-
Triệu Lời Tri Ân – Melanie Nga My | Nhạc & Lời : Châu Đình An
Millions Words of Gratitude – Triệu Lời Tri Ân
bài ghi nhận Trần Việt Hải, Los Anggeles.
Trong bối cảnh cả thế giới vất vả đối chọi với trận chiến COVID-19 ác liệt, bài viết này tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến những y sĩ, những điều dưỡng viên và các nhân viên phục vụ tại các cơ sở y tế khắp nơi đã và đang ngày đêm phục vụ bệnh nhân COVID-19. Cảm ơn vì những hy sinh to lớn, nhưng thầm lặng của các anh chị em, bạn bè và công dân trong xã hội góp tay chung sức để bảo vệ cộng đồng hay phục vũ xã hội ngay từ tuyến đầu của cuộc chiến.
Chúng ta nghe tin truyền thông hay đọc tin tức báo chí cho biết về những hy sinh đến tử vong của các bác sĩ giới áo trắng trong trận chiến chống đại dịch chết người COVID-19 thật là vô cùng đau lòng. Tại Ý Đại Lợi trên 100 bác sĩ đã thiệt mạng vì COVID-19. Liên đoàn bác sĩ quốc gia FNOMCeO của Ý cho biết, chỉ tính tới ngày 9 tháng 4 này đã có hơn 100 bác sĩ tử vong do nhiễm virus SARS-CoV-2 gây ra dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp tính COVID-19 kể từ khi dịch bệnh bùng phát ở nước này hồi tháng 2. Chúng ta chưa nói đến những mất mát, những hy sinh của các thiên thần áo trắng ở Đại Hàn, Tây Ban Nha, Anh, Ba Tư, Hy Lạp, Đài Loan, Đức, Pháp, Canada,… và xứ Tàu Corona.
Họ là những thiên thần thầm lặng. Có những bác sĩ phải hy sinh bản thân mình như đã nói trên để bảo vệ bệnh nhân được sống. Chính những thiên thần áo trắng đã vẽ nên những bức tranh xã hội cao quý và lạc quan cho mỗi bệnh nhân được điều trị trong những giờ phút đen tối nhất. Những vòng tay an toàn của các bác sĩ, các y tá, các nhân viên cứu thương (paramedic)… Tất cả các nhân sự y tế này chiến đấu quyết tâm đẩy lùi virus corona, phá bỏ gông cùm bệnh tật. Họ túc trực tại nhiệm sở ngày đêm bước vào cuộc chiến với dịch bệnh như bước vào những gian nguy, tận tâm cứu giúp bệnh nhân ra khỏi vũng lầy bệnh tật. Thật vậy, họ xứng đáng được ca ngượi như là những “hiệp sĩ” dũng cảm, sẵn sàng đương đầu với phút giây hiểm nghèo, Làm việc trong tinh thần cảnh giác cao độ. Tôi đọc tin về một hình ảnh của bác sĩ linh mục Phạm Hữu Tâm Houston tình nguyện bay sang New York tiếp ứng cùng toán bác sĩ Nguyễn Đăng Dũng tại địa phương New York. Tất cả thể hiện tinh thần đoàn kết chiến đấu chung mặt trật đẩy lùi nạn dịch lây lan do COVID-19 gây ra.
Rồi tin buồn cho cộng đông Việt Nam khi một y sĩ trẻ khác tình nguyện ra tuyến trận, BS. Đào Huy Hào, cũng là giáo sư tại khoa y tế cộng đồng, đại học Sherbrooke ở Longueil, Quebec, đã chẳng may qua đời vì bị nhiễm COVID-19 trong lúc tìm cách ngăn chặn bệnh dịch lây lan cho các bệnh nhân. Ta xót xa vì có những thiên thần áo trắng giữ lời nguyền Hippocrates của ngành y, trong đó bao gồm những điều răn dạy về lương tri, lương tâm, trách nhiệm và thiên chức của người y sĩ. Sự tình nguyện vì thiên chức áo trắng đó cho ta nhớ lại như những hy sinh trong quá khứ của một Tom Dooley (1927-1961) trị bệnh cho người nghèo ở vùng cao tại Việt Nam vì tha nhân. Hay như bác sĩ Alexandre Yersin (1863 – 1943) trị bệnh sốt rét ngã nước hay các bệnh tật cho người dân Việt Nam. Đồng hành với ông còn có bác sĩ Albert Calmette (1863 – 1933) lập ra một phòng thí nghiệm, cơ sở y tế giúp người dân Việt. Những phụng sự cao quý vì thiên chức nghề thầy thuốc từ Thomas Dooley, Axandre Yersin và Albert Calmette tự nguyện hy sinh danh vọng, nếp sống thịnh vượng xa hoa nơi quê nhà để đến những nơi xa xôi, hiểm trở chỉ vì lời nguyền Hippocrates, chấp nhận đi xa gia đình từ những phần đất quê hưởng họ ở Mỹ châu hay Âu châu.
Rồi tôi nhớ đến một hy sinh khác của vị y sĩ vì lý tưởng nhân ái đã bỏ mình tại tại cao nguyên Di Linh, Lâm Đồng. Linh Mục Augustino Nguyễn Viết Chung cũng là một bác sĩ, là người đã từng chăm sóc cho bệnh nhân phong cùi và bệnh nhân Aids tại trại phong Di-Linh, rồi cuối cùng ngài ngã bệnh giữa những bệnh nhân mà linh mục đã yêu thương phục vụ. Đã biết bao nhiêu nhà tu hành, bác sĩ, y tá đã dấn thân vào những hoàn cảnh như vậy, dù phải tới tận những nơi xa xôi như Phi Châu, Ấn Độ, Nam Mỹ,…. Con người chúng ta không có sức mạnh siêu nhiên, nhưng con người có lòng nhân ái. Trong trận chiến đấu chống dịch COVID-19 này đã có bao nhiêu lòng từ tâm dâng hiến cho đời sống này. Sự lạc quan và niềm tin hy vong chắc chắn con người sẽ chiến thắng nạn dịch Covid-19. Hình ảnh truyền thông chiếu tin người dân khắp thế giới tri ân giới bác sĩ y tá hay những giới tiếp ứng trong cuộc chiến đầy cam go này, trong cuộc chiến chống lại bệnh dịch Covid-19. Thật vậy, hãy nói lên Triệu Lời Tri Ân, hãy ca lên Triệu Lời Tri Ân,… để gửi đến những ân tình, cảm ơn những hy sinh cao cả chỉ vì tình người và lòng người.
Xin cảm ơn những những Thiên Thần Áo Trắng, những Lương Y như Từ Mẫu, hay những Hiệp sĩ của Tình Thương, những Thừa Sai Thiên Sứ Nhân Từ từ trên Trời cao gửi xuống thế gian này để cứu độ chúng sinh, để nhân loại sớm ra khỏi ách tai ương dich bệnh đang hoành hành hiện nay.
