• Khánh Lan,  Kiều My,  PHƯƠNG HIỀN,  RA MẮT SÁCH,  Việt Hải,  Vương Trùng Dương

    GIỚI THIỆU TÁC PHẨM CHA MÃI BÊN ĐỜI CẢM CỦA NHÀ VĂN PHƯƠNG HIỀN

    (Thân tặng tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền) “Stay with me forever and ever, Papa!”

    Cha mãi bên đời, Thái Sơn cao cả

    Giúp con mạnh mẽ vượt mọi phong ba

    Tấm lòng hiếu thảo vầng trăng sáng ngà

    VINH HỒ

    Orlando, Mar. 19, 2026

    1. ĐÔI DÒNG VỀ CỐ THIẾU TÁ NGUYỄN GIA TĨNH (1931-1985):

    Người Cha trong tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!

    hồi ký của tác giả Nguyễn Thị Phương Hiền.

    Ông Nguyễn Gia Tĩnh, sinh ngày 8 tháng 5/1931, quê Hưng Yên, miền Bắc, là giáo viên, lập gia đình với Cô giáo Phạm Thị Phương Thảo cùng quê.

    Khi Phương Hiền (PH) được 1 tuổi, Cha là Thầy giáo Nguyễn Gia Tĩnh nhập ngũ thụ huấn Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (1/10/1953-1/6/954) cùng khoá với Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo (hạng 18), Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt,  Chuẩn tướng Trương Hữu Đức… – Khoá 10 có danh hiệu là Trần Bình Trọng: Nguyễn Tấn Đạt thủ khoa. -Khóa 10 Trần Bình Trọng là khóa đông nhất của 10 khóa đầu tiên của Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

    -Hiện trên mạng ở link: “Khóa 10 Flipbook – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam” có đăng danh sách 400 sĩ quan tốt nghiệp Khoá 10 Trần Bình Trọng vào ngày 1 tháng 6/1954 : Nguyễn Gia Tĩnh mang số thứ tự 359.

    *TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA ĐÀ LẠT:

    -Năm 1948, Chính phủ Quốc gia Việt Nam thành lập Trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá, Huế: có 2 khoá

    -Năm 1950: dời về Đà Lạt đổi tên thành Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt: có 14 khoá.

    -Năm 1959 Chính phủ Ngô Đình Diệm đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam cho tới 30/4/1975 : có 19 khoá

    Tổng cộng: có  35 khoá:  33 khóa đã ra trường với 6.583 sĩ quan hiện dịch (2 khóa 30 và 31 chưa ra trường). Trong số đó có 61 tướng lãnh (tại Huế 19 vị, tại Đà Lạt 42 vị).

    Năm 1954, Mẹ của Phượng Hiền đưa PH (mới 2 tuổi) từ Hưng Yên xuống Hải Phòng lên tàu há mồm di cư vào Nam, rồi lên Đà Lạt gặp chồng và cha, lúc ấy ông đang chuẩn bị Lễ tốt nghiệp Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Ông ra trường cấp bậc Thiếu uý, chọn binh chủng Biệt Động Quân khởi binh nghiệp tại Miền Tây, gia đình ở tại Sa Đéc.

    Từ Lục Tỉnh đổi về Sài Gòn, gia đình ở tại Cư xá Sĩ quan Quang Trung, ông gởi PH vào học nội trú tại Trường Dòng Thánh Mẫu, đường Lê Văn Duyệt, Sài Gòn.

    Ông rời SG, chuyển về Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang 1 năm, sau đó chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, gia đình ở tại thị trấn Ninh Hoà.

    Năm 1966 ông có nhà gần cầu Dục Mỹ.

    Năm 1969, ông chuyển lên Pleiku, trong lúc PH học Đệ Nhất C tại Trường Cường Để, Qui Nhơn.

    Năm 1973, ông làm việc tại Liên doàn IV Biệt Động Quân ở Căn cứ Long Bình thuộc Quân khu III, KBC 3264.

    Năm 1974, ông nhập viện Tổng Y Viện Cộng Hoà vì bệnh tim.

    Tháng 3/1975, ông ra Hội đồng Miễn dịch Sài Gòn chứng nhận miễn dịch vĩnh viễn với cấp độ tàn phế 60%, xếp loại 3 phế binh.

    Ngày 26/3/1975, Thiếu tá Nguyễn Gia Tĩnh, số quân 51/300 308 giải ngũ sau 22 năm phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân tính từ ngày 20/9/1953.

    Ngày 8/5/1975 ông đi tù cải tạo trên 1 chuyến xe lửa bít bùng đến trại tù Yên Bái, chuyển trại nhiều lần, trại cuối là Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Ở nhà, gia đình đã biệt vô âm tín gần 5 năm. Trong tù bệnh tim tái phát, ông đã nhiều lần chết đi sống lại, ông ra tù đầu năm 1980.

    Ông mất ngày 21 tháng Giêng năm 1985 tại Sài Gòn, hưởng dương 54 tuổi.

    Thiển nghĩ, là nam nhi, ông đã đặt Tổ quốc, danh dự và trách nhiệm lên trên tình nhà, dù đã có nghề nghiệp vững chắc, đã có vợ đẹp con ngoan, ông vẫn mạnh mẽ lên đường… Ôi chao giây phút chia tay sao mà cảm động!

    “Ai ra đi mà không từng bịn rịn

    Xa người yêu mà dễ mấy ai vui

    Em nhìn theo bằng nước mắt chia phôi

    Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ

      (Chuyện Giàn Thiên Lý – nhạc Anh Bằng)

    Trong lúc người Cha đầy khí phách anh hùng, thì người Mẹ vẫn một lòng chung thuỷ không ngại gian khổ đã bồng con di cư vào Nam để sum họp cùng chồng nơi vạn dặm. Cao đẹp thay một cuộc tình thời chinh chiến còn ghi trong tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa! hồi ký của tác giả Nguyễn Thị Phương Hiền và dịch giả Phạm Văn Bân.

    2. NGƯỜI CHA GƯƠNG MẪU VÀ CÔ CON GÁI HIẾU THẢO:

    Cố Thiếu Tá Nguyễn Gia Tĩnh, xuất thân nhà giáo, tốt nghiệp Khoá 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, suốt 22 năm phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân. Sau 1975 ông đi tù cải tạo tại miền Bắc.

    Theo tác phẩm Cha Mãi Bên Đới, ông là 1 người Cha gương mẫu, hết lòng yêu thương, chăm sóc, nuôi dạy con gái, có óc tân tiến và viễn kiến khi nghĩ đến tương lai của con, đã mời các bạn người Mỹ về nhà kèm con gái học tiếng Anh, nên thời gian ở nhà trường Trung học, Cô nữ sinh có thể giúp các Thầy Cô trong việc thông dịch khi có phái đoàn người Mỹ đến thăm trường.

    Theo bài viết Yêu Thương Còn Mãi, cô PH năm 13 tuổi (Tuổi Mộng Mơ -nhạc Phạm Duy, Tuổi Mười Ba -thơ Nguyên Sa), PH học lớp Đệ Lục trường TH Trần Bình Trọng Ninh Hoà, được Cha chở vô Nha Trang mua sách vở, ngang qua chân đèo Rọ Tượng, xa xa là Vịnh Nha Phu nơi 2 dòng sông chảy vào, “tất cả sẽ hoà lẫn vào đại dương bao la”, nhìn biển cả, ông hỏi con gái:

    -Con có thích biển, thích vượt trùng dương? Chăm học rồi lớn lên, Cha sẽ cho con đi Mỹ du học nhé!

    -Vâng con muốn lắm!

    Rồi cuộc đổi đời và biến cố thời cuộc đã không cho hai Cha con thực hiện được ước mơ đó. Thế nhưng Cô con gái đã không phụ lòng Cha: 

    1. Sau 1975 Cô PH nhiều lần du lịch đã đặt chân đến xứ sở Tự do mà Cha hằng mơ ước.

    2. Năm 2015, Cô PH bắt đầu viết cuốn hồi ký Cha Mãi Bên Đời, năm 2017 xuất bản và Ra mắt sách tại CA, Hoa Kỳ, tôi có bay qua dự.

    3. Năm 2025, Nhà văn Dịch giả Phạm Văn Bân ở CA đã bỏ ra 6 tháng giúp cô PH dịch cuốn sách Cha Mãi Bên Đời ra Anh ngữ: Stay With Me Forever And Ever, Papa! – Sách đã được:-Số kiểm soát của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ: 2025927934. Số đăng ký bản quyền Hoa Kỳ: 1-15064499201. Xuất bản và in tại Hoa Kỳ. Cô PH dự tính sẽ ra mắt sách tại CA và Florida, Hoa Kỳ.

    VH cũng nghĩ như dịch giả Phạm Văn Bân, ba việc mà Cô PH đã làm là vì tình thương và ước mơ của Papa, chắc chắn Cha cô bên kia thế giới rất vui và thoả nguyện. VH xin chúc mừng cô con gái hiếu thảo Phương Hiền đã làm được 3 điều mà không phải ai cũng có thể làm được.

    VINH HỒ, Orlando, Mar. 29, 2026

    Tham khảo:

    -Tác phẩm song ngữ Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa! – hồi ký của tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền.

    -Yêu Thương Còn Mãi, tháng 11/2025, bài viết của tác giả nhà văn Nguyễn Thị Phương Hiền. -Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt – Bách khoa toàn thư mở.

    He is the father featured in the bilingual memoir *Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!* by author Nguyễn Thị Phương Hiền.

    Mr. Nguyễn Gia Tĩnh was born on May 8, 1931, and hailed from Hưng Yên province in Northern Vietnam. He was a teacher by profession and married a fellow teacher from the same province, Ms. Phạm Thị Phương Thảo.

    When Phương Hiền (PH) was one year old, her father—then a teacher—enlisted in the military and underwent training with Class 10 of the Da Lat Joint-Service Military Academy (October 1, 1953 – June 1, 1954). His classmates included Major General Lê Minh Đảo (ranked 18th), Brigadier General Vũ Văn Giai, Brigadier General Trần Văn Nhựt, and Brigadier General Trương Hữu Đức. Class 10 bore the honorary name “Trần Bình Trọng,” with Nguyễn Tấn Đạt graduating as valedictorian. The Trần Bình Trọng Class (Class 10) was the largest of the first ten classes at the National Military Academy of Da Lat.

    – A list of the 400 officers who graduated from Class 10 (Trần Bình Trọng) on ​​June 1, 1954, is currently available online at the link “Khóa 10 Flipbook – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam” (Class 10 Flipbook – National Military Academy of Vietnam); Nguyễn Gia Tĩnh is listed at number 359.

    * THE NATIONAL MILITARY ACADEMY OF DA LAT:

    – In 1948, the Government of the State of Vietnam established the Vietnam Officers’ School at Đập Đá, Huế; it produced two classes.

    – In 1950, the school relocated to Da Lat and was renamed the Da Lat Joint-Service Military Academy; it produced fourteen classes. – In 1959, the Ngo Dinh Diem government renamed the institution the Republic of Vietnam National Military Academy; it operated until April 30, 1975, spanning 19 classes.

    – In total, there were 35 classes; 33 classes graduated, producing 6,583 career officers (Classes 30 and 31 did not graduate). Among the graduates were 61 general officers (19 from the Hue era and 42 from the Da Lat era).

    – In 1954, Phuong Hien’s mother brought her (then only two years old) from Hung Yen to Hai Phong, where they boarded a landing ship to migrate South. They then traveled to Da Lat to reunite with her father, who was preparing for the graduation ceremony of Class 10 at the Da Lat Joint Military Academy. He graduated with the rank of Second Lieutenant, chose the Ranger branch to begin his military career in the Mekong Delta (the “Six Provinces” region), and the family lived in Sa Dec.

    – After transferring from the Mekong Delta to Saigon, the family lived at the Quang Trung Officers’ Housing Complex; he enrolled Phuong Hien as a boarder at the Thanh Mau Convent School on Le Van Duyet Street, Saigon.

    – He left Saigon for a one-year assignment at the Dong De Non-Commissioned Officer School in Nha Trang, followed by a transfer to the Duc My Ranger Training Center, with the family residing in the town of Ninh Hoa.

    – In 1966, he acquired a house near the Duc My Bridge.

    – In 1969, he was transferred to Pleiku, while Phuong Hien was studying in the *Đệ Nhất C* class (final year of high school) at Cuong De School in Qui Nhon.

    – In 1973, he served with the 4th Ranger Group at Long Binh Base in Military Region III (KBC 3264).

    – In 1974, he was admitted to the Republic General Hospital due to a heart condition. In March 1975, he appeared before the Saigon Disability Board, which certified his permanent disability at a 60% level, classifying him as a Class 3 disabled veteran.

    On March 26, 1975, Major Nguyen Gia Tinh (service number 51/300 308) was discharged after 22 years of service in the Ranger Corps, a tenure that had begun on September 20, 1953.

    On May 8, 1975, he was sent to a re-education camp, traveling in a sealed train car to the Yen Bai facility; he was subsequently transferred multiple times, finally ending up at the Nam Ha camp in Ha Nam Ninh province. Back home, his family lost all contact with him for nearly five years. While imprisoned, his heart condition recurred, bringing him to the brink of death on several occasions; he was released in early 1980.

    He passed away on the 21st day of the first lunar month in 1985 in Saigon, at the age of 54.

    It is my humble view that, as a man, he placed his country, honor, and duty above his domestic life; despite having a secure career and a beautiful wife and well-mannered children, he resolutely set out to serve… How deeply moving that moment of parting must have been!

    “Who leaves without a lingering pang of sorrow?

    Few find joy in parting from a lover.

    She gazes after me through tears of farewell;

    I stride away, yet my soul weeps within.”

    (From the song *Chuyện Giàn Thiên Lý* – Music by Anh Bằng)

    While the father embodied a heroic spirit, the mother remained steadfastly devoted; undeterred by hardship, she carried her child south to reunite with her husband across the vast distance. How noble was this wartime romance—a story immortalized in the bilingual memoir *Cha Mãi Bên Đời / Stay With Me Forever And Ever, Papa!* by author Nguyễn Thị Phương Hiền and translator Phạm Văn Bân.

    2. AN EXEMPLARY FATHER AND A FILIAL DAUGHTER:

    The late Major Nguyễn Gia Tĩnh began his career as a teacher before graduating from Class 10 of the Da Lat Joint General Military Academy; he served for 22 years in the Ranger Corps (*Biệt Động Quân*). After 1975, he was sent to a re-education camp in the North.

    According to the memoir *Cha Mãi Bên Đời*, he was an exemplary father who loved, cared for, and raised his daughter wholeheartedly. Possessing a progressive and visionary mindset regarding her future, he invited American friends to their home to tutor her in English. Consequently, during her high school years, she was able to assist teachers with interpretation whenever American delegations visited the school.

    According to the article *Yêu Thương Còn Mãi* (Love Endures), when PH was thirteen—an age of dreams and youthful reverie—she was a student in the *Đệ Lục* class (equivalent to 7th grade) at Trần Bình Trọng High School in Ninh Hòa. Her father was driving her to Nha Trang to buy school supplies; as they passed the foot of Ro Tuong Pass, looking out toward the distant Nha Phu Bay—where two rivers converge and “all merge into the vast ocean”—he gazed at the sea and asked his daughter:

    “Do you love the sea? Do you like the idea of ​​crossing…” …cross the ocean? If you study hard, when you grow up, Dad will send you to the U.S. to study!

    -Yes, I’d love that!

    Then, life-altering changes and the upheavals of the times prevented father and daughter from realizing that dream. Yet, the daughter did not let her father down.

    1. QUELQUES MOTS SUR LE MAJOR NGUYEN GIA TINH (1931-1985) :

    Le père dans les mémoires bilingues « Reste avec moi pour toujours, Papa ! » de l’auteure Nguyen Thi Phuong Hien.

    Nu le 8 mai 1931 à Hung Yen, dans le nord du Vietnam, M. Nguyen Gia Tinh était un enseignant. Il avait épousé Mme Pham Thi Phuong Thao, elle aussi originaire de cette ville.

    Lorsque Phuong Hien (PH) avait un an, son père, l’instituteur Nguyen Gia Tinh, s’engagea dans l’armée et intégra la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Dalat (1er octobre 1953 – 1er juin 1954), aux côtés du major-général Le Minh Dao (18e de sa promotion), du général de brigade Vu Van Giai, du général de brigade Tran Van Nhut et du général de brigade Truong Huu Duc. La 10e promotion était baptisée Tran Binh Trong ; Nguyen Tan Dat en fut le major. La promotion Tran Binh Trong était la plus importante des dix premières promotions de l’Académie militaire nationale de Dalat.

    Actuellement, le lien en ligne « Class 10 Flipbook – Académie militaire nationale du Vietnam » recense 400 officiers diplômés de la promotion 10 Tran Binh Trong le 1er juin 1954 : Nguyen Gia Tinh y figure au numéro 359.

    *ACADÉMIE MILITAIRE NATIONALE DE DA LAT :

    En 1948, le gouvernement national vietnamien crée l’École d’officiers du Vietnam à Dap Da, Hué, avec deux promotions.

    En 1950, elle est transférée à Da Lat et rebaptisée Académie militaire conjointe de Da Lat, avec 14 promotions.

    En 1959, le gouvernement de Ngo Dinh Diem la renomme Académie militaire nationale du Vietnam, nom qu’elle conservera jusqu’au 30 avril 1975 ; elle compte alors 19 promotions.

    Au total, 35 promotions ont été formées : 33 promotions ont diplômé 6 583 officiers en service actif (les promotions 30 et 31 n’ont pas encore obtenu leur diplôme). Parmi eux, 61 généraux (19 à Hué, 42 à Da Lat).

    En 1954, la mère de Phuong Hien emmena sa fille (âgée de seulement 2 ans) de Hung Yen à Hai Phong, puis embarqua sur un navire à destination du Sud. Elle rejoignit ensuite son mari et son père à Da Lat, où ce dernier préparait la cérémonie de remise des diplômes de la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Da Lat. Il sortit diplômé avec le grade de sous-lieutenant, choisit les forces spéciales et commença sa carrière militaire dans l’Ouest. Sa famille s’installa à Sa Dec.

    Après avoir quitté le delta du Mékong pour Saïgon, sa famille vécut dans le complexe de logements pour officiers de Quang Trung. Il envoya sa femme étudier au collège du couvent de la Sainte-Mère, rue Le Van Duyet, à Saïgon.

    Il quitta ensuite Saïgon et fut muté à l’école de sous-officiers de Dong De à Nha Trang pendant un an, puis au centre d’entraînement des forces spéciales de Duc My, où sa famille résidait dans la ville de Ninh Hoa.

    En 1966, il possédait une maison près du pont Duc My.

    En 1969, il s’installa à Pleiku, tandis que son épouse poursuivait ses études en première année de primaire au collège Cuong De de Quy Nhon.

    En 1973, il travaillait au IVe régiment des forces spéciales, à la base de Long Binh, dans la région militaire III (KBC 3264).

    En 1974, il fut hospitalisé à l’hôpital général de la République pour une maladie cardiaque.

    En mars 1975, le Conseil d’immunisation de Saïgon lui certifia une immunité permanente, assortie d’un taux d’invalidité de 60 %, le classant comme ancien combattant handicapé de catégorie 3.

    Le 26 mars 1975, le major Nguyen Gia Tinh, matricule 51/300 308, fut démobilisé après 22 ans de service au sein des Forces spéciales, débuté le 20 septembre 1953.

    Le 8 mai 1975, il fut transféré dans un camp de rééducation par train fermé à destination de la prison de Yen Bai, où il subit plusieurs transferts, son dernier lieu de détention étant le camp de Nam Ha, dans la province de Ha Nam Ninh. Sa famille fut sans nouvelles de lui pendant près de cinq ans. Durant son incarcération, son état cardiaque se détériora et il frôla la mort à plusieurs reprises. Il fut libéré début 1980.

    Il décéda le 21 janvier 1985 à Saïgon, à l’âge de 54 ans.

    À mon avis, en tant qu’homme, il plaçait son pays, son honneur et son sens des responsabilités au-dessus des liens familiaux. Malgré une carrière stable, une épouse magnifique et des enfants obéissants, il a courageusement entrepris son voyage… Quel moment d’adieu poignant !

    Qui part sans éprouver un pincement au cœur ?

    Il est difficile d’être heureux loin de l’être aimé.

    Elle m’a regardé partir, les larmes aux yeux.

    J’ai continué mon chemin, le cœur lourd.

    (L’Histoire de la vigne de chèvrefeuille – musique d’Anh Bang)

    Tandis que le père était animé d’un courage héroïque, la mère, imperturbable face à l’adversité, portait son enfant et a migré vers le sud pour retrouver son mari au loin. Quelle belle histoire d’amour en temps de guerre ! Elle est racontée dans l’ouvrage bilingue *Reste avec moi pour toujours, papa !*, un récit autobiographique de l’auteure Nguyen Thi Phuong Hien et du traducteur Pham Van Ban.

    2. LE PÈRE EXEMPLAIRE ET SA FILLE FIDÈLE :

    Le regretté major Nguyen Gia Tinh, ancien enseignant, est sorti diplômé de la 10e promotion de l’Académie militaire conjointe de Dalat et a servi dans les forces spéciales pendant 22 ans. Après 1975, il a été emprisonné. dans un camp de rééducation du Nord.

    Selon l’ouvrage *Reste avec moi pour toujours*, il était un père exemplaire, aimant et attentionné envers sa fille, et l’élevant avec dévouement. Il avait une vision progressiste et novatrice de son avenir. Il invitait des amis américains chez lui pour lui donner des cours d’anglais, ce qui lui permettait, au lycée, d’aider ses professeurs en traduisant lors des visites de délégations américaines.

    Selon l’article « L’amour dure toujours », à l’âge de 13 ans (Dreamy Age – musique de Pham Duy, Thirteen Years Old – poème de Nguyen Sa), PH, élève de sixième au lycée Tran Binh Trong de Ninh Hoa, fut emmenée par son père à Nha Trang pour acheter des livres et des fournitures scolaires. Passant au pied du col de Ro Tuong, ils aperçurent au loin la baie de Nha Phu, où deux rivières se jettent dans l’océan. Contemplant la mer, il demanda à son… Fille :

    « Aimes-tu la mer ? Aimes-tu traverser l’océan ? Travaille bien à l’école et, quand tu seras grande, je te laisserai partir étudier en Amérique ! »

    « Oui, je veux bien ! »

    Puis, les aléas de la vie et les vicissitudes de l’époque ont empêché le père et la fille de réaliser ce rêve. Mais la fille n’a pas déçu son père.

    HỒI KÝ CHA MÃI BÊN ĐỜI.

    Sau đây là hai bài đóng góp của tác giả điểm sách dược ghi nhận như sau:

    •       Bài của Nhà văn Lưu Khánh Lan

    NHẬN XÉT VỀ VĂN CHƯƠNG VÀ ĐỜI SỐNG TRONG TÁC PHẨM CHA VẪN BÊN ĐỜI

    CHA VẪN BÊN ĐỜI là những yếu tố khắng khít giữa tình mẫu tử, là vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là bản ngã con người. Có thể nói đây là tác phẩm bút ký ghi lại tình yêu thương thiêng liêng của con người trong cuộc sống. Tình yêu trong trường hợp của tác giả Phương Hiền là bà đã dùng đối tượng ghi nhận là người cha kính yêu mà bà nhớ về chặng đường đời được người cha dìu dắt, yêu thương, là hành trang quý báu để bà bước vào đời.

    Cũng trong tác phẩm hồi ký (hồi ức) này, tác giả xóay cảm nghĩ của mình về những bước thăng trầm của quê hương, của đất nước lẫn sự nhạy cảm của bà đối với những biến chuyển phức tạp của đời sống xã hội trong giai đoạn chiến tranh, cũng như ý thức được hướng đi của mình trong tương lai.

    Nội dung sách nêu lên những đổi thay của đất nước, những chao đảo trong cuộc sống với nhiều diễn biến xảy ra bất ngờ. Những nhân vật trong tác phẩm đã chi phối sự suy tư và nỗi trăn trở của tác giả khi nghĩ đến gia đình, bạn bè, trường học… Tác giả cũng tự vận động sức mạnh bản thân để giúp mình vươn lên trong cuộc sống và thành công trong đường đời. Khiến người đọc cảm nhận được một lối viết, một thể loại văn chương trung thực, chân phương qua tác phẩm hồi ký này.

    Nghệ thuật văn chương hay mỗi tác phẩm nghệ thuật là một cái nhìn về sự trường tồn qua thời gian và góc nhìn vào thực tại. Cái vĩnh cửu đang nhìn qua cái bất biến của sự thực. Tác giả Phương Hiền đã không nên nhìn sự kiện đời sống xảy ra một cách đơn giản, bà đã nhìn thấu rõ bản thể của vấn đề qua lăng kính rộng lớn, bà đã phân tích, đào sâu bản sắc cuộc sống, tư duy bản chất con người vào các chuỗi sự kiện sâu thẵm theo thời gian, lịch sử đã xảy ra.

    Chúc mừng NV Phương Hiền ra tác  phẩm,

    Khánh Lan, California 2026.

    —————————————————————————-

    •       Bài của Nhà văn Kiều My

    Những cảm nghĩ về sách HỒI KÝ CHA MÃI BÊN ĐỜI

    Kiều My xin được góp phần cảm nghĩ của mình cho quyển hồi ký Cha Mãi Bên Đời của nhà văn Phương Hiền.

    Đây là một tác phẩm mang đậm tình người và chan chứa yêu thương của tình phụ tử vượt lên trên mọi giới hạn của thời gian.Tác giả đã đưa chúng ta trở về những năm tháng chiến tranh đầy biến động của Việt Nam. Trong hoàn cảnh ấy, một cô bé lớn lên bên người cha quân nhân, theo chân cha qua nhiều vùng đất khác nhau, nơi đơn vị của cha đóng quân. Những ngày tháng gian khó ấy đã tạo nên một tình cảm gắn bó đặc biệt giữa cha và con.

    Người cha trong hồi ký hiện lên không phải như một anh hùng trên chiến trường, mà trước hết là một người cha tận tụy, yêu thương con bằng tất cả tấm lòng. Những bài học về nhân cách, lòng can đảm, sự hy sinh và trách nhiệm đã được truyền lại cho con không chỉ bằng lời nói mà bằng chính cuộc đời của ông.

    Khi người cha ra đi vì căn bệnh tim, nỗi mất mát ấy đã để lại khoảng trống không gì bù đắp được trong lòng người con gái…đó chính là tác giả Phương Hiền. Nhưng điều kỳ diệu là tình yêu thương không hề mất đi theo năm tháng. Trái lại, nó trở thành nguồn ký ức thiêng liêng, trở thành ngọn lửa âm thầm sưởi ấm cuộc đời người ở lại.

    “”Cha mất vì trái tim ngừng đập. Nhưng tình thương của cha thì chưa bao giờ ngừng sống.”

    Từng trang sách là từng giọt nước mắt nhớ thương, từng kỷ niệm được nâng niu như những báu vật của tâm hồn. Người đọc có thể bắt gặp trong đó hình ảnh của chính mình, của cha mình, hay của những người thân yêu đã từng hiện diện trong cuộc đời… nhưng nay chỉ còn trong ký ức.

    Điều làm nên giá trị đặc biệt của Cha Mãi Bên Đời… chính là sự chân thật. Tác giả không tô vẽ hay cường điệu cảm xúc. Bằng giọng văn giản dị và chân thành, tác giả đã kể lại câu chuyện đời mình như một lời tâm sự, để từ đó… chạm đến trái tim của người đọc.

    Cha Mãi Bên Đời  nhắc nhở chúng ta rằng: Cha mẹ có thể rời xa cõi đời này, nhưng tình yêu của cha mẹ sẽ sống mãi trong trái tim con cái. Những người thân yêu không thật sự mất đi… khi họ còn được nhớ đến bằng tình thương và lòng biết ơn.

    Trong cuộc sống bận rộn hôm nay, đôi khi chúng ta quên nói lời yêu thương với cha mẹ, quên dành thời gian cho những người thân đang còn bên cạnh. Vì thế, Cha Mãi Bên Đời không chỉ là một cuốn hồi ký để đọc, mà còn… là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng về đạo hiếu và tình thân gia đình.

    Và cuốn hồi ký “Cha Mãi Bên Đời” mà chúng ta cùng tìm hiểu hôm nay chính là minh chứng đẹp đẽ cho điều ấy.

    Khi gấp lại những trang cuối của cuốn hồi ký này, chúng ta nhận ra rằng tác giả không chỉ viết về một người cha đã khuất, mà đang viết về tình yêu. Một tình yêu không bị thời gian làm phai nhạt. Một tình yêu không bị sự chết chia lìa.

    Có lẽ đó cũng là ý nghĩa đẹp nhất của nhan đề “Cha Mãi Bên Đời”.

    Bởi có những người tuy đã đi xa, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời chúng ta.

    Có những người cha đã rời xa nhân thế, nhưng chưa bao giờ rời khỏi cuộc đời con cái.

    Xin cảm ơn tác giả đã trao tặng cho chúng ta món quà tinh thần quý giá này.

    Xin chúc nhà văn Phương Hiền tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm giá trị, và mong rằng cuốn hồi ký Cha Mãi Bên Đời sẽ được độc giả khắp nơi đón nhận nồng nhiệt, để những thông điệp đẹp đẽ về tình phụ tử tiếp tục được lan tỏa.

    Trân trọng

    Kiều My.

    ————————————————————————-

    •       By Writer Lưu Khánh Lan

    The following are two contributions from the book reviewer:

    REFLECTIONS ON THE LITERATURE AND LIFE IN THE WORK *CHA VẪN BÊN ĐỜI* (Father Remains by My Side)

    *Cha Vẫn Bên Đời* embodies the intimate bonds of family love—specifically the paternal bond—forming concentric circles with the human self at the very center. It is, in essence, a memoir chronicling the sacred nature of human love. For author Phương Hiền, this love centers on her beloved father; she reflects on the journey of life where his guidance and affection served as the invaluable foundation for her own path into the world.

    In this memoir, the author also explores her thoughts on the nation’s turbulent history and the complex social shifts during wartime, while simultaneously gaining clarity regarding her own future direction. The book depicts the country’s transformations and the upheavals of life, marked by unexpected turns of events. The figures within the work shape the author’s reflections and deep concerns regarding family, friends, and school. Furthermore, the author draws upon her inner strength to rise above challenges and succeed in life. Through this memoir, readers perceive a writing style and literary genre that are honest and unpretentious.

    Literary art—and indeed any work of art—offers a perspective on endurance through time and a view of reality. It is the eternal gazing through the immutable nature of truth. Author Phương Hiền does not view life’s events superficially; rather, she perceives the true essence of matters through a broad lens. She analyzes and delves into the nature of life and the human spirit, examining a series of profound events that have unfolded across time and history.

    Congratulations to writer Phương Hiền on the release of her work,

    Khánh Lan, California 2026.

    —————————————————————————-

    •       By Writer Kiều My

    Reflections on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side)

    I would like to share my thoughts on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* by writer Phương Hiền.

    This is a work deeply imbued with humanity and the overflowing love of a father-daughter bond that transcends the limits of time. The author transports us back to the turbulent years of the war in Vietnam. Amidst those circumstances, a young girl grew up alongside her soldier father, following him to the various regions where his unit was stationed. Those arduous days forged a special, enduring bond between father and child.

    In the memoir, the father does not appear merely as a battlefield hero, but first and foremost as a devoted father who loved his child with all his heart. Lessons regarding character, courage, sacrifice, and responsibility were passed down to his daughter not only through words but through the example of his own life.

    When her father passed away due to heart disease, the loss left an irreplaceable void in the heart of his daughter—the author, Phương Hiền. Yet, miraculously, that love did not fade with the passing years. On the contrary, it became a source of sacred memories—a quiet flame warming the life of the one left behind.

    “Father passed away when his heart stopped beating.” “Yet, a father’s love never ceases to live on.”

    Each page holds tears of longing and memories cherished like treasures of the soul. Readers may catch glimpses of themselves, their own fathers, or loved ones who once graced their lives—yet now exist only in memory.

    What gives *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side) its special value is its authenticity. The author neither embellishes nor exaggerates emotions. Through a simple, sincere narrative style, the author shares their life story as a heartfelt confidence, thereby touching the reader’s heart.

    *Cha Mãi Bên Đời* reminds us that while parents may depart this world, their love lives on forever in the hearts of their children. Loved ones are never truly gone as long as they are remembered with affection and gratitude.

    In today’s busy world, we sometimes forget to express our love to our parents or neglect to spend time with the loved ones still by our side. Thus, *Cha Mãi Bên Đời* is not merely a memoir to be read; it is a gentle reminder of filial piety and the bonds of family.

    The memoir *Cha Mãi Bên Đời*, which we explore today, stands as a beautiful testament to this truth.

    As we close the final pages of this memoir, we realize that the author is writing not just about a departed father, but about love—a love undimmed by the passage of time and unbroken by death.

    Perhaps this is the most beautiful meaning behind the title *Cha Mãi Bên Đời*.

    For there are those who, though they have departed, never truly leave our lives.

    There are fathers who have left this world, yet never leave the lives of their children.

    Thank you to the author for gifting us this precious work.

    I wish writer Phuong Hien continued success in creating valuable works, and I hope that the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Father Forever by My Side) receives a warm reception from readers everywhere, allowing its beautiful messages about the father-child bond to spread far and wide.

    Sincerely,

    Kieu My.

    ——————————————————————————

    • Article de Luu Khanh Lan

    Voici deux contributions d’auteurs à la critique littéraire, comme indiqué :

    COMMENTAIRES SUR LA LITTÉRATURE ET LA VIE DANS L’ŒUVRE « PÈRE EST TOUJOURS LÀ »

    « PÈRE EST TOUJOURS LÀ » met en lumière le lien étroit entre l’amour maternel et l’identité humaine, un cercle concentrique centré sur l’ego. On peut dire qu’il s’agit d’un récit autobiographique témoignant de l’amour sacré qui unit les êtres humains. Pour l’auteure, Phuong Hien, l’objet de sa réflexion est son père bien-aimé, dont elle se souvient tout au long de son parcours de vie, guidée et aimée par lui, un précieux soutien à l’aube de l’âge adulte.

    Dans ce récit, l’auteure évoque les hauts et les bas de sa patrie et de son pays, ainsi que sa sensibilité aux bouleversements sociaux complexes survenus pendant la guerre et sa conscience de son avenir.

    Le livre met en évidence les transformations du pays et les bouleversements de la vie, ponctués de nombreux événements inattendus. Les personnages de l’œuvre ont influencé les pensées et les angoisses de l’auteure, qui s’est penchée sur sa famille, ses amis, son école, etc. Elle a également puisé dans ses propres ressources pour s’élever socialement et réussir. Le lecteur perçoit ainsi, à travers ce récit autobiographique, un style d’écriture et un genre littéraire d’une grande honnêteté et d’une grande simplicité.

    L’art littéraire, ou toute œuvre d’art, est une perspective sur la pérennité du temps et un point de vue sur la réalité. L’éternel se révèle à travers l’immuabilité du réel. Phuong Hien n’a pas appréhendé les événements de la vie de manière superficielle ; elle en a saisi l’essence avec une perspective globale. Elle a analysé et exploré l’identité de la vie et la nature fondamentale de la pensée humaine au sein du profond enchaînement des événements qui ont marqué le temps et l’histoire.

    Félicitations à l’auteure Phuong Hien pour la parution de son ouvrage,

    Khanh Lan, Californie 2026.

    —————————————————————————-

    • Article de l’écrivaine Kieu My

    Réflexions sur le livre *MÉMOIRES D’UN PÈRE QUI SERA TOUJOURS À MES CÔTÉS*

    Kieu My souhaite partager ses réflexions sur les mémoires de Phuong Hien, *Un père qui sera toujours à mes côtés*.

    Ce livre, empreint d’une grande humanité et débordant de l’amour d’un père pour sa fille, transcende le temps. L’auteure nous replonge dans les années tumultueuses de la guerre du Vietnam. Dans ce contexte, une jeune fille grandit aux côtés de son père militaire, le suivant dans les différentes régions où son unité était stationnée. Ces moments difficiles ont forgé un lien unique entre le père et la fille.

    Le père, dans ces mémoires, n’est pas présenté comme un héros de guerre, mais avant tout comme un père dévoué qui aimait sa fille de tout son cœur. Des leçons de caractère, de courage, de sacrifice et de responsabilité ont été transmises à sa fille non seulement par ses paroles, mais aussi par son propre exemple.

    Lorsque son père est décédé d’une maladie cardiaque, la perte a laissé un vide irremplaçable dans le cœur de sa fille… c’est-à-dire, de l’auteure, Phuong Hien. Mais miraculeusement, l’amour n’a pas faibli avec le temps. Au contraire, il est devenu un souvenir précieux, une flamme silencieuse qui réchauffe la vie de ceux qui restent.

    « Papa est mort parce que son cœur a cessé de battre. » Mais l’amour d’un père ne s’éteint jamais.

    Chaque page est une larme de nostalgie, chaque souvenir chéri comme un trésor de l’âme. Les lecteurs y reconnaîtront peut-être leur propre image, celle de leur père ou d’êtres chers qui ont jadis fait partie de leur vie… et qui ne subsistent plus que dans leurs souvenirs.

    Ce qui rend « Papa sera toujours avec toi » si particulier, c’est son authenticité. L’auteure ne cherche ni à embellir ni à exagérer les émotions. Avec un style d’écriture simple et sincère, l’auteur relate son histoire comme une confession à cœur ouvert, touchant ainsi le cœur des lecteurs.

    « Père sera toujours avec toi » nous rappelle que : si les parents quittent ce monde, leur amour demeure à jamais dans le cœur de leurs enfants. Les êtres chers ne disparaissent jamais vraiment… tant qu’on se souvient d’eux avec amour et gratitude.

    Dans le tourbillon de la vie moderne, il nous arrive d’oublier d’exprimer notre amour à nos parents, d’oublier de passer du temps avec ceux qui sont encore à nos côtés. C’est pourquoi « Père, tu es toujours là » n’est pas seulement un récit autobiographique, mais aussi un doux rappel de la piété filiale et de l’amour familial.

    Et ce récit, que nous explorons aujourd’hui, en est un magnifique témoignage.

    En refermant ce livre, nous comprenons que l’auteur n’écrit pas seulement sur un père disparu, mais sur l’amour. Un amour que le temps ne s’altère pas. Un amour que la mort ne peut séparer.

    C’est peut-être là le plus beau sens du titre « Père, tu es toujours là ».

    Car il y a des personnes qui, bien que disparues, restent à jamais présentes dans nos vies.

    Il y a des pères qui ont quitté ce monde, mais qui demeurent à jamais dans le cœur de leurs enfants.

    Merci à l’auteure pour ce précieux cadeau spirituel.

    Nous souhaitons à Phuong Hien beaucoup de succès dans la création de nombreuses œuvres de valeur et espérons que son récit autobiographique « Père toujours à mes côtés » sera chaleureusement accueilli par les lecteurs du monde entier, afin que le beau message de l’amour paternel continue de rayonner.

    Sincèrement,

    Kieu My.

    Đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền

    Vương Trùng Dương: Đọc hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền

    (Sáng Thứ Ba 23/6 đang xem World Cup ở cà phê Gypsy, nhà văn Huy Anh mang cuốn Cha Mãi Bên Đời tặng nên đáp lễ, viết những dòng về tác phẩm nầy)

    *

    Trong mười tám năm qua, trong vai trò Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa, tôi đã đọc nhiều tác phẩm, bài viết và đăng tải trên tờ báo liên quan đến cuộc đời người con khi mất nước, cha vào chốn lao tù, vợ con sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã bên lề xã hội.

    Những hình ảnh bi thương, cảm động khi vật lộn với cuộc sống, bị đày vùng kinh tế mới, lặn lội thăm nuôi, vượt biên và khi được sống ở hải ngoại.

    Hồi ký Cha Mãi Bên Đời của Nguyễn Thị Phương Hiền là một trong những tác phẩm tiêu biểu trong hoàn cảnh đó, ấn hành năm 2017, và chín năm sau dịch sang Anh ngữ  Stay With Me Forever And Ever, Papa! Sẽ ra mắt tác phẩm vào thượng tuần tháng Bảy năm 2026 tại Little Saigon.

    Tuy thuộc thế hệ thứ hai (hậu duệ) trong QLVNCH nhưng Phương Hiền đã bước sang tuổi thất thập. Vì vậy tác phẩm nầy có thể dành cho người người Mỹ và thế hệ thứ hai cảm nhận tấm lòng của người con với thân phụ đã dấn thân trong thời chinh chiến, bị tù đày và không may đã ra người thiên cổ.

    Hồi ký gồm 20 phần: Hành Trình Đầu Tiên, Từ Lục Tỉnh Lên Sài Gòn, Người Bạn Nhỏ, Ninh Hòa Yêu Dấu, Đêm Trăng Miền Thơ Ấu, Trường Trung Học Trần Bình Trọng Ninh Hòa – Khánh Hòa, Những Bài Học Đầu Tiên, Ước Vọng Của Người Cha, Ký Ức Đẹp Mãi Không Phai, Quà Mùa Xuân Tặng Cha, Từ Ninh Hòa Đến Dục Mỹ, Từ Giã Ninh Hòa, Quy Nhơn, Mùa Xuân Pleiku, Vật Đổi Sao Dời, Ra Đi Mãi Mãi, Đồng Đội Của Cha Tôi, Dấu Ấn Của Những Người Cha, Kỷ Vật Một Thời, Cha Mãi Bên Đời…

    Với nội dung trên, Phương Hiền đã gói ghém và trang trải bối cảnh và cuộc sống từ ngày di cư vào Nam năm 1954, hai thập niên trong hoàn cảnh chiến tranh, sau ngày mất nước và thời gian vật đổi sao dời!.

    Trong Lời Ngỏ, Phương Hiền viết: “Với tôi, những kỷ niệm về cha không phải chỉ là quá khứ, mà còn tiếp diễn trong hiện tại, sống động và đẹp đẽ, đã thôi thúc tôi cầm bút – như giờ đây: cha tôi đã mỉm cười bao dung nghe tôi kể chuyện về người…

    Tôi là đứa con của tình yêu – tôi biết vì đã… lén đọc nhật ký thư từ của hai người trao nhau lúc… chưa có tôi”.

    Khi đề cập đến Ninh Hòa, với tôi có nhiều kỷ niệm, đầu năm 1971 tôi đổi về phục vụ ở Đại Đội CTCT (thuộc Tiểu Đoàn 20 CTCT ở Pleiku) thường ra công tác ở Ninh Hòa, gặp cô giáo và trở thành bạn đời cho đến nay. Những người bạn đã dạy nơi mái trường Phương Hiền theo học ở Trường Trung Học Trần Bình Trọng và Trường Trung Học Quy Nhơn… Với Ninh Hòa, Quy Nhơn, Pleiku đã gắn liền thời gian với tôi trong thời binh nghiệp nên khi đọc những dòng chữ của Phương Hiền trước kia phổ biến trên website ninh-hoa.com, tôi liên tưởng đến thời quá vãng.

    Về tiểu sử đã đề cập khái quát, Phương Hiền sinh ở Hưng Yên. Thân phụ là Nguyễn Gia Tĩnh, xuất thân Khóa 10 Trần Bình Trọng, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (1953-1954) vì vậy sau hiệp định Genève chia cắt đất nước, đơn vị di chuyển vào Nam. Chiến hữu Nguyễn Gia Tĩnh trong đơn vị tác chiến binh chủng Biệt Động Quân), nhận nhiều nhiệm sở trên 4 vùng chiến thuật của Việt Nam Cộng Hòa. Vì vậy mỗi nhiệm sở đem gia đình theo. Chính vì thế, cô con gái Phương Hiền đã theo cha di chuyển nhiều nơi, nhất là quãng thời gian ở Vùng 2 Chiến Thuật.

    Trong phần 16 Ra Đi Mãi Mãi, Phương Hiền viết: “Cha tôi bặt tin suốt thơi gian tù gần 5 năm. Sau nầy nghe cha kể lại, chúng tôi mới biết ông đã đi chuyến xe lửa bịt bùng lên mạn Yên Bái, chuyển trại nhiều lần, nơi cuối cùng là trại Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam.

    Nơi tù đày, cha tôi đã nhiều lần chết đi sống lại, vì bệnh tim quá nặng, hay vì những cảnh ngộ là trái tim ông đau đớn?!…”

    Sau khi ra tù “Sức khỏe cha tôi ngày càng kém. Trái tim của ông làm sao có thể hồi phục trong cảnh đời dâu bể! Một ngày cuối năm, cha tôi rời bỏ tôi, ra đi mãi mãi. Ông mất ngày 22 tháng Chạp năm Ất Sửu (21 tháng Giêng 1985), khi mới 54 tuổi”.

    Thật đáng tiếc, nếu sức khỏe của niên trưởng Nguyễn Gia Tĩnh được chữa trị và cầm cự được thời gian thì có cơ hội đi diện H.O, thay đổi cả cuộc đời trong gia đình.

    Từ khi mất người cha thân yêu, sau ba thập niên Phương Hiền mới cầm bút qua từng bài viết phổ biến trên trên website ninh-hoa.com, nơi đây cũng là kỷ niệm của thuở học sinh. Tại Ninh Hòa có Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ (Từ quận Ninh Hoà theo quốc lộ 21 đi Khánh Dương, tọa lạc tại xã Ninh Sim, Dục Mỹ, quận Ninh Hòa, gần núi Đeo). Đây gọi là “Lò Luyện Thép” đào tạo chiến hữu Biệt Động Quân về Rừng Núi Sình Lầy, Thám Báo… Một trong những binh chủng chiến đấu trong QL.VNCH. Đây là một yếu khu quân sự, bao gồm Trường Pháo Binh, Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn… Vì vậy thị trấn nhỏ nầy cuối tuần là “thị trấn lính”.

    Trong phần 15 Vật Đổi Sao Dời “Năm 1972, vì lý do sức khỏe, cha tôi được thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân đặt tại trại Đào Bá Phước, đường Tô Hiến Thành, quận 10. Tôi từ giã nhà bà Lạng (nhà mợ dâu của Phương Hiền trong hai năm học đại học) cùng mẹ và các em theo cha về ở trong cư xá gia binh Đào Bá Phước…

    Năm 1974, bệnh tim cha tôi trở nặng, nhiều lần phải nhập Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tháng 3-1975, cha tôi trình diện Hội Đồng Miễn Dịch Sài Gòn và được chứng nhận miễn dịch vĩnh viễn với cấp độ tàn phế 60% – xếp loại 3 phế binh”. Ngày 26-3-1975 được phép giải ngũ sau 22 năm phục vụ trong QLVNCH. Thế nhưng sau khi mất nước, thương phế binh cấp độ tàn phế 60% lại bị đày ra chốn lao tù tận núi rừng miền Bắc! “Tôi nhớ một ngày cuối tháng Tư năm 1975… cha tôi nằm trên giường bệnh nắm chặt tay tôi, ánh mắt đầy yêu thương ái ngại”. Hình ảnh nầy quá thương tâm!

    Với hồi ký, có vài tác phẩm với “Cái tôi đáng ghét” (Le moi est haïssable của triết gia Blaise Pascal) để cường điệu về bản thân nên dễ bị dị ứng. Với hồi ký với “cái tôi của Phương Hiền” là cái tôi phát xuất từ trái tim chân thành, hiếu thảo của con gái với cha trải dài theo năm tháng từ khi nhỏ “ lén đọc nhật ký thư từ của hai người trao nhau” cảm nhận cuộc tình song thân.

    Về văn phong, Phương Hiền viết ngắn gọn, mạch lạc, diễn tả trung thực với cảm xúc như những lời chia sẻ cùng độc giả. Tác giả đã sử dụng ngôn ngữ thật bình dị “có sao viết vậy” nhưng sâu sắc mang tâm hồn nhân bản, trải dài qua 320 trang sách.

    Phương Hiền từ thời học sinh đã chịu khó đọc sách và hấp thụ những lời dạy bảo của song thân cũng như những vị thầy trong mái trường nên ảnh hưởng nhiều khi sáng tác.

    Với hồi ký thì nội dung từng mẩu chuyện gắn liền cùng thời gian cùng những hình ảnh trong gia đình, cuộc sống. Phương Hiền chỉ đề cập thuở học sinh nhưng không nói đến trong những năm ở Đại Học Dược Khoa Sài Gòn, trở thành Dược Sĩ, có lẽ đó là điều tế nhị và sự khiêm nhường với “cái tôi” như đã đề cập ở trên.

    Tuy đã đọc các bài viết trước đây mười năm, nay đọc lại trong tác phẩm nầy vẫn cảm thấy gần gũi với cây bút đầu tay, đáng trân trọng.

    Vương Trùng Dương.- (Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa) – Little Saigon, June 23, 2026

    CỐ THIẾU TÁ NGUYỄN GIA TĨNH (1931-1985)

    Reflections on the memoir *Cha Mãi Bên Đời* (Stay With Me Forever And Ever, Papa!) by Nguyễn Thị Phương Hiền.

    Vương Trùng Dương

    (On the morning of Tuesday, June 23, while watching the World Cup at Gypsy Café, Huy Anh gifted me a copy of *Cha Mãi Bên Đời*; in return, I am writing these lines about the work.)

    ***

    Over the past eighteen years, in my role as Editor-in-Chief of the monthly publication *Chiến Sĩ Cộng Hòa* (Soldier of the Republic), I have read and published numerous works and articles recounting the lives of children whose fathers were imprisoned and whose families endured harsh, marginalized existences following the loss of their country.

    These stories capture poignant and heart-wrenching images: the struggle for survival, exile to “New Economic Zones,” the arduous journeys to visit imprisoned loved ones, the perilous escapes abroad, and life in the diaspora.

    The memoir *Cha Mãi Bên Đời* by Nguyễn Thị Phương Hiền is a standout work within this genre. Originally published in 2017, it was translated into English nine years later as *Stay With Me Forever And Ever, Papa!* The book is scheduled for its official launch in Little Saigon during the first ten days of July 2026.

    Although she belongs to the “second generation” of the Republic of Vietnam Military Forces (RVNMF) families, Phương Hiền has now reached the age of seventy. Consequently, this work offers American readers and the second generation a chance to deeply feel the devotion of a daughter toward her father—a man who committed himself to the cause during wartime, suffered imprisonment, and has since passed away. The memoir comprises twenty parts: The First Journey, From the Six Provinces to Saigon, A Little Friend, Beloved Ninh Hoa, A Moonlit Night of Childhood, Tran Binh Trong High School (Ninh Hoa, Khanh Hoa), First Lessons, A Father’s Aspirations, Memories That Never Fade, A Spring Gift for Father, From Ninh Hoa to Duc My, Bidding Farewell to Ninh Hoa, Quy Nhon, Spring in Pleiku, Times of Great Change, Departing Forever, My Father’s Comrades-in-Arms, The Legacy of Fathers, Keepsakes of an Era, Father Forever by My Side…

    Through these chapters, Phuong Hien encapsulates the settings and life experiences spanning the migration to the South in 1954, two decades of wartime, the aftermath of the country’s fall, and the tumultuous changes that followed.

    In the Foreword, Phuong Hien writes: “To me, memories of my father are not merely the past; they live on in the present—vivid and beautiful—compelling me to write. It feels as though, even now, my father smiles benevolently as he listens to me tell his story…

    I am a child of love—I know this because I… secretly read the diaries and letters they exchanged before… I was even born.”

    References to Ninh Hoa hold many memories for me as well; in early 1971, I was transferred to the Political Warfare Company (under the 20th Political Warfare Battalion in Pleiku). My duties frequently took me to Ninh Hoa, where I met a schoolteacher who would become my life partner. I recall the friends Phương Hiền made while attending Trần Bình Trọng High School and Quy Nhơn High School… Having spent my own military service years in Ninh Hòa, Quy Nhơn, and Pleiku, reading Phương Hiền’s writings—originally published on the website ninh-hoa.com—evokes memories of that bygone era.

    Regarding her background, Phương Hiền was born in Hưng Yên. Her father, Nguyễn Gia Tĩnh, was a graduate of the “Trần Bình Trọng” Class (Class 10) at the National Military Academy in Đà Lạt (1953–1954); following the Geneva Accords that partitioned the country, his unit relocated to the South. As a soldier in a combat unit—specifically the Ranger Corps (Biệt Động Quân)—Nguyễn Gia Tĩnh served in various posts across the four Tactical Zones of the Republic of Vietnam, taking his family along with him to each new assignment. Consequently, his daughter Phương Hiền moved frequently with her father, particularly during the time spent in the Second Tactical Zone.

    In Part 16, titled “Departing Forever” (Ra Đi Mãi Mãi), Phương Hiền writes: “We lost all contact with my father during his nearly five years of imprisonment. Only later, when he recounted his experiences, did we learn that he had been transported on a sealed train to the Yên Bái region and transferred between camps multiple times, ultimately ending up at the Nam Hà camp in Hà Nam province.

    In captivity, my father hovered between life and death many times—whether due to his severe heart condition or the anguish that tormented his heart…”

    After his release, “My father’s health steadily declined. How could his heart recover amidst such turbulent, tragic times? One day at the end of the year, my father left me, departing forever. He passed away on the 22nd day of the twelfth lunar month in the Year of the Ox (January 21, 1985), at the age of only 54.” It was only three decades after the loss of her beloved father that Phương Hiền took up the pen again, sharing her writings on the website ninh-hoa.com—a site that also holds memories of her school days. Ninh Hòa was home to the Dục Mỹ Ranger Training Center (located in Ninh Sim Commune, Dục Mỹ, Ninh Hòa District, near Đeo Mountain, along National Route 21 heading from Ninh Hòa town to Khánh Dương). Known as the “Steel Forge,” this facility trained Ranger comrades in jungle, swamp, and reconnaissance warfare—skills essential to one of the Republic of Vietnam Military Forces’ combat branches. It was a major military complex that also housed the Artillery School and the Lam Sơn Training Center; consequently, on weekends, this small town took on the atmosphere of a “soldiers’ town.”

    Some memoirs suffer from an “obnoxious self” (recalling philosopher Blaise Pascal’s *Le moi est haïssable*), where the author exaggerates their own importance, often provoking a negative reaction in the reader. In contrast, the “self” presented by Phương Hiền stems from a sincere and filial heart—a daughter’s perspective on her parents that spans years, beginning in childhood when she would “sneak peeks at the diaries and letters” they exchanged, thereby gaining insight into their romance.

    Regarding style, Phương Hiền writes concisely and coherently, expressing her emotions honestly—as if simply sharing her thoughts with the reader. She employs simple, unadorned language—writing exactly as things are—yet the work is profound and deeply humane throughout its 320 pages.

    Even as a student, Phương Hiền was an avid reader (despite also being fond of play); she absorbed the guidance of her parents and teachers, influences that clearly shape her writing.

    The memoir’s content weaves together various anecdotes with the passage of time and images of family life. Phương Hiền focuses on her school days but omits her time at the Saigon School of Pharmacy and her subsequent career as a pharmacist—perhaps out of discretion or the very humility regarding the “self” mentioned earlier.

    Although I read some of these pieces a decade ago, revisiting them in this book makes me feel a renewed closeness to this commendable early work.

    Little Saigon, June 23, 2026

    Vương Trùng Dương

    Editor-in-Chief, *Chiến Sĩ Cộng Hòa* (Republic Soldier) Monthly.

    ===================================================================

    Lecture du récit autobiographique « Père pour toujours, Papa ! » de Nguyen Thi Phuong Hien.

    Vuong Trung Duong

    (Le mardi 23 juin au matin, alors que nous regardions la Coupe du Monde au Gypsy Cafe, Huy Anh m’a offert un exemplaire de « Père pour toujours, Papa ! ». En guise de remerciement, j’ai écrit ces quelques lignes à propos de cet ouvrage.) – Pièce jointe

    ***

    Au cours des dix-huit dernières années, en tant que rédacteur en chef du magazine mensuel « Republican Soldier », j’ai lu de nombreux ouvrages, articles et publications relatant la vie d’enfants dont le pays a été perdu, dont les pères ont été emprisonnés et dont les femmes et les enfants vivent dans des conditions extrêmement difficiles, en marge de la société.

    Les images tragiques et émouvantes décrivent la lutte pour la survie, l’exil vers de nouvelles zones économiques, les voyages éprouvants pour leur rendre visite et les soutenir, la fuite à travers la frontière et, finalement, la survie à l’étranger.

    Les mémoires de Nguyen Thi Phuong Hien, « Père pour toujours, Papa ! », sont une œuvre emblématique du genre. Publiées en 2017, elles ont été traduites en anglais neuf ans plus tard sous le titre « Reste avec moi pour toujours, Papa !». Le livre paraîtra début juillet 2026 à Little Saigon.

    Bien qu’appartenant à la deuxième génération de l’armée sud-vietnamienne, Phuong Hien est aujourd’hui septuagénaire. De ce fait, son ouvrage peut être interprété par les Américains et les anciens combattants de la deuxième génération comme le reflet des sentiments d’un fils pour son père, qui s’est dévoué à la guerre, a été emprisonné et a tragiquement disparu.

    Ce récit autobiographique se compose de 20 parties : Le Premier Voyage, Des Provinces du Sud à Saïgon, Un Petit Ami, Ma Chère Ninh Hoa, Une Nuit de Lune dans l’Enfance, Le Lycée Tran Binh Trong à Ninh Hoa – Khanh Hoa, Premières Leçons, Le Vœu d’un Père, Souvenirs Inoubliables, Un Cadeau de Printemps pour Père, De Ninh Hoa à Duc My, Adieu à Ninh Hoa, Quy Nhon, Le Printemps à Pleiku, Les Choses Changent, Le Départ Pour Toujours, Les Compagnons de Mon Père, L’Emprise des Pères, Souvenirs du Passé, Père à Jamais dans Ma Vie…

    À travers ce récit, Phuong Hien retrace son parcours depuis son arrivée au Sud en 1954, en passant par les deux décennies de guerre qui ont suivi la chute du pays, et en évoquant le passage du temps et l’évolution des circonstances.

    Dans la préface, Phuong Hien écrit : « Pour moi, les souvenirs de mon père ne sont pas seulement du passé, mais se prolongent au présent, vifs et précieux, m’incitant à prendre la plume – comme aujourd’hui : mon père souriait avec bienveillance tandis que je lui racontais des histoires…

    Je suis un enfant de l’amour – je le sais car j’ai… lu en secret les lettres qu’ils ont échangées avant… ma naissance. »

    Évoquer Ninh Hoa me revient en mémoire. Début 1971, j’ai été muté au sein de la Compagnie de Guerre Politique (le 20e Bataillon de Guerre Politique de Pleiku) et me rendais souvent à Ninh Hoa pour le travail. C’est là que j’ai rencontré mon enseignante, qui est devenue ma compagne et avec qui je partage ma vie depuis. Mes amis enseignaient dans les lycées fréquentés par Phuong Hien : le lycée Tran Binh Trong et le lycée Quy Nhon… Ninh Hoa, Quy Nhon et Pleiku sont intimement liés à mon expérience militaire. Aussi, lorsque je relis les écrits de Phuong Hien, précédemment publiés sur le site ninh-hoa.com, je replonge dans le passé.

    Concernant sa biographie, Phuong Hien est née à Hung Yen. Son père, Nguyen Gia Tinh, est sorti diplômé de la 10e promotion Tran Binh Trong de l’Académie militaire nationale de Da Lat (1953-1954). Après la partition du pays suite aux accords de Genève, son unité fut mutée au Sud. Nguyen Gia Tinh, membre de la 9e unité des forces spéciales, fut affecté à de nombreuses reprises dans les quatre zones tactiques de la République du Viêt Nam. Il emmenait sa famille avec lui à chaque affectation. De ce fait, sa fille, Phuong Hien, a beaucoup déménagé avec son père, notamment pendant son séjour dans la 2e zone tactique.

    Dans la 16e partie, « Disparu à jamais », Phuong Hien écrit : « Mon père est resté injoignable pendant près de cinq ans, durant son incarcération. Plus tard, lorsqu’il nous a donné des nouvelles, nous avons appris qu’il avait pris le train pour Yen Bai, avait été transféré dans plusieurs camps, et que sa destination finale était le camp de Nam Ha, dans la province de Ha Nam.

    En prison, mon père est mort et revenu à la vie à de nombreuses reprises, peut-être à cause de sa grave maladie cardiaque, ou à cause des circonstances qui lui causaient tant de souffrances… »

    Après sa libération, « La santé de mon père s’est dégradée. Comment son cœur aurait-il pu se rétablir après une vie aussi tumultueuse ! Un jour, à la fin de l’année, mon père m’a quittée, parti pour toujours. Il est décédé le 22 du 12e mois lunaire de l’année du Buffle (21 janvier 1985), à l’âge de 54 ans. »

    Depuis le décès de son père bien-aimé, Phuong Hien a repris l’écriture il y a trente ans, publiant des articles sur le site web ninh-hoa.com, qui conserve également des souvenirs de ses années d’études. À Ninh Hoa se trouvait le Centre d’entraînement des forces spéciales de Duc My (situé dans la commune de Ninh Sim, district de Duc My, près du mont Deo, le long de la route nationale 21 en direction de Khanh Duong). Surnommé le « Four de forge », ce centre formait les soldats des forces spéciales au combat en jungle et en zone marécageuse, à la reconnaissance, etc., et constituait l’une des branches combattantes des forces armées de la République du Vietnam. Zone militaire stratégique, il abritait également l’École d’artillerie et le Centre d’entraînement de Lam Son… De ce fait, cette petite ville se transformait en « ville militaire » le week-end.

    En ce qui concerne les mémoires, certains ouvrages utilisent la figure du « moi haïssable » (Le moi est haïssable, du philosophe Blaise Pascal) pour exagérer l’image de soi, ce qui peut facilement rebuter. Cependant, les mémoires de Phuong Hien révèlent un « moi » né de la sincérité et de l’amour filial d’une fille pour son père, depuis son enfance où elle lisait en secret leurs journaux intimes et leurs lettres, et où elle a pu ressentir l’amour qui unissait ses parents.

    Dans les mémoires, certains auteurs utilisent la figure du « moi haïssable » (comme chez Blaise Pascal) pour exagérer la figure de l’auteur, ce qui peut les rendre rebutants. Cependant, dans les mémoires de Phương Hiền, le « moi » est celui d’une fille sincère et dévouée à son père, depuis son enfance où elle lisait en secret leurs journaux intimes et leurs lettres, découvrant ainsi leur histoire d’amour.

    Sur le plan du style, Phương Hiền écrit avec concision et clarté, exprimant ses émotions avec une grande sincérité, comme si elle les partageait avec le lecteur. L’auteure utilise un langage simple, direct et pourtant profondément humain, une qualité qui imprègne les 320 pages.

    Dès son plus jeune âge, Phương Hiền lisait assidûment (malgré son côté enjoué) et s’imprégnait des enseignements de ses parents et de ses professeurs, ce qui a grandement influencé son écriture.

    Dans ses mémoires, le contenu de chaque récit s’entremêle avec le temps et les images de sa famille et de sa vie. Phuong Hien évoque seulement ses années d’études, sans parler de ses années à l’Université de Pharmacie de Saigon, ni de sa formation de pharmacienne. Peut-être est-ce là une subtilité, une marque d’humilité face à son « ego », comme mentionné précédemment.

    Bien que j’aie lu ses écrits précédents il y a dix ans, les relire dans cet ouvrage me donne toujours l’impression d’être en présence de cette première auteure, ce qui force le respect.

    Petit Saigon, 23 juin 2026

    Vuong Trung Duong

    Rédacteur en chef du magazine mensuel Chien Si Cong Hoa (Soldat républicain).

  • Đèo Văn Sách,  Tin tức

    Nghệ Sĩ Đèo Văn Sách đã vĩnh viễn ra đi:

    Nghệ Sĩ Đèo Văn Sách, một khuôn mặt quen thuộc với các sinh hoạt Văn Nghệ “vì màu cờ sắc áo”, trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản tại vùng thủ đô HTĐ, đã vĩnh viễn ra đi.

    Xin kính chào vĩnh biệt Nghệ Sĩ Đèo Văn Sách

    Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Đôi dòng về Nghệ sĩ  Đèo Văn Sách

    Ca nhạc sĩ Đèo Văn Sách cùng hiền thê của ông là ca sĩ Kim Phụng hiện ở Virginia. Đôi ca sĩ này góp mặt trong nhiểu sinh hoạt văn nghệ địa phương vùng Thủ đô Hoa Kỳ. Kim Phụng là cháu ruột của NS. Hoàng Trọng (vai cậu). NS Tuấn Khanh (Hoa Soan Bên Thềm Cũ) đánh giá giọng ca Kim Phụng rất khá. Giọng ca Đèo Văn Sách còn là một emcee với chất giọng ấm áp, truyền cảm.

    TIẾC, NHỚ CA NHẠC SĨ ĐÈO VĂN SÁCH                                                  Hồi Ký HỒNG THỦY

                                  TIẾC, NHỚ CA NHẠC SĨ ĐÈO VĂN SÁCH
                                                      Hồi Ký HỒNG THỦY


    Ca Nhac sĩ ĐÈO VĂN SÁCH và hiền thê KIM PHỤNG là cặp vợ chồng rất dễ thương, hiền hòa, được mọi người quí mến ở vùng HOA THỊNH ĐỐN. Riêng với tôi, SÁCH PHỤNG thân tình như chị em trong nhà.  Tôi thân với chị ruột KIM PHỤNG là TUYẾT LÊ vợ HQ Trung Tá ĐINH VĨNH GIANG từ hồi ở VIỆT NAM. Anh GIANG rất thân và quí mến ông xã HQ của tôi như một người anh ruột.
     Ngay từ năm mở đầu tổ chức chương trình NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG QUÊN vào dịp mỗi tháng 4 ĐEN và mỗi MÙA THU trong chương trình NHẠC THÍNH PHÒNG. SÁCH PHỤNG luôn dành cho tôi những tình cảm rất đặc biệt.
    Biết tôi có một số THƠ được các NHẠC SĨ phổ nhạc. SÁCH PHỤNG luôn chọn  bài hát của tôi cho góp mặt trong Chương Trình. Dù có lần tôi đi xa  nên không có mặt trong ngày tổ chức, bài hát của tôi vẫn được ưu tiên trình diễn. Chưa một buổi Tổ chức VĂN NGHỆ nào của SÁCH PHỤNG mà thiếu bài hát của tôi. Ngoài ra tôi còn may mắn được SÁCH PHỤNG hát cho tôi rất nhiều bài. SÁCH là người đầu tiên hát bài HOA VÀNG NĂM ẤY, Thơ của tôi do Nhạc Sĩ TỪ CÔNG PHỤNG phổ nhạc và sau đó còn trình diễn rất nhiều lần trong các buổi Tổ chức của Cộng đồng và đã nhờ NHẠC sĨ HOÀNG KHẢI NHAN làm cả YOUTUBE nữa.
    KIM PHỤNG rất thích bài hát XUÂN VIỄN XỨ của tôi do Nhạc Sĩ NGUYỄN ÁNH 9 phổ nhạc. PHỤNG hát nhiều lần, hát rất hay và truyền cảm trong các buổi Họp mặt bạn hữu và được chị KIỀU OANH đưa lên YOUTUBE.
    SÁCH PHỤNG rất quí vợ chồng tôi nên khi ông xã HQ BÙI CỬU VIÊN của tôi qua đời, SÁCH PHỤNG đã nhờ chị KIỀU OANH làm một YOUTUBE ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM anh VIÊN với bài MỘT LOÀI CHIM BIỂN của NHẠC sĨ NGUYÊN VŨ qua tiếng hát thật hay và cảm động của cả hai vợ chồng. Chưa hết, giỗ đầu anh VIÊN, SÁCH PHỤNG làm thêm một youtube nữa với ca khúc HOA BIỂN của NS ANH THY. Ngày giỗ năm thứ 2 SÁCH PHỤNG lại làm một YOUTUBE nữa với bài hát SAO RƠI TRÊN BIỂN của NS NGUYÊN VŨ do hai người song ca. Tất cả YOUTUBE đều do bàn tay tài hoa của chị KIỀU OANH THỰC HIỆN. Xin CÁM ƠN chị KIỀU OANH rất dễ thương và thật nhiệt tình với bạn hữu.
    Quả thật tôi mang nợ SÁCH PHỤNG rất nhiều, những cảm tình SÁCH PHỤNG dành cho tôi quá sức tràn đầy. Nằm trong bệnh viện mà SÁCH còn nhớ đến tôi. Trước khi SÁCH mất một tuần, PHỤNG gọi cho tôi nói: “chị ơi tự nhiên hôm nay anh SÁCH nhắc đến chị, anh ấy hỏi em chị có khỏe không.” Rồi PHỤNG tâm sự thêm: rất buồn vì BS nói có thể SÁCH không qua khỏi. Tôi nghe vừa ngạc nhiên vừa xúc động, tôi không ngờ SÁCH bệnh nặng quá vậy. Sách ra vào nhà thương rất nhiều lần nhưng rồi lại khỏe lại. Lần này tôi cũng tưởng như những lần trước, không ngờ BS lại nói như vậy. Tôi vội vàng tìm cách đi thăm SÁCH ngay. Tôi nói “tìm cách”, vì tôi ở MAYLAND rất xa nhà thương, chưa bao giờ tôi lái xe một mình vào đó, nhà thương FAIRFAX quá to lớn, bãi parking rộng mênh mông. Tôi rất sợ vào mê hồn trận, đi một mình không biết đâu mà mò ( nhà quê quá phải không quí vị ? ). Tôi gọi cho người bạn ở gần nhà thương, xin đi cùng dẫn đường cho tôi vào thăm SÁCH. Số tôi xui, người bạn trả lời mới đi thăm SÁCH rồi. Tôi không hỏi được ai đi cùng nên đành phải nhờ con trai chở tôi đi, dù biết cháu rất bận.
    Hai mẹ con đi thăm SÁCH, tôi rất mừng là trông SÁCH vẫn vui cười tỉnh táo. Tôi buồn trong lòng vì PHỤNG đã cho biết BS nói rõ là các bộ phận đều không hoạt động nữa rồi và chắc chắn SÁCH sẽ ra đi. Tôi nắm hai tay SÁCH thật lâu, nhìn SÁCH cười mà ứa nước mắt khi nghĩ đến lúc SÁCH sẽ nằm bất động vĩnh biệt mọi người. Tôi quá xúc cảm đưa hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt SÁCH nói trong nghẹn ngào : SÁCH phải đọc kinh cầu xin CHÚA cho mau khỏe để còn lo Tổ chức Buổi Thính Phòng MÙA THU chứ. Không biết trong lòng SÁCH có ngạc nhiên khi bỗng dưng hôm đó tôi có cử chỉ thân mật như vậy, chỉ thấy SÁCH cười thật tươi và hỏi tôi: Chị chọn bài đi, chị thích hát bài nào? Tôi cũng cố cười: Bài HOA VÀNG NĂM ẤY vì HOA VÀNG là hoa của MÙA THU. SÁCH lại cười và nói: em cũng thích bài đó. Tôi nói tiếp theo: Lần này hát bài NGUYỄN ÁNH 9 phổ nhé, lần trước hát bài của TỪ CÔNG PHỤNG rồi ( một bài Thơ mà tôi may mắn được hai NS nổi tiếng phổ nhạc )SÁCH gật gù: Chị lại muốn nhờ SĨ TUẤN hay đổi người khác? Tôi trả lời: Ca sĩ thì tùy SÁCH chọn chứ.
    Tôi không tưởng tượng được tôi đang nói chuyện với một người sắp ra đi mãi mãi. Tôi quay vội đi vờ nói chuyện với PHỤNG để SÁCH không nhìn thấy nước mắt tôi sắp trào ra.
    Như vậy đó, tôi đã nói chuyện lần cuối với SÁCH trong cảm giác thật buồn của một người đang đóng kịch thật nhuyễn. SÁCH ƠI, Chả còn lần nào cho chị được SÁCH chọn CA SĨ và sắp xếp Chương trình bài hát của chị nữa đâu. Cám ơn những cảm tình quí hóa suốt bao nhiêu năm nay SÁCH PHỤNG dành cho chị và anh VIÊN. Mong SÁCH sẽ gặp anh VIÊN để anh VIÊN cám ơn SÁCH dùm chị.  Chị không thể nói lời CÁM ƠN với SÁCH để cố đóng cho trọn vai trò kịch sĩ, cho SÁCH có được chút niềm vui cuối cùng là tưởng như cuộc sống còn dài bên người thân. Xin CHÚA đưa linh hồn SÁCH về nước THIÊN ĐÀNG.
    VĨnh biệt SÁCH. Không riêng Chị mà chắc chắn nhiều người quen biết sẽ tiếc nhớ SÁCH vô cùng.
    Thân mến
    Chị Hồng Thủy 

  • FATHER'S DAY, Ngày Của Cha,  THO

    LỜI CHA GỬI CON

    David phạm (*)

    Ngày con vừa chớm tuổi thơ

    Mẹ con bỏ lại bến bờ nhân gian

    Ba ôm lời hứa còn mang

    Trước khi mắt mẹ vội vàng khép mi.

