn khó khăn, người bạn tốt sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn. Họ sẽ luôn sẵn lòng giúp đỡ bạn vượt qua thử thách, từ việc đơn giản như động viên tinh thần cho đến việc hỗ trợ thực tế khi cần. Và bạn tốt sẽ không ích kỷ và biết chia sẻ, dối với một tình bạn tốt đòi hỏi sự cho đi mà không mong nhận lại. Người bạn tốt không chỉ biết nhận mà còn sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ bạn khi bạn cần, không vì lợi ích cá nhân mà chỉ vì tình cảm chân thành.

    Thụy Lan: Ba yếu tố sau cần nên suy xét:

    – Lòng trung thực với người bạn tốt không quảng ngại nói ra sự thật, cho dù điều đó có thể khiến bạn bè khó chịu. Họ sẽ thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót để chúng ta có thể cải thiện và phát triển bản thân.Và sự tôn trọng: Người bạn tốt luôn tôn trọng ý kiến, sự khác biệt của nhau, không bao giờ cố tình áp đặt hay coi thường. Sự hỗ trợ về mặt tinh thần, đối với một người bạn tốt không chỉ giúp đỡ trong lúc khó khăn, mà còn là nguồn khích lệ tinh thần, giúp chúng ta vượt qua những thử thách và khó khăn trong cuộc sống.

    – Tôn trọng quan diểm và không phán xét bài bác khắc khe nhau. Nên tôn trọng ý kiến và quyết định của bạn bè là điều cần thiết trong một mối tương quan lẫn nhau. Một người bạn tốt sẽ không phán xét mà thay vào đó hỗ trợ và đưa ra những lời khuyên tích cực.

    – Rộng lượng và sẵn sàng tha thứ lỗi lầm. Một người bạn tốt không chỉ rộng lượng về vật chất mà còn cả về tinh thần. Họ biết tha thứ khi bạn mắc sai lầm và không để những lỗi lầm nhỏ làm ảnh hưởng đến mối liênn hệ tình bạn. Có ưu điểm công bằng và bình đẳng giữa bạn bè. Tình bạn dài lâu cần sự đối xử công bằng, không thiên vị và tôn trọng sự khác biệt của bạn bè. Điều này giúp ta duy trì sự hòa hợp và không có sự bất công trong mối tương quan bạn bè.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh cắt bánh khai mạc

    Ngày Tạ Ơn Cám Ơn Bạn

    Khi khó khăn ập đến, tôi biết bạn luôn ở bên cạnh

    Và rồi bạn đã giúp dỡ tôi đứng vững trên mặt đất.

    Bạn cứu giúp tôi vượt qua những ngày tháng đen tối nhất.

    Vì vậy, tôi viết bài thơ ngắn này cho bạn

    và nói với bạn từ tận đáy lòng chân thành tôi

    Ngày Tạ Ơn tôi xin ngàn lân cám ơn bạn!

    Thanksgiving Day Thank You

    When times get tough, I know you’re there

    And you’ve helped me get my firm feet on the ground.

    You’ve helped me through the darkest of days.

    So I’m writing this short poem for you

    and telling you from the bottom of my heart

    Thank you a thousand times on Thanksgiving Day!

    Remerciements pour Thanksgiving

    Quand les temps sont durs, je sais que tu es là.

    Tu m’as aidé à garder les pieds sur terre.

    Tu m’as soutenu dans les moments les plus sombres.

    Alors, je t’écris ce court poème,

    et je te dis du fond du cœur :

    Merci mille fois en ce jour de Thanksgiving !

    VHLA.

    CÁM ƠN MỘNG THỦY ĐÃ TỔ CHỨC MỘT BUỔI HỌP MẶT TẠ ƠN BẠN BÈ-2025 THẬT VUI VÀ ẤM CÚNG. TOÀN THỂ CÁC BẠN BÈ TRONG LIÊN NHÓM NVNT & TTG.

    CALIFORNIA, NOVEMBER 16. 2025

  • Âm nhạc,  Khánh Lan,  Viet-Hải

    TALK SHOW KỲ 15

    Do Khánh Lan phụ trách

    Âm nhạc giúp giảm căng thẳng, giảm đau, ngăn ngừa chứng trầm cảm, tăng thư giãn (relax) và giúp trí nhớ. Hơn thế nữa, âm nhạc giúp chúng ta quên những lo lắng, buồn bã và bon chen trong cuộc sống. Nghe những nhạc phẩm cổ điển, không lời, êm dịu, nhẹ nhàng như của Bach hay Mozart giúp chúng ta chìm vào giấc ngủ nhanh hơn.

    Nhạc Sĩ Võ Tá Hân, người sáng lập ra lớp nhạc Tây ban cầm tại California

    Lớp nhạc đầu tiên tại California năm 2017 tại Hội trường Người Việt: Guitar Vietnamese Senior Art do Nhạc Sĩ Võ Tá Hân sáng lập và hướng dẫn

    Hiện nay, guitar là bộ môn âm nhạc được rất nhiều người yêu thích. Học guitar vừa là cách chinh phục đam mê, giải trí hiệu quả, đồng thời cũng là cách rèn luyện sự kiên nhẫn. Tuy nhiên, khi đến với bộ môn này, nhiều người lại e dè về việc học guitar có khó không? Thực ra học chơi đàn guitar khó hay không tùy thuộc vào đam mê, cảm nhận và mục tiêu của mỗi cá nhân. Tập đánh đàn guitar đòi hỏi sự kiên nhẫn và cố gắng tập luyện. Chúng ta biết rằng, bất cứ làm việc gì hay tập luyện một nhạc cụ nào cũng đòi hỏi sự kiên tâm, đam mê và mất rất nhiều thời gian.

    Lớp nhạc Fountain Valley Guitar Club do Nhạc Sĩ Võ Tá Hân sáng lập và hướng dẫn

    Theo Nhạc Sĩ Võ Tá Hân thì học chơi guitar không khó nhưng cũng không quá đơn giản, bởi vì học guitar cơ bản là cả một quá trình tìm hiểu, sáng tạo và thử thách. Nếu thật sự yêu thích bộ môn nghệ thuật này, bạn sẽ đủ sức vượt qua những khó khăn ban đầu, và chính những thử thách này là những nền tảng kiến thức vững chắc giúp bạn thành công sau này

    Các chị trong nhóm TƠ VÀNG gồm có: Sandy Lee, Lâm Dung, Khiên Trinh, Bình Chi, Jennifer Lâm và Thu Hồng. Và rất đặc biệt là nhóm có sự tham gia của cả 3 miền: 2 chị người miền Bắc, 2 chị người miền Trung và 2 chị người miền Nam.

    Mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị vào link dưới đây để thưởng thức các bài nhạc do nhóm TƠ VÀNG trình diễn.

    Khánh Lan kính mời.

    PHẦN I 

    PHẦN II 

    PHẦN III 

  • Khánh Lan,  Tin tức

    Viện Nghiên Cứu Lịch Sử và Văn Hóa Việt Nam ra mắt 2 tác phẩm

    Lâm Hoài Thạch/Người Việt

    GARDEN GROVE, California (NV) – Nhiều đồng hương đến dự buổi ra mắt sách “Đường Lối Chính Trị Của Phủ Toàn Quyền Đông Dương” của tác giả Ngô Thị Quý Linh, và “50 Năm Nhìn Lại,” tuyển tập của 17 tác giả, do Viện Nghiên Cứu Lịch Sử và Văn Hóa Việt Nam xuất bản, được tổ chức trưa Chủ Nhật, 2 Tháng Mười Một, tại Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (Vietnamese Heritage Museum – VHM), Garden Grove.

    Những tác giả của sách “50 Năm Nhìn Lại” tại buổi ra mắt sách ở Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, Garden Grove. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Hướng dẫn chương trình, Bác Sĩ Vũ Quốc Phong. Ông Bùi Đức Uyên, trưởng ban tổ chức, ngỏ lời chào mừng và cám ơn mọi người đến dự. Ông Phạm Trần Anh, nhà biên khảo lịch sử Việt Nam, là một tác giả của tác phẩm “50 Năm Nhìn Lại.”

    Trong tác phẩm này, ông viết: “Thời gian trôi qua rất nhanh, thế mà đã 50 năm, kể từ ngày Cộng Sản xâm chiếm miền Nam và thống trị dân tộc. Chúng ta cùng nhau dâng nén hương lòng tưởng niệm 50 năm ngày chấm dứt cuộc chiến Việt Nam.”

    Trong buổi ra mắt sách, ông nói: “Hỡi các công dân yêu nước, chúng ta hãy cùng nắm tay nhau đứng lên đấu tranh để thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa, nhằm tiến tới giải thể bạo quyền Cộng Sản, giành lại độc lập tự do, hạnh phúc thực sự cho toàn dân Việt Nam. Hỡi những công dân Việt Nam yêu nước, chúng ta phải luôn nhớ rằng, những gì đã xảy ra hôm qua là lịch sử hôm nay. Những gì mà chúng ta hôm nay, chính là lịch sử của ngày mai, mà dân Việt Nam đang trông chờ các bạn.”

    Sau đó, Giáo Sư Vũ Hoàng, phụ trách phần ra mắt sách “Đường Lối ChÍnh Trị Của Phủ Toàn Quyền Đông Dương,” kể lại những sinh hoạt, biên khảo, và viết văn của tác giả. Sau đó ông kể sơ qua về nội dung sách.

    Sau đó, Giáo Sư Vũ Hoàng, phụ trách phần ra mắt sách “Đường Lối ChÍnh Trị Của Phủ Toàn Quyền Đông Dương,” kể lại những sinh hoạt, biên khảo, và viết văn của tác giả. Sau đó ông kể sơ qua về nội dung sách.

    Nhiều đồng hương đến dự buổi ra mắt hai tác phẩm “Đường Lối Chính Trị Của Phủ Toàn Quyền Đông Dương” của tác giả Ngô Thị Quý Linh, và “50 Năm Nhìn Lại,” tuyển tập của 17 tác giả, do Viện Nghiên Cứu Lịch Sử và Văn Hóa Việt Nam xuất bản. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Nói về vai trò của một cuốn sách lịch sử, theo Giáo Sư Trần Chấn Trí, lịch sử là di sản của nhân loại qua những bài học về quá khứ, đem lại nguồn cảm hứng vô giá cho tương lai.

    Giáo Sư Trí phát biểu: “Với tư cách là một độc giả của cuốn sách ‘Đường Lối Chánh Trị Của Phủ Toàn Quyền Đông Dương’ của tác giả Ngô Thị Quý Linh, tôi đặt mình vào quan điểm của những học sinh, sinh viên đang sống và học hành tại hải ngoại, những người trẻ tuổi gốc Việt muốn có ít nhiều kiến thức về lịch sử nước nhà mà, vì hoàn cảnh, đã không có nhiều cơ hội để học hỏi trong lãnh vực này.”

    Cũng theo giáo sư, cuốn sách này phần nào đáp ứng được nhu cầu cần thiết. Nhiều độc giả có thể xếp cuốn sách này vào nhiều thể loại khác nhau. Nhưng đối với ông, đây là một cuốn sách giáo khoa, hay ít nhất nó cũng có khuynh hướng giáo khoa, qua phần nội dung được thể hiện.

    Ông nói thêm: “Trong toàn bộ tác phẩm, tác giả trình bày các dữ kiện chi tiết lịch sử một cách rõ ràng. Như thế, tác giả đang gởi gắm những điều đó đến những người đang tìm hiểu lịch sử. Họ có thể thuộc về thế hệ trẻ biết rất ít, hoặc không biết gì, về lịch sử Việt Nam. Cũng có những người thuộc thế hệ lớn hơn, nhưng hiểu biết về lịch sử không mạch lạc, rõ ràng. Những người như vậy cũng có thể tìm thấy sự lợi ích của cuốn sách có tính chất giáo khoa này.”

    Họa sĩ Châu Thụy, giám đốc VHM, phát biểu: “VHM vô cùng vinh dự được đón tiếp quý vị trong buổi ra mắt hai tác phẩm hôm nay. Tôi chân thành cám ơn ban tổ chức đã chọn VHM làm địa điểm để giới thiệu sách. Đặc biệt, hôm nay cũng là ngày giỗ thứ 62 của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. VHM hân hạnh được lưu trữ bức tượng của ngài, như một biểu tượng cho tinh thần dấn thân phục vụ quốc gia, dân tộc.”

    Họa sĩ Châu Thụy, giám đốc VHM, phát biểu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    “Sứ mạng của VHM là bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ bây giờ và mai sau, gồm những giá trị lịch sử và văn hóa của tộc Việt Nam. Kính mong quý vị tiếp tục yểm trợ và đồng hành cùng chúng tôi trên con đường gìn giữ di sản này,” ông Châu Thụy nói thêm.

    Tác giả Yên Sơn, thành viên ban tổ chức, nói: “Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ biến cố cuối Tháng Tư, 1975. Một vết thương đau đớn của lịch sử dân tộc, và từ đó khởi đầu cho hành trình lưu vong chưa từng có trong lịch sử người Việt. ‘50 Năm Nhìn Lại’ đã quy tụ 17 tác giả gồm nhiều lứa tuổi trong nhiều hoàn cảnh gia đình và xã hội khác nhau trước 1975. Tất cả góp phần vào nhịp cầu nối tiếp giữa ký ức và hiện tại, giữa lịch sử và khát vọng tương lai của người Việt Nam.”

    Hai tác giả Yên Sơn (trái) và Vũ Hoàng Hải. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Những tác giả này là Phạm Trần Anh, Bùi Đức Uyên, Đặng Ngọc Sinh, Trần Ngọc Dụng, Vũ Hoàng, Phan Nhật Nam, Phạm Ngũ Yên, Khánh Lan, Lê Hữu, Linh Vang, Phổ Hành, Phạm Ngọc Lân, Vương Trùng Dương, Bạch Dương Vũ Hoàng Hải, Bùi Quốc Hùng, và Yên Sơn.

    Về nội dung của sách “50 Năm Nhìn Lại,” Giáo Sư Phạm Thị Huê, chủ tịch Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt, nói: “Sách chủ đề 50 năm nhìn lại, phần nhiều với cái nhìn chung vào một điểm là ngày 30 Tháng Tư, 1975. Hầu hết các bài viết trong số 17 tác giả chú trọng vào ngày đặc biệt này, từ việc phải lựa chọn ra đi, và ra đi như thế nào?… Điểm này làm cho tôi có cảm tưởng là, một số đông trong chúng ta chưa quên được cái đau trong ngày mất nước, mất miền Nam tự do. Sách này, các tác giả ôn lại những nỗi buồn lo, những mất mát và sự lo sợ cho một tương lai bất định.”

    Giáo Sư Phạm Thị Huê, chủ tịch Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt, phát biểu. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

    Tác giả Khánh Lan và tác phẩm 50 Năm Nhìn Lại

    Tác giả Bạch Dương Vũ Hoàng Hải nói với nhật báo Người Việt: “Tại trại tị nạn Thái Lan, chúng tôi không được may mắn, bị cưỡng bức trở về. Trước đó, vì không chấp nhận trở về, nên chúng tôi tự lấy dao đâm vào bụng. Nhưng cuối cùng thì một số anh em chúng tôi cũng bị bắt trở về. Khi bị đưa về nước, chính quyền Việt Nam lúc bấy giờ đã xem chúng tôi là những người phản quốc.”

    “Khi trở về thì anh em chúng tôi mới đoàn kết với nhau. Năm 2005, chúng tôi đã thành lập tổ chức Bạch Đằng Giang của những người bị cưỡng bức tại các trại tị nạn ở Đông Nam Á. Khoảng hai tuần sau, tôi bị công an theo dõi. Sau đó, họ bắt tôi để điều tra và đánh tôi rất nàn nhẫn. Đến ngày 5 Tháng Chín, 2006, thì họ buộc tội tôi là trong tổ chức lật đổ chính quyền. Sau hai năm bị cầm tù, và hai năm quản chế, đến năm 2010 thì Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ can thiệp, và cho tôi được định cư tại Mỹ theo diện tù nhân chính trị,” ông kể tiếp.

    Ông cho biết, tại Mỹ, ông đúc kết lại những kỷ niệm của những người ở trại tị nạn Thái Lan, và hầu như chưa có thông tin nào nói về sự tự sát của những người tị nạn Cộng Sản trên đất Thái, vì không chấp nhận trở về Việt Nam.

    “Thế là tôi soạn tác phẩm ‘50 Năm Vết Thương Còn Rỉ Máu’ để nói lên những nỗi đau của những người tị nạn tại Thái Lan bị cưỡng bức hồi hương, và khát vọng của người Việt Nam như thế nào,” ông Hải cho biết thêm.

    Buổi ra mắt sách có phụ diễn chương trình văn nghệ, với những tiếng hát Kim Loan, Trần Thạch, Quốc Phong, Sơn Thùy… Điều hợp chương trình văn nghệ là MC Nguyễn Ngọc Phúc. [đ.d.]

    Lâm Hoài Thạch/Người Việt

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Tin tức,  Viet-Hải

    Chúc Mừng Ngày Kim Khánh Nhà Giáo QUYÊN DI và NHẠC SĨ HỒNG TRANG

    Trần Việt Hải

            First Love

    Nhìn lại xã hội Hoa Kỳ nơi chúng ta sinh sống, tỷ lệ ly dị ở Hoa Kỳ đã giảm đều đặn trong gần hai thập kỷ qua, ngoại trừ một thành phần dân số lại có xu hướng gia tăng. Theo một nghiên cứu năm 2022 được công bố trên tờ The Journals of Gerontology, được gọi là ly dị “xám”, những người trên 50 tuổi đang rời bỏ vợ chồng của mình với tốc độ chóng mặt, cao hơn gấp đôi so với những năm 1990 và đối với những người trên 65 tuổi, tỷ lệ ly dị đã tăng gấp ba lần. Và không có người phối ngẫu nào thoát khỏi cuộc ly dị mà không bị tổn thương. Đàn ông lớn tuổi sống một mình thường cô đơn hơn so với phụ nữ, nhưng nói chung, phụ nữ lại bị thiệt hại nhiều hơn về mặt tài chính.