Để kết thúc bài tôi xin mượn bài ca với nội dung thích hợp cho bài viết, một bài hát mang đầy ý nghĩa nhân ái và ân tình của nhạc sĩ Châu Đình An qua tiếng ca của một ca sĩ kiêm y sĩ, xin được intro Thiên Thần Áo Trắng
Melanie Nga My Trần sau đây:
Millions Words of Gratitude – Triệu Lời Tri Ân – Melanie Nga My | Nhạc & Lời : Châu Đình An:
(recorded by Asia Entertainment – Officially authorized)
Bác sĩ Melanie Nga My Trần hiện phục vụ tại Cleveland Clinic and Community Care Hospital.
https://www.facebook.com/watch/?v=2826170684102676
——————————————————————————–
Triệu Lời Tri Ân – Melanie Nga My | Nhạc & Lời : Châu Đình An
TRIỆU LỜI TRI ÂN
Nhạc và lời Châu Đình An ( Kính tặng những vị Tu sĩ, Bác sĩ, Y sĩ, Chiến sĩ, Cảnh sát, cứu hoả và những anh hùng phục vụ cho nhân loại, cho chúng ta, họ đã hy sinh mạng sống để cứu giúp Thế Giới, chống cơn đại dịch CoronaVirus hôm nay)
Tôi đã thấy người mẹ hiền trong đêm tối, đời buồn phiền, bước chân lẻ loi.
Đứng bên hiên nhà, ánh mắt thương yêu nhìn con.
Rồi lặng lẽ mẹ về lại nơi nguy khốn vì đại dịch, cứu bao bệnh nhân, khó khăn hiểm nghèo, vẫn cứ hy sinh.
Mẹ là ai? Người mẹ đó . . . Người Y tá
Người Bác sĩ
Đã xông pha quên thân mình, cứu giúp tha nhân, cứu giúp tha nhân
Nếu có chết cũng xin vâng!
Tôi đã thấy nhiều bệnh viện, trong nước mắt lời nguyện cầu, chứa chat lệ rơi.
Xác thân em năm.
Vỡ nát con tim của anh!
Tôi đã thấy cả địa cầu, trong ánh nến lời thì thầm, ngước lên. Trời cao Bước chân bên thềm, bóng tối mưa sa tựa lệ rơi!
Người Cảnh sát
Người Chiến sĩ
Người chữa cháy
Đã xông pha quên thân mình, cứu giúp tha nhân, cứu giúp tha nhân.
Nếu có chết cũng xin vâng!
Chorus:
Cho nhân loại một lời, xin cám ơn với tấm lòng vô vàn
Cho tôi được ngàn lời, xin cám ơn người Y Sĩ.
Người Tu Sĩ Đã giúp thế gian trong hiếm nguy
Cứu chúng tôi trong bệnh đau
Vì thần chết đang cuồng nộ! Bao tấm lòng nhân ái từ bi
Ôi tâm hồn cao quý đẹp thay Mang trong tim bao tình yêu đất trời.
Coda:
Cho tôi xin cám ơn
Cho em xin cám ơn
Cho chúng tôi cám ơn
Và cả thế giới
Millions Words of Gratitude
Music and lyrics by Chau Dinh An
(To: Priest, Doctors, Healthcare services , Soldiers, Police, Firefighters and heroes who serve humanity, for us. They sacrificed their lives to save the World, fight the pandemic CoronaVirus today)
I saw the gentle mother in the dark night,
sad life, lonely footsteps
Standing on the porch, loving eyes looking at her children.
Then she quietly returned to the place where the pandemic was in danger,
save many patients, difficult difficulties, still make sacrifices. Who is she?
That mother …
The nurse
The Doctor
He stormed his selflessness, saved others,
help others.
If there is also die and accepted
I have seen every hospital, in tears of prayer, filled with tears.
My darling body lies. Broken my heart!
I have seen the whole planet, in the candlelight whisper,
looking up to Heaven
Footsteps on the steps, dark rain like falling tears!
Police
Soldier
Firefighters
He stormed his selflessness, saved others,
help others.
Before death is gone
Give humanity a word, thank you with countless hearts
Give me a thousand words, thank you to the Doctors, the Priest
Helped the world in danger
Save us in pain
Because death is rampaging!
Covering loving kindness
Oh beautiful noble soul
Love in the heart of love in God
Give me thanks
Thank you
Thanks to us
And the whole world
A thousand words of gratitude … THANK YOU …Thank you…
Thank you
Chau Dinh An composed in April 2, 2020
——————————————————————————-
CÁCH LY … THÁNG TƯ – NỖI NIỀM (CHÂU ĐÌNH AN)
by NVTB Staffer
Chưa bao giờ nước Mỹ và cả thế giới đang trong hoàn cảnh lo âu, buồn bã như thế này. Một cơn đại dịch còn tàn phá hơn bom nguyên tử. Nhà nhà, người người… hầu như mọi lĩnh vực của xã hội sinh hoạt ngưng đọng. Còn gì buồn hơn thế nữa?
Lệnh “cấm cung” ban hành hầu hết trên các tiểu bang tránh sự lây nhiễm đang lan rộng và làm thiệt mạng nhiều người. Đi ra khỏi nhà là sợ. Oái ăm là… sợ gặp người, sợ cái con vi trùng Vũ Hán tàng hình đâu đó rình rập. Chưa bao giờ người lại tránh xa người như lúc này…
Nhưng, cánh cửa này đóng, lại có cánh cửa khác mở ra. Bế tắc sẽ có lối thoát. Trong rủi lại có may mắn. Đó là chân lý mà trong những giây phút này chúng ta có dịp nhìn lại mình, suy gẫm và nhận ra là…
“Nằm với đất, thấy ta xa trời
Đùa với sóng thấy biển mênh mông
Gần với nắng thấy ta khô cằn
Gần im vắng thấy ta là ai?”
Đó là những câu viết trong ca khúc Châu Đình An có tựa một chữ GẦN
Vâng, xin được chia sẻ đôi chút về nỗi niềm trong thời buổi cách ly này, để thấy con người chúng ta là một thân phận hữu hạn.
Thân phận con người, sống trong hữu hạn. Như làn ranh vẽ sẵn, như dấu mốc phân định, như biên giới cách ngăn. Giữa sự sống và cái chết. Giữa bóng tối và ánh sáng. Giữa vực thẳm, núi cao…
Cuộc đời vô hạn, cùng tận. Tình yêu vô hạn, mãi mãi. Giữa hữu hạn và vô hạn. Giữa cùng tận và giới hạn, đã cho ta nỗi bâng khuâng, biết bao dấu hỏi mở ra không có câu trả lời, không có một đáp số.
Thân phận con người là hạt bụi, và đắng cay biết bao khi ta về lại với cát bụi. Tôi nhận ra hữu hạn và vô hạn trong những đoạn đường của cuộc đời mình đã đi qua. Mơ ước… tôi viết ca khúc, như tiếng thở dài thầm lặng thổn thức với đất nước Việt Nam và con người mình.
Thế giới một niềm đau. Triệu lời tri ân. Chuyến bay nào đưa em là những ca khúc đã ra đời trong suy tưởng này. Nó như sông, như biển, như sóng cuốn bờ xa lênh đênh trôi dạt về miền quá khứ. Quá khứ với con nước khô cạn… khi hiện tại chúng ta đang đối mặt với cơn hôn mê thời đại, cơn hôn mê của đại dịch cách ly này.
Bóng tối sẽ qua đi. Ánh sáng trở lại. Chúng ta biết, rồi nay mai cuộc sống trở lại bình thường. Nhưng sẽ làm thay đổi nhiều thứ, và bài học lớn nhất đó là suy nghĩ chúng ta sẽ thay đổi về cuộc sống này. Chúng ta sẽ biết nghĩa của yêu thương và tha thứ. Chúng ta sẽ hiểu sao trời, ánh nắng, tinh tú xoay vần do đâu mà có.