    Ba ngày nữa tuổi mười ba

    Con còn chưa hiểu lệ nhòa trên mi

    Đêm dài lặng lẽ thầm thì

    Ba thay mẹ giữ những gì yêu thương.

    Tay dắt con đến mái trường

    Dạy con con chữ mở đường tương lai

    Đưa con học nhạc mỗi ngày

    Tiếng đàn thay những tháng ngày thiếu vui.

    Đưa con học võ nên người

    Dạy con nghị lực giữa đời gian nan

    Bao mùa mưa nắng cơ hàn

    Ba vui chỉ thấy con ngoan mỗi ngày.

    Tuổi xuân lặng lẽ qua tay

    Mái đầu bạc tự lúc nào chẳng hay

    Chỉ mong con được tung bay

    Trên đôi cánh rộng tháng ngày bình yên.

    Hôm nay con đã trưởng thành

    Áo blouse trắng khoác lên tự hào

    Dược khoa con bước đường cao

    Đền bao năm tháng ba trao ân tình.

    Làm xa cách trở hành trình

    Thỉnh thoảng con ghé mái đình tuổi thơ

    Căn nhà vẫn đợi từng giờ

    Nghe xe trước ngõ như mơ con về.

    Father’s Day gió bên hè

    Ba ngồi lặng nhớ lời thề năm xưa

    Mẹ con nơi cõi mây mờ

    Chắc đang mỉm cười nhìn đứa con ngoan.

    Ba không mong được đáp đền

    Chỉ mong con sống vững bền nghĩa nhân

    Dẫu mai tóc bạc phong trần

    Gia đình là gốc, là sân quay về.

    Nếu mai ba khuất sơn khê

    Con đừng nhỏ lệ não nề làm chi

    Ba vui vì đã thực thi

    Lời hứa với mẹ khắc ghi trọn đời.

    Con là hạnh phúc của người

    Là niềm ánh sáng cuối trời của ba

    Dẫu cho năm tháng đi qua

    Tình cha vẫn mãi bao la không cùng.

    Happy Father’s Day, my son. With all my love, Dad

    (*) Họa sĩ David Phạm là người đã cho phép NVNT MAGAZINE, Báo Xuân 2026 dùng tranh của ông vẽ làm bìa của báo.

  • FATHER'S DAY, Ngày Của Cha,  Lê Nguyễn Nga

    Mùa Hạ Nhớ Cha

    Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga

    Tháng sáu nắng hanh nồng 

    Như tình Cha cảm thông 

    Cha tôi người nhân ái 

    Yêu nước cả tấm lòng

    Xây đắp mái nhà xong

    Cha làm việc chẳng than

    Lo nhà cùng với Mẹ

    Ráng dạy đàn con ngoan

    Giặc về cha cầm súng

    Cứu nước cha đuổi đeo

    Nước nhà hai vai gánh

    Cha tôi gắng tay chèo

    Ngập tràn mùa chinh chiến

    Lên đường giữ biên cương

    Việc nhà cha gửi Me

    Nuôi trẻ trọn tình thương

    Bom đạn nơi chiến trường

    Tinh nhà bên đầu súng

    Cha hy sinh cứu nước 

    Mong được tự do chung

    Nay con đã mất cha

    Mùa Hạ về nhắc nhớ

    Tình cha cao ngất trời

    Hâm nóng trái tim côi.

    Lê Nguyễn Nga

    Father’s Day 2023

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    VIỆN BẢO TÀNG DI SẢN NGƯỜI VIỆT (VIETNAMESE HERITAGE MUSEUM) KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP (2016-2026)

    Khánh Lan

    Thứ Bảy, ngày 20 tháng Sáu, 2026 tại Lavender’s Hall, 14190 Beach Blvd, Westminster, CA 92683, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt / Vietnamese Heritage Museum (VHM) đã tổ chức một dạ tiệc long trọng kỷ niệm 10 năm thành lập. Buổi dạ tiệc đã đánh dấu cột mốc 10 năm hoạt động của viện bảo tàng và 51 năm sau biến cố 1975 (1975-2026). Mười năm, một quãng thời gian tuy không dài, cũng không ngắn nhưng đủ để ghi nhận sự thành công của một tổ chức. Với mục đích gìn giữ, bảo tồn lịch sử và văn hóa của cộng đồng người Việt Hải Ngoại, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt hiện trưng bày “Con Tàu Hy Vọng” do 9 người Việt đã chèo lái con tàu ra khơi năm 1984, trong 7 ngày và được tàu của Pháp cứu vớt. Con tàu thứ hai với tên gọi “Con thuyền Tự Do” do bà Lài biếu tặng cũng sẽ được trưng bày tại Viện Bảo Tàng trong tương lai sau khi trùng tu và sửa chữa. Theo lời của chủ nhân Con thuyền Tự Do, thuyền này đã được đem đi diễn hành trên 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Ngoài ra, Viện Bảo Tàng còn lưu trữ trên 10.000 hiện vật, ghi nhận trên 350 câu chuyện truyền khẩu, nhận lãnh hơn 100,000 tác phẩm văn học trước và sau 1975, cũng như rất nhiều sách, báo, tài liệu, ấn phẩm, phim ảnh, kỷ vật, v.v….Nổi bật là các bộ sưu tập của cố Đại Sứ Bùi Diễm cùng các nhà nghiên cứu lịch sử.

    Buổi tiệc kỷ niệm 10 năm thành lập của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã mở cửa và hân hoan đón tiếp hơn 300 quan khách khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ trước giờ khai mạc. Những bản nhạc Pháp & Việt bất hủ được hòa tấu bởi hai nghệ sĩ Luân Vũ và Phương Thảo như ru hồn khách thưởng thức vào âm thanh tuyệt diệu của âm nhạc.

    Hình phía dưới là các anh chị thiện nguyện viên đang bận rộn đón quan khách tham dự.

    Đồng thời giới thiệu đến quan khách những hiện vật được đưa ra đấu giá để gây quỹ gồm chai rượu Louis XIII

    Và những bức tranh giá trị.

    Những món quà cho xổ số

    Và không quên mời quan khách thưởng thức các món khai vị do chị Xuân Ninh và các anh chị trong ban tiếp tân đảm trách. Hình bên dưới là Jennifer Ánh Nhật, một trong những thiện nguyện viên.

    GIỜ KHAI MẠC BUỔI LỄ ĐỆ THẬP CHU NIÊN ĐÃ ĐẾN

    Ba MCs dẫn dắt chường trình là Cô Diệu Quyên Nguyễn, Cô Leyna Nguyễn và luật sư Dũng Hoàng Nguyễn

    Ban hợp xướng Ngàn Khơi và Quốc Ca VNCH

    Buồi dạ tiệc ngày 20 tháng 6, 2026 quy tụ đông đảo các vị lãnh đạo tinh thần, các vị cựu quân nhân, giới trí thức và thương gia cùng đồng hương của ba thế hệ gồm Ông Bà, Cha Mẹ và các cháu. Điều khiến cho Ban Tổ Chức vô cùng cảm kích là con số quan khách tham dự rất đông. Đó là một điều vui mừng và là một khích lệ lớn cho Ban tổ chức, bởi tấm lòng quảng đại của đồng hương, những người luôn sẵn sàng hỗ trợ tinh thần và tài chánh cho một mục đích chính đáng.

    Trong buổi tiệc, Ông Châu Thụy, president của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã vinh dự đón nhận Bằng Vinh Danh từ Thượng Viện California và Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn với lòng tri ân những đóng góp lớn lao của Bảo tàng viện cho cộng đồng Orange County. Khai mạc buổi dạ tiệc, ông Châu Thụy ngỏ lời chào mừng trân trọng đến quý tao nhân mặc khách tham dự và cũng trong dịp này ông thay mặt cho Ban tổ chức cảm ơn tất cả các thiện nguyện viên đã bỏ rất nhiều công sức và thời gian để giúp một cánh tay trong việc bảo tồn văn hóa của người Việt Nam. Ông chia sẻ: 

    “Mười năm, một chặng đường tuy không dài trong dòng lịch sử, nhưng đủ để chứng minh một tâm nguyện và ý chí bền bỉ. Đó là lưu giữ những chứng tích của một thời ly loạn, tôn vinh ý chí kiên cường của người Việt tị nạn, và truyền lại cho hậu thế những bài học vô giá của tự do và nhân bản.” 

    Là nạn nhân và là nhân chứng sống trong cuột vượt biên năm 1980, Ông Châu Thụy đã bùi ngùi chia sẻ nhưng bi thương mà các thuyền nhân đã trải qua trong suốt quãng đường đi tìm tự do, những ngày lênh đênh trên biển cà, những cơn đói khát triền miên, họ đã trải qua những ngày kinh hoàng của đau thương, cướp biển và chết chóc. Trong 10 năm qua, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã thu nhận và bảo tồn những chứng tích của những hành trình ly hương đầy bi tráng mà người dân Việt, vượt đại dương, bất chấp hiểm nguy và để hướng về một tương lai vô định. Ông Châu Thụy nói: “Những câu chuyện vượt biên, vượt biển trong đêm tối, những ký ức trong lao tù được trân trọng ghi lại bằng hiện vật, tài liệu và lời kể chân thực từ chính những nhân chứng của lịch sử“.

    Trong buổi họp mặt kỷ niệm 10 năm, ông Châu Thụy tha thiết kêu gọi và gởi lời mời gọi cả ba thế hệ trong gia đình (ông bà, phụ huynh cùng các thanh thiếu niên) tiếp tục ủng hộ tổ chức, tham gia những buổi họp mặt, hội thảo do Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt tổ chức, bởi sự hiện diện của ba thế hệ là chứng tích sống động của lịch sử, và là nhịp cầu chuyển tiếp. Sự hiện diện và tham gia của các em thuộc thế hệ trẻ chính là tương lai của dân tộc.

    Sau cùng, Ông Châu Thụy cũng không quên đề cập đến những thành quả mà Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã hoàn tất trong 10 năm qua, cũng như những dự án được phác họa cho một lộ trình, một hướng đi tràn đầy ý nghĩa trong tương lai, một di sản văn hóa vô giá để lưu truyền lại cho các thế hệ kế tiếp. Tất cả mọi giữ kiện này đều được ghi lại trong tập KỶ YẾU KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP CỦA VIỆN BẢO TÀNG DI SẢN NGƯỜI VIỆT.

    Kết thúc bài diễn văn, ông Châu Thụy kết luận: “Đến với buổi họp mặt hôm nay, quý vị đã gián tiếp cùng chúng tôi xây dựng nền móng cho thế hệ thứ hai, thứ ba và các thế hệ kế tiếp, duy trì và gìn giữ di sản của ông cha chúng ta“.

    Tiếp tục chương trình là những lời phát biểu đầy tâm huyết của Vice Precident Hồng Tiên, kêu gọi sự yểm trợ tài chánh của đồng hương cho một số dự án trong tương lai, bao gồm sự bảo tồn và duy trì viện bảo tàng. Ngoài việc duy trì Bức Tường tưởng niệm đã lưu giữ tên tuổi, hình ảnh, và câu chuyện của những người đã hy sinh trên hành trình đi tìm tự do và của những chiến sĩ VNCH đã bỏ mình trong lao tù, quỹ còn hỗ trợ cho các dự án thiết yếu trong tương lai như:

    • Dự Án giúp phương tiện xe buýt để đưa các em học sinh, sinh viên viếng thăm viện bảo tàng, để học hỏi, ôn lại lịch sử của những cuộc di tản bi thương và tìm về cội nguồn.  
    • Đào tạo thanh niên sử dụng kỹ thuật AI để dịch và phổ biến lịch sử.
    • Dự Án Lịch Sử Qua Chuyện Kể – Sưu tầm và lưu giữ những câu chuyện của các thế hệ cao niên.
    • Dự án thành lập trung tâm văn hóa nghiên cứu về lịch sử và văn hóa của cộng đồng Hải Ngoại. Trung tâm lưu trữ những tác phẩm văn học xuất bản trước năm 1975 và những tác phẩm xuất bản sau năm 1975 của các tác giả hải ngoại.
    • v.v….

    Hiện nay, “Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đang lưu giữ những linh hồn của một thế hệ đã hy sinh để bảo toàn danh dự và tự do. Đây chính là một di sản vô giá để thế hệ trẻ hôm nay và mai sau luôn hiểu rằng: từ mất mát có thể sinh ra hy vọng, từ lưu vong có thể tạo dựng thành công, và từ quá khứ gian truân có thể hình thành một tương lai vững mạnh, không chỉ cho cá nhân họ, mà cho cộng đồng người Việt tị nạn. Những kỷ vật của một thời đã qua, những câu chuyện vượt biên, lao tù đang được gìn giữ, chuyển hóa và trao lại cho thế hệ tiếp nối“. (Trích trong Người Việt online)

    Buổi kỷ niệm 10 năm thành lập của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã được tổ chức trong bầu không khí trang trọng với phần văn nghệ chọn lọc. Mở đầu là bài hợp ca Bước Chân Việt Nam của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng & Trúc Hồ do ban hợp xướng Ngàn Khơi và Ca Sĩ Thái Sơn trình diễn. Ca sĩ Bảo Châu với Never Enough của Turnstile & Do You Know where you’re going to, song by Diana Ross đã làm rơi lệ người nghe, và làm tim tôi như thắt lại. Ca sĩ Thái Sơn với Nỗi Lòng Người Đi của NS Anh Bằng đã làm thổn thức bao tâm tư của những người con Việt hai lần bỏ quê cha đất tổ (cuộc di cư năm 1954 và 1975 viễn xứ). Sau cùng, chương trình văn nghệ kết thúc với các em trong nhóm vũ Lạc Hồng qua vũ điệu Trống Cơm.

    Ca sĩ Bảo Châu với Never Enough của Turnstile

    Cũng trong buổi Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập và vinh danh hôm ấy, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã phát thưởng cho 15 thí sinh đã trúng tuyển cuộc thi WAI-2026. Các thí sinh tham dự đến từ 4 châu: Á, Úc, Âu và bắc Mỹ. Tuy nhiên, các thí sinh trúng giải từ xa đến gần cũng đã cố gắng thu xếp để tham dự buổi phát giải. Có lẽ sự hưởng ứng từ xa đến gần này là một trong những điều rất khích lệ cho ban tổ chức để cố gắng biến đề án trở thành lâu dài và thường niên.

    WAI-2026 là chương trình kể chuyện toàn thế giới mang tên WAI-2026 (Tôi Là Ai – sau biến cố 1975) do Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt lần đầu tiên tổ chức. Dự án do sự đảm trách và điều hành bởi Cô Thanh Giang, một thành viên trong ban tổ chức. Phần thưởng trúng giải là đồng hạng, không lệ thuộc và không đi theo thứ tự xếp hạng, nhất, nhì hay ba, v.v…

    Thành phần thi sinh dự thi tuổi từ 18 đến 70+ và được xếp theo 5 “nhóm tuổi“. Bài viết theo thể loại văn, thơ, video. Chủ đề: Sau 50 năm hình thành và phát triển cộng đồng người Việt Hải Ngoại, thí sinh cần nhìn lại và viết về hành trình tị nạn, cuộc sống trong quá khứ, hiện tại và mình là ai? Đối với những thi sinh có mối liên hệ với Việt Nam hay tham dự trong chiến tranh Việt Nam, thì cần xác định rõ địa điểm, thời gian tham chiến, cũng như cuộc sống trước và sau năm 1975. Bài dự thi có thể bằng Anh ngữ hoặc Việt ngữ.

    Một số thí sinh trúng tuyển chụp hình cùng giám khảo

    Các thí sinh trúng giải gồm nhiều hạng tuổi, trong số đó có 2 thí sinh ở hạng tuổi 70+

    CATEGORY: VIDEO/FILMS

    AGE GROUP 18-29     Tran, Michelle                    BRIDGE OF GENERATIONS                                           CA – USA

    AGE GROUP 30-39     Vu, Thanh                             BRIDGE OF CULTURES                                                 IN – USA

    CATEGORY: ESSAYS/POEMS

    AGE GROUP 18-29     Ngo, Hannah                      BRIDGE OF GENERATIONS                                           CA – USA

                                             Williams, Shawn              BRIDGE OF CULTURES                                            VA – USA

    AGE GROUP 30-39     Dang, Le Huynh                BRIDGE OF CULTURES                                                    ASIA

                                                    Nguyen, Thuy          HERITAGE IN FLIGHT                                            MA – USA

                                                    Wilson, Cody             BRIDGE OF GENERATIONS                                   NY – USA

    AGE GROUP 40-54     Dang, Juliet (Ph.D)          BRIDGE OF CULTURES                                                    WA – USA

                                                    Nguyen, Mai Thao     CONTINENTAL SPOTLIGHT – EUROPE                 EUROPE

                                                    (Dự thay thế là con trai: Nguyễn Kiên Thuận, ở LA)

    AGE GROUP 55-70     Nguyen, Brian                    HERITAGE IN FLIGHT                                                       CA – USA

                                                    Do, Le Thuy              BRIDGE OF CULTURES                                          MI – USA

                                                    Pho, Quoc Van           CONTINENTAL SPOTLIGHT – AUSTRALIA        AUSTRALIA

                                                    (Dự thay thế là con trai Jason Pho, đến từ New York)

                                                    Dam, Janie                  EDUCATIONAL IMPACT                                         CA – USA

    AGE GROUP 70+         Tsu, James                           HERITAGE IN FLIGHT                                                     CA – USA

                                                    Klein, Kurt                 LIVING WITNESS                                                   CANADA

    Bảng cho điểm dựa vào nội dung, bố cục, cũng như để có sự công bằng cho các thí sinh, ban giám khảo gồm nhiều thành phần khác nhau trong cộng đồng bao gồm giáo sư, bác sĩ, nhà văn, nghệ sĩ, phóng viên, v.v…Hiện diện trong ban giám khảo, người viết nhận thấy:

    • Phóng viên nhà báo Tina Hà Giang: Phóng viên BBC, nhật báo Người Việt, Saigon Nhỏ, Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi, cựu nữ sinh Gia Long và sinh viên Văn Khoa.
    • Văn Thi Sĩ – ca sĩ, performing artist Bắc Ninh Đặng Xuân Mai.
    • GS Tiến Sĩ đại học UCLA, Sáng Lập Viên Trường dạy kèm A+ Tutoring, Dr. Nghiêm Bảo Toản.
    • Chuyên gia tâm lý hôn nhân & gia đình, Trưởng Nhóm Văn Học-Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Văn thi sĩ Lưu Khánh Lan.
    • Du ca trưởng Nam California, Trưởng Hướng Đạo Liên Đoàn Hướng Việt, Dr. BS nhãn khoa Phạm Đỗ Thiên Hương.
    • Phóng Viên đài VOA, thiện nguyện viên nồng cốt của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt – TiTi Mary Trần.
    • GS Tiến Sĩ UCI, nhà văn, nhà hoạt động giáo dục Dr. Trần Chấn Trí.
    • GS Tiến Sĩ Dr. Phan Quang Trọng, cựu Chủ Tịch cộng đồng người Việt San Jose, cộng đồng người Việt Dallas, Texas. 
    • Executive Director of VAALA organization, Dr. Dược Sĩ Lê Đình Y Sa

    Thành phần ban giám khảo nữ hiện diện trong buổi phát thưởng WHO AM I:

    Từ trái sang phải: Văn thi sĩ Đặng Xuân Mai; Văn thi sĩ Lưu Khánh Lan; Điều họp dự án WhoAmI-2026, Cô Thanh Giang; Phóng viên Nhà báo Tina Hà Giang, Bác sĩ Nhãn Khoa Phạm Đỗ Thiên Hương.

    Từ bên trái sang phải là Giáo Sư Tiến Sĩ Nghiêm Bảo Toàn và các giám khảo & Thân hữu

    Buổi tiệc bế mạc với phần cắt bánh kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt trong sự hân hoan và biết ơn các quý đồng hương, mạnh thường quân đã yểm trợ cho các dự án trong tương lai của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt.

    Đáp ứng lời kêu gọi gây quỹ của Ông Hồng Tiên, Ban tổ chức cho biết số ngân quỹ bảo trợ đã lên đến con số đáng kể, ông nói: “Mỗi đóng góp, dù lớn hay nhỏ, đều là những viên gạch xây dựng nền móng gìn giữ ký ức và di sản của dân tộc. Thiết tưởng việc bảo tồn di sản không phải là trách nhiệm của riêng ai mà là của toàn thể người dân Việt. Chúng ta hãy cùng nhau gìn giữ những di sản quý báu này và chuyển lại cho con cháu chúng ta trong tương lai”.

    Viện Bào Tàng Di Sản Người Việt / VHM là một tổ chức bất vụ lợi 501 (c)3. Tax ID 82-2141214. Quý vị có thể đóng góp qua chi phiếu, xin đề:  VHM – Gửi về:  P.O. Box 27372, Santa Ana, CA 92799. Zelle:  (714) 846-8438. Venmo@Vietnamesemuseum, PayPal (info@vietnamesemuseum.org) hoặc liên lạc với VHM qua số điện thoại 714-846-8438 để được giúp đỡ trực tiếp. Xin thành tâm cảm ơn sự hỗ trợ của quý thân hữu, quý tao nhân mặc khách, và quý đồng hương.

    Khánh Lan, California June 2026

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt,  Việt Hải

    CHÚC MỪNG SINH NHẬT THÁNG 5 VÀ HỘI NGỘ VÀO HÈ HAWAII

    Việt Hải & Khánh Lan

    Khi xem sách lịch Almanac và blog từ điển Britannical, về những người nổi tiếng nào có sinh nhật vào ngày 31 tháng 5, thì tài tử điện ảnh Hollywood Clint Eastwood, có sinh nhật vào ngày hôm nay, 31 tháng 5, ông được tròn 96 tuổi. Còn những vị nổi danh khác sinh vào tháng Năm như: ông Benjamin Šeško (vận dộng viên môn football), cô Iga Świątek, vận động viên môn quần vợt), ông William D. Nordhaus, Nobelist Khoa học Kinh tế (2018), ông Robert Schrieffer, nhà khoa học Nobel: Giải Nobel Vật lý (1972), ông Maurice Allais, nhà khoa học giải Nobel: Giải Nobel Khoa học Kinh tế (1988), ông Louis J. Ignarro, nhà khoa học giải Nobel: Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học (1998), ông Peter Howitt, nhà khoa học giải Nobel: Giải Nobel Khoa học Kinh tế (2025), ông Chien-Shiung Wu, nhà vật lý hạt nhân người Mỹ gốc Hoa, Đài Loan, bà Svetlana Alexievic nhà báo sử học, ông Viktor Orbán, Luật sư, football Chính trị gia người Hungary, EU, kế là ông Ayad Allawi, Chính trị gia, Bác sĩ tâm thần người Iraq, ông Kalman Kahana, nhà báo chính trị gia Do Thái, ông Khil Raj Regmi, Thẩm phán Chính trị gia Nepal, bà Dina Boluarte, Luật sư Chính trị gia Peru, ông Protase Rugambwa, Giám mục Công giáo, Đức Hồng y Công giáo La Mã.

    Cũng trong tháng 5 có ngày lễ Mẹ, có sinh nhật nhạc sĩ Anh Bằng (ngày 5 tháng 5), có sinh nhật của ca sĩ Tony Hiếu (21/05); Minh Thư (26/05), tháng 5 ngày 1 tây có ngày sinh nhật của cố NS Lê Trọng Nguyễn. Tháng 6 có ngày Lễ cha và giỗ của nhà văn Minh Đức Hoài Trinh (mất ngày 9 tháng 6, 2017-86 tuổi), có sinh nhật ông xã Minh Thư là gia chủ Brian (14/06); nhạc sĩ GS. Phạm Hồng Thái (25/06). Riêng tháng 7 có ngày tưởng niệm Khoa Học gia Nguyễn Xuân Vinh (mất July 23, 2022-tuổi 92), có sinh nhật của nước Hoa Kỳ, và của các bạn bè như nhà văn xịn Vương Trùng Dương (02/07), nữ sĩ Tao đàn Ngọc Quỳnh (11/07), Alain Francois Đức Parisien (5/07), và Michael Claud Chánh Nguyễn (26/07).

    Tôi nhớ dịp đầu năm nay khi nhóm tổ chức mừng sinh nhật tháng Giệng, thì vào ngày Chủ Nhật ngày 25 tháng 1, 2026, Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi sinh nhật cho 4 hội viên có ngày sinh nhật vào tháng Giêng là John Tạ, Nga Nguyễn, Lệ Hoa và Mộng Thủy. Nơi hội họp tỏ chức buổi lễ là tư gia của Mộng Thủy, gia trang của giai nhân Mộng Thủy tọa lạc ở một vùng Fashion Island, một khu gia trang sang trọng gồm nhiều ngôi biệt thư xem như loại elegant villas of luxury. Mỗi biệt thự xây theo tiêu chuẩn với thiết kế độc đáo và một khái niệm mới về cuộc sống classy sang trọng, vốn được thiết kế để tạo cảm giác trang nhã, rộng rãi và hài hòa với môi trường chung bao quanh như từ trần nhà cao đến cửa sổ lớn và ban công lan can kính mang lại ánh sáng tự nhiên và tầm nhìn toàn cảnh nhô ra khuôn viên lấy cảm hứng từ khu vực Hy La Địa Trung Hải, hoặc bờ biển Pháp, vùng Riviera Pháp, với cảnh sắc quyến rũ của Côte d’Azur, một khu nghỉ dưỡng getaway resort. Ba tháng 2, 3 và 4 có NV Nguyễn Quang, Khánh Lan và Mạnh Bổng nhưng không có buổi họp mặt.

    NV Nguyễn Quang và Nv Việt Hải

    Mạnh Bổng & Khánh Lan

    Khi xe dừng trước nhà gia chủ Brian Minh Thư tôi thấy một khung trời Aloha Mahalo Hawaii Wakiki hiện ra trước mắt do các bạn bè phục sức áo, nón, vòng hoa Hawaii… và như thể gia chủ Katherine Minh Thư có máu Aloha, nên cô đã chuẩn bị vòng hoa, củng tua dây cỏ lá kết đan, váy đan lá cây cho vũ điệu Hula, dù là Hula Kahiko và Hula Auana, vòng hoa lan cho cổ tay, hoa sứ trắng cho vòng hoa đội đầu, v.v…

    Bước vào phòng ăn, nối dài từ nhà bếp, chạy dài ra patio ở sân sau, gia chủ cho lát nền gạch vân đá xanh loại Catalan, đi chân không rất mát. Phía bên trái của sân sau là một triền dốc, nhin xuống một thung lũng mênh mông. Trước mắt tôi, một quang cảnh yên bình, thoáng mát bình nguyên gần như vô tận bao phủ vùng trời Diamond Bar.

    Câu châm ngôn “Có thực mới vực được đạo” vì thế chúng tôi đã khai mạc buổi họp mặt là “ăn uống và hàn huyên uyên thuyên, chụp ảnh.

    Phần tôi trong môt khoảng khắc nào dó, trầm tư nghĩ ngợi bao năm rồi kiên tâm gầy dựng một nhóm bằng hữu văn nghệ sĩ, những thân hữu tao nhân mặc khách, và những bạn bè văn nghệ trí nhân, gặp nhau hội ngộ chia sẻ những thành tựu hay nhắc lại cái dĩ vãng cơ hàn, lòng tôi như chùng xuống.

    Tôi lặng ngắm anh Vũ Hòa (ông xã của Ngọc Quỳnh), một người anh vừa thoát chứng nan y tai biến mạch máu, rồi nữ sĩ Nguyễn Nga mang cùng nghịch cảnh vì chứng bệnh tai ương quái ác, nhìn sang anh Alain Đức vẫn còn hội chứng lung infection, y như pulmonary disease (infection pulmonaire, maladie pulmonaire) đến nay căn bệnh chưa khỏi hẳn. Nhìn xa hơn chúng ta đã chia tay Mắt Nâu và Hồng Tước, sự thể như emcee Phạm Gia Đại nhắc nhở qua micro, anh đã tiễn đưa nhiều bạn bè, đến nổi chúng ta trân quý những bạn bè còn sót lại, dẫu biết rằng cuộc đời chỉ là cõi tạm, có sinh ắt phải có tử.

    Những bà Mẹ của NVNT & TTG thật đáng yêu….

    Tháng 5 có Lễ Mẹ, Phạm Gia Đại còn nhắc về ý nghĩa Bông Hồng Cài Áo, mà các em như Minh Thư hay Bảo Bảo, Estèles hoặc các con tôi là giới may mắn còn đeo hoa hồng.

    Và một bông Hồng cho những ai

    Cho những ai đang còn Mẹ

    Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn

    Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi

    Như đóa hoa không mặt trời

    Như trẻ thơ không nụ cười

    ngỡ đời mình không lớn khôn thêm

    Như bầu trời thiếu ánh sao đêm

    Mother’s day, Lễ Mẹ theo thi sĩ Trần Trung Đạo cho là hình ảnh người mẹ là một kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất. Tình thương của người mẹ bao la như biển Thái Bình và vô biên như không gian vũ trụ dành cho con cái. Ngôn ngữ của mẹ là tiếng nói từ trái tim, yêu thương và dịu dàng dành cho con cái. Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe “thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là trái tim người mẹ”. Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn, nhưng không thể sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.

    Việt Hải: “Yêu kiều quá, những bà Mẹ Việt Nam…“

    Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyệt đối của tinh thần Chân – Thiện – Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi mà là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc. Rồi từ nghìn xưa cho tới nay, từ Đông sang Tây… hình bóng người mẹ cao quý, thiêng liêng, sự hy sinh vô bờ bến trong tình mẫu tử, với trái tim đầy nhân ái, cao cả đã in sâu trong lòng người con từ lúc được sinh ra cho đến khi lìa đời. Hình bóng đó đã được thể hiện qua thơ, văn, nhạc và trong nhiều lãnh vực khác nữa… Hãy nhắc về bài Mẹ Hiền Yêu Dấu như sau:

    Người mẹ hiền yêu hỡi

    những lúc mẹ cười vui

    là mặt trời sáng chói

    mưa buốt không hề rơi

    và con sẽ cố từ sáng đến trưa chiều

    khi thấy mẹ thì cười vui thật nhiều…

    Người Mẹ hiền yêu dấu,

    Mẹ dã cho đời con, vòng tay âu yếm

    khi gót chân còn son

    Người Mẹ hiền có biết, khi lớn không ra đời

    con sẽ nhớ hoài bóng dáng người

    Người Mẹ hiền yêu hỡi…

    Trở lại với Trần Trung Đạo qua bài thơ nhạc “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười”. Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

    Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

    Tiếng ai như tiếng lá thu rơi

    Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ

    Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi,….

    Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ

    Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ

    Đau thương con viết vào trong lá

    Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

    Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

    Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi

    Ví mà tôi đổi thời gian được

    Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

    Bài thơ “Mẹ Ru Con” của Nữ Sĩ Lê Nguyễn Nga do CNS Lâm Dung phổ nhạc với giọng ca ngọt ngào, êm ái, nhẹ nhàng như lời ru của Mẹ. Xin bấm vào link phía dưới để nghe ca khúc : Mẹ Ru Con – Lê Nguyễn Nga – Lâm Dung:

    Nhà văn Nguyễn Quang, tôi ngồi kế ông, tôi nhắc về tác phẩm Manifest Destiny ra mắt năm rồi,… Tôi nhớ Giáo sư (kiêm Nhà văn) Quyên Di cho lời thuyết giảng như là: Trong tác phẩm Manifest Destiny-An Odyssey Of Human Process hay Định Mệnh-Cuộc Hành Trình Của Nhân Loại có đề cập đến nhiều sự việc, nhưng có lẽ một vấn đề mà Nhà văn Nguyễn Quang chưa đề cập đến hoặc sẽ viết sau này là bí mật của lịch sử nhân loại, tại sao nó lại bị triệt thoái hoặc biến mất theo thời gian? Nguồn gốc của con người từ đâu mà ra? v.v… GS. Quyên Di ví Nhà văn Nguyễn Quang như một hậu duệ của người khổng lồ với trái tim to và khối óc lớn. Bởi có trái tim to nên ông dễ bị xúc động điển hình là trong một buổi tiệc với chủ đề “MẸ” và khi nói về Mẹ mình, Nhà văn Nguyễn Quang đã khóc, cũng như khi nói tới Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh ông lại cũng khóc, và bây giờ, trong lúc này, ông lại sắp sửa khóc.

    Đối với người khổng lồ Nguyễn Quang, GS. Quyển Di nói: “Nhà văn Nguyễn Quang với cái đầu to mà khôn bởi vì tác phẩm của ông chất chứa nhiều tính trí thức”. Ngẫm lại cá nhân bản thân mình, GS. Quyên Di muốn nói đến quan điểm niềm tin của con người và thuyết khoa học đối với vũ trụ. GS. Quyên Di cho rằng Phật giáo là một tôn giáo gần nhất với thuyết khoa học và được coi như là “cái duyên”. Chính cái duyên đã tạo nên tất cả mọi sự trong cuộc sống. Vậy, trong triết lý và niềm tin thì Phật giáo là thuyết gần nhất với sự phát triển của nhân loại.

    Giáo sư nhà văn Quyển Di kết luận: Định mệnh của con người là thế, vậy định mệnh của cá nhân thì sao? Phải chăng mỗi chúng ta đều có một định mệnh riêng? Như vậy, chúng ta có thể nói là: Định mệnh nằm ở trong tay của chúng ta như GS Huê đã đề cập trong bài diễn văn của bà. Lại trong tuyệt tác phẩm Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du có câu: “Nhân định thắng thiên”. Vậy chúng ta phải làm gì để có thể thắng thiên định? Cuối cùng GS. Quyên Di kết thúc bài nói chuyện của ông với bài thơ Giờ Quốc Sử của Đoàn Văn Cừ, một bài thơ đã trải qua hơn 70 năm nhưng nội dung có một giá trị rất cao trong lãnh vực giáo dục và luôn được ghi nhớ.

    Trong sự ngưỡng mộ cá nhân, nhà Văn Nguyễn Quang theo sự ghi nhận của riêng tôi:

    Nhà văn Nguyễn Quang là một thức giả, hay một danh từ khác sẽ đúng về ông, ông là một học giả khảo cứu, luận dề nhân bản và chinh trị,… Tôi đã đọc nhiều áng văn của ông, như trong tác phẩm Ông Giáo Làng, Nguyễn Quang mô tả những cánh đồng lúa vàng cò bay thẳng cánh, những buổi tát đìa, đi nơm cua cá tôm,… Đấy, đời sống nơi thôn dã thư thái hình thành buổi thiếu thời của Nguyễn Quang. Rồi tác phẩm Ốc Mượn Hồn, Nguyễn Quang kể về giai đoạn xuất dương du học với khu La Tinh (Quartier Latin), xóm học Paris với ký túc xá kỷ niệm của nhiều sinh viên Đông Dương, Nhà Đông Nam Á (Maison de l’Asie du Sud-Est), mà trước đây là Nhà Đông Dương (Maison de l’Indochine), là một trong những nhà cổ nhất của Ký túc xá Quốc tế Paris, Cité International Universitaire de Paris (CIUP), Ký túc xá Quốc tế Paris, hay vẫn được sinh viên Việt mình gọi tắt là “Cité”, nằm trong quận 14, đối diện với công viên xinh đẹp Montsouris. Nguyễn Quang sang du học bên Anh, tai Đại học Cambridge. Âu châu sau đệ nhị thế chiến, phong trào existentialisme bùng phát ảnh hưởng dến sinh hoạt xã hội. Nguyễn Quang kể sinh hoạt sinh viên sống theo khuynh hướng tự do, gột bỏ nếp thủ cựu, bảo thủ. Ông là chứng nhân giai đoạn existentialisme lan tràn vào thơ văn nghệ thuật.

    Từ trái sang phải: Anh Vũ Hòa, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hải, TS Huy Anh

    Đọc Nguyễn Quang chút gì đó của miệt lục tỉnh có Ông Giáo Làng, rồi bung ra văn học phương tây, nhuốm nét Guy de Maupassant, William Somerset Maugham, D.H. Lawrence, Gustave Flaubert, Françoise Sagan,… Thế hệ chúng ta phần đông đi hàng hai, văn xuôi kết cấu nội dung nửa âu nửa á. Nửa theo Tự Lực Văn Đoàn và nửa phong thái theo nhóm Maugham-Maupassant, như ngày xưa tôi say mê đọc Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam thuở trung học, khi lên đại học đọc Guy de Maupassant, William Somerset Maugham, D.H. Lawrence, Mark Twain, Ernest Hemingway, Charles Dickens, Alexandre Dumas, Victor Hugo,…. Kiến thức Nguyễn Quang bao quát, nhưng điều tôi mến ông nhất là sự khiêm tốn và hòa nhã.

    Nhóm Guitar Tơ Vàng gồm 6 người, nhưng hôm nay chỉ có 3 chị đến được đó là Lâm Dung, Jennifer Lâm và Bình Chi.

    Sau cùng khi dồng hồ đã điểm 8:30 giờ tối bạn bè vẫn vui ca, trong khi bên ngoài khí trời đã thoảng se lạnh. Tháng 5 và tháng 6 là giai đoạn chuyển mùa, từ Xuân sang Hè. Mùa hè tháng 6 trở đi sẽ oi bức. Tôi nhìn sân khấu về đêm vẫn sôi động bên tô cháo bò khuya.

    Minh Thư, Khánh Văn, Kim Thoa, Amy Nitan (ái nữ của madame Thanh Vân), và những thế hệ trẻ là sức sống mãnh liệt của tuổi trẻ và sự chuyển hóa của sự giao mùa.

    Chung quy hội tụ sự tăng trưởng, sự sung mãn, niềm vui, sự phấn chấn, tinh thần khám phá, nỗi hoài niệm, hơi ấm nồng nàn, sự sáng tạo và cả sự lãng mạn. Bản chất cốt lõi của mùa hè chạm đến những khao khát sâu thẳm nhất trong lòng ta về sự kết nối, những cuộc phiêu lưu và sự viên mãn trọn vẹn của buổi sinh nhật vào hè. Amy Nitan, Minh Thư, Khánh Văn, Kim Thoa qua liên khúc techno disco Self Control và You’re My Heart, You’re My Soul đã đốt sân khấu về khuya.

    Việt Hải – Khánh Lan ghi nhận

    PHẦN PHỤ DÍNH:

    1. Modern Talking – You’re My Heart, You’re My Soul Lyrics:

    [Verse 1: Thomas Anders]

    Deep in my heart there’s a fire burning hard

    Deep in my heart there’s desire for a start

    I’m dying in emotion, it’s my world in fantasy

    I’m living in my, living in my dreams

    [Chorus: Thomas Anders]

    You’re my heart, you’re my soul

    I keep it shining everywhere I go

    You’re my heart, you’re my soul

    I’ll be holding you forever, stay with me together

    You’re my heart, you’re my soul

    Yeah, a feeling that our love will grow

    You’re my heart, you’re my soul

    That’s the only thing I really know

    [Verse 2: Thomas Anders]

    Let’s close the door and believe my burning heart

    Feeling alright, come on, open up your heart

    I keep the candles burning, let your body melt in mine

    I’m living in my, living in my dreams

    [Chorus: Thomas Anders]

    You’re my heart, you’re my soul

    I keep it shining everywhere I go

    You’re my heart, you’re my soul

    I’ll be holding you forever, stay with you together

    You’re my heart, you’re my soul

    Yeah, a feeling that our love will grow

    You’re my heart, you’re my soul

    That’s the only thing I really know

    You’re my heart, you’re my soul

    Yeah, a feeling that our love will grow

    You’re my heart, you’re my soul

    That’s the only thing I really know

    You’re my heart, you’re my soul

    That’s the only thing I really know

    You’re my heart, you’re my soul

    Yeah, a feeling that our love will grow

    You’re my heart, you’re my soul

    That’s the only thing I really know

    You’re my heart, you’re my soul.

  • Kiều My,  Sinh Hoạt

    NHỮNG CÁNH HOA HAWAII GIỮA LÒNG DIAMOND BAR

    Kiều My

    Chủ nhật vừa qua, giữa thành phố Diamond Bar hiền hòa của miền Nam California, một buổi tiệc sinh nhật tập thể thật đặc biệt diễn ra, không phải trong một nhà hàng sang trọng hay một hội trường lộng lẫy, mà là một không gian được trang hoàng theo phong cách Hawaii đầy màu sắc, mang đến cảm giác như mọi người đang cùng nhau du ngoạn đến một hòn đảo nhiệt đới giữa Thái Bình Dương.

    Happy Birthday to you….

    Điều còn đọng lại trong tôi không chỉ là những vòng hoa Hawaii rực rỡ hay những giai điệu vui tươi vang lên suốt buổi tiệc, mà còn là hình ảnh đẹp của nhiều thế hệ cùng ngồi bên nhau trong sự thân tình và hòa hợp tại tư gia khang trang của chủ nhân Katherine Minh Thư và Brian.

    Ngay từ khi bước vào khuôn viên buổi tiệc, tôi đã cảm nhận được bầu không khí vui tươi và ấm áp. Những vòng hoa Lei nhiều màu sắc được đặt trên bàn tiếp đón như lời chào thân thiện của người Hawaii, hòa hợp cùng các vật trang trí mang đậm nét Polynesia.

    Những vòng hoa Lei rực rỡ trên cổ mọi người và những đóa hoa cài trên mái tóc của phái đẹp…

    Khiến không gian như bừng sáng dưới ánh nắng đầu hè California, làm tăng thêm vui tươi hào hứng cho sinh nhật của các bạn: Anh Thái Phạm, Minh Thư, Brian, Thụy Lan, Michael, Alain Đức, Ngọc Quỳnh, và đặc biệt là sinh nhật thứ 100 của cố nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, tác giả của ca khúc nổi tiếng Nắng Chiều, và cũng là phu quân của thi sĩ Lê Nguyễn Nga.

    Những con chim sơn ca với nhạc phẩm Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn

    Và các anh trai với nhạc phẩm Ngày Hạnh Phúc của NS Lam Phương

    Chủ nhân Minh Thư và Brian của buổi tiệc xuất hiện trong tiếng vỗ tay nồng nhiệt của mọi người. Trên gương mặt là niềm hạnh phúc giản dị khi được đón nhận tình cảm của gia đình và bạn bè. Trong ánh mắt ấy, tôi nhận ra một điều rất đẹp: tuổi tác chỉ là con số, còn tình yêu thương mới là điều làm cho cuộc sống trở nên ý nghĩa.

    Chủ nhân Katherine Minh Thư và Brian

    Khoảng bốn mươi khách tham dự, một con số không quá đông, nhưng vừa đủ để tạo nên bầu không khí ấm cúng. Điều đặc biệt là tuổi tác của khách mời trải dài qua nhiều thế hệ từ những lứa tuổi bốn mươi, năm mươi, sáu mươi, bảy mươi, tám mươi… cho đến một bậc cao niên đã bước sang tuổi chín mươi lăm. Nếu nhìn bằng con số, khoảng cách ấy lên đến hơn nửa thế kỷ. Thế nhưng trong buổi tiệc hôm đó, mọi khoảng cách của tuổi tác dường như xóa tan.

    Với sự tham dự của những nhà văn: Nguyễn Quang, Phạm Gia Đại, Trần Việt Hải và phu nhân Lệ Hoa, Kiều My, Khánh Lan và phu quân Mạnh Bổng; thi sĩ Lê Nguyễn Nga với các bạn thâm giao trong Air Việt Nam gồm có: chị Liễu và phu quân, chị Vân, chị Thanh Mỹ và phu quân, chị Ngọc Hoa (Văn Bút) và Erlinda. Ban Tơ Vàng gồm có: ca nhạc sĩ Lâm Dung, chị Jennifer Lâm và anh chị Bình Chi & anh Anh….

    Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm có: Ngọc Quỳnh, Vũ Hòa, Trần Mạnh Chi, Khánh Văn, Kim Thoa, Minh Khai, Thụy Lan và Michael, Peter Thạnh…

    Những mái đầu bạc trắng ngồi bên cạnh những khuôn mặt còn đầy sức sống của tuổi trung niên.  Những tiếng cười vang lên tự nhiên và thoải mái. Không ai cảm thấy lạc lõng. Không ai cảm thấy mình thuộc về một thế hệ khác.

    Nhìn những người bạn già tóc bạc vẫn vui vẻ trò chuyện cùng những người trẻ hơn, tôi cảm nhận rõ giá trị của những buổi gặp gỡ như thế này. Cuộc sống nơi hải ngoại vốn bận rộn và nhiều lo toan. Thời gian đôi khi khiến con người xa nhau.

    Nhưng chỉ cần một dịp hội ngộ, mọi người lại tìm về với nhau bằng sự chân thành giản dị nhất. Và bài thơ mộc mạc dưới đây đã nói lên tâm tình của người bạn mang tên Kiều My:

                                                              NÀY BẠN HỠI!

    Này bạn hỡi!

    Đời đưa bạn đến với ta

    Cho nhau nụ cười hòa nhã

    Chia sẻ những lúc băn khoăn

    Ta cùng vui trong thi văn

    Cùng say sưa bên tiếng đàn

    Quanh ta đời bao thách đố

    Có bạn ta vẫn cười vang

    Tình bạn như tia nắng ấm

    Chan hòa những ngày mưa rơi

    Bên nhau hát khúc yêu đời

    Tình viễn xứ tràn niềm vui

    Ta gặp nhau nơi xứ người

    Niềm an ủi thật khôn nguôi

    Giang rộng đôi tay chào đón

    Bạn hiền hãy đến với ta

    Cùng nhau hát khúc chan hòa

    Cùng nhau hát khúc… hòa vang…

    Ánh nắng đầu hè trải nhẹ dưới bầu trời trong xanh như được gột rửa bởi những cơn gió biển từ phương xa. Khung cảnh ấy khiến lòng người cũng trở nên nhẹ nhàng hơn. Nhưng có lẽ linh hồn của buổi tiệc chính là âm nhạc.

    Mạnh Bổng với Sway with me…..When marimba rhythms start to play. Dance with me, make me sway. Like the lazy ocean hugs the shore. Hold me close, sway memore….

    Âm nhạc đã vang lên như một người bạn đồng hành thân thiết. Những ca khúc sôi động làm mọi người vỗ tay theo nhịp điệu và đôi chân đã nhún nhẩy theo hấp lực của của dòng nhạc vui tươi cuồng nhiệt. Có những lúc cả bàn tiệc cùng hòa giọng hát theo một bài hát quen thuộc. Những tiếng cười vang lên không ngớt.

    Mộng dưới hoa với NV Phạm Gia Đại….

    Rồi sau những giai điệu rộn ràng ấy lại là những bản nhạc nhẹ nhàng, sâu lắng. Âm nhạc như đưa mọi người trở về những miền ký ức khác nhau. Có người lặng lẽ ngân nga theo một ca khúc xưa. Có người mỉm cười khi nhớ lại những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ.

    Trong những khoảnh khắc ấy, quả thật âm nhạc có một sức mạnh kỳ lạ. Nó kết nối những người thuộc nhiều thế hệ. Một bài hát có thể được người chín mươi lăm tuổi yêu thích, nhưng cũng có thể làm rung động trái tim người bốn mươi. Âm nhạc xóa nhòa khoảng cách của tuổi tác và tạo nên một ngôn ngữ chung của cảm xúc.

    Con chim đầu đàn NV Việt Hải….và NV Nguyễn Quang.

    Khi chiếc bánh sinh nhật được mang ra trong tiếng hát chúc mừng của tất cả mọi người, tôi nhìn thấy những ánh mắt rạng ngời quanh bàn tiệc. Có niềm vui, có sự trân trọng và có cả lòng biết ơn dành cho những tình cảm đã được vun đắp qua nhiều năm tháng.

    Happy Birthday Anh Thái Phạm, Minh Thư, Brian, Thụy Lan, Michael, Alain Đức, Ngọc Quỳnh…

    Tôi chợt nghĩ rằng những buổi họp mặt như thế này thật quý giá. Cuộc sống nơi xứ người thường bận rộn. Ai cũng có công việc, gia đình và những trách nhiệm riêng. Thế nhưng chỉ cần một dịp đặc biệt, mọi người lại tìm đến nhau, cùng chia sẻ tiếng cười, những câu chuyện và những tình cảm chân thành. Chính những cuộc gặp gỡ ấy đã làm cho cộng đồng người Việt nơi hải ngoại thêm gắn bó.

    Buổi chiều dần trôi qua. Mặt trời từ từ ngả bóng trên bầu trời xanh của Diamond Bar. Những tia nắng cuối ngày nhẹ nhàng phủ lên khu vườn như một lớp mật vàng óng ánh. Những tia nắng cuối ngày nhuộm vàng không gian buổi tiệc. Tiếng nhạc vẫn còn vang lên đâu đó. Những câu chuyện vẫn tiếp tục được nối dài. Không ai muốn vội vã ra về. Đến khi màn đêm buông xuống, không khí thật êm dịu, xa xa dưới thung lũng kia, ánh đèn vàng lan tỏa khắp thành phố thật đẹp…thật tình…

    Khi ra về, tôi mang theo không chỉ những bức ảnh đẹp mà còn là một cảm giác bình an khó tả. Đó là niềm vui khi được gặp gỡ bạn bè, được chứng kiến những khoảnh khắc hạnh phúc và được nhắc nhớ rằng tình người luôn là món quà quý giá nhất trong cuộc sống.

    Buổi tiệc sinh nhật theo phong cách Hawaii giữa lòng Diamond Bar đã kết thúc, nhưng dư âm của nó vẫn còn đọng lại. Giữa những ngày tháng tất bật nơi đất khách, những giây phút sum vầy như thế giống như một làn gió mát từ biển khơi Hawaii thổi đến, mang theo niềm vui, sự ấm áp và những kỷ niệm đẹp sẽ còn lưu giữ mãi trong lòng mỗi người tham dự.

    Riêng tôi, tôi mang về một cảm giác ấm áp đặc biệt.

    Giữa thành phố Diamond Bar của miền Nam California, trong một buổi chiều mang hương sắc Hawaii, tôi đã được chứng kiến một điều thật đẹp: nhiều thế hệ cùng ngồi lại bên nhau, cùng thưởng thức những món ăn ngon, cùng hát, cùng cười và cùng chia sẻ những khoảnh khắc quý giá của tình thân, tình bạn. “95 đến 40 tuổi”. Nó làm mình liên tưởng đến một vòng hoa Hawaii gồm nhiều màu sắc khác nhau nhưng kết lại thành một tổng thể hài hòa.

    Và có lẽ đó chính là món quà sinh nhật ý nghĩa nhất — không phải những món quà được gói trong giấy màu rực rỡ, mà là sự hiện diện của những người thân thương, những người đã góp phần làm cho cuộc đời nhau trở nên phong phú và đáng nhớ hơn. Như những cánh hoa Hawaii nhiều màu sắc kết thành một vòng hoa đẹp, mỗi người tham dự hôm ấy đã góp một sắc màu riêng để tạo nên một buổi tiệc sinh nhật tập thể khó quên giữa lòng Diamond Bar.

    Mời vào xem thêm hình của anh Anh và Chị Bình Chi chụp ở link dưới đây:

    https://drive.google.com/drive/folders/1z3O4_ZosDl8TQ4WJus1dDAlA1lc0o7ds?usp=sharing

    Kiều My, California 2026

  • Âm nhạc,  Vương Trùng Dương

    Tam Ca AVT: Ban Nhạc Trào Phúng – Một Thời Để Nhớ

    Vương Trùng Dương

    Giữa thập niên 1950’, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH thành Phòng Tác Động Tinh Thần, sau đó với danh xưng Nha Chiến Tranh Tâm lý, năm 1965 trở thành Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.

    Gần hai thập niên ở miền Nam VN, khán thính giả không xa lạ gì với ban tam ca trào phúng AVT.

    Năm 1958, trong danh sách công tác của đơn vị Tâm Lý Chiến có một ban tam ca do 3 anh tân binh mới nhập ngũ: Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên trình bày những bản nhạc trào phúng, vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT.

    Anh Linh có căn bản nhạc lý vững vàng nên từng có thời gian được cử thay thế giáo sư âm nhạc Phạm Nghệ làm trưởng ban Ca của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, tức Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương sau đó. Ông đã sáng tác được khoảng 20 bài. Ca khúc đầu tay của Anh Linh là bài “Sao Em Không Đi”.

    Việc hình thành tên ban tam ca AVT đã được nhạc sĩ Anh Linh kể lại với những chi tiết lý thú đến từ một sự tình cờ. “Một hôm, ban giám đốc thuê người kẻ một tấm biểu ngữ rất lớn để giăng ngang đường Trần Hưng Đạo, gần phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện nhằm giới thiệu bộ 3 này mà họ muốn gọi là ban Kích Động Nhạc Anh Vũ. Đúng vào lúc những người kẻ chữ vừa viết xong hai chữ A và V mầu đỏ và chữ NH mầu xanh thì tôi tình cờ đi tới. Khi hỏi thì được biết họ viết chữ Anh Vũ. Tôi nói ngay là ban tam ca không phải tên là Anh Vũ như ban giám đốc đã thuê họ viết. Nhưng thấy mấy người thợ đã lỡ viết như vậy nên chợt nhớ ra ban kích động nhạc của mình đã có sẵn tên Anh Linh, Vân Sơn nên bảo viết thêm chữ T (chữ đầu của tên Tuấn Đăng) và bỏ 2 chữ NH kia đi. Vì thế nên có tên AVT”.

    Trong thời gian AVT hát nhạc ngọai quốc ở phòng trà Anh Vũ, họ luôn được khán giả yếu cầu hát nhiều lần nên chủ phòng trà thêm cho AVT một danh hiệu nữa là ban AVT Đăng-Linh-Sơn khi được giới thiệu. Nhưng MC lại cố ý đọc là “AVT Darlingson” cho khán giả ngọai quốc dễ hiểu! Tiền thù lao cho AVT sau đó đã phá kỷ lục khi họ được trả cao vì AVT có lần được khán giả yêu cầu “bis” đến 7 lần. Ba người vừa vào hậu trường thay áo đi về thì lại phải mặc vào để ra trình diễn thêm trong khi khán giả giả tiếp tục cổ động! Đó thật là một kỷ niệm nhớ đời cho Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng.

    Giọng ca của 3 thành viên AVT này rất đều. Họ có thể lên cao tới “nốt” Sol cao và xuống đến Sol thấp. Hình ảnh đặc biệt của AVT là lúc trình diễn họ đều mặc quốc phục với khăn đóng, áo dài và tự đàn lấy để hát. Trước khi chuyển qua sử dụng những nhạc khí dân tộc thì Anh Linh chơi guitar, Vân Sơn chơi trống và Tuấn Đăng sử dụng contre-bass. Những tiết mục linh động và tươi vui của AVT thật sự đã mang lại cho sinh hoạt phòng trà thời đó thêm rất nhiều sống động.

    Qua đầu thập niên 1960’, vào lúc AVT cần những sáng tác mới để trình bày, nhạc sĩ Lữ Liên có ý định thử nghiệm khi muốn hướng phần trình diễn của AVT về một thể loại mới lạ. Ông đã trích một đọan trong bản Thất Nghiệp Ca của ông (sáng tác cho Đoàn Văn Nghệ Việt Nam) đặt tên làTam Nghiệp, mô tả 3 chàng thợ nhuộm, thợ sửa khóa và thầy bói để AVT thực nghiệm vào dịp Tất Niên trong một chương trình văn nghệ do quân đội tổ chức tại rạp Tống Nhất. Chương trình này có mục đích ủy lạo các chiến sĩ xuất sắc khắp 4 vùng chiến thuật trở về tham dự, Nhưng sắp đến ngày ra mắt thì thình lình có giấy gọi Anh Linh theo học khóa sĩ quan vào năm 1962.

    Lập tức Hoàng Hải được đưa vào tập dượt để thay thế. Hᴏànɡ Hải tên thật là Lưᴜ Dᴜyên, anh ɾᴜột ᴄủa ᴄhᴜẩn Tướnɡ Lưᴜ Kim Cươnɡ. Sau này khi Lữ Liên gia nhập AVT, nhạc phẩm Tam Nghiệp có được sửa đổi đôi chút với những nghề Thợ Sửa Xe Máy (do Lữ Liên diễn tả), nghề Tẩm Quất với Vân Sơn và Tuấn Đăng với nghề thợ mộc. Với bài Tam Nghiệp gốc, một sáng tác của Lữ Liên, trích từ tác phẩm Thất Nghiệp Ca của ông, lần đầu tiên khán giả được thưởng thức một nhạc phẩm trào phúng với những âm điệu cổ truyền cùng những lời ca dí dỏm và nghệ thuật trình diễn sống động.

    Khán giả hôm đó, phần lớn là anh em chiến hữu, được dịp cười hả hê. Nhất là lúc Vân Sơn hứng lên múa trống, tung dùi và Tuấn Đăng nhảy lên cây “Contre-basse” để solo theo nhịp kích động khiến khán giả cổ võ muốn sập rạp. Và kể từ đó AVT bắt đầu bước vào một khúc quanh quan trọng với phần trình bày những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội. Với sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại đặt cho AVT một số bài mới như Ông Nội Trợ, Trắng Đen, Dậy Thì, vv…

    Nhạc sĩ gia nhập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa năm 1957, ban đầu phục vụ trong ban biên tập đài phát thanh Quân đội, sau đó được biệt phái vào ngành kịch nghệ sân khấu thuộc Tiểu Đoàn 1 Tâm Lý Chiến. Sau khi giải ngũ, ông cộng tác với đài phát thanh Mẹ Việt Nam.

    Tất cả những nhạc phẩm này đã khiến tên tuổi AVT càng này càng lên cao. Ngoài những sáng tác của nhạc sĩ Lữ Liên, nhạc sĩ Anh Bằng cũng sáng tác cho ban tam ca này một nhạc phẩm nổi tiếng khác có tựa đề là Huynh Đệ Chi Binh, thêm vào đó là một sáng tác của Duy Nhượng là bài Ai Lên Xe Bus…

    Từ đó, ban AVT đã trở thành một tam ca nhạc đắt giá tại các phòng trà ca nhạc và vũ trường cũng như các Đại Nhạc Hôi cùng các đài phát thanh và truyền hình. Có thể nói, AVT đã trở thành một “hiện tượng” trong sinh họat ca nhạc tại miền Nam Việt Nam với một khuynh hướng thể hiện chưa từng có trước đó.

    Nhạc sĩ Lữ Liên tiếp sáng tác cho ban AVT trình bày như Ba Bà Mẹ Chồng, Cờ Người, Em Tập Vespa, vv… Ngoài những lời lẽ châm biếm, ví von trong những bài hát trước đó, người nghe còn cảm thấy rất thích tú với những bài hát được Lữ Liên sáng tác với hình thức lời thanh mà ý tục, tương tự những thi phẩm nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trong đó có tác phẩm Cờ Người đã được phổ nhạc hoàn toàn mang chất AVT độc đáo…

    Trong khoảng thời gian từ 60 đến 64, AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc và băng nhạc. Và AVT còn nhận lời trình diễn cho các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn ở Sài Gòn như Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai…

    Vào năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Hải được lệnh giải ngũ. Nhạc sĩ Lữ Liên được mời vào thay thế và trở thành trưởng ban AVT từ đó.

    Sau khi nhận lời trở thành một thành viên của AVT, lúc đó măc dù trong ban không còn ai mang tên có chữ có A ở đầu, nhưng Lữ Liên vẫn giữ nguyên cái tên AVT. Vì ông cho rằng tên đó đã đi sâu vào tâm hồn quần chúng. Nhưng ông đã đưa ra một vài đề nghị với một số thay đổi. Thứ nhất, với vai trò trưởng ban ông đổi danh xưng chính thức cho AVT là “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT”, thay vì Ban Kích Động Nhạc AVT. Ngoài ra, còn có thêm một sự thay đổi quan trọng khác là loại bỏ 3 nhạc khí Tây Phương để chỉ sử dụng những nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Từ đó Vân Sơn chơi Tỳ Bà, Tuấn Đăng chơi đàn đoản và Lữ Liên sử dụng đàn nhị tức đàn cò.

    Thời gian 1966-67, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong chương trình trao đổi văn hóa với các nước Á Châu, AVT với thành phần trên đã theo Đoàn Văn Nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ di trình diễn tại rất nhiều quốc gia như Lào, Cao Miên, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nhật Bản, vv…

    Năm 1968 thì “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT” đi vào một thời kỳ có thể gọi là cực thịnh với những chuyến lưu diễn tại rất nhiều quốc gia Âu Châu. Theo lời yêu cầu của các đồng bào Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã gửi một phái đoàn văn nghệ hùng hậu gồm đầy đủ các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc, kịch, vv… dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cùng các vũ sư Lưu Hồng và Trịnh Toàn sang Âu Châu trình diễn lần. Lần ra mắt ở rạp Maubert Mutualité Paris, Lữ Liên đã sáng tác một số bài dành riêng cho AVT như Chúc Xuân, Vòng Quanh Chợ Tết, Tiên Sài Gòn, Gái Trai Thời Đại, Lịch Sử Mái Tóc Huyền, Mảnh Bằng, 3 Ông Bố Vợ, vv…

    Xen kẽ mỗi bài hát đều có phần solo nhạc. Tiếng nhạc khí Việt Nam thánh thót, véo von như chim hót khiến khán thích thú thưởng thức. Nhất là trong tiết mục AVT trình tấu cũng bằng tỳ bà, nhị huyền và đàn đoản như hai nhạc khúc bất tử Tây phương của Johan Strauss là Le Beau Danube Bleu và Les Flots Du Danube. Lần trình diễn đó của AVT đã gây tiếng vang Paris khi “đem chuông đi đấm xứ người”.

    Sau đêm trình diễn ở rạp Maubert, bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng sang trình diễn ở Thụy Sĩ và Luân Đôn. Sau đó họ lại về Pháp để trình diễn một xuất ở dưới miền nam. Rồi sau đó, phái đoàn lại tiếp tục đi trình diễn tại Maroc, Algérie, Tunisie, Cộng Hòa Trung Phi trong thời kỳ lãnh đạo của Tổng Thống Bokassa.

    Năm 1969, lại một lần nữa thể theo lời mời của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cử một đoàn văn nghệ gồm AVT với Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng cùng 2 nữ ca sĩ Hoàng Oanh và Hà Thanh, vợ chồng nhạc sĩ cổ nhạc Vĩnh Phan, nhạc sĩ Huỳnh Anh và cây sáo Nguyễn Đình Nghĩa…  Chuyến lưu diễn này kéo dài 1 tháng với một thành công tốt đẹp.

    Bài hát Huynh Đệ Chi Binh của nhạc sĩ Anh Bằng vào giữa thập niên 1960’ hầu như rất quen thuộc với người lính VNCH:

    “Huynh đệ chi binh là gì đó anh Hai?

    Huynh đệ chi binh là là huynh đệ chi binh… a la la

    Huynh đệ chi binh là mình cùng chung đời lính

    Thương nhau khác chi nhân tình

    Từ người deuxième cùi bắp

    Và rồi đi lên thượng cấp đều là huynh đệ chi binh…

    … Lúc sống có nhau là huynh đệ chi binh

    Lúc chết có nhau là huynh đệ chi binh

    Sống chết có nhau là huynh đệ chi binh… a la la la…

    Sướng khổ có nhau là huynh đệ chi binh

    … Giúp đỡ lẫn nhau là huynh đệ chi binh

    Sống chết có nhau là huynh đệ chi binh…

    … Từ người deuxième cà cuống

    Và rồi đi lên Ðại Tướng đều là huynh đệ chi binh”

    Hình ảnh Huynh Đệ Chi Binh nói lên tình chiến hữu rất đẹp vì vậy có nhiều bài viết về Huynh Đệ Chi Binh, nhà văn Tô Văn Cấp ấn hành quyển Huynh Đệ Chi Binh Thủy Quân Lục Chiến…

    Trong bài viết Huynh Đệ Chi Binh của Trần Xuân Thời: “Tình huynh đệ chi binh, tình đồng hương, tri âm hay tri kỷ là cung bậc tiết tấu cảm thông toàn vẹn nhất của nhân tình… Biết bao chiến sĩ QLVNCH đã sống hiên ngang và hy sinh cho tổ quốc một cách oanh liệt!  “Sống bên tình, hy sinh bên bạn”. Chết vì tổ quốc, chết vinh quang “Mourir pour la patrie c’est une gloire”…  

    *

    Sau ngày Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, ban AVT tan ɾã, hai thành νiên ở lại νà ᴄhịᴜ số ρhận bi thảm. Vân Sơn bị công an khu vực rượt nên sợ quá phải nhảy vội xuống sông Thị Nghè. Vân Sơn chết vì đầu đập vào một cây gỗ, ɾa đi tɾᴏnɡ tứᴄ tưởi! Tᴜấn Đănɡ qᴜa đời năm 2016 tɾᴏnɡ nɡhèᴏ khó. Nhạᴄ sĩ Lữ Liên may mắn cùng vợ con được tàu bốc ra Phú Quốc rồi sau đó đến tỵ nạn tại trại Pendleton, đảo Guam. Tới tháng 12 năm 1975, sống ở Quận Cam, California. Sang đầu năm 1976, Hoàng Thi Thơ liên lạc được với Lữ Liên, rồi rủ ông thành lập lại ban tam ca trào phúng AVT để đi biểu diễn.

    Ban AVT tại hải nɡᴏại, ɡồm Lữ Liên, Vũ Hᴜyến νà Nɡọᴄ Bíᴄh. Năm 1977, nɡhệ sĩ Tɾườnɡ Dᴜy thay thế Nɡọᴄ Bíᴄh, νới bộ 3 này, họ đi lưᴜ diễn Châᴜ Âᴜ tɾᴏnɡ 19 nɡày. Năm 1988, AVT được tăng cường thêm nữ nghệ sĩ Thúy Liểu đã sang Úc trình diễn tại Sydney trong một chương trình kịch vui kéo dài trong 10 ngày.

    Năm 1987, nhạᴄ sĩ Anh Bằnɡ đã thựᴄ hiện ᴄᴜốn bănɡ AVT Hải Nɡᴏại đầᴜ tiên. Năm 1992, nɡhệ sĩ kịᴄh Hᴏànɡ Lᴏnɡ thay thế Vũ Hᴜyến. Như νậy 3 nɡhệ sĩ ᴄᴜối ᴄùnɡ ᴄủa ban AVT là Lữ Liên, Tɾườnɡ Dᴜy νà Hᴏànɡ Lᴏnɡ. Năm 1992, AVT có một sự thay đổi với Hoàng Long vào thay thế cho nhạc sĩ Vũ Huyến, đã cùng nhau thực hiện một băng cassette, thu thanh tại phòng thu Tùng Giang. Năm 1994, trung tâm Giáng Ngọc sản xuất cuốn video của AVT tại hải ngọai. Dựa theo một áng thơ tuyệt tác của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhạc sĩ Lữ Liên trình diễn chung với 2 nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương để trình bầy nhạc phẩm Đánh Đu, với phần nhạc do Lữ Liên tự đảm trách, nhạc sĩ Ngọc Bích hòa âm và sử dụng Keyboard.

    Từ năm 1989, ông bắt đầu viết lời Việt một số ca khúc nhạc ngoại quốc để cho con mình biểu diễn. Một số bài vẫn được yêu thích đến tận nay như Dĩ Vãng Nhạt Nhòa, Lạc Mất Mùa Xuân, Niềm Đau Chôn Giấu, Tan Tác… Ông qua đời tháng 7 năm 2012 tại bệnh viện Garden Grove, đại thọ 92 tuổi. Thánɡ 9 năm 2019, nɡhệ sĩ Tɾườnɡ Dᴜy qᴜa đời ở tᴜổi 71. Thánɡ 11 năm 2020, nɡhệ sĩ Hᴏànɡ Lᴏnɡ đã qᴜa đời ở tᴜổi 84. Còn Anh Linh, người sáng lập ra AVT, từ khi qua Mỹ theo diện HO đến nay, ca đoàn trưởng của một giáo xứ ở San Jose. Vợ chồng anh còn là chủ của một tiệm phở…

    Ban tam ca AVT từ năm 1958 ở Sài Gòn đến năm 2010 ở Mỹ, coi  như ban tam ca lâu nhất. Nay tuy không còn nhưng những nhạc sĩ góp mặt trong AVT đã quen thuộc với giới thưởng ngoạn.

    Little Saigon, May 2026

    Vương Trùng Dương

  • Âm nhạc,  Tha Nhân,  Viet-Hải

    THƠ PHỔ NHẠC BỞI THI NHẠC SĨ THA NHÂN

    Thơ Việt Hải Khúc Hát Thuyền Nhân 2 versions

    Version 1:

    https://www.youtube.com/watch?v=iIqVeMl9ncA : bản Karaoke version 1

    Version 2

    https://www.youtube.com/watch?v=Wc5X1Agfh5E : bản karaoke Version 2.