    Lý do vì sao hôn nhân thời nay đổ vỡ nhiều như vậy, thì theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ, khoảng 22% cuộc hôn nhân tan vỡ trong vòng 5 năm đầu. Nếu ta tính tổng thể, tỷ lệ ly hôn ở Mỹ vào khoảng 40%. Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến gần 118 triệu người Mỹ, hay 46% người trên 18 tuổi, đang độc thân. Tỷ lệ nữ giới không kết hôn hoặc đã ly hôn chiếm 52%, tính đến năm 2021.

    Có rất nhiều lý do khác nhau dẫn đến ly hôn, từ ngoại tình, mâu thuẫn tài chính, hay đơn giản là ngày càng nhàm chán, xa cách nhau. Bên cạnh những lý do quen thuộc, luật sư ly hôn Dennis R. Vetrano cho rằng có một số nguyên nhân khác cũng rất quan trọng mà ít được mọi người lưu ý.

    Theo bải viết: “Chúng tôi vô cùng sửng sốt trước những khám phá ra những số liệu ly hôn. Hơn 1/3 số người ly hôn hiện nay đã ngoài 50 tuổi. Chúng ta không thể phớt lờ đối với nhóm đó được nữa”. Bài báo Today online cho biết tiếp, mặc dù tỷ lệ ly hôn trong tổng dân số đang giảm, nhưng “những người lớn tuổi lại đang đi ngược xu hướng này”. Ðối với những người trên 65 tuổi, tỷ lệ ly hôn vẫn đang tăng lên.

    Theo tờ Today online, những khó khăn về tài chính sau cuộc “ly hôn xám” (sau 50 năm sống chung) mà các nhà nghiên cứu khác lo ngại. Một số người cho biết mức sống của họ thời hậu ly hôn giảm đáng kể. Ðiều này cùng với thực tế là tỷ lệ nghèo khổ nói chung có xu hướng cao hơn đối với người lớn tuổi, khiến tình trạng “ly hôn xám” trở thành vấn đề nan giải đáng lo ngại.

    Lấy ví dụ như gia dình Al Gore vì những chặng đường khác biệt, vì cả hai người (Al và Tipper) đã sống những cuộc sống hoàn toàn riêng biệt, lịch trình riêng biệt đã đưa họ đi theo những đường hướng khác nhau. Bài báo nói thêm. “Họ nói rằng họ vừa mới xa nhau. Tipper yêu đời và muốn tận hưởng cuộc sống, còn Al vẫn là một người đàn ông rất năng động với rất nhiều dự án và kế hoạch sẽ phải thực hiện.”

    Tôi (người viết bài) muốn đem ý nghĩa của sự cần thiết lễ hấp hôn. Vậy  lễ hấp hôn là gì? Bí quyết làm lễ hấp hôn đơn giản và hiệu quả. Tình yêu của các cặp đôi sống chung lâu năm sẽ dần dà nhường chỗ cho sống chỉ vì nghĩa tình. Chính vì thế, khái niệm hấp hôn là những gì bắt đầu được nhắc đến như một cách để giữ gìn sự gắn bó bền lâu.

    Nhiều cặp vợ chồng đã cưới lâu năm khi mà lối xưa thu thảo đâm ra nhàm chán, người ta cần một không khí mới tươi mát hơn. Do vậy ý niệm hấp hôn là hành động vợ chồng chủ động làm mới mối quan hệ sau một thời gian dài chung sống. Không có bất kỳ quy chuẩn cố định nào khi tổ chức hấp hôn mà chỉ đơn giản là những nỗ lực nhỏ để giữ cho tình cảm vợ chồng luôn ấm áp và gắn bó.

    Khái niệm hấp hôn với người Việt hàm ý nghĩa gần giống với “vow renewal” trong văn hóa phương Tây. Tức là các đôi hôn nhân tổ chức lại lễ cưới nhỏ, và một buổi tiệc nhỏ là xong. Sau nhiều năm sống chung để hâm nóng lại tình yêu. Do đó lễ hấp hôn trong tiếng Anh có thể dịch là rekindle the marriage, renew the marital relationship hoặc reignite the spark in marriage.

    Nhà văn Quyên Di, vừa qua tổ chức ngày lễ vàng Kim Khánh Hôn Phối (50 năm chung sống) vô cùng long trọng và rất ý nghĩa. Đông đảo thân hữu, hơn 400 quan khách tham dự chúc mừng ông bà GS Quyên Di và hiền nội là nhạc sĩ Hồng Trang.

    Bài viết tường trình của nhà văn Jacqueline Kiều My và Khánh Lan về ngày lễ kỷ niệm 50 năm ngày cưới của Gs. Quyên Di và Ns Hồng Trang. Xin bấm vào link dưới đây để xem:

    MỪNG KIM KHÁNH HÔN NHÂN: GIÁO SƯ QUYÊN DI và NHẠC SĨ HỒNG TRANG

    Lễ Kim Khánh Hôn Phối mang màu sắc Công Giáo, như ơn gọi thánh hiến khởi đi từ tình yêu. Một tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa trên những người Ngài muốn và tuyển chọn. Một tình yêu cao quý mà ngôn ngữ con người không thể mở hết cánh cửa huyền nhiệm từ tiếng gọi của Thiên Chúa và lời đáp trả của con người.

    Thêm youtube link về lễ mừng Kim Khánh Nhà Giáo Quyên Di và Nhạc Sĩ Hồng Trang:

    Trong buổi lễ Kim Khánh Hôn Phối của GS. Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang, tôi xin ghi nhận ra điều quan trọng là tóm tắt đại ý bài giảng của linh mục Tạ Anh Kiệt như sau:

    “Chim quyên ăn trái nhãn lồng,

    Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

    “Hơi” đây là hơi gì?

    Là hơi của yêu thương

    Là hơi của chia sẻ

    Là hơi của nâng đỡ lẫn nhau

    Là hơi của tha thứ

    Là hơi của mồ hôi và nước mắt

    Khi cùng nhau vượt qua những đoạn đường gian khó của cuộc đời

    Là hơi của hai nhịp thở cùng nhau lo cho con cái

    Là hơi của tuổi xế chiều, cùng già đi với nhau

    Là hơi cùng nhau trông cậy vào Thiên Chúa…”

    Câu ca dao trích dẫn như trên về tình yêu đôi lứa thấm đượm tình cảm vợ chồng ân nghĩa, bên nhau thủy chung. Cho dù đời sống có vất vả, nghèo khó, họ vẫn vui vẻ chia sẻ cận kề bên nhau, gắn kết với nhau như keo sơn suốt đời. Trong cuộc sống tình nghĩa vợ chồng cần thấu hiểu nhau, thương nhau trong những lúc chênh vênh, khó khăn, hãy luôn luôn kề vai sát cánh bên nhau. Có sự đồng điệu, tương xứng với nhau, có như vậy thì mới sống chung vui vẻ, hạnh phúc và gắn bó lâu dài. Do vậy, câu ca dao miền Nam hàm nghĩa là chim quyên phải ăn trái nhãn lồng, hình ảnh thủy chung đôi bạn, vợ chồng quen hơi hám nhau chung tình cả đời.

    Tôi ghi nhận điểm đặc biệt, Gs Quyên Di ngỏ lời  tri ân  vào cuối Thánh Lễ Tạ Ơn:

    “Cám ơn các vị linh mục, phó tế đã dâng thánh lễ và cầu nguyện cho chúng tôi.

    Cám ơn Ca Đoàn Hoa Biển, ca trưởng, Quỳnh Anh, ca sĩ Như Mai, pianist Phương Lan đã tấu lên những bản thánh ca nâng lòng người lên gần Thiên Chúa.”

    (Xin xem thư kèm cảm tạ của gia đình GS. Quyên Di)

    Bàn về nhạc cho dịp lễ cưới, tôi vốn thích các nhạc phẩm như sau:

    Oui devant Dieu, Here comes the bride, Ave Maria, Endless love, Tonight I celebrate my love, Love me with all your heart, I will always love you.

    Hôm mừng ngày kỷ niệm lễ cưới Quyên Di & Hồng Trang, 3 bài trong danh sách trên được hát như:

    1/ Ave Maria (do Tawni Thanh Thảo, ca ngân giọng lirico soprano, “imitazione come” giọng nữ cao trữ tình, âm sắc nhẹ nhàng, trong sáng).

                                                              Eva Maria, Tawni Thanh Thảo

    Đôi nét về nhạc khúc Schubert này, khi cảm hứng dâng lên để nhà soạn nhạc Franz Schubert người Áo, viết nhạc phẩm dạng Lied xuất sắc này là từ tập thơ Cô gái vùng hồ, được Adam Storck dịch sang tiếng Đức, trong đó nhân vật chính là nữ anh hùng Ellen Douglas trong thời gian trốn tránh quân thù bên một cái hồ, đã cầu nguyện Đức trinh nữ Maria bằng những lời thơ. Schubert vốn là người sùng đạo, lại nhớ đến người con gái mà ông yêu có khuôn mặt giống y đức Đức trinh nữ nên đã phổ nhạc cho tác phẩm này. 

    Như trên đã nói, Schubert đặt tên tác phẩm này là Ellens dritter Gesang, mà không phải là Ave Maria, điều này được khẳng định qua những lá thư ông gửi cho cha mẹ mình, báo tin về sự thành công của ca khúc.                                                                 

    Tuy nhiên, vì bài hát mở đầu và thường lặp lại hai từ “Ave Maria” nên người ta đã đổi tên tác phẩm, đồng thời nghĩ đến việc phổ giai điệu này vào Kinh Kính Mừng tiếng Latinh.

    Nhưng Ave Maria cũng là một tình khúc được lựa chọn phổ biến cho đám cưới Công giáo. Bài hát là một lời cầu nguyện dâng lên Đức Trinh Nữ Maria, với lời ca bằng tiếng Latin. Bài hát thường được ưa chuộng hát trong đám rước hoặc sau khi lễ ban phước lành. Mặc dù một số người liên tưởng bài hát này thích hợp với đám tang, nhưng cuối cùng, việc lựa chọn nhạc cưới vẫn là quyền của những cặp yêu nhau.

    2/ Oui Devant Dieu:

    Ngày Tân Hôn (Oui Devant Dieu) Sáng tác: Maurice Tézé ,Jean Prieto; Lời Việt: Phạm Duy, do Ca sĩ: Jacqueline Kiều My trình bày song ngữ Pháp Việt.

    Em bên mình anh, lặng im dưới bàn thờ

    Và quanh chúng ta là vui sướng chan hoà

    Tình duyên nhỏ bé thành đôi ước mơ già

    Bao nhiêu tóc tơ, giờ đây đã kết se.

    Ta bên mình nhau, rồi đi suối con đường

    Đưa ta suốt đời về nơi xứ Thiên Đường

    Về nơi tổ ấm nhờ ơn đức cao vời, ơn Mẹ Mari-a.

    Người yêu ơi! Ơi người! Người yêu dấu ơi!

    Cùng bên nhau suốt đời, cùng chia sớt nỗi vui

    Hay nỗi sầu, cùng cho nhau biết bao là yêu

    Ví dầu đời qua mau,

    Hai mái đầu, rồi đây sẽ trắng phau.

    Ôi vai kề vai, và tay nắm tay rồi

    Đời thôi vắng tanh, lẻ loi kết đôi rồi

    Từ nay nồng ấm, đời thôi hết u hoài

    Ôi! Tình chăn gối bao la

    Sẽ mang về mãi… tận cõi già

    “Ngày Tân Hôn” (“La Novia”, “The Wedding”, “Oui Devant Dieu”) của Joaquin Prieto, Fred Jay, Maurice Tézé. Ns Phạm Duy chuyển ngữ.

    “The Wedding”, còn được gọi là “The Wedding La Novia”, là một bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Joaquín Prieto được ca sĩ người Anh, Julie Rogers, thu âm từ năm 1964. Bài hát còn nằm trong vở kịch dài “The Wedding” của Julie Rogers từ năm 1964, và đã xuất hiện trong nhiều albums.

    Joaquin Prieto (nhạc sĩ người Chí Lợi) sáng tác bài hát bằng tiếng Tây Ban Nha năm 1958 mang tựa đề “La Novia” (“The Bride”). Phiên bản tiếng Tây Ban Nha này được em trai của ông, Antonio Prieto, thu âm ở Argentina. Phiên bản tiếng Anh do nhạc sĩ Fred Jay dịch lại sau đó nổi tiếng cả ở Âu Châu lẫn Hoa Kỳ, do nhiều nghệ sĩ thu âm và phát hành đầu thập niên 1960s. Trong số các nghệ sĩ này có Anita Bryant và Malcolm Vaughan. Một phiên bản tiếng Nhật tựa đề nguyên thủy “La Novia” do Peggy Hayama trình diễn trở thành hit song ở Nhật. Ca sĩ Dickie Rock người Irish thu âm bài hát năm 1988.

    Oui, devant Dieu (tiếng Pháp), Paroles:Maurice Tézé. Musique:J. Prieto 1961, Titre original: “La novia”

    Oui Devant Dieu by Kiều My

    Oui! devant Dieu, devant les hommes!

    Oui! pour l’amour que tu me donnes!

    Et pour qu’un jour je te pardonne

    Si malgré toi tu m’abandonnes!

    Oui! pour les joies et pour les peines!

    Et pour les lois qui nous enchaînent!

    Oui! je promets quoi qu’il advienne

    Ave Maria!

    Dans tes yeurs je vois tes larmes de jois

    Et j’entends en moi monter une voix

    Mon Dieu qui veillez sur ma vie

    Protégez mon amour, je vous en prie

    Oui, devant Dieu, devant les hommes

    Oui, prends mes jours, je te les donne

    Et plus que tout, mieux que personne

    Je t’aimerais toujours.

    Jusqu’à mon dernier jour                                    

    3/ Love Me With All Your Heart do ca sĩ Lưu Mạnh Bổng vốn nổi danh qua những tình khúc như O Sole Mio (It’s nơw or never), Foglie d’Autunno (Autumn Leaves),… Louis Lưu là một giọng nam cao.

    Đôi chút về bài tình ca Yêu Em Bằng Cả Trái Tim (Love Me With All Of Your Heart). Nguồn gốc xuất xứ của bài ca này là một trong những bài tình ca phổ biến phỏng tác từ bài nhạc gốc tiếng Tây Ban Nha “Cuando calienta el sol” được viết bởi Rafael Gaston Perez một trưởng nhóm nhạc người Nicaraguan. Bài hát được the Rigual Brothers (Carlos Rigual and Mario Rigual) viết lời tiếng Tây Ban Nha, ngoài ra lời bài hát cũng có sự đóng góp của Carlos Albert Martinoli một nhà sọan nhạc người Argentine. Lời tiếng Anh được phỏng tác được cho là do Michael Vaughn (or Maurice Vaughn) và cũng có thể là Sunny Skylar một nhà soạn nhạc kiêm ca sĩ người Mỹ. Bài hát được phát hành năm 1961. Mặc dù với phiên bản tiếngTây Ban Nha hay tiếng Anh thì bài tình ca này không hẵn là bản dịch của nhau, tựa bài hát theo tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “Khi mặt trời sưởi ấm”, bản thu âm bởi ca sĩ “The Ray Charles” từng đứng vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng top 100 của Billboard Hot và đứng vị trí số 1 trên bảng xếp hạng The Pop-Standard singers trong 4 tuần của tháng 6 năm 1964.

    Dưới đây là hai bài nói chuyện của Kiều My và Khánh Lan trong ngày lễ kỷ niệm 50 măn thành hôn của GS Quyên Di và NS Hồng Trang.

    Khánh Lan đại diện cho Lien Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian:

    Kiều My đại diện cho Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa

    Hôm nay, trong bầu khí Thánh thiêng và tràn đầy yêu thương, chúng ta hân hoan cùng hiện diện nơi đây để chúc mừng đôi bạn đáng quý, hai tâm hồn đã cùng nhau đi trọn hành trình năm mươi năm trong ơn nghĩa Thiên Chúa.

    Nhìn lại hành trình năm mươi năm đời sống hôn nhân của GS Quyên Di và Ns Hồng Trang…là
    một nửa thế kỷ của niềm tin, của
    những hy sinh âm thầm, hay những ngày nắng ấm, hoặc những mùa mưa gió và ngay cả những thăng trầm trong cuộc sống.
    Nhưng trên tất cả — là tình yêu bền vững
    của đôi lứa được dệt nên bằng lòng trung tín và ân sủng của Đấng Tối Cao

    Ngày hôm nay, khi nhìn lại quãng đường dài ấy, chúng ta cùng tạ ơn Thiên Chúa vì một hôn nhân tốt đẹp như chứng từ sống động của Tin Mừng:

                Một tình yêu không phai,
                Một đức tin không nguôi,
                Một gia đình tràn đầy phúc lành.

    Xin Thiên Chúa là Cha nhân lành tiếp tục chúc phúc cho GS Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang
    để những năm tháng sắp tới vẫn đầy ắp tiếng cười,
    đầy ắp bình an và hạnh phúc trong Chúa.

    Nguyện xin Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse luôn đồng hành, nâng đỡ và giữ gìn mái ấm thân thương này trong yêu thương và thánh thiện.

    Kính chúc đôi bạn vàng của hôn nhân thánh thiện
    Mừng Kim Khánh Hôn Phối tràn đầy ơn phúc
    Trong ánh sáng và tình yêu của Thiên Chúa!

    KIều My

    Ghi nhận bài: Việt Hải Los Angeles,27/10/2025*.

    ——————————————————————–

    *: Bài viết xin gửi ông anh Hoa Tím Quyên Di, hẹn gặp nhau mùa Kim Khánh kế tiếp, sẽ vui bạo nhé, con chim quyên mãi ăn trái nhãn lồng, giống ngọt cơm vàng ở xứ Cà Mau hay Long Xuyên nhé !!! VHLA.