Cảm ơn đất trời bao dung, thứ tha!
Nhờ đó, chúng ta sẽ có những khoảnh khắc bước ra khỏi làn ranh hữu hạn, để níu tay với vô hạn. Trong cõi âm dương. Trong cõi nắng mưa… và trong cõi đời tuyệt diệu này.
“Em ơi, em có nghe gì không?
Tình yêu là lẽ sống
Mình cùng nhau nguyện cầu
Rồi sẽ thấy nhiệm mầu
Xin ơn Trời tha thứ
Xin ơn Trời ban xuống
Thoát ra khỏi niềm đau”
CHÂU ĐÌNH AN
-
Theo Giấc Mộng Dài (Hoàng Sa-Lê Đức Phong)
-
Chiều Thơ Nhạc Dương Thiệu Tước & Dương Hồng Anh
Chiều Thơ Nhạc Dương Thiệu Tước và Dương Hồng Anh được tổ chức trang trọng tại phòng hội văn nghệ NT Studio, Westminster, để tưởng nhớ vị nhạc sĩ tài ba Dương Thiệu Tước, đồng thời để vinh danh và mừng thọ 90 niên kỷ của nữ sĩ Dương Hồng Anh, người em của GS. Dương Thiệu Tước. Cả hai đều thuộc gia tộc danh giá Dương Khuê và Dương Lâm. Nhân dịp này Tiến Sĩ Trần Huy Bích, vị giáo sư cố vấn thi ca văn học cho nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật sẽ giới thiệu thi tập mới toanh thứ 6 của Hồng Anh nữ sĩ, được ra mắt đồng hương tại Nam California. Một hứa hẹn thi ca văn học, với sự góp mặt của ngâm sĩ Bích Ty Chi Bảo, người cộng tác trong chương trình Thi Văn Tao Đàn của Đinh Hùng – Thanh Nam (trước năm 1975) sẽ diễn ngâm thơ mới của Thi sĩ Dương Hồng Anh. Ngoài ra, Nhạc sĩ Võ Tá Hân, nhạc sĩ sáng tác và là một cầm thủ kiệt xuất về Tây Ban Cầm Cổ Điển, cũng là môn đệ “cục cưng” của GS. Dương Thiệu Tước tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn (1962-67); sẽ tâm tình về những kỷ niệm về Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và trình bày ngón đàn Tây Ban Cầm góp vui cho chương trình. Chương trình âm nhạc đặc sắc do nhóm âm nhạc Tiếng Thòi Gian, hướng dẫn bởi Ca nhạc sĩ Christina Lâm Dung giới thiệu những ca khúc vượt thời gian của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Ban nhạc phụ trách phần âm nhạc cho chương trình là hai nhạc sĩ Quốc Sĩ – Duy Nhật. Emcees: Bích Trâm, Ngô Thiện Đức và Nhật Uyên.
Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thòi Gian xin kính mời quý đồng hương thân thương hãy đến với Chương trình Chiều Thơ Nhạc Dương Thiệu Tước và Dương Hồng Anh. Vào Cửa Tự Do *.
Trân Trọng Kính Mời.
Ban Tổ Chức: Lâm Dung, Khánh Lan, Mộng Thủy, Bích Ty. Minh Châu, Mai Hương, Nhật Uyên, Bích Trâm, Trần Mạnh Chi, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Phước Hồng, Ngô Thiện Đức, Henry CSUF và ThụyVy.* Có thức ăn nhẹ (light refreshment).
———————————————————————————-
Thi Ca Dương Hồng Anh.Cô em Minh Châu, tức nhà thơ Vương Ngọc Châu, ghé thăm nữ thi sĩ Dương Hồng Anh. Sau đó tôi mới biết Hồng Anh nữ sĩ có gửi tôi 4 thi tập là Tiếng Thầm, Tình Thu, Vương Vấn Hồn Quê và Sợi Nhớ Sợi Thương. Xem phần tiểu sử của tác giả ở trang bìa sau các sách thì nhà thơ Dương Hồng Anh mang tên tộc là Dương Nguyệt Anh, tên hiệu là Dương Hồng Anh. Điều nổi bật bà chính là cháu nội của thi sĩ nổi tiếng Dương Khuê. Vậy Dương Khuê là ai ?
Tôi xin ghi rõ về cụ Nội tổ của nhà thơ Dương Hồng Anh. Vì nhiều thân hữu thế hệ sau 1975 có thể cần chi tiết này. Đây là đôi nét…
Dương Khuê (楊奎, 1839-1902), tự: Giới Nhu, hiệu Vân Trì, là quan nhà Nguyễn, và là nhà thơ Việt Nam ở thế kỷ 19. Ông là người ở làng Vân Đình, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình Nho gia vọng tộc. Ông là con cả Đô ngự sử Dương Quang, và là anh ruột của danh sĩ Dương Lâm (1851–1920). Dương Lâm làm quan, từng giữ chức Phó Tổng tài Quốc sử quán nhà Nguyễn, Chủ bút báo Đồng Văn… Về sau ông xin cáo quan về mở trường dạy học tại quê nhà. Ông là người tao nhã, yêu nước, có tài văn chương, và là một nhà giáo rất giỏi. Trong số các cháu nội của hai ông (Dương Khuê và Dương Lâm), có những người nổi tiếng như: nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Giáo sư-Tiến sĩ Dương Thiệu Tống, nhà thơ Dương Tuyết Lan, nhà khoa học Dương Nguyệt Ánh, nhạc sĩ Dương Thụ, nhạc sĩ kiêm thi sĩ Dương Hồng Kỳ, bác sĩ ngành tim mạch Dương Hồng Tạo,…
oOo
Trở lại với danh tài Dương Khuê là người văn hay, chữ tốt. Năm 1864, ông đỗ Cử nhân (cùng khoa này có Nguyễn Khuyến đỗ Giải nguyên). Năm Mậu Thìn (1868), thời vua Tự Đức, ông dự thi Đình đỗ Tiến sĩ. Đường hoạn lộ, thuở ban đầu, Dương Khuê được bổ làm Tri phủ Bình Giang (Hải Dương), rồi thăng làm Bố chính. Vào đầu thập niên bảy mươi của thế kỷ 19, tay lái buôn Jean Dupuis uy hiếp các quan chức người Việt ở Bắc Kỳ để tự do sử dụng sông Hồng, ông ở trong nhóm những sĩ phu cương quyết chống lại. Ông dâng sớ về triều xin có thái độ quyết liệt với người Pháp, bị vua Tự Đức phê là “bất thức thời vụ” (không biết thời cuộc), rồi bị giáng xuống chức Chính sứ sơn phòng lo việc khai hoang. Năm 1873, quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất. Sau khi thương thuyết, họ chịu trả lại bốn thành cho triều đình Huế, thì Dương Khuê được điều động làm Án sát Hải Phòng. Năm 1878, nhân lễ “ngũ tuần khánh thọ ” của mình, vua Tự Đức xuống chỉ cho ông làm Đốc học Nam Định. Sau đó, ông lần lượt trải các chức vụ quan hành chính như: Bố chính, Tham tá Nha kinh lược Bắc Kỳ, Tổng đốc Nam Định-Ninh Bình. Năm 1897, Toàn quyền Paul Doumer xóa bỏ điều 7 của Hòa ước Giáp Thân 1884, đặt cơ sở cho guồng máy cai trị của Chính phủ bảo hộ, thì Dương Khuê xin cáo quan, lúc 58 tuổi, được tặng hàm Thượng thư bộ Binh.