    Thơ NS Dương Hồng Anh:

    1/. Ca khúc Dĩ Vãng: 

    https://www.youtube.com/watch?v=F-Q2nL7wBpA : Dĩ Vãng

    https://www.youtube.com/watch?v=j1U7AFM6mI4 : ck Dĩ Vãng bản Karaoke

    2/. Mừng XUÂN

    PQNpuMOXtDjrhNo6OGY7EX_QXUp3Bv_&index=16.

  • Hồng Tước

    KHÓC BẠN CA SI HỒNG TƯỚC

    Bài viết của Nhật Báo Người Việt

    Ca sĩ Hồng Tước (tên thật là Nguyễn Thị Hồng Tước) là em ca sĩ Kim Tước, vừa qua đời hôm 5 Tháng Tư, 2026 hưởng thọ 80 tuổi. Trước năm 1975, bà tham gia các ban nhạc trên làn sóng điện đài phát thanh và truyền hình như ban Tiếng Tơ Đồng, Tứ Ca Nhật Trường, bao gồm Như Thủy, Phương Mai, Hồng Tước, và Nhật Trường, trình diễn tại phòng trà Ritz của ca sĩ Jo Marcel. Tại Hoa Kỳ, cựu nữ sinh trung học Trưng Vương này tham gia nhiều sinh hoạt văn nghệ trong vùng Little Saigon cũng như các hoạt động hội đoàn và xã hội khác.

    Ca sĩ Hồng Tước. (Hình: Minh Phú cung cấp)

    Ca sĩ Hồng Tước (thứ hai từ phải) cùng gia đình con trai. (Hình: Gia đình cung cấp)

    Mẹ kính yêu,

    Mẹ đã ra đi được hai tuần rồi và con nhớ mẹ vô cùng. Mẹ là người mẹ tuyệt vời nhất mà bất cứ người con trai nào cũng có thể mong ước. Ba và mẹ đã liều mình, đánh đổi tất cả để đưa gia đình đến Mỹ để có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Khi chúng con còn nhỏ, ba và mẹ đã làm việc rất vất vả để kiếm tiền mua nhà, và để Trâm với con có thể tham gia các hoạt động ngoại khóa như học karate, thể thao, học piano và đi du lịch. Dù tan sở về mẹ đã mệt, mẹ vẫn cố gắng nấu cho chúng con một bữa ăn tươi ngon mỗi ngày. Mẹ là một đầu bếp tuyệt vời. Con mê món ăn mẹ nấu, đặc biệt là thịt kho trứng và đậu hũ nhồi thịt. Chúng con đã cố gắng báo đáp mẹ bằng cách rửa chén và phụ giúp dọn dẹp nhà cửa để cuộc sống của mẹ đỡ vất vả hơn, vì mẹ đã làm cho cuộc sống của chúng con dễ dàng hơn. Mẹ đã nuôi dưỡng, yêu thương và đối xử tử tế với chúng con. Mẹ chưa bao giờ la mắng hay đối xử tệ với chúng con. Con cố gắng noi gương mẹ với các con của mình.

    Mẹ là sức mạnh và là trụ cột của gia đình trong suốt bao năm qua. Tất cả những gì con có đều là nhờ mẹ, Mẹ ơi, ở mọi giai đoạn trong đời, mẹ đều hỗ trợ con vô điều kiện. Mẹ khuyến khích con đạt điểm cao ở trường. Con đã cố gắng hết sức để mẹ tự hào và báo đáp mẹ. Lần đầu tiên mẹ cho con lái xe của mẹ từ trường về nhà mà con chưa có bằng lái xe. Ngay cả lần con gây tai nạn xe của mẹ, mẹ cũng không bao giờ la mắng con. Mẹ giúp con trả tiền học đại học và mua căn nhà đầu tiên của con. Mẹ luôn tin tưởng con và con cố gắng hết sức mỗi ngày để sống tốt cho xứng đáng với mẹ. Mẹ luôn để con và Trâm tự chọn con đường riêng trong cuộc sống và không bao giờ ép chúng con làm những điều chúng con không muốn. Mẹ chưa bao giờ phán xét các quyết định của chúng con. Vì điều đó, con mãi mãi biết ơn.

    Giờ đây con mới bắt đầu nhận ra mẹ được bạn bè, bạn học, và cộng đồng người Việt yêu thương nhiều đến mức nào. Rất nhiều người nói với con rằng mẹ là một người đặc biệt. Họ rất đau lòng trước sự mất mát này. Một số người nói rằng họ không thể ngủ được trong nhiều ngày. Điều này cho thấy mẹ có ảnh hưởng sâu sắc đến những người khác. Tất cả chúng ta sẽ nhớ nụ cười, tiếng cười, và sự ấm áp của mẹ. Mẹ đã mang lại niềm vui cho cuộc sống của chúng con. Thật buồn vì chúng con không được trải qua điều đó lâu hơn nữa. Nhưng chúng con biết ơn khoảng thời gian chúng ta ở bên nhau và sẽ trân trọng tất cả những kỷ niệm này.

    Con yêu mẹ. Mẹ đã hoàn thành công việc của mẹ trên trái đất này. Hãy an nghỉ, mẹ nhé. Hãy biết rằng chúng con sẽ không bao giờ quên mẹ. Con sẽ sớm gặp lại ba và mẹ.

    Với tình yêu và lòng biết ơn,

    Trần Trí Tịnh

    Dear Mẹ,

    What an incredible woman you were.

    In my heart you will still be that amazing woman that touched everyone’s life, so full of joy and adventure. You made every moment you were a part of brighter. The sacrifices you made for our family were immeasurable. Because of you I live an great life. Every decision and every action I make I will think you and Bố….I hope to always make you happy and especially proud.

    I miss you every day.

    Love,

    Trâm

    Ca sĩ Hồng Tước (giữa) và gia đình con gái. (Hình: Gia đình cung cấp)

    My grandma,

    Bà, was someone who did so much for her family and friends, most of which I likely don’t even know about, but still want to thank her for. In addition to being my grandma, I knew Bà as an artist and someone who always wanted to see me happy. When I was young and we visited her in Westminster, she would lay out her sketchbooks and art supplies where I would spend almost all my time there using them to draw. She had many paintings hung on the walls, two of which I remember were of me and Levi in “áo dài.” Levi and I also loved to mess around on her digital piano, banging the keys and making whatever bird-saxophone-snare drum sound came out of it. We made such a racket, but she never got mad at us, even when we also kept pushing the buttons on her rice dispenser without knowing they were dispensing unnecessary piles of rice down below. As long as we were happy, Bà didn’t mind giving us her phone to play games or buying me my hundredth penguin plushie. She would do anything in a heartbeat to see her family thrive, and that was one of the things I admired most about her.

    I first got to know about how Bà and the rest of dad’s family came to America when she came to speak for my second grade class for our country projects. She spoke about their trip across the ocean and being stolen from by pirates, which is actually really crazy to imagine since that’s the thing I would only hear in fictional stories up until then. I thank her for making that trip with the family so that dad and eventually, I, could live a peaceful and successful life in America. The hardship and effort she put into establishing the Tran Family won’t be forgotten and will continue to inspire me and everyone else she had made a positive impact on. We had fun with Bà most often out of any other of our family members. She was a fun and caring presence to have pop her head into our house every now and then, usually carrying bowls of home cooked food. We pray that Bà rests in peace in the hands of God next to Ông, and that she may live through us as we try to live the happy lives she would want us to have.

    We love you forever, Bà, thank you.

    Maiya

    ——————————NHỮNG DÒNG THƯ THƯƠNG TIẾC TỪ BẠN BÈ——————————–

    Hồng Tước thân yêu,

    80 năm, chị đến với gia đình, bạn bè, những người thân yêu với nụ cười rạng rỡ, đôi mắt tươi vui, trái tim nhân hậu, và mang tiếng hát đến cho cuộc đời thêm yêu thương và tươi đẹp. Hôm nay, chắc chị cũng đang hát trên Thiên Quốc để ca tụng Đấng Tối Cao mà chị tôn thờ và yêu mến, và cầu nguyện cho tất cả chúng tôi.

    Sẽ nhớ lắm ánh mắt, nụ cười thân thương của chị. Tạm biệt chị, và hẹn một ngày chúng ta sẽ gặp lại nhau ở miền vĩnh cửu, nơi không còn khổ đau, nơi hạnh phúc viên mãn với những con người sống yêu thương và chân thành như chị.

    Hoàng Vĩnh—————————————–

    Từ trái sang phài: Hồng Tước, Minh Phú, Khánh Lan, GS Phạm Thị Huê (hình chụp hôm mồng một Tết Bính Ngọ 2026 tại Hội Trường Tòa Báo Người Việt-hình Khánh Lan cung cấp)

    Quá bất ngờ, khi được gia đình báo tin Hồng Tước ra đi vĩnh viễn.

    Làm sao có thể tin được, 7 giờ sáng Chủ Nhật, 5 Tháng Tư, mở Facebook thấy Hồng Tước cho coi hình dự lễ chiều Thứ Bảy, 4 Tháng Tư, Easter với gia đình trưởng nam (con trai, con dâu, và hai cháu Nội) tại nhà thờ Tustin. Rồi tới hình Hồng Tước chụp với gia đình O Sen Ngọc Mai, chương trình tối Thứ Sáu, 3 Tháng Tư, đi coi với cô em Hà.

    Và vì vậy tôi không thể nào quên và tin bữa ăn Hồng Tước bất ngờ text, hẹn, đãi ăn tại BCD ToFu 11 sáng Thứ Năm, 2 Tháng Tư, lại là ngày cuối cùng giã biệt bạn bè Trưng Vương thân thương, những người may mắn là vợ chồng Dung-Cường, Mai-Hải, và Minh Phú. Cuối bữa, Hồng Tước nói, muốn mời các bạn thôi, không có mục đặc biệt gì hết. Và bữa ăn này làm chúng tôi có cảm tưởng xui khiến như lời bạn giã từ.

    Nhớ bạn quá, cộng với 68 năm bao nhiêu kỷ niệm tình bạn, làm sao có thể quên Hồng Tước, người bạn Trưng Vương 58-65, đa tài, rất đáng yêu, đáng quý này được.

    Sẽ nhớ bạn mãi!

    Minh Phú, Trưng Vương 58-65———————————————

    Ca sĩ Hồng Tước (thứ hai từ phải) và nhóm Tiếng Hát Nửa Vời. (Hình: Minh Ngân cung cấp)

    Bàng hoàng, đau đớn, thổn thức. Chị đă ra đi vội vă không một lời từ biệt. Em sẽ chẳng còn tìm được những giờ phút, những ngày tháng – thật đều đặn – chị em mình bày trò ra chơi, nghêu ngao từ sáng đến tối, chăm chút cho nhau từng ly, từng tí. Em đang nghẹn ngào, chơi vơi như thụt sâu xuống đáy giếng vì em mất chị rồi. Nếu có kiếp sau, em vẫn xin làm đứa em út đam mê đàn ca hát xướng, củng một sở thích và hợp gu với chị. Chim Hồng đă bay xa, tiếng hót đă tắt thật rồi!

    Minh Ngân – Nhóm Tình Ca———————————

    VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC CA SI HỒNG TƯỚC-CỰU TRƯỞNG NHÓM ÂM NHẠC CỦA LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIA (1915-1917)

    Nói đến nghệ sĩ Hồng Tước là nói đến sự đáng yêu và nụ cười xinh xắn, tươi vui luôn nở trên môi. Bà là một nghệ sĩ đa tài và đa dạng trong các phạm trù văn, thơ, nhạc, họa. Trong quá khứ, nghệ sĩ Hồng Tước đã tham gia giúp tiết mục văn nghệ trong các chương trình văn học, được thực hiện tại đại học Cal State Long Beach qua các chương trình: Tự Lực Văn Đoàn, thi sĩ Cung Trầm Tưởng, nhạc sĩ Trần Quang Hải, v.v…do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức…

    Nghệ sĩ Hồng Tước đã đến và ra đi, bỏ lại sau lưng gia đình và bè bạn. Phải chăng những người đa tài thưởng ra đi trong thầm lặng, và để lại trong nhân gian bao nuối tiếc. Mà trong ấy, những kỷ niệm với nghệ sĩ Hồng Tước như còn lắng đọng mãi trong tâm tư  của Việt Hải, Khánh Lan và toàn thể các anh chị em trong Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Xin mến chúc nghệ sĩ Maria Hồng Tước an giấc ngàn thu bên Thiên Chúa toàn năng trên Thiên Đàng.

    Khánh Lan và Việt Hải-Liên Nhóm NVNT & TTG————————————-

    Hồng Tước thương yêu,

    Tiếng Hà khóc nức nở qua điện thoại: Chị Lan Nhi ơi, chị Hồng Tước em vừa ra đi rồi. Em đau khổ quá…

    Tin buồn đến quá bất ngờ, khiến chị chỉ biết lặng im. Biết nói gì với Hà lúc này! Trong óc chị bỗng lóe lên:

    Lênh đênh theo sóng, thuyền ra khơi

    Một cánh chim đơn lạc cuối trời

    Em đi, không kịp giơ tay vẫy

    Bỏ lại trần gian, bỏ kiếp người.

    Tiễn em về với Chúa Trời

    Từ nay vắng bóng, mỗi người mỗi nơi

    Em lặng lẽ bỏ cõi đời

    Bỏ đàn, vẽ, bỏ giọng cười, tiếng ca.

    Mùa Phục Sinh, nắng chan hòa

    Bỗng dưng một cánh chim sa cuối ngàn

    Em có nghe tiếng khóc than

    Gia đình, bằng hữu…lệ tràn xót, đau.

    Đêm đêm trong lời nguyện cầu

    Dành riêng em, tưởng nhớ nhau mãi hoài

    Qua Mùa Thương Khó, rồi đây

    Mùa Phục Sinh đến, là ngày giỗ em.

    Những ngày tháng hai chị em mình lang thang, nào đi họp vui với nhóm thơ văn của Việt Hải, nào đi nghe nhạc ở báo Người Việt khi có Kim Tước và Mai Hương hát. Đến báo Người Việt thế nào cũng gặp Minh Phú, cháu của chị, và cũng là bạn thân của em, một thời Trưng Vương.

    Hai chị em mình đã từng có những lúc ngồi hàng giờ tâm sự đủ chuyện, từ tình cảm đến văn thơ, âm nhạc.

    Bây giờ, em đi rồi, chị chỉ biết cầu nguyện, xin Chúa rất nhân từ và Mẹ Maria, là quan thầy của em, đón em về hưởng phúc bình an trên Thiên Đàng.

    Chị Hồng Vũ Lan Nhi———————————————–

    Ca sĩ Hồng Tước (bìa phải) cùng nhóm Hương Xưa và Chu Văn An Lê Tuấn (bìa trái). (Hình: Mai Phương cung cấp)

    Xin từ biệt chị Hồng Tước, một người chị thân yêu mà Hoàng Ánh có hân hạnh học chung cùng một mái trường Trưng Vương.

    Sự lạc quan của chị về đời sống đã trải dài qua bao nhiêu năm tháng, dù thăng trầm, chị vẫn luôn mang tiếng hát, nụ cười, tình cảm chân thành đến với mọi người chung quanh.

    Ngủ yên chị Hồng Tước,

    Huỳnh Hoàng Ánh, hội trưởng Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương Nam California———————–

    Hồng Tước là người bạn gắn bó với KL khá lâu , từ lúc MP ,VD, ND,HT, KL đi bộ cuối tuần tại Mile Square Regional Park hoặc ra biển.

    Được ít lâu thì VD có cháu phải coi, sau đó ND có bạn đi bộ khác. Thế là HT và KL mất hứng không đi bộ nữa.

    Nhưng HT thích ca hát, còn KL thích nghe nhạc. Mỗi khi bạn hàt ở Viện Việt Học là không thiếu KL.

    Rồi bao lần đi du thuyền với nhau, đi xem hoa ở các công viên nổi tiếng, đi xem rừng cây sồi với các cây cổ thụ cả chục người dang tay ôm không hết. Con gái KL mời cô Hồng đi chơi với chúng ở Palmspring, con trai KL mời cô Hồng đi picnic.

    Ôi bao kỷ niệm với Hồng, nhớ Hồng quá Hồng ơi

    Kim Lan, Trưng Vương 58-65————————————-

    Vô cùng hụt hẫng.

    Biết bao lâu sinh hoạt và ca hát với nhau mà giờ chị đột ngột ra đi, để lại những hụt hẫng, những thương tiếc vô vàn, chị Hồng Tước ơi!

    Ngọc Hà – Lê Văn Khoa——————————-

    Hồng Tước (bỉa trái trên xe) trong Diễn Hành Tết 2017 ở Westminster. (Hình: Dân Huỳnh)

    Tiếng Xưa, cái tên nghe như một khúc nhạc cũ, nhẹ nhàng mà sâu lắng, như chính tình bạn của sáu người phụ nữ đã đi cùng nhau qua bao năm tháng. Chị Thu Vân, chị Hồng Tước, Vương Lan, Ái Phương, Thu Vàng, và Mỵ Hoa – sáu giọng ca, sáu cá tính, nhưng hòa vào nhau thành một bản hợp âm tròn đầy, ấm áp.

    Những buổi chiều tụ họp tại nhà anh Khanh và Hải Đường, tiếng cười xen lẫn tiếng nhạc, từng bài hát vang lên như nối lại ký ức của một thời tuổi trẻ. Những sân khấu thính phòng tại hội trường báo Người Việt không chỉ là nơi biểu diễn, mà là nơi họ cùng nhau sống trọn vẹn với đam mê âm nhạc,

    Họ cứ nghĩ rằng, hành trình ấy sẽ còn kéo dài mãi. Ngày lễ Easter hôm qua như một nốt lặng đau lòng. Sự ra đi của chị Hồng Tước – người chị hiền hòa, vui tính và đa tài – đã để lại một khoảng trống không gì bù đắp được.

    Có lẽ từ nay, mỗi lần cất tiếng hát, sẽ luôn cảm nhận một khoảng lặng…Một khoảng lặng mang tên Hồng Tước.

    Vương Lan—————————————

    Chủ Nhật, 5 Tháng Tư, HNTâm gọi, “Hồng Tước chết rồi.” “No! Tâm dỡn hả?” Tôi không tin nổi tai mình nghe thấy điều này là sự thật! Mới trưa hôm qua, Tâm và tôi đã hẹn Hồng Tước sẽ đón HT đi thăm TMHà rồi đi ăn trưa với nhau. HT rất vui vẻ như bình thường. Sao lại đi nhanh thế vậy!

    Hơn 60 năm học cùng từ đệ thất Trưng Vương, qua Đại Học Văn Khoa ban Anh Văn, rồi sang Mỹ cùng nhau sinh hoạt cộng đồng, Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương Nam California, Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng Điều Ngự (Sakya), chúng mình vẫn gặp nhau thường xuyên, biết bao nhiêu kỷ niệm kể sao cho hết!

    Hồng luôn vô tư vui sống một cuộc đời tốt đẹp bên người con trai hiếu thảo. Hồng đã luôn vui vẻ, tử tế với mọi người. Hồng sống không giận hờn chỉ có niềm vui cho mình mà cho người chung quanh. Giọng hát ngọt ngào của Hồng không thể thiếu trong các buổi sinh hoạt của Trưng Vương. Hồng không chỉ là một nhạc sĩ và ca sĩ mà còn là một người họa sĩ tài ba với nhiều họa phẩm thể hiện tình yêu thiên nhiên chan chứa của Hồng. Có lẽ thiên nhiên đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của Hồng.

    Phải chăng cũng chính vậy mà Hồng đã có được cho mình giấc ngủ thật bình yên.

    Tiễn đưa Hồng tiếp tục hành trình trong tiếng nhạc êm dịu thánh thót của giòng sông Danube, của tiếng chim ca hát cùng Hồng trong những cánh đồng lúa xanh mênh mông, hay tiếng rì rào của những cánh hoa muôn màu đang chờ đón bạn.

    Ngủ ngon nhé Hồng Tước yêu quý!

    Phạm Vân Bằng, Trưng Vương 58-65———————————–

    Hồng Tước (thứ hai từ phải) cùng nhóm Trưng Vương chuẩn bị thức ăn cho người vô gia cư. (Hình: Minh Phú cung cấp)

    Tôi là bạn cùng học Trưng Vương của Hồng Tước đã hơn 60 năm. Qua Mỹ cùng ở Orange County nên được nhiều dịp gặp nhau… đi ăn, du lịch chung rất vui… Ông xã của Hồng Tước lại là bạn rất thân từ nhỏ của ông xã tôi!

    Hồng Tước nổi hẳn lên vì hát hay và xinh đẹp dễ thương. Hồng Tước bị mệt tim ra đi nhanh quá làm các bạn thương tiếc ngỡ ngàng.

    Một tuần trước khi mất, nhóm bạn thân may mắn được đi ăn với Hồng Tước hai bữa rất vui không ngờ là bữa ăn cuối … cầu chúc Hồng Tước mãi an nghỉ bên đất Chúa.

    Vũ Dung————————————–

    Gởi bác Hồng yêu mến,

    Mới Thứ Sáu, 3 Tháng Tư, hai đứa mình đi nghe nhạc Thúy Nga Paris tổ chức chương trình O Sen Ngọc Mai hát, tui đâu có ngờ đó lại là ngày hai chị em đi chơi và cũng là lần cuối cùng mình gặp nhau. Bác Hồng ra đi sau hai ngày đó, sét đánh ngang tai tui và gia đình không ai tin đó là sự thật, nhưng sự thật vẫn là sự thật, tui như người mất hồn, kéo dài đến mấy ngày, do những cuộc gọi của gia đình ở xa, bạn bè của chị hỏi thăm rất là nhiều nên sự đau đớn cứ kéo dài mãi. Bồ ra đi nay đã được hai tuần nhưng trong tui vẫn thương và nhớ bồ vô cùng bác Hồng ơi. Bác Hồng ơi, từ giờ trở đi ai là người gọi hay text “Mày làm gì đó, lát nữa tao xuống đi ăn cái gì nha.” Nhớ quá, nhớ người, nhớ giọng, nhớ điệu nhún nhảy, nhớ nhiều lắm lắm. Thôi bác Hồng yên nghỉ, mong bác Hồng sớm được hưởng nhan thánh Chúa.

    Cô em ruột, chỉ cách nhau 1 tuổi,

    Love,

    HaTrietBo——————————————-

    Tôi không nghĩ là chị Hồng Tước sẽ nhận lời đóng vai BÀ TÁO với tôi, Nguyễn Xuân Nghĩa, và Vũ Quốc Phong trong chương trình TẾT Chu Văn An vào khoảng hơn 10 năm trước. Đó là lần duy nhất tôi được đứng chung sân khấu với chị.

    Lê Tuấn, Chu Văn An 64——————————–

    Từ trái, Hồng Tước, Philippe Cường, và Minh Ngân. (Hình: Philippe Cường cung cấp)

    Hồng Tước đến đây với một tâm hồn nhân hậu, một nụ cười hiền hòa, mang cầm kỳ thi họa giúp đời, giúp người, không bon chen, không vụ lợi. Rồi 80 năm sau trong giấc ngủ say Hồng Tước đã quay về nơi chốn cũ như một Thiên Thần. Xin ca tụng một kiếp người lý tưởng.

    Bùi Đức Uyên (người bạn trong chương trình Tiếng Việt Trong Sáng – Vietpho TV)——————

    Hồng Tước ơi! Bên nhau mười mấy năm chị nhỉ? Hương Xưa, chị chị em em, áo xanh áo đỏ, bài cũ bài mới, nốt cao nốt thấp….Hương Xưa đã là một quãng “thanh xuân tìm lại” của bốn chị em chúng mình. Giờ chị đã non đào thênh thang rồi. Chúng em nhớ một câu chị nói “chúng  tớ thì già nhưng tâm hồn vẫn trẻ.”

    Mai Phương, Vương Lan, Khiêm Vũ——————————————

    Tôi đã lặng người trong suốt 48 tiếng khi được tin chị Hồng Tước đã vĩnh viễn ra đi. Với riêng tôi, chị như là một người chị trong gia đình. Tôi cũng có một người chị bằng tuổi với chị và cũng đã ra đi vì bệnh tim khi mới vừa 37 tuổi trong một giấc ngủ miên viễn không bao giờ thức giấc.

    Suốt hai ngày, tôi đã nghe lại những nhạc phẩm hát chung với chị Hồng Tước trong những năm tháng vừa qua đã làm lòng tôi sống lại những tháng ngày còn dưới mái gia đình. Nhóm Tiếng Hát Nửa Vời đã cho tôi một cuộc sống như một gia đình mà tôi đã thiếu vắng trong thời niên thiếu. Chị Hồng Tước như là chị cả, như là chị kế, và vợ chồng cô em MN cũng như TH, TS, HV, NH, TTy như những người em trong gia đình. Sự ra đi của chị Hồng Tước để lại trong lòng những người em của chị những kỷ niệm thật êm đềm và những nỗi buồn sâu lắng khó phai nhạt theo thời gian.

    Thực ra, tôi cũng chỉ là một thành viên mới trong nhóm Tiếng Hát Nửa Vời nhưng với những tình cảm mà chị Hồng Tước và cả nhóm đã dành cho một người em/anh như tôi là vô cùng to lớn không khác gì những người chị của tôi đã lo cho tôi khi còn dưới mái ấm gia đình. Hôm nay, chị Hồng Tước đã ra đi, chị không còn đau đớn do những cơn đau chợt đến, chị đang ở trên cao và nhìn xuống những đứa em tinh thần đang cầu nguyện cho chị để chị sớm được trở về cõi an lạc và chị đã thanh thản ra đi.

    Philippe Dương, nhóm Tiếng Hát Nửa Vời——————————-

    Chị Hồng Tước ơi,

    Em được tin buồn về sự ra đi của chị khi đang lái xe trên đường đưa con gái về nội trú trường đại học. Đứa con gái mới được ngồi ăn trưa cùng bác Hồng Tước và mẹ chỉ vài tuần trước thôi, vậy mà nay chị đã sớm chia tay cuộc đời này – cuộc đời mà em biết chị đã rất yêu sống, vẫn còn yêu cho đến ngày cuối cùng.

    Chị là mẫu người lạc quan, yêu đời, biết tạo niềm vui cho mình để vượt qua nỗi buồn, vượt qua mất mát. Thế mà…

    Chị và em có quá nhiều kỷ niệm thân tình từ ngày em mới đặt bước chân bỡ ngỡ đến vùng đất Nam California này. Chị là chiếc cầu nối để giúp em quen biết nhiều người trong cộng đồng âm nhạc ở đây. Chị đã hát trong chương trình hòa nhạc đầu tiên của em ở tòa soạn báo Người Việt với nhiều thành công. Sự thân tình giữa chị em chúng mình gắn kết từ đó – em đã có dịp đàn hát cùng chị và cô Kim Tước nhiều lần sau đó, đặc biệt là đàn hát cho bài hát do chị sáng tác – bài Nắng Mùa Đông – một bài hát rất hay, tha thiết.

    Chị ra đi trong giấc ngủ ngày lễ Phục Sinh, không phiền lụy ai, chỉ để lại nỗi buồn vô biên cho người ở lại, thân xác ra đi nhưng em tin rằng mọi người sẽ luôn mãi nhớ tâm hồn đẹp của chị.

    Phương Thảo Guitar————————————–

  • DU LỊCH,  Khánh Lan,  Tin tức

    DU LỊCH HAWAII

    Khánh Lan & Mạnh Bổng

    Quần đảo Hawaii (Tên tiếng Mỹ: Hawaiian Islands, tên cũ: Sandwich Islands, tên tiếng Việt: Quần đảo Hạ Uy Di, là một quần đảo gồm 19 đảo, đảo san hô, cùng nhiều đảo nhỏ và núi ngầm trải theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, nằm ở vùng Bắc Thái Bình Dương giữa các vĩ tuyến 19° và 29° Bắc. Tên của quần đảo được lấy theo tên của hòn đảo lớn nhất trong nhóm là đảo Hawaii. Quần đảo kéo dài từ đảo Hawaii ở phía Nam cho tới rạn san hô Kure ở phía Bắc. Đảo lớn nhất là Big Island, đảo lớn thứ 2 là Oahu và đảo thứ 3 là Maui. Ngoại trừ quần đảo Midway chưa được hợp nhất vào Hoa Kỳ, thì toàn bộ quần đảo Hawaii đã trở thành tiểu bang Hawaii của Hoa Kỳ (tiểu bang thứ 50) vào ngày 21 tháng 8 năm 1959, vị trí tại vùng Bắc Thái Bình Dương cách đất liền 3700 km ở 21°18’41” độ vĩ bắc 157°47’47″độ kinh đông.

    Quần đảo Hawaii gồm có tám đảo lớn nằm nối liền nhau trên phía Bắc biển Thái Bình Dương gồm: Niihau, Kauai, Oahu, Molokai, Lanai, Kahoolawe, Maui và Island of Hawaii. Với vẻ đẹp độc đáo, quần đảo Hawaii có một danh hiệu là “thiên đường hạ giới Hạ Uy Di.”

    OAHU-HAWAII

    Oahu nằm ở bờ biển phía đông nam và là sự kết hợp giữa nét hoang sơ, văn hóa đa dạng với trung tâm chính trị, và lịch sử lâu đời. Oahu  Được hình thành do sự phun trào của hai ngọn núi lửa Waianae và Koolau, với đỉnh cao nhất là Núi Kaala. So với Big Island và Maui Island, đảo Oahu chiếm một diện tích khá khiêm nhường (chỉ hơn 1,500 km2), nhưng Oahu Island lại được chọn đặt làm thủ phủ (Honolulu) của quần đảo Hawaii do các vị trí sóng yên gió lặng của nó. Oahu là hòn đảo đông dân với đa số là người gốc Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam và sau cùng là người Đại Hàn.

    Oahu là một hòn đảo thuộc Quận Honolulu, tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Hòn đảo này được ngăn cách với đảo Kauai (về phía tây bắc) và đảo Molokai (về phía đông nam) bởi eo biển Kauai và eo biển Kaiwi. Có nguồn gốc hình thành từ núi lửa, Oahu là hòn đảo lớn thứ ba trong quần đảo Hawaii, với diện tích 597 dặm vuông (1,546 km²), đồng thời là nơi sinh sống của số lượng dân cư đông đảo nhất trong quần đảo này. Hai dãy núi chạy song song là dãy Koolau và dãy Waianae, được nối liền với nhau bởi một cao nguyên nằm ở trung tâm đảo. Người Tahiti đã thiết lập các khu định cư lâu dài trên đảo Oahu vào khoảng năm 500 sau Công nguyên.

    Năm 1795, Kamehameha I là vua của đảo Hawaii đã chinh phục Oahu và thống nhất toàn bộ quần đảo Hawaii. Năm 1845, kinh đô hoàng gia được dời từ Lahaina (trên đảo Maui) về Honolulu (trên đảo Oahu); Honolulu hiện nay chính là thủ đô của tiểu bang Hawaii. Đến cuối thế kỷ 19, chế độ quân chủ tại đây ngày càng chịu sự chi phối mạnh mẽ của các thế lực ngoại bang. Nữ hoàng Liliuokalani bị lật đổ vào năm 1893 (bà đã thuật lại câu chuyện này trong tác phẩm “Hawaii’s Story by Hawaii’s Queen“, xuất bản năm 1898), và toàn bộ quần đảo Hawaii chính thức bị Hoa Kỳ sáp nhập vào năm 1898.

    Oahu là hòn đảo lớn thứ ba và đông dân nhất trong quần đảo Hawaii cũng như của tiểu bang Hawaii thuộc Hoa Kỳ. Thủ phủ của tiểu bang, Honolulu, nằm ở bờ biển phía đông nam của Oahu. Hòn đảo Oahu cùng với các đảo Tây Bắc Hawaii không có người ở hợp thành Thành phố và Quận Honolulu. Vào năm 2024, Oʻahu có dân số là 998,747 người. Oahu có chiều dài 44 dặm (71 km) theo trục đông-tây và rộng khoảng 30 dặm (48 km) tại điểm rộng nhất theo trục bắc-nam. Đường bờ biển của đảo dài 227 dặm (365 km). Nếu tính cả các đảo nhỏ phụ cận như đảo Ford, cùng với các đảo nằm trong vịnh Kāneʻohe và ngoài khơi bờ biển phía đông, diện tích của Oʻahu đạt 596.7 dặm vuông (1,545.4 km²), đưa hòn đảo này trở thành hòn đảo lớn thứ 20 tại Hoa Kỳ.

    Các nghiên cứu khảo cổ học sơ khai cho rằng những nhà thám hiểm người Polynesia đến từ quần đảo Marquesas có thể đã đặt chân tới đây từ rất sớm, ngay từ thế kỷ thứ III sau Công nguyên; sau đó có thể là một làn sóng di cư thứ hai đến từ Tahiti vào khoảng năm 1100 sau Công nguyên. Tuy nhiên, các phân tích hiện đại hơn lại chỉ ra rằng những cư dân đầu tiên có lẽ đã đến vào khoảng thời gian từ năm 900 đến 1200 sau Công nguyên. Vị vua vĩ đại đầu tiên của Oʻahu là Maʻilikūkahi, người đặt ra các bộ luật và đã khởi xướng một triều đại kéo dài suốt 304 năm.

    Kualiʻi là vị vua đầu tiên thuộc dòng dõi các vị vua hiếu chiến, và ngai vàng sau đó được truyền lại cho các con trai của ông. Vào năm 1773, ngai vàng được trao cho Kahahana, con trai của Elani xứ Ewa. Vào ngày 19 tháng 1 năm 1778, Oʻahu là hòn đảo đầu tiên thuộc quần đảo Hawaii được Thuyền trưởng James Cook phát hiện trong chuyến thám hiểm thứ ba của ông. Đây là cuộc chạm trán đầu tiên được ghi nhận giữa quần đảo Hawaii và những người không thuộc chủng tộc Polynesia. Cook đã bỏ qua Oahu mà thay vào đó cập bến tại Kauai, trước khi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ ban đầu là khám phá bờ biển Bắc Mỹ. Một năm sau đó, vào ngày 27 tháng 2 năm 1779, chỉ huy phó của Cook là Thuyền trưởng Charles Clerke đã trở thành người không thuộc chủng tộc Polynesia đầu tiên được ghi nhận đặt chân đến Oʻahu khi ông cập bến tại Vịnh Waimea. Trước đó cùng tháng, Cook đã bị sát hại tại Vịnh Kealakekua trên đảo Hawaii khi một cuộc tranh chấp với người dân địa phương leo thang thành bạo lực.

    Chuyến thăm Oahu của Clerke diễn ra khá ngắn ngủi; hai con tàu thuộc đoàn thám hiểm đã rời Vịnh Waimea ngay trong ngày hôm đó sau khi gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nước ngọt. Vào thời điểm Cook đặt chân đến đây, quần đảo Hawaii đang bị chia cắt thành nhiều tiểu quốc (chiefdom) khác nhau và thường xuyên xảy ra chiến tranh. Đến năm 1783, Kahekili II, vua của đảo Maui đã chinh phục và chiếm đóng Oʻahu. Sau đó, ông đưa con trai mình là Kalanikūpule lên làm vua xứ Oahu, biến nơi này thành một quốc gia bù nhìn. Kalanikūpule sau đó đã bị đánh bại trong Trận Nuʻuanu năm 1795 bởi Kamehameha I, người sau đó đã sáng lập nên Vương quốc Hawaii. Quần đảo Hawaii chỉ thực sự được thống nhất trọn vẹn khi Vua Kaumualiʻi dâng nộp hai hòn đảo Kauaʻi và Niʻihau vào năm 1810.

    Vào cuối thế kỷ 18, Waikīkī là một khu định cư lớn trên đảo Oahu, đóng vai trò là nơi cư ngụ của Kahekili II sau năm 1783.  Năm 1845, Kamehameha III đã dời thủ đô từ Lahaina trên đảo Maui về Honolulu. Sau đó, Vua Kalākaua đã cho xây dựng một dinh thự hiện đại tại Honolulu dành cho hoàng gia, đó là Cung điện ʻIolani, công trình hiện vẫn đứng vững và là cung điện hoàng gia duy nhất còn tồn tại trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Vào tháng 1 năm 1893, một nhóm các doanh nhân hàng đầu người Mỹ đã cầm vũ khí tập kết gần Cung điện ʻIolani và phối hợp cùng lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ từ tàu USS Boston vừa đổ bộ xuống cảng Honolulu, đã phát động một cuộc đảo chính thành công lật đổ Nữ hoàng Liliʻuokalani. Nhóm phiến quân này đã xóa bỏ chế độ quân chủ và thành lập Cộng hòa Hawaii; sau đó, họ đã vận động thành công chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận sáp nhập lãnh thổ này vào Hoa Kỳ.

    Các điểm lịch sử quan trọng như  Pearl Harbor (Trân Châu Cảng), nơi đã từng nổi tiếng với trận đánh bất ngờ của Nhật Bản trong Thế Chiến II và để lại di tích lịch sử với chiến hạm Arizona ngủ yên dưới lòng vịnh.  Di sản hoàng gia tại Cung điện Iolani là nơi ở chính thức của hoàng gia Hawaii cuối cùng, một biểu tượng lịch sử quan trọng. Bishop Museum, Viện Bảo tàng về lịch sử thiên nhiên và văn hóa Hawaii với các hoạt động văn hóa đặc sắc. 

    Trong thế kỷ 20, Oahu đã trở thành trung tâm của Hạm đội Thái Bình Dương thuộc Hải quân Hoa Kỳ. Oahu là nơi tọa lạc của Trân Châu Cảng, bãi biển Waikiki nổi tiếng khắp thế giới với những bãi tắm tuyệt đẹp, và khu vực North Shore nổi tiếng với bộ môn lướt sóng. Một số địa điểm đáng chú ý khác trên đảo Oahu bao gồm Vịnh Hanauma, một phần của Công viên Khu vực Koko Head vốn rất được ưa chuộng cho hoạt động lặn ống thở (snorkeling), và Diamond Head, một ngọn núi lửa đã tắt và là biểu tượng đặc trưng của hòn đảo. Ngoài Honolulu, các thành phố quan trọng khác trên đảo bao gồm Kailua, Kaneohe và Wahiawa.

    TRÊN KHU PHỐ TRÊN KALAKAUA AVENUE & DỌC THEO BỜ WAIKIKI BEACH

    April 22, 2026: Du thuyền Celibrity Solstice sẽ không khởi hành cho đến chiều ngày 24 tháng 4, 2026 nhưng chúng tôi đã bay đến Oahu, Hawaii 2 ngày trước và mướn phòng tại Bposhtels Waikiki Reatreat, tọa lạc trên đường Beachwalk với giá $180 một đêm, như vậy giá này cũng khá rẻ so với giá của các Hotel 5, 4 sao gần khu phố chính trên Kalakaua Avenue và nằm dọc theo bờ biển Waikiki.

     Kalakaua Avenue: Từ Bposhtels Waikiki Retreat đến  bãi biển Waikiki và con đường chính Kalakaua Avenue chỉ mất khoảng 10 phút đường bộ. Kalakaua Avenue là con đường chạy dọc theo bờ biển Waikiki với các quán ăn, tiệm bán nước giải khát (trung bình đến sang trọng), những cửa tiệm bán nữ trang, quần áo, và đặc sản của Hawaii cũng như các cửa hàng Chanel, LV, Prada, Fendi, Dior, Bally, Coach, Gucci, Tory Burch, Versace đều tập trung và trải dài 2 bên Kalakaua Avenue.

    Có lẽ khu phố sầm uất Kalakaua hầu như không bao giờ ngủ bởi những ánh đèn sáng rực, bởi những bước chân người nhịp nhàng trên hè phố, bởi tiếng nói cười nhộn nhịp của làn sóng người qua lại. Hình như mọi người đang chìm đắm trong hạnh phúc đón nhận niềm vui và tận hưởng làn gió mát rượi từ biển Waikiki đem lại.

    Bãi biển Waikiki: Trước năm 1950, bãi biển ở khu phố Waikīkī trải dài liên tục và được gọi là Bãi biển Waikīkī. Các bức tường chắn sóng và các công trình phát triển khác kể từ đó đã chia bờ biển thành tám bãi biển riêng biệt. Từ năm 1951, gần 2.800.000 feet khối (80.000 m3) cát đã được thêm vào để khôi phục bãi biển trong khu vực. Tính đến năm 2020, các bãi biển trong khu vực vẫn được gọi là “Bãi biển Waikīkī“, Từ Bãi biển Waikīkī, có thể nhìn thấy hoàng hôn trên biển từ giữa tháng 9 đến cuối tháng 3. Ở một khoảng cách nhất định ngoài khơi, nước khá nông, với nhiều đá dưới đáy. Sóng có thể khá mạnh, đặc biệt là vào những ngày gió. Một nửa bãi biển được đánh dấu dành cho người lướt sóng, nơi đây nổi tiếng với những con sóng dài và cuộn tròn, lý tưởng cho lướt ván dài, lướt sóng đôi và người mới bắt đầu. Bãi biển Waikiki nổi tiếng sầm uất và nhộn nhịp với con đường biển dài gần cây số rưỡi.

    Duke Paoa Kahanamoku (1890-1968) lớn lên ở Waikiki, ông là người Hawaii chính gốc và là biểu tượng của Hawaii đối với hàng triệu người. Ông trở thành nhà vô địch Olympic và là vận động viên bơi lội nhanh nhất thế giới. Từ năm 1912 đến năm 1932, ông giành được ba huy chương vàng, hai huy chương bạc và được coi là cha đẻ của môn lướt sóng quốc tế. Duke đã giới thiệu môn lướt sóng đến bờ biển phía Đông của Mỹ, châu Âu và Úc. Ông trở thành anh hùng khi cứu nạng sống của 8 người từ một chiếc thuyền bị lật ở Corona del Mar, California năm 1925 bằng ván lướt sóng của mình. Ông còng là một diễn viên điện ảnh từ năm 1925 đến năm 1933, ông được bầu làm cảnh sát trưởng Honolulu trong 13 nhiệm kỳ liên tiếp từ năm 1934 đến năm 1960 và được công nhận là Đại sứ Aloha của Hawaii từ năm 1912. Duke Paoa Kahanamoku đã làm rạng danh tên tuổi của mình, rạng danh chủng tộc của mình, rạng danh tiểu bang của mình và rạng danh tất cả dân chúng sinh sống tại Hawaii.

    Bức tượng bằng đồng của Duke Paoa Kahanamoku được đặt ở phía trước của bãi biển Waikiki

    Tượng Duke Paoa Kahanamoku là một trong những địa danh mang tính biểu tượng nhất ở Waikiki, Hawaii. Nó đứng sừng sững như một minh chứng cho di sản của vận động viên lướt sóng và bơi lội Olympic người Hawaii, Duke Kahanamoku, người đã phổ biến môn lướt sóng trên toàn thế giới vào đầu thế kỷ 20. Bức tượng tuyệt đẹp này và tầm quan trọng của nó đối với văn hóa Hawaii, từ những đường nét điêu khắc bằng đồng đến vị trí độc đáo của nó trong văn hóa dân gian địa phương, câu chuyện về tượng đài này thể hiện cả ý nghĩa văn hóa và niềm tự hào dân tộc.

    Dừng chân nơi quán PINK BIKINI BURGER trên Kalakaua Avenue

    Duke marketplace của 40 năm về trước là một khu phố sầm uất và rất đặc biệt bày bán những trang phục màu sắc của người bản xứ, cũng như  những gian hàng tràn ngập đồ trang sức, đồ gỗ địa phương, đồ thủ công trên đảo, vòng hoa đeo cổ, quà lưu niệm, v.v… Ngày nay Duke marketplace đã thu hẹp lại rất nhiều và chỉ còn sinh hoạt trên con hẻm nhỏ trên đường Duke (5 Duke Lane) theo phong cách chợ trời. Đây là một địa điểm mua sắm, ăn uống và giải trí ngoài trời mang tính biểu tượng ở trung tâm của Waikiki. 

    International marketplace (2330 Kalakaua Avenue) gồm nhiều cửa hàng bán lẻ sang trọng và khu ẩm thực toàn cầu, cũng như những buổi trình diễn nhạc sống & hula vào cuối tuần. Khu Chợ Quốc tế (IMP) ở Waikiki được thành lập vào năm 1956 bởi Donn Beach, người sáng tạo ra loại cocktail nổi tiếng Don the Beachcomber, Khu chợ quyến rũ này nhanh chóng trở thành điểm thu hút mọi người, cũng như đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập Waikiki thành một khu nghỉ dưỡng và giải trí nổi tiếng. Nguồn gốc và di sản văn hóa bắt nguồn từ lịch sử, Vua William Charles Lunalilo từng sở hữu mảnh đất nơi IMP hiện tọa lạc, và đã tặng nó cho Nữ hoàng Emma, ​​người nổi tiếng với những nỗ lực nhân đạo. Donn Beach đến Honolulu vào giữa những năm 1950, thuê đất từ ​​Quỹ Nữ hoàng Emma, ​​đã mở đường cho việc thành lập Khu chợ Quốc tế vào năm 1956. Khu chợ, với thiết kế độc đáo, bao gồm các hình ảnh đại diện cho những ngôi làng nhỏ tượng trưng cho Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và vùng biển Nam Thái Bình Dương. Vượt qua thách thức của thị trường bán lẻ IMP đã phải đối mặt với những thách thức trong những năm 1990 từ sự xuất hiện của các trung tâm mua sắm và sự thay đổi trong ngành bán lẻ, dẫn đến nhu cầu cần thiết phải tái thiết lớn. Đáp lại, một cuộc cải tạo lớn trị giá 300 triệu đô la vào năm 2016 đã biến IMP thành một điểm đến mua sắm và ăn uống hiện đại trong khi vẫn bảo tồn di sản Hawaii phong phú của nó.

    Với lịch sử phong phú, sự đa dạng của các cửa hàng và bầu không khí sôi động, Khu Chợ Quốc tế (International Marketplace) đã trải qua nhiều năm chuyển mình để trở thành một điểm giao hòa văn hóa. Nổi bật với hơn 90 cửa hàng cung cấp sự kết hợp giữa các thương hiệu quốc tế và địa phương. Những gian hàng mái tranh bán đồ lưu niệm, đồ thủ công địa phương và thực phẩm và trái cây vùng nhiệt đới. Khu ăn uống ngoài trời dưới bóng mát của những cây đa ngàn năm hoặc thưởng thức ẩm thực trong không gian sang trọng của những nhà hàng quốc tế. Hay đắm mình trong khung cảnh văn hóa nghệ thuật với các màn biểu diễn múa hula và nhạc sống của các nghệ sĩ trong nhóm Queen’s Waikiki Luau.

    Màn biểu diễn múa hula và nhạc sống của các nghệ sĩ trong nhóm Queen’s Waikiki Luau

    Khởi đầu với hơn 70 cửa hàng và nhà hàng, bao gồm các thương hiệu nổi tiếng như Saks Fifth Avenue, Tiffany & Co. và Wolfgang Puck’s Steakhouse, IMP đang phát triển mạnh mẽ. Di sản âm nhạc và địa danh văn hóa Vào thời kỳ đỉnh cao, IMP có các câu lạc bộ đêm đón tiếp các nhạc sĩ nổi tiếng như Martin Denny, một nhân vật chủ chốt trong sự kết hợp giữa nhạc jazz và âm thanh rừng rậm được gọi là exotica. Các buổi biểu diễn thường xuyên của ca sĩ Don Ho càng củng cố vị thế của IMP. Mặc dù phải đối mặt với sự xuống cấp và thay đổi chủ sở hữu vào năm 2013, những người bảo tồn văn hóa đã giữ lại những cây đa chính còn nguyên vẹn cho buổi lễ tái khai trương vào năm 2016.

    Don Ho (August 13, 1930- April 14, 2007)-Bức tượng của Don Ho  là một tác phẩm điêu khắc bằng đồng của Kim Duffett.

    Don Ho là một biểu tượng của thời đại âm nhạc và nghệ thuật, Một cậu bé địa phương được yêu mến với giọng hát vàng và trở thành nghệ sĩ giải trí nổi tiếng nhất Hawaii. Don đã giành được sự hoan nghênh và quốc tế biết đến với ban nhạc Aliis tại hộp đêm của Duke ở International Marketplace khi mới khai trương. Don Ho đã làm cho khán giả ở mọi lứa tuổi thích thú với những bài hát đặc trưng như “ Tiny Bubbles” và “I’ll Remember You.” Don Ho đã đưa âm nhạc Hawaii đi khắp nơi trên các hòn đảo ở Hawaii và tạo nên sự thích thú cho người thưởng thức.. Nét quyến rũ của Don khi trình diễn đã khiến cho mọi người yêu mến, thậm chí, từ các thanh thiếu niên cho đến các cụ già đều xếp hàng để hôn Don sau mỗi buổi trình diễn. Ngoài ra, Don cũng thường xuất hiện trong các bộ phim, hoặc như là người dẫn chương trình cho chương trình truyền hình của riêng mình hay tại nhà hàng của anh mang tên Don Ho. Don là hiện thân của Aloha, và là món quà tuyệt vời đã đến với Hawaii. 

    Những cây đa ngàn năm còn được giữ lại khi IMP tu sửa lại

    Duy trì truyền thống với khoảng 90 cửa hàng và hơn 10 nhà hàng, Chợ Quốc tế (International Market Place hay IMP) phục vụ nhiều khẩu vị khác nhau. Trước đây là địa điểm chính của cửa hàng Saks Fifth Avenue, nhưng sự chuyển đổi gần đây của IMP cửa hàng bách hóa này đã chuyển đi nơi khác và nhường chỗ cho cửa hàng Target vào năm 2022. Nằm trên khu đất rộng sáu mẫu Anh thuộc sở hữu của Công ty Queen Emma Land, IMP được quản lý và cho thuê bởi Taubman và CoastWood Capital Group, thể hiện cam kết bảo tồn di sản văn hóa cho các thế hệ tương lai.

    Giàn hoa giấy đầy màu sắc đã tô thêm vẻ mỹ miều của khu chợ International Marketplace

    Thiết kế ngoài trời của trung tâm, xen kẽ với cây xanh, hoa tím tươi tốt đã tạo ra một bầu không khí mua sắm độc đáo và thư giãn. Một trong những điểm nổi bật của Chợ Quốc tế là cam kết thúc đẩy các sản phẩm thủ công địa phương, nhiều cửa hiệu cung cấp một loạt các mặt hàng độc đáo, từ đồ trang sức và quần áo thủ công đến các sản phẩm thực phẩm địa phương là những tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp thể hiện tinh thần của Hawaii và trở thành những món quà lưu niệm hoàn hảo. Chợ Quốc tế hawaii không chỉ là thiên đường mua sắm mà còn là điểm đến lý tưởng cho những người yêu thích thưởng thức các món lạ miệng từ các quốc gia khác. Các lựa chọn ăn uống phản ảnh sự đa dạng của khu chợ, với nhiều món ăn lạ hầu đáp ứng mọi khẩu vị từ các nhà hàng cao cấp như Eating House 1849 của Roy Yamaguchi và các doanh nghiệp địa phương của Hawaii như Kona Grill House đến các địa điểm phục vụ nhanh chóng và bình dân cho những người bận rộn.

    Waikiki Culture Center, một công viên nhỏ tọa lạc trên Kalakaua Avenue và nơi lý tưởng cho khách bộ hành dừng chân và thư giãn cũng như cho các trẻ em nô đùa, cho bạn bè gặp gỡ & hàn huyên tâm sự.

    Diamond Head là một núi lửa hình nón bằng đá tuff trên đảo Oʻahu của Hawaii. Người Hawaii gọi nó là Lēʻahi hay tạm dịch là trán cá ngừ. Núi lửa này có thể bắt nguồn từ lae (mũi đất, mỏm đá) cộng với ʻahi (cá ngừ) vì hình dạng của đường sống núi giống với hình dạng vây lưng của cây xương rồng lê gai. Tên tiếng Anh của nó được đặt bởi các thủy thủ người Anh vào thế kỷ 19. Diamond Head là một phần của hệ thống các nón, miệng phun và dòng phun trào liên quan đến Chuỗi núi lửa Honolulu, được hình thành bởi các vụ phun trào mới từ núi lửa Koʻolau diễn ra rất lâu sau khi núi lửa hình thành và đã ngủ yên. Những vụ phun trào này đã tạo ra nhiều địa danh nổi tiếng của Oʻahu, bao gồm miệng núi lửa Punchbowl, vịnh Hanauma, Koko Head và đảo Mānana. Giống như phần còn lại của dãy núi lửa Honolulu, Diamond Head trẻ hơn nhiều so với khối núi chính của dãy Koʻolau. Trong khi dãy Koʻolau có tuổi đời khoảng 2.6 triệu năm, Diamond Head được ước tính khoảng 400.000 đến 500.000 năm tuổi.

    Công viên Diamond Head nằm trên một hình nón núi lửa Lēʻahi, đây là công viên tiểu bang nổi tiếng nhất ở Hawaii với khung cảnh đẹp như tranh vẽ của nó về Honolulu và Thái Bình Dương, bao gồm những con đường mòn đi bộ đường dài tuyệt đẹp.

    Polynesian Culture Center giới thiệu các sinh hoạt văn hóa, âm nhạc và vũ điệu của các thổ dân (Polynesian) từ New Zealand, Fiji, Tonga, Samoa cho đến Hawaii.

    Polynesian Cultural Center ghi nhận về văn hoá của các quần đảo. Trung tâm Văn hóa Polynesia rộng 42 mẫu Anh trên Bờ Bắc của Oʻahu. Trung tâm có sáu ngôi làng gồm Hawaii, Fiji, Aotearoa, Samoa, Tahiti, Tonga

    Vũ điệu của các thổ dân làng Tahiti

    Vào đầu năm 1962, Chủ tịch Giáo hội LDS, ông David O. McKay, đã phê chuẩn việc xây dựng trung tâm phi lợi nhuận này nhằm tạo việc làm và cấp học bổng cho sinh viên tại Đại học BYU-Hawaii, đồng thời bảo tồn văn hóa Polynesia. Nguồn gốc của trung tâm bắt nguồn từ những năm 1940 và 1950, khi các buổi tụ họp bên bãi biển theo phong cách hukilau và luau được tổ chức nhằm gây quỹ để xây dựng lại một nhà nguyện địa phương thuộc Giáo hội LDS – công trình vốn đã bị thiêu rụi trong một trận hỏa hoạn. Bài hát “The Hukilau Song” được Alfred Apaka làm cho trở nên nổi tiếng đã được sáng tác sau chuyến ghé thăm một buổi hukilau tại Lāʻi.e. của chính người nhạc sĩ kiêm ca sĩ đầu tiên thể hiện ca khúc này, ông Jack Owens. Vào tháng 10 năm 1980, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Quảng Đông, ông Tập Trọng Huân, thân phụ của nhà lãnh đạo Trung Quốc đương nhiệm Tập Cận Bình đã đến thăm PCC trong khuôn khổ chuyến công du Hoa Kỳ. Sau loạt vụ tấn công ngày 11 tháng 9, lượng khách tham quan tại PCC đã sụt giảm đáng kể.[9] Đến năm 2004, PCC đã tăng gấp đôi ngân sách quảng bá của mình “nhằm quảng bá các lễ hội âm nhạc, vũ điệu và ẩm thực mang đậm bản sắc địa phương.“

    Pearl Harbor (Trân Châu Cảng), một điểm di tích lịch sử về Thế Chiến II giữa Hoa Kỳ và quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản. Ngày 7 Tháng Mười Hai, 1941, quân đội Thiên Hoàng đã bất ngờ tấn công Pearl Habor, mở màn cho quân đội Hoa Kỳ trực tiếp tham dự vào Thế Chiến II. Kết quả của trận tấn công này, chiến hạm Arizona của Hoa Kỳ đang đậu tại đây đã bị quân đội Thiên Hoàng đánh chìm. Hơn 80 năm trôi qua, Arizona vẫn nằm ngủ yên dưới lòng biển. 

    Tại Pearl Harbor, ngoài dịp thăm chiến hạm Arizona, chúng ta còn có dịp tìm hiểu về thời đế quốc Nhật xâm chiếm thuộc địa và bảo hộ những vùng đất Đông Á và Đông Nam Á trước 1945. Ngày nay, Hawaii được xem như biên giới của Hoa Kỳ nằm về phía Tây Thái Bình Dương và kỹ nghệ quốc phòng tại đây chỉ đứng sau nền kỹ nghệ du lịch.

    Hanauma Bay

    Quần đảo Hawaii nổi tiếng về núi lửa nên phần lớn những nham thạch ở đây màu đen và sắc bén. Theo các nhà địa chất, trước đây Hanauma và Koko Crater là hai miệng núi lửa đã hoạt động mạnh. Hanauma Bay nằm về phía Đông Nam, một thắng cảnh thiên nhiên, và là một trong số bãi biển nổi tiếng nhất của đảo Oahu. Hanauma Bay là khu vực được hình thành từ các ngọn núi lửa phun trào ra các luồng nham thạch và ngày nay trở thành một bãi tắm tuyệt đẹp với các rặng san hô dưới lòng biển. Trải qua với thời gian, miệng núi lửa Hanauma dần dần lún xuống mặt biển và tạo ra vịnh Hanauma. Đá biển và san hô tại vịnh Hanauma một sắc thái đặc biệt trở thành những nơi sinh sống cho các loại sinh vật dưới biển.

    Chùa Byodo-in-Kaneohe được tìm thấy trong Công viên Tưởng niệm Thung lũng. Đền Byodo-in cũng là một trong những ngôi đền Phật giáo đẹp nhất trên thế giới và là ngôi chùa Phật giáo không thuộc giáo phái nào, nằm trên đảo Oʻahu ở Hawaii. Chùa được khánh thành vào tháng 8 năm 1968 để kỷ niệm 100 năm ngày những người Nhật Bản đầu tiên đến Hawaii và cũng là để kỷ niệm 100 năm ngày văn hóa Nhật Bản đến Hawaii. Đền được khánh thành bởi Thống đốc John A. Burns, một người được cộng đồng người Nhật yêu mến vì những cống hiến lâu dài của ông cho sự nghiệp đấu tranh vì quyền lợi của người Nhật trong những năm lãnh thổ của tiểu bang. Người nhập cư Nhật Bản đến Vương quốc Hawaii và sau này là Lãnh thổ Hawaii để làm việc trong các đồn điền mía và dứa. Họ cùng với người Trung Quốc, Philippines, Hàn Quốc, người Hawaii bản địa và người Bồ Đào Nha.

    Ngôi chùa Byodo-in là bản sao của một ngôi chùa Phật giáo 900 năm tuổi ở Uji, tỉnh Kyoto, Nhật Bản, một bản sao thu nhỏ của Byōdō-in, một Di sản Thế giới gần thành phố cổ Kyoto, ban đầu là một tu viện được thành lập bởi Fujiwara no Yorimichi vào năm 1052 thời Heian. Trái ngược với niềm tin phổ biến, đây không phải là một ngôi chùa Phật giáo hoạt động theo đúng nghĩa vì nó không có cộng đồng tu sĩ thường trú cũng như không có giáo đoàn hoạt động. Từ năm 2001 đến năm 2007, ngôi chùa đã được trùng tu với tinh thần bảo tồn di sản cổ xưa của Nhật Bản. Đền Byodo-In được xây dựng chủ yếu bằng bê tông (bản gốc bằng gỗ không dùng đinh) vào năm 1968 tại vị trí hiện tại trong Thung lũng.

    Đền Byodo-in có phong cảnh ngoạn mục và là phim trường quay của một số bộ phim truyền hình  như Hawaii Five-O, Magnum P.I. và Lost.

    Bên ngoài là một chiếc chuông hòa bình bằng đồng thau nặng ba tấn. Bao quanh ngôi đền là những ao cá koi lớn có tổng diện tích 2 mẫu Anh (0,81 ha). Xung quanh những ao này là những khu vườn Nhật Bản tươi tốt nằm trên nền những vách đá cao chót vót của dãy núi Koʻolau. Những khu vườn là nơi sinh sống của chim sẻ, công và thiên nga. Ngôi đền có diện tích 11.000 sq ft (1.000 m2). Đền Byodo-In được hàng ngàn tín đồ từ khắp nơi trên thế giới đến thăm và cầu nguyện. Ngoài việc thờ cúng, khuôn viên đền cũng được sử dụng cho đám cưới và các cuộc họp văn phòng.

    Bên trong chùa Byodo-In có một bức tượng Phật Hoa Sen cao 18 ft (5,5 m), một bức tượng gỗ mô tả Amitābha.[2] Bức tượng được phủ vàng và sơn mài. Nơi đây nổi tiếng với bức tượng Vairocana. Bức tượng gốc đã bị mất và được thay thế vào năm 1053 bằng một bức tượng gỗ lớn của Phật Di Lặc, một bảo vật quốc gia được chạm khắc bởi nghệ nhân Nhật Bản Jōchō. Bức tượng Phật Di Lặc đứng ở giữa Điện Phượng Hoàng, một bản sao nghệ thuật của Sukhavati, cõi tịnh độ của Phật Di Lặc. Nó được gọi là “Điện Phượng Hoàng” trong tiếng Anh để chỉ hai con chim phượng hoàng dang rộng đôi cánh trên mái chùa. Năm mươi hai bức tượng gỗ của các vị bồ tát vây quanh Phật Di Lặc, đang nhảy múa và chơi nhạc cụ trên những đám mây bồng bềnh.

    Friday, April 24, 2026-CELEBRITY SOLSTICE

    Celebrity Solstice là con tàu dẫn đầu của lớp tàu du lịch Solstice do Celebrity Cruises, một công ty con của Royal Caribbean Group. Được đóng bởi Meyer Werft ở Papenburg, tàu được hạ thủy vào ngày 10 tháng 8 năm 2008 và được đặt tên bởi giáo sư khoa học hải dương Sharon L. Smith tại một buổi lễ ở Fort Lauderdale, Florida, Hoa Kỳ, vào ngày 14 tháng 11 năm 2008. Thiết kế và xây dựng thuộc Nhà thiết kế du thuyền Martin Francis của Francis Design thiết kế hình dáng bên ngoài của tàu. Kế hoạch tổng thể được hoàn thành bởi Wilson Butler Architects có trụ sở tại Boston. Celebrity Solstice rời Meyer Werft vào ngày 28 tháng 9 năm 2008.

    April 24, 2026-CELEBRITY SOLSTICE

    CAPTAIN THEODOROS ZAKKAS, HOTEL DIRECTOR SRDJARI AND THE CREW WELCOME GUESTS ABOARD THE RENEWED CELEBRITY SOLSTICE

    THE CELEBRITY WAY OF CONSISENT, ELEVATED, HOSPITALITY

    Dressing up for a “Evening Chic” dinner

    “Smart Casual” dinner

    Hawaiian dinner

    Và khi nào Khánh Lan “MẬP” cỡ bà này thì sẽ không đi cruise nữa.

    April 25, 2026-KAILUA KONA. HAWAII 

    Kailua thuộc Quận Honolulu, Hawaii, Hoa Kỳ và nằm trong Quận Koolaupoko của đảo Oahu, trên bờ biển của Vịnh Kailua. Kailua thuộc về khu vực tư pháp và vùng đất hành chính truyền thống (ahupuaa) mang tên Koolaupoko. Kailua nằm cách Honolulu 12 dặm (19 km) về phía đông bắc, qua đèo Nuuanu Pali. Trong tiếng Hawaii, Kailua có nghĩa là “hai biển” hoặc “hai dòng chảy“; do sự rút gọn của từ “kai” (nghĩa là “biển” hoặc “nước biển”) và “elua” (nghĩa là “hai”). Tên gọi này được đặt dựa trên sự hiện diện của hai ao nuôi cá trong vùng (Kawainui và Kaelepulu) hoặc hai dòng hải lưu chảy qua Vịnh Kailua. Nơi này thường được gọi đơn giản là Kona (tên gọi mà nó chia sẻ với quận hành chính mà nó trực thuộc), nhưng đôi khi cũng được gọi là Kona Town, và thỉnh thoảng là Kailua.

    Vào thế kỷ 19, Kailua-Kona chỉ là một làng chài nhỏ, nhưng vào năm 1820, những nhà truyền giáo Cơ Đốc đầu tiên đã đặt chân đến đây, đồng thời xây dựng các nhà thờ và trường học. Trong giai đoạn cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, khu vực này đã trải qua một đợt bùng nổ về bất động sản và xây dựng. Năm 2014, Khu bảo tồn Rừng Cộng đồng Pālamanui được thành lập tại Kailua-Kona với mục tiêu bảo tồn và gìn giữ các loài cây bản địa của Hawaii.

    Kailua-Kona là khu dân cư lớn thứ hai trên đảo Hawaii (sau Hilo) và là khu dân cư lớn nhất ở phía tây của hòn đảo này. Dân số của khu vực này là 50,000 người vào năm 1992. Trong cuộc điều tra dân số năm 2017, dân số đã giảm xuống còn 38,000 người. Đến cuộc điều tra dân số năm 2020, dân số đạt mức 40,514 người. Giai đoạn lịch sử sơ khai dưới triều đại của Vua Kākuhihewa và các vị vua kế vị ông gồm Kanekapu, Kahoowaha, Kauakahiakahoowaha và Kualiʻi, Kailua đã thay thế Waikiki để trở thành trung tâm cư ngụ và hành chính của các vị quân chủ đảo Oahu (*aliʻi nui* của Oahu). Do vậy mà nơi đây có nhiều tàn tích đền thờ cổ xưa, chẳng hạn như những di tích tại Khu Di tích Lịch sử Tiểu bang Ulupo Heiau. Sau thất bại của quân đội Oʻahu trước Vua Kamehameha Đại đế trong Trận chiến Nuʻuanu năm 1795, thủ phủ chính trị kiêm nơi cư ngụ của các *aliʻi nui* (tù trưởng tối cao) vùng Oahu đã được dời từ Kailua về Honolulu.

    Bãi biển Bãi biển Kailua có hình lưỡi liềm, dài khoảng 2.5 dặm (4,0 km), với chiều rộng dao động từ 50 đến 150 feet (15 đến 46 m). Đáy biển ngay phía trước bãi tắm thoai thoải dần ra vùng nước sâu quá đầu người và hoàn toàn không có các khối san hô nhô lên. Những đợt sóng từ nhẹ đến trung bình tại đây rất thích hợp cho các hoạt động lướt ván (surfing) và lướt sóng bằng thân người (bodysurfing). Nhờ những luồng gió thổi đều đặn, bãi biển Kailua đã trở thành điểm đến hàng đầu cho môn lướt ván buồm và lướt ván diều. Robby Naish, nhà vô địch thế giới đầu tiên bộ môn lướt ván buồm và là thành viên được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng của Hiệp hội Lướt ván buồm Chuyên nghiệp, là người đã lớn lên tại Kailua. Các hoạt động như chèo thuyền kayak trên biển và chèo ván đứng (stand-up paddleboarding) để khám phá các khu bảo tồn chim biển được bảo vệ nghiêm ngặt gồm Flat Island và Nā Mokulua (thường được gọi phổ biến là “the Mokes”) đang ngày càng trở nên phổ biến.

    KAILUA KONA DOCK, PALANI 96740

    Du thuyền Celebrity Solstice cập bến cảng Kailua Kona lúc 8:00 giờ sáng, bờ biển tại đây khá nông nên du thuyền phải đậu ngoài khơi và chúng tôi được chuyển xuống những “Tender” nhỏ để vào thành phố. Đây là địa điểm đầu tiên du thuyến Celebrity Solitic dừng lại và sẽ đậu tại đây 2 ngày nên chúng tôi có nhiều thời gian để thăm những thắng cảnh ở đây hơn. Vì thế chúng tôi quyết định sẽ dùng ngày đầu để mua tour và ngày thừ hai còn lại sẽ dạo phố.

    Cũng như thường lệ, chúng tôi không mua ship excursions mà mua một private tour với công ty, C. Big Island với giá $120/per person cho 4 1/2 giờ để thăm 4 nơi.

    • Kona Coffee Farm, Greenwell
    • Saint Benedict’s Painted Church
    • Koloka Honolohau National Historical Park
    • Honu-Green Sea Turtle
    1. Kona Coffee Farm, Greenwell Farms

    Gia đình Steve and Joanie Wynn là chủ nhân của trang trại Greenwell Farms, họ đến Kona vào cuối tháng 6 năm 2021 và ngay lập tức bắt tay vào một dự án mới. Vì thế, chỉ trong khoảng 3 tháng sau vào tháng 9 cùng năm, họ đã thu hoạch vụ cà phê đầu tiên. Steve và Joanie tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng và hoạt động nông trại bằng cách đầu tư vào các thiết bị như máy kéo mới, máy sấy thương mại, máy băm cành cây, máy rải phân bón và máy phun thuốc.

    Kona Earth owners Steve and Joanie Wynn

    Steve and Joanie đã mở rộng khu vực chế biến và cải thiện khu vực bảo quản cà phê xanh, bổ sung hệ thống kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm để giữ gìn độ tươi ngon của hạt cà phê xanh. Một thiết bị bổ sung thiết yếu là máy rang Mill City 10K, cho phép họ rang cà phê theo mẻ nhỏ ngay tại chỗ và vận chuyển trực tiếp mang lại cho họ sự linh hoạt tuyệt vời và độ tươi ngon tối ưu khi vận chuyển đến khách hàng. Mặc dù Kona Earth không phải là trang trại hữu cơ (organic farm), nhưng gia đình Wynn áp dụng các phương pháp canh tác bền vững, họ không sử dụng glyphosate (hay còn gọi là RoundUp) trên cây trồng, Steve đã tìm ra được các phương pháp hữu cơ để kiểm soát cỏ dại, sử dụng phương pháp thu gom nước mưa, ủ phân, và sử dụng vật liệu đóng gói.

    “Care In Every Cup” là chương trình thiện nguyện của Kona Earth. Chương trình này quyên góp một phần trăm doanh thu từ mỗi lần mua hàng cho tổ chức phi lợi Koohala Center ở Big Island. Tổ chức này thực hiện công việc quan trọng trong việc bảo vệ các hệ sinh thái dễ bị tổn thương, bao gồm các rạn san hô, rừng mây và cộng đồng nông nghiệp. Gần đây, các khoản quyên góp tập trung vào việc hỗ trợ các nỗ lực bảo tồn rạn san hô tại Vịnh Kahalu’u với Trung tâm Giáo dục Vịnh Kahalu’u và chương trình ReefTeach của trung tâm. Ngoài việc trồng cà phê, trang trại còn trồng thêm loại cây ăn trái khác như soài, avocado, cherry, v.v… và đặc biệt là loại cherry coffee.