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Kiều My

    TRIẾT LÝ HÔN NHÂN TRONG CÔNG GIÁO

    Kiều My

    I. Nền tảng Kinh Thánh và Giáo lý về hôn nhân

    Từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ, và trong công trình sáng tạo nhiệm mầu ấy, Ngài chúc phúc cho họ: “Cả hai sẽ nên một xương một thịt.” (St 2,24). Câu Kinh Thánh ấy không chỉ là lời mô tả về tình yêu đầu tiên của nhân loại, mà còn là mặc khải về ý định của Thiên Chúa dành cho con người — đó là một tình yêu hiệp nhất, bền vững, phản chiếu chính tình yêu giữa Thiên Chúa và nhân loại.

    Trong tầm nhìn của Công giáo, hôn nhân không chỉ là một khế ước xã hội, mà là một bí tích – dấu chỉ hữu hình của ân sủng vô hình. Bí tích này nâng tình yêu phàm trần lên hàng thánh thiện, làm cho sự kết hợp giữa hai người nam nữ trở thành biểu tượng của tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Khi đôi bạn trao cho nhau lời cam kết trong Thánh lễ Hôn phối, chính họ là thừa tác viên của bí tích, còn linh mục chỉ là chứng nhân. Điều đó diễn tả một chân lý sâu xa: hôn nhân là ơn gọi, là sứ mạng, và là hành trình nên thánh.

    Nhìn dưới ánh sáng của Giáo lý, hôn nhân Công giáo có bốn đặc tính không thể tách rời: đơn nhất, trung tín, bất khả phân ly và hướng đến sinh sản – giáo dục con cái. Mỗi đặc tính là một chiều kích thiêng liêng của tình yêu, giúp con người sống trọn vẹn phẩm giá làm người và làm con Chúa. Trong thời đại hôm nay, khi giá trị hôn nhân bị thử thách bởi lối sống vội vàng và ích kỷ, triết lý hôn nhân Công giáo vẫn vang lên như một lời mời gọi trở về với cội nguồn của tình yêu chân thật – tình yêu có Thiên Chúa ở trung tâm.

    II. Ý nghĩa thiêng liêng của sự kết hợp vợ chồng

    Hôn nhân là một mầu nhiệm của hiệp thông. Hai người, dù khác biệt về tính cách, quá khứ, và hành trình sống, lại được Thiên Chúa se kết để cùng nhau bước đi trên cùng một con đường. Sự kết hợp ấy không chỉ để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, mà còn để cùng nhau hoàn thiện bản thân và giúp nhau nên thánh.

    Thánh Phaolô đã diễn tả thật cảm động: “Người chồng hãy yêu vợ như chính Đức Kitô yêu Hội Thánh; và người vợ hãy tôn trọng chồng mình.” (Ep 5,25-33). Câu nói ấy không nhằm thiết lập một trật tự quyền lực, mà là lời mời gọi mỗi người yêu trong khiêm nhường, tôn trọng và hy sinh cho nhau.

    Tình yêu vợ chồng trong Công giáo là tình yêu có tính thiêng liêng, vì nó phản chiếu tình yêu tự hiến của Đức Kitô trên thập giá. Khi người chồng biết quên mình để bảo vệ và chăm sóc người vợ, khi người vợ âm thầm nâng đỡ và gìn giữ tổ ấm, cả hai đang sống chính ơn gọi làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa giữa đời thường. Mỗi bữa cơm, mỗi lời tha thứ, mỗi cái nắm tay vượt qua nghịch cảnh – tất cả đều là những “phép lạ nhỏ” của đời sống hôn nhân, nơi ân sủng âm thầm hoạt động.

    Chính trong sự kết hợp ấy, con người học được bài học lớn của đức tin: yêu không chỉ bằng cảm xúc, mà bằng hành động; không chỉ khi thuận lợi, mà cả khi bão giông. Và khi tình yêu ấy được đặt trong bàn tay Thiên Chúa, nó không còn sợ đổi thay, vì “ơn Ngài đủ cho anh em.”

    III. Tình yêu – Hy sinh – Ơn gọi nên thánh qua hôn nhân

    Triết học trong Kitô giáo, hôn nhân là một hành trình hiến dâng. Người ta thường nghĩ chỉ đời tu mới là con đường nên thánh, nhưng Giáo hội dạy rằng hôn nhân cũng là ơn gọi nên thánh giữa lòng thế gian.

    Tình yêu vợ chồng, khi gắn bó trong Đức Kitô, trở thành một “phụng vụ đời sống”: mỗi cử chỉ yêu thương, mỗi lần tha thứ, mỗi ngày kiên nhẫn chịu đựng đều là một lời cầu nguyện thầm lặng. Hy sinh không còn là mất mát, mà là một cách để yêu sâu hơn. Tha thứ không còn là yếu đuối, mà là một hành vi của sức mạnh nội tâm được nuôi dưỡng bởi ân sủng.

    Hôn nhân trong Công giáo dạy con người biết sống tình yêu như một ơn gọi: không chỉ là “được yêu”, mà là “được sai đi để yêu”. Người chồng và người vợ trở thành sứ giả của tình yêu Thiên Chúa giữa đời thường – nơi họ nuôi dạy con cái, chăm sóc nhau, và làm chứng cho đức tin bằng đời sống hiền lành, khiêm tốn.

    Có thể nói, triết lý hôn nhân Công giáo là triết lý của tình yêu trưởng thành – tình yêu biết bước qua lãng mạn để đi vào hiệp thông, biết vượt qua “cái tôi” để sống cho “chúng ta”, biết quỳ gối cầu nguyện bên nhau trong những ngày bình yên cũng như sóng gió. Đó chính là con đường nên thánh của người sống giữa đời.

    IV. Giá trị bền vững và thánh hóa của đời sống hôn nhân

    Nếu thế giới hôm nay coi hôn nhân như một bản hợp đồng có thể hủy bỏ, thì trong Công giáo, hôn nhân là một giao ước thiêng liêng không thể phân ly. Sự bền vững ấy không xuất phát từ ý chí con người, mà từ chính Thiên Chúa – Đấng đã thánh hiến sự kết hợp này.

    Một đôi vợ chồng Công giáo sống trọn lời cam kết của mình sẽ trở thành một “nhà thờ nhỏ”, nơi tình yêu được thờ phượng và ân sủng được truyền lan. Con cái lớn lên trong bầu khí ấy sẽ học được ý nghĩa của nhân đức, của lòng biết ơn, và của niềm tin. Như thế, hôn nhân không chỉ thánh hóa hai người, mà còn thánh hóa cả cộng đoàn và xã hội.

    Trong chiều sâu triết lý, hôn nhân Công giáo là hình ảnh của mầu nhiệm Ba Ngôi: tình yêu Đức Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là một tình yêu trao hiến, luôn hướng ra ngoài để sinh hoa kết trái. Khi đôi vợ chồng sống yêu thương thật sự, họ đang phản chiếu chính tình yêu ấy trong thế giới này.

    Tình yêu trong hôn nhân không dừng lại ở tuổi trẻ, không phai nhạt theo năm tháng. Nó trưởng thành qua thử thách, lắng đọng trong sự tĩnh lặng của những ngày về chiều, và tỏa hương như một chứng tá sống động rằng Thiên Chúa là Tình Yêu.

    V. Vai trò của người chồng và người vợ trong đời sống hôn nhân Công giáo

    Trong ánh sáng Tin Mừng, hôn nhân không đặt nền trên sự thống trị hay quyền lực, mà trên tình yêu và sự phục vụ lẫn nhau. Mỗi người được mời gọi sống đúng ơn gọi riêng của mình, để bổ túc cho người kia trong một sự hiệp thông trọn vẹn.

    Người chồng, theo Thánh Phaolô, được mời gọi “yêu vợ như Đức Kitô yêu Hội Thánh” (Ep 5,25). Đó là tình yêu biết hiến thân, không chiếm hữu, sẵn sàng hy sinh cho hạnh phúc của người mình yêu. Trong khi đó, người vợ được mời gọi sống lòng tôn trọng, dịu dàng và đức tin sâu thẳm, để trở thành “nơi bình an” cho chồng và con cái.

    Không ai cao hơn ai; cả hai bình đẳng trong phẩm giá, khác biệt trong ân sủng, như hai nửa của một toàn thể. Người chồng là mái che, người vợ là ngọn lửa ấm; cả hai cùng nâng đỡ, cùng hướng về Thiên Chúa.

    Trong thực tế đời sống, khi vợ chồng cùng cầu nguyện, cùng đối thoại, cùng vượt qua thử thách, thì mỗi ngày của họ trở thành một “phụng vụ nhỏ” dâng lên Thiên Chúa. Chính ở đó, triết lý hôn nhân Công giáo được thể hiện rõ nhất: yêu là cùng nhau đi về phía ánh sáng.

    VI. Hôn nhân và ơn gọi làm cha mẹ – giáo dục con cái trong đức tin

    Thiên Chúa chúc phúc cho hôn nhân bằng món quà của sự sống. Khi hai người nam nữ đón nhận con cái, họ cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo. Vì thế, thiên chức làm cha mẹ không chỉ là trách nhiệm, mà là một ơn gọi linh thiêng.

    Người làm cha được mời gọi trở nên hình ảnh của Chúa Cha – đầy yêu thương, nhưng cũng kiên định và dẫn dắt. Người làm mẹ phản chiếu lòng nhân hậu và dịu dàng của Thiên Chúa, như suối nguồn của sự sống và của đức tin trong gia đình.

    Giáo dục con cái trong đức tin không chỉ là dạy con đọc kinh hay đi lễ, mà là truyền lại cho con niềm tin sống động bằng chính đời sống yêu thương, trung tín và nhân ái của cha mẹ. Khi đứa trẻ nhìn thấy cha mẹ nắm tay nhau cầu nguyện, khi thấy họ tha thứ, cảm thông và hy sinh cho nhau, thì nơi đó, đức tin đã được gieo hạt vào tâm hồn non trẻ bằng chứng từ sống động hơn mọi lời giảng dạy.

    Một gia đình sống đức tin không phải là gia đình không có thử thách, mà là gia đình biết tin tưởng vào Chúa giữa gian nan, biết nhường nhịn khi bất đồng, và biết dâng hiến mọi niềm vui, nỗi buồn cho Thiên Chúa. Chính nhờ thế, mái ấm trở thành “Giáo hội tại gia” – nơi ân sủng Thiên Chúa đổ xuống chan hòa.

    VII. Hôn nhân dưới ánh sáng của Tình yêu Thiên Chúa và mầu nhiệm Thập giá

    Không có tình yêu nào chân thật mà không mang dấu ấn của thập giá. Trong hôn nhân, những thăng trầm, tổn thương, hiểu lầm hay mỏi mệt đều là những bước đường tất yếu của hành trình yêu thương. Nhưng chính trong những giọt nước mắt ấy, Thiên Chúa lại hiện diện cách sâu sắc nhất.

    Đức Kitô đã yêu Hội Thánh đến nỗi hiến dâng chính mình trên Thập giá. Hôn nhân Công giáo cũng mang lấy tinh thần đó: yêu nghĩa là hiến thân, là tha thứ, là bền bỉ yêu ngay cả khi không được đáp trả. Khi vợ chồng biết ôm lấy nhau trong đau khổ, họ đang cùng nhau vác thập giá và bước theo Đức Kitô.

    Triết lý hôn nhân, vì thế, không chỉ nói về hạnh phúc, mà còn nói về ơn cứu độ. Bởi lẽ, những hy sinh, những chịu đựng trong tình yêu không bao giờ vô nghĩa: chúng được thánh hóa, được kết hợp vào hy lễ của Đức Kitô để biến thành ân sủng.

    Khi hai người biết quỳ gối cầu nguyện cùng nhau trong cơn bão, biết giữ lòng trung thành giữa thử thách, họ đang sống một “thần học của tình yêu”: nơi đau khổ không phá vỡ, mà làm tình yêu nên sâu, nơi thập giá không đè nặng, mà dẫn họ đến phục sinh.

    VIII. Hình ảnh Đức Maria trong đời sống hôn nhân

    Giữa bao mẫu gương thánh thiện của Hội Thánh, Đức Mẹ Maria là ánh sáng dịu hiền soi dẫn mọi gia đình Công giáo. Dù Mẹ không sống đời hôn nhân theo nghĩa trần thế, nhưng Mẹ lại là khuôn mẫu hoàn hảo của người nữ, người mẹ, và người bạn đồng hành trong đức tin.

    Trong biến cố Truyền tin của Thiên thần Gabriel, Mẹ đã nói “Xin vâng” – một lời đáp trả trọn vẹn, khiêm nhu, nhưng mạnh mẽ. Lời “xin vâng” ấy cũng chính là linh đạo của mọi cuộc hôn nhân Công giáo: chấp nhận, tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa. Mỗi khi vợ chồng biết nói “xin vâng” với nhau – “xin vâng” với trách nhiệm, với tha thứ, với những giới hạn của người kia – thì họ đang sống cùng một tinh thần với Đức Maria.

    Trong biến cố Thánh Gia ở Nadarét, Đức Maria đã sống âm thầm, chăm sóc và gìn giữ mái ấm cùng Thánh Giuse. Nơi ấy, Mẹ trở thành biểu tượng của tình yêu khiêm nhường, kiên nhẫn và hiến dâng – ba nhân đức nền tảng cho mọi đời sống hôn nhân.

    Và trên đỉnh đồi Can-vê, khi đứng dưới chân Thập giá, Đức Maria đã chia sẻ trọn vẹn nỗi đau với Con mình – đó là hình ảnh của tình yêu biết chấp nhận, biết hiến mình đến tận cùng. Từ đó, Mẹ trở thành người Mẹ thiêng liêng của mọi gia đình, Đấng đồng hành và nâng đỡ những ai đang bước đi trong thử thách của tình yêu.

    Khi vợ chồng biết đặt đời sống hôn nhân dưới sự che chở của Đức Mẹ, họ học được từ Mẹ sự dịu dàng trong lời nói, sự bền bỉ trong cầu nguyện và lòng trung thành đến cuối con đường. Chính Đức Maria là “Ngôi Sao Hôn Nhân” – soi sáng những mái ấm biết tìm về ơn Chúa.

    Triết lý hôn nhân Công giáo, qua tất cả những chiều kích ấy, là một bài ca về tình yêu vĩnh cửu. Đó là tình yêu của Thiên Chúa được phản chiếu trong từng mái ấm, trong từng lời thề hứa, trong từng hy sinh thầm lặng. Hôn nhân không chỉ là chuyện của hai người, mà là một hành trình thiêng liêng – nơi Thiên Chúa đồng hành, Đức Maria nâng đỡ, và tình yêu được thánh hóa để trở thành lời chứng sống động.

    Triết lý hôn nhân trong Công giáo, xét cho cùng, không chỉ là một hệ thống giáo huấn, mà là một triết lý của tình yêu và hy vọng. Nó mời gọi con người tin rằng tình yêu có thể tồn tại mãi, nếu được xây trên nền tảng của niềm tin, sự chung thủy và ơn Chúa. Hôn nhân, trong ánh sáng Đức tin, là hành trình hai người cùng nhau đi về Trời — nơi họ không chỉ là vợ chồng, mà là hai linh hồn đã cùng nhau học yêu và được biến đổi bởi Tình Yêu Thiên Chúa.

    (Bài sưu khảo “Triết Ly Hôn Nhân Trong Công Giáo” tác giả soạn nhân dịp mừng Kim Khánh Hôn Nhân của GS Quyên Di và NS Hồng Trang.)

    Kiều My, California, October 18, 2025

  • DU LỊCH,  Khánh Lan,  Tin tức

    CATALINA ISLAND & ENSENADA

    Khánh Lan

    Santa Catalina Island in 2025

    Santa Catalina Island là một điểm du lịch nổi tiếng ngoài khơi bờ biển Nam California, Hoa Kỳ. Nằm trong Thái Bình Dương, cách Los Angeles khoảng 35 km (22 dặm) về phía tây nam. Diện tích: Khoảng 19.420 km2 (74,98 dặm vuông). Hành chính: Thuộc Quận Los Angeles, California. Đô thị chính: Thành phố Avalon là trung tâm dân cư và du lịch chính trên đảo. Hai khu vực chính: Đảo được chia thành hai khu vực: Avalon: Khu vực phát triển và nhộn nhịp hơn ở phía đông và Two Harbors: Khu vực mộc mạc và hoang dã. 

    Avalon: Khu vực phát triển và nhộn nhịp hơn ở phía đông.

    Khu vực Avalon phát triển về lảnh vực thương mại và du lịch so với hơn 40 năm trước (1978-1980). Nơi đây đã thấy có sự xuất hiện của nhiều nhà hàng sang trọng, quán giải khát và các của tiệm bán nữ trang, đồ lưu niêm, v.v… mọc lên như mấm. Khách du lịch du lịch khá nhiều dù là những ngày trong tuần. Muốn vào cửa của Via Casino, khách phải trả $20.

    Casino Catalina: Một tòa nhà lớn màu trắng mang tính biểu tượng, nhưng không phải là sòng bạc, mà là nơi tổ chức các sự kiện và có một nhà hát lịch sử.

    Dưới bến tàu du lịch & tàu tư nhân đậu san sát nhau ở bến tàu. Các Du thuyền lớn phải đậu ngoài khơi vài chiếc đưa khách vào đảo bằng những chiếc thuyền nhỏ.

     LỊCH SỬ SANTA CATALINA ISLAND

    Thời kỳ tiền sử: Đảo Catalina đã có người bản địa sinh sống cách đây hơn 7.000 năm. Họ tự gọi mình là Pimugnan hoặc Pimuvit và gọi hòn đảo là Pimugna hoặc Pimu.