Khi ông mất (ngày 6 tháng 3 năm Nhâm Dần, 1902), nghe tin buồn bạn thân ra đi, Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ bất hủ Khóc Bạn (Khóc Dương Khuê) khi tang viếng. Bài thơ được vào văn học sử. Bài thơ có thể xem đây cũng là một bài văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy lệ lòng, gồm có 38 câu thơ. Mở đầu bài thơ là một tiếng than thở xót xa bùi ngùi:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) khóc bạn cũng là tự khóc mình, giọng thơ u uẩn thiết tha. Ông trách bạn “vội đi xa” để mình lẻ loi, cô đơn. Cuộc sống trở nên chán chường, vô nghĩa:, nhất là 2 câu sau rất phổ thông ở các bàn tiệc sau này:
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.Khóc Dương Khuê (1839-1902) cho thấy một tình bạn đẹp và cảm động của giới nho gia thuở trước. Sau hơn một thế kỷ, chúng ta vẫn thấy nỗi bùi ngùi xúc động khi đọc bài thơ này. Nguyễn Khuyến khóc bạn cũng là khóc cho một thế hệ nhà nho và cũng là tự khóc cho minh: “Ai chẳng biết chán đời là phải”…
Tác phẩm của Dương Khuê để lại có một số bài ca trù, bài văn, câu đối, trướng… Có lẽ nên đề cập bài Hồng Hồng, Tuyết, Tuyết,… bài ca trù nghe thanh thoát, bông đùa, dí dỏm và hóm hỉnh.
Giới thiệu một bài ca trù dưới đây là bài ca trù tiêu biểu và nổi tiếng của Dương Khuê:
Gặp lại cô đầu cũ
Hồng Hồng, Tuyết, Tuyết,
Mới ngày nào chửa biết cái chi chi.
Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì!
Ngoảnh mặt lại, đã tới kỳ tơ liễu.
Ngã lãng du thời, quân thượng thiếu,
Kim quân hứa giá, ngã thành ông
Cười cười nói nói thẹn thùng,
Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại.
Riêng một thú Thanh Sơn đi lại,
Khéo ngây ngây dại dại với tình.
Đàn ai một tiếng dương tranh…
Hà Nội tức cảnh
Phất phơ ngọn trúc trăng tà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Tiếng chày An Thái, mặt gương Tây Hồ.
bài thơ này nằm trong cuốn Vân Trì thi thảo.Dương Hồng Anh làm thơ ở tuổi rất sớm, bà tập tểnh làm thơ năm 16 tuổi (năm 1947), nhưng cho ra thi tập đầu tay Hương Mùa Chinh Chiến vào năm 1952 tại Hà Nội. Dương tác giả cho thơ ở nhiều đề tài, nhiều phạm vi như thơ về quê hương, tuổi học trò, thơ thiền, xã hội, chiến tranh, về gia đình, tôn giáo, tình yêu, về thiên nhiên,… Xem qua 4 thi tập của bà là Tiếng Thầm, Tình Thu, Vương Vấn Hồn Quê và Sợi Nhớ Sợi Thương thí sách được trình bày rất trang nhã. Thi tập Tiếng Thầm gồm có 67 bài thơ, Tình Thu 81 bài, Vương Vấn Hồn Quê có 84 bài và Sợi Nhớ Sợi Thương gồm 86 bài thơ.
Thi tập Tiếng Thầm ở trang 1, bài sáng tác năm 2013 mang trùng tên Tiếng Thầm xa quê hương gần 40 năm nỗi nhớ quê hương vẫn vấn vương tâm thức, tác giả cho những lời thơ mênh mang nỗi nhớ thẫn thờ bước chân nơi quê người…
Chiều về nhớ phố Bolsa
Đi tìm chút nắng quê nhà năm xưa
…
Thời gian trắng biển sương mù
Hiên khuya gọi gió về ru tiếng thầm.Trong bài điểm thi tập qua bài viết Sau Năm Năm, nhà văn Bùi Bích Hà đã nhận xét về nhà thơ Dương Hồng Anh và thi ca của Hồng Anh nữ sĩ, xin trích đoạn như sau:
“Năm 2012, tôi được bà gửi tặng cuốn thơ “Chiều Bến Đợi,” thi tập thứ ba sau tác phẩm đầu tay “Hương Mùa Chinh Chiến” xuất bản tại Hà Nội năm 1952, viết chung với ba nhà thơ nữ đương thời; sau tác phẩm thứ hai “Từ Phương Trời Xa,” xuất bản tại Hoa Kỳ, California, năm 2010, là cuốn mở màn cho chuỗi sáng tác phong phú, liên tục mỗi năm tiếp theo cho tới cuốn mới nhất, ra mắt khách yêu thơ mùa Thu năm 2017…. Sau năm năm, nhìn lại nhau, bà đi với bước chân cẩn trọng hơn, nhưng dáng dấp và nụ cười trên môi bà không già thêm. Vẫn ánh nhìn đằm thắm. Vẫn nụ cười không thành tiếng mà nghe như có ai khúc khích. Vẫn bàn tay rụt rè muốn nói điều gì nhưng chừng như e ngại. Bà tặng tôi cuốn thơ thứ tám, “Tình Thu,” gồm 81 bài thơ nhiều thể loại, dàn trải trên 134 trang giấy màu ngà thanh nhã, là món quà đón Xuân nhiều ý nghĩa, nhiều hương vị mà cả người nhận lẫn người cho cùng chia nhau niềm vui:
Vui đón Xuân về ta chúc nhau
Thơ còn hẹn mãi với mai sau
Run tay ngọn bút không ngừng chảy
Có nghĩa là ta sống rất giàu
…”
Người viết nhớ rằng thi sĩ Hà Huyền Chi cho là “Thơ là đỉnh cao nhất của văn chương”. Còn theo nhà thơ Alfred de Musset cho rằng thơ là nỗi cảm xúc với luận điểm nổi tiếng: “Hãy đập vào trái tim, thiên tài là ở đó!” thì thi sĩ Paul Valéry lại cho “Thơ là ngày hội tưng bừng của trí tuệ”. Những ý kiến khác như thi sĩ Hà Nguyên Du thì: “Thơ là nghệ thuật sắp xếp ngôn từ phát xuất từ nội tâm”. Nhà thơ Dương Tử quan niệm: “Thơ là một hình thức ngôn ngữ khơi mào do trí tưởng tượng sáng tạo ra một tác phẩm văn chương”,,… suy luận qua nhiều trang thơ trong những thi tập của thi nhân Dương Hồng Anh đã minh chứng những tư tưởng nêu trên.Gặp nhau vui vẻ quá
Ta lại về với thơ
Trời xanh, xanh tươi lá
Nghe em kể truyện xưa
…
Những vần thơ chung thủy
Dệt mộng với thời gian
Thơ ơi! hoa vẫn nở
Hoa thơ nở ngút ngàn
(Đôi dòng với thơ, Dương Hồng Anh, Tiếng Thầm trang 28-29)Nếu tuyên ngôn về thi ca của người thi sĩ nói rằng thơ là sự tự phát khởi ra từ con tim, ta hãy đọc hai tư tưởng khác của hai nhà thơ Mỹ như sau: “Thi ca là một cách hay để thể hiện nỗi xúc cảm như vui, buồn, giận dữ, lo lắng. Đó cũng là một cách mà chúng tôi chia sẻ với những người khác, để giúp họ với những cảm xúc đó.”. (thi sĩ Mattie Stepanek).