    2. The Hawaii’s first Painted Church: Saint Benedict Roman Catholic Church, 84-5140 Painted Church Rd., Captain Cook, HI 96704

    Giáo xứ Thánh Benedict nằm trên sườn núi của ngọn núi lửa Mauna Loa cao 13,680 feet thuộc Quận Nam Kona, Đảo Hawaii. Giáo xứ trải dài 38 dặm từ biển lên những sườn núi thưa dân cư đến đỉnh núi. Ban đầu, toàn bộ dân cư là người Hawaii sống trong 14 ngôi làng ở Nam Kona, nhưng hiện nay, dân số Công giáo chiếm đa số là người Hawaii và Philippines sống trong 5 ngôi làng. Lịch sử của Giáo hội trong Quận bắt đầu vào đầu năm 1842 khi Cha Joachim Marechal, SS.CC., lúc đó được giao nhiệm vụ chăm sóc cả Quận Nam Kona và Quận Ka’u, Ngài đặt nơi cư trú và nhà nguyện đầu tiên của mình tại làng Kapalelua, nằm trên biên giới của hai Quận. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhờ lòng nhiệt thành và công việc hăng say của Cha Joachim cùng với việc giảng dạy của một số giáo lý viên giáo dân, Giáo hội đã được thiết lập vững chắc ở Nam Kona. Trường học Công giáo đầu tiên trong khu vực được mở tại làng biển Honaunau dưới sự chăm sóc của 2 giáo lý viên, Serapia và Clement Hoki. Các linh mục truyền giáo không sống thường xuyên ở Nam Kona cho đến khoảng năm 1859.

    Nhà nguyện ban đầu, nằm trên bờ vịnh Honaunau gần Thành phố Tị nạn trong Công viên Lịch sử Quốc gia, được biết đến với tên gọi Nhà nguyện Thánh Phanxicô Regis. Cha Joachim qua đời đột ngột vào ngày 12 tháng 4 năm 1859. Cha Aloys Lorteau, SS.CC., là người kế nhiệm Cha Joachim đã đến cư trú tại Honaunau và phục vụ ở đó trong 37 năm cho đến năm 1898, Cha Lorteau qua đời trên tàu Maunaloa vào ngày thứ Hai Phục Sinh trên đường đến Honolulu để được chăm sóc y tế và điều trị tại bệnh viện.

    Đến giữa những năm 1880, hầu hết người dân Honaunau đã di chuyển khỏi khu vực bãi biển đến vùng đất màu mỡ hơn cách đó khoảng hai dặm trên sườn đồi. Cha John Berchmans Velge, SS.CC., linh mục thường trú thay thế Cha Aloys vào tháng 12 năm 1899, đã chuyển những gì có thể của Nhà nguyện Thánh Phanxicô Regis lên vùng thượng Honaunau. Nhà thờ được Giám mục Gulstan Ropert, SS.CC., làm phép vào tháng 8 năm 1902, và được dâng hiến để tôn vinh Thánh Benedict.

    Cha John Berchmans Velge, một họa sĩ tự học đã vẽ những bức tranh tường bên trong nhà thờ

    Cha John Berchmans Velge là một người thầy xuất sắc và là một họa sĩ tự học, đã vẽ những bức tranh tường bên trong nhà thờ với những cảnh tượng ấn tượng từ Kinh Thánh, mô tả nhiều chân lý tôn giáo quan trọng. Những bức tranh Kinh Thánh của Ngài nhanh chóng trở nên nổi tiếng, và Nhà thờ Thánh Benedict được biết đến với tên gọi “Nhà thờ được vẽ”. Ban đầu, Cha John Berchmans Velge phác họa hình vẽ trên bản thảo các bức tranh của mình trên giấy và treo chúng lên tường của nhà thờ Thánh Benedict. Từ năm 1902 đến năm 1904, ông vẽ các bức bích họa lên tường của nhà thờ cùng với những trang trí đầy màu sắc đã khiến nhà thờ được biết đến với tên gọi “Nhà thờ được vẽ tranh“. Cha John Berchmans Velge đã thành lập một liên đoàn các nhà giáo lý gồm những người dạy giáo lý và được hướng dẫn tốt, họ được phép mặc một bộ lễ phục đặc biệt gồm áo dài đen đến đầu gối, thắt lưng đỏ, áo choàng đen có viền trắng, và một cây thánh giá trắng thêu trên áo choàng. Bộ lễ phục này lần đầu tiên xuất hiện vào Chúa nhật Phục Sinh năm 1901. Cha John Berchmans Velge chỉ làm việc có 5 năm trước khi trở về Bỉ, nhưng Ngài đã trở lại nhà thờ Thánh Benedict vào mùa hè năm 1904 (theo sổ rửa tội của nhà thờ).

    Được thiết kế, xây dựng và vẽ như một nhà thờ Gothic thu nhỏ theo phong cách châu Âu bởi Cha John Berchmans Velge, Nhà thờ Thánh Benedict hiện được coi là khá độc đáo trong lịch sử nghệ thuật Mỹ và được ghi vào Sổ danh sách Di tích Lịch sử Tiểu bang Hawaii và Di tích Lịch sử Quốc gia. Tuy nhiên, vì lý do sức khỏe, Cha John Berchmans Velge phải trở về Bỉ vào năm 1904. Sau đó, Cha Victor Poirer, SS.CC., phục vụ từ tháng 8 năm 1904 đến tháng 7 năm 1905; Cha Charles Louis, SS.CC., từ tháng 1 năm 1906 đến tháng 9 năm 1907; và Cha Gerard Benetren, SS.CC., từ tháng 9 năm 1907 đến tháng 12 năm 1913.

    Khoảng năm 1906, nhà thờ Thánh Benedict được khánh thành vào năm 1907, Cha Eugene Oehman, SS.CC., trở thành linh mục quản xứ của Nhà thờ Thánh Benedict vào ngày 7 tháng 12 năm 1913 và phục vụ ở đó trong 37 năm. Trong thời gian làm mục sư, cha Eugene đã chứng kiến ​​bốn vụ phun trào lớn của núi lửa Magna Loa vào các năm 1916, 1919, 1926 và 1950. Trong vụ phun trào và dòng dung nham năm 1926, cha Eugene đã thấy nhà nguyện Thánh Phêrô ở Hoopuloa bị dung nham phá hủy; và trong vụ phun trào năm 1950, nhà nguyện Thánh Tâm Đức Mẹ ở Pahoehoe đã bị dung nham nóng chảy phá hủy hoàn toàn. Cha Eugene đã xây dựng một nhà nguyện Thánh Phêrô mới tại bãi biển Milolii, nhưng hiện nay nhà nguyện này không còn được sử dụng. Trận động đất năm 1950, đi kèm với một dòng dung nham lớn, đã phá hủy nhà thờ Maria Lanakila ở Kealia, được xây dựng vào năm 1860. Cha Eugene Oehman đã tận tụy phục vụ giáo xứ South Kona trong 37 năm, từ năm 1913 đến năm 1951. Vào thời điểm cha Eugene qua đời ngày 14 tháng 6 năm 1951, chỉ còn hai trong số 14 nhà thờ và nhà nguyện được xây dựng trong khu vực vẫn còn được sử dụng, đó là: Nhà thờ Thánh Benedict, Honaunau, và Nhà thờ Thánh Gioan Tẩy giả, Kealakekna.

    Giám mục James J. Sweeney đã giao giáo xứ St. Benedict cho Dòng Cha Maryknoll vào tháng 8 năm 1951 và bổ nhiệm Cha Francis G. Kelliher, M.M., làm linh mục quản xứ đầu tiên của Dòng Maryknoll. Ngài phục vụ ở vị trí đó cho đến tháng 7 năm 1959, khi được chuyển đến giáo xứ St. Pigs X, Honolulu. Cha Kelliher đã làm việc chung với trẻ em và đã cải thiện chương trình giáo dục tôn giáo trong giáo xứ. Ngài đã chào đón các Nữ tu Dòng Thánh Gia đảm nhận chương trình giáo dục tôn giáo và làm trợ lý cho ba linh mục trẻ của giáo phận, đó là Cha Bernard J. Eikmeier (từ tháng 9 năm 1952 đến tháng 7 năm 1953); Cha Francis A. Marzen (từ tháng 9 năm 1953 đến tháng 6 năm 1954); và Cha Joseph Silva (từ tháng 9 năm 1954 đến tháng 10 năm 1954). Cha William F. Desmond, M.M., tạm thời đảm nhiệm cho đến khi Cha Charles T. Wilcox, M.M., đến làm trợ lý linh mục vào tháng 2 năm 1955. Ông giữ chức vụ quản lý giáo xứ trong một năm, từ tháng 7 năm 1955 đến tháng 7 năm 1956, khi Cha Kelliher được nghỉ phép một năm tại Hoa Kỳ. Cha Kelliher trở lại Giáo xứ Thánh Benedict vào tháng 7 năm 1956, với sự trợ giúp của Cha Charles J. Schmidt, M.M. Cha Wilcox được chuyển đến Nhà thờ Thánh Joseph, Hilo. Cha Kelliher đã hợp tác chặt chẽ với một nhóm người quan tâm đến việc sửa chữa và bảo tồn các tác phẩm nghệ thuật trong Nhà thờ Thánh Benedict.

    Năm 1961, ông Alfred Frankenstein, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc của tờ San Francisco Chronicle, và ông Norman Carlson, nhiếp ảnh gia của ông, thông qua Nhà xuất bản Đại học Hawaii, đã xuất bản một cuốn sách có tựa đề ANGELS OVER THE ALTAR (Thiên thần trên bàn thờ). Cuốn sách kể câu chuyện về nghệ thuật dân gian Kitô giáo ở Hawaii và quần đảo Marquesas thuộc vùng biển Nam Thái Bình Dương. Sách có ảnh màu của tất cả các bức tranh tường tôn giáo của Nhà thờ Thánh Benedict, Honaunau, và Nhà thờ Ngôi sao Biển, Kalapana. Bài báo sau đây về cuốn sách đã xuất hiện trên tờ Hawaii Catholic Herald vào tháng 10 năm 1961. Bài báo này đáng được lưu giữ trong Biên niên sử của Giáo xứ Thánh Benedict.

    “Bước vào Nhà thờ được vẽ ở Thượng Honaunau,” Alfred Frankenstein, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc của tờ San Francisco Chronicle, nói, “giống như bước ngược thời gian 500 năm về thế giới của mẹ Francois Villon, người không thể đọc được những lời trong kinh thánh nhưng biết được lời hứa về thiên đường và mối đe dọa của địa ngục thông qua những bức tranh sống động mà bà đã thấy trên tường nhà nguyện của mình.“ Frankenstein là người biên tập văn bản. “Ở đây trên sườn đồi ở Hawaii,” ông viết sau khi thăm nhà thờ, “chúng tôi đã chiêm ngưỡng một góc nhỏ của châu Âu thời trung cổ, không phải được tiếp cận bằng sự giả tạo hay tinh vi, mà tồn tại trong một dòng dõi trực tiếp, đáng kinh ngạc.”

    “ĐỊA NGỤC ĐƯỢC VẼ” “Một bên là hình ảnh địa ngục sôi sục được vẽ chính xác như mẹ của Villon đã thấy, và trên các bức tranh khác là Cain giết Abel, Thánh Phanxicô nhận vết thương thánh, và Chúa Kitô từ chối Ác quỷ. Phía trên là một mái vòm Gothic dài, được xây bằng gỗ và định hình gian giữa của nhà thờ. Sáu cột chống đỡ nó, và nơi những cột gỗ này nối với mái vòm, một thủ thuật ngoạn mục của người họa sĩ đã khiến chúng bung ra thành những chiếc lá cọ khổng lồ hùng vĩ nổi bật trên nền trời nhạt.

    Điều đáng kinh ngạc nhất là bức tường phía sau bàn thờ, mà sự sáng tạo không được đào tạo bài bản của người họa sĩ đã biến thành hậu cung của một nhà thờ lớn; nó trải dài mãi, với vẻ uy nghiêm Gothic đích thực, và kết thúc bằng một luồng ánh sáng. “Điều được coi trọng nhất là tinh thần không thể diễn tả của nhà thờ, điều mà không một kiến ​​trúc sư nào thiết kế và không một nghệ sĩ nào vẽ nên.” Tất cả bắt nguồn từ một nhà truyền giáo Công giáo người Bỉ, Cha John Berchmans Velge, người đã tái khám phá việc sử dụng hình ảnh hội họa thời trung cổ và đã tạo ra kiệt tác này vào khoảng thời gian từ năm 1899 đến năm 1904. Đi sâu vào cuộc đời của hai vị linh mục John Berchmans Velge và Cha Evarist, những ý tưởng của họ và nguồn gốc các tranh vẽ trong nhà thơ Thánh Benedict, nhà phê bình nghệ thuật và âm nhạc Alfred Frankenstein đã khám phá ra một mạng lưới nghệ thuật dân gian Kitô giáo ở các đảo Thái Bình Dương. Nó bắt đầu với tác phẩm của một tu sĩ người Pháp, Michel Blanc, một thợ mộc chuyển sang làm nhà điêu khắc và kiến ​​trúc sư, người đã đến quần đảo Marquesas vào những năm 1860 với đầy ắp những ký ức về nghệ thuật dân gian của quê hương mình. Cha John Berchmans Velge là môn đệ của Tu sĩ Michel, và Cha Evarist là môn đệ của Cha John.

    Cha Daniel F. Lenahan, M.M., đã làm linh mục quản xứ của Giáo xứ Thánh Benedict từ ngày 1 tháng 10 năm 1968 đến tháng 4 năm 1973, khi ngài chuyển đến Giáo xứ Thánh Philomena, Honolulu. Cha Thomas J. Prendergast, M.M., đã làm Quản lý giáo xứ từ tháng 4 năm 1973 đến tháng 10 năm 1973, khi ngài được chuyển đến Giáo xứ Truyền Tin, Waimea, Nam Kohala, Hawaii, làm linh mục quản xứ. Cha Ralph W. Sylva, M.M., trước đây là linh mục phụ tá của Giáo xứ Thánh Benedict, đã trở thành linh mục quản xứ của ngài vào tháng 10 năm 1973. Ngài giữ chức vụ linh mục quản xứ trong mười hai năm cho đến tháng 6 năm 1985, khi ngài đã nghỉ hưu.

    Trong thời gian làm mục sư, hai sự kiện lớn đã diễn ra. Sự kiện lớn đầu tiên trong thời gian làm mục sư của Cha Sylva là việc ngài trực tiếp hướng dẫn giáo dân xây dựng một trung tâm sinh hoạt cộng đồng đa năng lớn bên cạnh nhà xứ ở Honaunau. Hội trường được xây bằng gỗ đã qua xử lý chống mối mọt. Công trình này rất cần thiết, đòi hỏi nhiều sự hy sinh và hiện đang phục vụ người dân trong mọi hoạt động tôn giáo và xã hội. Sự kiện lớn thứ hai trong thời gian làm mục sư của Cha Sylva là việc tái thiết hoàn toàn Nhà thờ Thánh Benedict, với những bức tranh tường tôn giáo lịch sử vô giá. Vào tháng 7 năm 1981, một nhóm nhỏ giáo dân và người dân cộng đồng đã tập hợp lại để lên kế hoạch phục hồi nhà thờ đã 82 năm tuổi này.

    3. Koloka Honolohau National Historical Park

    Công viên Lịch sử Quốc gia Kaloko-Honokōhau là một Công viên Lịch sử Quốc gia của Hoa Kỳ nằm ở Quận Kona trên Đảo Hawaii thuộc tiểu bang Hawaii của Hoa Kỳ. Công viên bao gồm địa điểm khảo cổ được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia, được biết đến với tên gọi Khu định cư Honokōhau. Công viên được thành lập vào ngày 10 tháng 11 năm 1978, nhằm mục đích bảo tồn, bảo vệ và giải thích các hoạt động và văn hóa truyền thống của người Hawaii bản địa. Lịch sử Kaloko và Honokōhau là tên của hai trong số bốn ahupuaʻa khác nhau, hay các vùng đất truyền thống từ núi đến biển nằm trong công viên.

    Mặc dù vào thời cổ đại, khu vực khô cằn với đá dung nham này được gọi là kekaha ʻaʻole wai (vùng đất không có nước), nhưng sự sống phong phú của sinh vật biển đã thu hút người dân đến định cư trong hàng trăm năm. Kaloko Kaloko (có nghĩa là “ao” trong tiếng Hawaii) là một địa điểm có các ao cá được sử dụng ở Hawaiʻi cổ đại nằm ở phía bắc của công viên. Lần đầu tiên ao này được nhắc đến trong câu chuyện về Kamalalawalu, khoảng 300 năm trước. Bức tường chắn sóng (kuapā) rộng hơn 9.1 m và cao 1.8 m, trải dài 230 m. Được xây dựng bằng tay mà không dùng vữa, góc độ và khoảng cách giữa các viên đá giúp chắn sóng tốt hơn nhiều so với các bức tường chắn sóng bê tông hiện đại. Ao cá ʻAimakapā là một khu vực đất ngập nước quan trọng bảo vệ các loài chim bản địa bao gồm vịt Hawaii (Koloa maoli, Anas wyvilliana), gà nước Hawaii (Fulica alai), cò chân dài Hawaii (Himantopus mexicanus knudseni), diệc đêm mào đen (Nycticorax nycticorax), cùng nhiều loài khác. Khu vực này hiện đang được trồng lại rừng sau khi loại bỏ các loài thực vật xâm lấn không bản địa. Nó đã được thêm vào Sổ Địa điểm Lịch sử vào năm 1978.

    Honokōhau Hālau

    Honokōhau Honokōhau có nghĩa là “vịnh hút sương” và đề cập đến khu định cư cổ xưa ở phía nam của công viên. Có thể đến khu vực này bằng đường mòn từ trung tâm du khách của công viên hoặc từ đường vào bến tàu nhỏ trên đường Kealakehe Parkway. Các đặc điểm bao gồm loko iʻa (ao nuôi cá của người Hawaii cổ đại), kahua (nền nhà), kiʻi pōhaku (hình khắc trên đá), hōlua (đường trượt đá) và heiau (địa điểm tôn giáo). Bẫy cá ʻAiʻopio là một ao rộng 1,7 mẫu Anh (0,69 ha), với một bức tường đá tạo thành một khu vực nhân tạo dọc theo đường bờ biển cong tự nhiên của một vịnh. Những khe hở nhỏ cho phép cá con từ biển vào, nhưng khi chúng lớn hơn (hoặc khi thủy triều xuống), chúng dễ dàng bị bắt bằng lưới.

    Nơi này được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia vào năm 1962 và được thêm vào Sổ Di tích Lịch sử Quốc gia vào năm 1966. Một số đường mòn được phục hồi bao gồm khoảng một dặm của Đường mòn Māmalahoa. Nó được xây dựng vào giữa thế kỷ 19 và phát triển qua nhiều năm thành Đường Vành đai Hawaii bao quanh toàn bộ hòn đảo. Đường mòn ven biển là một phần của Đường mòn Lịch sử Quốc gia Ala Kahakai. Bến cảng Honokōhau cung cấp khu vực hạ thủy cho thuyền độc mộc truyền thống, thuyền đánh cá, các tour lặn biển và lặn ống thở trong khu vực.

    Đường mòn Māmalahoa dẫn đến khu biến nông Honu-Green Sea Turtle sinh sống. Rùa Chelonia mydas hay Honu-Green Sea Turtle, chúng là một trong những loài động vật biển mang tính biểu tượng của Hawaii. Honu-Green Sea Turtle sinh sống ở bãi biển trong cùng khu vực của Công viên Lịch sử Quốc gia Kaloko-Honokōhau, vì thế chúng tôi có thể đi bộ xuyên qua khu rừng nhiệt đới (rainforest) khoảng 20 phút là đến bãi biển cạn nơi những con rùa biển Honu-Green sinh sống.

    4. Honu-Green Sea Turtle (Chelonia mydas)

    Rùa biển xanh (Chelonia mydas), còn được gọi là rùa xanh, rùa biển đen và rùa xanh Thái Bình Dương, là một loài rùa biển lớn thuộc họ Cheloniidae. Nó là loài duy nhất trong chi Chelonia. Phạm vi sinh sống của nó trải rộng khắp các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới với hai quần thể riêng biệt ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, nhưng nó cũng được tìm thấy ở Ấn Độ Dương. Tên gọi này liên quan đến lớp mỡ màu xanh thường thấy bên dưới mai của nó, do thức ăn của nó hoàn toàn là cỏ biển. Màu sắc của mai có màu từ ô liu đến đen, cơ thể dẹt theo chiều lưng bụng của rùa Chelonia mydas được bao phủ bởi một mai lớn hình giọt nước; nó có một cặp vây lớn giống như mái chèo. Nó thường có màu sáng, mặc dù ở các quần thể phía đông Thái Bình Dương, một số phần của mai có thể gần như đen.

    Không giống như các thành viên khác trong họ của nó (chẳng hạn như rùa biển đồi mồi) Rùa Chelonia mydas chỉ ăn thực vật. Tuy nhiên, rùa trưởng thành thường sống ở các đầm nông, ăn các loài cỏ biển khác nhau. Giống như các loài rùa biển khác, rùa Chelonia mydas di cư quãng đường dài giữa các khu vực kiếm ăn và bãi đẻ trứng. Nhiều hòn đảo trên thế giới được gọi là Đảo Rùa do rùa Chelonia mydas làm tổ trên bãi biển. Rùa cái bò lên cát biển vào ban đêm, đào tổ và đẻ trứng. Rùa Chelonia mydas con sau khi nở ra, chúng bò xuống nước biển.

    Rùa biển xanh (Chelonia mydas), là một loài rùa biển lớn thuộc họ Cheloniidae, chúng sinh sống trải rộng khắp các vùng biển nhiệt đới trên thế giới, với hai quần thể riêng biệt ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, nhưng nó cũng được tìm thấy ở Ấn Độ Dương. Lớp mỡ màu xanh thường thấy bên dưới mai của nó, thức ăn của chúng hoàn toàn là loài cỏ biển, màu sắc của mai có màu từ ô liu đến đen, không giống như các thành viên khác trong họ của nó, chẳng hạn như rùa biển đồi mồi. Cơ thể dẹt theo chiều lưng. Chúng có một cặp vây lớn giống như mái chèo.

    Rùa Chelonia mydas được IUCN và CITES liệt vào danh sách loài khan hiếm và có nguy cơ diệt chủng nên chúng được bảo vệ khỏi sự khai thác của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việc thu thập, làm hại hoặc giết chúng là bất hợp pháp và bị cấm. Ngoài ra, nhiều quốc gia có đạo luật quy định để bảo vệ các khu vực mà rùa Chelonia mydas làm tổ. Tuy nhiên, rùa Chelonia mydas vẫn đang gặp nguy hiểm do những sinh hoạt của con người gây ra. Ở một số quốc gia, rùa Chelonia mydas và trứng của chúng vẫn bị săn bắt để làm thức ăn. Đôi khi, nhiều con rùa đã chết vì bị mắc vào lưới đánh cá.

    Honu-Green Sea Turtle tìm tìm thấy ở những khu biển nông, giữa các nghềnh đá và ăn những loại cỏ biển quanh vùng.

    Những sinh vật hiền lành này thường được bắt gặp đang bơi lội trong nước biển hoặc trong vùng nước nông ven bờ. Sự hiện diện của chúng gắn bó sâu sắc với văn hóa Hawaii, nơi chúng được tôn kính như những biểu tượng của sự may mắn, trường thọ và sự che chở.

    Rùa Chelonia mydas được tìm thấy trên khắp thế giới như bờ biển Thái Bình Dương, bờ biển Caribe và Đại Tây Dương của Bắc và Nam Mỹ, Địa Trung Hải và các vùng phía bắc của Ấn Độ Dương. Rùa Chelonia mydas con mới nở ăn cá và thực vật, nhưng sau đó chuyển sang ăn tảo và cỏ biển khi được 5 đến 7 tuổi. Ít thường xuyên hơn, rùa non và rùa trưởng thành có thể ăn các động vật không xương sống như bọt biển và sứa. Tuổi thọ của chúng được ước tính từ 60 đến 70 năm, hay những con trưởng thành có thể sống tới 90 năm trong thiên nhiên. Nhiều hòn đảo trên thế giới được gọi là Đảo Rùa do Rùa Chelonia mydas làm tổ trên bãi biển. Tuy nhiên, rùa Chelonia mydas không đạt đến tuổi trưởng thành về sinh dục cho đến 25 đến 40 năm! Và thời gian sinh sản khác nhau: từ 17 đến 23 năm. Một khi rùa cái có thể sinh sản, nó sẽ quay trở lại địa điểm làm tổ của mình sau mỗi 2 đến 5 năm và đẻ từ 3 đến 9 lứa. Mỗi lứa có từ 75 đến 200 quả trứng, với khoảng cách khoảng 12 ngày giữa mỗi lứa. Sau nhiều tháng đẻ trứng, nó quay trở lại biển để kiếm ăn. Tùy thuộc vào nhiệt độ, trứng có thể nở sau 45 đến 75 ngày; Và những con non thường nở vào ban đêm để di chuyển về phía chân trời sáng nhất là đại dương.

    Rùa Chelonia mydas là loài di cư, di chuyển hàng trăm hoặc hàng ngàn con từ khu vực kiếm ăn đến bãi biển làm tổ. Hơn 95% quần thể rùa Chelonia mydas làm tổ ở French Frigate Shoals thuộc Khu bảo tồn biển quốc gia Papahānaumokuākea. Chúng di chuyển đến các đảo chính của Hawaii để kiếm ăn và tắm nắng trên bãi biển. Việc làm tổ và kiếm ăn hạn chế xảy ra ở các địa điểm khác ở Thái Bình Dương như Samoa thuộc Mỹ, Guam và Khối thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana. Khi không di cư, Rùa Chelonia mydas ở lại vùng nước nông như đầm phá, rạn san hô, vịnh và bãi cạn để kiếm ăn và làm tổ dọc theo các bãi biển thoáng đãng, không bị quấy rầy.

    April 26, 2026-DẠO PHỐ KAILUA KONA, HAWAII

    Sau bữa ăn sáng, chúng tôi lấy Tender ship để vào phố.

    Bãi biển Niumalu: Từng là một trung tâm sôi động dành cho hoạt động chèo thuyền ca-nô, bãi cát tại Niumalu (nghĩa là “bóng dừa che mát”) thường được biết đến với tên gọi Bãi biển Kanuha, được che chắn bởi một đê chắn sóng kiên cố, vốn để bảo vệ sự an toàn cho du khách tắm biển tại đây suốt hơn một thế kỷ qua.

    Nằm về phía bên trái của Cung điện Hulihe’e là Huiha, một điểm lướt sóng đầy thách thức, đòi hỏi người chơi phải có kỹ năng điêu luyện cùng sự am hiểu tường tận về địa hình và dòng chảy tại khu vực này. Một mỏm đá dung nham pahoehoe nhẵn bóng nằm ngay dưới chân đê chắn sóng được đặt tên theo vị Ali’inui (Tù trưởng Tối cao) “Umi-a-liloa”. Chính Tù trưởng Umi là người đã thiết lập một khu dinh thự hoàng gia tại đây, đồng thời thúc đẩy gia tăng sản lượng lương thực thông qua việc phát triển các ao nuôi cá ven biển và các vùng đất canh tác nằm trên sườn dốc thuộc Hệ thống Canh tác Kona.

    Thành phố Kailua đẹp, thơ mộng, sạch và an bình nằm ngay cạnh bờ biển, màu nước biển xanh một màu xanh biếc (dark blue). Cả khu phố như bao phũ bởi những hàng dửa và những bông hoa muôn màu sắc.

    Những quán ăn rải rác khắp nơi, khu Kona Inn shopping village bày bán những quần áo, quà lưu niệm, vòng trang sức, v.v…

    Cung điện HULIHE’E (Hulihe’e Palace) là một di tích lịch sử được xây dựng vào năm 1838 bởi Thống đốc John Adams Kuakini, một người bạn đồng hành của Kamehameha I và là một trong những thủ lĩnh đầu tiên tiếp nhận lối sống phương Tây. Việc xây dựng Cung điện Hulihe’e đã được hoàn thành vào 1838. Hulihe’e là dinh thự của Thống đốc John Adams Kuakini và là nơi nghỉ ngơi của các gia đình hoàng gia Hawaii. Nhà thờ Moku’aikaua, Cung điện Hulihe’e có chung phong cách kiến trúc tương tự. Vào năm 1884, Vua Kelakaua đã cập nhật Hulihee với ngoại thất lanai mở rộng. Ngày nay, Cung điện được điều hành như một bảo tàng Nữ hoàng Hawaii.

    Hulihe’e palace được xây bằng san hô, đá núi lửa và gỗ bản địa, cung điện được trang bị nội thất sang trọng. Hulhee trở thành nơi cư trú của Công chúa Ruth ở Kailua. Nữ thống đốc Hawaii, Vua Kalakaua, đã trang hoàng lại nó để sử dụng làm cung điện mùa hè của mình. Và gần đây nhất, nó thuộc về Hoàng tử Jonah Kalanianaole, đại biểu Hawaii tại Quốc hội. Cung điện được con gái của Hawaii tu sửa lại vào năm 1927 để sử dụng làm bảo tàng.

    Nhà thờ MOKU’AIKAUA

    Các nhà truyền giáo Boston đã mang Cơ đốc giáo đến Hawaii khi họ đến Kailua vào năm 1820. Moku’aikaua là nhà thờ Cơ đốc giáo lâu đời nhất ở Hawaii. Từ năm 1835 đến năm 1837 các bức tường bên ngoài được thay bằng đá nham thạch và san hô nghiền nát. Đá được chạm khắc để xây dựng nền móng. Nội thất là loại gỗ ‘Ohi’a. Năm 1808, nhà truyền giáo hoed cùng với đồng nghiệp opukaha’ia (henry obookiah) nuôi ý tưởng truyền giáo bởi khi ở New England, họ đã trở thành nhà truyền giáo và đã nhận được một nền giáo dục căn bản tại trường truyền giáo tại cornwall, connecticut.

    Sau cái chết bất ngờ của Henry Obookiah, Hopu đã giữ lời hứa sẽ đến hawaii với một công ty truyền giáo đầu tiên và ông đã mang theo phúc âm, dạy chữ quốc ngữ và hỗ trợ Vua Kаменамена trong nhiều vấn đề khác. Từ năm 1820 đến 1825, Hopu một mình phục vụ với tư cách là mục sư của nhà thờ mokunkata, đưa số giáo dân tham dự lên đến 300 thành viên byetbe lime rey, sau đó, ông trở về oaho, dòng công giáo đầu tiên ở hawaii là hopu to henrietta halekti (delia). Trong những năm cuối đời, Hopu từng là phó tế và được mọi người biết đến với cái tên “the faitheul hopu» pono, e ke kauwa maika’l, e malama pono“

    Cộng đoàn tín hữu của nhà thờ Mokuaikaua được thành lập từ năm 1820, và tòa nhà hiện tại được hoàn thành vào năm 1837. Lịch sử Cộng đoàn tín hữu này được thành lập lần đầu tiên vào năm 1820 bởi ông bà Asa và Lucy Goodale Thurston, những người thuộc đoàn truyền giáo Cơ Đốc giáo đầu tiên của Mỹ đặt chân đến đây trên con tàu buồm hai cột buồm (brig) mang tên Thaddeus nay được chưng trong nhà thờ.(Tàu Thaddeus thu nhò)

    Cộng đoàn tín hữu của nhà thờ đã được Vua Kamehameha II và Nữ Nhiếp chính Kaʻahumanu cấp phép để giảng dạy đạo Cơ Đốc. Tháng 10 năm 1823, họ được tin rằng người dân tại Kailua-Kona đã bắt đầu quan tâm đến những lối sống mới và đã dựng lên một nhà thờ nhỏ bằng gỗ. Công trình đầu tiên tại địa điểm này được xây dựng bằng gỗ ʻŌhiʻa và lợp mái tranh, trên phần đất được Hoàng gia Thống đốc Kuakini cấp, nằm ngay bên kia đường đối diện với Cung điện Huliheʻe.

    Cái tên “Mokuʻaikaua” theo nghĩa đen trong tiếng Hawaii có nghĩa là “quận/vùng đất giành được bằng chiến tranh“, có lẽ được đặt theo tên khu rừng trên cao nguyên, nơi người ta đã khai thác gỗ để xây dựng nhà thờ. Sau nhiều lần hỏa hoạn, tòa nhà bằng đá hiện tại đã được xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 1835 đến 1837; một phần vật liệu đá được tái sử dụng từ một *Heiau* (đền thờ cổ thuộc tín ngưỡng Hawaii) nằm gần đó.

    Nội thất bên trong nhà thờ được trang trí bằng gỗ Koa. Hiện tại Nhà thờ vẫn tiếp tục được sử dụng cho các hoạt động tôn giáo và mở cửa cho công chúng tham quan; tại đây có trưng bày một số hiện vật lịch sử, chẳng hạn như mô hình thu nhỏ của con tàu Thaddeus. Những thành viên đáng chú ý khác trong đoàn truyền giáo đầu tiên đó còn có Mục sư Hiram Bingham I cùng phu nhân. Nhả thờ nằm trong danh sách các địa điểm lịch sử tiểu bang vào ngày 3 tháng 10 năm 1978.

    CHỢ NÔNG SẢN (FAMER MARKET)

    Cuối phố là khu chợ nông sản do những người dân sống trong nông trại tai Kailua, Kona trồng trọt và đem ra bán. Chợ họp vào ngày cuối tuần và bày bán đủ loại rau, quả, trái cây vùng nhiệt đới như soài, măng cụt, nhãn, dứa, dưa hấu, v.v…

    Và chúng tôi cũng mua ủng hộ 1 1/2 pounds nhãn hạt tiêu, giá $5/pound và 1 pounds măng cụt giá $12/pound. Xong ngồi ăn tại chỗ vì chúng tôi không được phép mang trái cây về lại du thuyền. Măng cụt thì không được ngon nhưng nhãn thì thơm, ngọt lịm, hột nhỏ và cơm nhãn rất dầy.

    April 27, 2026-BIG ISLAND,

    Big Island, Hawaii là hòn đảo lớn nhất ở Hoa Kỳ, nằm ở tiểu bang Hawaii. Đây là hòn đảo cực đông nam của quần đảo Hawaii, một chuỗi các đảo núi lửa ở Bắc Thái Bình Dương. Với diện tích 4.028 dặm vuông (10.430 km2), nó chiếm 63% tổng diện tích đất liền của quần đảo Hawaii. Tuy nhiên, nó chỉ có 13% dân số của quần đảo. Đảo Hawaii là hòn đảo lớn thứ ba ở Polynesia, sau Đảo Bắc và Đảo Nam của New Zealand. Tên chính thức của hòn đảo là Đảo Hawaiʻi để phân biệt với tiểu bang. Nó cũng được gọi là Đảo Lớn, do kích thước của nó so với các đảo Hawaii khác. Trong tiếng Hawaii, hòn đảo đôi khi được gọi là Moku hoặc Keawe.

    Theo điều tra dân số năm 2020 là 200,629 người. Thủ đô và cộng đồng lớn nhất của huyện là Hilo. Huyện Hawaiʻi không có thành phố nào được thành lập. Hawaiʻi được cho là đặt tên theo Hawaiʻiloa, một nhà hàng hải huyền thoại người Polynesia được cho là đã khám phá ra hòn đảo này. Các tài liệu khác cho rằng tên gọi này bắt nguồn từ vương quốc huyền thoại Hawaiki, nơi được cho là xuất xứ của một số người Polynesia chuyển đến sau khi chết, hoặc vương quốc của các vị thần và nữ thần. Các nghiên cứu khảo cổ học ban đầu cho thấy các nhà thám hiểm Polynesia từ quần đảo Marquesas hoặc quần đảo Society có thể đã đến quần đảo Hawaii sớm nhất là vào thế kỷ thứ III Sau Công nguyên, có thể với làn sóng thứ hai đến từ Tahiti vào khoảng năm 1100. Tuy nhiên, các phân tích gần đây hơn cho thấy những người định cư đầu tiên đến vào khoảng năm 900–1200 Sau Công nguyên.

    Truyền thống truyền miệng cho rằng một trong những người nổi tiếng nhất của Hawaiʻi là ʻUmi-a-Līloa, người đã thống nhất hòn đảo bằng vũ lực. ‘Umi-a-Liloa là con trai ngoài giá thú của Līloa, người cai trị từ Thung lũng Waipiʻo ở quận Hāmākua. Khi Līloa chết, hòn đảo được chuyển cho Hakau, anh trai cùng cha khác mẹ của ʻUmi-a-Liloa. Tuy nhiên, ʻUmi-a-Liloa đã tấn công & giết chết Hakau và giành quyền kiểm soát Hāmākua. Sau đó,ʻUmi-a-Liloa tiến hành chinh phục các quận Hilo, Puna, Kaʻū và Kona, nhưng người dân tại những quận này đã nổi dậy chống lại ʻUmi-a-Liloa. ʻUmi-a-Liloa đặt trụ sở chính phủ mới của mình tại Kailua thuộc quận Kona.

    Năm 1779, thuyền trưởng James Cook thực hiện chuyến đi thứ hai đến quần đảo Hawai’i, neo đậu tại vịnh Kealakekua trên đảo Hawaiʻi. Ông đã ở đó vài tuần, gặp gỡ và giao thương với người dân địa phương, đồng thời chuẩn bị tàu thuyền cho chuyến đi dự kiến ​​đến Bắc Cực. Người Hawaii đã đón tiếp ông nồng hậu, coi ông như hiện thân của thần Lono. Đầu năm 1780, Cook khởi hành đi Bắc cực nhưng tàu của ông bị hư hại nặng trong một cơn bão ngay sau khi ra khơi, và ông buộc phải quay trở lại Kealakekua chỉ sau một tuần trên biển. Trong lần neo đậu thứ hai này, một cuộc xung đột giữa người châu Âu và người Hawai’i đã trở nên bạo lực, dẫn đến cái chết của nhiều người ở cả hai phía bao gồm James Cook. Quan hệ hòa bình cuối cùng đã được khôi phục với thủy thủ đoàn của các tàu của James Cook và họ là những người đã rời quần đảo Hawai’i vĩnh viễn vào cuối tháng đó.

    Năm 1780, đảo Hawaiʻi được kiểm soát bởi aliʻinui Kalaniʻōpuʻu, một hậu duệ của ʻUmi-a-Līloa khi ông qua đời vào năm 1782, ông đã chỉ định con trai mình là Kīwalaʻō làm người thừa kế. Tuy nhiên, một mối thù giữa Kīwalaʻō và cháu trai của Kalaniʻōpuʻu là Paiʻea Kamehameha đã sớm leo thang thành một cuộc nội chiến. Kīwalaʻō đã tử trận trong trận Mokuʻōhai vào cuối năm đó, khiến quyền kiểm soát hòn đảo bị chia cắt giữa Kamehameha ở phía tây, chú và cố vấn của Kīwalaʻō là Keawemaʻuhili ở phía đông bắc, và người anh cùng cha khác mẹ của Kīwalaʻō là Keōua Kūʻahuʻula ở phía nam. Ba thủ lĩnh, được hỗ trợ bởi tàu thuyền và vũ khí phương Tây, đã chiến đấu bất phân thắng bại trong 8 năm cho đến năm 1790, khi Keōua đánh bại và giết chết Keawemaʻuhili.

    Năm 1791, quân của Kamehameha đã giết Keōua tại một cuộc gặp gỡ ngoại giao, để lại quyền kiểm soát Hawaiʻi cho Kamehameha. Kamehameha tiếp tục chinh phục phần còn lại của quần đảo Hawaii, củng cố quyền kiểm soát của mình vào năm 1810 với sự đầu hàng hòa bình của Kaumualiʻi, vua của Kauai.  Ông đặt tên cho vương quốc mới của mình, và mở rộng ra là toàn bộ quần đảo, lấy tên là Vương quốc Hawaiʻi. Năm 1822, nhà truyền giáo William Ellis đến Hawai’i và tháng 7 năm 1898, Hawaiʻi và tất cả các đảo Hawai’i đã bị Hoa Kỳ sáp nhập, trở thành Lãnh thổ Hawaii. Năm 1905, việc thông qua Đạo luật Quận đã thành lập Quận Hawaii, cung cấp cho hòn đảo chính quyền địa phương lần đầu tiên kể từ năm 1810.

    HILO, BIG ISLAND

    Khi du thuyền Celebrity Solstice cặp bến tại Hilo, Big Island, Hawaii, Pier 1 trên 80 Kuhio Street, chúng tôi quyết định mua một private tour với giá $130/per person cho 4 1/2 giờ để đi thăm 5 nơi:

    • Richardson Ocean Park (Black sand Beach)
    • Liliuokalani Park and Garden
    • Hilo Waterfall on Waianuenue Ave, J’ula-upper I’Ihonua
    • Kilauea vocano site
    • Nahuku Lavatube (Thurson Lavatube)

    Hilo là một moku hay quận trên Đảo Lớn Hawaii thuộc Tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Trong hệ thống hành chính hiện tại của Quận Hawaii, moku Hilo được chia thành Quận Bắc Hilo (Hilo ‘Akau) và Quận Nam Hilo (Hilo Hema). Hilo nằm ở phía đông, được hưởng lượng mưa nhiều nên cây cối xanh tươi. Hilo là CDP lớn thứ hai ở Tiểu bang Hawaii và là khu định cư lớn nhất trên đảo với dân số 44,186 người theo điều tra dân số năm 2020. Hilo là thủ đô của Quận Hawaii, và nằm trong Quận Nam Hilo. nhìn ra Vịnh Hilo. Hilo nằm gần hai ngọn núi lửa: Mauna Loa, một ngọn núi lửa còn đang hoạt động và Mauna Kea là ngọn núi lửa không hoạt động.

    Nằm ở phía đông bắc của đảo Hawaii, Hilo mang đến vẻ đẹp thiên nhiên ngoạn mục cùng với một thị trấn sôi động. Nằm ở phía đối diện về mặt địa lý của bờ biển Kohala núi lửa, khu vực này được ban tặng những thác nước hùng vĩ, rừng mưa nhiệt đới tươi tốt và những khu vườn hoa nở rộ. Nơi đây cũng là địa điểm của Sân bay Quốc tế Hilo và là điểm dừng chân thuận tiện trên đường đến Vườn Quốc gia Núi lửa Hawaii, cách đó 45 phút về phía nam. Là một khu vực nông nghiệp và đánh bắt cá sầm uất trong thời kỳ đầu, Hilo đã phát triển thành một trung tâm thương mại cho ngành công nghiệp đường mía vào những năm 1800.

    Trung tâm thành phố Hilo được xây dựng xung quanh vịnh hình lưỡi liềm và trở thành trụ sở của chính quyền quận. Ngày nay, trung tâm thành phố Hilo là một thị trấn quyến rũ với các bảo tàng viện, phòng trưng bày nghệ thuật, cửa hàng bán lẻ và nhà hàng. Tại Bảo Tàng Viện Lyma, nơi tìm hiểu về những trận sóng thần kinh hoàng suýt nhấn chìm Hilo. Tại Bảo tàng Sóng thần Thái Bình Dương hay Trung tâm Thiên văn ʻImiloa mới xây dựng với ba hình nón titan nổi bật (tượng trưng cho ba ngọn núi cao nhất trên đảo Hawaii: Maunakea, Maunaloa và Hualālai).

    Vườn Liliʻuokalani là một nơi nghỉ ngơi yên bình với những ao cá kiểu Nhật, chùa chiền và vườn đá trên diện tích 30 mẫu Anh,

    Hilo là nơi có nhiều phong cảnh đẹp như vườn Lili’uokalani, Công viên Bang Sông Wailuku là nơi có thác Waiānuenue (Thác Cầu Vồng) cao 80 feet và thác Peʻepeʻe. Hilo cũng là nơi diễn hành Lễ hội Merrie Monarch, một lễ hội kéo dài một tuần tôn vinh điệu múa hula cổ xưa và hiện đại, diễn ra hàng năm sau Lễ Phục Sinh và cũng là trụ sở của Tập đoàn Hạt Macadamia Mauna Loa, một trong những nhà sản xuất hạt macadamia hàng đầu thế giới.

    Dấu hiệu cho thấy người dân đã sinh sống ở các khu vực dọc theo Vịnh Hilo, sông Wailuku và Wailoa trước khi thế giới phương Tây tiếp xúc. Các nhà truyền giáo đã đến khu vực này vào đầu và giữa những năm 1800, thành lập một số nhà thờ, đáng chú ý là Nhà thờ Haili, ở khu vực Hilo hiện đại. Hilo mở rộng khi các đồn điền mía đường ở khu vực xung quanh tạo ra nhiều việc làm mới và thu hút nhiều công nhân từ châu Á, biến thành phố thành một trung tâm thương mại.

    Một đê chắn sóng ngang qua Vịnh Hilo được bắt đầu vào những năm 1900 và hoàn thành vào năm 1929. Vào ngày 1 tháng 4 năm 1946, một trận động đất mạnh 7.8 độ richter gần quần đảo Aleutian đã tạo ra một cơn sóng thần cao 14 mét ập vào Hilo 4.9 giờ sau đó, giết chết 160 người. Để đáp ứng hệ thống cảnh báo sớm, Trung tâm Cảnh báo Sóng thần Thái Bình Dương được thành lập vào năm 1949 để theo dõi những con sóng chết người này và đưa ra cảnh báo. Trận sóng thần này cũng đồng nghĩa với sự kết thúc của Đường sắt Hợp nhất Hawaii, và thay vào đó, Đường Vành đai Hawaii được xây dựng ở phía bắc Hilo bằng cách sử dụng một phần nền đường sắt.

    Vào ngày 23 tháng 5 năm 1960, một trận sóng thần khác, do trận động đất mạnh 9.5 độ richter ngoài khơi bờ biển Chile vào ngày hôm trước gây ra, đã cướp đi 61 sinh mạng được cho là do người dân không chú ý đến còi báo động. Các khu vực ven vịnh thấp của thành phố trên bán đảo Waiākea và dọc theo Vịnh Hilo, trước đây có dân cư sinh sống, đã được chuyển đổi thành công viên và đài tưởng niệm.

    NÚI LỬA TAI HILO, HAWAII

    Núi lửa tại Đảo Hawaiʻi phun trào theo thứ tự, ngọn này chồng lên ngọn kia, từ ngọn lâu đời nhất đến trẻ nhất. Những dãy núi lửa gồm Kohala đã tắt, Mauna Kea ngủ yên, Hualālai và Mauna Loa đang hoạt động cũng như một phần của Núi lửa Hawaiʻi Kīlauea nằm trong Vườn quốc gia vẫn còn đang hoạt động. Các nhà địa chất cho rằng một phần của Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi trên sườn phía nam và phía tây của Mauna Loa đã dẫn đến hai ngọn núi lửa Nīnole và Kulani gần như bị chôn vùi bởi Mauna Loa trẻ hơn.

    Dựa trên địa hóa học dựa trên các nguyên tố vi lượng và sự khác biệt về đồng vị trong các sản phẩm phun trào của chúng, các núi lửa Hawaii được chia thành hai nhóm. Sự khác biệt này được cho là do hệ thống magma riêng biệt của chúng. Hualālai và Mauna Loa là thành viên của một nhóm, trong khi Kohala, Mauna Kea và Kilauea là thành viên của nhóm còn lại. Vì Mauna Loa và Kīlauea là những núi lửa đang hoạt động nên hòn đảo này đang ngày càng mở rộng do sự phun trào của núi lửa tạo thành. Từ tháng 1 năm 1983 đến tháng 9 năm 2002, dòng dung nham đã tăng thêm 543 mẫu Anh (220 ha) cho hòn đảo. Tuy nhiên, dung nham chảy từ Kīlauea đã phá hủy một số thị trấn, bao gồm Kapoho vào năm 1960 và một lần nữa vào năm 2018, và Kalapana và Kaimū vào năm 1990.

    Năm 1987, dung nham đã lấp đầy “Queen’s Bath“, một hồ nước ngọt lớn hình chữ L ở khu vực Kalapana. Thêm 875 mẫu Anh nữa đã tăng từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2018 bởi vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018, với “Khe nứt 8” nằm trong khu dân cư Leilani Estates là nguồn chính của dung nham. Hồ Green là hồ nước ngọt lớn nhất trên đảo, đã bị bao phủ bởi dung nham trong vụ phun trào đó cũng như Công viên Bãi biển Ahalanui và một phần của Công viên Bãi biển Isaac Hale, phần sau bị ngập trong cát đen, khiến bến thuyền không thể sử dụng được. Mauna Loa phun trào ngắn ngủi vào năm 2022 sau 38 năm trước đó. Một số nhà địa chất tin rằng hai ngọn núi lửa dưới biển ở chân đảo là Māhukona ở góc tây bắc của đảo đã bị xói mòn xuống dưới mặt biển Kamaʻeh. Những núi lửa đã và vẫn còn hoạt động như núi núi lửa Halema’uma’u phun vào năm 1933, Kilauea Iki vào năm 1959, Puna vào năm 1955 và Kapoho vào năm 1960.

    Great Crack

    Photo showing clouds of steam surrounding lava that is partly black and partly glowing orange
    Dòng dung nham chảy vào Thái Bình Dương tại Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi vào tháng 4 năm 2005, làm cho hòn đảo ngày càng lớn hơn.

    Vết nứt lớn là một khe nứt dài 8 dặm (13.000 m), rộng 60 feet (18 m) và sâu 60 feet (18 m) trên đảo, thuộc quận Kaʻū. Theo Bộ Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS), Vết nứt lớn là kết quả của sự giãn nở vỏ trái đất do sự xâm nhập magma vào vùng đứt gãy phía tây nam của Kīlauea. Mặc dù cả trận động đất năm 1868 lẫn trận động đất năm 1975 đều không gây ra sự thay đổi đáng kể nào ở Vết nứt lớn, nhưng dung nham đã phun trào từ 6 dặm (10 km) phía dưới của nó vào năm 1823. Các con đường mòn, vách đá và các địa điểm khảo cổ có niên đại từ thế kỷ 12 đã tồn tại gần Vết nứt lớn. Vào tháng 8 năm 2018, bộ Công viên Quốc gia đã mua gần 2000 mẫu Anh (810 ha) đất tư nhân liền kề với Công viên Quốc gia Núi lửa Hawaiʻi, với lý do khu vực này có những đặc điểm địa chất quan trọng cần được nghiên cứu và bảo tồn.

    Hilina Slump

    Photo of coastline with 10 people standing or walking on the beach and palm trees in background
    Pumalu’u Beach Park is one of the most famous black sanded beaches

    Vùng sạt lở Hilina là một phần có thể tích 4,760 dặm khối (19,800 km3) của sườn phía nam đảo Kīlauea đang di chuyển ra xa khỏi đảo. Từ năm 1990 đến năm 1993, các phép đo Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS) cho thấy sự dịch chuyển về phía nam khoảng 4 inch (10 cm) mỗi năm. Các phép đo dưới biển cho thấy một “bậc thang” đã hình thành nên một bức tường chắn và bức tường chắn này có thể làm giảm khả năng tách rời thảm khốc. Động đất và sóng thần Vào ngày 2 tháng 4 năm 1868, một trận động đất có cường độ ước tính từ 7.25 đến 7.9 đã làm rung chuyển bờ biển phía đông nam của Hawaiʻi. Đây là trận động đất tàn phá nhất trong lịch sử được ghi nhận của Hawaiʻi. Nó đã gây ra một vụ lở đất trên Mauna Loa, cách Pāhala 5 dặm (8 km) về phía bắc, khiến 31 người thiệt mạng. Một trận sóng thần đã cướp đi thêm 46 sinh mạng. Các làng Punaluʻu, Nīnole, Kāwāʻa, Honuʻapo và Keauhou bị thiệt hại nặng nề. Sóng thần được cho là đã tràn qua ngọn cây dừa cao tới 60 feet (18 m), và ở một số nơi, nó đã tiến vào đất liền xa tới một phần tư dặm (400 mét). Vào ngày 29 tháng 11 năm 1975, một đoạn rộng 37 dặm (60 km) của Hilina Slump đã sụt xuống 11.5 feet (3.5 m) và trượt 26 feet (7.9 m) về phía đại dương.

    Sự chuyển động này đã gây ra một trận động đất mạnh 7.2 độ richter và một trận sóng thần cao 48 feet (15 m). Tài sản ven biển ở Punaluʻu đã bị cuốn trôi khỏi móng. Hai người chết được báo cáo ở Halape, và 19 người khác bị thương. Hòn đảo này đã bị thiệt hại do sóng thần gây ra bởi các trận động đất ở Alaska vào ngày 1 tháng 4 năm 1946 và ở Chile vào ngày 23 tháng 5 năm 1960. Trung tâm thành phố Hilo bị thiệt hại bởi cả hai trận sóng thần, với nhiều người thiệt mạng. Ngay phía bắc Hilo, Laupāhoehoe đã mất 16 học sinh và 5 giáo viên trong trận sóng thần năm 1946.

    Vào tháng 3 năm 2011, một trận động đất mạnh 9.0 độ richter ngoài khơi bờ biển phía đông Nhật Bản lại tạo ra sóng thần gây thiệt hại nhỏ ở Hawaiʻi. Thiệt hại ước tính đối với các tòa nhà công cộng là khoảng 3 triệu đô la Mỹ. Ở khu vực Kona, trận sóng thần này đã cuốn một ngôi nhà xuống vịnh Kealakekua, phá hủy một câu lạc bộ du thuyền và văn phòng tàu du lịch ở vịnh Keauhou, gây thiệt hại nặng nề ở Kailua-Kona, làm ngập tầng trệt của Khách sạn King Kamehameha, và tạm thời đóng cửa Khu nghỉ dưỡng Kona Village.

    Đầu tháng 5 năm 2018, hàng trăm trận động đất nhỏ đã được phát hiện ở Vùng đứt gãy phía Đông của Kīlauea, khiến các quan chức phải đưa ra cảnh báo sơ tán. Vào ngày 3 tháng 5 năm 2018, núi lửa phun trào ở Puna sau trận động đất 5.0 xảy ra trước đó trong ngày, gây ra việc sơ tán các khu dân cư Leilani Estates và Lanipuna Gardens. Một trận động đất có vẻ liên quan với cường độ 5.3 và một trận động đất tiếp theo với cường độ 6.9 đã xảy ra vào ngày 4 tháng 5. Sương mù núi lửa Sương mù núi lửa (vog) có thể bao phủ đảo Hawaiʻi khi Kīlauea hoạt động. Kể từ khi hoạt động núi lửa chấm dứt vào tháng 9 năm 2018, vog phần lớn đã biến mất ở phía tây của hòn đảo. Các cột khí tạo ra một lớp vog mà gió mậu dịch phần lớn đã chuyển hướng về phía bờ biển Kona. Vog có thể gây hại cho sức khỏe của thực vật, con người và các loài động vật khác. Hầu hết các hạt khí dung đều có tính axit và kích thước đủ lớn để có thể lưu lại trong phổi gây tổn thương. Các triệu chứng giống cúm và mệt mỏi nói chung được báo cáo, và đặc biệt rõ rệt ở những người mắc bệnh về đường hô hấp.

    Cột khói hơi nước khi dung nham đỏ của Kīlauea chảy vào đại dương. Ba dòng dung nham Waikupanaha và một dòng dung nham Ki chảy vào đại dương. Công viên bãi biển Punaluʻu, một trong những bãi biển cát đen nổi tiếng nhất Bãi biển Punaluʻu (còn được gọi là Bãi biển Cát Đen) là một bãi biển nằm giữa Pāhala và Nāʻālehu trên Đảo Lớn của tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ. Bãi biển có cát đen được tạo thành từ bazan và được hình thành bởi dung nham chảy vào đại dương, phát nổ khi chạm đến đại dương và nguội đi. Hoạt động núi lửa này nằm trong Vườn quốc gia Núi lửa Hawaiʻi. Punaluʻu là nơi thường xuyên lui tới của rùa đồi mồi và rùa xanh đang có nguy cơ tuyệt chủng, chúng thường được nhìn thấy đang phơi nắng trên cát đen.

    Black sand tại Bãi biển Punaluʻu

    Khu vực bơi lội rất nhiều đá nên có thể gây nguy hiểm. Bãi biển cũng có một lượng lớn nước ngọt ngầm chảy vào, rất lạnh và trông gần giống như xăng pha lẫn với nước. Truyền thuyết kể rằng, vào thời kỳ hạn hán, người Hawaii cổ đại sống trong khu vực này sẽ lặn xuống nước với một chiếc bình để lấy nước ngọt. Trong tiếng Hawaii, puna luʻu có nghĩa là “người lặn xuống lấy nước suối”.

    Một loại cây gọi làHapu’u pulu (tree fern) mọc rất nhiều tại Hilo, đó là một loại cây dương xỉ, phía trên của loại cây này được bao phủ bởi một lớp gọi lại pulu (len vàng), lớp pulu giúp bảo vệ sự phát triển của lá non khỏi bị khô. Pulu non cũng hữu ích như một loại thuốc băng bó cho vết thương hay vết trầy xước. Các loại cây khác như coconut, bamboo, banyan, cook pines, cây đa, và Öhi’a lehua (loài cây đầu tiên mọc trên dung nham mới) đã chiếm ưu thế trong hầu hết các vùng đất của hòn đảo.

    Tuy nhiên, sự rậm rạp của cây rừng đã là nơi trú ẩn của loài chuột Timatin. Khí hậu ôn hòa của vùng cao Hawaii giúp cho sự phát triển của những cây nhỏ Như Polo là một loại cà phê có quả màu đỏ tươi hoặc màu cam. Oma o là loại hạt được một số người sử dụng như thuốc nhuận tràng. Nhờ có nhiều mưa nên khí hậu thoáng mát,rất thích hợp cho các loài hoa vùng nhiệt đới như Bird of Paradise, Plumeria, Hawaiian Hibiscus, Orchids, v.v…

    1. Richardson Ocean Park (Black & Green sand Beach)

    Bãi biển Richardson (còn được gọi là Công viên Đại dương Richardson) là một công viên thuộc Quận Hawaii, nằm ngay phía đông thành phố Hilo, Hawaii, trên hòn đảo lớn Hawaii (Big Island). Nằm liền kề với nó là Công viên Bãi biển Lele’iwi. Bãi biển tọa lạc gần cuối Đại lộ Kalanianaʻole, tại tọa độ 19°44′5″B 155°0′49″T; đây là nơi Đường Leleiwi dẫn lối đến một khu vực tiếp cận bờ biển chưa được phát triển, vốn được biết đến với tên gọi Công viên Lehia.

    The Richardson Beach, the only one black and green sand in Hilo, Big Island of Hawaii

    Cái tên Richardson bắt nguồn từ những chủ sở hữu đầu tiên của nơi này là Elsa và George Richardson; ngôi nhà của họ hiện vẫn còn đứng vững tại đó. George Richardson từng là Trưởng thám tử của Quận Hawaii; ông là hậu duệ của Kekuiapoiwa, thân mẫu của Vua Kamehameha I và người chồng thứ hai của bà là Kamanawa. Ông đã nhận được mảnh đất này như một món quà tri ân từ gia đình Malo. Vào năm 1920, khi cả gia đình Malo đều mắc phải căn bệnh thương hàn, Elen là người có triệu chứng nhẹ nhất trong số họ đã đi bộ đến nhà của George Richardson tại Vịnh Reeds để cầu cứu. Richardson là một người mang một phần dòng máu Hawaii và vốn quê ở Kohala thường xuyên chèo thuyền đi đánh cá dọc theo bờ biển Keaukaha và đã trở thành một người bạn thân thiết của David Malo. Khi Elena xuất hiện trước cửa nhà ông với tin dữ, ông lập tức đưa cô lên thuyền của mình và quay trở lại nhà của gia đình Malo. Tại đó, ông tập hợp những thành viên còn lại trong gia đình và đưa họ đến Hilo để nhập viện. Mặc dù đã nỗ lực hết mình, hai người con trong gia đình vẫn không qua khỏi. Sau khi gia đình trở về nhà để tĩnh dưỡng, Richardson vẫn tiếp tục ghé thăm và chăm lo cho họ bằng cách mang đến thuốc men cùng các nhu yếu phẩm khác.

    George Richardson in 1951 và ngôi nhà của ông trên Richardson Beach

    Ông Malo cảm thấy vô cùng biết ơn Richardson, tin rằng nếu không có sự giúp đỡ của Richardson, có lẽ ông Malo đã mất đi cả gia đình mình. Khi đã hoàn toàn bình phục, ông Malo ngỏ ý mời Richardson xây dựng một ngôi nhà ngay trên phần đất của gia đình Malo nếu ông muốn, và hãy coi mảnh đất đó như chính tài sản của mình. Richardson đã chấp nhận lời đề nghị này, và vào đầu những năm 1920, ông đã cho xây dựng một ngôi nhà lớn trên khu đất đó. Ông Malo đã giúp thiết kế ngôi nhà, và khuyên nên bố trí những cánh cửa lớn ở cả mặt trước lẫn mặt sau của ngôi nhà để tạo thành một lối thông, giúp dòng nước có thể chảy xuyên qua khi xảy ra các đợt sóng lớn vào mùa đông hoặc sóng thần.

    Ngôi nhà của gia đình Richardson trước khi trở thành Trung tâm Đại dương Richardson. Những cửa sổ lớn được thiết kế để cho phép nước chảy qua nhà.

    Thiết kế này thực sự đã cứu ngôi nhà thoát khỏi sự tàn phá trong nhiều lần; thay vì bị dòng nước cuốn trôi đi, ngôi nhà lại để cho nước biển chảy xuyên qua lòng nhà. Ngày nay, bãi biển Richardson là một công viên công cộng, còn ngôi nhà tại đây hiện có người sử dụng và được vận hành như là Trung tâm Đại dương Richardson (Richardson Ocean Center). Richardson Beach là bãi biển duy nhất trong khu vực Hilo sở hữu cả cát đen lẫn cát xanh. Hải cẩu và rùa biển cũng thường xuyên lui tới khu vực này.

    2. Liliuokalani Park and Garden

    Công viên Liliʻuokalani là một công viên rộng 24.14 mẫu Anh (97.700 m²) bao gồm các khu vườn kiểu Nhật, tọa lạc trên đường Banyan Drive tại Hilo, trên đảo Hawaiʻi. Khu đất xây dựng công viên được Nữ hoàng Liliʻuokalani hiến tặng, nằm ở phía đông nam trung tâm thành phố Hilo, trên Bán đảo Waiakea thuộc Vịnh Hilo. Phần lớn diện tích công viên hiện nay bao gồm các khu vườn kiểu Nhật mang phong cách thời Edo được xây dựng trong giai đoạn 1917–1919 và được cho là quần thể vườn kiểu Nhật lớn nhất nằm ngoài lãnh thổ Nhật Bản.

    Khu vườn này bao gồm Hồ Waihonu, cùng với các cây cầu, ao hồ, tháp, tượng đài, cổng Torii và một trà thất kiểu Nhật. Các công viên và điểm tham quan gần Vịnh Hilo và trung tâm thành phố Hilo,

    Công viên trông rất nhiều loại cây như cây cọ, cây đa cổ thụ, cây dừa kiểng, v.v…

    3. Hilo Waterfall on Waianuenue Ave, J’ula-upper I’Ihonua

    4. Kilauea vocano

    Kīlauea là một ngọn núi lửa đang hoạt động nằm trên quần đảo Hawaii. Nó tọa lạc dọc theo bờ biển phía đông nam của Đảo Hawaii. Ngọn núi lửa này có niên đại từ 210,000 đến 280,000 năm và đã vươn cao lên trên mực nước biển khoảng 100,000 năm trước. Kể từ khi con người bắt đầu định cư trên quần đảo này, Kīlauea luôn là ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất trong số năm ngọn núi lửa cùng tạo nên hòn đảo, đồng thời cũng nằm trong số những ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất trên Trái Đất.

    Đợt phun trào gần đây nhất bắt đầu vào tháng 12 năm 2024, với những đợt phun trào dung nham và dòng chảy diễn ra ngắt quãng, kéo dài sang tận năm 2026. Kīlauea là núi lửa trẻ thứ hai và hiện là trung tâm phun trào của chuỗi núi ngầm Hawaii–Emperor. Do thiếu sự nổi bật về mặt địa hình và các hoạt động của nó trong lịch sử thường trùng khớp với hoạt động của Mauna Loa, Kīlauea. Kīlauea sở hữu một hõm chảo lớn, mới được hình thành tương đối gần đây tại đỉnh núi, cùng với hai vết nứt gãy đang hoạt động. Một vết kéo dài 125 km (78 dặm) về phía đông và vết kia kéo dài 35 km (22 dặm) về phía tây. Một vết nứt gãy đang hoạt động với độ sâu chưa xác định di chuyển theo phương thẳng đứng trung bình từ 2 đến 20 mm (0,1 đến 0,8 inch) mỗi năm.

    Bắt đầu từ tháng 5 năm 2018, hoạt động phun trào đã dịch chuyển xa hơn xuống phía dưới vết nứt gãy, rời khỏi khu vực đỉnh núi để chuyển sang vùng hạ Puna; trong giai đoạn này, dung nham đã phun trào từ khoảng hai tá miệng phun, tạo nên những cột dung nham cao vút và tuôn chảy thành những dòng sông dung nham đổ thẳng xuống đại dương tại ba địa điểm khác nhau. Vụ phun trào đã phá hủy hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất tại Hawaii, bao phủ những phần đáng kể của khu dân cư Leilani Estates và Lanipuna Gardens, đồng thời xóa sổ các cộng đồng Kapoho, Vacationland Hawaii và hầu hết khu Kapoho Beach Lots. Chính quyền Quận Hawaii báo cáo rằng đã có 716 ngôi nhà bị phá hủy. Song song với các hoạt động diễn ra ở vùng hạ lưu thuộc khu vực Puna phía dưới, hồ dung nham nằm trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu đã cạn kiệt, và một loạt các sự kiện sụp đổ kèm theo tiếng nổ dữ dội đã xảy ra tại đỉnh núi lửa; trong đó, ít nhất một vụ nổ đã phun cột tro bụi cao tới 30.000 feet (9.100 m) lên bầu trời. Hoạt động này đã dẫn đến việc phải đóng cửa khu vực Kīlauea thuộc Vườn Quốc gia Núi lửa Hawaii trong suốt nhiều tháng liền. Vụ phun trào kết thúc vào tháng 9 năm 2018. Kể từ năm 2020, một số vụ phun trào đã diễn ra bên trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu—vốn đã mở rộng đáng kể sau các sự kiện sụp đổ năm 2018 cũng như dọc theo các đới nứt gãy ở phía tây nam và phía đông của ngọn núi lửa này.

    Về mặt địa hình, Kīlauea chỉ xuất hiện như một khối nhô lên ở sườn phía đông nam của Mauna Loa; chính vì thế, trong nhiều năm liền, Kīlauea từng được cho là chỉ là một vệ tinh đơn thuần của người láng giềng khổng lồ này, chứ không phải là một ngọn núi lửa độc lập. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong vài thập kỷ qua đã chứng minh rõ ràng rằng Kīlauea sở hữu hệ thống dẫn dung nham (magma) riêng biệt, vươn lên tới bề mặt từ độ sâu hơn 60 km bên trong lòng Trái Đất. Trên thực tế, đỉnh của Kīlauea nằm trên một đường cong nối liền các ngọn núi lửa, bao gồm Mauna Kea và Kohala, nhưng lại không bao gồm Mauna Loa. Nói cách khác, mối quan hệ giữa Kīlauea và Mauna Kea cũng tương tự như mối quan hệ giữa Kama‘ehuakanaloa (trước đây gọi là Lō‘ihi) và Mauna Loa vậy. Kaluapele là hõm chảo đỉnh của núi lửa Kīlauea.

    Nằm bên trong Kaluapele, Halemaʻumaʻu (thường là một miệng hố chứa các lỗ thông hơi hoạt động liên tục) được coi là nơi cư ngụ của Pelehonuamea (Pele của đất đỏ), một thế lực sáng tạo nguyên thủy trong tín ngưỡng Hawaii, thường hiện thân dưới dạng dòng dung nham nóng chảy màu đỏ. Người châu Âu đầu tiên đặt chân lên đỉnh núi là nhà truyền giáo William Ellis vào năm 1823; kể từ đó, các tài liệu ghi chép bằng văn bản về những đợt phun trào mới bắt đầu xuất hiện. Kaluapele từng là tâm điểm của các hoạt động núi lửa diễn ra gần như liên tục trong suốt thế kỷ 19 và những năm đầu của thế kỷ 20. Kīlauea hiện được xếp vào hàng những ngọn núi lửa hoạt động mạnh mẽ nhất trên thế giới. Kể từ năm 1952 đến nay, Kīlauea đã trải qua hàng chục đợt phun trào. Từ năm 1983 đến năm 2018, hoạt động phun trào diễn ra gần như không ngừng nghỉ dọc theo Vùng đứt gãy phía Đông của ngọn núi lửa này, tập trung chủ yếu tại các lỗ thông hơi Puʻuʻōʻō và Kupaianaha.

    Tại khu vực đỉnh núi, một lỗ thông hơi nằm bên trong Halemaʻumaʻu đã duy trì một hồ dung nham sôi sục cùng cột khói khí khổng lồ bốc lên dữ dội trong suốt giai đoạn từ năm 2008 đến 2018. Vào năm 2018, chuỗi hoạt động liên tục kéo dài suốt 35 năm tại Vùng đứt gãy phía Đông này cuối cùng đã khép lại. Một đợt xâm nhập magma vào vùng Khe nứt phía Đông hạ lưu đã dẫn đến sự sụp đổ và chấm dứt hoạt động của hồ dung nham tại Puʻuʻōʻō, đồng thời làm cạn kiệt hồ dung nham trên đỉnh núi tại Halemaʻumaʻu.

    Một trong những kẽ nứt sau khi phun lửa

    Một số du khách cho rằng đây là một kẽ nứt linh thiêng nên đã biến nó thành một “wishing vocano crack”, hố nứt này có hơi nóng phía đáy rất mạnh và dễ bắt lửa.

    Những sự kiện này đã gây ra một đợt phun trào dữ dội từ vùng Khe nứt phía Đông hạ lưu, kéo theo sự sụp đổ bên trong Kaluapele, hiện tượng đã làm mở rộng và gia tăng độ sâu của Halemaʻumaʻu. Kể từ tháng 12 năm 2020, một loạt các đợt phun trào trên đỉnh núi diễn ra bên trong Halemaʻumaʻu đã dần lấp đầy khu vực bị sụp đổ này. Trong năm 2024, hoạt động núi lửa đã dịch chuyển ra khỏi lòng chảo caldera, với một đợt xâm nhập và phun trào tại vùng Khe nứt phía Tây Nam, cùng nhiều đợt xâm nhập tại vùng Khe nứt phía Đông thượng lưu, cũng như một đợt phun trào tại vùng Khe nứt phía Đông trung lưu. Kể từ ngày 23 tháng 12 năm 2024, một đợt phun trào đã diễn ra ngắt quãng bên trong miệng núi lửa Halemaʻumaʻu trên đỉnh núi.