    Khám phá của người châu Âu:

    • 1542: Nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha João Rodrigues Cabrilho là người châu Âu đầu tiên đến đảo.
    • 1602: Nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Sebastián Vizcaíno đổi tên đảo thành “Santa Catalina”.
    • Giai đoạn thuộc địa và sở hữu:
      • Đảo từng được tuyên bố chủ quyền bởi Đế quốc Tây Ban Nha, sau đó chuyển sang Mexico và cuối cùng là Hoa Kỳ. Trong suốt giai đoạn này, đảo được sử dụng không thường xuyên bởi những kẻ buôn lậu, thợ săn rái cá và những người đào vàng.
      • Cuối những năm 1800: Đảo được George Shatto mua lại và bắt đầu phát triển thành một khu nghỉ dưỡng, nhưng không thành công.
      • 1919: William Wrigley Jr., ông trùm kẹo cao su nổi tiếng, mua lại phần lớn hòn đảo. Ông đã đầu tư mạnh để biến Catalina thành một điểm đến nghỉ dưỡng đẳng cấp thế giới.
      • Những năm 1920: Wrigley xây dựng cơ sở hạ tầng, khách sạn và các địa điểm du lịch. Ông còn mang đội bóng chày Chicago Cubs (thuộc sở hữu của ông) đến đảo để tập huấn mùa xuân.
      • 1929: Tòa nhà Catalina Casino mang tính biểu tượng được xây dựng, bao gồm một phòng khiêu vũ khổng lồ và nhà hát chiếu phim.
      • Những năm 1970: Gia đình Wrigley chuyển giao 88% diện tích đảo cho Tổ chức Bảo tồn Đảo Catalina (Catalina Island Conservancy) để bảo vệ thiên nhiên hoang dã.
      • Hiện tại: Catalina là một điểm đến du lịch nổi tiếng với nhiều hoạt động từ bãi biển Avalon nhộn nhịp đến các con đường mòn đi bộ đường dài hoang dã ở vùng nội địa. 

    Catalina Island nổi tiếng với Hệ động thực vật: Đảo có hệ sinh thái độc đáo với nhiều loài thực vật và động vật đặc hữu, trong đó có cáo đảo. Một đàn bò rừng bison cũng sinh sống tại đây, được mang đến từ một đoàn làm phim vào những năm 1920. Du khách có thể đi bộ đường dài, lặn biển, đi xe golf vòng quanh đảo, tham quan các bảo tàng và thư giãn tại bãi biển. Ảnh hưởng văn hóa: Đảo Catalina đã trở thành bối cảnh cho hơn 500 bộ phim và chương trình truyền hình. Hệ điều hành MACOS Catalina của Apple cũng được đặt tên theo hòn đảo này. 

    Du thuyền Navigator Of The Seas của cruise line Royal Caribbean ghé Catalina Island & Ensenada, 4 đêm.

    Từ parking lot nơi du thuyền Royal Caribbean đậu là những chuyến xe bus chở du khách vào phố với một giá rất rẻ, $4 vừa đi vừa về cho mỗi người.

    Ensenada có nghĩa là “cửa sông”, là một thành phố thuộc đô thị Ensenada, Baja California, nằm trên bờ biển Thái Bình Dương của Mexico. Nằm trên vịnh Todos Santos, thành phố có dân số 279.765 người vào năm 2018, trở thành thành phố lớn thứ ba ở Baja California. Thành phố là một trung tâm thương mại quốc tế quan trọng và là nơi có Cảng Ensenada, một cảng bận rộn thứ hai ở Mexico.

    Ensenada là một điểm đến du lịch lớn nhờ khí hậu ấm áp và vị trí gần Thái Bình Dương, và thường được gọi là La Cenicienta del Pacífico (“Cô bé Lọ Lem của Thái Bình Dương”). Ensenada được thành lập vào năm 1882, khi cộng đồng nhỏ Rancho Ensenada de Santos được chọn làm thủ phủ khu vực cho sự phân chia phía bắc của Lãnh thổ Baja California. Thành phố đã phát triển đáng kể nhờ sự phát triển của các mỏ ở vùng núi xung quanh. Trong khi Cách mạng Mexico đã hạn chế phần lớn sự mở rộng của Ensenada, thì việc ban hành lệnh Cấm rượu tại Hoa Kỳ đã biến thành phố này thành một điểm đến du lịch nổi tiếng cho người Mỹ tìm kiếm giải trí và rượu.

    Danh tiếng của Ensenada như một thị trấn nghỉ dưỡng được củng cố vào những năm 1950 và 1960, thời kỳ chứng kiến ​​sự bùng nổ xây dựng và sự nổi tiếng quốc tế của thành phố bên ngoài Bắc Mỹ. Ngày nay, Ensenada là một trung tâm kinh tế và văn hóa lớn của Baja California. Thành phố này là nơi tọa lạc của nhiều trường đại học, chẳng hạn như Viện Công nghệ Ensenada và Đại học Tự trị Baja California, Ensenada. Ensenada là một trung tâm công nghệ sinh học quan trọng và là nơi đặt trụ sở của nhiều viện nghiên cứu, chẳng hạn như Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Ensenada. Thành phố là thành viên của Mạng lưới Thành phố Sáng tạo UNESCO.

    Trung tâm thương mại Ensenada

    ROYAL CARIBBEAN WITH NAVIGATOR OF THE SEAS: 4 NIGHTS CATALINA ENSENADA CRUISE–OCTOBER 2025

    4 ngày trên du thuyền với chương trình văn nghệ thật suất sắc cho dịp mừng lễ hội Halloween. màu vàng của những bông hoa, bong bóng, trái bí rợ rải rác khắp mơi, Halloween Costume Parede trên con phố Royal Promenade vời các trang phục hóa trang.

    Royal Family feud

    Đặc biệt với màn Royal Birthday Bash

    ROYAL BIRTHDAY BASH

    Balloon are dropping

    I even got 2 balloons

    Music and Dancing include: Piano Melodies with Scarielt, Jazz Standard Time with the Navigator Orchestra feat, Latin Music & Dancing with Azucar, and Farewell Party with DJ, Ballroom Dance Music with the Navigator Orchestra, Guitar & Vocal Entertainment with Alvaro,

    THE NAVIGATOR ORCHESTRA

    Ballroom Dance Music

    Latin Music & Dancing with the Navigator Orchestra

    Entertainment: Showgirl with the dance of Past & Present, Future, Ballroom Fever, iskating: Reach for the Stars, v.v…

    ISKATING: Reach for the Stars

    Showgirl with the dance of Past & Present, Future, Ballroom Fever

  • Khánh Lan,  Kiều My,  Tin tức

    MỪNG KIM KHÁNH HÔN NHÂN: GIÁO SƯ QUYÊN DI và NHẠC SĨ HỒNG TRANG

    Kiều My & Khánh Lan

    “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không thể phân chia” đề cập đến sự thánh thiêng và bất khả phân ly của hôn nhân theo giáo lý Công giáo. Hôn nhân là sự kết hợp thiêng liêng bởi Chúa Giêsu giữa một người nam và một người nữ, họ kết hôn và trở nên “một xương một thịt” trong mắt Thiên Chúa.

    Lễ Kỷ niệm 50 ngày cưới của Giáo Sư Quyên Di và Nhạc Sĩ Hồng Trang: 1975-2025
    Hôm ấy, trời đẹp quá, một màu xanh lơ, bầu trời thật quang đãng dường như thiên nhiên cũng ưu ái chúc lành cho cuộc hôn nhân tốt đẹp này. Từ 9:30 sáng thứ Bảy, ngày 18 tháng 10 năm 2025 trong bầu không khí thánh thiêng tại Thánh đường Trung Tâm Mục Vụ Lambert đã đông nghẹt người, trong nhà thờ cũng như ngoài parking lot. Mọi người đều hân hoan, hiện diện tham dự thánh lễ kỷ niệm 50 năm thành hôn của Giáo sư Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang. Theo Gs Quyên Di, Trung Tâm Mục Vụ Lambert là do các nữ tu mua lại của một nhà thờ tin lành vào những năm trước. Đây là một trung tâm đẹp, khang trang gồm một nhà thờ nhỏ, khu nhà nguyện và một hội trường xinh xắn. Từ nhà thờ đến hội trường phải đi qua một vườn hoa do các nữ tu chăm xóc, xinh đẹp và rất đáng yêu, có lẽ nhờ vào những bàn tay khéo léo của các bà.

    Những giây phút trôi qua thật lắng đọng! Giờ đây, trong nguyện đường thật ấm cúng tràn đầy tình thương của thân bằng quyến thuộc gần xa, hợp cùng 10 vị linh mục dâng lễ Tạ ơn Thiên Chúa. Đúng 10 giờ sáng, thánh lễ bắt đầu. Từ cuối nhà thờ các linh mục từ từ tiến lên bàn thánh, theo sau là Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang, các con của hai vị và sau cùng là cha chủ tế, Đức Ông Phạm Quốc Tuấn, Ngài là Pastor của nhà thờ San Antonio Catholic Church thuộc vùng Anaheim Hill.

    Các linh mục từ từ tiến lên bàn thánh.

    Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang

    Theo sau là các con và cháu của hai vị.

    Thánh lễ đồng tế diễn ra thật trang trọng, âm vang tiếng hát thiên thần của ca đoàn Hoa Biển và Ca Sĩ Như Mai lan tỏa trong không gian, phối hợp nhịp nhàng hòa cùng các vị Linh mục. Ca đoàn Hoa Biển do Ns Hồng Trang lập ra từ khi mới định cư tại Hoa Kỳ.

    Linh mục Tạ Anh Kiệt mở đầu bài giảng thật linh động với câu ca dao: “Chim Quyên ăn trái nhãn lồng. Lia thia quen châu, vợ chồng quen hơi“. Sau đó linh mục đã giải thích tường tận ý nghĩa của câu ca dao, với phong cách và câu nói dí dỏm, Ngài đã làm cho bài giảng hôm ấy trở nên thú vị, thu hút người nghe. Được biết thêm, linh mục còn là học trò của Gs Quyên Di. Sau cùng, Ngài ngỏ lời chúc hôn và cảm tạ Thiên Chúa đã thương ban nhiều hồng ân đến cho Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang trong hành trình 50 năm “hồng phúc”. Ngài cầu xin cho họ được hưởng trọn hạnh phúc lứa đôi mãi mãi.

    Thánh lễ được cử hành bởi cha chủ tế và các vị Linh mục Thánh hiến, mang trọn vẹn ‎y nghĩa của phép bí tích Hôn phối thiêng liêng, mà Hội Thánh Công Giáo đã kết hợp đôi uyên ương gắn bó trung thành với nhau trong 50 năm qua và còn mãi mãi về sau.

    Chủ tế: Đức ông Phạm Quốc Tuấn

    Các Linh mục: Chu Vinh Quang, Bùi Quyết, Lê văn Quảng, Mai Khải Hoàn, Nguyễn Ngọc Hoàn, Nguyễn Trung Tuấn, Nguyễn Việt Hưng, ICM; Tạ Anh Kiệt, Trần Văn Kiểm và hai thày Phó tế: Thày Nguyễn Văn Phước và Thày Nguyễn Khiết.

    Chúa ở cùng anh chị em.

    Một đặc ân mà hai vị Linh mục Mai Khải Hoàn và Nguyễn Trung Tuấn đã trao phép lành Tòa Thánh Vatican từ Đức Giáo Hoàng Leo XIV, như bảo chứng của Hồng Ân Thiên Chúa qua lời khẩn cầu của Đức Trinh Nữ Maria cho GS Gioan Baotixita Quyên Di và Teresa Hồng Trang nhân dịp kỷ niệm 50 năm Hôn Phối. Hai tâm hồn đã cùng nhau đi trọn hành trình hôn nhân qua nửa thế kỷ trong ân sủng của Thiên Chúa.

    Linh mục Mai Khải Hoàn và Nguyễn Trung Tín đã trao phép lành Tòa Thánh Vatican từ Đức Giáo Hoàng Leo XIV. Và vị chúc hôn là Linh Mục Nguyễn Việt Hưng thuộc dòng Tận Hiến.

    “YOU MAY KISS THE BRIDE!“

    Lời cám ơn của Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang

    Thánh lễ Hôn phối mang ý nghĩa gì?

    ‎‎Hôn nhân Công giáo là bí tích Chúa Giêsu đã lập để kết hợp hai người tín hữu, một nam một nữ thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội thánh, cùng ban ơn giúp họ sống xứng đáng ơn gọi của mình. Khi một người nam và một người nữ kết hôn, họ trở thành vợ chồng theo luật tự nhiên. Hôn nhân của họ là một khế ước, có giá trị trước mặt Thiên Chúa. 

    “Qua bí tích hôn phối, tình yêu của vợ chồng được Thiên Chúa đóng ấn. Họ nhận được những ơn siêu nhiên giúp họ sống ơn gọi hôn nhân và gia đình. Bí tích là điều rất thiêng liêng và trở nên dấu chỉ màu nhiệm Đức Kitô kết hợp với Hội thánh”.

    Nhìn lại năm mươi năm, qua đời sống hôn nhân được bền vững của người thầy hiền từ và nữ nhạc sĩ dịu dàng đã dựa vào niềm tin, với những hy sinh âm thầm…của những ngày nắng ấm, hay cả những mùa mưa gió…và vẫn không thiếu những thăng trầm trong cuộc sống. Nhưng trên tất cả là – tình yêu bền vững của đôi hôn nhân được dệt nên bằng lòng trung tín và ân sủng của Thiên Chúa. Đã minh chứng:

    Một tình yêu không phai. Một đức tin không nguôi. Một gia đình tràn đầy phúc lành.

    Trong dịp trọng đại này, với lòng cảm kích sâu xa Kiều My kính tặng Giáo sư Quyên Di và Nhạc sĩ Hồng Trang bài thơ đã dệt nên … Khúc Hát Ân Tình

    Năm mươi năm – nửa thế kỷ ân tình

    Lời thề xưa…nay vẫn vẹn nguyên son sắt

    Bàn tay Chúa đã nối hai tim cùng nhịp đập

    Để hôm nay…tình yêu ấy nở hoa vàng của mùa Kim Khánh

    Bao mùa nắng mưa qua …vẫn còn đó nụ cười hiền

    Vẫn đôi mắt sáng…niềm tin giữa bao thử thách

    Từng ngày chung bước…là một lời cảm tạ

    Vì có Chúa hiện diện trong từng hơi thở của …tình yêu

    Xin dâng lên Thiên Chúa muôn lời chúc tụng

    Đã cho đôi bạn tìm thấy nhau

    Gắn bó đến hôm nay và mãi về sau

    Khắng khít bên nhau…đến bạc đầu

    Xin Chúa hãy nâng đỡ đôi bạn trong tuổi hoàng hôn

    Đôi tim vàng của Kim Khánh Hôn Nhân

    Thánh lễ đã hoàn tất, quan khách được mời đến hội trường tham dự bữa tiệc thân mật cùng chung vui với hai vì sao hạnh phúc nhất của nhân gian. Các bàn ăn được xép san sát nhau, chúng tôi đoán chắc có đến 400 người tham dự. Những đóa hồng màu vàng rải rác khắp căn phòng, một màu vàng của sự thủy chung, của hạnh phúc và của 50 năm an bình trong tình yêu Thiên Chúa.

    Khách mời dự tiệc gồm các linh mục, các ca nhạc sĩ, hội đoàn, gia đình và bạn bè.

    Nhạc Sĩ Từ Công Phụng dù rất yếu, nhưng ông cũng có mặt để tham dự tiệc mừng và hát một nhạc phẩm tặng Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh và con trai, Nguyễn Đại Thành (Thi sĩ Huy Anh)

    Hàng đứng: Minh Khai, Lệ Hoa, Khánh Lan, Mạnh Bổng, Ngọc Hà, Ngọc Châu. Hàng Ngồi: Đạt, Nguyễn Quang, Vương Trùng Dương, Dương Ngọc Sum.

    Alain Đức, Ngọc Châu, Minh Châu

    Khánh Lan, Dương Hồng Anh, Lê Nguyễn Nga, Katherine Minh Thư, Thụy Lan, Việt Hãi, Lệ Hoa, Ngọc Quỳnh, Kiều My.

    Này Em, hãy cùng ta cạn ly “Hạnh Phúc”

    Rượu mừng do Ns Hồng Trang tự làm-đặc biệt cho ngày tiệc.

    Việt Hải, Khánh Lan, Lệ Hoa, Ngọc Quỳnh

    Hãy cùng nâng ly chúc mừng cho đôi “Uyên Ương” 100 năm hạnh phúc.

    MC Diệu Quyên ngõ lời chúc mừng và cảm tạ đến cử tọa tham dự gồm có: các vị Linh mục, các nữ tu, các bậc chức sắc, ca đoàn Hoa Biển, nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa. Ca nhạc sĩ gồm có: Bs. Phạm Gia Nghị, Đình Thanh, Anh Dũng, Ý Lan, Như Mai, Quỳnh Hương, Hương Thơ, Ngọc Huệ, Thanh Thảo, Hồng Tước, Ngọc Hà, Từ Công Phụng v.v…họa sĩ Phan Chánh Khánh, nhóm cựu nữ sinh Trung học Nguyễn Bá Tòng và giới truyền thông…

    Mở đầu chương trình văn nghệ, Ca sĩ Charies với solo Guitar & Sing, theo sau là những ca khúc vui tươi ca ngợi tình yêu trổi lên qua tiếng hát của những ca sĩ nam California để chúc mừng Gs. Quyên Di và cô Hồng Trang, đã tạo nên bầu không khí vui tươi và thân thiện của một sự kiện đáng ghi nhớ.

    Ca khúc bất hủ Ave Maria của Frank Schubert được cất lên qua tiếng hát Thanh Thảo, trong lúc hai ngôi sao sáng chói nhất hôm nay cắt chiếc bánh 4 tầng được trang trí rất đẹp mắt, để cùng chia sẻ hương vị ngọt ngào thơm ngon của bánh cưới với mọi người.

    Sau đó đại diện của mỗi nhóm chúc mừng và tặng kỷ vật lưu niệm cho đôi Kim Khánh Hôn Nhân giữa những tiếng vỗ tay và những nụ cười giòn.

    Họa sĩ Phan Chánh Khánh và quà tặng cho ngày kỷ niệm 50 năm thành hôn.