Và ý tưởng nét thẩm mỹ của thơ được xác định theo nhà thơ Edgar Allan Poe: “Tóm lại, tôi sẽ định nghĩa thơ ca là sự sáng tạo nhịp nhàng của Cái đẹp”. Đọc Dương Hồng Anh, thi ca của bà dù ở cuối mùa niên kỷ hay trong thời gian hay không gian của ánh hoàng hôn tuổi đời vẫn cho thi nhân nỗi mộng mơ, trăn trở đắm say như những dòng thơ sau minh chứng:
Thơ tôi là những hao gầy
Những đêm trăn trở, những ngày vẩn vơ
Nhìn đời nửa thực nửa mơ
Nghiêng tay mực gió văn thơ cuối mùa.
(bài Thơ Tôi, Tình Thu trang 78)Trong thi tập “Sợi Nhớ Sợi Thương” nơi trang 28, bài đoản thơ 4 dòng Ta Còn Để Lại Gì Đây, thơ cho thấy chất triết lý thiền tính nhìn về thiên nhiên hữu cảnh.
Ta còn để lại gì đây
Phù du một thoáng đong đầy sắc không
Thuyền từ nhẹ bước thong dong
Hoa Ưu Đàm nở ngát dòng sông xanh.Những câu thơ trên cho thấy nghệ thuật phô diễn thể sáu tám. Trần Trọng Kim gọi thơ là nghệ thuật, là dùng lời nói tao nhã để biểu diễn tình ý ra cho đẹp, tư tưởng ra cho hay, và có thể ngâm nga được.. Khi nói về thơ, mỗi thi sĩ thường có những nhận xét khác nhau. Tuân Tử nói: Thi dĩ ngôn chí, dùng thơ để nói lên cái chí hướng của mình. Xuân Diệu gọi thi sĩ nghĩa là ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây. “Cõi thơ là cõi bồng phiêu” (Bùi Giáng). “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” (Roman Jakobson). Và “Làm thơ là tạo ra một hành tinh thứ hai bằng ngôn ngữ” (Chế Lan Viên ).
Thơ là nghệ thuật lấy âm thanh hay hình ảnh chất chứa trong đó. Hãy xét trường hợp thi ca Dương Hồng Anh, cũng trong thi tập “Sợi Nhớ Sợi Thương” trang 20, thi nhân cho thêm một đoản thi như sau:Thu đi thả lá đầy sân
Cho hồn tôi cứ bâng khuâng tháng ngày
Tìm về sông núi đâu đây
Bước tha hương trải sầu mây mấy mùa.Ngôn ngữ thi ca phản ảnh sự phong phú của ngôn ngữ của tác giả khi sử dung thi từ, thật vậy thi ca Dương Hồng Anh khéo léo chắt lọc tinh túy của ngôn ngữ bà chắt chiu từng con chữ sử dụng. Điều này cho thấy sự chắt chiu ý tưởng trong nét sáng tạo thi ca của nhà thơ, và bà đã khám phá và sáng tạo ra những nét bóng bẩy của ngôn ngữ thơ, vườn thi ca nhiều thêm mỗi ngày như vậy của nhiều nhà thơ, từ đó góp phần làm giàu có ngôn ngữ trong văn học và đời sống. Ví dụ ý tưởng “Thu đi thả lá đầy sân” cho ta sự liên tưởng thi ca qua hình ảnh, những biểu tượng của thơ được tạo nên từ thị giác khiến ngôn ngữ thi ca không chỉ kích thích trí tưởng tượng của con người, nó còn khiến con người vững tin rằng ngoài những hình ảnh thế giới thiên nhiên bao la mà mình thấy được, cảm nhận được, còn những hình ảnh mà mình nghiệm thấy trong trí não.
Xin xem bài thi ca khác mà tác giả gửi gấm về quê hương, bài “Xin Gửi Quê Hương Một Tấm Lòng”, trích đoạn thi ca Dương Hồng Anh:
Xin gửi quê hương một tấm lòng
Ca li nhớ mãi nắng Sài Gòn
Tình thơ dào dạt bao đêm vắng
Hoa lá bên trời có biết không
….
Xin gửi quê hương khúc nhạc chiều
Bao la tâm sự nhớ quê nghèo
Việt Nam ơi những gì chưa nói
Vương hồn thơ – thương nhớ nhiều.
(thi tập Vương Vấn Hồn Quê, trang 79)Ngẫm nghĩ về ngôn ngữ thi ca của Dương thi nhân còn nhiều bài hay như ví dụ khuôn mẫu thi ca cho các trường học dạy chữ Việt. Qua những trích dẫn tiêu biểu về ngôn ngữ thi ca Dương Hồng Anh, mong rằng Dương nữ sĩ sẽ tiếp tục cho ra nhiều áng thơ hay trong sự dự định thực hiện nhiều sách in sắp tới. Do vậy thì bài viết này người viết đã có được dịp khám phá ra nét tinh khôi của giá trị của ngôn ngữ thi ca và những ý tưởng về thi ca thật diễm tuyệt của một nữ sĩ có hơn 70 năm sinh hoạt thi ca (1947- 2019). Trong ngôn ngữ của đời sống, thơ là những dòng chữ đi từ con tim đến khối óc. Nếu con tim rung động thì trí óc sắp xếp sự sáng tạo chữ nghĩa, đó là ý tưởng của nhà thơ. Xin vinh hạnh giới thiệu thi sĩ: Dương Hồng Anh.
Trần Việt Hải, Los Angeles, ngày 20 tháng 10, năm 2019.
Links: https://www.facebook.com/namhai.tran.75839/…/408109510089209
Dương Thiệu Tước và… Ngọc Lan (Quỳnh Giao):
https://thanhthuy.me/…/duong-thieu-tuoc-va-ngoc-lan-quynh-…/Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước: Gửi hồn dân tộc trên âm điệu phương Tây:
https://nhacxua.vn/nhac-si-duong-thieu-tuoc-gui-hon-dan-to…/Nguyệt San Cỏ Thơm: Đôi Nét Về Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước:
http://cothommagazine.com/index.php…Những Ca Khúc Vượt Thời Gian của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước:
https://dotchuoinon.com/…/tan-nhac-vn-ca-khuc-vuot-thoi-gi…/ -
Khúc thu ca
-
Ngút bóng hoàng hôn
-
Việt Nam có ba nhạc khí đặc biệt không nước nào có.
December 18, 2019
Sở trường của Giáo Sư Trần Quang Hải là hát đồng song thanh và đàn môi. Trong địa hạt này, Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. (Hình: tranquanghai1944).
Bị nước Tàu đô hộ ngàn năm, Việt Nam không bị đồng hóa mà vẫn giữ được truyền thống dân tộc. Tiếng nói, chữ viết, cách ăn mặc, tập tục, phong thái… và nói chung, mọi thứ đều là Việt Nam. Chuyện đó ai cũng biết.
Trong âm nhạc, người Việt có ba nhạc khí mà không nước nào có kể cả nước Tàu. “Việt Nam đã tạo cho mình một chỗ đứng biệt lập với ba nhạc khí đặc thù dân tộc, chỉ thấy ở Việt Nam,” Giáo Sư Trần Quang Hải viết trong cuốn sách mới đây của ông.