    Sự dâng trào từ trong lòng núi lửa đã tạo ra các hạt khí dung nhan thạch có tính axit và kích thước đủ loại từ lớn đến nhỏ. Thảo mộc và cây cối không không thể tồn tại và sinh sống trên vùng này được.

    Trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến 2018, Halemaʻumaʻu, một hố trũng nằm bên trong hõm chảo đỉnh núi của Kīlauea đã chứa đựng một hồ dung nham đang hoạt động. Kīlauea đã phun trào gần như liên tục từ các miệng phun nằm trên vết nứt gãy phía đông của nó trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 1983 đến tháng 4 năm 2018; đợt phun trào này đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, bao gồm việc phá hủy hoàn toàn các thị trấn Kalapana và Kaimū cùng bãi biển cát đen trứ danh của cộng đồng dân cư nơi đây vào năm 1990.

    Loại dung thạch này có trọng lượng nhẹ như giấy, màu đen sắc xám xen lẫn ánh xanh (green) và vàng (golden) nên trông rất đẹp. Những viên đá nhan thạch này là vật quốc cấm và được bảo vệ. Tuy nhiên, không ai dám lấy cắp chúng vì theo lời truyền miệng từ người dân sống trong vùng này rằng: “Nếu một ai lấy cắp những viên đá nhan thạch này thì sẽ gặp những điều không tốt (xui xẻo) xảy ra cho chính mình hay gia đình, v.v…“

    Vụ phun trào tháng 1 năm 1960 tại Núi lửa Kapoho

    Vào ngày 12 tháng 1 năm 1960, cư dân của Kapoho đã trải qua hơn 1,000 trận động đất nhỏ làm rung chuyển khu vực. Các vết nứt sâu xuất hiện trên đường phố gây nhiều. Vụ phun trào bắt đầu vào đêm ngày 13, ngọn núi lửa Kapoho đã phun trào dung nham ra giữa một cánh đồng mía ngay phía trên Kapoho. Mặc dù dòng dung nham chính chảy ra biển, một nhánh nhỏ di chuyển chậm chạp tiến về phía thị trấn Kapoho. Bất chấp những nỗ lực của người Pháp nhằm chuyển hướng dòng dung nham bằng các rào chắn đất hoặc làm cứng nó bằng cách phun nước, nhưng vào ngày 28 tháng 1 dòng dung nham đã tràn vào và chôn vùi thị trấn. Gần 100 ngôi nhà và cơ sở kinh doanh cũng như một khu nghỉ dưỡng suối nước nóng đã bị phá hủy.

    Ngọn hải đăng Cape Kumukahi ở phía đông thị trấn vẫn còn nguyên vẹn và tiếp tục hoạt động, nhưng nhà ở của người gác hải đăng đã bị phá hủy. Từ năm 1960 đến năm 2018, có rất nhiều rặng san hô xuất hiện tại các hồ thủy triều liên kết với nhau ở Kapoho. Sau đó, không có hoạt động dung nham nào ở Kapoho trong gần 60 năm. Các hồ thủy triều tự nhiên, bãi biển cát đen và suối nước nóng ấm áp đã biến Kapoho thành một địa điểm hấp dẫn để sinh sống. Do hai yếu tố này, Kapoho đã trở thành khu vực đắt đỏ nhất để sinh sống ở Puna, với nhiều ngôi nhà có giá trên 1,000,000 đô la.

    Vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018 vào ngày 4 tháng 6 năm 2018, dòng dung nham từ một vết nứt cách bờ biển 16 km (10 dặm) về phía đất liền (từ trên cùng bên phải) cắt ngang qua các ngôi nhà của Vacationland và Kapoho Beach Lots, và bắt đầu lấp đầy các vũng thủy triều và Vịnh Kapoho. Vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018 đã làm gián đoạn nguồn điện ở Kapoho vào cuối tháng 5 và đóng cửa con đường chính dẫn đến phần còn lại của hòn đảo. Vào ngày 30 tháng 5, cư dân được khuyến cáo di tản. Vào ngày 1 tháng 6, dòng dung nham tràn vào Kapoho trên dòng dung nham năm 1960 và sau đó chuyển hướng về phía nam. Vào ngày 2 tháng 6 năm 2018, Hồ Ka Wai o Pele đã bị phá hủy khi dòng dung nham làm bốc hơi. Dòng dung nham tràn vào đại dương tại Vịnh Kapoho vào ngày 4 tháng 6 trên một mặt rộng nửa dặm (800 m). Một số lượng nhà không xác định đã bị phá hủy bởi dung nham vào ngày 4 tháng 6, nhưng phần lớn vẫn còn đứng vững. Đến ngày 5 tháng 6, dòng dung nham đã tạo ra một đồng bằng dung nham kéo dài gần 3,700 feet (1,1 km) vào vịnh.

    Các quan chức Quận Hawaiʻi cho biết hàng trăm ngôi nhà trong các khu dân cư của Vacationland Hawaii và Kapoho Beach Lots đã bị phá hủy bởi dòng dung nham đang tiến nhanh. Ngôi nhà của Thị trưởng Đảo Hawaii Harry Kim, mà ông đã mua vào năm 1971, nằm trong số hàng trăm ngôi nhà bị phá hủy. Trong vài ngày tiếp theo, toàn bộ vịnh bị lấp đầy bởi dung nham, và vào ngày 6 tháng 6, Cơ quan Phòng vệ Dân sự Quận Hawaii báo cáo rằng một vài ngôi nhà còn lại ở Vacationland đã bị xóa sổ. Một khu dân cư liền kề, khu Kapoho Beach Lots cũng bị ngập dung nham và phần lớn bị bao phủ, cùng với các hồ thủy triều Kapoho cũng như Vịnh Kapoho và các ao Champagne gần đó.

    Kapoho trở thành một khu vực không có người ở, chưa được hợp nhất bởi sự phá hủy của vụ phun trào của Kīlauea vào năm 1960, nhưng sau đó, nó đã được xây dựng lại thành một cộng đồng gồm các ngôi nhà tư nhân và nhà cho thuê nghỉ dưỡng. Thị trấn lại bị phá hủy bởi dung nham trong vụ phun trào Puna phía dưới năm 2018, lần này vịnh cũng bị chôn vùi phần lớn bởi dung nham.

    Đến cuối tháng 6, khoảng 520 mẫu Anh (2,1 km2) đất mới đã được tạo ra dọc theo hàng ngàn đường bờ biển mới.

    5. Nahuku Lavatube (Thurston Lava Tube)

    Thám hiểm Thurston Lava tube mất khoảng 12 ml or .8 km vừa đi vừa về qua những khu rừng nhiệt đới (Rainforest) bao phủ bởi nhiều loại cây lớn và thảo mộc khác nhau như Hapa’u pulu, Ohi’a lehua, ‘Oha, v.v…

    Nahuku Lavatube (Thurston Lava Túbe), là đường ống ở bên trong của những núi lửa còn hoạt động (inside an active volcano), tuy nhiên, đường mòn trong ống dễ đi, nếu đi bộ mất khoảng 20-30 phút, ở cao độ 50ft hoặc 15m. 

    Dòng điện trung tâm nhanh giữ cho độ nóng trong khi di chuyển trong ống.

    Các ống dung nham này được tạo thành trên dòng dung nham, gần nguồn những dòng sông dung nham lớn chảy theo các kênh tự nhiên do chính chúng tạo ra. Khi bề mặt nguội đi, đỉnh của lớp vỏ chảy xuống và phủ lên hai bên, giống như khi băng sơn đóng băng trên 2 bên của dòng sông. Lớp vỏ cuối cùng kết hợp và cách nhiệt dòng chảy bên trong. Sau khi dòng dung nhan phun trào dừng lại, dung nham thường chảy ra từ ống và để lại ống dẫn trống bên dưới bề mặt. Khi xuyên qua lớp vỏ ống đang hoạt động, chúng ta sẽ nhận thấy: dòng dung nham phát sáng di chuyển dọc theo ở nhiệt độ vượt quá 2000° F (1.090 ° C). Nhiệt bức xạ của nó tan và chảy qua các bức tường bên trong để tạo thành nahuku (đá nhũ đá) từ đá nóng chảy.

    Những làn khói trắng do sự quá nhiệt của dòng dung nhan chảy thổi qua đường hầm, tạo nên âm thanh như những tiếng rít nhẹ liên tục, không ngừng của dòng chảy. Sau mỗi vụ dung nham phun trào, phải mất khoảng một năm để ống hạ nhiệt.

    Tận cùng của con đường mòn Nahuku Lavatube

    ĐƯỜNG MÒN KILAUEA IKI, 1.2 m. ĐI BỘ ĐƯỜNG DÀI vừa đi vừa về là 4m, 

    VOLCANO HOUSE

    Khi tòa nhà volcano house lần đầu được khai trương vào năm 1846. Volcano House đã tổ chức một buổi đi bộ đường dài gồm các nhân vật nổi tiếng trên thế giới như Mark Twain, Robert Louis Stevenson, Amelia Earhart, Louis Pasteur (21 tháng 1 năm 1853) và Franklin Delano Roosevelt (Tổng thống Hoa Kỳ, ngày 25 tháng 7 năm 1935). Tuy nhiên, do sự phát lửa của ngọn núi lửa Pelehonuamea, chương trình đành phải hủy bỏ. Nhưng sau đó, Nữ hoàng Liliuokalani, (người trị vì vào thời điểm Vương quốc Hawaii bị lật đổ vào năm 1893) đã có mặt tại Vocano house ngày 14 tháng 5 năm 1891 và Kaläkaua, (vị vua cuối cùng của Hawaii) cũng đã có mặt tại đây tháng 8 ngày 30th, 1874 đã say đắm với vẻ đẹp của Kilauea. 

    Tòa nhà 1877 hiện đóng vai trò là Núi lửa, xây theo phong cách phương Tây bởi William. Louis Pasteur, Nhà khoa học, ngày 21 tháng 6 năm 1883 và Amelia Earhart, Phi công, ngày 7 tháng 1 năm 1935 là 2 vị khách danh dự cuối cùng được mời đến thăm Vocano House. Công chúa Lili’uokalani đã chứng kiến sự khởi đầu của vụ phun trào Mauna Loa năm 1880 từ Núi lửa

    Năm I921, Công ty tàu hơi nước Interisland mua lại Vocano House và mở rộng với một cánh hai tầng, tăng số phòng từ 25 lên 104. Đến năm 1932 do cuộc đại suy thoái, George Lycurgus đã mua Vocano House với giá 300 đô la và giao cho Lycurgus làm quản lý cho đến năm 1959. Khách mời đặc biệt gồm Công chúa Victoria Kaulani, Tổng thống Franklin D. Roosevelt, Amelia Earhart, Phó Tổng thống Charles W. Lần này, Vocano house được xây bằng một loại gỗ bản địa, các mối nối không có nốt đinh và rất là công phu, ván lợp gỗ tái chế từ California. 

    Ngày 7 tháng 2 năm 1940: Volcano House bị thiêu rụi do hỏa hoạn nhà bếp. George Lycurgus ủy quyền cho kiến trúc sư Charles W. Dickey xây lại một khách sạn mới, khai trương ngày 8 tháng 11, 194I ở rìa miệng núi lửa. Khách mời là Dwight D. Eisenhower, Harry S. Truman, Tiến sĩ Charles W. Mayo, John F. ennedy, Richard Nixon. 

    CELEBRITY SOLSTICE ENTERTAINMENTS

    Celebrity Solstice có những màn giải trí rất độc đáo vào mỗi tối khiến cho những ngày dài lênh đênh trên biển trở thành lý thú và không bị nhàm chán. Mở đầu với một dàn chào của các nhân viên làm việc trên du thuyền bao gồm vị thuyền trưởng, Captain Theodoros Zakkas.

    Forever Whitney Featuring by Nina Skyy: Theo sau là màn trình của ca sĩ Nina Skyy. Trong khi kể câu chuyện tuyệt vời về danh ca Whitney Houston, Nina Skyy với giọng ca diêu luyện, cô đã kết hợp tiếng hát của cô một cách khéo léo vào những bài ca khúc mà Whitney Houston vẫn thường hát khi còn sinh thời như The Bodyguard, I will always love you, v.v… Đây là một chương trình tràn đầy năng lượng, cảm xúc, truyền cảm hứng và sâu lắng, khiến ở mọi lứa tuổi phải trầm trồ và đây cũng không phải là một chương trình tưởng niệm thông thường về Whitney Houston.

    Hawaii Folkloric Show: Đây là một hành trình từng đoạt giải thưởng âm nhạc, bài hát và điệu nhảy của vũ đoàn Tahiti. Đoàn nghệ sĩ địa phương bày với tài năng và trang phục đầy màu sắc, chân thực khi họ chia sẻ di sản phong phú của Tahiti.

    Gồm các thanh thiếu nữ tuổi từ 30 đến các em nhỏ ở lứa tuổi 5 hoặc 6 tuổi. Nhưng các em bé này vũ rất diêu luyện (kể cả múa bụng & mông) không kém gì các anh chị lớn trong đoàn, điều này chứng tỏ cho một sự luyện tập rất công phu và có bài bản.

    Celebrity Showtime: Rockumentary: Ban nhạc và các vũ công của Celebrity Solstice đã làm sống lại những màn trình diễn huyền thoại đã định hình nên các thập kỷ và cùng hòa mình vào những bản top-hits yêu thích. Buổi hòa nhạc sôi động này mang đến năng lượng không ngừng nghỉ và sẽ gây sự thích thú cho những người hâm mộ âm nhạc, từ người trẻ đến những người có tâm hồn trẻ trung.

    Wayne Cotter comedy’s show: Là một nghệ sĩ truyền hình kỳ cựu và là gương mặt quen thuộc lâu năm của David Letterman và Jay Leno. Wayne thậm chí còn bắt đầu sự nghiệp với Johnny Carson. Với vẻ tươi mới, thông minh, hài hước và dí dỏm, anh ta đã làm sôi động bất kỳ sự kiện nào.

    Candlelight Concert: Tri ân những nghệ sĩ huyền thoại của dòng nhạc rock kinh điển tại buổi hòa nhạc ấm cúng dưới ánh nến lung linh. Những bản nhạc bất hủ được các nhạc công của du thuyền celebrity Solstice tái hiện lại sẽ mang đến trải nghiệm âm nhạc như thể đang hát lại những bài hát yêu thích lần đầu tiên.

    Dueling Pianos: Đó là những bài hát country music về tình yêu, những bản nhạc chia tay đã tạo nên một đêm tràn ngập cảm xúc, kịch tính và những khoảnh khắc hát vang từ tận đáy lòng. Hãy cùng bắt đầu một hành trình âm nhạc mà thính giả cùng tham gia tạo nên trong Giờ Yêu Cầu Biểu Diễn Dueling Piano cùng với nhạc công.

    Celebrity Showtime: Broken Strings: Buổi biểu diễn âm nhạc sống động đầy sôi nổi, khẳng định sức mạnh của tình bạn, tiếng cười và âm nhạc. Hãy cùng chúc mừng sinh nhật của mọi người với dàn nhạc và tận hưởng dàn diễn viên xuất sắc trong hành trình âm nhạc đầy cảm xúc và sự kết nối của tình yêu.

    ABBA Sing-Along Party: Mời tất cả các nữ hoàng và ông vua khiêu vũ cùng tham gia một đêm nhạc ABBA đình đám. Hãy cùng nhảy và hát theo những bản nhạc kinh điển trên màn ảnh rộng trong bữa tiệc âm nhạc thập niên 70 sôi động này để tôn vinh nhóm nhạc pop huyền thoại ABBA.

    Mind reading show by illusionist Jeremy Tan: Ảo thuật gia Jeremy Tan, người có khả năng đọc những suy nghĩ của người khác. Anh là một ảo thuật gia tài ba nhất Singapore, anh sẽ biểu diễn những màn ma thuật và đọc suy nghĩ đáng kinh ngạc. Jeremy thể hiện những kỹ thuật ảo thuật đỉnh cao cho thấy việc đối mặt với một kẻ gian lận bài thực thụ sẽ như thế nào.

    Celebrity Solstice showtime: A night of Broadway: Một đêm nhạc kịch Broadway sẽ thắp sáng sân khấu với những bản hit kinh điển của Broadway và West End.

    Hành trình từ những tác phẩm kinh điển thời hoàng kim đến những thành công âm nhạc đương đại sẽ được các ca sĩ và dàn nhạc của Nhà hát mang đến, một buổi lễ thân mật tôn vinh sự kỳ diệu của nhạc kịch.

    Vocalist Drew Pournelle: Là một ca sĩ “world-class vocalist” đến từ thành phố New York, anh từng mở màn cho ngôi sao nhạc đồng quê Sara Evens và chia sẻ sân khấu với Sandi Patti và The Osmonds. Drew Pournelle đã chinh phục khán giả bằng giọng hát mạnh mẽ với phong thái trình diễn đầy cuốn hút. Drew Pournelle mang đến một màn tri ân đầy thăng hoa dành cho những âm thanh huyền thoại của thập niên 70 và 80. Với giọng hát đầy nội lực cùng phong thái trình diễn đầy lôi cuốn, anh đã tái hiện sống động những bản hit bất hủ từ Toto, Chicago, Rick Astley, Journey và Poison. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những ca khúc sôi động tràn đầy năng lượng và những bản ballad trữ tình bay bổng, khó quên.

    Tribute to James Taylor: Hãy cùng nghệ sĩ guitar solo Ge Luz tận hưởng một đêm nhạc đầy cảm xúc và những bài hát lay động lòng người khi anh tri ân những ca khúc bất hủ của James Taylor. Cùng hát theo và trải nghiệm toàn bộ kho tàng âm nhạc của ca sĩ kiêm nhạc sĩ huyền thoại James Taylor.

    Celebrity Solstice Showtime: Smoke & Ivories: Đến với Smoke & Ivories, âm nhạc năm 1956 và hãy sẵn sàng bước vào thế giới của những điệu nhảy tap-dance,

    Những màn nhào lộn trên không ngoạn mục và những giọng hát “world class vocals” xoay quanh cây đàn piano đang đánh trực tiếp bởi pianist.

    Một đêm tôn vinh âm thanh huyền thoại của thập niên 50.

    Zumba

    Dạy múa chachacha, tango, swing

    Silent Disco and Disco never die

    May 02, 2026-Officer’s Farewell Soirée: Hãy cùng Captain Theo và các sĩ quan của tàu Celebrity Solstice tham dự buổi tiệc chia tay đặc biệt vào đêm cuối cùng trên du thuyền, tạo sự kết nối với đội ngũ lãnh đạo thân thiện và tận tâm khi họ chia sẻ lòng biết ơn và cùng nhau ghi dấu khoảnh khắc này bằng một bức ảnh chia tay.

    Khánh Lan & Mạnh Bổng, California May 2026

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

    Saigon Hòn Ngọc Viễn Đông

    Minh Tiết (Tài liệu của @Phóng Viên Chiến Trường sưu tầm)

    THỜI KỲ HOANG SƠ:

    Con người xuất hiện ở Sài Gòn từ khá sớm. Các cuộc khai quật khảo cổ trên địa phận Sài Gòn và khu vực lân cận cho thấy, ở đây đã tồn tại nhiều nền văn hóa từ thời kỳ đồ đá cho tới thời kim khí. Những cư dân cổ từ nhiều thiên niên kỷ về trước đã biết đến kỹ thuật canh tác nông nghiệp.

    Văn hóa Sa Huỳnh từng tồn tại trên khu vực này với những nét rất riêng. Thời kỳ văn hóa Óc Eo, từ đầu Công Nguyên cho tới thế kỷ 7, khu vực miền Nam Đông Dương có nhiều tiểu quốc và Sài Gòn khi đó là miền đất có quan hệ với những vương quốc này.

    Sau khi Đế quốc Khmer hình thành, lãnh thổ miền Nam Đông Dương thuộc quyền kiểm soát của đế chế này. Tuy nhiên, dân cư của Đế quốc Khmer sống ở vùng này rất thưa thớt, không có khu dân cư lớn nào hình thành tại đây. Sau khi Đế quốc Khmer sụp đổ, vùng đất này cũng trở thành vô chủ (không thuộc một nhà nước nào).

    Cho đến trước thế kỷ 16, vị trí tiếp giáp với các quốc gia cổ cũng khiến Sài Gòn trở thành nơi gặp gỡ của nhiều cộng đồng dân cư. Sài Gòn – Gia Định vẫn là địa bàn của một vài nhóm dân cư cổ cho tới khi người Việt xuất hiện.

    KHAI PHÁ:

    Những người Việt đầu tiên tự động vượt biển tới khai vùng đất này hoàn toàn không có sự tổ chức của Nhà Nguyễn. Nhờ cuộc hôn nhân giữa Công Nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II từ năm 1620, mối quan hệ giữa Đại Việt và Chân Lạp trở nên êm đẹp, dân cư hai nước có thể tự do qua lại sinh sống.

    Khu vực Sài Gòn, Đồng Nai bắt đầu xuất hiện những người Việt định cư. Trước đó, người Khmer, người Chăm, người Man cũng sinh sống rải rác ở đây từ xa xưa.

    Giai đoạn từ 1623 tới 1698 được xem như thời kỳ hình thành của Sài Gòn sau này.

    Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu con rễ là vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prey Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Tuy đây là vùng rừng rậm hoang vắng, nhưng lại nằm trên đường giao thông của các thương nhân Việt Nam, Trung Quốc,… qua Campuchia và Xiêm.

    Hai sự kiện quan trọng tiếp theo của thời kỳ này là lập doanh trại và dinh thự của Phó vương Nặc Nộn và lập đồn dinh ở Tân Mỹ (gần ngã tư Cống Quỳnh – Nguyễn Trãi ngày nay). Có thể nói Sài Gòn hình thành từ 3 cơ quan chính quyền này.

    Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần cho một số nhóm người Hoa tị nạn triều Mãn Thanh tới Mỹ Tho, Biên Hòa và Sài Gòn để lánh nạn.

    Đến năm 1698, chúa Nguyễn sai tướng Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý Miền Nam. Trên cơ sở những lưu dân Việt đã tự phát tới khu vực này trước đó, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định và hai huyện Phước Long, Tân Bình. Vùng Đông Nam Bộ được sáp nhập vào cương vực Việt Nam.

    Thời điểm ban đầu này, khu vực Biên Hòa, Gia Định có khoảng 10.000 hộ với 200.000 khẩu. Công cuộc khai hoang được tiến hành theo những phương thức mới, mang lại hiệu quả hơn.

    Cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, Mỹ Tho và Cù lao Phố là hai trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ. Tuy nhiên, cuối thế kỷ 18, sau các biến loạn và chiến tranh, thương nhân dần chuyển về vùng Chợ Lớn. Khu vực Sài Gòn dần trở thành trung tâm kinh tế lớn nhất Nam Bộ.

    Năm 1788, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) tái chiếm Sài Gòn, lấy nơi đây làm cơ sở để chống lại quân Tây Sơn. Năm 1790, với sự giúp đỡ của hai sĩ quan công binh người Pháp là kỹ sư Theodore Lebrun và Victor Olivier de Puymanel (1768–1799), Nguyễn Ánh cho xây dựng Thành Bát Quái làm trụ sở của chính quyền mới. “Gia Định Thành” khi đó được đổi thành “Gia Định Kinh”.

    Năm 1802, sau khi chiến thắng Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi và đẩy mạnh công cuộc khai khẩn Miền Nam. Miền Nam được chia thành 5 trấn, gọi là “Gia Định ngũ trấn”. Các công trình kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên, Vĩnh Tế… được thực hiện. Qua 300 năm, các trung tâm nông nghiệp phát triển bao quanh những đô thị sầm uất được hình thành.

    Sáu năm sau, 1808, “Gia Định Trấn” lại được đổi thành “Gia Định Thành”. Trong khoảng thời gian 1833 đến 1835, Lê Văn Khôi khởi binh chống lại Nhà Nguyễn, Thành Bát Quái trở thành địa điểm căn cứ. Sau khi trấn áp cuộc nổi dậy, năm 1835, vua Minh Mạng cho phá Thành Bát Quái, xây dựng Phụng Thành thay thế.

    THỜI KỲ PHÁP THUỘC:

    Ngay sau khi chiếm được thành Gia Định vào năm 1859, thực dân Pháp gấp rút quy hoạch lại Sài Gòn thành một đô thị lớn phục vụ mục đích khai thác thuộc địa. Đồ án thiết kế được Phó Đô đốc Pháp là Page (về sau là Charner) cử trung tá công binh Pháp là Paul Florent Lucien Coffyn (20/5/1810 – 5/8/1871), nguyên Lãnh sự Pháp ở Hoa Kỳ, thiết kế. Theo bản đồ của Coffyn được công bố vào ngày 13/5/1862, quy hoạch ban đầu của Sài Gòn bao gồm cả tỉnh Chợ Lớn với khoảng 500.000 dân (Saigon ville de 500.000 âmes), tức khoảng 20.000 dân/km².

    Quy hoạch này tương ứng với quy hoạch khu vực phòng thủ của tướng Nguyễn Cửu Đàm năm 1772, khi dân số Sài Gòn chỉ khoảng 20.000–30.000 người. Nhưng đến 1864, nhận thấy diện tích dự kiến của thành phố quá rộng, khó bảo đảm về an ninh, Soái phủ Pháp ở Nam Kỳ (Gouverneur Amiral de la Cochinchine) lúc đó là Chuẩn Đô Đốc Pierre Rose quyết định tách Chợ Lớn khỏi Sài Gòn.

    Ngày 3/10/1865, Pierre Rose ra lệnh quy hoạch lại Sài Gòn chỉ còn là khu vực nằm giữa rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé và đường mới khu cầu Ông Lãnh hiện nay. Toàn bộ quy hoạch chỉ còn rộng khoảng 3 km².

    Rất nhanh chóng, các công trình quan trọng của thành phố, như Dinh Thống đốc Nam Kỳ, Dinh Toàn Quyền, được Pháp thiết kế và huy động nhân công xây dựng. Sau 2 năm người Pháp xây dựng và cải tạo, khu quy hoạch rộng khoảng 3 km² nói trên đã hoàn toàn thay đổi.

    Thành phố Sài Gòn khi đó được thiết kế theo mô hình Châu Âu, nơi đặt văn phòng nhiều cơ quan công vụ như:

    Dinh Thống Đốc, Nha Giám Đốc Nội Vụ, Tòa Án, Tòa Thượng Thẩm, Tòa Sơ Thẩm, Tòa Án Thương Mại, Tòa Giám Mục,… Nam Kỳ Lục tỉnh là thuộc địa của Pháp và Sài Gòn nằm trong tỉnh Gia Định.

    Vào năm 1861, địa phận Sài Gòn được giới hạn bởi một bên là rạch Thị Nghè và rạch Bến Nghé với một bên là sông Sài Gòn cùng con đường nối liền chùa Cây Mai với những phòng tuyến cũ của đồn Kỳ Hòa.

    Đến năm 1867, việc quản lý Sài Gòn được giao cho Ủy ban Thành Phố gồm 1 ủy viên và 12 hội viên; đứng đầu là viên Thị trưởng người Pháp tên là Charles Marie Louis Turc (1867–1871). Cho tới nửa đầu thập niên 1870, thành phố Sài Gòn vẫn nằm trong địa hạt hành chính tỉnh Gia Định.

    Ngày 15 tháng 3 năm 1874, Tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn.Đứng đầu là viên Thị Trưởng người Pháp, đầu tiên là G. Vinson (1874 –1876).

    Đến năm 1879 thì Pháp cho lập thêm Hội đồng thành phố Sài Gòn (hay đúng ra là Ủy hội thành phố – Commission municipale).

    HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG:

    Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Sài Gòn trở thành trung tâm quan trọng, cả về hành chính lẫn kinh tế, văn hóa, giáo dục của Liên bang Đông Dương, được thực dân Pháp mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông (“la perle de l’Extrême-Orient”) hoặc một Paris nhỏ ở Viễn Đông (“le petit Paris de l’Extrême-Orient”) trong số các thuộc địa của Pháp.Trước đó, thực dân Anh đã chiếm Ấn Độ và gọi nước này là “hòn ngọc trên vương miện của Nữ Hoàng Anh”, vì vậy Pháp đặt ra danh xưng này cho Sài Gòn để tỏ ý muốn cạnh tranh việc xâm chiếm thuộc địa với đối thủ Anh.

    Tuy được Pháp gọi là “Hòn Ngọc Viễn Đông”, nhưng thực ra thời ấy Sài Gòn rất nhỏ, chỉ cần đi xa 20 km là có thể săn thú rừng. Theo quy hoạch của Pháp, Sài Gòn khi đó chỉ rộng khoảng 3 km²; gần bằng một nửa Quận 1 hiện nay (rộng khoảng 8 km²), bao bọc bởi sông Sài Gòn,Chính quyền thuộc địa Pháp tập trung tất cả những gì sang trọng, giàu có nhất mà họ có được ở diện tích 3 km² này, phần còn lại của Sài Gòn thì vẫn còn rất hoang sơ, đầm lầy ngổn ngang.

    Theo Sơn Nam trong “Bến Nghé xưa” thì khi Chợ Bến Thành hoàn thành năm 1914, “trước mặt còn là ao vũng sình lầy. Giữa Sài Gòn và Chợ Lớn phía đất thấp (…), còn ruộng lúa với người cày, ao nuôi vịt, ngọn rạch cạn. Giữa Sài Gòn và ở phần đất cao còn nhiều chòm tre, cây da, mồ mả to xen vào những đám rẫy trồng rau cải và bông hoa, những xóm nhà ổ chuột; bầy bò,dê đi lang thang ăn cỏ”.

    Khu Hòa Hưng (Quận 10 hiện nay) cho đến ngã tư Bảy Hiền hiện nay có vô số nghĩa trang, mồ mả. Khu Nguyễn Thiện Thuật, Lý Thái Tổ, Nguyễn Đình Chiểu (Quận 3 hiện nay) toàn nhà lá nền đất xây dựng tạm bợ không theo quy hoạch nào. Khu Quận 4, Quận 7, khu Cầu Ông Lãnh, Cầu Kho,… sát cạnh chợ Bến Thành đa số là nhà tranh vách lá tạm bợ.

    Sau Thế Chiến thứ nhất, kiến trúc sư He’brerd được mời sang Đông Dương chỉnh lý lại các dự án quy hoạch Sài Gòn. Ông đề ra hướng phát triển công nghiệp và xuất khẩu cho Sài Gòn, điều chỉnh hệ thống kỹ thuật hạ tầng, củng cố thêm phố thị Khánh Hội và Nhà Bè. Nhưng kế hoạch bất thành do thiếu ngân sách.

    ĐÔ THÀNH SAIGON:

    Từ năm 1949, Sài Gòn đã là Thủ Đô của Quốc Gia Việt Nam. Đến năm 1955,Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa được thành lập, Sài Gòn khi đó là thành phố lớn nhất tại Miền Nam Việt Nam đã được chọn làm Thủ Đô với tên gọi chính thức “Đô Thành Sài Gòn” (lưu ý, cách viết thông dụng là “Saigon”). Chiến tranh Đông Dương tác động khiến việc di dân từ nông thôn lên thành thị tăng nhanh.

    Thời điểm 1948 dân số đã lên đến 1,179 triệu người, đến năm 1949 thì dân số khu vực đã tăng lên 1.200.000.

    Năm 1954 với hàng trăm nghìn người Bắc di cư vào Nam sau khi chia đội đất nước từ vĩ tuyến 17 thì dân số Sài Gòn leo cao, đạt 2.000.000.Dân di cư tập trung tại các khu vực như Xóm Mới – Gò Vấp, Bình An – Quận 8, và rải rác tại các quận khác.

    Với Nghị định số 110-NV ngày 27 tháng 3 năm 1959 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, từ 6 quận, Sài Gòn được chia lại thành 8 quận với tổng cộng 41 phường.

    Vào nửa cuối thập niên 1950, nhờ viện trợ của Chính phủ Hoa Kỳ, Sài Gòn trở thành một trung tâm về chính trị, kinh tế, văn hóa, giải trí tại Miền Nam Việt Nam, là thành phố lớn nhất của kinh tế Việt Nam Cộng Hòa.

    Từ giữa thập niên 1960 đến những năm đầu thập niên 1970, việc Quân đội Hoa Kỳ vào tham chiến tại Miền Nam Việt Nam nhiều công trình quân sự,cao ốc mọc lên.Lối sống của giới trẻ Sài Gòn cũng chịu ảnh hưởng bởi văn hóa phương Tây được du nhập từ binh lính và sách báo Mỹ.

    Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975

    Khi Quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chiếm được Saigon thì Những: Viên chức, Binh Lính, Sĩ Quan, Tướng Lãnh của Việt Nam Cộng Hòa và những người cộng tác với Mỹ, một số đã vượt biên số còn lại đều bị “chính quyền mới” bắt đi trình diện tập trung “học tập cải tạo”, rất nhiều người dân ở Saigon cũng tìm cách vượt biển, vượt biên, số còn lại bị đưa đi vùng kinh tế mới”

    Nền văn hóa, văn minh bị tàn lụi và cái tên “Saigon Hòn Ngọc Viễn Đông” đã bị lu mờ từ đây !

    Minh Tiết

    (Tài liệu của @Phóng Viên Chiến Trường sưu tầm)

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt,  Viet-Hải

    MỘT THOÁNG NHỚ

    Việt Hải & Khánh Lan

    Tại tư gia của nhà thơ Minh Đức Ngô Thiện Đức ngày 10 tháng 4, 2026, buổi hội ngộ văn chương và nghệ thuật do hai Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian thực hiện. Ghi nhận có sự góp mặt của nhiều gương mặt sinh hoạt về văn học và nghệ thuật.

    Ngọc Quỳnh, TS Quỳnh Giao, Cô Vĩnh (phu nhân cùa HS Hoàng Vinh, NS Dương Hồng Anh

    Nhóm Tây Ban Cầm, Tơ Vàng cùng KG NV Vương Trùng Dương, KG NV Phạm Quốc Bảo, Mạnh Bổng, HS Hoàng Vinh

    Nhóm Tơ Vàng Trình diễn với nhạc phẩm Lối Về Xóm Nhỏ

    KG NV Vương Trung Dương, NV Việt Hải, KG NV Du Miên, GS Dương Ngọc Sum, NS NV Dương Viết Điền

    Madame Phiến Đan, NV Khánh Lan, TS Minh Đức, NS Dương Hồng Anh, GS Dương Ngọc Sum, CNS Lâm Dung, GS Quyên Di

    Ngoài quý giáo sư và văn thi sĩ, ký giả tại vùng Orange County, nhóm Tây Ban Cầm Tơ Vàng do Nhạc Sĩ Võ Tá Hân thành lập, cựu thiếu tá Cảnh Sát Phan Tấn Ngưu, ông cũng là người bạn tù suốt 17 năm cùng Nhà văn Phạm Gia Đại và ông Tế Hữu, niên trưởng của trường Trung Học Chu Văn An. Chúng tôi cũng nhận thấy một số ký giả và nhà văn tại vùng San Jose như Ký giả Lê Bình, Chủ tịch hội truyền thông báo chí Bắc California và phu nhân, nhà văn Bạch Phụng.

    Chúng tôi cho đây là chương trình văn học vì có sự trình làng 3 tác phẩm đặc sắc gồm: Tưởng Nhớ GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, Mừng Thọ & giới thiêu sách về GS Dương Ngọc Sum, và Tuyển Tập Tam Nữ Nhân gồm nữ sĩ Dương Hồng Anh, ca nhạc sĩ Lâm Dung và nhà văn Khánh Lan (NVNT MAGAZINE, số 1). Tham dự buổi RMS, chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của Madame Xuân Vinh Phiến Đan, phu nhân của cố GS. Nguyễn Xuân Vinh. Chúng tôi cũng ghi nhận sự hiện diện Cô Dương Quỳnh Như, ái nữ của GS Dương Ngọc Sum, cháu ngoại và nhiều cựu học sinh Petrus Kỳ góp mặt như Đặng Quý Mão, Quỳnh như, v.v… 

    Madame Xuân Vinh Phiến Đan, Madame Lệ Hoa, NV Việt Hải, KG Du Miên, GS Dương Ngọc Sum, NV Dương Viết Điền, Cựu Thiếu tá Phan Tấn Ngưu

    CHUẨN BỊ CHO BỮA ĂN TRƯA

    KHAI MẠC CHƯƠNG TRINH RMS

    Trong bầu không khí thân mật và ấm cúng, Thi sĩ Minh Đúc Ngô Thiện Đức ngỏ lời chào mừng quý quan khách tham dự, đồng thời giới thiệu một chi nhánh mới của văn học, Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa. Mục đính của buổi RMS cũng được anh đề cập đến. Sau hết, anh mời quý quan khách dùng bữa ăn trưa thân mật trước khi khai mạc chương trình RMS.

    Chương trình bắt đầu với những bằng tưởng lục về đóng góp văn hóa của Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Westminster cấp, do bà Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Frances Nguyễn Thế Thủy nhờ GS Quyên Di chuyển Chương trình RMS khai mạc lúc 1:15 pm, 3 MC chính của buổi họp mặt là NV Phạm Gia Đại, GS Trần Mạnh Chi và Mộng Thủy.

    Các bằng tưởng lục này được các đại diện KG NV Phạm Quốc Bảo trao cho NV Khánh Lan, Nghệ sĩ Minh Khai em gái NS Lam Phương trao cho CNS Lâm Dung và HS Hoàng Vinh trao cho NS Dương Hồng Anh.

    Sau đó, bằng tưởng lục đóng góp về văn học nghệt thuật do Ban Sáng Lập và điều hành của hai tổ chức Liên nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian cấp phát ghi nhận những thành quả về phạm trù chuyên môn của 3 hội viên trên.

    Do các Giáo Sư và Văn Thi Sĩ đại diện hội trao tặng cho NS Dương Hồng Anh, CNS Lâm Dung và NV Khánh Lan

    TƯỞNG NIỆM GS KHG NGUYỄN XUÂN VINH

    Tác phẩm tưởng nhớ do NVNT & TTG thực hiên & xuất bản

    GS Quyên Di đại diện hai liên nhóm mở đầu Phần tưởng niệm GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, ông nói về lý do vì sao lại có ngày tưởng niệm GS Vinh. Sau đó, NV Việt Hải nói ngắn gọn lòng kính phục và quý mến của ông đối với GS Vinh khi GS Vinh còn sinh thời và sự nuối tiếc một KHG vĩ đại của thế giới. Tiếp theo, NV Việt Hải trao tặng sách tưởng niệm GS Nguyễn Xuân Vinh do Liên Nhóm NVNT & TTG thực hiện.

    Trong giây phút ấy, chúng tôi nhận thấy mắt Madame Phiến Đan ngấn lệ, giọng nói của bà nghẹn lại như đang cố kìm lại cơn xúc động, khi ngỏ lời cám ơn đến những tấm lòng kính trọng và ngưỡng mộ một nhân tài của thế giới của hai nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa và Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG và VCV & TDX).

    Tiếp đến là GS Quyên Di đại diện cho bà Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Westminster, Frances Nguyễn Thế Thủy chuyển bằng tưởng lục đến cho Madame Xuân Vinh Phiến Đan qua tay cựu Thiếu Tá Phan Tấn Ngưu trao tặng cho bà.

    Đồng thời GS Quyên Di cũng chia sẻ những kỷ niệm của ông với gia đình GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, một mối thân tình mà chúng tôi cho là “rất kỳ ngộ”. Bởi GS Quyên Di là một người rất ngưỡng mộ tài năng của GS Vinh, vì thế GS Quyên Di thường hay đến thăm GS Vinh luôn, nhất là khi GS Vinh trở thành người công giáo để cùng tham khảo về Thiên Chứa Giáo. (GS Quyên Di cũng nhấn mạnh: “GS Vinh theo đạo công giáo không phải vì Madame Phiến Đan là người công giáo, mà vì GS Vinh từng nghiên cứu và am hiểu triết lý của đạo từ khi ông còn rất trè”).

    Và một lý do nữa để giải thích sự thân giao giữa hai gia đình này là trước năm 1975, khi ấy GS Quyên Di dạy học ở trường Nguyễn Bá Tòng và Madame Phiến Đan lại là học trò của ông. Chính vì thế hai vị giáo sư này rất kính trọng nhau và mỗi lần gặp nhau, họ gọi nhau bằng danh từ vô cùng cung kính: “Thưa Giáo Sư”.
     

    Tiếp lời của GS Quyên Di, Madame Phiến Đan cũng đã chia sẻ những kỷ niệm mà bà đã có được với GS KHG Nguyễn Xuân Vinh trong suốt 17 năm sống bên ông. Cũng như NV Quyên Di, bà nhấn mạnh về đức tính khiêm nhường và “nghe nhiều, nói ít” của GS Vinh.

    Tiếp tục chương trình, NV Khánh Lan đại diện Liên Nhóm NVNT & TTG và Liên Nhóm VCV & TĐX giới thiệu chủ đề khoa học không gia và Nguyễn Xuân Vinh, cô nói: “Trong nửa thế kỷ qua, khoa học đã phát triển với tốc độ thần tốc và đánh dấu một thành tựu đáng kinh ngạc của trí tuệ con người. Trong đó, chúng ta không thể không nhắc đến GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, ông không những là một KHG tài giỏi mà còn là một nhân vật xuất chúng trong ngành hàng không vũ trụ. Một người đã có những đóng góp vô giá cho khoa học không gian thế giới.

    Là người VN đầu tiên nhận bằng tiến sĩ kỹ thuật hàng không vũ trụ tại đại học Colorado Boulder năm 1965, GS KHG Nguyễn Xuân Vinh gia nhập cơ quan NASA và là người đã vẽ đường bay quỹ đạo cho các phi thuyền Mỹ đáp xuống mặt trăng. Đó là phương trình tối ưu cho phi thuyền Apollo của NASA Hoa Kỳ bay lên mặt trăng thành công, và thu hồi các phi thuyền con thoi trở về Trái Đất. Ông đã được cơ quan NASA trao tặng Huy chương đóng góp ngoại hạng và đã đạt được những giải thưởng của các tổ chức không gian Hoa Kỳ và thế giới, cũng như chức viện sĩ khoa học không gian tại một số nước Âu châu…và sau này, ông trở thành giáo sư ngành khoa học không gian tại đại học Michigan, Hoa kỳ.

    Nói đến GS KHG Nguyễn Xuân Vinh, thiết tưởng chúng ta cũng nên nói đến 3 công trình nghiên cứu quan trọng đã làm nên tên tuổi của ông. Đó là:

    1. Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics (1980)
    2. Optimal Trafectories in Atmospheric Flight (1981)
    3. Flight Mechanics of Hight Performance Aircraft (1993)

    Đóng góp cơ bản nhất của ông là công thức toán học mang tên ông để phóng những phi thuyền không gian ra ngoài vũ trụ và thu hồi trở về trái đất an toàn. Công thức có tên Vinh’s Universal Entry Equations, Khánh Lan xin dịch nôm na là “Công thức Du Hành Vũ trụ của Vinh”. Công thức này đã được các khoa học gia không gian Hoa Kỳ áp dụng để đưa phi thuyền không gian bay tới mặt trăng.”

    NV Việt Hai góp thêm ý về đề tài toán học như sau: (Tài liệu lấy từ hồ sơ cua NASA)

    Dựa theo tài liệu nghiên cứu của NASA. Phương trình của Vinh là gì? Nó được vận dụng trong phương pháp dẫn đường dựa trên quỹ đạo danh định dành cho các phương tiện tái nhập khí quyển siêu thanh. Quỹ đạo danh định được thiết lập thông qua phương pháp giả phổ, sau đó được bám theo bằng phương pháp điều khiển chân trời trượt. Cụ thể, một số chiến lược đã được áp dụng nhằm đơn giản hóa quá trình ứng dụng thực tiễn.

    • Thứ nhất, bài toán tối ưu hóa chân trời trượt được xây dựng dưới dạng rời rạc, sử dụng mô hình động học sai số trạng thái tuyến tính rời rạc xấp xỉ. Nhờ đó, phương trình Riccati ma trận vi phân được thay thế bằng phương trình Riccati ma trận sai phân.
    • Thứ hai, ma trận trọng số trạng thái cuối được thiết lập với giá trị hữu hạn, mang lại sự linh hoạt trong việc điều chỉnh chu kỳ lấy mẫu và chân trời dự báo.
    • Thứ ba, mô hình động học sai số trạng thái biến thiên theo thời gian được xấp xỉ bằng một hệ thống bất biến theo thời gian.
    •  Cuối cùng, thay vì phải tìm các ma trận trọng số cuối thỏa mãn một bất đẳng thức ma trận tuyến tính (LMI) thông qua công cụ LMI toolbox, chúng tôi thiết lập các ma trận này đồng nhất là một ma trận hằng số. Tất nhiên, các mô phỏng số đã được thực hiện nhằm kiểm chứng tính xác đáng và hiệu quả của phương pháp được đề xuất này.

    Và sau đó, NV Khánh Lan giới thiệu NV Phạm Gia Đại kể chuyện về GS. Vinh qua dề tài không gian: “Từ Space Shuttle đến Starship“. NV Phạm Gia Đại cũng nói về sự thành công vượt bực của kỹ thuật hàng không hiện nay, cũng như sự trở về trái đất an toàn của phi thuyền ARTEMIS II sau sứ mệnh lịch sử lên mặt trăng (Historic MoonMission) của 4 phi hành gia. Hạ cánh xuống Thái Bình Dương hôm thứ Sáu, ngày 10 tháng 4, 2026 gần San Diego. Sứ mệnh Artemis II đã kết thúc thành công. Phi hành đoàn Artemis II đã di chuyển khoảng 4.700 dặm vượt ra ngoài phía xa của Mặt Trăng. Từ vị trí thuận lợi này, họ sẽ có thể nhìn thấy Trái Đất và Mặt Trăng qua các cửa sổ của tàu Orion, với Mặt Trăng ở gần phía trước và Trái Đất ở cách đó gần 250.000 dặm về phía sau. Chuyến hành trình đưa con người bay quanh Mặt Trăng lần đầu tiên kể từ năm 1972, bốn phi hành gia của sứ mệnh Artemis II của NASA đã đạt được nhiều hơn là chỉ một cột mốc lịch sử đưa con người trở lại không gian bay quanh Mặt Trăng.

    Tiếp theo sau là GS Trần Mạnh Chi nói về GS Vinh và lãnh vực toán học. Trong lãnh vực này, NV Việt Hải cũng đã góp thêm ý: (Tài liệu lấy từ hồ sơ cua NASA)

    “Với đẳng cấp quốc tế như những vĩ nhân khoa học gia xuất chúng, những tên tuổi lớn như Dr. Arthur B. Cuthbert Walker II, Vera Rubin,  Edwin Hubble, Stephen Hawking hay bên nhân văn như Jules Vern, Antoine de Saint-Exupéry, Herbert George Wells hay Arthur C Clarke, Robert Heinlein,… Bên Việt Nam dã có Dr. Nguyễn Xuân Vinh với đóng góp vinh hiển cho khoa học toán không gian như tác phẩm *A Life In Hypersonic Flight* được viết bởi Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh, một nhà khoa học và nhà giáo dục người Mỹ gốc Việt lỗi lạc trong lĩnh vực hàng không vũ trụ. Những công trình mang tính nền tảng của ông về dẫn đường, động lực học và điều khiển tối ưu đối với các phương tiện không gian, cũng như sự tương tác của chúng với bầu khí quyển, đã đóng một vai trò thiết yếu trong công cuộc thám hiểm vũ trụ. Tiến sĩ Vinh đã là Giáo sư Danh dự ngành Kỹ thuật Hàng không Vũ trụ tại Đại học Michigan, nơi ông đã gắn bó với công tác giảng dạy trong suốt gần ba mươi năm. Trong số rất nhiều ấn phẩm của ông, cuốn sách “Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics””

    Space NASA Nguyen Xuan Vinh

    Đề tài toán học và Nguyễn Xuân Vinh được GS Trần Mạnh Chi trình bày, ông chia sẻ những cảm nghĩ của mình về giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Tuy không có may mắn được làm học trò của giáo sư Vinh, nhưng đối GS Chi, giáo sư Vinh là một người thầy đáng kính về cả tài năng lẫn đức độ.

    GS. Trần Mạnh Chi cho biết ở thế hệ thanh niên Việt Nam trong thập niên 1960 và 1970 đã có nhiều người “mê” và tình nguyện xin gia nhập vào binh chủng không quân sau khi đọc tác phẩm Đời Phi Công của Toàn Phong. GS Chi tiếp, thời trung học, đệ nhi cấp, thời đệ nhị Cộng hòa, hầu hết các sinh viên lớp 12 đều cầm quyển sách giáo khoa toán hình học không gian trên trước khi vào lớp.

    Về phần GS Chi, ông chia sẻ rằng có lần ông đã hỏi giáo sư Nguyễn Xuân Vinh “Thưa thầy, với thế hệ của thầy những yếu tố nào đã đưa thầy chọn vào ngành khoa học toán”. Đáp lại câu hỏi của của GS Chi là nụ cười hiền hậu của một nhà khoa học, đó là hồn thơ trong toán học. Phải, lịch sử văn học và toán học đã hòa quyện hài hòa để mang đến cho người đọc những hiểu biết căn bản đầy lý thú về thiên văn học, về âm dương lịch, về 4 mùa trong năm. Ngay cả trong lời thơ của GS Vinh, cho thấy cũng phảng phất những lời toán học.

    Anh tìm em trên vòng tròn lượng giác.

    Nét diễm kiều trong tọa độ không gian

    Bao ước mơ phải chi là nghịch đảo

    Bóng thời gian, quy chiếu xuống giản đồ.

    Nghiệm số tìm, giờ chỉ có hư vô.

    Đường hội tụ, hay phân kỳ giải tích.

    Hệ số đo cường độ của tình thương.

    Định lý đảo, tìm ra vì giao hoán.

    Nếu mai đây tương quan thành gián đoạn.

    Tính không ra phương chính của cấp thang.

    Anh ra đi theo hàm số ẩn tàng.

    Em trọn vẹn thành phương trình vô nghiệm

    Kết thúc phần tưởng niệm về GS KHG Nguyễn Xuân Vinh với nhạc phẩm Bay Theo Giải Ngân Hà, thơ Việt Hải, video Music: Thái Phạm

    NVNT MAGAZINE, SỐ ĐẶC BIỆT-DƯƠNG NGỌC SUM-HÀNH TRÌNH TRÍ THỨC XUYÊN THẾ KỶ

    Trứơc khi bước vào tiết mục giới thiệu sách viết về GS Dương Ngọc Sum và những tác phẩm văn chương Pháp mà ông yêu thích, thiết tưởng chúng ta cũng cần biết qua về GS Dương Ngọc Sum trước năm 1975. Trước biến cố VNCH cáo chung, một khúc quanh về ông Tổng trưởng Nguyễn Duy Xuân và ông phụ tá Tổng trưởng là GS. Dương Ngọc Sum. Giáo Sư Nguyễn Duy Xuân là tổng trưởng Văn Hóa – Giáo Dục – Thanh Niên cuối cùng của Chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Ông là cựu học sinh Collège de Cần Thơ. Sau khi đậu bằng Diploma (văn bằng thành chung). Ông sang Pháp du học tốt nghiệp cử nhân kinh tế. Ông tiếp tục theo học chương trình hậu đại học ở Anh, lấy bằng thạc sĩ về kinh tế học; tiếp đến sang Mỹ theo học ở đại học Vanderbilt, và lấy học vị tiến sĩ kinh tế học rồi trở về Việt Nam năm 1963.

    Ông Tổng trưởng Nguyễn Duy Xuân đã bổ nhiệm GS. Dương Ngọc Sum làm phụ tá Tổng trưởng và giữ vai trò trọng yếu là GS. Trưởng khối Nghiên Cứu và Phát Triển Đại Học Việt Nam nhằm nâng cao tiêu chuẩn văn minh, tiến bộ sánh với các quốc gia tân tiến trong cộng dồng thế giới. Như vậy cương vị và quyền hạn của GS Dương Ngọc Sum phải nói là quan trọng cho nước nhà. Ôn lại về dĩ vãng cơ hàn thuở thiếu thời, từ thuở tuổi thơ, GS. Dương Ngọc Sum là con nhà nghèo, nhưng rất thông minh và hiếu học. Nhà văn Vương Trùng Dương viết như sau: “Ông sinh ra ở Tân Uyên ngày xưa thuộc tỉnh Biên Hòa, cách Sài Gòn khoảng 50km về hướng tây bắc. Quê hương của nhà văn Bình Nguyên Lộc đã đề qua nhiều bài viết vùng đất nầy. Và là quê hương của Dương Ngọc Sum. Ông sinh năm 1935, thân phụ là nhà giáo qua đời năm 1946, vì lý do chính trị…”

    Mở dầu với GS Trần Huy Bích, Giáo Sư Bích lướt qua phần tiểu sử cùa GS Dương Ngọc Sum, đồng thời mời GS Sum lên chia sẻ vài lời về cuộc đời gian nan mà ông đã trải qua thời thơ ấu.

    Những mảnh bằng tưởng lục,.trang trọng trao đến Thày

    Trong một viết về người cha của mình, GS Dương Ngọc Sum viết: “Sau mấy tháng trốn tránh: ban ngày lính Tây ruồng bố, bắt bớ, ban đêm Việt Minh về phá hoại, đấp mô, đốt chợ, đốt trường học, dùng chày đập đầu các viên chức trong làng. Cha tôi mất đêm 29 sáng 30 tháng Chạp Ất Dậu (1/2/46). Chiều 30 Tết, gia đình tôi âm thầm chôn cha tôi trong vườn nhà, sáng hôm sau là Mùng Một Tết Bính Tuất (2/2/1946), thọ 40 tuổi. Chôn cất cha tôi nội ngày 30 Tết vì thứ nhất: nhà tôi nghèo, quá nên ông Ngoại tôi đã cho tiền lo đám tang. Lý do thứ hai là vì an ninh (bị Việt Minh và lính Tây theo dõi) và vì tập tục không để qua năm”.

    “Trong hoàn cảnh khó khăn, một Mẹ, sáu con nhỏ: Người anh lớn 14 tuổi, bị khuyết tật (cận thị nặng), em út, mới mấy tháng tuổi (sau là pilot trực thăng Phi Đoàn 2I9). Vừa mới đi học trường làng, ngày 9/3/45 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm đóng trường, phải nghỉ học. Trong trường tiểu học Tân Ba (chương trình Pháp), chỉ có tới Lớp Nhì, học giỏi nhất lớp nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên không thể vào Sài Gòn. Ở nhà giúp Mẹ gặt lúa, đập lúa, tỉa đậu, nhổ đậu, lên giồng khoai, giữ trâu, hốt phân, rửa chuồng. Gặp lúc có nhiều công việc, phải xin cho nghỉ học mấy hôm.” 

    Cựu học sinh Petrus Ký Đặng Quý Mão và Quỳnh Như, ái nữ của GS Dương Ngọc Sum. Cả hai đều là học sinh của năm cuối 1975 tại trường.

    Sau khi cô Dương Quỳnh Như và cựu học sinh Petrus Ký Đặng Quý Mão kể những kỷ niệm với thầy Dương Ngọc Sum, sách vở mới về GS. Dương Ngọc Sum được phát ra cho mọi người. MC Mộng Thủy cũng không quên vinh danh những mạnh thường quân đã biếu tặng phong bì mừng GS Sum trong ngày sinh nhật và RMS của Thày. (TS Đình Duy Phương, chủ tịch và TS TS Võ Ngọc Hoa, thủ quỹ hội Văn Bút VN Hải Ngoại vùng Tâ Nam Hoa Kỳ; NS Lê Nguyễn Nga, NVNT & TTG, Đặng Quý Mão)

    GS Dương Ngọc Sum có 4 người con, 3 gái và 1 trai, Quỳnh Như là người con thứ hai, gia đình cô ở rất gần GS, nên cô và người em gái Quỳnh Giao thay phiên nhau “take care” cha mẹ.

    Trong cơn xúc động, Thày nói không nên lời, thương Thày quá. Năm nay Thày đã 91, sức khỏe không còn khả quan như những năm trước. Cầu mong Thày mạnh khỏe. 

    Đã đến giờ cắt bánh sinh nhật, mừng thọ thứ 91 niên tuế của Thày Sum, được cử hành trong không khí thật vui nhộn và tràn đầy yêu thương.

    HAPPY BIRTHDAY THÀY, KÍNH CHÚC THÀY TRƯỜNG TRƯỜNG THỌ-YÊU ĐỜI VÀ YÊU NGƯỜI.

    Đặc biệt là “YÊU PHỤ NỮ”(Theo lời của GS Quyên Di)

    Hôm sau cũng là Birthday của NV Nguyễn Quang, nên chúng tôi mời NV Nguyễn Quang (95 xuân xanh) cùng cắt bánh và mọi người cùng hát mừng cả hai vị.

    Hai nhạc phẩm Happy Birthday và tâm ca về mùa len trâu, văn hóa miệt vườn được nhà văn Lê Bình từ San Jose cho những lời hoa mỹ Sau phần giới thiệu uyên bac của GS Trần Huy Bích, các ca sĩ Lưu Mạnh Bổng, Trần Mạnh Chi và Jenny Mộng Thủy, cùng cử tọa hát vang Tâm Khúc Thầy Sửu, nhạc cải biên, “tái chế”:

    Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn châu sướng lắm chứ!

    Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau. Và miệng hát nghêu ngao

    Vui thú không quên……..

    Dương Ngọc Sum – từ cậu bé chăn trâu trở thành giáo sư khả kính, Vương Trùng Dương: Xin xem bài viết ở link dưới đây.

    https://vietbao.com/a323895/duong-ngoc-sum-tu-cau-be-chan-trau-tro-thanh-giao-su-kha-kinh

    CẮT BÁNH XONG RỒI, TA CÙNG THƯỞNG THỨC THÔI CÁC TRÒ ƠI...

    CÁC BẠN BÈ CHIA SẺ NIỀM VUI

    Từ Họa sĩ Hoàng Vinh

    Nhà Văn Nguyễn Quang

    Ông Hoàng Khuê, chúng em cho hình anh lên trước đấy, kẻo lại trách là …”Sao tôi cứ phải là người …sau cùng…”

    Ký Giả Thanh Huy

    Ký Giả Lê Bình

    Ký giả Nhà Văn Du Miên

    KG NV Vương Trùng Dương

    TUYỂN TẬP TAM NỮ NHÂN: NS DƯƠNG HỒNG ANH, CNS LÂM DUNG, VTS KHÁNH LAN

    Thi sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành chia sẻ kinh nghiệm của anh khi thu bài và layout tuyển tập Tam Nữ nhân. Đây cũng là tờ NVNT MAGAZINE, số 1. Đặc San NVNT MAGAZINE dưới dạng flipbook và thực hiện mỗi 2 hoặc 3 tháng do ban biên tập NVNT và VCV thực hiện. NVNT MAGAZINE số 2 là số báo Xuân Bính Ngọ và đà ra mắt vào tháng 2, 2026.

    Thi sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành, anh cũng là con trai của NS Dương Hồng Anh và trong ban biên tập NVNT MAGAZINE cùng vối Phạm Thái, Kiều My và Khánh Lan

    NVNT MAGAZINE, SỐ 1

    NVNT MAGAZINE, SỐ 2, XUÂN BÍNH NGỌ ra mắt vào tháng 2, 2026.

    GS NV Quyên Di đại diện cho hai Liên Nhóm NVNT & TTG và VCV & TDX giới thiệu ba tam nhân tiêu biểu cho 3 lãnh vực: Thi ca NS Duong Hồng Anh, Âm nhạc CNS Lâm Dung và Văn thơ VTS Khánh Lan. Đồng thời giới thiệu nội dung của NVNT MAGAZINE, số 1.

    NV Việt hải nhận xét về người nữ sĩ tiền bối, cố vấn chuyên nghệ thuật thi ca, NS Dương Hồng Anh, ông đã mượn lời nhận xét của Giáo sư Trần Huy Bích hôm RMS “Cõi Thơ” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, GS Trần Huy Bích nhận xét như sau: “Thi tập “Cõi Thơ” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh như một tác phẩm tràn đầy sinh lực với những áng thơ yêu đời, yêu người, ngôn ngữ thi ca đậm nét nhân bản, nhân hậu.”

    Vâng, “Cõi Thơ” là một chốn thi ca, ca tụng nghệ thuật và triết lý trong đời sống, thi ca kết tụ những tinh túy trong cuộc sống, phản ảnh kinh nghiệm của người nghệ sĩ qua cuộc sống. Vì thế, nữ sĩ Dương Hồng Anh đã sáng tác nhiều áng thi ca rất đa dạng, thi vị, nhiều cảm xúc như về Saigon, Hanoi, California,,.. trong thiên nhiên như xuân, thu, hạ, đông, về gia đình như cha mẹ, chồng con, bè bạn,…

    Ví dụ trong bài thơ MƠ VỀ HÀ NỘI, khi nhớ về cố hương bỏ lại, hướng về cố lý xa xăm, Dương thi sĩ cho ra những dòng thơ như sau:

    “Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

    Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

    Cho thơ nở giữa vườn thơ

    Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

    Hướng về cố lý xa xăm

    Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ”

    Về thi tập NHỮNG GÌ ĐỂ NHỚ, nhà văn Khánh Lan cũng đã cho nhận định là thi ca Dương Hồng Anh cho thấy nét thi cảm tác bất tận trong thi ca, tiêu biểu giá trị nghệ thuật qua những câu thơ giản dị chan chứa tình yêu quê hương, mang theo trong tâm tưởng, hình ảnh đất nước hiện lên vừa thiêng liêng, vừa gần gũi. Thơ bà cho chúng ta sự khám phá qua những bài thơ tiêu biểu viết về quê hương,…

    Khánh Lan viết: “Nguồn thơ xuất phát từ trong tâm hồn của người nghệ sĩ, là những rung động, những cảm nhận tự nhiên. Đó là cả một quá trình thai nghén ý tưởng trong ký ức, nuôi dưỡng cảm xúc trong tâm tư, khiến cho thi nhân “xuất khâu thành thơ” và gởi ý thơ ấy thành lời trên trang giấy.”

    Còn thi phẩm QUÊ HƯƠNG CÒN ĐÓ của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, nhà thơ Kiều My cho nhận xét như sau: “Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, cho nên vì thế, thơ ca cũng đòi hỏi nhà thơ phải in dấu tâm hồn, trí tuệ mình vào đó thật sâu sắc, càng riêng biệt càng độc đáo, càng hay. Nhờ khả năng sáng tạo tuyệt vời mà các thi nhân luôn tìm ra những cách nói mới về những điều đã cũ,…”

    Phải, Hà nội hay Sài gòn đã cũ trong tâm thức chúng ta, nhưng thi nhân Dương Hồng Anh sáng tạo ra những cảm tác mới, những gợi cảm mới trong thi ca của bà. NS. Dương Hồng Anh cho biết bà vui khi chung vui cùng bạn bè. Xin kính chúc cô Dương Hồng Anh trường thọ, đại thọ và giữ mãi lửa sáng tác thi ca trong một tâm hồn tươi trẻ trong thơ văn.

    Cũng trong ngày hôm ấy, NS Dương Hồng Anh đã sáng tác bài thơ MỘNG LÒNG hai hôm trước, riêng tặng cho chúng tôi. Và Khánh Lan cũng chỉ được cô cho phép được diễn ngâm.

    Cuối xuân hoa bưởi, hoa cam

    Nhìn lên phố núi thênh thang mây trời

    Ai đi gom nắng vàng tươi

    Cho thơ tôi gởi mấy lời trong tim

    Đường chiều thơ nhạc giao duyên

    Cánh chim xa xứ một miền sắt son

    Gió lên bát ngát hoàng hôn

    Ru tình quê mẹ, ru hồn tha phương

    Tình thơ nghĩa bạn vấn vương

    Tao đàn họp mặt mến thương ngọt ngào

    Nhạc thơ tao nhã đón chào

    Con đò chở chữ dâng cao mộng lòng

    Khi nói về NV Khánh Lan, NB NV Phạm Quốc Bảo nhận xét về một nhà văn mới, một nhà văn đàn em trong lãnh vực văn học với khả năng sáng tác mà ông cho là “vượt quá sức tưởng tượng”, vì chỉ trong một thời gian ngắn mà cô đã cho ra đời khá nhiều tác phẩm dưới nhiều thể loại khác nhau. Thêm vào đó, Khánh Lan có một “trí nhớ khủng khiếp” mà tôi ghi nhận được qua tác phầm Sinh Lầm Thế Kỷ.

    Khánh Lan cám ơn KG NV Phạm Quốc Bảo và “quyển tự điển sống” Mạnh Bổng

    NV Việt Hai cũng nhận định hiện tượng Khánh Lan đã và đang mang một đôi “hia Bảy Dặm” trong làng văn học, mặc dù cô gia nhập vào làng văn không bao lâu, nhưng cô đã cho chào hàng hơn 15 tác phẩm, Gần đây, Khánh Lan mật mí là cô vừa nghiên cứu xong bộ sách triết học giá trị gồm Sieu Hhh Học và Hiện Sinh Học. Chúc Khánh Lan thành công.

    Ca nhạc sĩ Lâm Dung là trưởng nhóm văn nghệ âm nhạc, là người đã hòa âm bài thơ Bạn Bè Của Tôi của NS Dương Hồng Anh, cô cho ra nhạc phẩm mang cùng tên và bài hát này đã trở thành NVNT & TTG hành khúc từ năm 2019, ngay sau khi NS Dương Hồng Anh gia nhập nhóm.

    NV Phạm Gia Đại và GS Quyên Di mô tả CNS Lâm Dung như là một nhạc sĩ anh thư, tài hoa nhưng khiêm nhường. Những nhạc phẩm CSN Lâm Dung yêu thích được cô chọn lọc rất kỹ càng và có âm hưởng êm dịu. Khi được hỏi về bản nhạc nào cô yêu thích nhất và khả năng hòa âm. Với giọng nói nhỏ nhẹ và với nụ cười hiền dịu, Lâm Dung trả lời là không nhất định phải là bài nào, bởi còn tùy thuộc vào nguồn cảm hứng. Lâm Dung cũng không để ý mình đã hòa âm bao nhiêu bài. Tuy nhiên, Lâm Dung có rất nhiều bài thơ phổ nhạc do cô hòa âm và hát, đăng trên Youtube.

    Lâm Dung là người đứng đầu tiên từ trái sang phải và nhóm Tơ Vàng

    Riêng với Khánh Lan, Khánh Lan rất quý mến CNS Lâm Dung ở sự điềm đạm, chính chắn và dịu dàng của chị. Nhất là khi làm một việc gì hay khi cùng nhau soạn chương trình cho hội, thì Lâm Dung và Khánh Lan làm việc rất “tâm đầu ý hiệp”, nếu không muốn nói là “tâm đắc” lắm, từ cách suy nghỉ, đúng quy tắc, đúng hẹn “nộp bài” và chọn chủ đề nhạc cho buổi họp mặt, RMS, Christmas, New Year, v.v…

    Phần Văn học chấm dứt và tiếp theo là tối nhạc thính phòng do bạn bè và các anh chị em thành viên, cùng hát cho nhau nghe. Những bài hát thật hay và cô đọng. Buổi RMS bế mạc lúc 9:30 tối và chúng tôi bịn rịn chia tay.

    Việt Hải & Khánh Lan, California, April 10, 2026

  • DU LỊCH,  Khánh Lan,  Tin tức

    DU LỊCH COSTA MAYA & COZUMEL (MEXICO) VÀ NASSAU (BAHAMAS)

    Khánh Lan & Mạnh Bổng

    Trước khi lên du thuyền Celebrity Constellation, du lịch 10 ngày từ tháng 3 ngày 22, 2026 đến tháng 3 ngày 29, 2026, khởi hành từ Tampa, Florida, chúng tôi đã vào internet để tìm xem Tampa có gì vui để ghé thăm và đã tìm thấy 3 địa điểm rất thú vị, đó là: Tampa Riverwalk, vườn xoài Tampa và chợ đêm Tampa. Và để có thể thăm cả 3 nơi này, chúng tôi quyết định đến Tampa 4 ngày trước khi lên du thuyền.

    TAMPA, FLORIDA

    Năm 1824, ngay sau khi Hoa Kỳ tiếp quản vùng Florida từ tay Tây Ban Nha. Tiền đồn quân sự Pháo đài Brooke tại cửa sông Hillsborough đã thu hút một lượng nhỏ cư dân, dân sự đến định cư tại khu vực, và thị trấn Tampa chính thức được thành lập vào năm 1855. Quá trình phát triển diễn ra khá chậm chạp, do hệ thống giao thông kém, những xung đột với bộ lạc Seminole, cùng các đợt bùng phát dịch sốt vàng da liên tiếp đã gây nhiều trở ngại cho công cuộc xây dựng.

    Tiền đồn quân sự Pháo đài Brooke tại cửa sông Hillsborough

    Cuộc Nội chiến Hoa Kỳ và giai đoạn tái thiết sau đó đã khiến chính quyền thành phố phải tạm ngừng hoạt động trong suốt hơn một thập kỷ. Vào những năm 1880, việc xây dựng các tuyến đường sắt đầu tiên do Henry B. Plant khởi xướng đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp xì gà và phốt phát. Sự ra đời của Ybor City, một khu phố tập trung chủ yếu vào ngành sản xuất xì gà do Vicente Martinez-Ybor thành lập năm 1885 đã kéo theo một làn sóng nhập cư ồ ạt với hàng ngàn người Cuba, Tây Ban Nha, Ý và nhiều dân tộc khác đổ về đây sinh sống. Dân số của Tampa đã tăng vọt từ chưa đầy 800 cư dân vào năm 1880 lên hơn 15.000 người vào năm 1900, đưa thành phố này trở thành một trong những đô thị lớn nhất và thịnh vượng nhất tại Florida.

    Tampa Riverwalk, Florida

    Đà tăng trưởng này tiếp tục kéo dài sang đầu thế kỷ 20; trong giai đoạn này, Tampa đã vươn mình trở thành một trung tâm tài chính, thương mại và giao dịch hiện đại. Đây cũng là thời kỳ chứng kiến ​​sự ra đời của Lễ hội Cướp biển Gasparilla đầu tiên; sự kiện phi công tiên phong Tony Jannus thực hiện chuyến bay khai trương cho hãng hàng không St. Petersburg-Tampa Airboat Line. Đây là hãng hàng không thương mại chở khách đầu tiên trên thế giới; và sự trỗi dậy của tội phạm có tổ chức, trở thành một yếu tố có ảnh hưởng lớn đối với đời sống xã hội tại địa phương.