    Hai CS Ý Lan & Quỳnh Hương và các nữ sinh Nguyễn Bá Tòng

    Quà tặng của các nữ sinh trường Nguyễn Bá Tòng

    Tiếp đến là các anh chị trong ca đoàn Hoa Biển đã tặng Ns Hồng Trang một quyển Album ghi lại các hình ảnh về những buổi sinh hoạt cùng Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang từ khi ca đoàn được thành lập. Dựa theo lời của MC Diệu Quyên, Ns Hồng Trang là “Bà Mai” rất mát tay, bởi Bà đã mai mối cho nhiều anh chị trong ca đoàn thành vợ chồng. Cặp lấy nhau lâu nhất là MC Diệu Quyên & Trúc Hồ, họ đã cùng nhau chung sống hơn 37 năm.

    Một hoạt cảnh Đám Cưới Trên Đường Quê do những cặp vợ chồng mà nhạc sĩ Hồng Trang trong ca đoàn Hoa Biển đã se duyên, trình diễn rất ngoạn mục. Phần sau hết dành cho Liên nhóm NVNT & TTG và VCV & TDX.

    Khánh Lan đại diện cho Liên nhóm NVNT & TTG và Liên nhóm Kiều My đại diện cho VCV & TDX

    Trên sân khấu, Khánh Lan đại diện NVNT & TTG gởi lời chúc mừng đến Gs Quyên Di và Ns. Hồng Trang, cô nói: “Kính thưa quý quan khách, tại sao chúng ta lại lấy vàng, để ví cho một hôn nhân trải qua sau 50 năm ngày cưới? Phải chăng 50 năm ấy, là biểu tượng của một chặng đường hôn nhân bền bỉ, quý giá và hạnh phúc của một đôi vợ chồng. Một cột mốc quan trọng trong đời sống hôn nhân, mà đôi vợ chồng đã cùng nhau trải qua, với nhiều thăng trầm trong cuộc sống. Một quan hệ sâu sắc, kiên cường, mà trong ấy ta thấy có tình yêu chân chính, có sự trân trọng, có sự chia sẻ, có sự hy sinh và rồi cùng nhau xây dựng để hướng về tương lai tốt đẹp. Hôm nay, đánh dấu ngày Kỷ niệm 50 năm lễ cưới vàng của GS Quyên Di và phu nhân, GS Hồng Trang. Khánh Lan xin được thay mặt Liên nhóm NVNT & TTG, nguyện xin Thiên Chúa toàn năng, ban nhiều Hồng ân đến cho giáo sư Quyên Di và phu nhân giáo sư Hồng Trang thật nhiều niềm vui, tiếng cười và hạnh phúc mãi mãi về sau.“

    Quà tặng của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian rất đặc biệt gồm 50 đóa hoa hồng thể hiện cho 50 năm hạnh phúc được trao đến tận tay, kính quý tặng Ns Hồng Trang và một tấm plaque trạm màu vàng ghi lại ngày kỳ niệm 50 năm thành hôn của hai vị, tháng 10 ngày 26, 1975.

    50 đóa hoa hồng thể hiện cho 50 năm hạnh phúc

    Lệ Hoa đại diện NVNT & TTG trao tặng hoa cho phu nhân Ns Hồng Trang

    Tấm plaque trạm màu vàng ghi lại ngày kỳ niệm 50 năm thành hôn, tháng 10 ngày 26, 1975.

    Liên nhóm NVNT & TTG và VCV & TDX

    Kiều My đại diện Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa tặng quà đến cho Gs Quyên Di và Ns Hồng Trang bức hình Đức Mẹ từ Roma, Cô nói: “50 năm, một khoảng thời gian rất dài cho một cuộc hôn nhân đã trải qua những ngày tháng hạnh phúc, nhưng cũng có những lúc thăng trầm trong cuộc sống, nhưng Gs Quyên Di và Cô Hồng Trang đã trải qua những thời gian đó. Và hôm nay, ….Kiều my xin Thiên Chúa chúc lành cho hai Thày Cô luôn mãi mãi hạnh phúc và thương yêu nhau suốt đời…”

    NVNT & TTG tham gia văn nghệ

    Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian góp mặt trong chương trình văn nghệ qua những ca khúc: Ô Mê Ly, Yêu Em Dài Lâu, Và Con Tim Đã Vui Trở Lại…qua hai tam ca: Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên và tam ca: Thụy Lan, Lệ Hoa và Katherine Minh Thư.  

    Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên với Ô Mê Ly

    Yêu Em Dài Lâu, Và Con Tim Đã Vui Trở Lại…với Thụy Lan, Lệ Hoa, Katherine Minh Thư

    Sau đó, Mạnh Bổng giúp vui với Love Me With All Your Heart của Carlos Rigual & Mario Rigual. Kế tiếp là bản nhạc Pháp trứ danh Oui Devant Dieu của Antonio Prieto và Maurice Tézé qua tiếng hát Kiều My, đặc biệt dành cho Giáo Sư Quyên Di và cô Hồng Trang… Để hồi tưởng lại giây phút tuyệt vời của 50 năm trước khi đôi uyên ương trao lời thề hứa yêu nhau suốt đời trước Thiên Chúa và những người chung quanh.

    Tiếng nhạc rộn rã trong hội trường đã dứt, nhưng dư âm ngày kỷ niệm Kim Khánh Hôn Nhân của Giáo sư Quyên Di và nhạc sĩ Hồng Trang vẫn còn âm vang trong lòng người khi ra về. Cầu chúc đôi bạn vàng trong tình yêu thánh thiện vẫn luôn là chứng nhân sống động của lòng trung tín và ơn lành Thiên Chúa giữa đời.

    9:37 pm ngày 24 tháng 10, 2025 Khánh Lan nhận được text của Gs Quyên Di, ông nói: “Hôm ấy hai Liên nhóm của chúng ta tham dự đông đảo khiến chúng tôi rất cảm động. Khánh Lan cho chúng tôi gửi lời cám ơn đến tất cả các anh em chúng ta”

    Kiều My & Khánh Lan, California, October 18, 2025

  • Tin tức

    THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG DOÃN GIA & ANH NGUYỄN ĐÌNH HIẾU

    Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian xin thanh thật chia buồn cùng Doãn Gia,  cùng quý anh chị Doãn Quốc Thái, Hưng, Vinh, Hương và anh Nguyễn Dình Hiếu.

    Nguyện cầu hương linh cụ ông Hạnh Tuệ Doãn Quốc Sỹ sớm siêu thoát nơi cõi niết bàn. Dồng Thành Kính Phân Ưu.

    DOÃN QUỐC SỸ (2025)

    Links:

    RIP !!! Doãn Quốc Sỹ, một tâm hồn thấm đẫm tinh thần dân tộc.

    https://www.bbc.com/vietnamese/articles/cz0xr2987g2o

    Doãn Quốc Sỹ, một ngòi bút chân phương, cổ điển:

    https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/LiteratureAndArts/author_Doan_Quoc_Sy_MLam-06232008172417.html

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Do%C3%A3n_Qu%E1%BB%91c_S%E1%BB%B9

    https://isach.info/story.php?story=chiec_chieu_hoa_cap_dieu__doan_quoc_sy

    https://sachhiem.net/NGHOAN/NgHoan02.php

    Tết Hội Ngộ Đinh Hôi Âm Lịch Xuân 2007 từ trái: GS. Doãn Quốc Sỹ, VHLA, GS Quyên Di, NV Tạ Xuân Thạc, và madam Tạ Xuân Thạc (bà Kim Anh Houston). Photo kỷ niệm do NV Vương Trùng Dương chụp.

    RMS Đời Phi Công Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh: GS. Nguyễn Xuân Vinh, GS Doãn Quốc Sỹ, TS Hà Thượng Nhân, VHLA, San Jose, Xuân 2005.

    From left: VHLA, Doãn Quốc Sỹ, Trần Thanh Hiệp, Tạ Xuân Thạc kỷ niệm RMS Văn Đàn Đồng Tâm họp Hội ngộ tại Houston, , Hè tháng 7, 2006.

    From left:

     Đào Vũ Anh Hùng, Vũ Hối, Tạ Xuân Thạc, Tô Thùy Yên, Doãn Quốc Sỹ, VHLA, Ngọc An, Hồng Vũ Lan Nhị, VĐĐT họp Houston, Hè tháng 6, 2005.

    NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ QUA ĐỜI TẠI NAM CALIFORNIA, THỌ 103 TUỔI

    Nhà văn Doãn Quốc Sỹ. (Hình: Triết Trần/Người Việt)

    ANAHEIM, California (NV) – Nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa qua đời lúc khoảng 10 giờ sáng ngày 14 Tháng Mười, tại bệnh viện West Anaheim Medical Center, thành phố Anaheim, California, thọ 103 tuổi. Các con ông Doãn Quốc Sỹ xác nhận tin này với Người Việt.

    Theo thông tin từ gia đình, Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17 Tháng Hai, 1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, Hà Nội.

    Ông từng tham gia Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Khi nhận thấy bản chất Cộng Sản của tổ chức này, ông rời bỏ kháng chiến.

    Vào năm 1946, ông lập gia đình với bà Hồ Thị Thảo, ái nữ của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu.

    Năm 1954, hiệp ước Geneva chia đôi đất nước, ông di cư và mang gia đình vào miền Nam.

    Doãn Quốc Sỹ có hai sự nghiệp song song; một sự nghiệp nhà văn, một sự nghiệp nhà giáo. Ông thường nói: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp.”

    Ông từng giảng dạy tại các trường Trung Học Công Lập Nguyễn Khuyến (Nam Định 1951-1952), Chu Văn An (Hà Nội), Hồ Ngọc Cẩn (Sài Gòn, 1961-1962), Trường Quốc Gia Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Ông từng là hiệu trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên (1960-1961) và từng đi tu nghiệp về sư phạm tại Hoa Kỳ (1966-1968).

    Năm 1956, ông đồng sáng lập nhà xuất bản Sáng Tạo, và tạp chí văn nghệ cùng tên với Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh và Ngọc Dũng.

    Ông có tác phẩm đăng trên các tạp chí Sáng Tạo, Văn Nghệ, Bách Khoa, Văn Học, Nghệ Thuật…

    Sau 30 Tháng Tư, 1975, Doãn Quốc Sỹ cùng các văn nghệ sĩ như Trần Dạ Từ, Thanh Thương Hoàng, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Sỹ Tế, Chóe… bị chế độ Cộng Sản bắt giam. Đến năm 1980, ông được thả tự do nhờ sự can thiệp của nhiều tổ chức quốc tế.

    Trong thời gian chờ đợi được con gái bảo lãnh đi nước ngoài, ông tiếp tục viết thêm nhiều tác phẩm nữa, trong đó có quyển “Đi,” ký bút hiệu Hồ Khanh. Ông gửi tác phẩm này sang Pháp để xuất bản tại hải ngoại. Cũng vì lý do này, ông bị bắt lần thứ hai vào tháng Năm, 1984. Cùng bị giam với ông trong đợt này có ca sĩ Duy Trác, nhà báo Dương Hùng Cường, hai nhà văn Hoàng Hải Thủy và Lý Thụy Ý. Ông bị kết án mười năm tù và mãn hạn tù lần thứ hai vào Tháng Mười Một, 1991.

    Năm 1995, ông được con trai là Doãn Quốc Thái bảo lãnh sang Houston, Hoa Kỳ.

    Nhận định về ảnh hưởng của tác phẩm Doãn Quốc Sỹ, nhà thơ Trần Mộng Tú từng viết trên VOA: “Những người yêu chữ nghĩa văn chương ở Việt Nam thời 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam không ai là không đọc những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ. Những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ cho người đọc thấy yêu quê hương, yêu gia đình, bạn hữu hơn mặc dù trong những dòng chữ đó không hề nhắc đến một bổn phận nào.”

    Nhà thơ, nhà báo Đỗ Quý Toàn, nhận định với Người Việt: “Doãn Quốc Sỹ xuất hiện trong nhóm Sáng Tạo nhưng ông tạo một phong cách văn chương riêng biệt. Ông theo lối cổ truyền: Dùng văn chương chuyên chở đạo lý.”

    Nhà thơ, hoạ sĩ thuộc thế hệ hậu bối, Đinh Trường Chinh, nhận định với Người Việt: “Doãn Quốc Sỹ là một trong những con chim đầu đàn của nhóm Sáng Tạo, nhóm đã làm thay đổi diện mạo văn học miền Nam sau 1954 và góp phần thay đổi cảm quan người đọc thời ấy ra khỏi mỹ cảm Tự Lực Văn Đoàn và văn thơ tiền chiến vốn đã hiện diện và ăn sâu vào người đọc thời ấy.”

    Nhà văn Doãn Quốc Sỹ ra đời, sinh hoạt và lớn lên ở miền Bắc nên có sự hiểu biết sâu sắc về chế độ Cộng Sản. Câu nói nổi tiếng của ông trong truyện ngắn Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều: “… Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn, ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.”

    Là người gần gũi và có nhiều kỷ niệm với Doãn Quốc Sỹ và gia đình, nhà báo Đinh Quang Anh Thái kể với Người Việt: “Đọc tác phẩm của bác, mê văn bác từ nhỏ, nhưng mãi tới sau ngày 30 Tháng Tư 75, lúc bấy giờ tôi ngoài 30 tuổi, tôi mới có cơ duyên được hầu chuyện bác, tôi cảm ngay được nhân cách hiền hòa, kín đáo của bác. Bác chừng mực nhưng không xa cách. Bác đôn hậu nhưng không vồn vã. Đúng cung cách “Quân Tử Chi Giao Đạm Nhược Thủy”, tình cảm thâm trầm, lắng đọng vào bên trong, không sôi nổi, bộc lộ ra ngoài.”

    Nhà báo Đinh Quang Anh Thái nói, với riêng ông: “Doãn Quốc Sỹ là mẫu người tượng trưng cho chính khí Việt.”

    Sự thâm trầm, lắng đọng của Doãn Quốc Sỹ, trong cách nhìn của Đỗ Quý Toàn, “hầu như bẩm sinh đã mang sẵn một cái tâm kiên cố khó bị lay động vì hoàn cảnh. Ông có phước mang sẵn tấm lòng trống trơn, không cần phải cố gắng.”

    Doãn Quốc Sỹ là nhà văn có sức sáng tác phong phú và đa dạng. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tiểu thuyết Khu Rừng Lau, gồm 4 tập: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vỹ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965) và Những Ngã Sông (1966).

    Nhiều truyện ngắn của ông được độc giả ghi nhớ lâu dài. Trong đó có thể kể đến: Gìn Vàng Giữ Ngọc, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Mình Lại Soi Mình, Đàm Thoại Độc Thoại, Dấu Chân Cát Xóa, Dốc Sương Mù…

    Tổng số tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ là 25 cuốn.

    Hiện chưa có thông tin tang lễ từ gia đình. (NV) [kn]

     Nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong một lần ký tặng sách cho độc giả.                                                                    (Hình: Uyên Nguyên/Người Việt).

    https://www.facebook.com/reel/1535695617850972

  • Tin tức

    LỊCH SỬ VỀ NGÀY HALLOWEEN, GHOSTS AND SPIRITS

    Khánh Lan

    Halloween là một sự kiện kỳ ​​lạ, kỳ lạ bởi nguồn gốc của nó không phải là xấu, mà thực ra là tốt đẹp. “Halloween” là “All Hallows Even“; nói cách khác, là Đêm trước Lễ Các Thánh, Và “All Hallows” là Ngày Các Thánh. Ngày Các Thánh (ngày 1 tháng 11) là ngày mà tất cả các vị thánh được tôn vinh, đó là thời điểm mà Giáo hội dành riêng để tôn vinh những người đã sống một cuộc đời gương mẫu, những người đã ban phước lành cho người khác bằng cuộc sống của họ, và được Giáo hội coi là thánh vào thời điểm đó.

    Tuy nhiên, ngày 31 tháng 10, đối với những người Celt không theo Kitô giáo, lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Đó là lễ hội Samhain và ngày đó cũng là Đêm Giao thừa ở Anh, nơi người Celt và Anglo-Saxon sinh sống. Thực ra, đó là ngày kết thúc năm cũ và bắt đầu năm mới của người Celt. Đó là dịp cho các lễ hội lửa, họ đốt những đống lửa lớn trên đỉnh đồi để xua đuổi tà ma, và cũng là thời điểm luật lệ và quyền sở hữu đất đai được đổi mới. Theo một cách nào đó, nó gợi nhớ đến Cựu Ước vào những năm phóng thích, tất cả những người bị giam cầm đều được trả tự do. Những người bị bắt làm nô lệ vì đã từng là kẻ trộm, bị bắt và bị bán làm nô lệ được trả tự do vào năm thứ bảy. Điều đó luôn xảy ra vào mùa thu, không phải vào mùa xuân.

    Trong năm Đại lễ đó, toàn bộ đất đai lại được trả về cho chủ gia đình sở hữu lúc đầu tiên, khi họ đã nhận được đất dai bằng cách rút thăm. Phong tụ nay luôn xảy ra vào mùa thu và là thời điểm tất cả luật lệ và quyền sở hữu đất đai được đổi mới. Trong các tôn giáo Celtic, người chết được cho là sẽ về thăm nhà vào đêm này. Điều này đưa đến kết quả đưa đến khía cạnh u ám của lễ hội Halloween.

    Halloween được cho là thời điểm thuận lợi nhất cho việc bói toán, cầu hôn, cầu sức khỏe, cầu may mắn và cầu cho được chết trong thanh thản . Và đó là ngày duy nhất mà người ta cầu xin sự giúp đỡ của Quỷ dữ trong những vấn đề như vậy.”

    Thành phố Santa Ana mừng ngày Haloween như thế nào?

    Năm nay, 2025. Thành phố Santa Ana ăn mừng ngày Haloween rất lớn. Thật vậy, một hội chợ nhỏ hình thành tại những góc đường Main street và số 4th Street đóng và chặn lại không cho xe chạy, để dành cho những quầy hàng bán mọi thứ liên quan đến Halloween ngày 31 tháng 10. Khánh Lan xin tạm gọi theo dân gian là “Ngày Lễ Ma Quỷ” có khác, những quầy hàng nhỏ dựng hai bên lề đường, san sát nhau, bày bán quần áo hóa trang, stickers, mặt nạ, T-shirts, v.v… tất cả hàng hóa hầu như có in hình ma quỷ ở trên mặt.