Sách mang tựa đề là “50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” dày 450 trang do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản năm 2018 nay được phát hành trên thế giới.
Chuyện ít người biết
Trong bài “Nguồn gốc Âm nhạc Việt Nam” in trong cuốn sách, ông đã trình bày về ba nhạc khí đó là đàn đáy, đàn bầu và sinh tiền.

cố nhạc sĩ Nguyễn Phú Đẹ đàn đáy Đàn đáy có thùng hình thang, không có đáy chỉ có ba dây kết hợp đặc trưng của nhiều đàn khác nhau như đàn tam, tỳ bà, nguyệt. Đàn đáy dùng để đệm cho hát ả đào hay ca trù.

Trần Quang Hải với đàn độc huyền Đàn bầu hay độc huyền chỉ có một dây nhưng có thể đàn được ba bát độ và chỉ sử dụng bồi âm mà thôi.

Trần Quang Hải với sinh tiền Sinh tiền gồm ba miếng ván dài 27 phân, ngang 3 phân dày nửa phân. Hai miếng ván có mang những đồng tiền lúc lắc trong khi miếng thứ ba gõ hay cứa vào hai miếng ván kia tạo thành ba âm thanh khác biệt để đệm nhạc triều đình.
Lịch sử nhạc Việt
Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày các loại đàn, hát của dân tộc ta từ thời nhà Đinh, thế kỷ thứ 10, cho tới ngày nay. Phần trình bày rành rẽ là một tài liệu quý báu cho những người biên khảo về âm nhạc Việt Nam, cổ nhạc lẫn tân nhạc.
Phần cổ nhạc, tác giả đã cho ta biết về các loại nhạc như nhạc cung đình, nhạc lễ, nhạc tôn giáo, nhạc thính phòng, nhạc tuồng, dân ca, nhạc dân tộc thiểu số. Các thứ đàn đặc biệt là đàn tranh, đàn đá thêm vào những nhạc cụ đặc hữu của Việt Nam, các loại hát như hát xoan, hát Then, Tày, Nùng, Thái…
Phần tân nhạc được tác giả ghi chép lại trong năm giai đoạn theo các biến cố chính trị trong nước. Giai đoạn tượng hình, 1928-1937; giai đoạn thành lập, 1938-1945, giai đoạn kháng Pháp 1946-1954, giai đoạn đất nước chia đôi 1954-1975 và giai đoạn di tản, từ 1975 trở đi.
Công trình sáng tác, khảo cứu
Tới năm 1989, ông được cấp bằng quốc gia giáo sư nhạc truyền thống nhưng ông đã làm việc khảo cứu từ năm 1968 tại Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học CNRS ở Paris. Đồng thời, ông còn làm việc trong Viện Dân Tộc Nhạc Học của Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật và Truyền Thống Dân Gian tại Paris.
Sở trường của Giáo Sư Hải là hát đồng song thanh và đàn môi. Trong địa hạt này, Trần Quang Hải là người tài ba nhất thế giới. Ông đã sáng tác hơn 50 bài kể chung cho đàn tranh, cho muỗng, hát đồng song thanh hay là nhạc cho phim.
Năm đời ca nhạc
Giáo Sư Hải là nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3,500 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 nước từ năm 1966, 1,500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy trên 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8,000 người theo học hát đồng song thanh. Điều này ghi rõ trên sách của ông.
Trong câu chuyện, thỉnh thoảng ông nhắc đến dòng dõi họ Trần Quang bốn đời tài danh trong ngành nhạc dân tộc. Tới Trần Quang Hải là đời thứ năm, con người tài hoa đã làm rạng danh nhạc dân tộc Việt khắp năm châu.

Sách nhan đề là “50 Năm Nghiên Cứu Nhạc Dân Tộc Việt” do Nhân Văn Nghệ Thuật xuất bản năm 2018, dày 450 trang, có thể mua trên mạng do nhà xuất bản LULU phát hành, giá 16.76 euro.
https://www.lulu.com/shop/search.ep?keyWords=tran+quang+haiSách được phổ biến cùng với cuốn bằng Anh Ngữ “Tran Quang Hai 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing, Tu Sach Khai Tri, 2018, 402 page.”
Sách tiếng Anh có thể mua trên mạng Amazon.fr với giá 13.86 euro.
(Từ Nguyên)
-
MẠN ĐÀM VĂN HỌC – Thơ Nguyễn Tất Nhiên- phần 3 – MC Bích Ty
-
NgaMy trong DVD Asia 79: LOVE FOREVER

-
Cô Bắc kỳ Tây Ninh, Thơ Việt Hải, Nhạc Vĩnh Điện, Hát & đàn: Nguyễn V. Hiển, Duy Hân
-
PHƯƠNG TRỜI PARIS VÀ NHẠC CỔ TRUYỀN
Đỗ Bình
Nghệ sĩ là người sáng tạo ra nghệ thuật mà nghệ thuật thì bao la vô tận. Một tác phẩm nghệ thuật đích thực bắt nguồn từ những ý nghĩ và cảm xúc thực, không giả tạo, vay mượn. Người nghệ sĩ không thể đem suy nghĩ hôm nay để luận về tâm cảnh người xưa vì cảm xúc không thật !Nguồn cảm xúc của nghệ sĩ chợt đến và dễ tan biến như sương khói mây bay nhưng sẽ để lại cho đời tác phẩm.
Đờn ca tài tử là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Đó là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng với phạm vi 21 tỉnh thành của vùng phía Nam được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19 bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian. Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca do đại chúng tụ lại để cùng hau đàn hát chia sẻ thú vui tao nhã. Họ diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu. Âm nhạc dân tộc là tài sản qúy của đất nước, đó là món ăn tinh thần và cần thiết đối với những người sống ở hải ngoại, vì khi rời xa quê hương họ mang theo những những kỷ niệm được gắn bó qua câu hò điệu hát. Người Việt đặt chân lên xứ Pháp từ những thế kỷ trước, nhưng vào thập niên 40, 50 và sau năm 1975 của thế kỷ trước đã có một số nghệ sĩ đến Paris trong đó có các nhạc sĩ đã sáng tác những ca khúc tiền chiến nổi tiếng từng vang bóng một thời :
Nhạc sĩ Đan Trường : Tách Người Đi, nhạc sĩ Lương Ngọc Châu: Tiếng Hát Lênh Đênh, nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên :Trăng Mờ Bên Suối, nhạc sĩ Trần Văn Khê : Đi Chơi Chùa Hương, nhạc sĩ Lê Trạch Lụu : Em Tôi.Những ca khúc vang bóng sau năm 1954 :
Nhạc sĩ Trịnh Hưng : Lối Về Xóm Nhỏ,Tôi yêu, nhạc sĩ Xuân Lôi : Nhạt Nắng, Tiếng Haát Quê Hương, nhạc sĩ Lam Phương : Chuyến Đò Vỹ Tuyến, Kiếp Nghèo, nhạc sĩ Mạnh Bích : Thôn Trăng.
Những nhạc sĩ có ca khúc được công chúng ưa chuộng vào thập niên 60, 70 ở Miền Nam :
Nhạc sĩ Anh Việt Thanh : Vùng Lá Me Bay, nhạc sĩ Xuân Vinh : Chuyện Tình Đã Mất, nhạc sĩ Vũ Thái Hòa :Tự Tình…
Paris còn có một số những nhạc sĩ khác viết những ca khúc hay và giá trị từ trước năm 1975 và sau này nhung tác giả chỉ phổ biến giới hạn trong thân hữu.