    Quá trình phát triển của Tampa lại tiếp tục khởi sắc sau một giai đoạn khựng lại do ảnh hưởng của cuộc Đại khủng hoảng kinh tế và Chiến tranh Thế giới thứ hai. Dân số thành phố đã vượt mốc 100.000 người vào những năm 1930, đạt hơn 250.000 người vào những năm 1950, và cán mốc 300.000 người vào những năm 1990. Diện tích lãnh thổ của Tampa cũng không ngừng được mở rộng theo thời gian. Ban đầu chỉ bao gồm một phần khu vực trung tâm thành phố. Trong suốt thế kỷ 20, thành phố đã sáp nhập các khu vực chưa được tổ chức hành chính thuộc Quận Hillsborough và hợp nhất với một số cộng đồng lân cận đáng chú ý nhất là Ybor City (năm 1887), Fort Brooke (năm 1907), West Tampa (năm 1925), Sulphur Springs (năm 1953), Palma Ceia (năm 1953), Port Tampa (năm 1961) và New Tampa (năm 1988).

    Ăn tối tại Sunda New Asian Restaurant

    Với nhiều món ngon và rượu ngọt

    Thịt heo quay đặc biệt do cô chiêu đãi viên của nhà hàng giới thiệu

    Bánh bao nhân thịt gà

    Taco chay, nhân đậu hũ chiên dòn

    Nào cùng nâng ly………Không say không về...

    Dạo phố Tampa

    • TAMPA RIVERWALK

    Điểm đầu tiên chúng tôi đến thăm là Tampa Riverwalk

    Tampa Riverwalk tọa lạc tại địa chỉ 200 N. Ashley Dr., Tampa, FL 33602, cách Quality Inn nơi chúng tôi mướn để nghỉ chân trước khi lên du thuyền khoảng 10 phút lái xe. Tampa Riverwalk là con đường dành cho người đi bộ dài khoảng hơn 4km, dọc theo sông Hillsborough ở trung tâm thành phố Tampa, Florida. Tampa Riverwalk được thành lập năm 1989, trải qua hơn 37 năm phát triển với sự đóng góp của nhiều đời thị trưởng.

    Dự án được khởi xướng nhằm kết nối khu vực Channel District với trung tâm thành phố. Tampa Riverwalk được xây dựng và mở rộng qua nhiều thập kỷ, biến một khu vực công nghiệp cũ thành không gian công cộng sầm uất.

    Cảng bán vé cho du thuyền trên sông, $35 cho mỗi người, cho cả ngày.

    Ngày nay, Tampa Riverwalk đã trở thành tâm điểm văn hóa kết nối các công viên, bảo tàng, nhà hàng và các khu vực nổi tiếng như University of South Florida Park, Curtis Hixon Park và Armature Works. Hiện nay Tampa Riverwalk là điểm đến hàng đầu, đạt danh hiệu #2 Riverwalk tốt nhất quốc gia năm 2025 theo USA Today. 

    Tampa Riverwalk không chỉ là một lối đi, mà là “trái tim” kết nối các hoạt động văn hóa, giải trí và ẩm thực ven sông của thành phố. 

    Từ trái sang phải: Quốc Dân, Kim Hương, Đức Hạnh, Tuyết Nga, Ái Liên, Lâm Dung, Khánh Lan

    Các địa điểm văn hóa và lịch sử nổi bật kết nối các địa điểm như Công viên Curtis Hixon, Bảo tàng Nghệ thuật Tampa, Bảo tàng Trẻ em Glazer, và Trung tâm Biểu diễn Nghệ thuật Straz.

    Historical Monument Trail: Tuyến đường đi bộ có các bức tượng đồng và đá cẩm thạch vinh danh lịch sử Tampa, bao gồm 30 nhân vật lịch sử được đặt hình từ 2012 đến 2017, nằm giữa Tampa Bay History Center và Armature Works.

    The Gold Star Families Memorial Monument, a tribute to families and relatives.

    Đài tưởng niệm Gia đình Sao Vàng (Gold Star Families Memorial), Tượng đài trang trọng tưởng nhớ dành cho những người đã mất người thân trong quân ngũ với ý nghĩa này làm tăng thêm chiều sâu cho đặc điểm của công viên như một nơi tưởng niệm và tôn kính.

    Tôn vinh sự phục vụ quân đội (Honoring Military Service) là một không gian tưởng niệm thể hiện sống động thông qua các bảng thông tin và tượng đài được thiết kế chu đáo, kể về câu chuyện lịch sử và tầm quan trọng hiện tại của Căn cứ Không quân MacDill. Những yếu tố này mang đến khoảnh khắc kết nối với di sản quân sự của Tampa.

    Ngắm cảnh xong, đồng hồ chỉ 12:30 trưa, kiến đã bắt đầu kêu gào trong bụng nên chúng tôi rủ nhau đến một nhà hàng Mexican food để dùng cơm trưa.

    Thực đơn thật hấp dẫn với taco salad,

    Taco đậu hũ ngon và rất lạ, fish taco

    Tampa Riverwalk về đêm tuyệt đẹp nhưng rất tiếc chúng tôi đã không ở lại để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thành phố do bàn tay và khối óc nghệ thuật tuyệt mỹ mà con người đã tạo ra nó.

    Hotel Alba on the otherside of Tampa Riverwalk

    • VƯỜN XOÀI TAMPA

    Tọa lạc tại địa ch chỉ 9023 Lake Sunset Dr. , Tampa, Fl 33626 do một gia đình người Việt Nam làm chủ hơn 10 năm nay. Đây là khu vườn trồng cây ăn trái vùng nhiệt đới như: xoài, mận, vú sữa, nhãn, ổi, su bô chê, mang cầu, mít, v.v… và bỏ mối cho tất cả khắp nơi trên nước Mỹ. 

    Theo như anh Tuấn, chủ nhân của vườn xoài Tampa, sau khi hoạt động được 7 năm, năm 2022, anh Tuấn cho ra mắt cộng đồng khắp nơi trên nước Mỹ với một trung tâm bán thức ăn, trái cây tùy theo mùa.

    Thực đơn nổi tiếng với món gà nướng muối ớt, ngoài ra còn có các món khác như: cá nướng da giòn, nem nướng cuốn bánh tráng, các loại bún, xôi gấc , v.v…

    Gà nướng muối ớt ngon tuyệt, $60 một con

    Nem nướng, $35 một phần

    Bây giờ là cuối mùa xuân nên những cây cối trong vườn chỉ mới đâm chổi non. Hai loại trái cây duy nhất hiện tại là nhãn và trái sa bô chê (hồng xiêm).

    Anh tuấn cho biết những loại trái cây khác như: vú sữa, xoài, ổi, cóc thì phải đợi đến tháng 6, tháng 7 hoặc tháng 8 mới có. Trong chuyến du lịch này chúng tôi có gặp rất nhiều gia đình lái xe từ các tiểu bang rất xa đã đến thăm vườn xoài Tampa. Anh Tuấn  cho biết, vườn cây ăn trái bắt đầu mở cửa đón khách thập phương từ đầu tháng 3 cho đến tháng 11.

    Toàn thể khu vườn xoài được trang trí rất trang nhã theo kiến trúc của người Việt Nam. Nào là hồ cá Koi, hòn non bộ, chòi lá, hồ phun nước, võng nằm nghỉ xả hơi, xe xích lô đạp,v.v…

    Khiến cho 6 chúng tôi (Lâm Dung, Ái Liên, Quốc Dân, Kim Hương, Khánh Lan mê man, chìm đắm trong phong cảnh hữu tình.… và dĩ nhiên những chiếc iPhone bị bắt buộc làm việc “ overtime” …

    Hồ cá Koi

    Cây cóc và trái cóc nè…nhìn thấy mê chưa….

    Dưới mái tranh trong vườn

    Ta vui ta đi lang thang

    Hồ phun nước và “Cô Ký Điệu”

    Và ngồi ngắm cảnh

    • CHỢ ĐÊM TAMP

    Chợ Đêm Tampa (Tampa Asian Night Market) là khu chợ đêm ẩm thực Việt Nam và Châu Á nổi tiếng tại 4401 W Cypress St, Tampa, FL 33607.

    Chợ đêm họp ngay tại bãi đậu xe trường Jefferson High School. Chợ mở cửa cuối tuần (thứ 7 & CN, từ 5-10 giờ tối).

    nổi bật với các món ăn vặt, BBQ, bún, ốc, bánh tráng trộn, bún chả, bánh cuốn, cơm cháy, chè, mía đá, trà sữa, v.v…có khoảng 10-15 gian hàng và là địa điểm ưa thích của cộng đồng người Việt địa phương.

    Gian hàng cơm cháy của anh Hoàng, anh vừa nấu ăn giỏi lại hát hay

    Gian hàng bán bánh bao, bánh bèo, bánh nậm, v.v…

    Gian hàng bán các món nướng than như gà xiên, khoai tây chiên, bánh tráng trộn, v.v…

    Gian hàng bán nước mía

    Không khí tại chợ đêm thêm phần nhộn nhịp nhờ có tiết mục karaoke. Đôi song ca Lâm Dung & Ái Liên cũng đã góp tiếng hát của mình với những ca khúc nổi tiếng như Ô Mê Ly. Tiếng vỗ tay vang dội sau mỗi bài hát do 2 chị trình diễn và đã làm dạng danh với biệt hiệu ”Những con chim sơn ca trong vườn hoa NVNT & TTG” mà nhà văn Dương viết Điền đã tặng cho chúng tôi.

    Hai con chim sơn ca của vườn hoa văn nghệ NVNT & TTG, Lâm Dung & Ái Liên

    Chụp hình cùng “Ông Bầu Karaoke”, Anh Toàn, em trai ông “Founder Chợ Đêm Tampa”

    Anh Toàn tâm sự, anh yêu ca hát từ thuở nhỏ, do đó khi lớn lên và khi hội đủ khà năng về tài chánh, anh đã tậu cho mình một chiếc xe Van và máy Karaoke thứ “Xịn“, rồi lái xe đi khắp mọi tiểu bang trong Hoa Kỳ để trình diễn qua chủ đề “Hát cho nhau nghe“. Anh Toàn hát rất hay và hát được nhiều thể loại.

    DU THUYỀN CELEBRITY CONSTELLATION

    Tháng 3 ngày 22, 2026 du thuyền Celibrity Conselation nhổ neo tại Port Tampa Bay, ra khơi đem theo 2,700 hành khách và gần 1.000 nhân viên phục vụ trên tàu.

    Ngắm thành phố gần cảng Tampa Bay trên boong tàu

    Trên boong tàu...gió rất mạnh muốn bay cả nón

    Sánh bước với … “Người Yêu” ….

    AT SEA:

    Là những lúc diện quần áo đẹp để đi chụp hình…

    Là những chương trình ca nhạc với Totally ’80S party. Đặc biệt là ABBA Sing-Along Party: mời du khách tham gia và cùng hát những ca khúc kinh điển trên màn hình lớn, mang đậm phong cách thập niên 70 đầy sôi động nhằm tôn vinh nhóm nhạc pop huyền thoại này. Disco Never Dies: Hãy phủi bụi đôi giày khiêu vũ và diện thật lộng lẫy để sẵn sàng cho một đêm ngập tràn ánh kim sa, những bước nhảy điệu nghệ cùng nhịp điệu disco sôi động không ngừng nghỉ! Hãy cùng tham gia sự kiện “Disco Never Dies” để tận hưởng một đại tiệc khiêu vũ đầy thăng hoa!

    Tập thể dục lành mạnh với stress release class, swiming, dancing tại deck 11.

    Hay thưởng thức chương trình nhạc thính phòng, song tấu guitar, hoặc cụng ly cùng bạn bè tại những quán rượu

    Hay là rủ nhau đi xem comedy show do Comedian Andrew Sleighter. Phong cách thoải mái cùng lối viết sắc sảo của Andrew đã giúp anh nhận được sự yêu mến từ người hâm mộ và sự kính trọng từ các đồng nghiệp. Andrew từng biểu diễn trong chương trình “Last Comic Standing”, thực hiện một chương trình hài kịch đặc biệt cho “Dry Bar” và Andrew cũng xuất hiện trên “The Late Late Show with James Corden”. Riêng phần chúng tôi vồn không mê comedy cho lắm nên rủ nhau đi bộ hoặc trầm mình trong hồ nước nóng.

    Và rủ nhau đi ăn tối tại San Marco Restaurant

    Hay thú vị hơn nữa là tự thưởng cho mình một bữa ăn hải sản tại một nhà hàng đặc biệt với giá $25 cho mỗi người thay vì $35.

    Khai vị với món soup Lobster Bisque và Parker House Roll,

    Boddingtons Beer Battered Cod Fish & chips

    Seafood Shach Platter

    Và kết thúc với Wild Berie Cobbler, vanilla ice cream.

    Dàn chào của các officers đón du khách trước khi bước vào Celebrity Theater xem chương trình broadway

    Captain Vitto và the officer crew welcome the guests

    Khai mạc chương trình giải trí đặc biệt với Celebrity Showtime, Rock City.

    Một buổi hòa nhạc với dàn diễn viên sản xuất sân khấu với các bài quốc ca rock mang tính biểu tượng, cũ và mới.

    Biểu diễn của cặp vợ chồng Á Đông rất ngoạn mục

    Emily Yates sẽ đưa du khách vào một hành trình tôn vinh những ca khúc được yêu mến từ các nữ diva huyền thoại nhất mọi thời đại, với những bản top hit trình diễn bởi các ca sĩ nổi danh như Donna Summer, Celine Dion, Tina Turner và Whitney Houston.

    Một giọng ca thiên phú đã đưa tâm hồn thính giả yêu nghệ thuật trở về quá khứ, sống lại dư âm thánh thót của các danh ca đã bao năm từ giã cuộc vui và về với cát bụi….

    The Broadway Cabaret thắp sáng sân khấu với những bản top hit kinh điển của Broadway và West End. Từ những tác phẩm kinh điển thời hoàng kim đến những thành công âm nhạc đương đại, với dàn ca sĩ và dàn nhạc của chương trình, mang đến một buổi lễ hội âm nhạc đầy cảm xúc và kỳ diệu.

    The Celebrity Orchestra gồm các nhạc công từ các nước: Brazil Philipine, Columbia.

    Celebrity singers

    Chương trình Celebrity Soundtrack: Hãy sẵn sàng cho Soundtrack! Trải nghiệm âm nhạc sôi động và tràn đầy năng lượng, định nghĩa lại những giai điệu phim thành một hành trình âm nhạc đáng nhớ.

    The Unforgettable I & II music show by ca nhạc sĩ Terrell Edwards,

    Đối với người nghe thông thường, ca nhạc sĩ Terrell Edwards dường như xuất hiện từ hư không với giọng hát truyền cảm, quyến rũ và những bản cover mới mẻ, khéo léo các ca khúc kinh điển của Mỹ.

    Cùng hát với Terrell Edwards

    Đi coi xiệc với Ảo thuật gia Zach Michel

    Bảy ngày lênh đênh trên biển, du thuyền đã dừng lại tại 3 địa điểm: Costa Maya & Cozumel of Mexico và  Nassau of Bahamas. Cũng như những lần trước chúng tôi không mua tour trên du thuyền, nhưng để có thể đi thăm 3 địa điểm trên, chúng tôi đã mua những local tour của người dân địa phương với giá khá khiêm nhượng ($30-$35 cho mỗi người, cho 4 tiếng). Tại đây, chúng tôi đã mua một local tour với giá $35 để đi thăm 3 địa điểm gồm: Ruin Chacchoben, bãi biển Costa Maya và vòng quanh thành phố.

    • COSTA MAYA

    Costa Maya, nằm ở phía đông nam bán đảo Yucatán, Mexico, nổi tiếng với sự kết hợp giữa di sản Maya cổ xưa. Khu vực này nổi bật với các khu tàn tích của nền văn minh Maya với các di tích quan trọng như Chacchoben và Kohunlich Ruis nơi có các đền thờ và cấu trúc cổ kính nằm sâu trong rừng nhiệt đới. Các bãi biển còn nguyên sơ cùng với hệ sinh thái biển phong phú. 

    Ban đầu Costa Maya là những làng chài yên tĩnh như Mahahual và Xcalak, Costa Maya đã được phát triển thành một cảng tàu du lịch lớn. Cảng Costa Maya được xây dựng để trở thành điểm dừng chân hấp dẫn. Trận bão Dean năm 2007 đã tàn phá nặng nề khu vực Mahahual và Xcalak. Sau đó, Mahahual đã được tái thiết và trở thành trung tâm du lịch sầm uất với các bãi biển và câu lạc bộ bên bờ biển. 

    Cảng Costa Maya là cảng lớn có thể chứa bốn tàu cùng lúc, cung cấp các dịch vụ tiện nghi, bao gồm hồ bơi, cửa hàng lưu niệm và trải nghiệm cá heo. Làng Mahahual nằm gần cảng, là làng chài nổi tiếng với lối đi bộ ven biển (Malecón), các quán ăn địa phương và các bãi biển xinh đẹp. Hoạt động giải trí bao gồm khám phá các tàn tích Maya, lặn biển tại rạn san hô Banco Chinchorro, thăm công viên nước Maya – Lost Mayan Kingdom, thư giãn tại các bãi biển như Maya Chan hoặc thưởng thức các món ăn đặc sản địa phương như ceviche, taco thịt heo quay và các món hải sản tại các nhà hàng dọc theo bờ biển. Costa Maya là điểm lý tưởng cho những ai muốn kết hợp trải nghiệm văn hóa lịch sử độc đáo với nghỉ dưỡng tại các bãi biển vùng Caribbean. 

    Chụp hình với dân tộc, free nhưng chỉ cần phải cho tiền tip mà thôi

    Khu thương mại bán quần áo, mỹ phẩm, quà luu niệm, v.v….giá gấp 4, 5 lần so với giá ngoài phố.

    Khu phố mua sắm tại cảng Costa Maya

    Trung tâm có hồ bơi với diện tích lớn và đẹp

    Có hồ nuôi Hồng Hạc

    Ngi lễ cầu an của dân tộc Maya

    Dân tộc Maya trèo lên đĩnh cao để cầu nguyện

    Ruin Chacchoben (Nổi tiếng nhất): Cách cảng Tampa 1 giờ, địa điểm này có các kim tự tháp lớn, được khôi phục một phần được gọi là “Temple One” và “Gran Basamento“.

    Khu mua sắm trước khi vào Ruin Chacchoben

    Các cấu trúc được khai quật trong rừng rậm bao xung quanh.

    Những tàn tích rừng rậm này cung cấp các kim tự tháp cao chót vót và các quảng trường nghi lễ.

    Costa Maya Tourbase cho biết Ruin Chacchoben được phát hiện vào năm 1972 và có niên đại từ năm 1000 trước Công nguyên.

    Ruin Chacchoben là tàn tích của người Maya được du khách ghé thăm nhiều nhất gần Costa Maya.

    Trên đường đi và ghé những bãi biển tuyệt đẹp tại Costa Maya nằm trên bờ biển phía đông của Mexico, anh hướng dẫn viên của tour đã dừng lại bên đường những túp lều bán hoa quả vùng nhiệt đới

    Nào là soài tượng, măng cầu xiêm, vú sữa, sa bô chê, dứa, v.v…

    và chúng tôi đã có cơ hội thử những trái sa bô chê ngọt lịm, những trái quýt thơm mùi mật, những trái vú sữa chín mọng và những trái soài tượng dòn tẩm muối ớt …

    Những trái khế vàng rộm

    Bãi biển Costa Maya:

    Costa Maya là thiên đường dành cho những người yêu biển. Costa Maya sở hữu nhiều bãi biển xinh đẹp, mỗi nơi đều mang nét quyến rũ và sức hấp dẫn độc đáo riêng. Từ đắm mình trong ánh nắng, tham gia các môn thể thao dưới nước, hay khám phá thế giới sinh vật biển đa dạng, Costa Maya đều có thể đáp ứng tất cả.

    Costa Maya trải dài dọc theo Bán đảo Yucatan, hướng mặt ra vùng nước xanh ngọc bích lấp lánh của Biển Caribe. Đường bờ biển nơi đây nổi bật với những bãi cát mịn màng, những hàng cọ đung đưa trong gió và những rặng san hô. Được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu nhiệt đới, biến nơi đây thành điểm đến lý tưởng cho du khách yêu biển quanh năm.

    Địa lý bờ biển của Costa Maya không chỉ đẹp đến ngỡ ngàng về mặt thị giác mà còn mang ý nghĩa sinh thái vô cùng quan trọng. Vùng đất này là ngôi nhà chung của hệ sinh vật biển đa dạng, bao gồm các loài cá đầy màu sắc, rùa biển và những rặng san hô rực rỡ. Địa hình dưới đáy biển nổi bật với những hang động và khe nứt ngầm, mang đến trải nghiệm lặn biển độc đáo cho những du khách đam mê khám phá chiều sâu của Biển Caribe.

    Ảnh hưởng của Biển Caribe lên các Bãi biển tại Costa Maya Các bãi biển tại Costa Maya chịu ảnh hưởng sâu sắc từ môi trường xung quanh thuộc vùng Caribe. Làn nước trong vắt như pha lê và những bãi cát trắng mịn màng gợi nhớ đến hình ảnh những bãi biển đẹp như tranh vẽ. Những dòng hải lưu ấm áp của vùng Caribe đảm bảo rằng làn nước tại đây luôn lý tưởng cho các hoạt động bơi lội, lặn với ống thở và lặn bình khí, mang đến cơ hội tuyệt vời để khám phá thế giới sinh vật biển đầy sức sống ẩn mình dưới mặt nước. Các bãi biển ở Costa Maya không chỉ đơn thuần là nơi có nắng vàng, cát trắng và sóng biển rì rào; chúng còn sở hữu những hệ sinh thái độc đáo, góp phần làm tăng thêm sức hấp dẫn đầy mê hoặc cho vùng đất này.

    Những khu rừng ngập mặn và đầm phá nằm gần bờ đóng vai trò như một khu bảo tồn an toàn cho vô số loài chim, cá và các sinh vật biển khác nhau. Việc khám phá những môi trường sống này chắc chắn sẽ mang lại những trải nghiệm vô cùng thú vị cho những người yêu thiên nhiên. Hơn nữa, các cồn cát ven biển cùng thảm thực vật nơi đây đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì sự cân bằng mong manh của hệ sinh thái tại Costa Maya. Hệ thực vật bản địa không chỉ góp phần tô điểm thêm vẻ đẹp nên thơ cho những bãi biển, mà còn giúp ổn định các bờ cát và ngăn chặn tình trạng xói mòn.

    Những tiệm bán quần áo và quà lưu niệm trước bãi biển

    Vẻ đẹp thiên phu cho Costa Maya đã không che dấu được cái nghèo nàn của khu dân cư tại vùng đất này, Những căn nhà siêu vẹo, những con đường đất bụi mù, những khu phố tồi tàn và người dân bản sứ lam lũ. Có lẽ Costa Maya là nơi đãi ngộ nhưng du khách ghé thăm rồi lặng lẽ ra đi…..

    Saying goodbye to Costa Maya & hello to Cozumel

    • COZUMEL 

    Là hòn đảo Caribbean lớn nhất của Mexico, nằm ngoài khơi bờ biển phía đông Bán đảo Yucatán của Mexico, gần Playa del Carmen. Đảo có nhiều loài động vật đặc hữu và nổi tiếng với hoạt động lặn với ống thở, do dưới đáy biển có san hô Mesoamerican Barrier. 

    Cozumel là một hòn đảo phẳng dựa trên đá vôi, dẫn đến địa hình đá vôi. Điểm tự nhiên cao nhất trên đảo thấp hơn 15 m (49 ft) so với mực nước biển. Cenotes là những hố sụt chứa đầy nước được hình thành bởi nước thấm qua đất đá vôi mềm trong hàng ngàn năm.

    Tại đây, chúng tôi đã thuê một xe Mini Van 12 chỗ với giá $30 cho mỗi người trong vòng 4 tiếng rưỡi. Đây cũng là một dịch vụ của công ty du lịch bản địa. Tour bao gồm đi vòng quanh hòn đảo Cozumel, ghé thăm các bãi biển nổi tiếng & khu phố của những người giàu có hoặc ngoại kiều cư ngụ và ghé thăm di sản Maya, một tàn tích San Gervasio (Ruin San Gervasio)

    Trước khi ghé thăm tàn tích San Gervasio (San Gervasio Ruin), anh hướng dân viên chở chúng tôi đi vòng quanh hòn đảo Cozumel, ghé qua các di tích lịch sử gồm La Iglesia. Meztisaje, Maya plaza, bãi biển Cozumel cũng như cozumel plaza.

    Tượng đài La Iglesia

    Cây Bàng trăm năm

    Quảng trường Mestisaje: Nằm trên con đường đi bộ ven biển Cozumel, nơi người Tây Ban Nha lần đầu tiên đặt chân đến. Đó là một nhóm tác phẩm điêu khắc mô tả nhà chinh phục cùng với một tu sĩ, một cây thánh giá và một gia đình thổ dân. Được tạo ra vào năm 1985, tác phẩm tô điểm cho con đường đi bộ tuyệt đẹp này với khung cảnh biển ngoạn mục phía sau.

    Mayan Plaza là một điểm đến mua sắm hàng đầu tọa lạc ngay trung tâm Cozumel, nổi tiếng với bầu không khí sôi động và nhiều cửa hàng đa dạng. Những cửa hàng rực rỡ sắc màu, bày bán đủ loại sản phẩm từ đồ thủ công mỹ nghệ truyền thống của Mexico cho đến các mặt hàng thời trang hiện đại. Khi tản bộ dọc theo những hành lang ngoài trời, những giai điệu âm nhạc địa phương vui tươi sẽ vang vọng khắp không gian, góp phần làm cho trải nghiệm mua sắm thêm phần thú vị.

    Một trong những điểm nhấn nổi bật tại Mayan Plaza chính là hệ thống các cửa hàng bán rượu tequila; tại đây, khách hàng có thể nếm thử và chọn mua những loại rượu đặc sản chính gốc để mang về làm kỷ niệm cho chuyến đi của mình.

    Ngoài hoạt động mua sắm, quảng trường còn sở hữu vô số lựa chọn ăn uống nhằm đáp ứng mọi khẩu vị khác nhau. Với cách bố trí không gian thoáng đãng, Mayan Plaza trở thành một địa điểm lý tưởng để bạn dành trọn một buổi chiều thong thả, thong dong khám phá các cửa hàng, thưởng thức ẩm thực địa phương và đắm mình vào nền văn hóa đầy sức sống của Cozumel. Đối với những du khách mong muốn hòa mình vào nhịp sống của người dân địa phương, quảng trường thường xuyên tổ chức các sự kiện và triển lãm văn hóa nhằm tôn vinh di sản phong phú của vùng đất này.

    Đến thăm Mayan Plaza không chỉ đơn thuần là một chuyến đi mua sắm; đó còn là cơ hội tuyệt vời để bạn cảm nhận được sự nồng hậu và nét quyến rũ đặc trưng của cộng đồng dân cư tại Cozumel.

    Mayan golddess of firtility, the moon and medicine: Mayan là nữ thần của sự sinh sôi, mặt trăng và y học. Bà là một trong những vị thần quan trọng nhất trong văn hóa Maya. Là một thực thể đa diện, bà được khắc họa như một phụ nữ trẻ, nhưng đôi khi lại là một phụ nữ lớn tuổi, tùy thuộc vào các giai đoạn của mặt trăng. Trên đầu bà đội một con rắn tượng trưng cho trí tuệ, còn trên chiếc váy của mình, những bộ xương được xếp đặt thành hình chữ thập. Bà là nữ thần bảo hộ của vùng Cozumel.

    Protective goddness of Cozumel: Trên hòn đảo Cozumel hiện tọa lạc một trong những ngôi đền quan trọng nhất dành riêng cho việc thờ phụng bà. Từ cảng Pole (Xcaret), những chiếc xuồng chở các tín đồ hành hương thường khởi hành đến ngôi đền này để cầu xin lời sấm truyền từ nữ thần Ixchel. Hàng năm, lễ hội tôn vinh nữ thần Ixchel vẫn được tổ chức theo đúng nghi thức của người Maya xưa; sự kiện này diễn ra trên lộ trình từ Công viên Xcaret đến đảo Cozumel.

    Bãi biển Cozumel

    Ngôi nhà thờ cổ

    Người dân Maya vẫn đến để cầu nguyện

    Những hình vẽ trên trần nhà thờ

    Bãi biển với mặt nước trong xanh và cát trắng.

    Quán rượu ven biển

    Với trang trí nhiều màu sắc, có lẽ người dân Maya thích dùng màu sáng và nổi

    Rum Cake là đặc sản của Costa Maya và Bahamas island, một loại bánh thơm ngon mùi rượu nhưng không quá mạnh để say. Bánh mềm, ngọt dịu.

    Run cake là món quà tuyệt diệu để biếu cho người thân và bạn bè

    Tàn tích San Gervasio (San Gervasio Ruin): Tọa lạc trên đảo Cozumel, bang Quintana Roo, Mexico. Là một trung tâm nghi lễ và hành hương quan trọng của người Maya cổ đại. Bao gồm nhiều cấu trúc đền thờ, nhà ở và các con đường cổ (sacbe).

    Là điểm đến không thể bỏ qua đối với những người yêu thích lịch sử Maya khi ghé thăm đảo Cozumel. Tàn tích San Gervasio còn là khu khảo cổ Maya quan trọng nhất trên đảo Cozumel, Mexico. Nổi tiếng là trung tâm thờ phụng nữ thần tình yêu và sinh sản Ixchel.

    Nằm trong khu bảo tồn thiên nhiên với nhiều kỳ nhông (iguana), nơi đây có các cấu trúc cổ như Nohoch Na, mang lại trải nghiệm lịch sử và văn hóa độc đáo. 

    Công trình Lăng mộ (The Tomb Structure)

    Tòa nhà này được đặt tên như vậy do việc phát hiện một ngôi mộ có mái vòm nằm bên trong nó, một đặc điểm độc đáo tại San Gervasio. Công trình này thực chất là một bệ đài, bởi lẽ không có tòa nhà nào được xây dựng phía trên nó; tại đó chỉ có các băng ghế và một bàn thờ. Người ta tin rằng công trình này được sử dụng để tổ chức các nghi lễ ngoài trời, với sự tham gia không chỉ của giới tư tế mà còn của cả cộng đồng dân chúng tụ họp tại quảng trường. Công trình này trải qua hai giai đoạn xây dựng: giai đoạn đầu diễn ra trong thời kỳ Hậu Cổ điển Sớm (1000–1200 SCN), và giai đoạn sau thuộc thời kỳ Hậu Cổ điển (1200–1650 SCN).

    Những viên gạch đá được xếp thành con đường dẫn đến các công trình kiến trúc tại Tàn tích San Gervasio

    Công trình Cung điện (The Palace Structure)

    Các sảnh đường có hàng cột là kiểu kiến ​​trúc rất phổ biến tại khu vực bờ biển phía đông. Tại đây, các băng ghế được bố trí dọc theo những bức tường bên trong, và ở vị trí trung tâm có một cấu trúc nhô ra, có thể là một bàn thờ hoặc một ngai vàng, gợi lên hình ảnh một nhân vật quan trọng đang ngồi tại đó để chủ trì một cuộc họp với các thành viên trong cộng đồng. Công trình này sở hữu 19 cột trụ, trong đó có một số cột được thiết kế dạng cột đôi. Mái của tòa nhà không phải dạng mái vòm mà là mái phẳng, tương tự như các công trình hiện đại ngày nay, được kết cấu vững chắc nhờ hệ thống dầm gỗ liên kết toàn bộ lại với nhau. Công trình này được xây dựng trong thời kỳ Hậu Cổ điển (1200–1650 SCN).

    Công trình Tranh tường (The Murats Structures): Tòa nhà này được gọi tên như vậy nhờ những mảnh tranh tường còn sót lại được phát hiện bên trong; những bức tranh này được vẽ bằng các gam màu rực rỡ như đỏ, xanh dương, vàng đất và đen, đồng thời được phủ kín bởi các họa tiết hình học, đường nét bậc thang, hoa văn hình chữ S (kiểu Hy Lạp), hình xoắn ốc, v.v. Tòa nhà này có mái vòm và được sử dụng cho các mục đích nghi lễ.

    Bên trong nội thất có đặt các bàn thờ và băng ghế, dùng để bày biện lễ vật và tổ chức một số loại nghi thức nhất định. Công trình Tranh tường chỉ trải qua một giai đoạn xây dựng duy nhất, có niên đại thuộc thời kỳ Hậu Cổ điển (1200–1650 SCN).

    Ngoài ra Cozumel cung cấp nhiều sinh hoạt và thắng cảnh nổi tiếng như:

    Hang Ngọc Cozumel (Cenote Chempita) gần El Cedral thường được khách du lịch ghé thăm. Đây là một điểm với làn nước trong xanh ngọc lam, sinh vật biển phong phú và bầu không khí thoải mái, cung cấp các hoạt động như khám phá tàn tích của người Maya, công viên sinh thái và mua sắm miễn thuế ở thị trấn chính của nó, San Miguel de Cozumel. Thị trấn chính: San Miguel de Cozumel, trung tâm thương mại ở bờ biển phía tây.

    Lặn & Lặn với ống thở: Hòn đảo này nổi tiếng trên thế giới với các rạng san hô, nước trong vắt (tầm nhìn lên đến 200 ft) và sinh vật biển, bao gồm cá heo, rùa và cá nhiệt đới.

    Công viên biển: Công viên Quốc gia Arrecifes de Cozumel và Công viên Quốc gia Chankanaab cung cấp các hoạt động lặn biển, lặn với ống thở và ngắm động vật hoang dã.

    Công viên sinh thái: Công viên sinh thái Punta Sur có ngọn hải đăng, bãi biển và động vật hoang dã.

    Các môn thể thao dưới nước: Ngoài lặn, các hoạt động bao gồm câu cá biển sâu, chèo thuyền kayak và các tour du lịch dưới nước.

    • BAHAMAS

    Rời du thuyền Celebrity Constellation, Bahamas chào đón chúng tôi trong một ngày nắng ấm, không khí trong lành và đoàn du khách nối chân nhau đến thăm thành phố Nassau, thủ đô của đảo Bahamas.

    Bahamas island welcome us

    Bahamas là một quần đảo gồm gần 700 hòn đảo ở Đại Tây Dương với khoảng 30 đảo có người sinh sống. Đảo nằm ở phía đông nam Florida (gần Cuba), nổi tiếng với du lịch, tài chính nước ngoài. Bahamas đã giành được độc lập hoàn toàn từ Vương quốc Anh vào ngày 10 tháng 7 năm 1973 và duy trì quốc vương Anh là nguyên thủ quốc gia, đại diện bởi một Toàn quyền. Thủ tướng đầu tiên của Bahamas là Lynden Pindling. Bahamas giữ Vua Charles III là quốc vương của mình; đại diện được bổ nhiệm của Vương miện là toàn quyền Bahamas. 

    Bahamas có tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người lớn thứ mười bốn ở châu Mỹ. Nền kinh tế của nó dựa trên du lịch và tài chính nước ngoài do Bahamas là một điểm nghỉ mát nổi tiếng với những bãi biển cát trắng và làn nước màu ngọc lam, lặn với ống thở, lặn biển và các khu nghỉ dưỡng như Atlantis. Mặc dù Bahamas nằm ở Quần đảo Lucayan, gần Florida và Cuba, chứ không phải ở Biển Caribe, nhưng nó vẫn được coi là một phần của khu vực Caribe rộng lớn hơn. Bahamas là thành viên chính thức của Cộng đồng Caribe (CARICOM), nhưng không phải là một phần của Thị trường và Kinh tế chung. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức. Dân số phần lớn là người gốc Phi, với tỷ lệ nhà thờ cao. Chính phủ: Một nền dân chủ nghị viện lập hiến và một vương quốc Khối thịnh vượng chung. Nguyên thủ quốc gia: Vua Charles III, đại diện bởi một Toàn quyền.

    NASSAU. BAHAMAS

    Nassau là thủ đô và thành phố lớn nhất của Bahamas, nằm trên đảo New Providence, và là trung tâm thương mại, chính phủ và văn hóa của đất nước. Được kết nối bằng những cây cầu đến Đảo Paradise, khu nghỉ dưỡng. Đây là một điểm du lịch lớn được biết đến với các di tích lịch sử như Cầu thang Nữ hoàng và Pháo đài Charlotte, Sân bay Quốc tế Lynden Pindling, những bãi biển tuyệt đẹp như Bãi biển Cable và nền văn hóa sôi động, bao gồm cả lễ hội Junkanoo. Nassau nằm trên đảo New Providence, giáp với đảo Paradise Island có thể đến được bằng cầu cảng Nassau; thành phố có địa hình đồi núi và nổi tiếng với những bãi biển cũng như các rạn san hô ngoài khơi, rất được ưa chuộng cho hoạt động lặn biển và lặn ngắm san hô.

    Cũng như hai lần trước, chúng tôi mua một local tour của hãng du lich dịa phương với giá $30 cho mỗi người trong vòng 4 tiếng gồm: Pháo đài Charlotte, thành phố Nassau, hãng Rum cake, Đảo Paradise.

    Con đường dẫn đến Chocolate Factory thật đẹp qua những cao ốc, biệt thự sang trọng và bộ ngoại giao của nhiều quốc gia.

    Hai bên đường như nhuộm đỏ với màu sắc pháo của hoa, thật tuyệt đẹp

    Và những giàn hoa giấy đỏ ối thi nhau khoe sắc đã dẫn bước cho chúng tôi đến cửa của xưởng làm chocolate.

    Những giàn hoa giấy đỏ rực trước sân nhà….

    West Bay

    West Bay Beach cạnh pháo đài Charlotte

    Pháo đài lịch sử (Pháo đài Charlotte) Đây là công trình lớn nhất trên đảo New Providence, với diện tích rộng 100 mẫu Anh. Tọa lạc cách trung tâm Nassau một dặm về phía tây, ngay sát đường West Bay, pháo đài này nằm trên một ngọn đồi nhìn ra cực tây của bến cảng, mang lại tầm nhìn ngoạn mục bao quát

    Đảo Paradise, thành phố Nassau và toàn bộ bến cảng. Được Lãnh chúa Dunmore cho xây dựng vào năm 1788, pháo đài được đặt tên theo tên vợ của Vua George III—Nữ hoàng Saharia Charlotte. Pháo đài trung tâm (Fort Stanley) và khu vực phía tây (Fort D’Arcy) là những phần được xây dựng bổ sung sau này. Pháo đài sở hữu một hào nước bao quanh, các hầm ngục, hệ thống đường hầm ngầm và 42 khẩu đại bác—những khẩu pháo chưa từng một lần khai hỏa trong bất kỳ hành động tấn công nào.

    Vào mỗi thứ Tư và thứ Sáu, bắt đầu từ lúc 11:30 sáng, một chương trình tái hiện lịch sử sống động đưa ngược dòng thời gian để trải nghiệm cuộc sống thường nhật tại Nassau vào thế kỷ 18. Chương trình có sự tham gia của các nhân vật hóa trang trong trang phục cổ xưa, trình diễn kỹ thuật đan lát giỏ, trưng bày các dụng cụ nhà bếp đã được sử dụng từ hơn 250 năm trước, cùng các loại trái cây từng được bày bán tại chợ thời bấy giờ.

    Paradise Island

    Paradise Island là một hòn đảo thuộc quần đảo Bahamas, trước đây được biết đến với tên gọi Hog Island. Hòn đảo này có diện tích 277 hecta (685 mẫu Anh)[2] (tương đương 2,8 km²/1,1 dặm vuông), nằm ngay sát bờ biển của thành phố Nassau. Thành phố vốn tọa lạc ở rìa phía bắc của đảo New Providence.

    Hòn đảo này nổi tiếng nhất nhờ khu nghỉ dưỡng Atlantis rộng lớn, với hệ thống công viên nước, các hồ bơi, bãi biển, nhà hàng, thủy cung, cùng các sòng bạc.

    Marina Village

    Bến tàu Marina

    The Coral Atlantis Resort là khu nghỉ mát, nơi cung cấp những dịch vụ cho du khách mướn phòng (Hotel) tại đây, giá khoảng từ $300 cho một đêm. Khu nghỉ Coral Atlantis bao gồm những dịch vụ như body massage, skin care, shopping, casino, 11 hồ bơi ngoài trời, nhà hàng,v.v… Các tiện nghi khác tại khu nghỉ dưỡng còn cung cấp dịch vụ trợ giúp khách và dịch vụ trông trẻ.

    Shopping với những cửa hàng sang trọng và nổi tiếng

    The casino

    Paradise Island được nối liền với đảo New Providence bằng hai cây cầu bắc qua Cảng Nassau. Cây cầu đầu tiên được xây dựng vào năm 1966 bởi Resorts International, và cây cầu thứ hai được hoàn thành vào cuối thập niên 1990.

    FAREWELL PARTY

    Cuộc vui nào rồi cũng tàn, bữa tiệc chia tay với nhiều luyến tiếc.

    Khánh Lan & Mạnh Bổng, Califoria April 2, 2026

  • DU LỊCH,  Khánh Lan,  Kiều My

    THÀNH PHỐ TRÊN BIỂN CẢ

    Kiều My & Khánh Lan

    Sáu ngày trên du thuyền Royal Caribbean, Quantum Of The Sea đã để lại cho chúng tôi biết bao niềm vui, tiếng cười và kỷ niệm. Có lẽ đây là một trong 3 chuyến du lịch do Liên nhóm NVNT & TTG tổ chức mà chúng tôi thích nhất. Bởi trong 6 ngày ngắn ngủi ấy đã cho chúng tôi một cảm giác gần như sống lại thời son trẻ đầy nhiệt huyết và năng động. Phải chăng sự tươi trẻ và năng nổ của thế hệ trẻ như Minh Thư, Thúy Giao, Minh Châu đã tạo một ảnh hưởng lớn trong tâm hồn chúng tôi? 

    Ngày 03 tháng 03, 2026–“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”

    Chẳng hẹn mà lại gặp nhau trên cùng một chuyến hải hành đã cho chúng tôi tin rằng: Đó là mối duyên “kỳ Ngộ” giữa 2 nhóm Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) và Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG). Bởi trong chuyến du lịch này chúng tôi đã gặp các anh chị trong nhóm VTLV đi cùng.

    Quả thật, tiếng đồn không sai khi nói về anh Lê Văn Hải, chủ tịch của nhóm VTLV. Có lẽ đây là lần thứ 3 chúng tôi gặp anh, và cả trong 3 lần ấy, anh rất chu đáo và “generous“. Cũng như những lần trước, buổi tối hội ngộ trước khi lên du thuyền Royal Caribbean anh đã tổ chức buổi họp mặt bỏ túi tại nhà hàng, Phở Seven với lì xì và hát cho nhau nghe. Keyboardist là anh Không quân Tuấn Nguyễn (?).

    Trong không khí ấm cúng, vui và thân mật, chúng tôi đã có cơ hội gặp rất nhiều các văn thi sĩ thuộc nhóm VTLV mà trước kia chỉ nghe đến tên nhưng chưa hề gặp mặt. Thế mà lạ quá, tất cả chúng tôi tay bắt mặt mừng, coi nhau như anh em trong cùng một nhà, khiến lòng chúng tôi rộn lên niềm xúc động.

    THÀNH PHỐ TRÊN BIỂN CẢ là cái tên mà Nhà Văn Kiều My đã dặn dò Khánh Lan trong email rằng: “KL đừng đổi tựa bài vì chị rất thích tựa này.”

    ROYAL CARIBBEAN, QUANTUM OF THE SEA.

    Con tàu khổng lồ từ từ rời bến, mang theo chúng tôi bước vào một hành trình kỳ thú. Trước mắt chúng tôi, đại dương mở ra mênh mông, xanh thẳm đến tận chân trời.

    Chiều nay ra khơi….

    Nhưng điều làm chúng tôi ngạc nhiên hơn cả không phải là biển rộng, mà là con tàu đang chở chúng tôi, một thế giới thu nhỏ với ánh đèn rực rỡ. Những nhà hàng, rạp hát, casino, shopping, những tụ điểm ca nhạc… xen lẫn tiếng nói tiếng cười rộn rã. Chúng tôi chợt nghĩ: À…mình đang sống trong một thành phố nổi và đang trôi lênh đênh trên biển cả.

    Tình bằng hữu thân thương…

    Con tàu khổng lồ, Royal Caribbean, Quantum of the Seas không chỉ là một phương tiện di chuyển. Nó thật sự giống như một thành phố rực rỡ ánh đèn đang trôi giữa đại dương. Ngay từ ngày đầu bước lên tàu, chúng tôi đã có cảm giác mình đang bước vào một thế giới kỳ bí nào đó. Những hành lang dài, những tầng lầu nối tiếp nhau, nhà hàng, quán cà phê, Royal Theater, hồ bơi, casino, shopping, hot spa, đủ trò chơi thể thao v.v…Buổi trưa có Movie on Deck trên tầng 14, tất cả tạo nên nhịp sống rộn ràng như trong một đô thị thực thụ. Nhưng điều kỳ lạ là thành phố ấy lại đang lênh đênh trên biển cả.

    Buổi sáng, trước mắt tôi là một bầu trời xanh với những cụm mây trắng bay lững lờ trên đại dương mênh mông. Gió biển thổi nhẹ mang theo vị mặn dịu dàng.. Trong khi chúng tôi có những bữa ăn sáng kéo dài… vừa ăn vừa trò chuyện lại vừa ngắm cảnh biển buổi sáng thật êm đềm.

    Ara bailar la bamba. Para bailar la bamba se necesita. Una poca de gracia. Una poca de gracia y otra cosita. Y arriba y arriba….

    Ban ngày, mỗi người lại đi khám phá “thành phố nổi” theo cách riêng. Có người thích đi bộ quanh boong tàu để ngắm biển, hay tắm nắng của miền Nam Mỹ. Có người say mê các khu giải trí rộn rã tiếng nhạc. Có kẻ yêu rock climbing, bumper cars, picker ball, đánh vũ cầu, basketball, v.v…Phần chúng tôi “yêu quá Line Dancing“.

    Nào cùng nhau Line dancing nhé.

    Lại có nhiều người thích trầm mình trong hot spa hay bơi tung tăng trong những hồ bơi nước xanh rộng lớn. Ngoài ra, còn có những người già lẫn trẻ và cả chúng tôi nữa…giải khát bắng những icecream cone thơm ngát mùi vanila, coffee và “liếm” vị kem mát lạnh một cách ngon lành.

    … Khi màn đêm bông xuống, con tàu như khoác lên mình một bộ áo sang trọng đủ kiểu đủ màu. Ánh đèn lung linh khắp nơi. Từ các phòng hòa nhạc vang lên những giai điệu sống động. Những sân khấu lớn mở màn các chương trình biểu diễn đầy màu sắc. Khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới tụ hội về đây, vừa thưởng thức nghệ thuật vừa hòa vào những điệu nhảy vui tươi hào hứng.

    Giữa muôn vàn ánh hào quang lấp lánh cùng sự thăng hoa của âm nhạc & những kết cấu nghệ thuật tinh tế làm tôn vinh hình tượng của các vũ công trên sân khấu. Với sự quy tụ những tinh hoa xuất sắc nhất từ ​​Los Angeles, New York, Paris và Las Vegas, kết hợp cùng những màn vũ đạo ngoạn mục và dàn nghệ sĩ biểu diễn thượng thặng đến từ khắp nơi trên thế giới.

    Chuyến du lịch lần này đã đem đến cho chúng tôi từ những ngạc nhiên này đến thích thú khác qua các màn trình diễn độc đáo và lạ mắt như: Starwater Show. Thoạt nghe tên Starwater, chúng tôi liên tưởng đến màn trình diễn trên nước, nhưng không, đó là nghệ thuật biểu diễn cuộc sống qua cảm xúc của con người và được khám phá sự kết hợp giữa sự kỳ diệu của các vì sao và sự bí ẩn của biển cả.

    Một trong những kỷ niệm làm chúng tôi nhớ mãi trong chuyến hải hành trên con tàu khổng lồ Royal Caribbean, Quantum of the Seas, chính là đêm thưởng thức chương trình Starwater, tại The Workshop (Two 70). Khi màn đêm buông xuống, cả không gian dường như biến thành một thế giới huyền ảo. Khán giả ngồi yên trong ánh đèn dịu, chờ đợi một điều kỳ diệu sắp xảy ra. Rồi âm nhạc vang lên. Từ bóng tối, những vũ công xuất hiện như những làn sóng mềm mại. Ánh sáng đổi màu liên tục, khi xanh thẳm như đáy biển, khi tím biếc như bầu trời đêm. Những màn hình lớn phía sau bỗng trở thành một đại dương mênh mông, nơi những vì sao, những dòng nước và những hình ảnh trừu tượng hòa vào nhau.

    Chương trình Starwater không chỉ là một buổi biểu diễn ca múa bình thường. Nó  như một giấc mơ được dệt bằng ánh sáng, âm nhạc và chuyển động. Các nghệ sĩ bay lượn trên không, xoay mình trong những động tác uyển chuyển, khi mạnh mẽ như gió biển, khi nhẹ nhàng như bọt sóng. Có những khoảnh khắc cả khán phòng gần như nín thở. Âm nhạc dâng cao, ánh sáng rực lên, rồi tất cả bỗng lắng xuống trong một khoảng lặng đầy mê hoặc. Chúng tôi ngồi giữa khán phòng mà có cảm giác như đang trôi trong một thế giới khác, nơi nghệ thuật và đại dương hòa quyện với nhau như mây với gió.

    Khi chương trình kết thúc, ánh đèn dần sáng trở lại. Ngoài khung cửa kính, biển đêm vẫn mênh mông và lặng lẽ. Con tàu vẫn tiếp tục hành trình giữa đại dương, nhưng trong lòng tôi vẫn còn vang vọng những giai điệu và hình ảnh huyền ảo của Starwater — một khoảnh khắc nghệ thuật tuyệt đẹp giữa thành phố đang từ từ trôi trên biển cả.

    Sonic Odyssey show thật tuyệt diệu giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật nguyên bản với tâm điểm là cây đàn Earth Harp. Nhạc cụ được thiết kế và chế tác bởi William Close, người từng lọt vào vòng bán kết thứ 7 của chương trình America’s Got Talent. Sonic Odyssey đã đưa chúng tôi bước vào một hành trình âm nhạc và âm thanh độc nhất vô nhị, cộng thêm sự quy tụ một dàn nghệ sĩ biểu diễn tài năng.

    Nhạc cụ Earth Harp với nghệ sĩ William Close

    William Close trình diễn đánh trống với sự phối hợp của các vũ công

    Biểu diễn trống ngoạn mục

    MO5AIC đến trực tiếp từ Las Vegas, là một nhóm nhạc độc nhất vô nhị, họ đã giành được danh hiệu là nhóm nhạc “MTV’s Top Pop Group” và tài năng của họ từng được giới thiệu trên chương trình America’s Got Talent.

    MO5AIC với con số 5 ở giửa có nghĩa họ là 5 nghệ sĩ trong nhóm. Họ trình diễn các thể loại âm nhạc đặc biệt bằng miệng mà hoàn toàn không dùng đến sự hỗ trợ của bất cứ loại nhạc cụ nào. Họ đã đem lại sự ngạc nhiên, thích thú và lạ lẫm trong lòng du khách.

    Trong bầu không khí ấy, chúng tôi cũng không đứng ngoài cuộc.

    Ai trông giống như….Katherine Minh Thư nhà mình ấy nhỉ ?

    Hàng trăm đốm sáng rực lên từ những chiếc điện thoại di động tựa như nhưng đốm hỏa châu trong màn đêm. Chúng tôi không chỉ lắng nghe nhạc mà đôi lúc cũng nhẩm hát theo những bài hát quen thuộc. MO5AIC đã tạo một đêm vui khó quên cho tất cả chúng tôi.

    BRING THE BEAT BACK. A PARTY THROUGH THE DECADES, quả là vui nhộn bởi các màn trình diễn của các nhân viên trên du thuyền trong trang phục tùy theo từng thời. Họ đã đem âm nhạc từ những thập niên 1960, 1970, 1980, 1990 với MC kiêm Cruise Manager dí dỏm, duyên dáng trong bộ y phục màu hồng lóng lánh. Tiếng la, hét, hát vang dội cả khánh phòng Two 70. Có lẽ đây là party ồn ào, vui nhộn nhất trong chuyến đi.

    Những màn biểu diễn của các nhân viên trong thủ thủy đoàn

    Ngoạn mục quá làm say đắm lòng các du khách

    HAPPY BIRTHDAY TO ALL FROM THE OFFICERS AND CRUISE MEMBER với chiếc bánh sinh nhật thật lớn mà trong đó Khánh Lan thật là “lucky” bời năm nay mình được mọi người hát “Happy Birthday” đến 3 lần cơ đấy.

    Đây là một lần nhé…

    Cái bánh to quá, phài cần đến hai người cắt bánh

    Lần thứ 2 là trong bữa ăn tối tại Grande Restaurant

    Và cuối cùng sẽ là “Belated Birthday” với gia đình … Thích nhỉ…

    Có những tối chỉ ngồi nghe nhạc sống và trò chuyện hay cùng nhau bước ra sàn nhảy, để mặc cho âm nhạc dẫn dắt với Latin Dance Music trong khung cảnh huyền hoặc của phòng trà Boleros, do ban nhạc Latin Band The Latin Town trình diễn hàng đêm. Giữa đại dương bao la, những tiếng cười, những bước chân nhịp nhàng ấy làm cho “thành phố trên biển” trở nên ấm áp và gần gũi lạ thường.

    NORTH STAR EXTENDED rất thú vị mà Chị Tường Anh đã mất $45 cho 15′ trong lúc ấy Katharine Minh Thư & Thúy Giao đã ghi danh cho cả nhóm được “Free” với 10′ ngắm cảnh từ trên cao. Thanks tới hai em gái.

    Tham dự cuộc du hành trên không gian để nhìn toàn cảnh phố cảng Ensanada thật thú vị

    10′ thật tuyệt diệu đề nhìn cả một thành phố bên dưới

    Phục thiệt! 3 nàng Thúy Giao, Lệ Hoa, Minh Thư…với trò chơi mạo hiểm RIPCORD BY IFLY

    Còn Khánh Lan & Minh Châu thì “chicken out” nên đứng ở ngoài: chụp hình, quay phim và…vỗ tay…

    Và hồi hộp…..

    AT SEA là những ngày chúng tôi “RELAX” để hưởng thụ những thú vui giải trí mà du thuyền cung cấp như: Love and marrige show với nhưng trận cười ngây ngất, FlowRider (Advanced Standup surfing) với Katherine Minh Thư và Thúy Giao, robot Show, Towel Animals, v.v…

    Đua xe

    Robot Show-tự pha rượu

    FLOWRIDER ADVANCED STANDUP SURFING, FLOWRIDER dành cho hai bạn trẻ Katherine Minh Thư & Thúy Giao thôi, còn dân sợ nước, không biết bơi và nhảy sóng như Khánh Lan thì chỉ ngồi trên bờ để “enjoy” mà thôi.

    Minh Thư trổ tài với towel folding và…

    … Đố ai biết con gì đây?

    KARAOKE dành cho những du khách thích ca hát có dịp phô trương tài năng như “Tiếng Thời Gain vô cùng can đảm Katherine Minh Thư”

    Katherine Minh Thư với “I Will Survive” …

    Ngắm cảnh qua màn hình “đại vĩ tuyến” với những sinh hoạt dưới đáy biển, nghệ thuật tạo hình bởi AI, v.v…

    Chuyển động của con người…

    Hình ảnh…

    Robots….

    …Và để cho buổi tối được vui trọn vẹn, hầu như tối nào chúng tôi cùng nhau tấp vào quán pizza, Cafe Promenade để thưởng thức hương vị của mùi cheese nóng chảy dưới những miếng pepperoni đỏ thơm lừng hấp dẫn…Đây là những giờ phút khá thú vị…mọi người cười nói xôn xao, chia sẻ với nhau những miếng pizza nóng hổi và những miếng cam tươi mát lạnh… hay cafe@Two70 để thưởng thức những miếng bánh mì Ý, Pháp, Spain thơm phức… trước khi trở về phòng ngủ sau một ngày vui chơi mệt nhoài.

    Sau vài ngày lênh đênh trên đại dương, những dãy núi và bờ biển của Mexico dần hiện ra nơi chân trời. Con tàu đưa chúng tôi ghé thăm hai thành phố ven biển nổi tiếng: Cabo San Lucas và Ensenada. Mỗi nơi mang một vẻ đẹp riêng.

    Cabo San Lucas hòa mình với biển xanh và những vách đá kỳ vĩ. Đây là nơi Thái Bình Dương gặp Vịnh Cortez, được bao quanh bởi những khối đá hùng vĩ như Cổng Vòm.

    Thành phố tuyệt đẹp với những căn cao ốc được xây dựng như hình tổ ong

    Thành phố biển Cabo San Lucas (còn gọi là “Mũi Thánh Luca”), hay đơn giản là Cabo, nằm ở mũi phía nam của bán đảo Baja California, thuộc tiểu bang Baja California Sur của Mexico.

    Cabo San Lucas và thành phố lân cận San José del Cabo được gọi chung là Los Cabos. Cả hai tạo thành một khu vực đô thị ven biển.Vòm đá El Arco de Cabo San Lucas đặc trưng ở mũi đất Lands End là một biểu tượng địa phương. Thành phố cũng có một bảo tàng viên lịch sử thiên nhiên hải dương học, Museo de Historia Natural de Cabo San Lucas.

    Để vào được đất liền, những chiếc tàu nhỏ (tender) đã chuyên chở chúng tôi vào thăm thành phố.

    Cabo San Lucas-welcome us…

    Đi lang thang ngắm phố và…

    Go Shopping ….

    Cabo San Lucas nổi tiếng với những bãi biển, địa điểm lặn biển, khu nghỉ dưỡng ven biển, vòm đá El Arco de Cabo San Lucas và hài lưu sinh thái biển phong phú hải sinh học. Vùng biển xung quanh Cabo là nơi lý tưởng để chiêm ngưỡng nhiều loài sinh vật biển khác nhau, bao gồm cá đuối, cá mập, cá mahi-mahi (cá nục dorado) và cá chim marlin sọc.

    Đến ngày 6 của cuộc hành trình trên đường trở về cảng San Pedro, Hoa Kỳ, thành phố biển Ensanada hiện ra trước mắt. Đứng trên tàu nhìn qua Ensenada mang nét hiền hòa của một thành phố cảng với những con phố nhỏ và lá cờ Mexico bay phất phơ trong gió.

    Ensenada có nghĩa là “vũng vịnh“, một thành phố thuộc Đô thị Ensenada, bang Baja California, nằm trên bờ biển Thái Bình Dương của Mexico. Tọa lạc bên vịnh Bahía de Todos Santos. Đây là một trung tâm thương mại quốc tế quan trọng và là nơi tọa lạc của Cảng Ensenada – cảng sầm uất thứ hai tại Mexico.

    Ensenada có khí hậu ấm áp và vị trí gần Thái Bình Dương; thành phố này thường được biết đến với biệt danh *La Cenicienta del Pacífico* (“Nàng Lọ Lem của Thái Bình Dương”). Ensenada được thành lập vào năm 1882, khi cộng đồng nhỏ mang tên Rancho Ensenada de Santos được chọn làm thủ phủ khu vực cho phần phía bắc của Lãnh thổ Baja California. Thành phố đã phát triển mạnh mẽ cùng với sự bùng nổ của các hoạt động khai thác mỏ tại những dãy núi bao quanh.

    Danh tiếng của Ensenada như một thành phố nghỉ dưỡng đã được củng cố vững chắc trong thập niên 1950 và 1960, giai đoạn chứng kiến ​​sự bùng nổ xây dựng cũng như sự vươn lên về tầm vóc quốc tế của thành phố này bên ngoài khu vực Bắc Mỹ.

    Ngày nay, Ensenada đóng vai trò là một trung tâm kinh tế và văn hóa lớn của Baja California. Thành phố này là nơi tọa lạc của nhiều trường đại học, chẳng hạn như Viện Công nghệ Ensenada và Đại học Tự trị Baja California. Ensenada cũng là một trung tâm công nghệ sinh học quan trọng và là nơi đặt trụ sở của nhiều viện nghiên cứu, tiêu biểu là Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Ensenada. Thành phố này hiện là Thành phố Sáng tạo UNESCO.

    Những nàng tiên áo trắng đón nhận “phong bì đỏ” lì xì từ anh Đại Gia Lê Văn Hải, báo hiệu một sự phát tài lớn trong năm Bính Ngọ 2026. Trúng số độc đắc Lottery chăng?

    Giá mà được gặp Đại Gia Lê Văn Hải mỗi ngày nhỉ…

    Trong chuyến hải hành ấy, điều làm tôi nhớ nhất không chỉ là những chương trình giải trí rực rỡ hay những thành phố ven biển xa lạ, mà chính là tình bạn giữa những người cùng đồng hành. Chúng tôi, nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm 12 người ở Nam California, phối hợp với nhóm Văn Thơ Lạc Việt khoảng 20 người ở San Jose. Chúng tôi đến với chuyến đi này như những người bạn quen biết nhau qua văn chương. Ở đất liền, mỗi người có cuộc sống riêng, bận rộn với gia đình, với công việc, hoặc với những trang viết còn dang dở. Nhưng khi bước lên con tàu Royal Caribbean, Quantum of the Seas, dường như tất cả những lo toan thường nhật đều tạm lùi lại phía sau.

    Chúng tôi cùng đi dạo trên những hành lang dài của “thành phố nổi”, cùng ngồi nghe những bản nhạc sống, cùng xem các chương trình biểu diễn rực rỡ ánh đèn. Có khi chỉ đơn giản là ngồi quanh một chiếc bàn dài trong nhà hàng Coastal Kitchen, vừa thưởng thức những bữa điểm tâm và những bữa ăn trưa, vừa kể cho nhau nghe những câu chuyện đời. Những tiếng cười vang lên rất tự nhiên. Không ai vội vàng. Không ai phải lo đến những công việc của ngày mai.

    Nhà hàng American Icon trang trí tuyệt đẹp với bức tường bằng kinh ngoạn mục…

    Và dành cho Khánh Lan chụp những tấm hình cho bạn bè…

    Kiều My đấy…

    Và đây là Minh Châu…

    Katherine Minh Thư nè….

    Có lẽ vì thế mà những niềm vui nhỏ bé trong chuyến đi trở nên đáng quý hơn bao giờ hết. Những điều tưởng chừng bình thường, cùng nhau xem một buổi biểu diễn, cùng bước ra sàn nhảy theo nhịp nhạc, hay cùng nâng ly chúc mừng một buổi tối vui vẻ, lại là những khoảnh khắc mà ở cuộc sống thường ngày chúng tôi hiếm khi có dịp thực hiện.

    Giữa đại dương mênh mông, “thành phố trên biển” không chỉ mang đến cho chúng tôi những cảnh đẹp và những chương trình giải trí. Nó còn cho chúng tôi thời gian để ở bên nhau, để chia sẻ niềm vui, và để nhớ rằng: tình bạn cũng là một trong những món quà đẹp nhất của cuộc đời.

    Dress code: White dress day

    Những ngày lênh đênh trên đại dương rồi cũng trôi qua nhanh như một giấc mơ đẹp. Con tàu Royal Caribbean, Quantum of the Seas vẫn lặng lẽ rẽ sóng đưa chúng tôi trở về đất liền, như một thành phố rực rỡ đang từ từ khép lại cuộc phiêu lưu giữa biển khơi. Khi hành trình sắp kết thúc, tôi chợt nhận ra rằng điều còn lại trong ký ức không chỉ là những sân khấu rực rỡ ánh đèn, những buổi nhạc sống vui tươi hay những thành phố ven biển của Mexico như Cabo San Lucas và Ensenada.

    Điều còn lại sâu đậm hơn chính là những khoảnh khắc đã cùng nhau trải qua những buổi sáng, buổi trưa sau khi ăn. Chúng tôi thong thả đi dạo trên boong tàu, hay trên các hành lang, rồi ghé qua quán kem để được tận hưởng icecream cone thơm ngon lành lạnh một cách say mê như trẻ con. Rồi chúng tôi diện thật đẹp để cùng thưởng thức bữa ăn thịnh soạn trong không gian ấm cúng và thân mật tại nhà hàng Grande Restaurant vào mỗi buổi chiều tối. Đây là khoảnh khắc đáng ghi nhớ khi ngồi bên nhau trò chuyện như thể thời gian vẫn còn rất dài phía trước.

    FEREWELL PARTY…bao giờ cũng đặc biệt với màn diễn hành do các thủy thủ đoàn và nhân viên trong du thuyền diễn xuất. Những tiếng reo hò, vỗ tay, và mọi người cùng cất tiếng hát vang dội trong phòng ăn chính grande, American Icon, v.v… cũng như tại buffet restuarant trên lầu 14, Windjammer Maketplace.

    Các nhân viên nhà hàng mặc y phục hóa trang đầy màu sắc

    Diễn hành tai Windjammer Marketplace

    Farawell party tại Grande Restaurant với những buồn vui lẫn lộn, vui vì sắp về lại “home sweet home” sau những ngày dài xa nhà, buồn vì phải giã từ cuộc vui với bạn bè cùng trang lứa.

    NVNT & TTG “lì xì” lấy hên cho waiter Micheal và his assistant.

    Trong cuộc sống thường ngày, mỗi người đều bận rộn với nhịp sống riêng. Nhưng trong vài ngày ngắn ngủi giữa đại dương, chúng tôi đã có dịp sống chậm lại, tận hưởng những niềm vui giản dị mà quý giá: được ở bên bạn bè, được cùng nhau thưởng thức những điều đẹp đẽ mà đôi khi ở nhà chúng tôi khó có dịp thực hiện.

    Micheal còn một biệt tài nữa là hát rất hay và đàn rất giỏi….

    Con tàu đã cập bến. Mỗi người lại trở về cuộc sống đời thường của mình.“Và thành phố trên biển ấy vẫn còn trôi mãi trong ký ức chúng tôi.” Nhưng chúng tôi tin rằng trong ký ức của mỗi người, vẫn sẽ còn mãi hình ảnh của một thành phố rực sáng giữa biển cả, nơi chúng tôi đã có những ngày thật vui, thật nhẹ nhàng, và đầy ắp tình bạn. Và biết đâu, một ngày nào đó, khi nhớ lại chuyến đi này, chúng tôi sẽ lại mỉm cười , vì đã từng cùng nhau sống những ngày đẹp như thế giữa đại dương bao la.

    Con tàu đã cập bến từ lâu, nhưng thành phố trên biển ấy cùng những tiếng cười của bạn bè vẫn còn ở lại trong lòng chúng tôi.

    Kiều My & Khánh Lan ghi lại đây những kỷ niệm cùng các bạn ttrong chuyến đi cruise trên tàu Roya Caribbean, Quantum Of The Seas, qua hai phố cảng Cabo San Lucas và Ensenada, Mexico, March 4 – 10, 2026

  • Khánh Lan,  Kiều My,  Sinh Hoạt,  TẾT,  Viet-Hải

    XUÂN HỌP MẶT

    Khánh Lan & Mạnh Bổng 

    Mùa xuân luôn đem đến những niềm vui tiếng cười cho mọi người, nhất là trong những ngày Tết. 

    Tết năm nay, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) chọn họp mặt mừng Tân Niên tại tư gia của Khánh Lan & Mạnh Bổng chiều ngày 27 tháng 2, 2026. Các bạn có biết là Khánh Lan & Mạnh Bổng vui và cảm động lắm không? Bởi hôm nay là ngày thứ Sáu, thế mà, “thứ Sáu thì mặc thứ Sáu“, các anh chị và thân hữu vẫn có mặt tại tư gia của Khánh Lan & Mạnh Bổng thật đúng giờ.

    Chị em chúng tôi, những thành viên ưu tú, đẹp gái, đàn hay hát giỏi, và quan trọng nhất của NVNT & TTG. Từ trái sang phải: Minh Khai (Em gái NS Lam Phương), Bích Điệp (Phu nhân NV Ngọc Cướng), Khánh Lan, Ngọc Quỳnh, Kim Hương (Phu nhân Kỹ sư Quốc Dân), Lâm Dung, Jennifer Lâm, Bình Chi, Thụy Lan. (Lệ Hoa & Minh Châu, Chị Mai đến sau vì kẹt xe trên freeway-Rất tiếc sự vắng mặt của anh Alain Đức & chị Ngọc Châu, chị Tường Anh, Mộng Thủy, Chị Kiều My, Ái Liên, Tuyết Nga)

    Sự hiện diện của các giáo sư: Trần Huy Bích, Dương Ngọc Sum, Nhà văn Nguyễn Quang, Nữ sĩ Lê Nguyễn Nga và anh Peter Thạnh Nguyễn, Nhạc sĩ Võ Tá Hân và phu nhân Kim Châu, nhóm Tây ban cầm Tơ Vàng (Lâm Dung, Bình Chi, Jennifer Lâm), Họa sĩ Hoàng Vinh và phu nhân, Nhà văn Phạm Gia Đại, Nhà văn Ký giả Vương Trùng Dương, Nhà văn Ký giả Phạm Quốc Bảo, Nhà văn Vi Khiêm, Thi sĩ Ngọc Hoa, Văn Thi Sĩ Dương Viết Điền, Thi sĩ Quỳnh Giao, Thi sĩ Huy Anh, Kỹ sư Lâm Quốc Dân và phu nhân Kim Hương, KQ Dương Viết Đang, Cô của Nhà văn Ngọc Cường cũng như Nhà văn Ngọc Cường và phu nhân, Bích Điệp đến từ Ohio. Sự có mặt của các quý Giáo sư & Văn Thi Sĩ là một khích lệ cho toàn thể Liên Nhóm NVNT & TTG.

    Hàng đứng, từ trái sang phải: NS Võ Tá Hân, phu quân của chị Bình Chi, Anh Peter Thạnh Nguyễn, TS Huy Anh, KQ Vũ Hòa (Phu quân Ngọc Quỳnh), HS Hoàng Vinh, NV Phạm Gia Đại, KQ Dương Viết Đang, KS Lâm Quốc Dân, Michael (Phu quân Thụy Lan), KG NV Vương Trùng Dương, Cô của NV Ngọc Cường, KG NV Phạm Quốc Bảo, NV Vi Khiêm, KS Trần Mạnh Chi. Hàng ngồi, từ trái sang phải: Mạnh Bổng, NV Nguyễn Quang, GS Trần Huy Bích, NV Ngọc Cường, GS Dương Ngọc Sum, NS Lê Nguyễn Nga, TS Ngọc Hoa, TS Quỳnh Giao.

    Rất tiếc sự vắng mặt của NS Dương Hồng Anh, NS Lê Văn Khoa & Chị Ngọc Hà, GS Quyên Di, TS Minh Đức, Anh Hoàng Đình Khuê, NV Hồng Thủy. (tiếc nhất là Nhà văn Hồng Thủy từ Washington DC đến trễ 2 ngày (March 2) nên không tham dự được). Đây là lần thứ 3 mà NVNT & TTG mất có cơ hội để tiếp đón bà. Thật là một điều thiếu sót. 

    Trong dịp này, thi sĩ Ngọc Hoa của hội Văn bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ đã “lì xì” cho NVNT & TTG $44 tiền $2 & $5 mới tinh, cũng như ông bà Họa sĩ Hoàng Vinh đã tặng cho hội của chúng tôi $100. Khánh Lan xin thay mặt cho Liên nhóm NVNT & TTG chân thành gởi lời cảm ơn đến tam vị mạnh thường quân.

    Đây là buổi họp mặt mừng xuân thứ hai sau đại dịch COVID-2019 mà gia đình NVNT & TTG họp mặt mà có gần như đông đủ các thành viên và thân hữu tham dự. Và trong những dịp vui như thế này, dĩ nhiên là không thể thiếu bóng dáng của con chim đầu đàn Nhà Văn Việt Hải và phu nhân lệ Hoa. Tuy rằng lần này, từ thành phố Winnetka (nơi NV Việt Hải cư ngụ), Nhà văn Việt Hải, phu nhân Lệ Hoa và Nhà văn Dương Viết Điển đã mất 4 tiếng đồng hồ “than vắn thở dài” trên freeway, vì phải đổi từ xa lộ này qua xa lộ khác để đến họp mặt mừng Tân Niên Bính Ngọ.

    Giời ơi! Xem kìa: “Gươm lạc giữa rừng hoa”

    Những đóa hồng nở rộ trong vườn hoa văn nghệ Tiếng Thời Gian…

    Những cái “hug” thân tình, những “hand shake” xiết chặt của bao ngày xa cách giữa ba anh cựu SVSQDL Phạm Quốc Bảo, Vương Trùng Dương, Dương Viết Điền đã gây bao xúc động trong lòng chúng tôi. Có lẽ trong chính các anh cũng đang cố nén cơn xúc động và giọt lệ hân hoan.

    Phải, mới ngày nào, những mái tóc còn xanh nay đã thay màu đổi sắc theo thời gian…

    Hàn huyên tâm sự xong giờ phút quan trọng đã đến: NHẬP TIỆC với thức ăn thật ngon. Ôi chao nhiều thứ quá! Nào là: bánh chưng, thịt đông, giò thủ, thịt kho trứng & dưa giá, dưa chua 2 miền Nam Bắc, dưa món, gà chiên bơ, gà hấp muối, xôi bắp, xôi mặn, bún thịt nướng, Korea kimbab, sâm bổ lượng, chea & nấm tuyết & dâu tươi, chuối chiên, càri gà & bánh mì Pháp, bánh bèo, bánh bột lọc, tôm hỏa tiễn, chả giò, cháo gà, bánh cake mừng xuân và rượu chát, v.v…

    Bữa cơm mừng xuân….

    Sau bữa ăn tối thân mật và tâm tình là phần văn nghệ,

    Chúc Tết và chia sẻ cảm nghĩ về ngày Tết. Các quý giáo sư, Văn Thi Sĩ và thân hữu được mời lên để có đôi lời.

    Nhà văn Ngọc Cường & phu nhân Bích Điệp

    TS Ngọc Hoa, Thủ quỹ và đại diện cho Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ.

    KS Lâm Quốc Dân, anh họ của NV Việt Hải

    Hàng đứng và từ trái sang phải: HS Hoàng Vinh, NV KG Phạm Quốc Bảo, Mạnh Bổng, Anh Vũ Hòa. Hàng Ngồi từ trái sang phải: VTS Dương Viết Điền, GS Dương Ngọc Sum, NV Nguyễn Quang.

    Hôm ấy, Khánh Lan cũng được phép thay mặt đọc lá thơ của anh Hoàng Khuê gởi lời chúc tết đến nhà văn Việt Hải và toàn thể các thành viên trong Liên nhóm NVNT & TTG. Nữ sĩ Dương Hồng Anh cũng không quên gởi tặng bài thơ chúc tết đến Nhà văn Việt Hải và Liên nhóm NVNT & TTG. Khánh Lan cũng đã thay mặt cho nữ sĩ để diễn ngâm bài thơ song thất lục bát:

    KHAI BÚT XUÂN BÍNH NGỌ

    Kính tặng nhà văn Trần Việt Hải và tất cả các bạn văn nghệ sĩ của tôi.

    Xuân về hoa nở hương thơm gió

    Rực rỡ hoa đào phơ phất bay

    Giao thừa pháo nổ khuya nay

    Mừng xuân Bính Ngọ đón ngày đang lên

    Rượu đào nâng chén, thơ khai bút

    Chuông võ âm vang thảo mấy vần

    Bâng khuâng bút mực nhìn xuân

    Cỏ cây hoa lá muôn vàn sắc hương

    Tôi muốn nhìn xuân còn trẻ mãi

    Như ngày xưa thân ái bốn mùa

    Trắng trong tà áo lụa tơ

    Sân trường lớp học ngây thơ nhìn đời

    Xuân vẫn còn đây xuân hỡi xuân

    Nàng thơ kiều diễm đẹp muôn vàn

    Thơ say dòng mực tuôn tràn

    Hoa thơ nhạc nở, cung đàn lên tơ

    Giao thừa khai bút, bút khai xuân

    Đốm lửa quê hương lộng gió ngàn

    Tình xuân lai láng thư trang

    Bóc tờ lịch mới mang mang suối hồn.

    Dương Hồng Anh khai bút đầu xuân 2026

    Sau phần khai mạc và chia sẻ tâm tình, tiếp theo là phần văn nghệ mừng xuân. Buổi tiệc hôm nay vắng bóng Mc mộng Thủy, Nhà văn Mc Phạm Gia Đại đã thay mặt Mộng Thủy giúp phần giới thiệu văn nghệ và anh cũng không quên giới thiệu, hai thành viên độc quyền cầm tinh con “NGỌ” cho năm nay: Chị Bích Điệp & Anh Mạnh Bổng. “Tuy……..nhưng xuân xanh vẫn còn tươi thắm lắm, phải không quý anh chị?”

    Buổi họp mặt lần này, Kỹ sư Trần Mạnh Chi lãnh nhiệm vụ nặng nề nhất, anh đã có công “vác” dàn máy karaoke đến để mọi người ca hát cho vui. (và quý nhất là save $250 cho gia chủ, cảm ơn anh Chi, hihihi…)

    Màn trình diễn của nhóm Tây ban cầm Tơ Vàng thật đặc sắc và thú vị, Khánh Lan cũng xin được thay mặt cho Liên nhóm NVNT & TTG gửi lời cảm ơn đến các chị trong nhóm tơ vàng. Mong rằng chúng ta sẽ có gặp nhau hoài hoài và dài dài, các chị nhé?

    Nhóm Tây Ban Cầm Tơ Vàng

    Bởi vì là buổi tiệc mừng xuân nên NVNT & TTG có thêm một tiết mục “đen đỏ” nữa là “bầu cua cá cọp“, do cô thủ quỹ đại tài “Katherine Minh Thư“ chủ xướng dưới sự phụ tá của anh Michael Lê.

    Jesus Chris! Heaven and Earth!

    Không ngờ cái “đỏ đen” ấy lại đánh bại cả phần “văn nghệ mừng xuân” mới đáng sợ chứ!

    Tuy nhiên, dù “đen đỏ chi đó” nhưng các “con bạc” chỉ được phép cá cuộc từ 25 cents đến $1 là maximum mà thôi. Vui thật là vui…

    Và đã thu hút tất cả chúng tôi…..Thế thì cuối cùng ai ăn ai thua đây? Chắc phải hỏi lại nhà cái Katherine Minh Thư và anh Michael quá.

    Bế mặc buổi tiệc mừng Xuân Bính Ngọ với chiếc bánh do Văn thi sĩ Dương Viết Điền tặng. 

    Còn Khánh Lan thì ……thi hành nhiệm vụ: Cắt bánh mời bạn hữu thân tình

    Cuộc vui nào rồi cũng đến lúc kết thúc … Đồng hồ điểm 11:15 tối, mọi người ra về trong luyến tiếc, vui vẻ, an bình và hạnh phúc. Chấm dứt một ngày vui và chúng tôi lưu luyến chia tay. Xin hẹn mùa xuân tới 2027.

    TƯỜNG TRÌNH TỔNG KẾT TỪ NV VIỆT HẢI

    Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 – lời ước hẹn sum họp của Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    Tết Nguyên Đán không chỉ là khởi đầu mới mà còn mang ý nghĩa vui kết hợp, vui sum vầy, một thời gian thiêng liêng. Mỗi độ xuân về, người Việt lại nôn nao trở về, gửi gắm hy vọng và yêu thương trong không khí đoàn tụ ấm áp dón xuân. Tết Nguyên Đán được xem là lễ hội lớn nhất và quan trọng nhất trong năm đối với truyên thống của người Việt Nam.

    Tết Nguyên Đán còn được gọi là Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, hay chỉ gọi đơn giản là “Tết” – là Tết lớn nhất trong năm, diễn ra vào mùa xuân, thời điểm kết thúc một chu kỳ bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông để bước vào một chu kỳ mới, một khởi đầu mới. Vì vậy, ngày Tết rất quan trọng, như dịp không gian chuyển mùa. Trong tiếng Việt, Tết là dịp hội hè, cũng là dịp lễ vui vẻ, bát tiết của Việt Nam không phải là Lập xuân, Xuân phân…

    Trong tám ngày Tết ấy, Nguyên Đán là ngày tết đầu năm, cho nên gọi là Tết hội ngộ, sum vầy bên nhau. Hai anh chị ca sĩ Lưu Mạnh Bổng và nghệ sĩ Khánh Lan, cả hai vui tánh, tốt với bận bè, giang sơn bên sau nhà ở Anaheim Hills là khu vườn Ngự Hoa Viên Thượng Uyển Có ngôi Gia Các Điện bé tí nho nhỏ xinh xinh, thảo nào hai anh chị Nguyễn Tiến Quỳnh Giao và Pilot Dương Viết Đang hè nhau chụp hàng trăm tấm hình deluxe paparazzi, dán đầy nhóc trên phếch bút.

    Khu vườn Ngự Hoa Viên Thượng Uyển Có ngôi Gia Các Điện bé tí nho nhỏ xinh xinh.

    Cuộc vui kéo dài do bói sư emcee Phạm Gia Đại Papillon số 17 Gulachamp.

    Bình Luận Gia, Emcee Phạm Gia Đại Papillon Gulachamp cho màn thuyết minh về lá số tử vi phong thủy, dịch luận cân kinh về năm Bính Ngọ Mustang như sau:

    LỜI BÀN CẢNH TỈNH 2026: NĂM BÍNH NGỌ (CUNG MỆNH HỎA) GẶP NĂM THẾ GIỚI SỐ 1 – CƠ HỘI BỨT PHÁ HAY NGUY CƠ BỊ “THIÊU RỤI”? CS Cuba, CS China, CS Nga Sô, CS Lâm Tô Pắc Pó,… trong Năm 2026 Bính Ngọ là năm mà Thiên Can Bính và Địa Chi Ngọ đều thuộc hành Hỏa. Người xưa gọi là Song Hỏa, hay Ngựa Lửa – hình ảnh của những tuấn mã lao đi với bờm bốc cháy, đầy nhiệt huyết và tốc độ, tự hủy diệt.

    Trong văn hóa phương Đông, Anh Phạm Gia Đại Papillon số 17 Gulachamp bốc quẻ 60 năm mới có một lần Bính Ngọ, và lần gần nhất là 1966 – một năm được nhắc đến với nhiều biến động và thay đổi lớn. Năng lượng Hỏa mang đến sự bùng nổ, sáng tạo, nhưng cũng dễ thiêu rụi nếu không biết điều tiết. Nó giống như ngọn lửa mặt trời giữa trưa – rực rỡ nhưng có thể làm khô cằn nếu thiếu nước USA MAGA tưới mát cứu mạng.

    Cùng lúc đó, theo khoa thần số học, năm 2026 được tính là Năm Thế giới số 1 (2+0+2+6=10, 1+0=1). Con số 1 tượng trưng cho sự khởi đầu, cho tinh thần tiên phong, cho những hạt giống được gieo xuống sau một chu kỳ 9 năm đầy biến động. Năm 2025 là năm số 9 – năm của sự kết thúc và thanh lọc, vậy nên 2026 chính là trang đầu tiên của cuốn sách mới. Hai năng lượng này gặp nhau: một bên là Hỏa của hành động mau lẹ, một bên là số 1 của khởi đầu táo bạo. Có người sẽ nghĩ đây là thời điểm lý tưởng để phi nước đại về phía trước, để đầu tư mạnh tay, để thay đổi cuộc đời chỉ trong một sớm một chiều.

    Trong khi đó, năng lượng của số 1 không phải là sự vội vàng. Nó là sự khởi đầu có ý thức, là việc gieo hạt giống cho những mùa vụ sau. Người làm vườn giỏi không vội vã kéo cây lên để xem rễ dài chưa. Họ chuẩn bị đất, chọn hạt giống tốt, tưới nước đều đặn, và kiên nhẫn chờ đợi. Năm số 1 là năm để làm điều đó: xác định lại hướng đi, dọn dẹp những gì không còn phù hợp, và bắt đầu những dự án có tính dài hơi.

    Lửa thì vốn không có lỗi. Lửa có thể sưởi ấm căn nhà trong đêm đông lạnh giá, giúp thức ăn chín mềm. Nhưng lửa cũng có thể thiêu rụi cả một cánh rừng chỉ trong chớp mắt nếu ta vô ý ném một tàn thuốc xuống lớp lá khô.

    Cơ hội bứt phá hay nguy cơ cháy rụi không nằm ở việc năm nay là năm gì, mà nằm ở việc nội lực của bạn đang dung chứa điều gì. Nếu bạn mang một cái tâm đầy mong cầu, muốn giàu nhanh, muốn chứng khoáng tăng vọt hãy xét bản thân xuất chúng hơn người khác, năng lượng của năm nay sẽ đẩy bạn đi rất nhanh. Nhưng là đi nhanh đến bờ vực hố sâu không lối về nhá.

    Sự nóng vội làm trí tuệ mờ mịt. Ta dễ dàng lao vào những khoản đầu tư đầy rủi ro, buông những lời làm tổn thương bạn đời chỉ vì áp lực công việc, hay tự vắt kiệt sinh lực của chính mình vì chạy theo những mục tiêu do xã hội định nghĩa. Đó là lúc ngọn lửa thiêu rụi đi phước báu và sự bình an của bạn.

    Casino Dealer Kaytherine Minh Thư

    Bầu cua cá cọp hay còn gọi là Bầu cua tôm cá hoặc Lắc” bầu cua”, là một trò chơi đánh bạc lành mạnh dip Tết của Việt Nam sử dụng ba con xúc xắc. Trò chơi này thường được chơi vào dịp Tết Nguyên đán của Việt Nam.

    Thay vì xem những dấu chấm, ở các mặt của xúc xắc xí ngậu, trò chơi này là những hình vật và thú vật, mang có hình ảnh của cá; tôm; cua; gà trống; bầu; và nai (hoặc hổ). Người chơi đặt cược trên một bảng có sáu hình ảnh, đặt cược vào hình ảnh nào sẽ xuất hiện. Nếu một con xúc xắc trùng khớp với cược, người chơi nhận được số tiền bằng với số tiền đã đặt cược. Nếu hai con xúc xắc trùng khớp với cược, người chơi nhận được gấp đôi số tiền đã đặt cược. Nếu ba con xúc xắc trùng khớp với cược, người chơi nhận được gấp ba lần số tiền đã đặt cược. Nếu một người đặt 3 đồng vào cá, và người chia bài tung được 1 cá, 1 cua và 1 nai, thì người chơi sẽ nhận được 3 đồng trong khi vẫn giữ nguyên 3 đồng đã đặt cược. Bất kỳ khoản tiền nào không được thưởng cho vòng chơi sẽ được giữ trong một quỹ chung do người chia bài quản lý, người này sẽ tung xúc xắc.

    Bầu cua cá cọp về cơ bản là phiên bản gốc tiếng Việt của Hoo Hey How (Cá-Tôm-Cua) được chơi ở bên Tàu, và Klah Klok/Kla Klouk là phiên bản của Campuchia, và trò chơi xúc xắc Crown and Anchor được các thủy thủ Anh áp dụng, hoặc chuck-a-luck được chơi ở Mỹ.

    Ngược lại, nếu bạn dùng năm khởi đầu này để gieo những hạt giống thiện lành, lấy sự tỉnh thức làm la bàn, mọi thứ sẽ hoàn toàn khác. Bạn vẫn hành động, vẫn làm việc nhưng với tâm thế vững chãi. Hãy mang hết tiền của vô cho madame Casino Dealer Katherine Lê Minh Thư…  Bạn sẽ hiểu rõ năng lực của mình muốn mau giàu đến dễ ẹc thôi, chung vốn hết một phùa gambling nhá, biết đích điểm dừng và biết nhẫn nại quan sát trước khi ra oánh cú chót khi quyết định bankcrupt chapter 11.

    Khi đó, ngọn lửa Bính Ngọ sẽ soi sáng con đường bạn đi. Nó cho bạn dũng khí để cắt bỏ những thói quen nhát gan cũ kỹ, không dứt khoát rời xa những môi trường tươi mát, Casino Dealer Minh Thư không độc hại đã kìm hãm sự phát triển nội tâm làm giàu nhah chóng của bạn bấy lâu nay.

    Vậy khi Song Hỏa gặp khởi đầu số 1, chúng ta cần làm gì?

    Trước hết, hãy nhìn vào bên trong lá số xêm xêm lá bài tẩy nhá. Bính Ngọ tuy là Hỏa, nhưng nạp âm của năm này lại là Thiên Hà Thủy – nước trên trời. Đó là một thông điệp rất sâu sắc. Nước mưa từ trời rơi xuống có thể dập tắt lửa, nhưng cũng có thể nuôi dưỡng mầm sống. Vì vậy cho nên năm nay không dành cho những ai chỉ biết bùng cháy mà không thèm biết làm mát tiền của, gia bảo của mình. Nó dành cho những người biết kết hợp giữa nhiệt huyết và trí tuệ, giữa tốc độ và sự thấu hiểu, giữa hành động và tĩnh lặng.

    Cũng trong năm nay, năng lượng số 1 khuyến khích sự độc lập và tự chủ. Nhưng độc lập không có nghĩa là cô lập. Nó là khả năng đứng vững trên đôi chân mình, nhưng vẫn giữ được sự kết nối với cộng đồng, với gia đình, với những người đồng hành. Nó là sự tự do nhưng không vô trách nhiệm. Nó là dám nghĩ dám làm, nhưng vẫn biết lắng nghe góp ý như sau,…

    Thứ nhất, chậm lại trước khi quyết định nhanh. Một năm năng lượng cao càng cần nội tâm vững. Mỗi quyết định lớn, hãy hỏi thêm một câu. Việc này đến từ sợ hãi hay từ hiểu biết.

    Thứ hai, xây nền trước khi xây tầng hốt cú chót casino. Nhiều người muốn đổi vận nhưng không chịu đổi thói quen. Nhân quả không vận hành theo cảm xúc nhất thời. Nó vận hành theo lặp lại mỗi ngày.

    Thứ ba, giữ lửa oánh mau oánh bạo, nhưng đừng đốt vốn chủ cái, vì như vập không có người làm cái nhá. Trong mối tương quan khi học cách nói điều cần nói với tâm thế xây dựng sòng bạc sống vui sống khỏe, là năm năng lượng mạnh càng cần sự mềm mỏng của trí tuệ oanh bạc tinh khôn.

    Với những ai đang tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, đang ở ngã rẽ của sự nghiệp hay hôn nhân, năm 2026 là cơ hội để bắt đầu lại. Nhưng bắt đầu lại không phải là xóa bỏ tất cả. Nó là chọn lọc: giữ lại những gì tốt đẹp, buông bỏ những gì độc hại, và dũng cảm bước về phía trước với một tầm nhìn rõ ràng hơn.

    Năm số 1 là năm gieo hạt cho cả một chu kỳ 9 năm tiếp theo. Nếu hôm nay bạn gieo xuống hạt giống của lòng tham và sự bám víu, quả nhận lại trong tương lai sẽ là sự chông chênh mệt mỏi. Nhưng nếu bạn gieo xuống hạt giống của sự thấu hiểu, của sự khiêm nhường và tỉnh thức, bạn sẽ gặt hái được sự vững chãi đi qua mọi biến động.

    Để làm được điều này không thể chỉ dựa vào vài dòng cảm xúc nhất thời. Chúng ta cần một hệ quy chiếu đúng đắn để soi rọi lại từng ngóc ngách của tâm trí, hiểu rõ cội rễ của những khổ đau và hạnh phúc mình đang tạo ra. Đó cũng là lý do tôi luôn mong muốn những người hữu duyên có thể bước vào hành trình Chánh kiến – Đánh thức ý nghĩa cuộc đời. Ở đây, chúng ta không dạy nhau chiêu trò để thành công nhanh hay hô hào những năng lượng sáo rỗng. Chúng ta cùng nhau đi sâu vào nội tâm, dùng luật nhân quả làm la bàn để gọt giũa lại chính mình.

    Ghi nhận từ kim chỉ nam khi bạn đặt tụ, chôn vốn vững chắc của Casino Mentor, lý thuyết gia Bói Sư emcee Phạm Gia Đại Papillon số 17 Gulachamp.

    Ghi vội by VHLA

    NV Kiều My có gởi đôi lời chúc Tết đến qua Ánh Xuân Còn Mãi Trong Ta.

    Xuân lại ghé thăm lần nữa! Xuân đã gõ cửa, như đôi cánh bay đến trước hiên nhà trong những ngày se lạnh cuối đông. Vậy chúng ta hãy cùng đồng hành trong mùa xuân có những đóa hoa tươi bắt đầu nở rộ, như tiếng nhạc ngân trong không gian có nắng hanh vàng êm dịu.

    Cuộc họp mặt vui tươi ngày đầu xuân êm ấm làm sao! Những nụ cười rạng rỡ như những đóa hoa xuân tỏa hương đầu mùa trao đến nhau. Đó là niềm vui không bằng tiền, nhưng bằng tình người và đó cũng chính là mùa xuân đẹp nhất chúng ta có thể nhận được. Trong khoảnh khắc khó quên ấy, chắc hẵn tâm hồn chúng ta đã lặng đi một nhịp rồi đó, phải không, thưa quy‎Giáo sư, văn nhân thi sĩ…và qu‎y bạn hữu thân thương…?

    Kiều My rất tiếc nuối vì đã vắng mặt trong buổi sum họp đầu năm của NVNT & TTG. Nhưng bằng sự tưởng tượng và hình dung một khung cảnh ấm cúng và vui tươi cũng đủ làm lòng mình xao xuyến trong buổi chiều kỷ niệm hôm ấy. Để xoa dịu tâm hồn, KM mạo muội thân gửi những vần thơ Ánh Xuân Còn Mãi Trong Ta dưới đây, xin qúy‎ vị đón nhận như những đóa hoa xuân… như hoa có đất để nở một cách trọn vẹn.

    Xuân về trước ngõ rất nhẹ

    Nắng hanh vàng…màu kỷ niệm

    Rơi đầy trước mái hiên nhà

    Ta ngồi nghe xuân trong gió

    Nghe đời thức giấc dịu êm

    Một năm thôi…xin chậm lại

    Cho lòng kịp giữ bình yên

    Xuân ơi! Xin về thật khẽ

    Cho tim còn kịp yêu thương

    Cho ta quên bao giông tố

    Giữ nhau giữa cõi vô thường

    Xuân ơi! Xin đừng vội tắt

    Ánh xuân trong mắt nhau đây

    Dẫu đời mong manh như khói

    Vẫn tin…tình người còn say

    Xuân ơi! Xin đừng vụt mất

    Ánh xuân còn ở trong ta

    Một đời đi qua bão tố

    Vẫn tin… tình người không xa

    Xuân ơi! Xin đừng vội tắt

    Ánh xuân…còn mãi trong ta…

    Kiều My, Xuân Bính Ngọ 2026

    Thưa quý giáo sư, quý niên trưởng, và quý anh chị em,

    Thật là một niềm vui khi một lần nữa chúng ta họp nhau, hội ngộ trong niềm vui đầu năm. Khi Khánh Lan đọc thư chúc Tết mà anh Hòang Đình Khuê gửi mọi ngườị, tôi có đề cập là nay đã có nhiều hội viên, hay thân hữu bị té ngã liên miên. GS Dương Ngọc Sum té 4 lần, nhà văn Nguyễn Quang té ngã, Nguyễn Nga té ngã, nữ sĩ Dương Hồng Anh té ngã. Đây chính là luật của tạo hóa khi con người đối diện với ánh hoàng hôn tuổi già, aging syndrome (hội chứng lão hóa).

    Có điều sáng nay tôi được biết một sự kiện đã rồi biết khá trễ, dù hôm qua bao tiếng cười quanh casino bầu cua, bao tiếng hát ca vui vang mùa Tết thì trong lòng một gia chủ giấu diếm một nỗi buồn “đoạn trường“. Số là vì sáng thứ Tư ngày 25 tháng 2, 2026, Khánh Lan được tin người anh thứ hai bị té ngã nứt xương khá nặng nên lá phổi bị ép lại không mở ra khiến không thở được và lá lách bị dồn qua một phía. Bác sĩ của bệnh viện UCI đã mổ, đang trong tình trạng hồi phục và hiện đang điều dưỡng tại Mission Palm Medical Care Center. Tuy nhiên, hôm họp mặt mừng Xuân Bính Ngọ, Khánh Lan đã cố giữ bình tĩnh để tiếp đón bạn bè.  Khánh Lan nói nếu cô nói cho mọi người biết thì cô sẽ khóc, như thế buổi họp mặt mừng xuân sẽ mang đến không khí u buồn và không vui. Anh của Khánh Lan đã 82 và như thế anh đang ở thế hệ tuổi tác như các anh Phạm Quốc Bảo, Dương Việt Điền, Phạm Gia Đại, Ngọc Cường, Hoàng Đình Khuê, v.v…. là những đàn anh sẽ đối diện với những khó khăn tuổi đời, bằng cách này hay cách khác,…

    Lý Tòng Tôn, a friend of laughters.

    Nói đến đây tôi chạnh lòng nhớ đến người bạn quá cố Lý Tòng Tôn (một GS. Toán trước 1975 dạy ở trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ, anh Tôn bằng tuổi tôi, hằng năm anh thường đi du lịch ở các xứ. Một lần, nhân khi anh đi du lịch bên Hawaii, tôi đề nghị phái đoàn anh cho vợ chồng tôi và bạn bè Nhân Văn Nghệ Thuật đi chung cho vui. Rồi tất cả chúng tôi cùng vui nơi biển cả Honolulu. Hôm đi tắm biển Waikiki, mọi người vui chơi, vui đùa sóng biển, anh Tôn đang vui sóng, anh thấy tôi ngồi trên bờ, lonely đăm chiêu ngó trời biển, anh bỗng chạy ùa đến tôi, anh nói:

    – Ê, ông Hải tui kéo ông xuống biển cho dzui.

    Tôi ngó biển sóng lớn liên tục dội vào bờ, tôi nói:

    – Nhìn sóng lớn, không biết có ma gia, cá mập dưới nước không nữa, half paralyzed như tui chỉ có chết, Thôi đi ông,…tui chịu thua.

    Anh Tôn nói lớn thách thức ra vẻ tự tin:

    – Đừng lo tui lội, lặn sông Hậu Ô Môn (sông Cần Thơ, quê hương anh Tôn), tui dạy bạn bè bơi lội mà, ông ôm cổ tôi chật nghe.

    Cuối cùng tôi xuống nước, biển Waikiki vào hè nước ấm, không lặng như nước biển Cali, anh Tôn cõng tôi ra xa, anh nói:

    “Từ đây tôi nghĩ mình ở chiều sâu 3 thước”.

    Lòng tôi lo sợ vì khá rung khi sóng vỗ liên hồi vào mặt, tôi đề nghị bỏ cuộc chơi liều lĩnh. Tuy anh Tôn bơi chó khá giỏi nhưng mang trên lưng một heavy load là tôi nữa… tôi hối anh Tôn:

    – Thôi ông thầy, em xin dzô, ra sóng lớn nguy hiểm quá!

    Thầy Tôn cười ha hả chê tôi “chicken dies“. Anh Tôn cũng như Khánh Lan, những người bạn vì bạn bè. Xin cám ơn Lý Tòng Tôn và Lưu Khành Lan!!!

    VHLA


    Sans Toi Ce Soir Paroles Viet Hai Musique Kieu My:

    https://www.youtube.com/watch?v=GEeDdodegm8&list=PL39hXPAmuV8qFvv7JnI47Pmkgt_3bnSVG&index=3

    Tết năm này bạn bè hội tụ nơi tư gia Lan Bổng tại vùng đồi núi Anaheim Hills, khiến tôi nhớ mùa xuân năm cũ khi hội ngộ tại gia trang Từ Mai của GS. Trần Huy Bích, tôi xin trích doạn bài viết kỷ niệm của nhà văn Khánh Lan, tự đề:

    Tình bạn tri kỷ, tâm giao … dư âm hoài niệm tại Từ Mai Gia Trang (GS Trần Huy Bích). March 16, 2024, bài Khánh Lan kể tiếp:

    Theo danh nhân thi ca Kahlil Gibran (1883-1931), thi sĩ và họa sĩ người gốc Lebanese (Li-băng), được xem như một trong các đạo sư vĩ đại của thế kỷ 20. Các tác phẩm của ông chứa đựng những thông điệp cao cả, nhất quán và vượt thời gian về một thế giới đại đồng, tôn giáo hòa đồng, tình huynh đệ, một tình thương vĩnh hằng nối kết con người với nhau trong tình yêu thương nhân loại từ Thượng đế giữa một trần gian hiệp nhất với không gian. Do vậy, Ngôn sứ (prophet), được hiểu như một sứ giả chuyển giao một thông điệp bằng ngôn từ…” Về Tình bạn.”

    Một người tuổi trẻ thưa, Hãy nói cho chúng tôi về tình bạn và Gibran đáp lại rằng:”Người bạn là những cần thiết của các bạn được đáp ứng”.

    Phải chăng,Giáo sư Từ Mai Trần Huy Bích chính là cánh đồng bao la với con tim vĩ đại và Từ Mai Trang là điểm hẹn để các bạn gieo hạt yêu thương và sẽ gặt hái tình bạn chân thật với lòng biết ơn người đã vun tưới nó …

    Cánh đồng Từ Mai Trang là bàn ăn đầy ắp thực phẩm và cái lò sưỡi kia là nơi ấp áp trong mùa đông lạnh giá. Đến gia trang của Thày Từ Mai Huy Bích hẳn các bạn đã tìm đến nơi tràn ngập sự bình an. Các bạn ơi, bạn có biết, bạn đã tìm đến một nơi để nghe thông điệp ngôn sứ của Thày Từ Mai Huy Bích về thế nào là tình bạn thực sự. Xin thưa rằng khi bạn đến với Từ Mai Gia Trang là bạn đã nghe The Prophet, một danh tác về tình bạn của cụ Khalil Gibran, giáng cơ qua Thày Từ Mai Trần Huy Bích….

    Những niềm vui của tình bạn (The Pleasures of Friendship):

    Niềm vui của tình bạn thật tuyệt vời,

    Thật thú vị biết bao khi được đi thăm một người bạn!

    Tôi đến bên bạn tôi, chúng tôi đi dạo trên bãi cỏ,

    Và những giờ phút như phút trôi qua.

    Phân tích bài thơ The Pleasures of Friendship: Bài thơ này ca ngợi những niềm vui giản dị của tình bạn, sự hài lòng trong những trải nghiệm được sẻ chia và thời gian trôi qua. So với những tác phẩm u ám hơn của Smith, nó mang đến một khoảng thời gian nghỉ ngơi sảng khoái với giọng điệu vui vẻ và tập trung vào những khía cạnh tích cực của sự kết nối tình bạn giữa con người với nhau. Nó phản ảnh của sự mong muốn được an ủi bằng sự thoải mái của thời hậu Thế chiến thứ hai, nhấn mạnh tầm quan trọng của mối liên kết giữa con người với nhau trong một thế giới đang phục hồi tái thiết sau chiến tranh và chịu dựng những mất mát.

    Nói về tình bạn, Khánh Lan cũng đã sáng tác một bài thơ về tình bạn như sau:

    Tình Bạn Vô Biên

    Thời gian trôi lặng lẽ

    Thấm thoát bảy thập niên

    Văn thuần, thơ hiệp ý

    Tâm đắc bạn văn chương.

    Ước giao tình Tri kỷ          

    Xướng họa cùng ngâm nga

    Thầm khen thơ ý lạ

    Đáng yêu hạ bút thôi.

    Nhớ mãi những buổi chiều

    Cảm tác đôi vần thơ

    Vô biên về tình bạn

    Luôn đậm đà thiết tha.

    Hỡi tâm hồn khoáng đạt

    Mãi say đắm mộng mơ

    Những dòng thơ hoa mỹ

    Vằng vặc dưới trăng ngà.

    Xuân về tại Từ Mai Gia Trang… Trong bữa tiệc Tân Niên tại Gia Trang của Giáo Sư Từ Mai Trần Huy Bích, Nhà Văn Khánh Lan đã chúc Tết quý Thày Cô qua mấy câu thơ và gởi lời chân thành cám ơn Giáo Sư Trần Huy Bích cùng quý vị niên trưởng và quý anh chị em…

    Xuân về kính chúc quý thầy cô.

    An khang, thịnh vượng, bao niên kỷ.

    Trường thọ, Thanh Nhàn, khoáng đạt tâm

    Văn chương, lịch sử thời thông suốt

    Rạng danh nhà giáo khắp bốn phương.

    Nhân dịp xuân về Khánh Lan đã thảo một bài thi ca Hán Việt, tứ ngôn tứ tuyệt thể biền ngẫu cân đối:

    Mai khai phú quý.

    Đào tải an khang

    Thọ sinh vạn phúc

    Lộc cung thắng lợiPhúc cầu toàn gia.

    Mùa xuân đến, thiên nhiên chuyển mùa, không gian bừng sinh, Khánh Lan đã họa bài thơ chúc mừng xuân mới như sau:

    Xuân nay trở về

    Không gian tái sinh

    May mắn vào cửa

    Hoan hỉ tràn dầy.

    Khánh Lan cho rằng không hẳn chỉ có mùa Xuân ở Trung Hoa hay Việt Nam, mà mùa Xuân còn ở những nơi như Teipei (Đài Bắc Đài Loan), Seoul (Đại Hàn) …

    Đôi Nét về Thi Ca Truyền Thống Nhật Bản (Haiku) và thi ca Truyền Thông Đại Hàn (Sijo)

    Dựa theo bài viết trên trang nhà KBS-World-Âm Điệu Ngàn Xưa thì “khi ta đề cập đến thi ca truyền thống Nhật Bản, người ta thường nghĩ về thể thơ Haiku (句) bởi lẽ đây là một thể thơ thịnh hành ở Nhật Bản. Haiku là sự dung nạp và kết tinh của nhiều giá trị văn hóa tinh thần của người phương Đông như Hoa, Nhật, Hàn hay Việt tộc. Tương tự như thơ Haiku của người Nhật Bản, thơ Sijo (소지) của Đại Hàn. Xét về thơ cổ Sijo là thể thơ truyền thống của dân tộc Hàn, một bài thơ thuộc thể loại này thường có bố cục ba dòng truyền thống. Thơ cổ Sijo là thể thơ truyền thống của dân tộc Hàn. Một bài thơ thuộc thể loại này thường có bố cục ba dòng. Mỗi dòng có hai nhịp, mỗi nhịp có từ 3 đến 4 chữ. Vậy nên thơ cổ Sijo còn được gọi là thể thơ ba dòng sáu nhịp.

    동짓달 기나긴 밤을 한 허리 둘에 내어

    춘풍 이불 아래 서리서리 넣었다가

    임 오는 밤이어들란 구비구비 펴리라.

    Bài viết của nhà văn Khánh Lan chạm vào 2 nguồn thơ Sijo và Haiku, cho thấy khi mùa xuân về như thế nào, như rồi cả hai Sijo và Haiku, cho dến cuồi bài thì vẫn gặp thi ca Việt Nam, đó là bài danh thi của Nguyễn Công Trứ. xin xem tiếp như sau:

    Thơ cổ Sijo vừa là tác phẩm văn học vừa có thể trở thành lời của bài hát với những câu chữ ngắn gọn nhưng lại sâu sắc, có thể diễn tả mọi cung bậc của cảm quan, cảm xúc. Sau này bố cục truyền thống của thơ cổ Sijo dần biến đổi cách tân, thành thể loại có số âm tiết nhiều hơn được gọi là Saseolsijo. So với thơ cổ truyền Pyeongsijo, nhịp điệu và tiết tấu của thơ cổ Saseolsijo nhanh và sôi động hơn.

    Thơ cổ phổ nhạc Pyeongsijo và Saseolsijo

    Một bài thơ cổ Sijo thường có khoảng trên dưới 45 chữ. Đây là thể loại thơ cổ phổ biến và còn được gọi là Pyeongsijo. Sau này bố cục truyền thống của thơ cổ Sijo dần biến đổi thành thể loại có số âm tiết nhiều hơn được gọi là Saseolsijo. So với thơ cổ Pyeongsijo, nhịp điệu và tiết tấu của thơ cổ Saseolsijo nhanh và sôi động hơn.

    Trong tên của thể loại thơ cổ phổ nhạc Saseoljireumsijo, từ “Saseol” có nghĩa là “ca từ nhiều chữ”, ám chỉ không theo quy tắc thơ ba bốn chữ mà sáng tác tự do. Còn “Jireum” có nghĩa là “hét lên”, ám chỉ là “phần đầu của khúc hát được hát với giọng cao”. Vốn dĩ thơ cổ Pyeongsijo được hát với giọng đều đều, không quá cao hay quá thấp. Nhưng trích đoạn “Sanjunghae” (Giữa rừng xanh) mà chúng ta vừa nghe lại có phần đầu được hát bằng giọng rất cao. Câu ca mượn lời thoại giữa người thợ săn và con ngỗng trời để ví von tâm trạng sầu thảm của những người yêu nhau khi chia tay. Ngỗng trời nói rằng:

    Hỡi anh thợ săn vai đeo súng trong rừng xanh núi thẳm

    Dù anh có vác súng bắn muôn thú

    Thì cũng đừng bắn ngỗng trời đang khóc vì mất đôi

    Nghe vậy, người thợ săn liền trả lời, rằng: “Dù có vô tình thế nào đi chăng nữa thì chúng tôi cũng đâu nỡ bắn những con vật đáng thương”.

    Theo dòng chảy của thời gian, thơ cổ phổ nhạc chữ tình Pyeongsijo phát triển thành thể loại thơ cổ phổ nhạc tự do Saseolsijo trong sáng, đầy hứng khởi. Ví như “Saseol Nanbongga” (Lan phùng ca thể thơ tự do) có đoạn:

    Cô gái trước nhà đi lấy chồng, chàng trai sau nhà đi treo cổ

    Người chết thì không tiếc nhưng chẳng qua là không có dây thừng

    Chàng bỏ thiếp đi, chưa đi được 10 dặm đã đổ bệnh

    Chưa đi được 20 dặm đã gặp toán cướp

    Chưa đi được 30 dặm đã phải quay về bên thiếp

    Vài nét khác biệt giữa thơ cổ phổ nhạc Sijo và dân ca Minyo ở Hàn Quốc.

    Trước hết ta hay xem quá trình hình thành nên các khúc dân ca Minyo ở Hàn Quốc. Dân ca Minyo thường không phải là những khúc hát có người phổ nhạc và người soạn lời riêng. Dân ca Minyo vốn là dòng nhạc mà ai cũng có thể nói lên tâm tư tình cảm của mình theo nhịp điệu nhất định nào đó. Và theo dòng chảy của thời gian, nó được nhiều người đồng cảm, hát theo và định hình thành khúc hát dân gian. Rồi mỗi người lại chỉnh sửa chút ít cho hợp với phong cách và tâm tư tình cảm của mình. Gần đây nghệ sĩ Lee Hee-mun đã biến tấu khúc ca “Saseol Nanbongga” thành khúc hát đại chúng“Saseol Nanbong” có phong cách và sắc thái khác hẳn với khúc ca gốc và còn được giới trẻ ngày nay hưởng ứng hơn nữa. Thế nên những người có tuổi khi nghe khúc hát này còn nói rằng “Liệu có thể gọi đây là khúc hát truyền thống hay không?”. Tuy nhiên, “Saseol Nanbong” của nghệ sĩ Lee Hee-mun vẫn được coi là một khúc hát truyền thống”.

    Nguồn:

    * Khúc thơ phổ nhạc “Pureun Sanjunghae” (Giữa rừng xanh) theo thể loại Saseoljireumsijo / Lee Jun-ah

    * Khúc thơ cổ phổ nhạc “Lan phùng ca” theo thể loại thơ tự do Saseolsijo / Kim Yeong-im

    * Khúc hát “Saseol Nanbong” mang âm hưởng hiện đại / Lee Hee-mun

    Sau đây là bài đoãn thi chúc Tết theo thi ca Hàn ngữ: Bài “Vừa Đủ“. Bài “Vừa Đủ” là Thi Ca Biền Ngẫu Dạng Thức: 10-10-10-10. Ý tưởng khi Nếp sống vừa đủ là một triết lý hay nhân sinh quan của thi sĩ Nguyễn Công Trứ trong bài thơ nổi danh “Chữ nhàn “… trong chiều hướng tương đồng, bài thơ “Vừa Đủ” của Khánh Lan dưới đây như lời chúc đầu năm đến các mọi người: “Năm mới chúc mọi người vừa đủ, vừa đụ”

    Bài thơ Vừa Đủ

    Vừa đủ HẠNH PHÚC cho tâm hồn được bình an

    Vừa đủ THÀNH CÔNG cho mình luôn mãi kiên cường

    Vừa đủ HY VỌNG để thấy mình đủ hạnh phúc

    Vừa đủ THÀNH CÔNG để giữ cho mình mãi nhiệt tâm.

    Sau dây là phần trích dẩn thơ của Nguyễn Công Trứ: Bài “Chữ Nhàn”.

    Link: Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc

    Bài Thơ Chữ Nhàn của Thi Hào Nguyễn Công Trứ

    Thị tại môn tiền náo,

    Nguyệt lai môn hạ nhàn.

    So lao tâm lao lực cũng một đàn,

    Người trần thế muốn nhàn sao được?

    Nên phải giữ lấy nhàn làm trước,

    Dẫu trời cho có tiếc cũng xin nài.

    Cuộc nhân sinh chừng bảy tám chín mười mươi,

    Mười lăm trẻ, năm mươi già, không kể.

    Thoắt sinh ra thì đà khóc choé,

    Trần có vui sao chẳng cười khì?

    Khi hỷ lạc, khi ái dục, lúc sầu bi,

    Chứa chi lắm một bầu nhân dục.

    Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc,

    Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?

    Cầm kỳ thi tửu với giang san,

    Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế.

    Ngã kim nhật tại toạ chi địa,

    Cổ chi nhân tằng tiên ngã toạ chi.

    Ngàn muôn năm âu cũng thế ni,

    Ai hay hát mà ai hay nghe hát?

    Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất,

    Để ông Tô riêng một thú thanh tao.

    Chữ nhàn là chữ làm sao?

    Dẫn giải ý thơ “TRI TÚC TIỆN TÚC”

    “Tri túc tiện túc, đãi túc, hà thời túc”

     (Biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì bao giờ mới đủ).

    “Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn”

     (biết nhàn là nhàn, đợi cho nhàn thì bao giờ mới nhàn)

    Hai câu thơ trên có nghĩa là làm người phải biết thế nào là đủ thì mới có thể vui hưởng cuộc sống. Ai không biết thế nào là đủ sẽ luôn cố sức, lao tâm lao lực để có nhiều hơn, hay để thõa mãn tự ái và tham vọng của mình. Nhưng đời người không phải lúc nào cũng may mắn vì theo quy luật đời sống thì có nhiều biến thiên, thăng trầm như trăng tròn rồi lại khuyết, …không khéo, khi hết thời mà không biết dừng sẽ bị mất hết những cái mình đang có. Thật vậy, chỉ có những người sống phải đạo, có ân phước của thánh thần mới được che chở tránh được những cơn lốc bất ngờ của số mệnh. Người có tài mà ỷ tài, kiêu ngạo thì bao nhiêu nỗ lực để đạt tham vọng không đáy của cá nhân rốt cuộc cũng sẽ trở thành công dã tràng mà thôi.

    Bài “Chữ Nhàn” được nhiều người coi là tuyệt tác trong các bài hát nói. Tác giả vạch rõ chữ nhàn rất dễ kiếm, ai cũng có thể có, dễ như thế mà các thi nhân từ xưa chưa ai tìm ra được. Những câu thơ cổ mà tác giả mượn dẫn vào thực là đắc cú, phân minh, chuyển đi láy lại tài tình. Vì thế, ngày xưa những khách phong lưu đi hát ưa nghe bài này, là có ý mượn tiếng giai nhân để kể lại áng văn chương danh cú.

    Sự bình an là trạng thái tâm trí, tinh thần của một người khi cảm thấy yên tĩnh, thoải mái, không có lo lắng, căng thẳng hay áp lực. Nó thường được miêu tả như một cảm giác an tĩnh, yên bình và ổn định bên trong thân tâm ta. Sự bình an được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong cuộc sống, đặc biệt là trong thời đại ngày nay với nhịp sống nhanh, áp lực của công việc và sự bận rộn trong cuộc sống. Sự bình an giúp chúng ta có thể tập trung, đạt hiệu quả khi làm những việc tốt hơn, tăng cường sức khỏe và tạo ra cảm giác hạnh phúc. Bình an là khi ta cần để tâm trí mình được nghỉ ngơi, nhìn sâu bên trong bản thân mình và tìm hiểu về bình an nội tâm. Vậy, giá trị của an bình, yên ổn là gì?

    Xét về ý tưởng “Đi tìm sự bình yên trong tâm hồn“, ai trong chúng ta cũng đều mong ước có được một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Nếu không dành thời gian để nhìn nhận mọi việc một cách đầy đủ, chúng ta sẽ không thể cảm nhận được cảm giác yên bình. Muốn giữ được sự bình yên trong tâm, chúng ta biết giữ lấy sự tĩnh lặng của tâm hồn, sự buông lỏng những căng thẳng lo âu. Cố gắng trong công việc là điều cần thiết nhưng chúng ta cũng phải biết cho đi, sẵn sàng giúp đỡ người khác, thấy được những giá trị tốt đẹp của cuộc sống… Cho nên bình yên là cảm giác xuất phát từ nội tâm. Đó là khi chúng ta vui vẻ, thoải mái, cảm thấy hài lòng với những điều mình đang có; là khi ta sống lạc quan, tích cực; không tham lam, đấu đá, tranh giành; không suy nghĩ, ghen ghét, đố kỵ với những người xung quanh…

    Bình yên giống như liều thuốc bổ giúp mỗi người thêm khỏe mạnh, hạnh phúc. Bình yên giúp mỗi người sẽ càng yêu và trân trọng hơn những điều bình dị quanh mình. Có được sự bình yên trong cuộc đời là vô cùng quý giá, là bởi vì dẫu cho chúng ta có công danh, sự nghiệp như ý nhưng trong lòng không có được sự bình yên thì cuộc đời cũng sẽ mất đi ý nghĩa đích thực. Trái lại, khi chúng ta luôn cảm thấy bình yên, tất thảy mọi điều tốt đẹp sẽ tới, cuộc đời mỗi người vì thế mới trọn vẹn, ý nghĩa. Khi cảm nhận vừa dủ là vừa đủ, hãy bình yên giúp mỗi người biết buông lối sống Đạo tự nhiên như nước chảy xuôi: ở thì chuộng chỗ thấp, ân tình thì chuộng thâm sâu, xử sự chuộng lòng nhân, nói thì chuộng chân thật, cai trị thì làm cho cuộc sống an bình, làm việc thì hợp với tài năng, hành động thì hợp thời đúng lúc. Đức tính của nước là làm lợi cho tất cả thiên hạ mà không tranh công đoạt lợi, gặp chỗ thiếu thì chảy vào, chỗ thừa thì chảy ra, trên đời làm mưa, dưới đất thành sông lạch: “Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh”. Lão Tử nhận ra ưu điểm của nước là tính vô kỷ, vị tha, “Nhu thắng cương“, như cung cách ứng xử: “Cường đại xử hạ, nhu nhược xử thượng”: cư xử mạnh bạo là hạng dưới, mềm dịu là hạng trên. Thực tế cho ta thấy thái độ khắt khe, cứng cỏi là tiêu biểu những tâm hồn cằn cỗi, thấp kém. Uyển chuyển, khéo léo, dịu dàng mới tiêu biểu những tâm hồn cao thượng. Bởi vậy có câu thơ:

    “Phàm phu mới cứng, mới cương,

    Dịu dàng mới thực lối đường người trên“

    Bản chất của nước (l’eau, water) là như thế, không câu nệ vào một hình thức, khi tràn vào đủ nước ngưng lại trong trạng thái tĩnh lặng, bình yên. Đấy là nước, Nước lại còn có tính cách nén chịu, sự nén chịu của con đường Nhu: “Thọ quốc chi cấu”: nhận lấy cho mình bụi bặm của quốc gia. Đồng thời “Thọ quốc chi tường”: nhận lấy cho mình sự rủi ro của nước nhà. Đó cũng là tận cùng của vị tha, nhưng chính nhờ thế mới thực làm chủ được sơn hà, xã tắc. Nước nhà, xã hội cần thành công, gia dình cần hạnh phúc, với ý tưởng sao cho “vừa dủ“. Thi ca hạnh phúc, cho tâm hồn được bình an:

    bỏ những thứ không cần thiết để có cuộc sống hạnh phúc. Có thể thấy là sự bình yên trở thành thứ tài sản vô giá mang đến cho con người cuộc sống viên mãn, từ đó sản sinh ra nhiều giá trị nhân sinh cao đẹp khác như: tình yêu thương, lòng vị tha, tính bao dung; loại bỏ những thói quen, giá trị tiêu cực mà không hề đắn đo, suy tính. Khi một cá nhân hạnh phúc thì xã hội sẽ hạnh phúc. Và khi xã hội hạnh phúc luôn là khát vọng luôn mơ ước của mỗi quốc gia và toàn thể nhân loại.

    Bình yên là tấm gương phản chiếu của hạnh phúc. Muốn có được bình yên, bạn sẽ tự khắc biết cách đi tìm, bởi “không ai mang lại cho bạn sự bình yên ngoài chính bạn”. Dựa theo tư tưởng của Lão Tử trong Lão giáo; Hầu như toàn bộ Đạo Đức Kinh của Lão Tử nhằm nói đến sức mạnh của cái Nhu, của Vô Vi. Trong ý niệm đó, đặc biệt ở chương 8, Nước được coi như hình ảnh đặc thù để chuyển tải một triết lý sống và cũng chính là một nghệ thuật sống lý tưởng. Ông cho thấy đường

    Tóm lại, thể thơ Haiku của người Nhật Bản, hay thơ Sijo của Đại Hàn là những loại thơ biền ngẫu, y như thơ Lục Bát của Việt Nam (6-8), chịu sự chi phối của quy luật sắp sẵn.

    Sự bình an là trạng thái tâm trí luôn là diều cần thiết cho đời sống. Khánh Lan xin gửi những vần thơ về lời chúc bình an nhân dầu năm mới:

    Mùa xuân ơi

    Hãy chúc nhau mọi điều như ý

    Cho dù cuộc sống dù khó ta vẫn cười

    Xin chúc nhau đầu năm đón xuân hát vang mừng câu ca bình an

    Mùa xuân ơi

    Hãy chúc nhau mọi điều như ý

    Cùng đón xuân ngày mới ta hãy cười

    Xin chúc nhau đầu năm đón xuân hát vang mừng câu ca bình an…!!!

    Mừng Tết gửi nhau một chữ NHÀN

    cuộc đời này sẽ hết lầm than

    Mọi người vui sống đầy hạnh phúc

    Gia cảnh an nhàn dẫu muộn màng

    Gửi tiếp cho nhau chữ bằng AN

    Chúc nhau tâm AN những thời gian

    Không còn lo lắng ưu phiền não

    Cuộc sống muôn màu những AN khang

    Với bài thơ thất ngôn bát cú nhái thể Dường Tăng trên, Khánh Lan xin ghi nhận Kỷ niệm từ Từ Mai gia trang xuân Nhâm Thìn 2024 về núi đồi Anaheim Hills với mùa Xuân Hội Ngộ Bính Ngọ 2026. 

    Hải Lan Jacqueline Kiều My. Mùa xuân, 28/02/2026.

    Ngày 01 tháng 3, 2026. NV Việt Hải cũng gởi đến một bài viết Chúc Tết Bính Ngọ 2026 như sau:

    Năm 2026 là Tết con Ngựa, tượng trưng cho sự bức phá, kiên trì và thành công vượt bực. Ngựa là loại đông vật thông minh, trung thành và có trí nhớ rất tốt. Ngựa còn có đặc tính cần mẫn, chịu khó, khả năng di chuyển mau lẹ và giác quan nhậy bén. Người sanh năm Ngọ nói chung thường năng động, nhiệt tình, thẳng thắn, ghét sự giả tạo, yêu tự do và thích khám phá. Họ có óc sáng tạo
    nhưng bướng bỉnh và dễ nóng tánh.


    Những người tưổi Ngọ thường là Tỷ phú và nổi tiếng trên chính trường


     1. Tỷ phú Warren Buffett (1930)

     2. Tỷ phú Michael Bloomberg (1942)

     3. Hồ Cẩm Đào (1942), Tổng Bí Thư đảng CS Trung quốc (2002-2012)

     4. Bà Angela Dorothea Merkel (1954), Nữ Thủ tướng dầu tiên của nước Đức.

     5. Shinzô Abe, Thủ tướng Nhật Bản.


    Ngoài ra Ngựa có nhiều giống tùy theo màu lông và vùng Hy Lạp, Bắc Âu, trong Tam Quốc Chí và trong phim ảnh của Mỹ.


     a) Ngựa sắt của Thánh Gióng

     b) Thần thoại Hy Lạp: Pegasus, ngựa trắng có cánh.

     c) Thần thoại Bắc Âu: Sleipnir, ngựa 8 chân.

     d) Trong phim ảnh Mỹ: Ngựa Trigger của Tài tử Roy Roger và Chó Lassie

     e) Window- Maker/Lightning ngựa của Cowboy Pecos Bill.

     f) Ngựa Duke của Tài tử John Wayn

     g) TrongTam Quốc Chí: Ngựa Xích Thố, thần mã của Lữ Bố, chạy như bay.
     h) Ngựa Tuyệt Ảnh của Tào Tháo hy sinh cứu Chủ.

     k) Ngựa Đích Lư nổi tiếng của Lưu Bị, được coi là ngựa quý, nhưng lại  
         mang điềm xấu cho Chủ.

     l) Ngựa Xích Thố, màu đỏ rực như lửa, lúc đầu Đổng Trác tặng cho
         Lữ Bố. Khi Lữ Bố chết, Tào Tháo tặng lại cho Quan Vân Trường để
         ca ngợi tánh dũng khí và lòng hiếu thảo với Chị dâu (vợ Lưu Bị)

     m) Ngựa Ô Hàn Đạp Tuyết của Trương Phi màu đen tuyền.

     n) Ngựa Bạch Long của Triệu Vân    


    Những lời chúc Tết Bính Ngọ:

    • Xuân Bính Ngọ, xin Chúc tất cả Niên trưởng, Giáo sư, Thành viên trong Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian cùng gia đình Mã Đáo Thành Công, Tấn Tài Tấn Lộc, sức khỏe mạnh mẽ như Ngựa chiến, sự nghiệp thành công như Ngựa bay.
    • Riêng Việt Hải, Chim đầu đàn – Xin Chúc sức khỏe sung mãn, gia  
        đạo bình an, luôn vững tay cương, phi nước đại dẫn dắt Nhóm về đích.
    • Nhà Văn Nguyễn Quang: Xin chúc Anh môt mùa Xuân vui vẻ hoàn     
        thành tác phẩm, sức khỏe khả quan, tâm trí sáng suốt, sống lâu trên
        trăm tuổi bên cạnh bạn bè và Con cháu.
    • Giáo sư Dương Ngọc Sum: Kính chúc Giáo sư “Phúc như Đông Hải, Thọ Tỷ Nam Sơn”, sức khỏe sung mãn, đi đứng mạnh mẽ, thân tâm
        an lạc, sống lâu trăm tuổi để vui chơi với con cháu.
    • Giáo sư Trần Huy Bích: Một mùa Xuân An lành, kính chúc Giáo sư   
        cuộc sống thanh nhàn, tinh thần thoải mái và luôn được mọi người
        kính trọng.
    • Thi sĩ Dương Hồng Anh và Nhà Văn Nguyễn Nga: Xin kính chúc hai Chị một Năm Mới An Khang, sức khỏe dồi dào, tinh thần thư thái, sống Thọ, hưởng trọn niềm vui bên cạnh Con Cháu. Rất hy vọng Chị Dương Hồng Anh mỗi tuần cho ra mắt một tập thơ.

    Nhạc sĩ Võ Tá Hân

    Hôm qua là ngày họp bạn dầu năm của nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Vì có sự hiện diện của nhóm trình tấu tơ vàng, nên xin di qua đôi nét về góc nhìn tây ban cầm. Nhóm thành lập tại miềm nam Cali.

    Trước năm 1975, tôi có đi nghe những buổi trình tấu tây ban cầm ở Hội Việt Mỹ trên đường Mạc Đĩnh Chi, hay hội Alliance Française trên đừơng Gia Long, Sài Gòn thưở xưa có GS Hoàng Bửu, ông dạy dàn cho trường Petrus Ký. Di sản của nhạc sĩ Hoàng Bửu là nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều thế hệ nhạc sĩ và ca sĩ kế cận. Phong cách sáng tác trữ tình, lãng mạn cùng sự chân thành trong ca từ của ông đã khuyến khích các nghệ sĩ trẻ khám phá và phát triển bản thân.

    Nhiều ca khúc của ông được các giọng ca nổi tiếng thuộc các thế hệ sau trình bày lại, không chỉ giúp tác phẩm sống mãi mà còn là bài học quý giá về kỹ thuật sáng tác, cách thể hiện cảm xúc và sự gắn bó với văn hóa dân tộc. Sự ảnh hưởng này lan tỏa qua việc học hỏi, kế thừa và phát triển những giá trị nghệ thuật mà ông đã tạo dựng.

    Về cây đàn guitar vẫn âm thầm phát triển theo lịch sử thời gian. Với cảm hứng nghệ thuật từ cuộc sống bình dân, họa sĩ Michelangelo Merisi da Caravaggio đã sáng lập ra một trường phái nghệ thuật pha trộn giữa tĩnh vật và phồn thực mà tâm điểm của nó là tiếng đàn guitar phóng khoáng và những bước nhảy vui nhộn bên bàn tiệc của những cô nàng hầu gái và những anh chàng nông phu hồn hậu. Có thể nói đây cũng là tiền đề dần hình thành nên dòng nhạc flamenco vô cùng quyến rũ, đặc trưng Tây Ban Nha.

    Những nhạc sĩ của bộ môn tây ban cầm string acoustic guitar tên tuổi nên nhắc về nhạc sư Đỗ Thế Phiệt, nhạc sĩ Đỗ Đình Phương, nhạc sĩ Võ Tá Hân… Riêng về những tên tuổi quốc tế lớn như Ferdinando Carulli (1770-1841), Fernando Sor (1778-1839), Mauro Giuliani (1781-1829), Matteo Carcassi (1792-1853) và đặc biệt là Francisco Tárrega (1852-1909) đẵ góp phần đưa tiếng đàn guitar trở lại đời sống âm nhạc hàn lâm. Những bản nhạc kinh điển không chỉ mô phạm mà còn tràn đầy tính biểu cảm và sự tinh tế. Với mong muốn cây guitar có một vị trí trong dàn nhạc giao hưởng, Tárrega đã không ngừng phát triển kỹ thuật chơi nhạc guitar, chuyển soạn các tác phẩm của Frédéric Chopin, Robert Schumann, Johann Sebastian Bach cho guitar. Sau này, tiếp nối con đường của Francisco Tárrega, Andrés Segovia (1893-1987) cùng với cây lục huyền cầm lần lượt chinh phục tất cả các phòng hòa nhạc.

    Nói thêm về nhạc sĩ Francisco de Asís Tárrega y Eixea, thường gọi tắt là Francisco Tárrega, (21 tháng 11 năm 1852 – 15 tháng 12 năm 1909) là một nhà soạn nhạc, một tay chơi đàn guitar nổi tiếng người Tây Ban Nha. Ông được xem như là người đặt nền móng cho vị trí của cây đàn guitar là nhạc cụ dành cho độc tấu. Ngoài các bản nhạc do ông sáng tác cho đàn guitar ông còn chuyển soạn một số tác phẩm của các nhà soạn nhạc khác sang trình tấu với đàn guitar.

    Ra hải ngoại tôi nghe Nhạc sĩ Đỗ Đình Phương và Nghệ Thuật Độc Tấu Tây Ban Cầm tại Miền Nam từ sau 1975. Về quá trình nghệ thuật Độc Tấu Tây Ban Cầm:

    Đỗ Đình Phương khởi đầu sự nghiệp âm nhạc của mình bằng cách… mê bài “Leyenda”, do I. Albeniz đánh từ hồi anh còn rất nhỏ. Do mê bài này mà anh đã xin bố cho học đàn guitar, phần lớn là tự học từ những sách nhạc gửi mua từ Âu Châu. Sau đó anh đã đậu vào trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Anh là người đầu tiên tốt nghiệp môn guitar cổ điển của trường. Sau đó anh được bổ đi dạy guitar ở trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế, một ông thầy nhạc trẻ măng mới có 20 tuổi.

    Hai năm sau, anh trở về Sài Gòn dậy guitar tại trường cũ. Suốt thời gian ở Việt Nam trước năm 1975, anh là nhạc sĩ guitar hiếm hoi soạn hòa âm cho những ca khúc lãng mạn Việt Nam theo lối cổ điển, để rồi nổi tiếng qua những buổi trình tấu khắp nơi.

    Nhận định về  sự thành công nhất của nhạc sĩ Đỗ Đình Phương là đem cái hương thi vị nhẹ nhàng của nhạc tình Việt Nam lồng vào từng giai điệu của Flamenco hay Classic qua tiếng đàn tây ban cầm mà anh trau chuốt bao nhiêu năm qua.

    Trong khi dòng nhạc tây ban cầm trình tấu theo giai điệu tây phương sẽ mang đến cho người nghe chất xúc tác mãnh liệt của những cơn nóng bức vùng sa mạc, hay réo rắt âm hưởng của những làng mạc đậm chất du mục thì các note nhạc mà Đỗ Đình Phương mang vào tác phẩm Việt Nam lại lắng đọng hẳn lại trong trạng thái lãng mạn của một miền đất vừa buồn bã u hoài, vừa tĩnh lặng và đậm đặc nhớ nhung của những ai xa nó.

    Rồi hôm nay nhạc sĩ string acoustic guitarist Võ Tá Hân chuyển cho tôi email có link sau.  Mời xem:

    Dear Việt Hải,

    Tụi này rất vui khi gặp vợ chồng Việt Hải và các bạn tại buổi Xuân Họp Mặt tối qua.

    Gửi tặng Việt Hải nghe mấy bài nhạc guitar để nhớ lại những ngày mình còn ở cư xá Hải quân . Lúc ấy chắc Việt Hải cũng đã thường nghe tôi tập đàn những bài này trên balcony, sau những giờ thức khuya học thi phải không?

    Cheers,

    Hân.

  • Âm nhạc,  HUY ANH NGUYỄN ĐẠI THÀNH

    THI SĨ ĐÌNH DUY PHƯƠNG

    Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa xin trân trong giới thiệu Văn Thi Sĩ Đình Duy Phương. Văn Thi Sĩ Đình Duy Phương hiện là chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại / Vùng Tây Nam Hoa Kỳ,  Dưới đây là bài thơ thơ Diễm Xuân được trích từ tuyển tập thi ca mới cùa bà: Trời Xanh Mây Trắng Hoàng Hôn Tím. 

    Nhạc phẩm DiỄM XUÂN -Thơ : Đình Duy Phương – Nhạc :  Huy Anh – Hòa Âm : SUNO .

    Thi Sĩ Huy Anh Nguyễn Đại Thành là con trai của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh. Huy Anh và Minh Đức đồng sáng lập ra Liên Nhóm Văn Chương Việt & Tiếng Đàn Xưa.

    Kính mời quý Giáo Sư, Văn Thi Sĩ và Các Anh Chị em bấm vào Link phía dưới để nghe nhạc:

    Nhạc phẩm DiỄM XUÂN -Thơ : Đình Duy Phương – Nhạc : Huy Anh – Hòa Âm : SUNO

    VÀI NÉT VÊ VĂN THI SĨ ĐÌNH DUY PHƯƠNG

    Tiểu Sử Nhà Thơ  ĐÌNH DUY PHƯƠNG

     * Tên Khai  Sanh :  Phạm Quắc VânLoan 
    Sinh năm 1946  tại  205 , rue Frere Louis à Saigon VietNam .
    Thân phụ  là Ông Phạm Vân Đình tức soạn giả Vạn-Lý.
    Thân mẫu  là Bà Nguyễn Thị Lan Phương  tức Tiểu thuyết gia 
    Nữ Sĩ Lan Phương.
    Học sinh trường Lê Văn Minh Nhà Thờ Huyện Sĩ , Vương Gia Cần, Lê Quý Đôn , Việt Nam
    Năm 1994 – Định cư ở Hoa Kỳ theo diện HO cùng  chồng với năm con . Học các trường Lincoln, Rancho Santiago College -USA.

    II  Tác Phẩm:
    * 
    Năm 1995 bắt đầu viết cho Tạp Chí Tiếng Việt & Thế Giới Phụ Nữ , Nam California  đến năm  2020 (25 năm ), Chủ nhiệm Nguyễn Viết Hưng .
    * Năm 2004 – Tác giả xuất bản Tập THƠ ĐÌNH DUY PHƯƠNG
    * Năm 2017 – Tác giả xuất bản Tập Thơ HY VỌNG 
    * Năm 2017 – Tác giả xuất bản  Truyện dài GIỮ ĐƯỢC THỜI GIAN . 
    * Năm 2018  – Cộng tác với Văn Hữu xuất bản Đặc San NƯỚC VIỆT THÂN YÊU – XUÂN MẬU TUẤT
    * Năm 2020  – Cộng tác xuất bản Đặc san XUÂN CANH TÝ . 
    * Tháng  7-2020 – Giai phẩm điện tử Ra mắt Ebook số 1  NẮNG HẠ MƯA THU .
    * Năm 2021 Cùng các Văn Hữu VB / Tây Nam Ebook số 2  HƯƠNG XUÂN NGỌT NGÀO . *
    * Năm 2021 – Tác giả xuất bản Tập Truyện Ngắn  và Thơ CA NGỢI TÌNH YÊU ( Ebook và sách ) 
    * Năm 2022 – Cùng các Văn Hữu VB / Tây Nam xuất bản Đặc San Xuân Nhâm Dần BỐN MÙA YÊU THƯƠNG.
    * Năm  2023 – Cùng với Hội Viên VB/Tây Nam ra mắt Đặc San TRỞ VỀ .
    * Năm 2024 – Cùng các Văn Hữu  VB/Tây Nam Ra mắt Đặc San ƯỚC VỌNG HOÀ BÌNH .

    Các tác phẩm phổ nhạc :  
    KHI EM CÒN CÓ ANH -NS Phạm Cao Tùng .
    MẾN TÌNH QUÊ HƯƠNG -NS Cao Minh Hưng .
    ĐÔNG LẠNH – NS Hạnh Cư .
    TÌNH YÊU MỚI LỚN – NS Hạnh Cư .
    NẮNG ẤM – NS Hạnh Cư .
    MƯA RƠI – NS Hạnh Cư .
    TRÊN ĐỈNH YÊU THƯƠNG -NS Hạnh Cư .
    TIÊN TRỞ VỀ TRỜI – Hạnh Cư .

    III- Sinh Hoạt Hội Thơ tại Hoa Kỳ
    :
    * 
    Năm 2000  – Hội viên Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại [ Vietnamese International  Poetry Society ]. 
    *Trong các Tuyển Tập  Cụm Hoa Tình Yêu  Flower of Love 
     số  7,8,9,10,12,14,15,  Tam ngữ do Hội Thơ Tài Tử VNHN xuất bản ( do VTS Như Hoa Lê Quang Sinh và VTS Giáo sư Nguyễn Lý Tưởng thành lập Hội, thực hiện. 
    * Năm 2007 –  Hội Viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại ( VBVNHN ) 
     [ Vietnamese  Abroad  Pen Center ( VAPC ) ] Gia nhập năm 2007. 
    * Trong VĂN HỮU số 14.
    * Trong Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại số 1,2,3,4,5 và 6,7,8,9,10 .Giai Phẩm Xuân Ất Dậu 2017.( do Chủ tịch VBVNHN Vũ Văn Tùng thực hiện .
    * Trong POEMS BY SELECTED VIETNAMESE. Và VIETNAMESE CHOICE POEMS Dịch giả Thanh-Thanh LXN.
    * Thơ đăng trong Nguyệt San Y-Tế , Hiệp-Nhất, Sống-Đạo , Linh-Sơn-Lĩnh, Xuân Đại Việt .* Phó. Chủ Tịch  Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại vùng Tây Nam Hoa Kỳ  Hai nhiệm kỳ : 2014-2017 và nhiệm kỳ  2017-2020.
    * Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ, nhiệm kỳ 2020-2023.
    * Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2023-2026 
    * Trong Sách  VĂN NHÂN LỤC  VBVNHN   do Chủ Tịch  VBVNHN  Cung Thị Lan thực hiện .

    Khánh Lan

  • Khánh Lan,  Sinh Hoạt

    ĐÔNG XUÂN BÍNH NGỌ

    Khánh Lan

    Đón xuân Bính Ngọ trong làn gió đông xuân khiến lòng tôi bồi hồi chạnh nhớ đến mùa xuân nơi quê nhà. Phải, mùa xuân Hà Nội năm nào như vừa thoáng qua, thế mà đã 34 năm (1992-2026), và tôi với 51 năm viễn xứ & hơn nửa thế kỷ cuộc đời tôi.