    Những người bán hàng người thì mặc y phục hóa trang, người thì mặc tuyền một bộ y phục màu đen và phần lớn trên người họ có nhiều vết xâm hình (tattoos), khiến cho cái không khí “hơi ơn ớn, rờn rợn” cho những ai vốn sợ “MA“.

    Các cửa hàng

    Hội chợ Halloween tại thành phố Santa Ana nằm phía trước cửa của một Alta Baja food Market, gồm một dẫy hàng ăn. Khánh Lan thấy có quầy thức ăn của Đại Hàn, Thái, Mexican, American, Indian, Faka’s Island Grill, Gina’s Crepes & Walffles, Co, pizza house USA. Menu mới quyến rũ làm sao, nào là Loose Leaf Boba Tayabak by Dakine Grindz, Daily Kombucha, Deli Station, the Golden Eatery, Jar:becue, Chicken Rice, Tuk Tuk Thai, v.v…

    Sau bữa ăn trưa tại Ata Baja Food Market, Khánh Lan đánh bộ một vòng và dừng lại trước một rạp hát bõ túi, cũng trong khu hội chợ Halloween này. Tò mò, Khánh Lan dừng lại xem và thấy có nhiều người Việt Nam đang đứng đợi mua vé vào cửa. Hỏi ra thì mới biết đây là tuần lễ của VIET FILM FEST do các sinh viên theo ngành phim ảnh tại trường UCLA mướn rạp hát này để chiếu những film do các em làm ra.

    Khu phố trên con đường số 4 này là phố “Little Mexican” ví như đường Bolsa của khu Little Saigon của chúng ta. Các cửa tiệm ở đây bán rất nhiều sản phẩm, có lẽ sản xuất từ Mexico và chủ tiệm cũng như khách hàng phần lớn là Mexican, đa số nói tiếng Spanish, nên ta có cảm tưởng như mình đang du lịch tại Tijuana, Mexico.

    Một ngày cuối tuần thật vui.

    Khánh Lan, October11, 2025

  • Tin tức

    Tưởng Niệm Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ

    Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn

    Nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923–2025)

    Một Biểu tượng của Văn Học Miền Nam Việt Nam đã từ trần lúc 10:05 sáng ngày 14 tháng 10 năm 2025, tại West Anaheim Medical Center, Quận Cam, California. Hưởng đại thọ 103 tuổi. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của văn đàn Việt Nam hiện đại, với cuộc đời hiến trọn cho chân – thiện – mỹ, cho tự do tư tưởng và phẩm giá con người.

    Khi còn sinh tiền, ông nói: “Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp” đã trở thành phương châm sống, biểu trưng cho nhân cách và tấm lòng son sắt của một người trí thức Việt Nam.

    Tiểu sử Doãn Quốc Sỹ:

    Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 (mùng 2 Tết Quý Hợi), tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông, Hà Nội. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp, rồi rời bỏ đảng Việt Minh khi nhận ra mình không cùng lý tưởng. Ông cùng thế hệ với các văn nhân lớn như Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp… Ông sáng lập Tạp chí & Nhà Xuất bản Sáng Tạo (1956), một biểu tượng của phong trào văn học hiện sinh, khai phóng và nhân bản tại miền Nam.

    Doãn Quốc Sĩ là nhà giáo ưu tú, từng giảng dạy tại các trường trung học và đại học danh tiếng gồm: Nguyễn Khuyến, Chu Văn An, Quốc Gia Sư Phạm, Văn Khoa, Vạn Hạnh, và là Hiệu trưởng Trường Trung học Hà Tiên.

    Tác phẩm tiêu biểu:

    Dòng Sông Định Mệnh, Khu Rừng Lau, Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Đi (bút hiệu Hồ Khanh)…

    Sau năm 1975, ông bị cầm tù hai lần, tổng cộng hơn 13 năm, vì không khuất phục trước cường quyền. Năm 1995, định cư tại Hoa Kỳ, vẫn tiếp tục viết và giảng dạy, sống an nhiên, thanh thản giữa cộng đồng người Việt tị nạn.

    Một đời khí tiết – Một tấm lòng nhân hậu

    Dù trải qua lao tù, thăng trầm, ông vẫn giữ tâm hồn thanh tịnh, sống với tinh thần thiền định và yêu thương. Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng từng viết: “Mỗi giờ phút trong đời sống của ông thể hiện một quá trình thiền tập. Đối cảnh biến đổi cách nào, ông cũng có thể mỉm cười nói: ‘Thế đấy!’”

    Ông ra đi, để lại cho hậu thế một gia sản tinh thần đồ sộ, một di sản văn hóa rực sáng, và một tấm gương nhân cách bất hoại.

    Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn, Thành kính phân ưu cùng tang quyến và nghiêng mình tiễn biệt bậc đại kẻ sĩ Doãn Quốc Sỹ, người đã sống trọn vẹn với chữ Tâm, và ra đi trong ánh sáng của chữ Đạo. Cầu nguyện hương linh Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sớm an nghỉ trong cõi An nhiên – Tự tại – Niết bàn văn tự.

  • Tin tức

    TALK SHOW KỲ 14: VIỆN BẢO TÀNG DI TẢN NGƯỜI VIỆT (VIETNAMESE HERITAGE MUSEUM)

    Kính thưa quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em,

    50 năm đã trôi qua nhanh như một cơn gió thoảng, nhưng không, cơn ác mộng của những ngày xưa cũ, những ngày đen tối của đất nước, những ngày trôi nổi trên đại dương với bao nguy hiểm, đau thương và nước mắt, khóc cho kẻ mất, thương cho người còn vẫn luôn ẩn hiện trong ký ức của người dân Việt.

    Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt Nam là nơi lưu trữ lại những kỷ vật và di vật lịch sử đánh dấu mốc thời gian bi thảm và đau thương nhất của một dân tộc. Duy trì, bảo vệ sự tồn tại của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt là bổn phận và trách nhiệm đối với tất cả chúng ta, bởi nó là linh hồn của một đất nước, là cội nguồn văn hóa của một tập thể, và là tài liệu cần phải lưu truyền lại cho con cháu, bởi chúng chính là tương lai của đất nước.

    Khánh Lan kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Anh Chị Em vào xem buổi phỏng vấn của Khánh Lan và Giám Đốc của Bảo Tàng Viện, Ông Châu Thụy.

    PHẦN I:

    PHẦN II:

    PHẦN III:

  • Tin tức

    GIỖ TỔ CẢI LƯƠNG VÀ THẦN BẠCH MI

    Hồng Nguyên-San Jose-Tổng hợp sưu tầm

    GIỖ TỔ CẢI LƯƠNG

    Là ngày để tưởng nhớ và tri ân các vị Tổ nghiệp của ngành sân khấu. Đây là dịp để nhớ đến công ơn của những người đã khai sáng, gìn giữ và phát triển nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam, bao gồm tuồng, chèo, cải lương, hát bội…

    Ngày 12 tháng 8 âm lịch hằng năm là ngày Giỗ Tổ sân khấu. Nghệ sĩ lập bàn thờ, dâng lễ vật và biểu diễn hát để dâng Tổ, trong đó Thần Bạch Mi là nhân vật trung tâm. 

    khác biệt giữa miền Nam và miền Bắc. 

    – Miền Nam: Trong cải lương và hát bội, Thần Bạch Mi được tôn kính đặc biệt.

    – Miền Bắc: Trước năm 1975 dường như không có cúng kiếng và ăn uống linh đình vào ngày này (các nghệ sĩ thường tự nhắc nhở nhau để tưởng nhớ mà thôi), có lẽ do điều kiện kinh tế thời chiến tranh còn khó khăn (và không có hình ảnh hay tài liệu nào ghi lại).

    TÍN NGƯỠNG TỔ NGHIỆP TRONG SÂN KHẤU VIỆT NAM

    Khái niệm Tổ nghiệp

    Trong quan niệm tín ngưỡng dân gian Việt Nam, nghề nghiệp nào cũng có những bậc Tổ sư khai sáng và phát triển, những vị ấy được người theo nghề suy tôn và thờ phụng gọi là “ Tổ ”, họ có một ngày chính trong năm để cúng khấn, bái lạy đó là một nghi lễ tôn nghiêm mang tính trọng vọng các bậc tiền hiền.

    Tại sao gọi là “ Tổ nghiệp ” mà không phải là “ Tổ nghề ” ? 

    nghề có thể thay đổi để mưu sinh nhưng nghiệp thì chẳng thể. 

    Bởi công việc nghệ thuật là niềm đam mê cháy bỏng, dù có sống chết hay dù gian khổ thế nào vẫn cứ phải theo đuổi. Người nghệ sĩ đã trót mang cái “ nghiệp ” cầm ca vào thân thì chẳng thể nào dứt được. Điều đó nói lên không ai gọi là Tổ nghề mà phải gọi là Tổ nghiệp. 

    Tổ nghiệp là cách gọi chung tất cả những ai có công sáng lập và lưu truyền đặc biệt trong ngành nghệ thuật sân khấu.

    Tổ nghiệp là vị tổ sư khai sáng ngành nghề biểu diễn, những người được xem là linh thiêng, luôn phù hộ cho nghệ sĩ được hành nghề thuận lợi, gặp may mắn, giữ được đam mê và đạo đức làm nghề.

    Bàn thờ Tổ các nơi thường được đặt: 

      . Rạp hát. 

      . Nhà hát chuyên nghiệp. 

      . Các đoàn cải lương, nhóm nghệ thuật truyền thống. 

      . Nhà riêng. 

    Người trong nghề thường nói:

    “ Sống nhờ Tổ, chết về với Tổ ”

    hay : 

    “ Có Tổ nghiệp độ, mới được đứng trên sân khấu ”. 

    Trong hậu trường của các gánh hát, các sân khấu từ xưa đến nay luôn có một bàn thờ gần nơi cánh gà. Nghệ sĩ trước khi bước ra sân khấu đều lễ bái. Trong bàn thờ thường đặt bài vị hoặc cốt tượng của Ông, hai bên thường thấy treo hai bên 2 câu đối:

    – “ Tổ truyền thiện nghệ thiên thu thịnh.

    Sư giáo tài năng vạn đại xuân. ”

    Ngoài ra nghệ sĩ cũng còn thờ thêm “ Thập nhị Công Nghệ “ vì họ luôn tâm niệm một tác phẩm sân khấu được hoàn thành mỹ mãn vẫn cần sự đóng góp của nhiều ngành nghề khác nhau họ trợ giúp sức như: may mặc, hóa trang, da giày, hội họa, điêu khắc, thiết kế, âm thanh, ánh sáng… Các ngành nghề phụ thường chia làm 12 ngành và từ đó nghệ sĩ còn thờ thêm “ Thập nhị Công Nghệ “ để tri ân 12 ngành nghề này. 

    MÂM CÚNG TỔ NGHIỆP TRUYỀN THỐNG 

    Lễ mặn

      . 1 con heo quay nguyên con (đầu hướng về Tổ, chỉ sự “dâng lên” chứ không “quay lưng” lại với Tổ. Nhằm thể hiện lòng thành kính, sự kính trọng trực tiếp dâng lễ vật lên Tổ tiên, Tổ nghiệp.

       . 1 con gà luộc (thường là gà trống, đẹp mã, có cánh chắp)

       . 1 đĩa xôi (xôi gấc, xôi đậu xanh hoặc xôi trắng)

      . 1 đĩa bánh hỏi 

    hoặc bánh chưng, bánh tét. 

      . 3 ly rượu trắng

      . 1 chai rượu nếp / rượu trắng

      . 1 ấm trà / 3 chén trà

      . 1 đĩa trầu cau

      . 1 bó nhang và cặp đèn cầy 

      . 1 bình hoa tươi (thường là hoa cúc, vạn thọ hoặc hoa huệ)

       . 1 đĩa trái cây ngũ quả (mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung – tùy theo vùng miền) 

    Lễ chay kèm theo hoặc thay thế

      . Nhang. 

      . Hoa tươi. 

      . Trái cây. 

      . Bánh kẹo. 

      . Xôi chè (chè trôi 

        nước, chè đậu,     

        chè hoa cau…)   

    Sau khi cúng Tổ xong thường có:

      . Biểu diễn dâng Tổ (trích đoạn cải lương, hát bội…)

      . Rước Tổ, lạy Tổ : các nghệ sĩ lần lượt lạy Tổ 3 lạy để tỏ lòng tri ân. 

      . Lộc Tổ: chia phần heo quay, xôi, lộc tượng trưng cho mọi người để cùng được may mắn. 

    VĂN KHẤN TỔ NGHIỆP – NGHỆ SĨ CẢI LƯƠNG

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    Kính lạy:

    – Tổ nghiệp sân khấu, Chư vị tiền bối, tiền hiền đã khai sáng nghề hát. 

    – Các bậc Tổ sư, Thánh tổ cải lương, hát bội, tuồng tích.

    Hôm nay là ngày 12 tháng 8 âm lịch, là ngày Giỗ Tổ sân khấu.

    Tín chủ con tên là: ………………………………………………

    Pháp danh (nếu có): …………………………………………..

    Hiện đang hành nghề: …………………………………………..

    Ngụ tại: ……………………………………………………………

    Hôm nay, con xin lòng thành sắm sửa hương hoa lễ vật, dâng lên trước bàn thờ Tổ nghiệp. Con xin kính cẩn cúi đầu, dâng nén tâm hương tưởng nhớ đến:

    Chư vị Tổ Sư, Tổ Nghề, Tiền Hiền, Hậu Hiền, những người khai sáng, truyền dạy nghề nghiệp, dìu dắt hậu thế. Những bậc tiền nhân đã dạy dỗ, soi đường chỉ lối, gìn giữ và phát triển bộ môn nghệ thuật truyền thống quý báu.

    Xin Tổ thương xót, chứng giám tấm lòng thành, phù hộ cho chúng con:

    – Có sức khỏe vững vàng. 

    – Giữ tâm sáng với nghề. 

    – Rèn giũa tài năng ngày càng phát triển. 

    – Xin được gieo yêu thương qua từng vai diễn. 

    – Luôn gặp quý nhân trợ giúp, khán giả thương yêu. 

    – Đồng nghiệp đoàn kết, tổ nghiệp nâng đỡ. 

    – Danh tiếng, phúc lộc đủ đầy. 

    – Tránh tiểu nhân hãm hại, tránh tai nạn nghề nghiệp.

    Chúng con nguyện: 

    – Hành nghề chân chính. 

    – Không vì danh lợi mà quên đạo đức nghệ sĩ. 

    – Duy trì và phát huy nghệ thuật cải lương – vốn quý của dân tộc Việt Nam.         

    Xin Tổ từ bi chứng giám, độ trì cho chúng con:

    Được vững tâm giữ nghề truyền thống. 

    Để Sống có đức – diễn có tâm – làm nghề bằng cả trái tim. 

    – Cầu xin Tổ độ trì, phù hộ độ trì cho con và gia đình thân tâm an lạc, vạn sự hanh thông.

    Cúi mong Tổ nghiệp từ bi gia hộ. 

    Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

    —–

    TỔ CẢI LƯƠNG LÀ AI?

    Cải lương xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 tại miền Nam Việt Nam. cụ thể là khoảng những năm 1916–1918, tại vùng Nam Bộ.

    Cải lương ra đời từ sự kết hợp giữa nhạc lễ, hát bội (tuồng cổ), dân ca Nam Bộ và ảnh hưởng của kịch nói phương Tây. Nó được coi là một sự “ cải tiến ” của hát bội – nhằm làm cho nghệ thuật sân khấu gần gũi, dễ hiểu và phù hợp hơn với đời sống và thị hiếu của công chúng đương thời.

    Tên gọi “ cải lương ” nghĩa là “ cải cách để trở nên tốt đẹp hơn ”, phản ánh tinh thần đổi mới nghệ thuật truyền thống. 

    Thời kỳ phát triển

    • 1920–1945: Cải lương nhanh chóng trở nên phổ biến khắp Nam Kỳ, với nhiều đoàn hát lớn như Tân Thịnh, Nam Đồng Ban, Phước Cương…
    • 1950–1975: Thời hoàng kim của cải lương, đặc biệt là tại Sài Gòn, với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như Út Trà Ôn, Bạch Tuyết, Thanh Nga, Minh Vương, Hùng Cường …
    • Sau 1975: Cải lương tiếp tục phát triển, nhưng đối mặt với nhiều khó khăn do thay đổi thị hiếu và cạnh tranh của các loại hình giải trí hiện đại khác nên không còn đông đảo khán giả yêu thích như xưa . 

    Có thể kể ra đây một vài vở kinh điển như : Lan và Điệp, Tiếng trống Mê Linh, Đời cô Lựu, Nửa đời hương phấn…

    Giả thuyết về Tổ cải lương:

    1. Thuyết ông Tổ là quan văn Đào Duy Từ.

    Ông Đào Duy Từ  (1572–1634) là danh sĩ, quân sư, nhà chính trị và nhà Văn Hóa nổi tiếng thời Chúa Nguyễn. Có người cho rằng ông là Tổ của “ Hát Tuồng “ thì đúng hơn, chứ không phải là Tổ cải lương hay Tổ sân khấu nói chung.

    2. Thuyết Thần Bạch Mi – Tổ nghiệp sân khấu truyền thống. 

    Thần Bạch Mi ( còn gọi là “ Ông Tổ râu trắng ” ) là nhân vật huyền thoại được các nghệ sĩ sân khấu Việt Nam tôn thờ như vị Tổ Nghiệp .

    Thần được miêu tả thường mặc áo đạo sĩ, có râu dài, tướng mạo đẹp, cưỡi ngựa xách đao, lông mày trắng và mắt đỏ – khá giống tượng Quan Công.      