Giới nghệ sĩ đờn ca tài tử và nghệ sĩ sân khấu cải lương đến Pháp không nhiều. Paris dù là thủ đô ánh sáng, cái nôi quy tụ nhiều nền văn hóa của thế giới nhưng đối với ngành sân khấu cải lương Việt Nam vẫn không có một sân khấu nhỏ cải lương vì người Việt ở rải rác khắp nước Pháp! Vào đầu thập niên 50 của thế kỷ trước phải kể đến nhạc sĩ Michel Mỹ là người Pháp có mẹ là người Việt. Là cựu công chức cao cấp của chính phủ Pháp khi hồi hương về Pháp ông mang theo một số đàn cổ nhạc Việt Nam gồm đàn kìm, đàn nhị, đàn tranh và guitare phím lõm…ông là nhạc sĩ đờn ca tài tử nhưng chơi điêu luyện các loại khí cụ này, ông độc tấu đàn kìm những bài Trăng Thu Dạ Khúc, Phụng Hoàng và ca những bài ca cổ rất mùi … Chữ “Tài tử” ở đây không có nghĩa là “không chuyên nghiệp” vì trong số đờn ca tài tử có những người tài nghệ là những bực thầy, họ chơi rất bài bản, những ngón đờn điêu luyện những chữ trong bài ca nhấn độc đáo, tuyệt vời. Trong những sinh hoạt văn hóa của người Pháp ở Paris thỉnh thoảng nhạc sĩ Michel Mỹ được mời diễn thuyết về đề tài Đông Dương, vào những dịp đó ông thường giới thiệu nhạc dân tộc Việt Nam cho công chúng Pháp thưởng thức. Ông vừa đàn vừa hát những bài Tứ Đại Óan, Dạ Cổ Hoài Lang tiếng hát quyện tiếng đàn khoan nhặt trầm bổng nghe tha thiết buồn bã, thoáng như cả một tkhung trời quê hương miền Nam được hòa vào âm nhạc, và chắc hẳn trong số ít khách ngườiViệt được mời tham dự buổi sinh hoạt hôm ấy tâm hồn không khỏi bùi ngùi nhớ quê hương ! Ở Paris thuở ấy còn một người đờn ca tài tử khác nữa là nhạc sĩ Trần Văn Khê, tác giả ca khúc tiền chiến : Chơi Chùa Hương phổ thơ củaNguyễn Nhược Pháp năm xưa. Khi sang Pháp du học ông đã sử dụng điêu luyện một số nhạc cụ dân tộc. Trong đại học Sorbonne Paris và nhiều nơi khác giáo sư Trần Văn Khê trong diễn thuyết cũng vừa đàn vừa hát cho sinh viên và công chúng người Pháp. Nhờ sự nghiên cứu tìm tòi một cách hàn lâm của ông đã góp phần quảng bá nhạc dân tộc Việt Nam với nhiều nước trên thế giới, và ông đã đi nhiều nước biểu diễn cho công chúng nhiều dân tộc khác nhau thưởng thức.Ở xứ người giữ được truyền thống của dân tộc là điều cần thiết vì nó là tinh thần, chỗ dựa để người Việt tự tin về mình có một nền văn hóa lâu đời trước người bản xứ và các dân tộc khác. Nó cũng là chất keo giữ được tình đồng của khối người Việt. Do đó việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc là bổn phận của mỗi người dân Việt. Ở Paris nếu kể đến những người tích cực phổ biến nhạc cổ truyền dân tộc cho công chúng Pháp và công chúng nhiều nước trên thế giới thì cặp nghệ sĩ Bạch Yến Trần Quang Hải là hăng say nhất. Anh chị đã trình diễn hơn 3500 buổi nhạc cổ truyền tại 70 quốc gia trên thế giới từ hơn 40 năm. Nhạc sĩ Trần Quang Hải đã có hơn 10 đĩa hát đàn tranh do anh trình diễn. Đĩa hát đầu tiên xuất bản năm 1971 tại Paris với nhan đề “Đàn tranh: cithare vietnamienne par Trần Quang Hải” do hãng Le chant du monde phát hành tại Paris. Đó là dĩa hát với 6 trang viết về lịch sử đàn tranh , đối chiếu đàn tranh Việt với các loại đàn tranh của Nhựt, Trung Quốc và Hàn quốc. Về sáng tác giáo sư Trần Quang Hải có nhiều loại khác nhau từ nhạc đàn tranh đến tân nhạc, nhạc điện thanh (musique electro acoustique).
Giáo sư Trần Quang Hải và nữ nghệ sĩ Bạch Yến là nghệ sĩ ViệtNam duy nhứt được giải thưởng của Academie du disque Charles Cros của Pháp vào năm 1983. Nhạc sĩ Trần Quang Hải là nghệ sĩ Việt nam duy nhứt được gần huy chương Legion d’Honneur của Pháp vào năm 2002.
Sau biến cố năm 1975 nhiều văn nghệ sĩ bỏ nước ra đi trong số đó có những nghệ sĩ cải lương đã từng vang bóng một thời trên sân khấu Miền Nam năm xưa, họ đã đến định cư ở Paris :
Nữ nghệ sĩ Kim Chung, nữ nghệ sĩ Bích Thuận, nữ nghệ sĩ Mộng Tuyền, nữ nghệ sĩ Tài Lương, nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân, nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Liên, nữ nghệ sĩ Hương Lan, nữ nghệ sĩ Kiều Lệ Mai, nữ nghệ sĩ Bạch Lê, nữ nghệ sĩ Thanh Bạch, nữ nghệ sĩ Kim Chính, nghệ sĩ Thy Mai…
Những nghệ sĩ, từng ca vọng cổ trên sân khấu ở Paris :Nữ nghệ sĩ Mỹ Hòa, nữ nghệ sĩ Kim Hoa, nữ nghệ sĩ Kim Anh, nữ nghệ sĩ Ngọc Xuân, nữ nghệ sĩ Hải Yến, nữ nghệ sĩ Trúc Tiên..Riêng Mỹ Hòa trước năm1975 ở Sài Gòn là ca sĩ trong ban tam ca : Ba Con Mèo, và từng đóng một số phim. Ngọc Xuân là ca sĩ, Hải Yến là giáo sư tiến sĩ.
Những nam Nghệ sĩ Cải Lương đã từng vang bóng một thời trên sân khấu Miền Nam năm xưa đến định cư ở Paris :
nghệ sĩ Hữu Phước,nghệ sĩ Thành Được, nghệ sĩ Phương Thanh, nghệ sĩ Dũng Thanh Lâm, nghệ sĩ Hoàng Long, nghệ sĩ Thanh Bạch, nghệ sĩ Chí Tâm, nghệ sĩ Minh Đức, nghệ sĩ Hoàng Minh Phương, nghệ sĩ Hùng Yến, nghệ sĩ Tòng Hiếu.
Những nghệ sĩ, từng ca vọng cổ trên sân khấu ở Parisbác sĩ Lai, nghệ sĩ Lý Kim Thành, nghệ sĩ Dương Kỵ…
Những Soạn giả : soạn giả Tây Giang Tử, soạn giả Trần Trung Quân.Dàn Kìm :Nhạc sĩ Michel Mỹ, giáo sư Nguyễn Xuân Phong
Đàn Vọng Cổ : Nhạc sĩ Minh Đức, nhạc sĩ Mai Thanh Hùng, nhạc sĩ Văn Được, nhạc sĩ Văn Trực..Đàn Bầu : nhạc sĩ Xuân Lôi, nhạc sĩ Đoàn Văn Linh, nhạc sĩ Trọng Lễ.