    Tôi gọi là Đông Xuân Bính Ngọ bởi Tết năm nay thời tiết lạnh hơn những năm trước rất nhiều, cái lạnh như thấm vào da thịt và làm tê cóng bờ môi. Và với những ngày mưa xuân nặng hạt trong 3 ngày Tết lại làm tăng thêm cái lạnh của mùa đông buốt giá.

    Sau sân nhà tôi, những nhánh hoa mai, hoa đào đã nở rộ từ 2 tuần trước Tết, nay phất phới tung bay trong gió và rơi đầy trên thảm cỏ xanh mướt, thoảng trông như tấm thảm hoa với các màu vàng, hồng, xanh chen lẫn lên nhau, đẹp một cách lạ thường.

    Mùa Xuân đến đem theo 3 ngày Tết vui tươi và đã gieo vào lòng người bao niềm vui, tiếng cười và tôi đoán, chắc có lẽ đây là khoảng thời gian mà tất cả các quốc gia Châu Á trên thế giới hân hoan chào đón mùa xuân mới. Tại quận cam nơi tôi sinh sống, từ đêm 30 tết, tiếng pháo đã nổ rền vang trên khung trời bé nhỏ của khu phố Bolsa, Little Sài Gòn quen thuộc. Tiếng pháo như xé tung bầu trời màu xám nhạt sau những trận mưa gần như liên tục trong suốt 3 ngày Tết, sắc pháo hồng bay tung trong gió, len lỏi qua làm khói trắng của pháo bông. Tiếng reo hò của khách du xuân chen lẫn tiếng pháo nổ vang lên từng đợt, khiến lòng tôi cũng rộn lên, tràn ngập một niềm vui.

    CHÀO MỪNG NĂM MỚI-HAPPY NEW YEAR!

    HỘI CHỢ TẾT SINH VIÊN TẠI GOLDEN WEST COLLEGE, NGÀY 13-15 THÁNG 2, 2026

    Du xuân một mình năm nay khiến lòng tôi bồi hồi nhớ đến mùa xuân của 12 năm trước tại hội chợ tết sinh viên (Orange County Fair Ground, Costa Mesa) cùng các bạn trong nhóm múa Phù Sa.  Ôi! Nhớ quá, những ngày hoa mộng, tung tăng vui đùa cùng các bạn, dạo quanh phố chợ và ghé vào những quán ăn uống của khu làng Việt Nam, để thưởng thức vật ngon của lạ. Ngày ấy, nay nghe sao xa xôi quá và để lại trong tôi nhiều nhung nhớ. Thời gian ơi! dù có trôi nhanh và màu thời gian có phai nhạt, nhưng xin đừng làm phai nhạt những kỷ niệm trong tôi.

    Triển lãm mô hình chiếc tàu vượt biên đã đem đoàn người tị nạn vượt đại dương đến miền đất tự do. (Ảnh Khánh Lan-mô hình hiện trưng bày trong VHM)

    Hội chợ Têt Sinh Viên năm nay tổ chức 2 ngày trước Tết (Tết ngày 17 tháng 2) tại Golden West College và trên sân cỏ của khuôn viên đại học. Có thể do diện tích của sân trường Đại học không cho phép nên các cửa hàng trong hội chợ mọc lên rời rạc ra từng khu riêng biệt, không được gọn gàng và đẹp như những năm trước tại Orange County Fair Ground.

    Trên thảm cỏ xanh của sân trường, khách du xuân dập dìu trong tà áo dài muôn màu. Những thiếu nữ mỹ miều với những chiếc áo dài gấm, hoa kiểu cách bên các chàng thanh niên trong y phục khăn đống áo dài. Ôi! Đẹp làm sao!

    Các cụ lão niên được con cháu đưa đến hội chợ để cùng mọi người đón xuân Bính Ngọ.

    Phần tôi, mong manh trong tà áo dài tứ thân mới may, tôi run lên vì lạnh, nhưng cái lạnh cũng không làm chùn bước chân tôi, tôi lang thang dạo khắp quanh khu phố chợ, mắt không ngừng ngắm nhìn những cửa hàng nho nhỏ xinh xắn, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những gian hàng hoa quả, bánh trái. Và sau hết, tôi cũng không quên dừng bước bên một chiếc xe hoa hay quán chợ để tự chụp cho mình vài “pô” hình làm kỷ niệm.

    Điều làm tôi vô cùng thích thú và cảm kích khi thấy các ông tây bà đầm cũng xúng xính trong bộ trang phục truyền thống Việt Nam trông thật dễ thương.

    Người ngoại quốc trong trang phục Á Đông

    Thanh niên này có Bố là thuyền nhân người Việt và Mẹ là người Mỹ

    Theo truyền thống của phong tục Việt Nam, năm nào tôi cũng thấy các em sinh viên tổ chức diễn hành với kiệu rước và các em sinh viên trong vai Vua & Hoàng Hậu du hành qua các gian hàng.  

    Các em sinh viên trong vai đoàn quân lính của triều đình. Hình phía dưới là hai em sinh viên trong vai Vua và Hoàng Hậu đang đi thăm dân làng.

    Và chụp hình cùng khách du xuân 

    Hôm ấy tôi vui quá vì gặp được một số giáo sư và các anh chị trong Câu Lộc Bộ Hùng Sử Việt, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (Vietnamese Heritage Museum/VHM), Viện Việt Học (VVH), Trường Việt Ngữ, v.v…Tất cả đều có một gian hàng nhò trong hội chợ. Viện Việt Học với cái tên thật hay: Quán Thơ, nơi mọi người có thể ghé thăm và góp ý thơ, làm thơ hay tranh luận các thể thơ. Trường Việt Ngữ thì tổ chức chương trình đố vui có thưởng trong khi Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt triển lãm những hình ảnh về nhân chứng sống trong tù cải tạo và nạn nhân vượt biên (boat people).

    Các Thầy Cô chuẩn bị cúng tổ khai mạc ngày hội

    Khánh Lan chụp hình cùng các bậc trưởng thượng của Câu Lộc Bộ Hùng Sử Việt 

    Khánh Lan (NVNT), Kim Ngân (VVH), Bích Vân (VHM)

    Trường Việt Ngữ với chương trình đố vui

    Ông Đồ Châu Thụy của VHM viết bảng tên cho khách du xuân, (thư pháp) miễn phí.

    Không bỏ lỡ cơ hội, tôi cũng đứng chờ và may mắn được Ông Đồ Châu Thụy viết tặng cho tôi một bảng tên có viết tên tôi “Khánh Lan” và lì xì phong bì đỏ với bút họa chữ “Tết 2026” trên phong bì. Phải công nhận nghệ thuật viết “thư pháp” của Châu Thụy thật lả lướt, đẹp, ví như rồng bay phượng múa. Tôi xin nghiêng đầu bái phục tài khéo tay của Ông Châu Thụy.

    Phải chăng đây chính là lộc đầu năm của tôi-chắc hẳn năm nay tôi sẽ phát tài..”Tiền vào như nước, tiền ra nhỏ giọt như cafe phin“…

    Khách du xuân ngoại quốc trong tấm hình dưới đây đang tham gia với chương trình: Hành trình vượt đại dương tìm tự do của VHM tổ chức. Tôi vội xin phép được chụp một tấm hình của ông ta bởi tôi nhận thấy ông ấy mặc một cái áo dài màu nâu rất đẹp và để rồi “wonder” rằng ông ấy đã viết những gì trên tấm thiếp màu xanh kia?

    Điểm đặc biệt năm nay, để kỷ niệm 10 năm thành lập, VHN tổ chức thi viết với chủ đề WHO AM I? cho mọi lứa tuổi từ 18 đến 80+ và ngày phát giải thưởng sẽ là 20 tháng 06, 2026 tại nhà hàng Lavender.

    Các em sinh viên cao học ghi tên dự thi với chủ đề: WHO AM I?

    TÒA BÁO NGƯỜI VIỆT TỔ CHỨC ĐÓN XUÂN BÍNH NGỌ 2026 VÀO NGÀY MỒNG MỘT TẾT

    Tòa báo Người Việt luôn giữ thông lệ là tổ chức mừng Tết vào ngày mồng một, Và năm nào cũng thế, chúng tôi cũng được mời đến tham dự buổi họp mặt mừng Xuân vì thỉnh thoảng tôi có viết một bài cho tờ báo.

    Đến dự tiệc tại hội trường báo Người Việt, năm nào tôi cũng gặp được nhiều khuôn mặt thân thương, quen thuộc như GS Quyên Di, GS Huê & Thầy Long, Cô Hoàng Vĩnh, Chú Hùng, ký giả Văn Lang, Cô Thanh Thảo, Chị Hồng Tước, Chị Minh Phú, Chị Janet, Chị Tương Vi, Chị Ánh Tuyết và nhiều anh chị khác…

    Tờ tường trình của ký giả Trà Nhiên của tòa báo Người Việt ghi nhận: “Trong tiếng pháo rền vang đỏ rực báo hiệu giờ khai Xuân, nhật báo Người Việt, Westminster, tưng bừng tổ chức lễ mừng Tân Niên Tết Bính Ngọ, sáng Thứ Ba, 17 Tháng Hai, nhằm Mùng Một Tết, quy tụ đông đảo nhân viên, thân hữu, và dân cử đến chung vui với tờ báo tiếng Việt lớn nhất hải ngoại. Phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt rạng rỡ với với các tiểu cảnh trang trí đầy sắc Xuân và hương vị Tết cùng hàng trăm lồng đèn sặc sỡ sắc màu. Tiếp theo là nghi thức thắp hương đầu Xuân, từ trái, Nghị Viên Cindy Ngọc Trần, Nghị Viên Ted Bùi, bà Hoàng Vĩnh, Giám Sát Viên Janet Nguyễn, và Thị Trưởng Stephanie Klopfenstein.”

    Ngập tràn sắc pháo hồng cùng GS Huê Phạm, Janet, Khánh Lan

    Bà Hoàng Vĩnh, tổng giám đốc công ty Người Việt hân hoan tiếp đón khách mời trong ngày đầu Xuân có mưa rải rác, bà phát biểu “Chúng ta hy vọng năm mới sẽ mang đến những điều may mắn, thuận lợi. Tuy trời mưa có hơi trở ngại, nhưng mưa đầu năm là dấu hiệu của những điều tốt đẹp. Mưa sẽ mang ân phúc tràn trề, mưa sẽ mang no ấm, và mưa sẽ mang đến sức khỏe, và hạnh phúc cho tất cả mọi người,”.

    Bà Hoàng Vĩnh, tổng giám đốc công ty Người Việt (Ảnh: Khánh Lan)

    Bà tiếp: “Thay mặt ban giám đốc và toàn thể công ty, tôi xin tri ân quý thân hữu và dân cử, mặc dù Mùng Một Tết bận rộn nhưng năm nào cũng tới đây chia sẻ niềm vui với Người Việt, đó là niềm hạnh phúc lớn lao cho chúng tôi. Tôi cũng muốn cảm ơn nhân viên Người Việt cống hiến thời gian, công sức, để tổ chức buổi tiệc hôm nay.”

    Giám Sát Viên Janet Nguyễn của Orange County chia sẻ: “Tôi và gia đình kính chúc quý vị năm mới an khang thịnh vượng, vạn sự như ý. Tôi rất vui khi đến chung vui với Người Việt, tờ báo của cộng đồng, và dự các hoạt động Tết vì điều này nói lên lịch sử và văn hóa của người Việt chúng ta,” bà tiếp. “Tôi xin cảm ơn báo Người Việt tiếp tục cống hiến cho cộng đồng và thế giới tin tức thật và đúng, đặc biệt là dạy cho các em trẻ biết về văn hóa, và cho tương lai của cộng đồng.” Bà tiếp: “Khi còn là nghị viên Garden Grove thì năm nào tôi cũng đến tiệc mừng Xuân của Người Việt. Năm nay là lần đầu tiên tôi đến với cương vị thị trưởng và lúc nào tôi cũng được quý báo chào đón nồng hậu,” nữ thị trưởng tiếp: “Tôi vinh hạnh khi được chung vui cùng cộng đồng vào dịp Tết. Tôi kính chúc quý vị một năm mới hạnh phúc, nhiều sức khỏe, và tài lộc.”

    Ngoài những lồng đèn trang trí Tết thật đặc sắc làm tăng thêm không khí vui tươi của ngày đầu năm mới. Bữa tiệc thân mật với những món ăn do bà Hoàng Vĩnh cùng nhân viên chuẩn bị tràn đầy những món ngon.

    Thực phẩm phong phú và thức ăn tráng miệng thật hấp dẫn

    Và cùng thưởng thức đi thôi

    Sau cùng là chương trình văn nghệ “cây nhà lá vườn” của nhân viên tòa báo Người Việt, thân hữu với các nhạc phẩm mừng Xuân Bính Ngọ, cùng với phần đóng góp của nhóm Du Ca Nam California.

    Hợp ca “Ly Rượu Mừng” & Xuân và Tuổi Trẻ do các khách mời trình diễn. (Ảnh Khánh Lan)

    Ra về, Bà Hoàng Vĩnh không quên tặng cho mỗi khách tham dự một tuyển tập bào Xuân Người Việt. (Ảnh: Khánh Lan)

    Chị Hồng Tước với tờ báo Xuân Người Việt: Xuân Bính Ngọ.

    Giữa sắc Xuân rộn rã, tiếng nhạc và những lời chúc đầu năm vang lên ấm áp, buổi tân niên bế mạc lúc 2 giờ chiều cùng ngày trong niềm hân hoan, đón chào một mùa Xuân mới đầy hy vọng trong không khí vui tươi và an bình.

    Khánh Lan, Xuân Bính Ngọ 2026

  • NGHIÊN CỨU,  Viet-Hải

    QUÊ HƯƠNG LÀ GÌ? Ý NGHĨA

    Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My nghiên cứu và sưu tầm

    Việt Hải khởi đầu với thi tập “Quê Hương Còn Đó” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh

    Tôi nhận thi phẩm mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh là Quê Hương Còn Đó, tôi miên man nghiền ngẩm, cuộc sống ly hương hơn nửa thế kỷ, trong tận đáy lòng ngậm ngùi thương nhớ. Như vậy, chúng ta hãy tự tìm hiểu về ý niệm quê hương.

    Trong ý tưởng chung chung, quê hương hiện tại mang theo trong tâm tưởng  của đại chúng: Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức nên rất khó quên. Lòng yêu mến quê hương trong danh tác “Tâm Hồn Cao Thượng” (Les Grands Coeurs, Cuore (Heart), 1886) của văn hào người Ý, Edmondo de Amicis, tác giả kể về lòng yêu nước và thương quê hương của cậu bé Thành Padova đã để lại một dấu ấn sâu sắc của một thuở đã qua cho chúng ta.

    Đi xa hơn nữa khi nghĩ về vai trò của quê hương qua ba yếu tố sau:

    • Quê hương là mảnh đất chúng ta sinh ra, lớn lên, trau dồi bản thân và mang trong mình nhiều ước mơ, khát vọng để giúp đời, giúp người.
    • Mỗi quê hương có nền văn hóa riêng, giao thoa độc đáo của văn hóa từng vùng miền, đóng góp vào đa dạng nền văn hóa của dân tộc.
    • Quê hương là nơi con người trở về sau những khó khăn, mang lại cảm giác thanh thản và yên bình.

    Quê hương không chỉ là nơi chúng ta lớn lên, mà còn là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận được sự thanh thản, yên bình bởi không khí quen thuộc và con người chân chất tại quê hương. Mỗi quê hương mang một bản sắc riêng, nuôi dưỡng tâm hồn con người với sự đa dạng phong phú. Mỗi quê hương cũng có một nền văn hóa riêng. Khi ta trưởng thành, ta mang theo nét đặc trưng của quê hương đi nơi khác, sẽ có sự giao thoa độc đáo giữa các nền văn hóa từng vùng miền, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.

    Sự nhớ nhung, suy tưởng miên viễn về quê xưa, ấy là một tình yêu quê hương. Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên và để trở về. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều.

    Hãy xem thơ Dương Hồng Anh:

    Tháng Tư nhớ quê hương

    Mặt trời đi vắng hôm nay

    Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương

    Năm mươi năm mấy đoạn trường

    Bể dâu biến đổi còn vương suối hồn

    Nhìn theo vách cỏ mờ sương

    Lao xao nghe gió bên đường gọi thơ

    Bên hiên thanh vắng thẫn thờ

    Đem tâm tình dệt ước mơ cuối mùa

    Tháng tư cây cỏ ngóng chờ

    Mai về thềm cũ ươm thơ thanh bình

    Tháng tư khung cửa buồn tênh

    Cánh chim xa xứ bồng bềnh nhớ quê

    Biển Đông gợn sóng sơn khê

    Bâng khuâng tâm sự đường về hỏi ai

    Vần thơ lục bát trải dài

    Nhớ thương nguồn cội u hoài cung tơ

    Quê hương: Tiếng gọi thân thương ấy mỗi khi cất lên đều gợi ra những kỷ niệm tuổi thơ tươi đẹp, khơi dậy những cảm xúc bình dị, thân thuộc nhưng cũng thiêng liêng, đẹp đẽ nhất trong tâm hồn và trái tim của mỗi con người. Quê hương là miền nhớ, miền thương và là thế giới tình cảm đong đầy, ấm áp. Quê hương là nơi chúng ta được sinh ra ra và lớn lên, bởi vậy mà khi nhắc đến quê hương người ta thường nhớ về những gì thân thuộc, gần gũi nhất.

    Dù cuộc sống có bao đổi thay, cuộc đời xoay vần khiến con người trở nên mệt mỏi thì quê hương vẫn thủy chung ở đó, mãi là chùm khế ngọt, là con đường đến trường thân thương và là vòng tay ấm áo, che chở đón chúng ta trở về. Và quê hương luôn là mảnh đất mà chúng ta gắn bó trong suốt cuộc đời, mang trong mình những kỷ niệm đẹp khó quên. Mỗi người có một quê hương riêng, và mỗi quê hương có một bản sắc khác nhau, nuôi dưỡng những tâm hồn con người đa dạng và phong phú. Tình yêu quê hương không phải là tình cảm trừu tượng, nó được biểu hiện rất cụ thể và rõ nét.

    Theo nhà văn người Mỹ Dos Parsons đã từng nói một câu rất hay:

    “Bạn có thể khiến mọi người rời bỏ quê hương họ,

    nhưng bạn không thể cướp mất quê hương trong trái tim họ.”

    Thật vậy, quê hương trong miền ký ức của mỗi người có luôn là những gì giản đơn, mộc mạc nhưng cũng đầy thiêng liêng và đẹp đẽ. Tình yêu quê hương không ngọt ngào, trong trẻo mà nó nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng vẫn khiến con người ta phải dâng lên những niềm xúc cảm khôn nguôi, khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người. Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ:

    MƠ VỀ HÀ NỘI

    Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

    Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

    Cho thơ nở giữa vườn thơ

    Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

    Hướng về cố lý xa xăm

    Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ

    Tơ đàn xao xuyến hồn thơ

    Vẫn còn đêm trắng thẫn thờ gió bay

    Vẫn còn gối mộng trên tay

    Cỏ cây hoa lá nhắc ngày tha hương

    Tình quê lãng đãng thềm sương

    Mơ về Hà Nội, một phương tâm tình.

    Quê hương còn là những miền ký ức đẹp đẽ của tuổi thơ, nơi đó luôn hiện hữu hình ảnh của cha, của mẹ, của những con người mà ta vẫn hằng yêu quý và nhớ đến. Tình yêu quê hương là thứ tình cảm bản năng, tự nhiên, xuất phát từ sự gắn bó và tình cảm sâu nặng, da diết của mỗi người đối với quê hương. Đó là thứ tình cảm đầu tiên được hình thành trong tiềm thức của mỗi người ngay từ lúc ta chỉ vừa mới biết nói, biết đi. Yêu quê hương là yêu những gì giản đơn, bình dị nhất, yêu gốc rễ, cội nguồn, và là những nét chấm phá đầy tính thi vị trong những bài thơ thấm đượm tình quê hương như bài “Quê hương” của Tế Hanh, “Hà Tiên” của Lê Dinh, “Quê tôi” của Nguyễn Bín…

    “Quê hương mỗi người chỉ một

    Như là chỉ một mẹ thôi

    Quê hương nếu ai không nhớ

    Sẽ không lớn nổi thành người.”

    Tình yêu quê hương, đất nước luôn hiện hữu trong trái tim mỗi người, trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy văn học dân tộc, theo ý nghĩa sâu sắc và thiêng liêng. Quê hương là nơi mỗi con người cất tiếng khóc chào đời, là miền đất đầu tiên nâng bước ta trên hành trình làm người. Trong dòng chảy không ngừng của cuộc sống hiện đại, con người có thể đi rất xa, sống ở nhiều vùng đất khác nhau, nhưng quê hương vẫn luôn hiện diện như một phần máu thịt, âm thầm chi phối suy nghĩ, tình cảm và cách sống của mỗi người. Bởi vậy, vai trò của quê hương đối với cuộc đời con người là vô cùng sâu sắc và bền vững. Tình yêu quê hương không chỉ là nỗi nhớ thầm lặng mà còn là động lực thúc đẩy con người sống có ích. Ý thức về nguồn cội khiến mỗi người biết trân trọng những gì mình đang có và mong muốn đóng góp cho cộng đồng nơi mình sinh ra.

    Bây giờ, thử xem bài viết này như sự tản mạn thi ca Dương Hồng Anh khi đọc thi tập Quê Hương Còn Đó của bà. Do đó yếu tố thi ca sẽ được bàn rất nhiều qua nhiều góc cạnh, và tư tưởng khác nhau. Theo định nghĩa thơ ca, đó là thể loại văn học, sử dụng phương thức trữ tình, nhưng lại sử dụng những từ ngữ biểu cảm đa dạng để thể hiện lên tiếng nói, tâm hồn của người viết. Biết bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu nhà thơ đã từng đã thể ước nguyện, tấm lòng chân thành đẹp đẽ của nhà thơ khi gieo các vấn thơ hay cho đời.

    Còn nói về nguồn gốc của thơ thì thơ cũng như bất cứ một loại hình nghệ thuật nào khác là tấm gương phản chiếu hiện thực đời sống, qua đó thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả. Các nhà thơ làm thơ khi tình cảm dâng trào mãnh liệt trong trái tim, họ có nhu cầu muốn được sẻ chia, tìm được sự đồng điệu từ phía người đọc. Thơ là tiếng nói của tình cảm mãnh liệt đã được ý thức. Nhà thơ không chỉ muốn chia sẻ, bộc lộ tình cảm của cá nhân mình, mà muốn lan truyền những xúc cảm ấy tới trái tim người đọc, đem đến cho họ những xúc cảm mới. Từ đó, thơ kết nối những tâm hồn người đọc đến với nhau, cùng hướng đến những giá trị tốt đẹp. Bởi thế mà mỗi bài thơ phải mở tới tình yêu, đưa con người đến gần với nhau hơn.

    Hồng Anh nữ sĩ trong thi tập này còn cho thi ca dưới phạm trù thiền thi. Thơ thiền rất thi cảm, mang chất thiền tĩnh, trầm mặc. Thơ Thiền cũng được hiểu như là một thể loại thơ được hình thành từ triết lý Thiền, nơi người viết tìm kiếm sự bình yên và sự kết nối sâu sắc với thế giới xung quanh thông qua từng vần thơ. Những bài thơ Thiền không tập trung vào hình thức, mà chú trọng vào cảm xúc và suy tư của tác giả về cuộc sống, sự vô thường và bản chất thật sự của con người.

    Trong một ý nghĩa khác; Thơ thiền thiên về thiên nhiên thủy mặc, hay Thiền tính tâm linh. Thơ Thiền có thể là các bài kệ là thi phú bao hàm cả kệ và thơ, nêu lên một triết lý, một quan niệm thiền hay một bài học thiền nào đó hoặc vừa ảnh hưởng thiền vừa mang rung động thi ca có tính trần thế. Thơ thiền là thơ của các nhà sư và của cả những người không tu hành nhưng am hiểu, yêu thích triết lý Phật học, bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếp giáo lý, hoặc cảm xúc hay tâm lý Thiền tĩnh.

    Trích thơ Hồng Anh nữ sĩ:

    DƯỚI TRỜI XUÂN ẤM

    Gió reo sóng hát hoa cười

    Dưới trời xuân ấm tôi ngồi se tơ

    Xuân đi trên những vần thơ

    Tình người lữ khách giấc mơ xa vời

    Rung rinh sợi nắng vàng rơi

    Đón xuân pháo nổ đầy trời sắc hương

    Khai xuân nâng chén rượu nồng

    Nghiêng tay bút thảo mấy giòng thơ say

    Hoa tươi thắm nở trời mây

    Bay bay theo gió giăng đầy ước mơ

    Trở về năm tháng xa xưa

    Khung trời bỏ ngỏ giấc mơ chập chờn…

    Kế tiếp xin dẫn chứng cổ thi thiền triết, thiết tưởng nên có chút ghi nhận về Mãn Giác Thiền Sư. Ngài sinh năm 1052 và mất năm 1096, Mãn Giác thiền sư được xem là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thời Lý Trần. Ngài xuất gia từ nhỏ và rất được vua Lý Nhân Tông mến chuộng. Năm bốn mươi lăm tuổi, ngài gọi tăng chúng đến nghe ngài đọc bài kệ. Đọc xong, ngài ngồi kiết già thị tịch. Bài kệ có tên Cáo Tật Thị Chúng.

    Cáo Tật Thị Chúng không chỉ là một thi kệ xuất sắc, mà còn được xem là một tuyên ngôn triết học tiêu biểu thuộc thế kỷ XI của nước ta. Bài thơ mượn cảnh thị tình, miêu tả thực tại bằng hình ảnh đơn giản, sinh động, là cái nhãn tiền, sờ sờ trước mắt, tự nhiên, như nhiên, trực chỉ tâm chí, khai phóng nhân sinh.

    Cáo Tật Thị Chúng là bài kệ chỉ vỏn vẹn sáu câu. Hai câu đầu, đăng đối, mô tả quy luật tuần hoàn của thời gian, của thay đổi bốn mùa. Hai câu kế, viết theo cấu trúc biền ngẫu, bàn về chuyện đời, chuyện người. Hai câu kết là tư tưởng, là quan niệm về vạn vật, về cuộc sống cõi nhân gian:

    Xuân khứ bách hoa lạc

    Xuân đáo bách hoa khai

    Sự trục nhãn tiền quá

    Lão tùng đầu thiện lai

    Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

    Dịch nghĩa

    Xuân đi, trăm hoa rụng

    Xuân đến, trăm hoa nở

    Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt

    Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu

    Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết

    Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân.

    Dịch Thơ

    Xuân đi, trăm hoa rụng

    Xuân đến, trăm hoa cười

    Trước mắt, việc đi mãi

    Trên đầu, già đến rồi

    Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

    Đêm qua sân trước một cành mai.

    Nhất chi mai, hay Nhị Độ Mai… “Nhất chi mai” trong bài thơ được dịch ra là “một nhành mai”. Nhưng Nhất Chi Mai, còn là tên của một loại hoa rất đặc biệt, chúng có đến hai lần nở hoa trong mùa xuân. Lần nở hoa đầu tiên là lúc giáp Tết, và đó được xem là lần nở phụ. Mùa hoa chính là vào tháng hai âm lịch. Khi những cành hoa mai, hoa đào đã tàn phai và rụng hết, thì Nhất Chi Mai, hay còn gọi là Nhị Độ Mai, lại thay áo mới, nở ra những bông hoa trắng muốt, lần thứ hai.

    Là tư tưởng Nhất Chi Mai.

    Mãi xuân. Hay nói khác đi, mùa xuân của đất trời, mùa xuân trong lòng người, bất diệt!

    Khi mùa xuân về là thời gian cho không gian dất trời khai mở, bông hoa khoe hương, phô sắc, thi ca Hồng Anh như sau trong bài thơ Cội Mai Già.

    Ngày ngắn đêm dài nghe gió rơi

    Thềm xưa ngõ nhỏ vắng môi cười

    Cội mai già có còn ngồi đợi

    Cố nhân về nâng cánh hoa tươi

    (Dương Hồng Anh)

    Thi ca về 2 loai hoa mai và dào của Hồng Anh nữ sĩ như sau:

    Cáo tật thị chúng 告疾示眾 •

    Cách đây hơn một nghìn năm, Mãn Giác thiền sư nước Việt đã viết:

       “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

       Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”.

    Nghĩa là:

       “Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

       Đêm qua sân trước một nhành mai”.

    告疾示眾 

    春去百花落,

    春到百花開。

    事逐眼前過,

    老從頭上來。

    莫謂春殘花落盡,

    庭前昨夜一枝梅。

    Cáo tật thị chúng

    Xuân khứ bách hoa lạc,

    Xuân đáo bách hoa khai.

    Sự trục nhãn tiền quá,

    Lão tùng đầu thượng lai.

    Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

    Dịch nghĩa

    Xuân đi, trăm hoa rụng,

    Xuân đến, trăm hoa nở.

    Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt,

    Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu.

    Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết,

    Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân.

    Nhành mai ấy đã để lại một khoảng lặng thi ca từ thế kỷ XI đến bây giờ. Hiện vẫn còn đang nở trước cửa Hoàng thành Hà Nội. Cái khoảng lặng ấy dù cách xa ngàn vạn dặm thời gian vẫn làm nên sự bất ngờ với người đọc bình thản nhất.

    Xuân qua, trăm hoa rụng,

    Xuân tới, trăm hoa cười.

    Trước mắt, việc đi mãi,

    Trên đầu, già đến rồi.

    Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết,

    Đêm qua sân trước một nhành mai.

    Hay, Hồng Anh nữ sĩ có bài thơ ở nơi trang (96) rất ý nghĩa nghe tựa như thiền thi thủy mặc:

    CỘI MAI GIÀ (老梅樹)

    Ngày ngắn đêm dài nghe gió rơi

    Thềm xưa ngõ nhỏ vắng môi cười

    Cội mai già có còn ngồi đợi

    Cố nhân về nâng cánh hoa tươi

    Dương Hồng Anh (楊紅英)

    Đấy là thơ về Hoa Mai của Nữ sĩ Dương Hồng Anh. Trong làng thi ca Việt, còn có những danh thi nhân sáng tác thơ hoa mai khác nữa. Hoa Mai trong thơ Lê Thánh Tôn, Mãn Giác thiền sư, Chu Mạnh Trinh, Trần Nhân Tông hay Sương Nguyệt Anh mang thanh âm hoa của mùa xuân, hoa chuyển mùa, hay hoa về thiền triết tính, về thiên nhiên, và cuộc sống.

    Cây Mai Già là bài thơ của nhà thơ (vua) Lê Thánh Tông như sau:

    CÂY MAI GIÀ (老梅樹)

    Dòng dõi Giang Lăng tiếng đã đồn,

    Già còn hơn nữa thuở còn non.

    Xuân thêm cốt cách, hương càng bội,

    Tuyết giúp tinh thần ngọc hãy còn

    (黎聖宗)

    Bài thơ khác của vua Lê Thánh Tông thuộc loại thiền thi:

    Hoa Mai (梅花)

    Trội cành mai chiếm một chồi,

    Tin xuân mây mẩy điểm cành mai.

    Tinh thần sáng thủa trăng lạnh,

    Cốt cách đông khi gió thôi.

    (黎聖宗)

    Hay, Thi khảo dị:

    Trội cành nam chiếm một chồi,

    Tin xuân mãi mãi điểm cây mai.

    Tinh thần sáng, thuở trăng tĩnh,

    Cốt cách đông khi gió thôi.

    Thềm xưa vẫy gọi mấy vần thơ reo

    Lênh đênh ngày tháng rong rêu

    Tao nhân mặc khách đàn ca đón chào

    Trời mây lãng đãng, hương đưa ngạt ngào

    Tình người lữ khách giấc mơ xa vời

    Đón xuân pháo nổ đầy trời sắc hương

    Nữ sĩ Dương Hồng Anh cho những áng thơ mang âm hưởng tựa như thi triết tính hay thiền thi về thiên nhiên môi trường xung quanh.

    BÂNG KHUÂNG DÁNG CHIỀU

    Thu đi dệt sợi tơ vàng

    Mang theo nỗi nhớ mơ màng xa xăm

    Mở trang thơ cũ tần ngần

    Hướng về cố lý bâng khuâng dáng chiều

    THƠ TÔI

    Thơ tôi là những hao gầy

    Những đêm trăn trở, những ngày vẩn vơ

    Nhìn đời nửa thực nửa mơ

    Nghiêng tay mực rỏ vần thơ cuối mùa

    CHUYỂN MÙA

    Bóng chiều nhè nhẹ lướt bên song

    Nhạt nắng xuyên qua mấy bụi hồng

    Se lạnh hàng cây thưa thớt lá

    Thì thào gió mách sắp sang đông

    ĐỐT NẾN LÀM THƠ

    Tuổi đời lắng đọng sương pha tóc

    Nhạc thơ tao nhã truyện hàn huyên

    Bốn mùa hoa lá duyên văn nghệ

    Đời có gì hơn có bạn hiền…

    Mark Twain ví von:

    “Tuổi tác là vấn đề của tâm trí hơn là thể chất.

    Nếu bạn không bận tâm, thì nó không thành vấn đề.”

    Hiểu được sự khôn ngoan trong câu nói mới là quan trọng. Những lời của Twain thách thức sự ám ảnh của xã hội chúng ta về tuổi trẻ. Trong khi nhiều nền văn hóa đẩy người lớn tuổi ra rìa, Twain cho rằng cách chúng ta nghĩ về tuổi già quan trọng hơn những thay đổi về thể chất. Câu nói của ông nhắc nhở chúng ta rằng tuổi tác không chỉ nên được đánh giá dựa trên vẻ bề ngoài hay những định kiến. Điều đáng nói là tuổi già không tự động dẫn đến sức khỏe tâm thần kém, bất chấp những gì nhiều người nghĩ.

    Những người cao tuổi chấp nhận cách suy nghĩ này, và rồi các nghiên cứu cho thấy người lớn tuổi phát triển các kỹ năng theo thời gian để nhận được sự tự chăm sóc cần thiết. Họ cũng có nhiều thời gian hơn để tập trung vào sức khỏe tinh thần của mình do sự bương chải, tự thích ứng, như qua thi ca, hay những sở thích lành mạnh cùng bằng hữu.

    Bài “Đốt Nến Làm thơ” (trang 87) phản ảnh tư tưởng của Mark Twain cững như John Lennon trong những ý nghĩ như sau. Quan điểm vượt thời gian của Mark Twain về tuổi già: Twain đã chia sẻ nhiều suy nghĩ về tuổi già, làm tăng thêm chiều sâu tâm hồn cho câu nói nổi tiếng của ông. Ông nói rằng:

    “Nếp nhăn chỉ nên cho thấy những nơi nụ cười đã từng hiện diện”.

    Điều này cho thấy chúng ta nên xem những dấu hiệu lão hóa như những dấu ấn của một cuộc sống trọn vẹn chứ không phải là những khuyết điểm cần che giấu. Twain cảm thấy rằng:

    “Cuộc sống từng là một câu chuyện cổ tích, nhưng giờ đây tôi nhận ra điều đó cho thấy rằng thời gian trôi qua nhưng vẫn cảm thấy trẻ trung bên trong”.

    Theo Frank Lloyd Wright.

    “Càng sống lâu, cuộc sống càng trở nên tươi đẹp hơn.”

    Câu nói của nhà tư tưởng Lloyd Wright mang một chân lý sâu sắc đối với những người cao tuổi đang tìm kiếm nguồn cảm hứng. Câu nói này nằm trong số những thông điệp truyền cảm hứng nhất dành cho những người đã bước sang tuổi xế chiều. Nó cho thấy quá trình lão hóa có thể giúp chúng ta nhìn thấy vẻ đẹp theo những cách không ngờ tới. Vẻ đẹp mà Wright nói đến xuất hiện trong những khoảnh khắc đơn giản:

    Ánh sáng buổi sáng chiếu qua cửa sổ

    Những cuộc trò chuyện với người thân yêu

    Sự thay đổi của các mùa trong tự nhiên

    Điều này cho ta thấy: Triết lý về cuộc sống và tuổi già của Wright và Hồng Anh nữ sĩ dường như chia chung tư tưởng.

    Thi sĩ John Lennon chia sẻ tư duy như là:

    “Hãy đếm tuổi bằng bạn bè, chứ không phải bằng năm tháng. Hãy đếm cuộc đời bằng nụ cười, chứ không phải bằng nước mắt”.

    Nhạc sĩ Lennon cho cảm nghĩ hãy xây dựng các mối tưong quan bạn bè sẽ có ý nghĩa trong những năm tháng tuổi già, trong cuộc sống bằng những khoảnh khắc vui vẻ cho chính mình.

    Khánh Lan với sự xuất hiện của thơ trong cuộc sống

    Thơ được sinh ra từ trong hiện thực cuộc đời, cái đẹp trong thơ phải mang dấu ấn của cái đẹp trong sự thật đời sống.

    Cuộc sống là điểm xuất phát, là đề tài vô tận, gợi nhiều cảm xúc phong phú cho người sáng tác cũng như người thưởng thức nó.

    Thơ chính là đối tượng khám phá chủ yếu và cũng là cái đích cuối cùng của thi ca nghệ thuật. Điều này cho ta thấy:

    • Thơ nghệ thuật luôn vận động và phát triển trong sự ràng buộc tự nhiên với đời sống xã hội. Những giá trị nghệ thuật chân chính xưa nay đều là những sáng tác bắt rễ sâu xa trong mảnh đất thực tế của thời đại mình. Thơ chỉ có ý nghĩa thẩm mỹ, chỉ chinh phục trái tim người đọc khi thể hiện những vấn đề, những cảm xúc mà con người hằng quan tâm, trăn trở.
    • Nếu thơ không bắt nguồn từ hiện thực, xa rời cuộc đời, thoát ly thực tại, thơ sẽ không thể đến với người đọc, không thể tồn tại trong cuộc đời, khi ấy thơ đã tự đánh mất chức năng cao quý nghệ thuật vị nhân sinh của mình.
    • Đối tượng của thơ là thế giới tâm hồn, là tình cảm của con người bộc lộ qua trang giấy. Những cảm xúc, rung động, những suy tư, trăn trở… đều có thể trở thành đối tượng khám phá và thể hiện qua thơ. Vẻ đẹp của thơ thể hiện ở những tư tưởng, tình cảm mà tác phẩm hàm chứa, bởi không có chất liệu trong đời sống thì không làm nên nội dung và giá trị của tác phẩm.
    • Những sự việc trong đời sống mà không âm vang vào tâm hồn, không lay động sâu xa cảm xúc của người nghệ sĩ thì không thể hóa thân thành cái đẹp của nghệ thuật. Chính vì vậy, thơ là cuộc đời nhưng phải được cảm nhận và thanh lọc qua tâm hồn, trí tuệ của thi nhân để thành thơ.

    Vì thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, như Ngô Thì Nhậm nhận định rằng: Là thi sĩ phải biểu lộ “xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần”. Xuân Diệu lại khẳng định: “Thơ hay, lời thơ chín đỏ trong cảm xúc”. Thơ trong văn học vốn dĩ phản ảnh đời sống con người, với thơ cuộc sống không chỉ là hiện thực xã hội bên ngoài mà còn là đời sống tâm hồn, tình cảm phong phú của nhiều nhà thơ. Thơ gắn liền với thế giới nội tâm, vẻ đẹp mềm mại của tình cảm con người biểu hiện trong những trang thơ của Puskin như sau qua bài “Mùa xuân mùa của tình yêu” “Весна, весна, пора любви” Thơ Nga – Aleksandr Pushkin:

    Mùa xuân mùa đẹp của tình yêu

    Mà sao lòng nặng nỗi tiêu điều

    Rã rời ngơ ngác trong tâm trí

    Hồn lười chẳng thiết thú vui chi

    Nguồn thơ xuất phát từ trong tâm hồn của người nghệ sĩ, là những rung động, những cảm nhận tự nhiên. Đó là cả một quá trình thai nghén ý tưởng trong ký ức, nuôi dưỡng cảm xúc trong tâm tư, khiến cho thi nhân “xuất khâu thành thơ” và gởi ý thơ ấy thành lời trên trang giấy. Thơ có khả năng biến những điều bình dị trở nên phi thường. Trong khối óc tinh túy lỗi lạc và tâm hồn lãng mạng, thi nhân đã chuyển đổi cánh hoa, làn gió, giọt mưa trở thành chủ thể của những vần thơ bất hủ.

    Thật vậy, qua con mắt của thi sĩ, thế giới hiện ra lung linh, huyền ảo, thậm chí, mỗi vật thể đều có linh hồn, mỗi sự kiện đều ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa. Ta có thể nói: Ngôn từ trong thơ còn có sức mạnh kiến tạo, nó không chỉ mô tả hiện thực mà còn tạo ra một hiện thực mới, một thế giới riêng trong tâm trí người đọc.

    Nhận định về thơ, Voltaire cho rằng:

    “Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”

    Vậy ta có thể kết luận rằng: Thơ là hình ảnh của đời sống tươi nguyên được tái hiện qua lăng kính tình cảm của người nghệ sĩ. Bởi nếu thơ không có tư tưởng, không có tình cảm trong ấy, thì đó chỉ là những lời sáo rỗng, nhạt nhẽo, vô vị, tầm thường, chỉ là những ngôn từ vụng không ý nghĩa. Thơ không chỉ đơn thuần là một nghệ thuật thi ca mà còn là tiếng nói của tâm hồn, nơi những rung động chân thật nhất được cất lên qua ngòi bút, chữ viết.

    Thơ gắn liền với nhịp đập của con tim, cảm xúc của tâm hồn. Thơ khẳng định vai trò quan trọng trong việc sáng tạo thơ. Một bài thơ chỉ thực sự có sức sống khi nó được sinh ra từ những rung động mãnh liệt, từ một tâm hồn nhạy cảm biết yêu thương, trăn trở trước cuộc đời.

    Về nghệ thuật thì ngôn ngữ trong thơ phải là ngôn ngữ trau chuốt, chính xác, giàu hình tượng và biểu cảm, vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ là vẻ đẹp của toàn bộ hình thức nghệ thuật. Thơ là tình đời, tình người ngân lên trong âm vang ngôn ngữ, kết cấu, hình ảnh, giọng điệu, nhịp điệu…

    Chính vì thế, phải chăng: “Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn”

    Dưới đây là những nhận định về thi ca của một số danh nhân:

    Thơ ca là sự bộc lộ cảm xúc bằng ngôn ngữ. Edgar Allan Poe

    Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn. Voltaire

    Thơ ca là nơi mà ý nghĩa của lời nói bị phá vỡ để tạo ra ý nghĩa khác. Jacques Derrida

    Thơ ca là sự nỗ lực làm cho ngôn ngữ trở nên đáng nhớ hơn. W. H. Auden

    Thơ ca là sự giải phóng những nỗi đau thầm kín của con người qua những từ ngữ đẹp đẽ. – Johann Wolfgang von Goethe

    Thơ ca là sự vĩnh cửu của khoảnh khắc. – Wallace Stevens

    Thơ ca là sự giao tiếp giữa linh hồn và vũ trụ. – Rabindranath Tagore

    Thơ ca là sự giải thoát của nỗi buồn. – Charles Baudelaire

    Thơ ca là ngôn ngữ của tình yêu. – William Shakespeare

    Kiều My nhận định thể loại thơ và thơ trong tâm tư của thi nhân

    Thơ là thể loại thiên về gợi ý nên nó phải gắn với sự cô đúc, trong một diện tích ngôn từ ít mà mở ra nhiều cảm xúc rộng lớn. Những điều nhà thơ muốn bộc lộ, ký thác được co nén lại trong ngôn từ giàu sức gợi, hình ảnh giàu biểu tượng.

    Chính độc giả trong quá trình khám phá tác phẩm thơ sẽ khôi phục lại những khoảng trống, những chỗ bị “co” lại ấy.

    Xuân Diệu mới trong tư tưởng, mới trong cách nghĩ và mới cả trong cách cảm nhận rõ nét nhất qua tác phẩm “Vội Vàng” ông viết năm 1938:

    “Tôi muốn tắt nắng đi

    Cho màu đừng nhạt mất

    Tôi muốn buộc gió lại

    Cho hương đừng bay đi”

    Hay,

    “Ta muốn ôm

    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

    Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

    Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”.

    Thi sĩ đã cố ý đưa vào trong thơ một sáng tạo rất mới, phá bỏ những khuôn khổ, những luật lệ cũ trong thơ xưa. Thường thì người ta khi miêu tả vẻ đẹp của con người, sẽ lấy thiên nhiên làm thước đo chuẩn mực, nhưng Xuân Diệu thì khác, ông mạnh dạn lấy con người làm khuôn mẫu để đo đếm vẻ đẹp của thiên nhiên.

    Thơ phải có óc tưởng tượng phong phú. Nhà thơ trong quá trình sáng tác phải có đặc điểm này để không chỉ phản ảnh hiện thực có sẵn mà còn nói lên những điều cần phải nói, để thể hiện ước mơ, hy vọng… Vì thơ là sự thể hiện của trái tim và thế giới tâm hồn, tình cảm phức tạp của con người mà nhà thơ buộc phải liên tưởng, vận dụng triệt để trí tưởng tượng để làm hữu hình hóa những logic tình cảm ấy bằng hình ảnh, hình tượng trong trang viết như R.Tagore đã cho rằng:

    “Giống như nụ cười và giọt nước mắt,

    bản chất của thơ phản ánh điều gì đó hoàn hảo từ bên trong”.

    Hay còn có rất nhiều danh nhân dưới đây đã nhận định:

    “Thơ chớm nở từ trái tim con người”. (Lê Quý Đôn)

    “Hãy để tâm hồn thơ xúc động cho cây bút mang đậm linh hồn”. (Ngô Thì Nhậm)

    “Thơ là sự giao thoa giữa âm nhạc và tư tưởng”. Stéphane Mallarmé

    “Thơ là cuộc đối thoại giữa linh hồn và lịch sử”. Pablo Neruda

    “Thơ là ngôn ngữ của trái tim”. William Hazlitt

    “Thơ là tiếng lòng của một dân tộc”. Victor Hugo

    “Thơ là sự cô đọng của trí tuệ và cảm xúc”. Aristotle

    “Thơ là một sự kiện của ngôn ngữ”. Paul Celan

    “Thơ là sự khám phá những điều kỳ diệu trong cuộc sống thường nhật”. Mary Oliver

    “Thơ là ánh sáng của trí tưởng tượng”.  Percy Bysshe Shelley

    Huy Cận đi lượm nhặt những chút buồn rơi rác trong nhân gian, để rồi sáng tạo nên những hồn thơ ảo não, nhưng ai có ngờ đâu, chỉ với một chút ít cát bụi tầm thường đó, thi sĩ đã đắp lên biết bao nhiêu là châm ngọc. Thật vậy, nỗi buồn trong thơ Huy Cận là châm là ngọc, là nỗi buồn tinh tế và điều ấy được thể hiện rõ nét nhất qua bài thơ “Tràng Giang”:

    “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

    Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

    (Tràng giang, Huy Cận » Lửa thiêng, năm 1940)

    Hay trong bài thơ Mắt em dưới đây.

    Mắt em anh chẳng dám nhìn lâu

    Em đẹp, lòng anh bỗng thấy đau

    Mới gặp sao mà như nhớ lại.

    Hay dan díu tự kiếp xưa nào?

    (bài Bâng khuâng, Huy Cận)

    Vậy có phải:

    “Thơ là sự thật làm đẹp lòng”. Khalil Gibran

    “Thơ là tiếng vọng của vũ trụ”. Rabindranath Tagore

    “Thơ là khoảnh khắc sự thật”. Virginia Woolf

    “Thơ là một giấc mơ được viết ra”. Federico García Lorca

    “Thơ là nụ cười của trí tuệ”. Joseph Joubert

    Cái buồn của sự cô độc càng lớn, càng làm nhân lên nỗi nhớ nhà nhớ quê hương từ sâu trong lòng tác giả:

    “Lòng quê dợn dợn vời con nước

    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

    Sở dĩ nói Huy Cận là một nhà thơ đa sầu đa cảm là bởi nếu như Thôi Hiệu trong thơ xưa nhìn bóng chiều, nhìn khói sóng mà động lòng nhớ quê hương, thì ở đây, dù không có tác động của ngoại cảnh, “không khói hoàng hôn” thì Huy Cận của chúng ta vẫn nhớ nhà đến da diết. Có lẽ là bởi, nỗi nhớ ấy vẫn luôn thường trực, vẫn luôn đau đáu trong lòng tác giả bấy lâu nay.

    Huy Cận và Xuân Diệu là hai nhà thơ có hai phong cách viết hoàn toàn trái ngược, nhưng đều mang trong từng nét bút những tình cảm sâu sắc muốn gửi gắm đến người đọc. Như vậy người nghệ sĩ phải sống sâu sắc, gắn bó hết mình với cuộc đời chung để những tình yêu mở ra trong ô cửa thơ ca là những tình cảm mang ý nghĩa nhân văn. Đồng thời, người nghệ sĩ cũng phải có thực tài, thực tâm, không ngừng trau dồi năng lực nghệ thuật, phẩm chất thẩm mĩ của mình để mỗi bài thơ không chỉ dạt dào, lắng đọng triết ly, tình cảm mà còn đạt đến độ cô đúc, độc đáo của ngôn từ.

    Ngược lại, người đọc cũng phải thực sự sống cùng tác phẩm, mở rộng tâm hồn để trái tim cùng giao thoa nhịp đập với trái tim thi sĩ. Bên cạnh đó, phẩm chất nghệ thuật, sự nhạy bén với cái đẹp và tinh thần sáng tạo không chỉ đòi hỏi ở nhà thơ mà chính bạn đọc trong quá trình khám phá tác phẩm cũng cần đến để cảm thụ vẻ đẹp nghệ thuật một cách hiệu quả nhất, góp phần hoàn thiện đời sống của thi phẩm.

    Với người làm thơ, bài thơ là phương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng. Chỉ có cảm xúc chân thành, mãnh liệt mới là cơ sở cho sự ra đời một tác phẩm nghệ thuật chân chính. Cảm xúc càng mãnh liệt, càng thăng hoa thì thơ càng có nhiều khả năng chinh phục, ám ảnh trái tim người đọc. Nhận xét rằng những cảm xúc trong thơ cũng không phải thứ cảm xúc nhàn nhạt. Đó phải là tình cảm ở mức độ mãnh liệt nhất thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút sáng tạo. Nhà thơ phải sống thật sâu với cuộc đời mới có thể viết nên những vần thơ có giá trị của sự trải nghiệm.

    Những sinh động sáng tác thơ khi người thi sĩ trước hết phải là người có tâm hồn giàu rung cảm, sống sâu sắc, trọn vẹn với từng khoảnh khắc cuộc đời để có những cảm xúc mãnh liệt, dồi dào trên mỗi trang thơ; cội nguồn của sáng tác văn học, chính là cảm hứng đột khởi trong lòng của nhà văn. Nhu cầu giải thoát và bộc lộ tình cảm chính là nhu cầu thôi thúc đầu tiên của quá trình sáng tác của nhà thơ qua cây cầu ngôn ngữ.

    Alphonse de Lamartine vốn nổi bật là thi sĩ của tình thơ, (1790-1869) là một trong những nhà thơ khởi xướng phong trào  phái lãng mạn trong văn học Pháp vào thế kỷ 19. Bài thơ  “Le Lac”  được nhiều người ưa thích trong số các vần thơ của Lamartine. Trong “Le Lac”, thi sĩ trở lại chốn xưa, nơi đánh dấu cuộc tình với người tình Julie Charles (Elvire) nay đã mất, bài thơ này đã hơn nhiều thập kỷ qua. Lamartine, nhà thơ Pháp tâm sự: “Thế nào là thơ? Đó không phải chỉ là một nghệ thuật, đó là sự giải thoát của lòng tôi”. Thơ là “sự giải thoát của lòng tôi”, thơ là tiếng nói tâm hồn, tình cảm của nhà thơ với bao buồn, vui, ước mơ, hi vọng…Thơ không chỉ là sản phẩm kỳ diệu của nghệ thuật ngôn từ mà thơ là phương tiện giao tiếp, bộc bạch tình cảm của người nghệ sĩ với đời.

    Trong ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi cũng khẳng định: “Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói, tức là chữ – để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển khác thường”. Hay theo M. Gorki: “Lời và những dấu hiệu thay cho lời nói”, tức là chữ, chính là phương tiện hữu hiệu nhất, đắc dụng nhất để kết thành thơ vì “yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ”; để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển khác thường: nhà thơ ghi lại trạng thái tâm hồn mình đang có những biến chuyển, rung động sâu sắc, mạnh mẽ, căng thẳng nhưng say mê khác thường.

    Những linh động sáng tác thơ nói riêng cũng như sáng tác văn học nói chung là một trạng thái tâm lý, nét thẩm mỹ phong phú và phức tạp, quá trình sáng tạo nghệ thuật đã chuyển tất cả những rung động, nhận thức của người nghệ sĩ về đời sống trở thành những hình tượng nghệ thuật ngôn từ. Đây là một quá trình lao động thầm lặng song cũng đầy vất vả, gian nan trong một niềm say mê vô tận của người nghệ sĩ.

    Thơ ca là hơi thở của niềm tin. – Lý Bạch

    Thơ ca là tiếng nói của lương tri. – Voltaire

    Thơ ca là sự sống. – Octavio Paz

    Thơ ca là sự tự do. – Emily Dickinson

    Thơ ca là sự đổi mới. – Wallace Stevens

    Thơ ca là tình yêu. – William Shakespeare

    Thơ ca là trí tưởng tượng. – Samuel Taylor Coleridge

    Sáng tạo sẽ đem đến cái mới, công phu tâm huyết sẽ tạo nên sự hoàn hảo và chiều sâu. Văn chương tồn tại bởi nội dung tư tưởng song tồn tại bằng ngôn từ nghệ thuật. Nếu chất liệu ngôn từ không được lựa chọn và gọt giũa, sức biểu đạt của nó kém đi sẽ khiến tư tưởng, tâm huyết của nghệ sĩ không thể hiện được trọn vẹn, tính nghệ thuật của tác phẩm giảm sút, sức hấp dẫn nghệ thuật kém sẽ khiến những giá trị còn lại dù có cũng khó phát huy tác dụng.

    Thơ lại càng đòi hỏi điều này vì nó có những đặc trưng mang tính loại biệt (trong phạm vi dung lượng giới hạn, thơ cần biểu đạt một cách sâu sắc, tinh tế tư tưởng, tình cảm, khát vọng bằng hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mỹ và có sức mê hoặc mạnh mẽ). Nguyễn Công Trứ tâm sự: “Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời”, “nợ” vừa là duyên nợ, vừa là trách nhiệm của người cầm bút với thơ ca, “chuốt” là chỉnh sửa, lựa chọn một cách công phu sao cho đạt tiêu chuẩn cao nhất về mặt thẩm mỹ. “Chuốt lời” vì thế sẽ là sự thể hiện của tài năng, cũng là sự thể hiện trách nhiệm của nhà thơ với thơ và với người đọc. Nói tóm lại: người nghệ sĩ phải sáng tác từ những xúc cảm chân thành nhất, tha thiết nhất, phải lựa chọn ngôn từ chính xác nhất, tinh lọc nhất.

    Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, cho nên vì thế, thơ ca cũng đòi hỏi nhà thơ phải in dấu tâm hồn, trí tuệ mình vào đó thật sâu sắc, càng cá thể càng độc đáo, càng hay. Nhờ khả năng sáng tạo tuyệt vời mà các thi nhân luôn tìm ra những cách nói mới về những điều đã cũ. Nếu không có sáng tạo, không có phong cách riêng thì tác phẩm và tác giả đó sẽ không thể tồn tại trong văn chương. Những sáng tạo về hình thức biểu hiện rất phong phú qua thẻ loại, cấu tứ tác phẩm, ngôn ngữ thơ, hình ảnh thi phú.

    Thơ ca là sự tĩnh lặng giữa tiếng ồn ào. – Lao Tử

    Nhà thơ là người thắp lên ngọn lửa trong tâm hồn người khác. – Victor Hugo

    Thơ ca là bản ngã được cất tiếng. – John Keats

    Nhà thơ là người giữ gìn vẻ đẹp của ngôn ngữ. – T. S. Eliot

    Thơ ca là sự khám phá. – Robert Frost

    Thơ có tác dụng nuôi dưỡng tâm hồn con người cho nên ngoài là nơi dừng chân của tâm hồn thì nó còn có tác dụng sâu xa hơn nuôi dưỡng và hình thành nhân cách. Đọc thơ, làm thơ người ta là truyền tải những bài học bằng tình cảm nên có có tác dụng lay chuyển con người làm con người ta vươn tới cái chân, thiện, mỹ; nó tác động cải tạo tư tưởng, đạo đức của con người.

    Thơ ca là nơi mà nỗi đau biến thành bài ca. – Kahlil Gibran

    Nhà thơ là người biết lắng nghe tiếng thì thầm của gió. – Percy Bysshe Shelley

    Thơ ca là sự tinh tế của tâm hồn. – Johann Wolfgang von Goethe

    Nhà thơ là người mang đến hy vọng. – Maya Angelou

    Xét về nội dung bài thơ này của nữ sĩ Dương Hồng Anh, bà dùng tạo nên giá trị đặc trưng của thơ, là nội dung tình cảm, cảm xúc của thơ. Từ ý nghĩa cụ thể của từ ngữ, có thể hiểu ý kiến của những danh nhân đề cập đến giá trị của thơ từ góc nhìn của người thưởng thức, tiếp nhận thơ: giá trị của thơ là giá trị của những tư tưởng tình cảm được biểu hiện trong thơ. Tình cảm, cảm xúc càng sâu sắc mạnh mẽ, càng lớn lao đẹp đẽ sẽ càng khiến thơ lay động lòng người. Do đó với người làm thơ, bài thơ là phương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng. Chỉ có cảm xúc chân thành, mãnh liệt mới là cơ sở cho sự ra đời một tác phẩm nghệ thuật chân chính.

    Thơ ca là những gì ta thì thầm vào tai vũ trụ. – Rumi

    Thơ ca là ánh trăng trên đỉnh núi. – Matsuo Bashō

    Thơ ca là bản giao hưởng của ngôn ngữ. – Pablo Neruda

    Thơ ca là nơi mà mọi thứ đều có thể xảy ra. – Jorge Luis Borges

    Thơ ca là sự tinh túy của nỗi buồn. – Charles Baudelaire

    Thơ ca là tiếng chuông của tâm hồn. – Edgar Allan Poe

    Thơ ca là cuộc cách mạng của ngôn từ. – Octavio Paz

    Thơ ca là sự giải thoát khỏi nỗi sợ hãi. – Audre Lorde

    Thơ ca là sự tĩnh lặng của tâm hồn. – Lao Tử

    Thơ ca là ánh sáng của trí tưởng tượng. – Samuel Taylor Coleridge

    Thơ ca là sự thật làm đẹp lòng. – Kahlil Gibran

    Từng tiếng nói trong thơ ca tạo nên sự sống động cho nhũng năng lực mới rất diệu kỳ. Thơ là những rung động và cảm xúc của con người trước cuộc sống được bộc lộ một cách chân tình, tự nhiên. Nhà thơ viết lên những câu trữ tình say đắm làm si mê gây lưu luyến với trái tim tràn đầy tình yêu, với những tâm hồn tình cảm. Nhà văn Vissarion Belinsky đã từng nói: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật. Thơ phát sinh từ những tâm tư, nỗi niềm về cuộc đời. Nhà thơ là những người có tâm hồn vô cùng nhạy cảm, trái tim họ rất dễ rung động.

    Thơ ca là sự cảm thông. – John Donne

    Thơ ca là sự thật không lời. – Rumi

    Thơ ca là tiếng nói của tình người. – Pablo Neruda

    Thơ ca là sự biến đổi. – Carl Sandburg

    Thơ ca là vẻ đẹp thuần khiết nhất. – Oscar Wilde

    Thơ ca là sự thanh lọc tâm hồn. – Plato

    Thơ ca là ánh sáng của buổi bình minh. – Lord Byron

    Thơ ca là sự thật không cần chứng minh. – William Shakespeare

    Thơ ca là sự tự do của tư tưởng. – Emily Dickinson

    Những cảm xúc trong thơ luôn là lẽ chân thật hất, vui buồn yêu ghét rõ ràng. Cũng như lòng người có những cũng bậc cảm xúc khác nhau tùy theo hoàn cảnh, thì thơ cũng vậy. Dùng bằng tấm lòng để viết thơ, nên nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã khẳng định, “thơ là tiếng nói thứ nhất”. Nhà thơ là con ong hút nhụy từ những bông hoa của đời sống, không có sự tái tạo tài tình của con ong thì phấn hoa cũng không thể thành mật ngọt. Vì thế nói cho cùng thi thơ ca chính là tiếng nói của  đời sống thực tại của nhân dân, nhập tâm được bao nhiêu là nhờ ở cuộc đời của mình gắn bó bao nhiêu.

    Thơ ca là sự thật được viết bằng mực nước mắt. – George Sand

    Thơ ca là ánh sáng trong bóng tối của cuộc đời. – Victor Hugo

    Thơ ca là tiếng thì thầm của thiên nhiên. – Henry David Thoreau

    Thơ ca là sự bay bổng của trí tưởng tượng. – Samuel Taylor Coleridge

    Thơ ca là nguồn cảm hứng vĩnh cửu. – Percy Bysshe Shelley

    Thơ ca là sự tinh tế của cảm xúc. – Johann Wolfgang von Goethe

    Sức Mạnh Của Ngôn Từ Trong Thơ Ca, là ngôn từ là vật liệu cơ bản, là trái tim của thơ ca. Nhưng không phải ngôn từ nào cũng có thể trở thành thơ. Những câu nói hay về thơ thường xuyên đề cập đến cách mà các nhà thơ biến những từ ngữ đời thường thành những viên ngọc quý. Sức mạnh của ngôn từ trong thơ không chỉ nằm ở nghĩa đen mà còn ở nghĩa bóng, ở khả năng gợi hình, gợi cảm, ở nhịp điệu, âm hưởng và những khoảng lặng đầy ý nghĩa.

    Thơ ca là lời ca của cuộc sống. – Maya Angelou

    Thơ ca là tiếng lòng của nhân loại. – Lỗ Tấn

    Thơ ca là phép màu của ngôn ngữ. – Jorge Luis Borges

    Thơ ca là sự thật ẩn giấu. – Edgar Allan Poe

    Thơ ca là sự hài hòa của âm thanh và ý nghĩa. – Aristotle

    “Thơ ca là tiếng hát của trái tim, là nơi dừng chân của tinh thần”

    Thật vậy, mỗi bài thơ đều như một bản nhạc, một bản tình ca sâu lắng, hay một khúc tráng ca hào hùng. Voltare cũng từng nói: “Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cạm” Thơ ca là niềm cảm nhận ban đầu, như là xúc cảm giâu phút chợt dến thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm tới cuộc sống. Như từng nốt nhạc du dương trầm mặc của Bản Sonate Ánh trăng đều khiến lòng người lặng đi vì xúc động. Phải chăng Beethoven đã viết bản nhạc bằng những xúc cảm tinh tế mà mãnh liệt nhất ngay khi nhìn thấy cảnh sống của cha con cô gái mù. Quy luật của nghệ thuật nói chung là bắt nguồn từ dòng tình cảm. Thơ ca cũng thế.

    Thơ Ca Như Một Tấm Gương Phản Chiếu Cuộc Đời: Một trong những vai trò quan trọng nhất của thơ ca, được nhiều những câu nói hay về thơ nhấn mạnh, là khả năng phản ánh chân thực cuộc đời. Thơ không đứng ngoài cuộc sống mà hòa mình vào dòng chảy của nó, ghi lại những khoảnh khắc, những cảm xúc, những suy tư của con người trước vũ trụ rộng lớn. Thơ ca là nơi con người tìm thấy sự đồng điệu, tìm thấy chính mình trong những vần thơ của người khác. Khi đọc một bài thơ về tình yêu, nỗi buồn, hay sự cô đơn, chúng ta có thể nhận ra những cảm xúc tương tự trong tâm hồn mình.

    Thơ ca cũng là một công cụ mạnh mẽ để ghi lại lịch sử, văn hóa của một dân tộc. Nhiều bài thơ không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mà còn là tài liệu quý giá về đời sống xã hội, phong tục tập quán, và những biến động của thời đại. Goethe từng nói:

    “Thơ ca là sự giải phóng những nỗi đau thầm kín

     của con người qua những từ ngữ đẹp đẽ.”

    Câu nói này cho thấy thơ ca có vai trò như một liệu pháp tinh thần, giúp con người đối diện và hóa giải những nỗi niềm sâu kín.

    Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm. Vậy trước hết, ta hãy cùng nhau tìm hiểu về khái niệm thi ca, vì thơ là tiếng nói của tri âm”. Với Bibolay: “Thơ là thư kí trung thành của trái tim”. Thơ ca là các loại hình sáng tác văn học có đặc điểm ngắn gọn, súc tích. cô đọng. Một bài văn cũng có thể là một bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó súc tích và gây cảm xúc cho người đọc một cách nhanh chóng.

    Vì sao lại nói “thơ ca là âm nhạc của tâm hồn”? Là vì vần điệu của nó hay là còn lý do sâu xa nào khác? Phải chăng là bởi, người ta chỉ chọn lọc những gì tinh túy nhất để đưa vào một khúc ca.

    Thơ ca là sự tinh khiết của vẻ đẹp. – Oscar Wilde

    Thơ ca là sự khám phá những điều chưa biết. – Robert Frost

    Thơ ca là sự đồng điệu giữa người và người. – T. S. Eliot

    Thơ ca là sự bình yên trong tâm hồn. – Lao Tử

    Thơ ca là nghệ thuật của cảm xúc. Mọi những câu nói hay về thơ đều không thể bỏ qua khía cạnh này. Thơ có khả năng nắm bắt những cảm xúc thoáng qua nhất, những rung động sâu kín nhất của trái tim con người và lưu giữ chúng lại một cách vĩnh cửu. Từ niềm vui hân hoan đến nỗi buồn man mác, từ tình yêu nồng cháy đến sự cô đơn tột cùng, sự vĩnh cửu của cảm xúc trong thơ ca còn nằm ở khả năng truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Những bài thơ tình hàng trăm năm trước vẫn lay động trái tim người đọc hôm nay, những bài thơ về quê hương, đất nước vẫn khơi gợi lòng yêu nước mãnh liệt. Điều này chứng tỏ rằng, dù thời đại có đổi thay, dù ngôn ngữ có phát triển, những cảm xúc cốt lõi của con người vẫn không hề thay đổi. Thơ ca là minh chứng sống động cho sự bất biến của tình yêu, nỗi nhớ, niềm hy vọng và cả nỗi đau trong dòng chảy vô tận của thời gian. Nó là di sản tinh thần quý giá mà nhân loại mãi mãi trân trọng.

    Thơ ca là sự thấu hiểu. – Mary Oliver

    Thơ ca là sự kiên cường. – Langston Hughes

    Thơ ca là những giọt nước mắt của linh hồn. – Kahlil Gibran

    Thơ ca là sự bất tử của cảm xúc. – John Keats

    Thơ ca là cầu nối giữa các thế giới. – Rumi

    Thơ ca là tiếng gọi của sự thật. – Walt Whitman

    Thơ ca là ánh sáng trên con đường đời. – Victor Hugo

    Thơ ca là sự tự do của tâm hồn. – Emily Dickinson

    Thơ Ca: Nguồn Cảm Hứng Bất Tận Cho Đời Sống. Thơ ca không chỉ là để đọc, để chiêm nghiệm mà còn là nguồn cảm hứng dồi dào cho mọi mặt của đời sống. Những câu nói hay về thơ thường khắc họa thơ ca như một ngọn hải đăng dẫn lối, một chất xúc tác cho sự sáng tạo và đổi mới. Đối với các ngành nghệ thuật khác, thơ ca cũng là một nguồn cảm hứng vô tận.

    Âm nhạc thường lấy lời thơ làm ca từ, biến những giai điệu thành những bản tình ca bất hủ. Hội họa, điêu khắc cũng tìm thấy ý tưởng từ những hình ảnh, biểu tượng trong thơ.

    Tóm lại: Thơ ca, với vai trò là tiếng nói của tâm hồn, tấm gương phản chiếu cuộc đời và nguồn cảm hứng bất tận, đã và đang tiếp tục khẳng định vị trí không thể thay thế của mình trong kho tàng văn hóa nhân loại. Mỗi khi ta dừng lại để chiêm nghiệm những câu nói hay về thơ, ta không chỉ thấy được sự phong phú trong cách nhìn nhận về thể loại nghệ thuật này mà còn cảm nhận được sức mạnh vĩnh cửu của ngôn từ trong việc chạm đến những tầng sâu nhất của cảm xúc và tư duy con người.

    Thơ ca mãi mãi là cầu nối giữa các thế hệ, là nơi mà vẻ đẹp và sự thật được tôn vinh, nuôi dưỡng tâm hồn và làm cho cuộc sống trở nên đáng sống hơn.

    Kết Luận: Qua nhận định của Việt Hải

    Nhận định trên đã khẳng định bản chất và giá trị thực sự của thơ ca không chỉ là nghệ thuật của ngôn từ mà còn là tiếng nói của cảm xúc, là bản nhạc vang lên từ những tâm hồn nhạy cảm. Một bài thơ hay không chỉ để đọc mà còn để cảm, để sống cùng nó, để tìm thấy sự đồng điệu trong từng con chữ. Thơ ca sẽ mãi có sức sống nếu còn những con người biết yêu cái đẹp, biết lắng nghe những thanh âm tinh tế của tâm hồn qua từng vần thơ.

    Thơ ca, suy cho cùng, chính là tiếng nói của tâm hồn, là giai điệu được cất lên từ những rung động chân thành của con người trước cuộc sống. Một bài thơ chỉ thực sự chạm đến trái tim người đọc khi nó mang theo cảm xúc mãnh liệt, sự đồng cảm sâu sắc và những suy tư tinh tế về nhân sinh. Ý kiến “Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn” đã khẳng định rõ bản chất của thơ – một loại hình thức nghệ thuật không chỉ truyền tải ý nghĩa mà còn gợi lên những thanh âm đẹp đẽ trong tâm hồn mỗi người.

    Khi đọc một bài thơ, ta không chỉ thưởng thức câu chữ mà còn lắng nghe những giai điệu xúc cảm vang vọng trong từng dòng thơ, để từ đó thêm yêu cuộc sống, thêm trân trọng những giá trị tinh thần mà thơ ca mang lại. Có lẽ, chính nhờ những tâm hồn đa cảm, những trái tim biết rung động với đời, thơ mới có thể trường tồn, trở thành một phần không thể thiếu trong hành trình tâm hồn của nhân loại.

    Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My nghiên cứu và sưu tầm

    Xuân Bính Ngọ, 2026