    Thần Bạch Mi là hình tượng Tổ nghiệp sân khấu truyền thống được nghệ sĩ cải lương, hát bội tôn thờ. Dù gây tranh cãi bởi không có bằng chứng lịch sử rõ ràng, ông vẫn luôn là nhân vật thiêng liêng trong tín ngưỡng dân gian của giới nghệ sĩ. 

    Có lẽ đây là “ Tổ nghiệp có đôi lông mày trắng lạ lùng nhất trong các Tổ nghiệp ” Và là một hiện tượng tín ngưỡng đặc biệt trong văn hóa Việt Nam, phản ánh cách người xưa phân loại nghề nghiệp và thể hiện sự tôn trọng sâu sắc của nghệ sĩ đối với Tổ nghiệp.​​​​​​​​​​​​​​​​  

    Những nghề thờ Thần Bạch Mi

    – Nghệ thuật sân khấu và ca hát:

       . Hát bội, tuồng

       . Cải lương

       . Đàn ca tài tử

       . Ca trù

    – Các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống

    – Một số nghề khác liên quan đến ca hát, biểu diễn. 

    – Người hành nghề ăn xin. 

    Đặc biệt là những người ăn xin có tay nghề ca hát, biết đàn nhạc.

    Ngày xưa, người nghèo, khuyết tật được Cha mẹ hay Thầy nhạc dạy ca hát, đàn nhạc để ăn xin có tay nghề. Họ cũng thờ Tổ Bạch Mi, họ cũng biết hát, biết đàn, cũng hơi giống và cùng nghề với nghệ sĩ sân khấu. Ranh giới giữa “ nghệ sĩ đường phố ” và “ người ăn xin biết ca hát ” đôi khi rất mong manh. 

    – Nghề gái Thanh lâu ( lầu xanh ). Trong văn học thi ca : được đại thi hào Nguyễn Du đề cập và mô tả trong Truyện Kiều. 

    … Khi Tú bà bắt Kiều quỳ lạy Tổ :

    “ Giữa thì hương án hẳn hoi,

    Trên treo một tượng trắng đôi lông mày.

    Lầu xanh quen thói xưa nay,

    Nghề này thì lấy ông này tiên sư.

    Hương hoa hôm sớm phụng thờ

    Cô nào xấu vía, có thưa mối hàng. 

    Cởi xiêm trút áo sỗ sang,

    Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm. 

    Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,

    Bướm ong bay lại ầm ầm tứ vi ”.

    Đây chính là Thần Bạch Mi mà các lầu xanh thời xưa thờ. 

    Thần Bạch Mi đại diện những nghề hạ lưu trong xã hội phong kiến, nên các nhà nho, văn nhân ít khi chịu viết về do đó những hiểu biết về Thần Bạch Mi rất mơ hồ, mang tính giai thoại nhiều hơn và chủ yếu chỉ được lưu truyền qua lời kể của các nghệ sĩ trong các đoàn hát, chứ không có kinh sách hay văn bia chính thức nào .        

    Thông thường tục thờ thần Bạch Mi không được phổ biến rộng rãi hay nói cách khác chỉ những người trong ” nghề ” mới hiểu biết, am tường.          

    Truyền thống cúng Tổ

    Hằng năm, theo truyền thống lưu truyền từ thời xa xưa, giới sân khấu hát bộ, cải lương đều “ ốp đoàn ”( Off, ngưng diễn ) để tổ chức lễ cúng Tổ rất trang nghiêm, thành kính.

    Tính linh thiêng của tín ngưỡng

    Nếu xem việc cúng Tổ là một tín ngưỡng thì tín ngưỡng phải cho đúng. Tổ nghiệp rất linh thiêng, không phải ai muốn lập bàn thờ Tổ là lập.

    – Khi làm ăn khấm khá thì cúng lớn còn khi eo hẹp thì cúng nhỏ. 

    – Cứ đến lệ cúng Tổ là đào kép của gánh đang phiêu bạt ở đâu cũng phải về… Mặc đồ, trang điểm, lên sân khấu hát để cúng khấn Tổ nghiệp. 

    Mỗi dịp cúng như thế, các thế hệ kế thừa có dịp thăm lại người Thầy dìu dắt mình vào nghiệp. 

    Nghi lễ cúng Tổ

    Cách thức tiến hành

    Họ thỉnh bàn thờ Tổ ra giữa sân khấu và cử hành lễ giỗ Tổ, sau đó chia lộc Tổ cho cả đoàn. Ngày nay, phong tục này vẫn được giới nghệ sĩ duy trì.

    Người tham gia nghi lễ

    Khấn trước bàn thờ Tổ là nghi lễ. Ngày xưa, khi cúng Tổ:

    – Chỉ có ông bầu hoặc chủ đoàn hát, chủ gánh hát mới được cúng khấn trước. 

    Sau đó mới đến Đào kép đứng khấn trước bàn thờ. 

    – Hậu đài và các bộ phận khác chỉ đốt nhang. 

    Lễ vật dâng Tổ

    Bánh trái, hoa quả là lễ vật. Khi đến phần cúng, họ phải lên sân khấu biểu diễn cho Tổ xem.

    “ Cúng ” chính là động tác biểu diễn chứ không phải cúng món ăn

    – Tổ ở đây là Tổ của đào, kép. 

    CÁC NGHỀ CÙNG THỜ THẦN BẠCH MI

    Nguồn gốc lịch sử

    – Nghề trộm cắp (theo một số tài liệu dân gian, ít phổ biến hơn)

    Lý do cùng Tổ

    Tất cả các nghề này đều liên quan đến “ hành nghề trên đường phố ”, biểu diễn cho người khác xem/nghe, và có yếu tố “ xin ” ( xin tiền, xin khán giả vỗ tay ).

    KIÊNG KỴ CHO TIỀN NGƯỜI ĂN XIN

    Đây là khía cạnh văn hóa tín ngưỡng nghề nghiệp rất đặc trưng của Việt Nam mà ít người biết. Đây là tâm linh nghề nghiệp gắn với niềm tin vào Tổ nghiệp và vận đỏ sân khấu, đặc biệt được những nghệ sĩ cải lương truyền thống (thế hệ xưa) tôn trọng.

    Lý do kiêng kỵ:  

    – Tâm linh: “ Cho tiền là cho lộc ”

    – Tiền bạc nghệ sĩ kiếm được khi biểu diễn là “ lộc Tổ ” ban

    – Cho tiền trực tiếp (đặc biệt trước giờ diễn) bị xem là đem lộc Tổ đi cho người khác

    – Hậu quả có thể là “ mất lộc ”, “ xui ”, “ ế khách ”, “ hát không ra hồn ” hoặc “ không trúng tuồng, không thuộc bài bản ”

    Không muốn bị “ rút vía nghề ”

    – Một số nghệ sĩ tin rằng có người ăn xin “ mượn vía ”, “ rút vía ” của người khác để cầu tài

    – Cho tiền đúng thời điểm nhạy cảm (trước giờ ra sân khấu) là tự làm suy yếu khí nghề, bị “rút vía”, hát không hay. 

    Thói quen truyền nghề 

    – Đây là tập quán nghề nghiệp được truyền từ đời này sang đời khác

    – Nghệ sĩ lớn tuổi dạy thế hệ sau những điều kiêng kỵ này như cách gìn giữ sự “linh thiêng” của nghề. 

    Vì sao nghệ sĩ kỵ cho tiền người ăn xin?

    Đây là khía cạnh văn hóa tín ngưỡng nghề nghiệp rất đặc trưng của Việt Nam mà ít người biết. Đây là tâm linh nghề nghiệp gắn với niềm tin vào Tổ nghiệp và vận đỏ sân khấu, đặc biệt được những nghệ sĩ cải lương truyền thống (thế hệ xưa) tôn trọng. 

    Vì : 

    – Sợ bị rút vía nghề từ người ăn xin. 

    – Là tập quán truyền nghề từ các bậc tiền bối. 

    – Là sự tôn trọng đối với nghề và Tổ nghiệp

    – Yếu tố “ kỵ ” – sợ “ nghiệp ” của người ăn xin ảnh hưởng đến sự nghiệp. 

    – Thể hiện sự nhìn nhận: “ Họ cũng có tay nghề, cũng là đồng nghiệp ”

    Không phải tất cả nghệ sĩ cải lương hiện đại đều giữ những điều kiêng kỵ này, nhưng trong giới nghệ sĩ gạo cội, cải lương truyền thống hay sân khấu hát bội, đây vẫn được tôn trọng và tránh phạm phải.​​​​​​​​​​​​​​​​ Cho tiền nghĩa là cho lộc Tổ, và sợ “ mất lộc ”, “ hát không ra hồn ”

    Dù không còn phổ biến ở nghệ sĩ hiện đại, giới nghệ sĩ gạo cội vẫn rất kiêng kỵ điều này.

    Ngày nay chắc hẳn đã không còn những giai thoại về điều “đạo nghĩa“ thú vị như xưa : 

    – Vì cùng chung một ông Tổ nhưng ai cũng biết giới nghệ sĩ cải lương hát bộ truyền thống ( thường là nghệ sĩ trong Nam ) không bao giờ bố thí cho ăn xin ( phạm phải điều kiêng, kỵ ) dù họ sẵn sàng làm từ thiện với số tiền đóng góp rất lớn. 

    – Ăn cướp, ăn trộm không bao giờ chặn ghe cướp của đoàn hát. 

    – Dân hát bộ thì không được phép mua dâm (nhưng được phép bán dâm).

    – và gái mại dâm thì cũng không được lấy tiền của kép hát.

    Hồng Nguyên, San Jose

  • ĐỖ BÌNH, PARIS,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    TIỂU TỬ MỘT NHÀ VĂN NHÂN BẢN

    Ở xứ người, ngôn ngữ chúng ta dùng hàng ngày là tiếng bản xứ, tiếng mẹ đẻ ít được sử dụng nên dần dần bị quên lãng! Dù sống tha hương đã lâu nhưng chắc  hẳn trong mỗi người Việt khi ra đi đều mang trong tâm hồn hình bóng quê hương và văn hóa dân tộc, do đó họ đã sáng tác những tác phẩm văn học nghệ thuật, và thành lập những trung tâm dạy Việt ngữ, các trung tâm phát hnàh những băng nhạc, các cơ sở truyền thanh, truyền hình, báo chí…
     Mười mấy năm qua trên các diễn đàn mạng, và tạp chí văn học hải ngoại xuất hiện một cây bút với lối văn rất đặc thù của miệt vườn, sông nước miền Nam. Miệt vườn ở đây là tác giả đã sử dụng bút pháp để diễn tả những tình cảm con người, lối sống, phong tục tập quán bằng những ngôn ngữ đặc sản địa phương của người dân Nam Kỳ Lục Tỉnh đã có từ hàng thế kỷ truước còn lưu truyền đến ngày nay, đó là sự thật thà và phóng khoáng.
     Trong kho tàng văn học Việt Nam có mấy loại văn chương, có thứ nhằm phục vụ đại chúng, có thứ văn chương mang tính đặc thù của miệt vườn địa phương,  có thứ văn chương dành cho giới tiểu tư sản thành thị, giới trí thức, tiêu biểu là các nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn,  các tạp chí Sáng Tạo, Bách Khoa, Hiện Đại, Văn Hoá Ngày Nay, Gió Mới, Văn Học, Thế kỷ 20 v.v… Ở miền Nam vào thế kỷ trước những nhà văn miệt vườn tiêu biểu như: Nhà văn Hồ Biểu Chánh, nhà văn Bình Nguyên Lộc, nhà văn Sơn Nam… sau này hải ngoại có một số nhà văn đã sử dụng văn phong miệt vườn. Canada: cố nhà văn Nguyễn Văn Ba, nhà văn Võ Kỳ Điền,  nhà vễn Tiểu Thu… ở Mỹ: nhà văn Bình Nguyên Lộc, nhà văn Trần Long Hồ, nhà văn Xuân Vũ, nhà văn Nguyễn Văn Sâm… ở Marseille Pháp: nhà văn An Khê, Rouen: nhà văn Hà Ngọc Bích, Troyes: nhà văn Hồ Trường An, Lille: nhà văn Võ Đức Trung, Paris có nhà văn Kiệt Tấn và nhà văn Tiểu Tử…
    Như các bạn đã biết nhà văn Tiểu Tử nguyên là một kỹ sư tốt nghiệp tại Pháp năm 1955, và về nước khởi đầu bằng nghề dạy học. Nguyên nhân nào từ một nhà khoa học, một nhà giáo Võ Hoài Nam lại trở thành nhà văn?
    Tôi may mắn được chính nhà văn Tiểu Tử và nhà báo Đặng Văn Nhâm kể:

    “Ngày từ thuở còn đi học ông Võ Hoài Nam đã được trời ban cho một tâm hồn đầy cảm xúc và đôi bàn tay khéo léo để vẽ những bức tranh sơn dầu bằng những đường nét ấn tượng. Ông vẽ rất đẹp và đã vẽ phông cho các tuồng tích cải lương, vẽ ký họa, biếm họa cho các nhật báo Sài Gòn thuở ấy, điển hình là tờ báo Tiến mà chủ nhiệm là nhà báo Đặng Văn Nhâm.

    Thời trẻ nhà văn Tiểu Tử đã đam mê nghệ thuật như hội họa, cải lương, và báo chí, những thứ đó đã cho ông nhiều chất liệu sống trong việc sáng tác văn chương sau này. Cải lương giúp cho ông có cái nhìn nội tâm về các nhân vật diễn tả những tình cảm ẩn chứa trong từng vai, nhất là cách trích đoạn tuồng. Hội họa giúp cho ông có cái nhìn về đường nét, màu sắc, cận ảnh, viễn ảnh, còn báo chí cho ông có cái óc quan sát và ghi nhận. Nhà văn Tiểu Tử đã tiếp thu những kiến thức, những cảm nhận đó trong tâm hồn mình làm chất liệu viết tiểu thuyết. Trong lãnh vực văn chương ông đã dùng một lối văn phong đặc thù miền Nam, câu văn giản dị nhưng ý tưởng sâu sắc. Để diễn tả tâm ý nhân vật trong tiểu thuyết, câu chữ trong đối thoại được chọn lọc có ẩn ý. Điểm đặc biệt trong những tiểu thuyết của nhà văn Tiểu Tử là ông đã dùng một lối văn phong hiện thực phê phán chế độ xã hội chủ nghĩa VN, ở đó đầy rẫy những bất công xã hội, chất ngất những lời than, tiếng dân ai oán..Từ văn hóa suy đồi, nhân quyền bị chà đạp thân phận con người bị ngược đãi…. Nhà văn đã thu những hình ảnh đó và đồng cảm với những nỗi đau của họ qua ngòi bút đã tạo một sắc thái riêng nhưng giữ được nét đặc thù của tiếng mẹ đẻ.
    Nhân dịp ngày ra mắt sách: “Tuyển Tập Tiểu Tử“ được các hội đoàn tổ chức tại Paris 05 tháng 6 năm 2016, tôi được hân hạnh cùng với các vị:  giáo sư Trần Văn Cảnh, tiến sĩ Nguyễn Văn Trần, nhà văn Từ Thức, giới thiệu về Tác phẩm và Tác giả Tiểu Tử.
    Với tính chất trong những tác phẩm tiểu thuyết của ông trong văn học, chúng tôi nhìn nhà văn Tiểu Tử là một nhà văn nhân bản, nhà văn hóa. Những cống hiến của ông đã lưu lại những trang sách Việt trên  xứ người góp phần vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa Việt hải ngoại.

    Đỗ Bình‘ Paris 05 tháng 6 năm 2016

    Tiểu Sử Nhà Văn Tiểu Tử

    NHÀ VĂN TIỂU TỬ, tên thật là Võ Hoài Nam, sinh quán Tây Ninh, Việt Nam, định cư tại Paris, Pháp quốc.
    Tốt nghiệp kỹ sư vào năm 1955 tại Marseille.
    Giáo sư các trường trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký niên khóa 1955-1956.

    Làm việc cho hãng xăng Shell Việt Nam từ tháng 10 năm 1956 đến 30 tháng tư năm 1975.
    Vượt biên năm 1979 và định cư tại Pháp.

    Làm việc cho công ty nhà nước tại Côte d’Ivoire. Hiện đang nghỉ hưu tại Paris.

    Khởi sự viết từ trước năm 1975 phụ trách mục biếm văn “Trò Đời“  trên nhật báo Tiến.
    Cộng tác với nhiều tập san, tạp chí ở hải ngoại.

    Tác phẩm đã xuất bản:

    Những Mảnh Vụn (Làng Văn 2004). Bài Ca Vọng Cổ (2006)
    Chị Tư Ù ( 2012). Chuyện Thuở Giao Thời (2014)
    Tuyển Tập Tiểu Tử (Người Việt 2016)
    Tiểu Tử Toàn Tập (Tác giả xuất bản 1917)
    Ông là thành viên Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN Paris.

  • ĐỖ BÌNH, PARIS,  NGHIÊN CỨU,  Văn Thơ

    TRUYỆN KIỀU QUA ÂM NHẠC

    Hành trrình vào cõi thơ là làm một cuộc phiêu lưu vô tận. Thơ vốn sãn trong thiên nhiên, hàm chứa nhiều tính chất trong trời đất. Ngôn ngữ của thơ đôi khi ẩn trong văn, nhạc và hội họa bắt nguồn từ cảm xúc tâm hồn. Trong nền văn học Việt Nam thi phẩm Ðoạn Trường Tân Thanh của đại thi hào Nguyễn Du không những là một tác phẩm trác tuyệt hàng đầu của đất nước mà còn là đóa hoa muôn sắc trên thi đàn quốc tế. Thi phẩm được dịch sang nhiều thứ tiếng ở những quốc gia có nền văn học cao như Pháp, Anh, Đức, Ý, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Hoa, Nga, Tiệp, Hung, Ba Lan, v.v, năm 1965, tác giả Nguyễn Du đã được tổ chức Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO vinh danh là một đại văn hào của thế giới.