Đàn Tranh : Giáo sư Trần Văn Khê, giáo sư Phương Oanh , giáo sư Quỳnh Hạnh, giáo sư Nguyễn Thanh Vân, giáo sư Hồ Thụy Trang, giáo sư Trần Quang Hải, bác sĩ Thu Thảo.
Hide original message
Nếu trong giới đờn ca tài tử ở quê nhà họ gặp nhau trong những buổi hòa nhạc đờn hát để thưởng thức tài nghệ chớ không phải để kiếm tiền mưu sống, thhì những nghệ sĩ cải lương ở Paris vì yêu nghề họ đã bỏ tiền, bỏ thì giờ để tập dượt tuồng cải lương cố xây dựng một sân khấu nghệ thuật phục vụ người đồng hương nhằm bảo tồn văn hóa dân tộc nhưng ước nguyện đó không thành ! Kể từ sau năm 1975 đến nay người Việt dù sinh sống ở khắp nơi hải ngoại nhưng vẫn giữ được một số truyền thống dân tộc, những thế hệ sau vẫn tiếp tục học tiếng Việt và nói tiếng Việt. Những thế hệ sinh ở Pháp hoặc qua Pháp lúc còn bé nếu nói được Tiếng Việt thì đã qúy, hát được tiếng Việt và trình diễn cho những người đồng hương thưởng thức thì càng qúy hơn. Đó là công việc góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc nơi xứ người mà Học giả Phạm Quỳnh ngày trước đã nói : «Truyện Kiều còn thì Tiếng Ta còn, Tiếng Ta còn thì Nước Ta còn ».Nghệ sĩ Trúc Tiên thuộc thế hệ tiếp nối qua Pháp tuổi còn quá nhỏ nên ngôn ngữ chính sử dụng hàng ngày trong trường vẫn là Pháp ngữ. Để nói và viết được tiếng Việt thông thạo không phải là điều dễ thế mà Trúc Tiên không những nói còn nói hay nên thường được giao làm MC cho các chương trình văn nghệ đòi hỏi người dẫn chương trình ngoài tài ăn nói, kiến thức rộng còn phải biết biên soạn những đoản văn. Ngoài ra cô còn có năng khiếu hội họa, trình bày bìa sách. Trúc Tiên có giọng hát truyền cảm, chất giọng trời cho mà đờn ca tài tử gọi là giọng ca mùi. Phải chăng trong con người của Trúc Tiên đã có sẵn máu nghệ sĩ nên thích văn nghệ. Lòng đam mê văn nghệ đã thúc dục cô tìm kiếm, nghiên cứu sách tự học hát để thỏa mãn sự yêu thích của mình, nhưng chất giọng đó lại giúp cô đạt được môt số thành quả nhỏ trong lãnh vực văn nghệ trong sinh hoạt cộng đồng. Vì muốn tiến xa hơn trên con đường nghệ thuật cô đã tìm học một số thày giỏi trong ngành đờn ca tài tử để học luyện thanh. Nhờ năng khiếu văn nghệ bẩm sinh Trúc Tiên lại thấm nhuần thêm nghệ thuật từ các bậc nghệ sĩ tiền bối như nữ nghệ sĩ Bích Thuận, nữ nghẹ sĩ Kiều Lệ Mai mặc dù không phải là học trò, các nghệ sĩ tài danh này thường hay đến sân khấu của giáo xứ Việt Nam Paris trình diễn vào những Ngày Văn Hóa và dịp Tết nguyên Đán. Những câu hát trầm bổng, luyến láy, nhấn chữ, hay lối diễn xuất từ điệu bộ cách đưa tay lên, hạ tay xuống trong khi hát, đến những chi tiết rung vai, lắc đầu, xê dịch, đổi bước chân…của các bậc nghệ sĩ tiền bối đã được thu vào đôi mắt của cô bé Trúc Tiên. Những hình ảnh đó đã nhập tâm cô bé Trúc Tiên từ bao giờ, nên đến khi Trúc Tiên bước ra sân khấu trình diễn cách ra bộ rất tài tình đầy sáng tạo, có những lúc xuất thần như một nghệ sỹ lâu năm trên sân khấu màn nhung. Nghệ sĩ Trúc Tiên đã phát hành 2 CD nhạc cổ. CD đầu phát hành 2017 mang tên : Trúc Tiên Đàn Ca Tài Tử, gồm 10 bài ca qua các thể điệu : Song Ngâm, Phụng Cầu, Đại Oán, Xàng Xê, Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo Song Cước, Ngũ Đối Hạ. Tiếp theo năm 2018 Trức Tiên cho phát hành CD Trúc Tiên Đàn Ca Tài Tử có tựa là Thương gồn những bài ca :
Dạ Cổ Hoài Lang, Hòn Vọng Phu, Trọng Thủy Mỵ Châu, Điệu Buồn Phương Nam, Khúc Biệt Ly, Thiếu Phụ Nam Xương, Cung Đàn Nước Mắt, Tiếng Sáo Đêm Trăng, Tình Nghĩa Vợ chồng.
Đầu tháng 6 năm 2019 Trúc Tiên và các bạn nghệ sĩ cùng thế hệ đã cho trình diễn trên sân khấu Raspail Paris màn :Nhạc Kịch Đàn Ca Tài Tử LỤC VÂN TIÊN
Đây là vở nhạc kịch đàn ca tài tử mà nhiều năm qua Trúc Tiên vẫn miệt mài bỏ công sức góp nhặt, biên soạn. «Truyện Lục Vân Tiên là một tác phẩm truyện thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, được sáng tác theo thể lục bát vào đầu những năm 50 của thế kỷ 19 và được Trương Vĩnh Ký cho xuất bản lần đầu tiên vào năm 1889. Đó là một trong những sáng tác có vị trí cao của văn học miền Nam Việt Nam. Tác phẩm được dịch giả Abel des Michels chuyển ngữ sang tiếng Pháp với tên gọi Lục Vân Tiên cổ tích truyện – Histoire de Luc Van Tien năm 1899.»
Cụ Nguyễn Đình Chiều là một nhà Nho đã can đảm dám đúng lên chống thực dân Pháp. Cùng thời với những hào kiệt như Huỳnh Mẫn Đạt, Thiên Hộ Dương, NguyễnTrung Trực, Trương Công Định. Công sứ tỉnh Bến Tre nhiều lần đến nhà thuyết phục dụ dỗ cụ theo Pháp nhưng Cụ luôn luôn quyết liệt từ chối. Mặc dù bị khiếm thị nhưng ý chí vẫn kiên cường.Truyện Lục Vân Tiên là một cuốn tiểu thuyết về luân lý, đề cao tính nghĩa khí của dân Nam Bộ , xây dựng lại đạo làm người với quan niệm văn dĩ tải đạo. Tác giả muốn đem gương người xưa mà khuyên người ta về cương thường đạo nghĩa.Đỗ Bình.
-
Nhớ Đêm Mưa Saigon [Nhạc Anh Bằng, Thơ B.H.] Melanie NgaMy

-
Tuyết đông
-
tran quang hai sings jingle bells for christmas with overtone singing style.