    Rất nhiều văn nhân, họa sĩ, trí thức, học giả, nhà phê bình..vv.. đã viết, phân tích, diễn thuyết, minh họa, biên kịch, cải lương… về giá trị tác phẩm của thiên tài Nguyễn Du qua những nét đẹp về phương diện văn chương, tư tưởng và hội họa..vv… Những ai từng đọc truyện Kiều chắc sẽ bùi ngùi thương cảm cho nàng Kiều bạc phận long đong chịu nhiều bất hạnh. Ngưòi đọc không khỏi thắc mắc:Tại sao thi hào Nguyễn Du đã đặt tên cho tác phẩm là Đoạn Trường Tân Thanh là Tiếng Kêu Mới về sự Đau Khổ? Tiếng kêu mới nơi đây phải chăng là quan niệm mới về đau khổ, khác với quan niệm cũ về đau khổ, nhìn sự đau khổ là những chuyện tất nhiên ? Hành trình từ đau khổ dẫn đến giải thoát, từ phiền não dẫn đến bồ đề, đó là nội dung tư tưởng mà Nguyễn Du đã thể hiện nơi Đoạn Trường Tân Thanh? Nếu thế, nỗi đau đó không còn của riêng Thúy Kiêu, mà nỗi đau của nhân sinh.  

    Những năm gần đây truyện Kiều đã được nhìn qua nét đẹp nghệ thuật âm nhạc, giới nhạc sĩ đã thực hiện phổ nhạc Đoạn Trường Tân Thanh, đã gieo vào vườn hoa nghệ thuật thêm sắc màu.  Thơ và nhạc là hai nghệ thuật riêng biệt nhưng rất khắn khít nhau làm say đắm lòng người». Thơ là nghệ thuật của «lờì», nhạc là nghệ thuật của «âm thanh.. 

    « Thơ phổ nhạc là nghệ thuật đem thêm âm hòa với âm thanh sãn có trong thơ, hoặc thay đổi âm thanh của thơ chuyển thể thành những nốt nhạc để hát.

    Trong 3254 câu thơ Kiều, những thanh bằng trắc tạo những nốt trầm bổng cao độ chỉ là “nhạc thơ” có sẵn chứa trong câu thơ. Trong khi “thơ trong nhạc” hay còn gọi là “tính nhạc” gồm những hình tượng, ngôn ngữ được ngắt nhịp theo tiết tấu riêng để diễn tả giai điệu toàn bài chuyên chở tứ thơ. Trong thi tập Đoạn Trường Tân Thanh gồm khá nhiều câu, chữ, chứa sẵn nhạc thơ tạo nên những tiết tấu, ngắt nhịp, xuống câu. Ví dụ:

     Nhịp 2 gồm 3 từ:

    “ Mai cốt cách/ tuyết tinh thần.

    Nhịp 4 gồm 2 từ:

    Mỗi người/ một vẻ/ mười phân/ vẹn mười….”

    Hoặc có thể phân làm 2 nhịp gồm 4 từ :
    «Mỗi người một vẻ / mười phân vẹn mười…»

    Hay những câu nhịp 2 gồm 3 từ
    “ Làn thu thủy/ nét xuân sơn »

    Và nhịp 2 gồm 4 từ:
    Hoa ghen thua thắm/ liễu hờn kém xanh”, vv…

    Để đọc, hay hát trọn vẹn toàn thi phẩm Kiều, người nghệ sĩ đã sáng tạo ra cách ngâm lảy Kiều, sa mạc..vv.. giúp giới mộ điệu thưởng lãm những cái hay, nét đẹp của lời thơ ý truyện bằng âm thanh.». Ngôn ngữthơ trong truyện Kiều là những hình tượng, nhạc sĩ phải đặt nhạc vào những thanh âm bằng trắc của thơ tạo thành những cung bậc, giai điệu riêng để diễn tả những tình tiết, tâm lý của những khía cạnh độc đáo từng nhân vật trong truyện. Người nhạc sĩ còn phải đồng cảm với tác giả, hòa vào từng con chữ để thấy cái sâu lắng chất chứa những âm thanh như tiếng kêu ai oán: «Đoạn Trường Tân Thanh»


    Nhạc sĩ Phạm Duy là người tiên khởi đem âm nhạc vào Kiều, ông lựa những đoạn, câu thơ chứa nhiều tính nhạc trong Kiều phổ thành ca khúc. Nhạc sĩ đã dung hợp nhạc giao hưởng tây phương với nhạc ngũ cung, trong đó chất ngũ cung để câu nhạc dễ luyến láy diễn tả được ý thơ, chất giao hưởng tạo cho câu nhạc được êm, vút cao, trầm bổng theo ý nhạc mà không theo thanh bằng trắc của vần thơ lục bát. Nhạc sĩ Phạm Duy gọi là: Minh Họa Kiều. Mấy năm gần đây dòng thơ phổ nhạc ở trong nước cũng như hải ngoại nở rộ, thơ nương nhạc chấp cánh, nhạc dựa thơ bay cao, cho dù muốn phổ được một bài thơ «đạt» đúng nghĩa là một nghệ thuật rất khó! Phổ thi tập Kim Vân Kiều thành nhạc là một việc làm còn khó hơn, cái khó nhất là vì đó là một tác phẩm lớn của dân tộc đòi hỏi nhạc sĩ phải có thực tài, nắm bắt được cái tinh hoa của hồn thơ, tính nhạc toàn thi tập. Nhạc sĩ phải dàn trải giai điệu, nhịp điệu, sắp đặt thể loại soạn thành những cấu trúc đoạn nhạc khác nhau; nhưng vẫn hài hòa, tạo ra từng phân đoạn hợp với tình tiết câu thơ theo nhân vật trong truyện.

    Cái khó của thơ lục bát là nhịp mạnh thường rơi vào cuối câu vần bằng, do đó nhạc sĩ phải khéo dùng những biến cung để dòng nhạc chuyển tiếp linh động không nhàm chán, lê thê. Từ trước đến nay những bài thơ lục bát của nhiều nhà thơ, nếu được phổ thành nhạc, hầu hết những bài thơ đó không dài quá 30 câu để nhạc sĩ dễ cảm nhận phổ thành ca khúc. Muốn thực hiện bản trường ca, nhạc sĩ phải bỏ thời gian để phân tích dàn trải cấu trúc toàn thi tập, tạo những thể điệu, những chuỗi hình nốt, giai điệu, tiếp nối nhau diễn tả dựa trên lời thơ không gián đoạn ý mà soạn cấu trúc nhạc theo lối tây phương, nhưng vẫn giữ được chất nhạc Việt.

    Điểm khó nữa đối với một thi phẩm lớn là không được sửa lời thơ, hay đổi thứ tự chữ để giai điệu, câu nhạc có cái kết hay.Do đó nhạc sĩ phải dừng nhiều biến cung thăng, giáng để dòng nhạc ít quay về chủ âm (tonique), hoặc khéo léo dùng những thể điệu, tiết tấu, uyển chuyển  của dòng nhạc đương đại.. tạo sự bìến đổi cấu trúc giai điệu thành từng đoạn khác nhau làm phong phú ý nhạc.
    Trong số những nhạc sĩ phổ truyện Kiều ngoài nhạc sĩ Phạm Duy, ở hải ngoại còn có nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã phổ toàn tập Kim Vân Kiều.


    Để thực hiện bản trường ca Đoạn Trường Tân Thanh nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã bỏ ra thời gian 6 tháng nghiên cứu, phân tích dàn trải cấu trúc của toàn thi tập, tạo ra những thể điệu khác nhau làm phong phú giai điệu trên dòng thơ Lục Bát, và hơn 4 năm kể từ đầu năm 2005 đến 2009 ông mới hoàn tất trường ca. Gọi là trường ca vì những chuỗi hình nốt âm nhạc, giai điệu gồm nhiều đoạn nhạc, khúc nhạc  khác nhau được tiếp nối nhau chặc chẽ theo một đề tài để diễn tả, dựa trên lời thơ theo phong cách viết nhạc Tây phương, pha lẫn nhạc ngũ cung Việt Nam.

    Tác giả đã dùng nhiều nốt thăng, giáng để biến cung giúp cho dòng nhạc phổ thơ Lục bát ít trở về chủ âm (tonique), hoặc khéo léo thay đổi những tiết tấu để cấu trúc nhạc thành những thể điệu của dòng nhạc Balade pha lẫn Blue Jazz, Bossa Nova, Boléro, Valse, Rock Lente, Mambo, Boston, Tango…tạo sự biến đổi cấu trúc giai điệu thành từng đoạn khác nhau làm phong phú ý nhạc. Nhạc sĩ muốn sáng tạo để làm mới nhạc, nhưng lại làm gai điệu xa cách lời thơ và hồn thơ, vì dòng thơ lục bát bị gò bó theo luật thanh âm vần điệu bằng trắc rất đặc thù của Viêt Nam, do đó rất nhiều khúc nhạc dù thay đổi tiết tấu, thể điệu nhưng vẫn bị những thanh bằng trắc của thơ cuốn hút làn dòng nhạc lập lại truùng nhau!

    Bước vào cõi nhạc của Qucáh Vĩnh Thiện trong trường ca Đoạn Trường Tân Thanh để thưởng thức nhữnng giai gai điệu đặc biệt của nhạc sĩ, là cùng nhạc sĩ đi vào thế giới kỳ bí của thi ca: Mở đầu bằng cung Ré thứ chậm buồn nhạc sĩ diễn tả nỗi lòng của thi hào Nguyễn Du, dòng nhạc chuyển sang tiết điệu Boléro mềm mại gần với Dân ca, rất quen thuộc trong làng tân nhạc Miền Nam trước năm 1975. Để diễn tả ý thơ, dòng nhạc chuyển sang chủ âm Mi thứ và chuyển điệu Bossa Nova tempo chậm diễn tả một nỗi buồn xa vắng. Ở đoạn thơ khác nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã dùng thể điệu Lambada nhưng tempo chậm, có lẽ để phát âm rõ ràng. Lambada là một ca khúc bắt guồn từ xứ Bolivia Nam Mỹ được nổi tiếng ở Bresil sau đó trở thành làn điệu quốc tế, nhưng rất hiếm trong làng nhạc Việt Nam. Dòng nhạc của Quách Vĩnh Thiện sử dụng rất nhiều biến cung, tiết tấu, và nhịp điệu thay đổi, từ Balade trữ tình lãng mạn chuyển sang Rock Lente linh động, rộn ràng.

    Dòng nhạc lại thay đổi nhịp điệu, tiết tấu qua giai điệu Slow nhẹ nhàng rồi chuyển sang Blues Jazz một chất nhạc u uất, não nề phát từ những nỗi buồn hân phận của kiếp người nô lệ da màu xa xưa. Giai điệu pha lẫn chất nhạc ngũ cung Việt Nam nên vợi chất bi ai. Dòng nhạc chuyển sang giai điệu Mambo vui lẫn chút bùi ngùi thưnơg tiếc, sau đó dòng nhạc chyển sang Libre diễn tả sự buồn bã, đau khổ của Thúy Kiều, và chuyển sang Samba, thể điệu rất hiếm trong làng nhạc Việt Nam. Tác giả cố ý dùng Tempo chậm lại để phát  âm rõ ràng. Dòng nhạc biến đổi rất nhiều từ Boston mềm mại chuyển qua Valse Andantino dìu dặt nhẹ nhàng. Từ cung Mi thứ giai điệu Valse khoan thai dòng nhạc biến cung thành Mi giáng thứ giai điệu Pop Rock, làm thay đổi sắc thái dòng nhạc.

    Ở những đoạn nhạc khác, từ điệu Jazz nhẹ nhàng nhạc sĩ lướt qua Tango, đây là cách soạn nhạc rất mới và hiếm thấy thể nhạc này trong vòm trời âm nhạc ? Đoạn tiếp theo là Jazz và Valse, nhạc sĩ  Quách Vĩnh Thiện đã phá cách, mang hai thể điệu có cấu trúc khác nhau hòa lại với nhau mà chưa có người hạc sĩ Việt nào viết.


    Thực hiện bản trường ca Đoạn Trường Tân Thanh nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã gieo vào vườn hoa nghệ thuật một hạt mầm để ươm thêm màu sắc cho muôn hoa bằng những dòng nhạc khai phá sáng tạo của riêng mình. Đây cũng là tấm lòng của ông bày tỏ sự ca ngợi thi phẩm của thi hào Nguyễn Du đã cho đời một tác phẩm hay, và cho nhạc sĩ một nguồn cảm hứng phổ nhạc. Ngoài ra, truyện Kiều còn được chuyển thể thành một vở ca kịch đương đại dàn dựng theo phong cách Broadway, được nghiên cứu từ bản dịch Anh ngữ tác phẩm Kiều“Tale of Kieu” do nhà soạn kịch Kiêm đạo diễn Burton Wolfe kết hợp cùng nhà soạn nhạc Scott Gehman, và Giáo sư, nhạc sĩ Linh Phương chuyển dịch lời ca tiếng Anh ngược lại tiếng Việt.

    Ở trong nước có nhạc sĩ Vũ Đình Ân phổ toàn tập, soan thành một đại hợp xướng Truyện Kiều, với sự cố vấn nghệ thuật Giáo sư nhạc sĩ Ca Lê Thuần. Ttrong cõi bất tận của âm thanh, những dòng nhạc hôm nay đi vào lòng người. Thơ và nhạc quyện nhau, nhạc nhập vào thơ giúp những con chữ thơ nằm bất động trên trang sách được những người yêu thơ thưởng lãm bằng mắt, cảm nhận bằng tâm, nay hồn thơ cất lên giai điệu, tiếng hát truyền cảm, diễn tả tâm trạng, cảm xúc từng nhân vật trong tác phẩm bằng một thực thể sống động, thoát khỏi thế giới ảo, mơ hồ. Người nhạc sĩ hôm nay phổ thơ có nhiều sáng tạo, không chỉ dựa vào cái thanh bằng trắc có sãn cao độ trầm bổng trong thơ, mà phổ cái hồn thơ, cái tư tưởng, hay những hình ảnh ngôn ngữ trong thơ mang màu sắc hội họa…Chẳng có nhạc sĩ nào nhân danh sự sáng tạo dám viết lệch cảm xúc của thi sĩ? Không ai lại soạn một khúc nhạc thật buồn để mừng ngày vui hội ngộ của gia đình Thúy Kiều, và ngược lại không thể viết những tiết tấu giai điệu của thể loại nhạc kích động, cuồng loạn, khi Thúy Kiêu đang gởi mình vào chốn thiền tu?

    Những ai cảm tác về truyện Kiều, chắc sẽ cảm nhận được nỗi cô đơn tư tưỏng của Nuyễn Du khi gởi gấm tâm sự vào tác phẩm, tác giả đã than rằng:

     «Bất tri tam bách dư niên hậu,
     Thiên hạ hà nhân  khấp Tố như »
    :300 năm sau mới có người hiểu mình !.

    Qua sự thâm thúy của tác phẩm tư tưởng, đượm đầy triết lý nhân sinh, người đọc hôm nay đã hiểu, và khám phá được cái lẽ đạo trong Kiều. Ở một cõi nào đó , thi hào Nguyễn Du sẽ vui, khi biết ở thời đại sau vẫn còn nhiều người ca ngợi, và tưởng nhớ đến ông. Tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh vẫn là nguồn cảm hứng cho đời diễn thuyết, biên khảo, sáng tác ở các bộ môn nghệ thuật , trong đó có giới nhạc sĩ vẽ lại chân dung truyện Kiều bằng âm nhạc. Đó là tấm lòng người thời nay nhớ và tri ân người xưa.


    Đỗ Bình

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Tin tức

    LIÊN HIỆP CÁC TRƯỜNG VIỆT NGỮ HẢI NGOẠI. (UNION OF OVERSIAS VIETNAMESE LANGUAGE SCHOOLS

    Tháng 12 năm 1988 Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Miền Nam California được thành lập như một tổ chức khởi đầu cho sinh hoạt Việt Ngữ tại Nam California. Ngày 30 tháng 10, 2000, Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California – The Association of Vietnamese Language & Culture Schools of Southern California được hình thành, đệ nạp lên chính phủ tiểu bang California và liên bang Hoa Kỳ để được chấp thuận như một tổ chức bất vụ lợi theo điều khoản 501(c) (3). Tính từ năm 1988 đến năm 2023 đã hoạt động liên tục được 35 năm. 

    Từ năm 2022 đổi danh xưng thành LIÊN HIỆP CÁC TRƯỜNG VIỆT NGỮ HẢI NGOẠI (LHCTVNHN) – UNION of OVERSEAS VIETNAMESE LANGUAGE SCHOOLS (UOVLS) với 33 thành viên trong Hội Đồng Quản Trị (HĐQT), cùng cộng tác với khoảng 3,000 thầy cô giảng dạy trên 300 trường Việt Ngữ khắp nơi cho khoảng 30,000 đến 40,000 học sinh từ mẫu giáo lên đến lớp 12 (K-12) phần lớn ở Hoa Kỳ và Canada.

    Sứ mệnh (tôn chỉ & mục đích) của hội là: 

    Bảo tồn và phát huy văn hoá  Việt Nam, dẫn dắt bởi triết lý giáo dục: nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

    Tương trợ và trao đổi kinh nghiệm trong việc truyền bá Việt Ngữ.

    Liên Hiệp Các Trường Việt Ngữ Hải Ngoại là một tổ chức văn hoá và giáo dục bất vụ lợi, hoạt động cho lợi ích chung của Cộng Đồng Việt Nam và không lệ thuộc bất cứ tổ chức hoặc đảng phái chính trị nào.

     Trụ sở và địa chỉ chính  được đặt tại vùng Nam California, USA.    

    12221 BROOKHURST, # 210 GARDEN GROVE, CA 92840.

     ĐIỆN THOẠI: (714) 203-5777.        E-MAIL: info@taviet.org  

  • Khánh Lan,  Lê Nguyễn Nga,  VNATV-57.3-NVNT & TTG

    TALK SHOW KY 13

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và các anh chị em vào xem buổi nói chuyện của Khánh Lan cùng Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga.

    PHẦN I:

    PHẦN 2:

    PHẦN III: