-
Videos
-
ĐIỂM SÁCH: Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ.
Do nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật tổ chức với sự cộng tác của Văn Thơ Lạc Việt, ra mắt sách ngày Nov. 19, 2019 tại San Jose.
(Bài viết này do nhà biên khảo, nhà văn Diệu Tần viết một tuần trước, nhưng vì lý do sức khỏe nay ông viết tiếp).
Một số lớn nhà biên khảo văn sĩ, thi sĩ có những nhận định về TLVĐ, nhất là Nhất Linh Nguyễn Tường Tam….Trong đó phải kể đến Hoàng Xuân Hãn là một nhân văn học mới nổi bật hơn tất cả thời gian 1932 đến 1942.
Nhà văn nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc nói: TLVĐ không những góp công lớn về văn học mà còn giúp năng cao nền văn học Việt Nam. TLVĐ đã tạo nên một phong trào thay đổi đường lối văn học và nâng Việt ngữ (Quốc Ngữ) ngày càng trong sáng.
Nhất Linh, Nguyễn Tường Tam là giám đốc, là con chim đầu đàn dựa trên “Mưới Điều Tâm Niệm” của Hoàng Đạo đã dứt khoát không do dự, quyết đổi mới, vừa lãng mạn vừa bình dân, đả phá phong kiến bằng văn, thơ, họa trên tờ Phong Hóa và Ngày Nay.
Nhất Linh và hai người em Thạch Lam, Hoàng Đạo rồi cùng với Khái Hưng, Thế Lữ, Tú Mỡ, Nguyễn Gia Trí 7 người, sau này nhận thêm Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng và Duy Lam (2 người sau là hậu duệ).
Cụ tổ Nguyễn Vân gốc làng Cẩm Phổ, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Không phải là Cẩm Giàng, hải Dương).
Tại sao cụ Vân lại có tên đệm là Tường ?
Chi tiết này trong sách đã kể, người viết kể chuyện: Đồi Phước Tường có đường xe hơi lên tới đỉnh. Tôi ở trong ngành Công Binh để quan sát ghi chép đường lộ cầu cống ngoài quốc lộ, tới tỉnh lộ, chuyến đi quan sát Phước Tường gặp đại Úy Nguyễn Đức Thắng, sau này là Trung Tướng. Ông đang đi bộ trên đồi muốn quá giang xe Dodge 4 x 4 của tôi, tôi vội vàng nhường ghế trưởng xa cho ông, ông mặc quân phục quần 5 túi, giầy boodequin, khoát tay nhẩy lên phía sau xe, tới nơi hỏi ra mới biết ông là chỉ huy tiểu đoàn pháo Binh.!
Làng Cẩm Phổ trái phải có song Thu Bồn bao quanh, nước xanh trong chảy ra biển qua Cửa Đại Hội An (Rau muống Cẩm Phổ nổi tiếng ngon và dòn giống Sơn Tây, cọng thuôn dài xanh mướt, chỉ có ít lá nhỏ tựa một nụt măng tây dài).
Nhất Linh là con trai thứ ba (tam) trong gia đình có 5 trai 1 gái.
Ông là nhà văn, hoạ sĩ vừa là nhà chính trị, ông lập ra hệ phái trong Việt Nam Quốc Dân Đảng, Ông còn là một nhà giáo dậy tại trường Thăng Long. (Năm 2006 bức tranh lụa của Nhất Linh ký tên TAM được bán đấu gía với 75 ngàn Mỹ Kim, đề “Cảnh Phố chợ Đông Dương”.
Nhất Linh kết thân với (Khánh Giư) Khái Hưng ông gìa hơn ông Tam 10 tuổi. Ông vào học y khoa, rồi bỏ vào Cao Đảng Mỹ Thuật lại cũng bỏ, nguyên do học vẽ phải ra ngoài để vẽ, vào làng quê gặp nhiều cảnh nghèo khổ, kể cả người lao động ở thành phố khiến ông suy nghĩ và quyết định làm báo, viết văn. Ông là người sống nội tâm, it nói, trầm ngâm đôi khi cũng trào phúng.
Nhất Linh sáng tác 7 tác phẩm tiêu biểu, chưa kể được in cuốn “Xóm Cầu Mới” và “Dòng Sông Thanh Thuỷ” sau năm 1952. Không kể những bài viết theo tiết mục thường có trên Phong Hóa và Ngày Nay.
Các thành viên chính của Văn Đoàn làm việc thận trọng việc tuyển lựa bài đăng với phong cách công bằng nhận cây bút mới nhập tịch. Nhất Linh ra mắt sách ít hơn Khái Hưng, ông còn khuyến khích Tú Mỡ làm thơ hướng trào phúng (Sau này Doãn Quốc Sĩ là con rể Tú Mỡ) khuyến khích các bạn đào sâu hơn theo đúng sở trường. Ông là người mê say cải cách, cách mạng nhưng cũng giầu nghệ sĩ tính, thất bại về chính trị nhưng lại ưa thích thiên nhiên cây cỏ, thổi hắc tiêu vẽ tranh lụa bên bờ suối. “Đam mê” chuộng họa lan Thanh Ngọc đến mức bê cả chậu cho ngủ chung giường.
Khái Hưng người tỉnh Hải Dương bạn tâm giao ngay khi cùng dạy ở trường Thăng Long. thời còn nhỏ có học Hán tự. Ông có tú tài Pháp, Cũng là con quan nhưng không thích làm quan, có thiên khiếu vế Văn chương, bản tính hiền lành không tự kiêu. Tác phẩm đầu tay được đón chào nhiệt liệt là “Hồn Bướm Mơ Tiên” Tiếp nữa là “Nửa chừng xuân” sức sáng tác thực phong phú với 24 tác phẩm (có cuốn viết chung với Nhất Linh. Ông bà Khái Hưng không có con trong khi Nhất Linh có 10 người con, và tặng Khái Hưng một con trai làm con nuôi nhận là họ Trần, Trần Khánh Triệu. (Cũng là Nguyễn Tường Triệu). Ông viết truyện luận đề trong gia đình Việt Nam và xã hội thời đó.
Khởi đầu Khái Hưng và các bạn đồng chí hướngviết và làm thơ về chế nhạo những hủ tục hống hách làng xã huyện (nhân vật lý toét, Xã Xệ, Gang Bạnh, Lý đình dù) Đề cao cá nhân chống bất công xã hội. Càng về sau đả phá tham lam, thực dân và chuyển mạnh về xã hội chính trị.
Sau 1945 chống đối Việt Minh Cộng Sản.
Khái Hưng được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan ví với nhà văn Pháp Alfred De Musset thi sĩ của giới thanh niên chú tâm đến cải cách gia đình và xã hội. Khái Hưng được giới trẻ vì ông hiểu được tâm lý của con người.
Văn Chương TLVĐ muốn xây dựng đất nước, đề cao tình tự dân độc, đòi quyền làm người, bênh vực nữ giới, chính vì thế Việt Minh rất kỵ TLVĐ nên đã bắt Khái Hưng và Nguyễn Tường Cẩm. Hai người bị thủ tiêu, Khái Hưng bị giết cách dã man, xác dìm xuống sông Cửa Ga.
Khái Hưng xứng đáng là nhà báo, nhá văn, nhà cách mạng chân chính.
Thạch Lam người con thứ sáu trong gia đình, có mái tóc nghệ sĩ dáng người ẻo lả. Nhà văn Vũ Bằng có nói: Cái gì của Thạch Lam cũng nhẹ nhàng từ câu nói, từng bước đi… dường như nếu bước mạnh thì đất nó đau… bút pháp ông tinh tế không kiểu cách. Ông viết dễ hiểu, thanh cao. Qua đời với tuổi 32, Thạch Lam cho thấy là người tài nhưng mệnh yểu. Phải chăng là định mệnh, là tướng số. Ông cho ra đời một truyện dài, một truyện ngắn, một cuốn nghị luận văn chương đó là cuốn “Theo Dòng” Ông coi trọng phẩm hơn lượng, có giá trị ở tầng cao.
(Bà Tường Nhung con gái lớn của Thạch Lam kết hôn với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, một vị tướng nổi danh trong trận mạc và thanh liêm).
Hoàng Đạo là con trai thứ sáu trong nhà, bút hiệu khác là Tứ Ly, có người cho rằng Tứ Ly là rơi vào giờ xấu nhất, còn Hoàng Đạo lại là giờ tốt nhất. Cách chọn bút hiệu tỏ ra người cương quyết rắn rỏi. Ông viết phóng sự về tòa án vì ông có bằng luật, Cuốn “Mười Điều Tâm Niệm” được coi như bản tuyên ngôn. Truyện “Trước Vành Móng Ngựa” ghi lại những truyện bi hài trong nối xử án, rồi: Bùn Lầy Nước Đọng”, “Vấn Đề Thuộc Địa” , tryện dài “Con Đường Sáng” viết chung với Nhất Linh.
Giống như Khái Hưng đều không thích làm quan, có cơ hội để làm tri huyện nhưng ông từ chối. Ông là đại biểu Quốc Hội chắp vá Quốc Cộng, rồi làm bộ trưởng bộ kinh tế ít tháng. Nghe nói lại, hồi làm công chức tại Đà Nẵng, được giới thiệu một tiểu thư con quan lớn trong triều, nhưng ông từ chối.
Các hậu duệ: Chưa có thế hệ thư ba cầm bút, cũng như ít người còn trẻ cỡ sáu mươi, phần đông tuổi từ 70 trên, dưới 80: Nguyễn Tường Thiết, Tường Hùng, Duy Lam, Thế Uyên, Tường Giang, Tường Nhung, Tường cat, Tường cường, Nguyễn Lân, Tôn Thất Niệm (Con rể) Trần Khách Triệu, Từ Dung.
Các Giáo Sư, Nhà Văn, Nhà Thơ trong sách có 5 vị là Trần Huy Bích, Phạm Quốc Bảo, và Dương Ngọc Sâm, Quyên Di, Trần Mạnh Chi, và 10 người còn lại.
Ghi Nhận: Buổi ra mắt sách “Tự Lực Văn Đoàn và các Cây Bút Hậu Duệ” thành công tốt đẹp số ngươi tới dự tiệc la 140, số sách mang theo trên 100 cuốn bán hết, những người muốn mua nhưng rất tiếc…!
Có người ghi nhận hai gia đình Nguyễn Tường và Kenedy có những nhân vật tạ thế giống nhau do hoạt động chính trị.
Ông Tường Cấm, người con thứ nhì, rồi ông Nhất Linh, ông Hoàng Đạo qua đời vì chính trị.
Điều khác nhau là họ Nguyễn Tương dùng cây bút để cải đổi, cách mạng xã hội, còn họ Kenedy không hoạt động văn chương, văn học.
Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn xứng đáng được nể trọng, không thành công chính trị, nhưng đã thành NHÂN, và thành công rực rỡ về phương diện ngôn ngữ văn học và văn hóa.
Người Việt Hải Ngoại chờ đợi các cây bút hậu duệ TLVĐ nối tiếp cơ nghiệp cha ông sẽ cho xuất hiện những tác phẩm mới, dù rằng khác biệt đã 7, 8 thập niên không gian, thời gian và môi trường.
Tranh thơ do thi sĩ Minh Thúy trình bày. -
Cảm nghĩ về “Chiều thơ nhạc Cung Trầm Tưởng”
Khánh Lan

Những hạt mưa đầu mùa nhè nhẹ với tiết trời lạnh lạnh, như nhắc nhở chúng ta “Nàng Thu” đang hiện diện nơi đây và sắp sửa ra đi, để nhường lại cho những ngày đông lạnh giá sắp đến. Và như một sự tình cờ ngẫu nhiên, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi chiều nhạc thơ để chào đón một nhà thơ rất thân quen, mà hầu như tất cả chúng ta đều biết đến từ đầu thập niên 60: Thi sĩ Cung Trầm Tưởng.
Đây cũng là buổi họp mặt lần thứ năm, mà Liên Nhóm NVNT & TTG đã chào đón Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, từ Minnesota lạnh lẽo về thăm thành phố “Tiểu Saigon”. Buổi nhạc thơ được tổ chức tại Cordoba plaza Club House, thành phố Westminster, California trong bầu không khí ấm cúng và thân mật. Mặc dù chương trình bắt đầu lúc 4:00 giờ chiều, nhưng mới 3:30, đã có khá đông những thân hữu yêu thơ Cung Trầm Tưởng, xếp hàng chờ sẵn ngoài cửa. Ngoài sự hiện diện của các thi sĩ và văn sĩ, như nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi, Nhà thơ Cát Ngọc, Nhà thơ Tha Nhân, Nhà thơ Việt Cường, Nhà thơ Bích Ty, Nhà Văn/Giáo sư Dương Ngọc Sum, Nhà Văn Việt Hải, Nhà Văn/Giáo sư Quyên Di, và Nhà Văn Nguyễn Quang Huy, Nhà Văn Võ ý … còn có sự góp mặt của ký giả Uyên Vũ (báo Người Việt), Ca sĩ Thúy Anh, KTS Nguyễn văn Liêm, NAG Lê Hùng, v.v…
Mở đầu chương trình, MC Khánh Lan giới thiệu và chia sẻ cảm nghĩ của mình về tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ, 1948-2008”. Tâp thơ này được xuất bản tại Virginia, Hoa Kỳ, năm 2012 và tái xuất bản lần thứ nhất tại California, Hoa Kỳ, năm 2019. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cho biết đây là tập thơ cuối cùng và ông rất hài lòng và hãnh diện khi cho cho tập thơ này ra đời.

Trong tập thơ, thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi rõ chi tiết của từng giai đoạn, những cảm xúc của mình theo dòng thời gian, qua những thăng trầm của cuộc đời cũng như vận nước nổi trôi trong suốt 60 năm qua. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cũng không quên ghi lại những điểm son trong đời và những cảm xúc của mình qua những chặng đường gian khổ, đau thương, nhớ nhung, uất ức, tuyệt vọng, phẫn nộ và hận thù mà ông đã đi qua.
Ngoài hai bài thơ bất hủ, có thể nói là vượt thời gian và làm nên tên tuổi của ông, là bài “Mùa Thu Paris” và “Chưa Bao Giờ Buồn Thế”, không thể nào không nhắc đến những vần thơ, mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác trong trại tù tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977. Những vần thơ nặng nét đau khổ và tuyệt vọng của người thua cuộc, đã làm thay đổi hoàn toàn những suy nghĩ trong thể thức sáng tác thơ của ông, những vần thơ lãng mạn khi xưa, vội vàng xếp lại để nhường chỗ cho những lời thơ sắc xảo, cay đắng và chai cứng như sau:
Áo tù thẫn máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Môi cầm má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén, canh pha nước bùn.
Nhưng cũng không thể nào sánh được với những vần thơ mà Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đặt tên cho nó là “Nộ Thơ” khiến người nghe qua phải rùng mình khiếp sợ:
Mai về đạn nhảy ngang nòng súng
Trực trì đầu thù mổ thật nhanh.
Chiều nhạc thơ tiếp tục với những bài hát nổi tiếng của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như “Tiễn Em” và “Mùa Thu Paris”, qua sự trình diễn của ban hợp ca Tiếng Thời Gian. Ca sĩ Thúy Anh với nhạc phẩm “Mình Ơi Ở Lại Đừng Về” và “Paris Có Gì Lạ Không Em”. Ca sĩ Nhật Uyên với bài “Bên Ni Bên Nớ”. Cũng không quên nhắc đến Nhạc sĩ Nguyên Vũ (phu quân của Ca sĩ Thúy Anh), Nhạc sĩ/Guitarist Quốc Sĩ và Nhạc sĩ Keyboardist Tú Phạm đã giúp cho phần âm nhạc trở nên sôi động.
Tiếp theo phần văn nghệ là phần nhận định của nhà văn Việt Hải (anh cũng là con chim đầu đàn của Liên Nhóm NVNT & TTG) về hai bài thơ tiêu biểu thuộc thể loại “Thơ Mới” của thi sĩ Cung Trầm Tưởng: “Núi Và Suối, Một Huyền Sử” và “Phồn Thực Ca”.
Trong bài “Núi Và Suối, Một Huyền Sử”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại khi ông ở trại tù Hầm Tân, tức trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận, nơi có suối nước trong và rặng mây tào, đã cho ông nguồn cảm hứng để sáng tác bài thơ này.
Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ
Tháp chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn.
Bài thứ hai là “Phồn Thực Ca”, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng kể lại thời trai trẻ, khi ông còn là một phi công, trong một công tác ở miền tây, ông đã gặp và để ý đến một cô giáo dạy học tại đây, có nhan sắc tuyệt vời và hình bóng ấy đã đi vào hồn thơ của người thi sĩ trẻ, tạo nên nguồn thơ cảm hứng và ông đã sáng tác bài thơ ca tụng vẻ đẹp của cô giáo như sau:
Em ướp trầm hương ngân ngát thánh
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên…
Nhà Văn Việt Hải kết thúc bằng nhận xét như sau, anh nói, thơ của Thi sĩ Tagore và Thi sĩ Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm của vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc, tình yêu, đề cao con người và triết lý nhân sinh.

Chiều nay, cũng là buổi chiều mừng sinh nhật và chúc thọ Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tròn 90 tuổi. Nhà Văn Việt Hải nhắc đến bài thơ Đêm Sinh Nhật mà thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sáng tác khi ông 29 tuổi, tại Đa Kao, Saigon. Bài thơ viết theo thể loại 6-8, nói lên nỗi cô đơn của Thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Đêm ấy, 50 năm về trước, cũng có mưa rơi như chiều nay, nhưng hôm nay, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng không còn cảm thấy cô đơn, vì quanh ông, đã có rất nhiều người yêu mến ông và yêu mến cả thơ của ông nữa. Bài thơ “Đêm Sinh Nhật” được thi sĩ Bích Ty diễn ngâm để mừng sinh nhật thứ 90 của ông.

Sau bữa ăn tối, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng say sưa phát biểu về những sáng tác, quan điểm, nguồn cảm hứng, nỗi xúc động của ông qua thơ văn. Ông nói về những kỷ niệm khi ông du học tại Paris, nơi ông đã sáng tác những bài thơ có nhiều phong thái lãng mạn, qua những ảnh hưởng bởi đời sống, văn hóa Âu Tây, nhóm văn học hiện sinh (Existentialisme) và nhóm thơ triết học (Philopoésie)….Thi sĩ Cung Trầm Tưởng tâm sự, “Thơ là sự chuẩn mực từng từ ngữ thích hợp, cho tỏa sáng ý tưởng mình muốn nói “.
Và sau cùng, Nhà Văn Quyên Di bình luận về chủ đề “Thi sĩ Cung Trầm Tưởng, Một Gương Mặt Văn Học Của Việt Nam “. Ông nói: “Thi ca Cung Trầm Tưởng có những ý tưởng tôn giáo triết học. Qua lăng kính tín ngưỡng, Phật giáo/Công giáo đều được thể hiện qua ý niệm tình thương và sự sống.
Nhà Văn Quyên Di kết thúc buổi “Chiều thơ nhạc Cung Trầm Tưởng” với một câu chuyện thật hay và dí dỏm “Ai Đã Tạo Dựng Nên Người Đàn Bà?”

Buổi chiều thơ nhạc đã chấm dứt trong niềm hân hoan và luyến tiếc. Thi sĩ Cung Trầm Tưởng nói, “Tôi vô cùng xúc động khi có được những giây phút hạnh phúc như thế này, xung quanh những người bạn thân quý và thương mến tôi cũng như thơ của tôi”. Trước khi ra về, Thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã ký tặng bạn bè hiện diện trong buổi chiều thơ nhạc tập thơ “Cung Trầm Tưởng, Một Hành Trình Thơ-1948-2008”.

Ghi dấu lại một ngày vui.
Khánh Lan tường trình từ thành phố Westminster.
-
Phóng sự về buổi “Vinh Danh và Mừng Thượng Thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh”
Click vào link để xem thêm hình
Vào lúc 1 giờ trưa ngày 16 tháng 11, năm 2019, Liên nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian” đã tổ chức buổi Vinh danh và mừng Thượng thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh tại NT Studio, trên đường Brookhurst, thành phố Westminster, California. Hôm ấy, trời thật đẹp! Những tia nắng vàng óng ánh, len lỏi qua những cành cây như để sưởi ấm vài chiếc lá khô còn sót lại trên cành. Trong một không gian lãng mạn của mùa thu, có lẽ không còn gì thú vị hơn khi được cùng bạn bè cùng thưởng thức những bài tình ca của một thời xa xưa…
Tuy mới 12:30 trưa nhưng đã có khá đông thân hữu xếp hàng ngoài cửa. Nét vui tươi hiện rõ trên khuôn mặt từng người. Phía bên trong, ban tiếp tân cũng đã bắt đầu bận rộn tiếp đón khách vào chỗ ngồi. Đúng 1 trưa, Giáo sư Quyên Di và Xướng Ngôn viên Khoa Cát (đài truyền hình SAIGON TV, 57.5) chào đón Nhạc sĩ Tuấn Khanh, phu nhân và Nhạc sĩ Bùi Thiện cùng đi chung với ông.

Khách tham dự gồm có sự hiện diện của của Nhạc sĩ Lê Văn Khoa, Nhà văn Mắt Nâu, Nhà Thơ Việt Cường, Thi Sĩ Bích Ty, Ca Sĩ Chung Tử Lưu, Ca sĩ/Bác Sĩ Vương Đức Hậu và cô Vương Minh Ngọc, Nhạc trưởng Bùi Quỳnh Giao (Ban hợp xướng Ngàn Khơi), Ca Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng, Nhà Văn Nguyễn Huy Quang, Nhà văn Dương Tử, Giáo sư/Nhà văn Dương Ngọc Sum, Nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Võ Ý, Nhà báo/Nhà văn Phạm Quốc Bảo, Nhà văn Hạo Nhiên Trần Thế Ngữ, Nhà văn/Nhạc sĩ Dương Viết Điền, Nhà văn Hà Nguyên Du, Trương Thành Đức, Ông Nguyễn Lý Sáng (Cựu Hội trưởng Tây Ninh Đồng Hương Hội), Nhạc sĩ/Ca trưởng Hồng Trang (phu nhân Giáo sư Quyên Di), Tiến sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh và Tiến sĩ Nguyễn Kim (Washington D.C.), Bác sĩ/Ca sĩ Nguyễn Đức Cường, Bác sĩ/Ca sĩ Trương Đức Cường, Họa sĩ Lam Thủy, Hoạ sĩ Chính Mung, Ký Giả Uyên Vũ, Nhạc sĩ/Bác sĩ Mạc Vũ Phạm Gia Cổn và nhóm Hoàng Hạc Khí Công, nhóm Nghệ sĩ Hoa Mai Nga Lam (San Diego), Nhiếp ảnh gia Hòa Quân và rất nhiều vị khách quý nữa. Đặc biệt, còn có sự hiện của Nhà báo Phạm Kim (Báo Người Việt Tây Bắc, Seattle) từ Seattle đến.
Sau phần chào Quốc Kỳ và một phút tưởng niệm, MC Nhật Uyên thay mặt Nhà văn Việt Hải và Liên Nhóm NVNT & TTG, giới thiệu về chủ trương và sinh hoạt, thành phần Ban tổ chức, cũng như gởi lời cám ơn đến các nhà bảo trợ và các mạnh thường quân đã hỗ trợ trong việc duy trì và bảo tồn những sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của hội. Chương trình được tiếp tục với MC Khánh Lan, giới thiệu về tiểu sử cũng như những sáng tác của Nhạc sĩ Tuấn Khanh.
Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tên thật là Trần Trọng Ngọc, sinh năm 1933 tại Nam Định. Năm 1950, ông về sống tại Hà Nội và học vĩ cầm với người anh cả. Trong một bài phỏng vấn của phóng viên Đức Tuấn, tòa báo Người Việt, tháng Tư, năm 2013, Nhạc sĩ Tuấn Khanh đã tâm sự rằng, “Người thầy đầu tiên dạy nhạc cho ông là ông Nguyễn Văn Diệp, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Nhạc sĩ Tuấn Khanh chuyển sang học nhạc với ba ông thầy người Pháp, cho nên chắc chắn những sáng tác của ông, không nhiều thì ít, đã chịu ảnh hưởng nền âm nhạc Tây Phương”.
Năm 1953, ông giành giải nhất của đài phát thanh Quốc Gia về giọng hát.
Ông sáng tác cả hai thể loại: tình ca và những ca khúc mang âm hưởng nhạc tiền chiến. Đôi khi, ông viết theo lời yêu cầu của nhà xuất bản mà ông gọi là “Nhạc Đại Chúng”‘ một loại nhạc rất thịnh hành và ăn khách thời ấy. Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Thương Hoài Thương, điển hình là bài Lệ Tình, Tuy Anh Không Nói. Trần Kim Phú qua sáng tác Vì lỡ thương nhau v.v… Ngoài việc viết nhạc, ông còn là ca sĩ với nghệ danh “Trần Ngọc”.
Năm 1955, Nhạc sĩ Tuấn Khanh di cư vào miền Nam Việt Nam. Tại Saigon, ông đàn cho đài phát thanh và ban Giao Hưởng của trường Quốc Gia Âm Nhạc. Nhạc phẩm đầu tay của ông là bài “Đò Ngang”, viết cùng với Nhạc sĩ Y Vân.
Sau năm 1975, ông ngưng mọi sáng tác trong vòng 7 năm và chuyển sang nghề dạy học tại tư gia. Những lần vượt biên thất bại đã khiến ông vô cùng thất vọng, tưởng chừng mình không bao giờ có được cơ hội đặt chân lên miền đất tự do. Tuy nhiên, lần vượt biên sau cùng, ông đã thành công.
Khi đến Hoa Kỳ, ông được một nhà thờ Tin Lành bảo lãnh và ông đã sáng tác cả trăm bài nhạc đạo cho xứ đạo này. Sau sáu tháng sinh sống tại San Jose, trong một buổi nói chuyện, ông đã theo lời mời của NHẠC SĨ Phạm Duy, về sống tại miền nam California. Nơi đây, ông đã lấy lại nguồn cảm hứng và bắt đầu sáng tác lại. Vào năm 2002, Trung tâm Thúy Nga mời ông cộng tác trong chương trình “Thúy Nga By Night 64: Đêm Văn Nghệ Thính Phòng” với chủ đề vinh danh ba Nhạc sĩ: Tuấn Khanh, Vũ Thành An và Từ Công Phụng.
Nhạc sĩ Phạm Duy đã nhận xét về dòng nhạc của Nhạc sĩ Tuấn Khanh như sau: “Trong tất cả các nhạc sĩ, đã suốt một đời sáng tác cho quê hương Việt Nam, qua bao luân lạc, Nhạc sĩ Tuấn Khanh là một nhạc sĩ đã nối tiếp con đường sáng tác nhạc tiền chiến và rất thành công”.
Năm 1982, ông đinh cư tại thành phố Garden Grove, California. Tại đây, ông và gia đình mở một tiệm phở mang tên Hoa Soan Bên Thềm Cũ .
Những sáng tác của Nhạc sĩ Tuấn Khanh đều được cả khán giả trong và ngoài nước trân trọng và yêu chuộng. Ông đã sáng tác hơn một trăm nhạc phẩm. Những nhạc phẩm được lưu truyền qua nhiều thế hệ, phải nhắc đến là: Hoa Soan Bên Thềm Cũ, Chiếc Lá Cuối Cùng, Dưới Giàn Hoa Cũ, Quán Nửa Khuya, Nhạt nhòa, Nỗi Niềm, Một Chiều Đông, Kiếp Sầu Đau, Chiều Biên Khu, Tại Vắng Anh, Kiếp Sau, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, Nẻo Đường Kỷ Niệm… là những bài nổi tiếng. Ông tâm sự, phần lớn mỗi bản nhạc ông sáng tác đều mang một niềm tâm sự và phát xuất từ những cảm xúc có thật của ông. Chẳng hạn, nhạc phẩm “Chiếc Lá Cuối Cùng” là nhạc phẩm kể lại chuyện tình ngang trái của chính ông. Cũng thế, nhạc phẩm “Nhạt Nhòa” là sáng tác của ngày chia tay người yêu trong một hoàn cảnh gần như chạy trốn, vội vã và chan hòa nước mắt. Ông cho biết ý nhạc của bài hát này đã đến với ông, ông đã ôm ấp và nuôi dưỡng nó trong tim mình trong suốt năm ngày lênh đênh trên biển cả…
Chương trình văn nghệ do Giáo sư Quyên Di và nhóm âm nhạc của Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian phụ trách. Mở đầu chương trình, ban tam ca “Lâm Dung, Ngọc

Quỳnh, Ái Liên” đã trình bày nhạc phẩm bất hủ của Nhạc sĩ Tuấn Khanh “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”. Sau đó là phần trình bày của Bác sĩ/Nhạc sĩ Vương Đức Hậu. Đặc biệt, phần trình diễn nhạc phẩm “Dưới Giàn Hoa Cũ” của Ca sĩ Chung Tử Lưu với sự phụ diễn của nhóm vũ Tiếng Thời Gian (Khánh Lan, Thanh Châu)… đã khiến cho chương trình tăng thêm phần sinh động và hào hứng. Chương trình nối tiếp với những nhạc phẩm nổi tiếng như: Nhạt Nhòa, Quán Nửa Khuya, Một Chiều Đông, Chiều Biên Khu, Nỗi Niềm, Nẻo Đường Kỷ Niệm v.v….

Trong suốt thời gian 3 tiếng rưỡi, hội trường NT Studio chìm trong mê đắm. Mọi người để hết tâm hồn theo dòng nhạc, thưởng thức những khúc nhạc vàng và lắng nghe những lời chia sẻ của Nhạc sĩ Tuấn Khanh, về những cảm xúc của ông qua từng sáng tác, từng giai đoạn và những biến chuyển xảy đến cho ông, theo dòng thời gian. Dưới sân khấu, Nhạc sĩ Tuấn Khanh ngồi yên lặng, hai tay ôm tấm “plaque” mà Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thới Gian trao tặng ông, chăm chú theo dõi phần trình diễn. Mặt ông tươi sáng với nụ cười mãn nguyện luôn nở trên môi. Thỉnh thoảng, vài giọt nước mắt lăn dài trên má nhưng ông vẫn thản nhiên, không che dấu những giọt lệ hạnh phúc.

Trước khi kết thúc chương trình, Nhạc sĩ Tuấn Khanh phát biểu cảm nghĩ của ông về buổi Vinh Danh và Chúc Thọ. Giọng ông nghẹn lại vì xúc động: “Còn gì hạnh phúc cho bằng, đến cuối đời, tôi được mọi người nghĩ đến và cho tôi một buổi chiều vui như hôm nay. Tôi không biết nói gì hơn”.

Bế mạc chương trình là phần cắt bánh Vinh Danh và Chúc Thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh. Chương trình kết thúc lúc 5:00 chiều. Bài “Hoa Soan Bên Thềm Cũ” được ban hợp ca Tiếng Thời Gian và thân hữu cùng hát lại lần thứ hai, rồi lại lần thứ ba, để tiễn ông ra về…
Ca sĩ Bùi Thiện kể lại: trên đường về, Nhạc sĩ Tuấn Khanh không ngừng nói về những cảm xúc của ông. Ông rất cảm động về chân tình của Giáo sư Quyên Di và Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian vì ông đã có một buổi vinh danh và mừng sinh nhật thật hạnh phúc, khó quên.
2:07 sáng ngày 26, tháng 11, 2019
Khánh Lan

-
Thi ca Cung Trầm Tưởng càng mang sắc thái triết học và tôn giáo

Hình như càng về sau, thơ Cung Trầm Tưởng càng mang sắc thái triết học và tôn giáo. Đọc thi tập Bốn “Những Dấu Chân Ngang Trên Một Triền Phiếm Định,” người ta thấy rõ điều ấy.
Bài thơ “Một Người Bầu Trời Chiếc Lá và Dòng Sông” nằm trong thi tập Bốn là một thí dụ điển hình.
Trước hết là một cái nhìn về vũ trụ quan.
Bầu Trời là Thiên mà Dòng Sông là Địa. Chiếc Lá là tượng trưng của vạn vật. Còn Người là “nhân linh ư vạn vật.” Một tựa đề thôi cũng đủ vẽ ra bối cảnh của đại vũ trụ mà trong đó Người là tiểu vũ trụ.
Triết học nhị nguyên phân biệt phần hồn và phần xác, tâm linh và nhục thể, trắng và đen, tốt và xấu. Người là TÔI và Chiếc Lá cũng là TÔI. Một TÔI tâm linh từ trên cao nhìn xuống và một TÔI nhục thể gian nan trên dòng đời như chiếc lá trôi sông. Ở đây dòng sông cũng chính là dòng đời. Chính cái dòng đời ấy thoáng cho người ta thấy hai bến sông: bến mê và bến giác theo Phật giáo.
“Một người soi bóng xế mùa xuân,
Nhìn lá trôi sông luống tần ngần.
Hỏi người dưới có phong ba lắm?
Thế sự trên này còn vướng chân.”Điều thê thảm của con người là hai mảnh “tâm linh” và “nhục thể” kiếm tìm nhau mà không gặp được nhau, không ráp lại “hai thành một.” Và, điều bi thảm tột cùng của Người (tiểu vũ trụ) là không tìm được và hoà nhập được với Đại vũ trụ (cũng được hiểu là Đấng Sáng Tạo – Creator.) Đó chính là hoả ngục.
“Tôi bỏ dòng sông đi choáng váng,
Mất người bản rập hoá bơ vơ.”Trong bài thơ “Một Người Bầu Trời Chiếc Lá và Dòng Sông,” người đọc cảm nhận triết học Phật giáo: tự giác ngộ để tự cứu mình. Chính vì thế, con nhà Phật dựa vào hùng lực và tuệ giác. Chớ ai nói Phật giáo là đạo chán đời, yếm thế. Bởi vậy, để tự giác ngộ, con người phải trải qua biết bao lần quán chiếu (nhìn thật sâu vào mình, soi rọi chính Tâm của mình để hiểu nó từ chính bản thân mình):
“Thân xác tôi da liền thịt gắn,
Hình bóng người tôi kiếm triền miên.”Khác biệt lớn lao nhất giữa triết học Phật giáo và thần học Ki-tô giáo là Ơn Cứu Chuộc. Trong khi Phật giáo chủ trương “chỉ chính tôi mới cứu được tôi” thì Ki-tô giáo cho rằng tôi vốn tội lỗi và yếu hèn, không thể tự tôi cứu tôi nên tôi cần một đấng Cứu Thế. Và vì yêu thương tôi (cũng như yêu thương toàn thể nhân loại,) Thiên Chúa Ngôi Hai đã xuống thế làm người, chịu khổ nạn, chịu chết để cứu chuộc tôi. Ngài là đấng Cứu Thế.
Với nền thần học ấy thì trong bài thơ này, “Người” chính là Ngôi Hai Thiên Chúa, đấng tự xưng là Con Người (Son of Man.) Con người đang đi tìm Tôi (Chiếc Lá) để cứu chuộc tôi. Còn tôi thì cố gắng vươn lên tới gần Ngài, cho đến khi Hai thành Một. Phao-lô nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20).
Thế thì, với triết học Phật giáo, tôi tự giác, TÔI biết TÔI, LÁ và NGƯỜI là một. Tôi xin tặng Cung thi sĩ mấy câu thơ:
“Lá một hôm kia vèo trong gió,
Rời bỏ dòng sông kiếm bầu trời.
Thanh sắc mau phai hay buồn ủ, (1)
Cũng là TÔI cả, cũng là TÔI.”Còn với thần học Công giáo, Chúa Ki-tô chịu đóng đinh, chịu chết, xuống ngục tổ tông an ủi các thánh tổ tông rồi sau đó Phục sinh. Là môn đệ Đức Ki-tô, tôi cũng đi theo con đường Thầy đi. Tôi lại tặng Cung thi sĩ mấy câu thơ:
“Câu-rút thân tôi chịu đóng đinh, (2)
Lâm-bô thăm viếng để phục sinh. (3)
Nhị nguyên hai nét nay chập một,
Để mãi TÔI là TÔI hiển linh.(1) Cung Trầm Tưởng viết trong bài thơ này: “Ngày vui thanh sắc mau phai rụng, phút buồn ủ lại mãi màu tro.”
(2) Câu-rút: phiên âm chữ “cruz” trong tiếng Bồ Đào Nha, có nghĩa là cây thập tự.
(3) Lâm-bô: “Limbo” trong thần học của Giáo hội Công giáo (Latin: limbus) là một ý tưởng sơ khai về tình trạng thế giới bên kia của những người chết.Giáo sư Quyên Di
-
‘Their War,’ trả lại công bằng và danh dự cho người lính VNCH
Ba mươi phút hội luận giới thiệu cuốn “Their War” của tác giả Julie Phạm vừa diễn ra vào chiều Chủ Nhật, 10 Tháng Mười Một, 2019, tại Langston Hughes Performing Arts Theater, Seattle, tiểu bang Washington.
“Their War” là cuốn sách tóm tắt bằng Anh Ngữ về đề tài chiến tranh Việt Nam mà Julie Phạm được chấm ưu hạng ra bậc cử nhân sử tại UC Berkeley năm 2001, để nhận được học bổng tiến sĩ sử tại Đại Học Cambridge, Anh Quốc, năm 2008. Tháng Bảy vừa qua, cuốn “Their War” được Amazon in và phát hành.
Với cuốn sách này, cô Julie Phạm nói về cuộc chiến tranh ấy và giương danh cuộc chiến đấu hào hùng của người lính VNCH.
Chương trình giới thiệu sách được minh họa bằng những ca khúc xoay quanh chủ đề cuộc chiến tranh Việt Nam đã thu hút đông đảo các đối tượng khách tham dự: Khách nói tiếng Anh gồm người bản xứ, nhiều bạn trẻ người Mỹ gốc Việt và các sắc dân Á Châu khác. Khách nói tiếng Việt gồm đồng hương người Việt và các cựu chiến binh Việt Nam.
Nhà văn/Giáo Sư Quyên Di, từ California sang, là người điều hợp tổng quát chương trình. Nhà văn Phạm Quốc Bảo, nguyên chủ bút nhật báo Người Việt ở California, là người đặt câu hỏi xoay quanh nội dung tác phẩm. Và cô Julie Phạm, tác giả “Their War,” trả lời các câu hỏi.

Từ trái, tác giả Julie Phạm, nhà văn Phạm Quốc Bảo, và Giáo Sư Quyên Di. (Hình: Người Việt Tây Bắc) Cách đặt câu hỏi khéo léo và các câu trả lời thẳng thắn của tác giả tập sách được khán giả theo dõi với nhiều hứng thú và cũng làm sáng tỏ thêm về ý nghĩa, nội dung tác phẩm.
Tác giả “Their War” cho biết, tác phẩm trình bày trung thực nội dung của 40 cuộc phỏng vấn, trò chuyện với các cựu chiến binh đủ mọi cấp bậc đủ mọi binh chủng của miền Nam Việt Nam, họ từng tham dự nhiều trận chiến trên khắp các chiến trường. Vì thế, không có việc xét đoán đúng sai, phải trái hoặc biện minh cách này cách khác cho cuộc chiến ấy. Tất cả họ thực sự có cơ hội lên tiếng và trực tiếp thể hiện lên tiếng nói của họ về “Cuộc Chiến Của Họ,” như tên gọi của tác phẩm.
Trả lời câu hỏi về sự quay lưng của đồng minh lớn Hoa Kỳ dẫn đến việc kết thúc chiến tranh Việt Nam mà miền Bắc là “bên thắng cuộc,” tác giả “Their War” cho biết cô ghi nhận nguời Mỹ “loại bỏ” VNCH đến hai lần. Lần đầu, họ cam kết không bỏ rơi miền Nam nhưng rồi lần lượt rút quân về nước, cắt đứt mọi viện trợ và không một phản ứng nào khi Bắc Việt xé bỏ hiệp định chấm dứt chiến tranh năm 1973 để tiến chiếm miền Nam. Lần thứ hai, qua việc giới truyền thông Hoa Kỳ không nhắc nhở gì đến quân đội VNCH hoặc rất mờ nhạt như thể đấy là cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt chứ quân đội miền Nam thì vắng mặt.
Với tập sách “Their War” ấy, Julie Phạm muốn trả lại sự công bằng và danh dự cho người lính VNCH, trả lại tính trung thực và sự thật cho lịch sử và cũng trả lại niềm hãnh diện, nỗi tự hào cho thế hệ trẻ người Việt một khi các cháu hiểu được, hiểu rõ và hiểu đúng về cuộc chiến tranh Việt Nam và cuộc chiến đấu anh dũng của người lính miền Nam thế hệ cha ông mình.
Julie Phạm không phải là người đầu tiên làm công việc ấy, thế nhưng cô là một trong số rất ít những người trẻ, rất trẻ đã làm công việc ấy; và hơn thế nữa, đã đi vào dòng chính qua tác phẩm bằng Anh Ngữ để thêm sức phổ biến và ảnh hưởng nhiều đối tượng người đọc.
Lặng lẽ với niềm đau chôn dấu
Julie Phạm, cô không nói nhiều về những việc mình làm; thế nhưng, có một câu nói của cô đã thực sự làm nhiều người cảm động. Cô nói rằng, “Việc làm này đã mang tôi lại gần bố tôi hơn, đã cho tôi hiểu được bố tôi hơn, và càng yêu bố hơn.”
Giờ đây cô đã hiểu được bố mình hơn, một ông bố vốn chỉ sống lặng lẽ trên quê hương thứ hai của người Việt tị nạn. Và, cô cũng hiểu được những người bạn của bố mình hơn, là những đồng đội, những chiến hữu xưa từng chiến đấu bên nhau. Những người lính năm xưa ấy, một số đã lìa đời, một số tóc đã điểm sương hay đã bạc trắng mái đầu, vẫn đang sống lặng lẽ (niềm đau chôn dấu) ở quanh đây.
Những người cựu chiến binh ấy, và những hy sinh thầm lặng ấy sẽ không bao giờ bị quên lãng.
Trong ý nghĩa đó, những tác phẩm, những cuốn sách mang đến cho người đọc những nhận thức đúng đắn về cuộc chiến tranh Việt Nam và về cuộc chiến đấu can trường của người lính VNCH, như tập sách “Their War” của tác giả Julie Phạm, vẫn luôn được đón nhận với lòng trân trọng.
(Lê Hữu)
Cùng ngày, chương trình đặc biệt này cũng đánh dấu 34 năm ngày thành lập tuần báo Người Việt Tây Bắc, tờ báo tiếng Việt của cộng đồng người Việt có bề dày hoạt động lâu năm nhất tại tiểu bang Washington. Có đến trên dưới 400 khách đến với chương trình.
-
Hình ảnh buổi “Vinh danh Ns. Tuấn Khanh” Nov. 16, 2019
Ảnh của Minh Nguyễn, Sandiego
20191116 Vinh Danh ns Tuấn Khanh (click link)
-
Ra mắt ‘Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ,’ một tuyển tập ‘nặng ký’
-
MẠN ĐÀM VĂN HỌC – Thơ Nguyễn Tất Nhiên- phần 3 – MC Bích Ty
-
MẠN ĐÀM VĂN HỌC – Thơ Nguyễn Tất Nhiên
-
Chiều Thơ Nhạc Cung Trầm Tưởng

Cung Trầm Tưởng et “Philo-poesie francaise et mystique” avec un peu de concept francophone en littérature:
————————————————————————————-Sommaire … Philo-poésie et mysticisme … rencontre le poète Cung Trầm Tưởng …
L’origine de la poésie philosophique peut être référée aux soi-disant présocratiques, des penseurs qui, dans la Grèce antique, ont participé aux origines de la philosophie et étaient du milieu du Ve siècle jusqu’au IVe siècle av. J.-C., c’est-à-dire la majorité avant Socrate. Parménide, Héraclite, Empédocle et Démocrite sont les plus représentatifs de ce courant où la poésie et la philosophie sont indissociables. D’un côté, d’autres penseurs de l’époque gréco-romaine, où il nous montre que la poésie est le lien, ou au sens de la médiation, entre religion et philosophie. Ils choisissent le vers homérique, la scansion de Hésiode ainsi que le noble Horace dans les Odes, ou le fragment, mais aussi l’aphorisme ou le point, toute forme brève et confuse pour exprimer leurs pensées.
Selon Cung Trầm Tưởng, de nombreux poèmes qu’il a récemment composés reflètent en quelque sorte une pensée qui en est l’acte très mystérieux. Un autre sens, sa “nouvelle” poésie est un moyen d’évoquer la diversité de l’autre et tous les domaines de mélange entre Est et Ouest … Reliant la contribution poétique de Rabindranath Tagore, Kahlil Gibran, Charles Baudelaire, JP Sartre (Les jeux sont faits), … Lors de la réunion amicale de bavardage avec de nombreux membres du club NVNT & TTG, il a convenu que son nouveau style de poèmes portait aujourd’hui le mystère des questions de l’amour, de la nature, de … VHLA 20 Novembre 2019.
——————————————————————————
Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng.Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm về vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc và tình yêu. Điểm nổi bật thấm đẫm chất văn trong tư tưởng của Tagore chính là thái độ đề cao con người. Triết học của Tagore là triết lý nhân sinh, lấy nền tảng là tình yêu thương mãnh liệt đối với con người. Ông phản ánh cuộc sống khốn cùng của những người dân nô lệ Ấn với niềm cảm thông sâu sắc, gióng lên tiếng nói đấu tranh đòi tự do và cuộc sống hạnh phúc cho con người. Có thể nói, với Tagore, được sống trên đời thực sự là niềm vui cao quý khi ở đó chứa chan tình yêu giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.
Trong niềm vui để sống, Thượng Đế là đấng quyền năng thần bí xa xôi. Nhưng đối với R.Tagore, thượng đế không ở đâu xa lạ mà là nguồn an ủi cho ta yên vui, T agore sống với sự lạc quan, vì để làm nguồn an ủi, nó là tình yêu thương đã mang lại cho con người khát vọng và niềm vui sống. Trong tổ ấm tình yêu thương của chúng ta hãy lấy sắc màu, âm thanh, hương thơm, ấp ủ linh hồn.”, những ý tưởng yêu thương, yêu sống và lạc quan lãng đãng trong 3 thi phẩm gồm Lời dâng (Gitanjali), Tâm tình hiến dâng (The Gardener) và Tặng vật (Lover’s Gift).Kahlil Gibran:
” Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương”.
“To wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving”
Trong tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh – Broken Wings của nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sĩ người Mỹ gốc Lebanese – Kahlil Gibran, cốt truyện đại để là:
Tình yêu là kết quả của mối liên hệ tình yêu thánh thiện, platonic, không xác thịt, tác giả cho vai người nữ là Selma. Như Cung Trầm Tưởng, sự mộng ảo Gibran đã mô tả nhan sắc Selma như một nàng tiên nữ kỳ bí, khi ẩn khi hiện. Đôi tình nhân tuy yêu nhau nhưng phải chấp nhận kết quả cay đắng, họ phải chấp nhận sự chia lìa nhau, chôn kín mối tình sầu vừa chớm nở nhưng đã trở thành thiên thu. Selma vâng lời cha đi lấy người mà nàng không yêu, vì hiểu rằng cha nàng phải làm điều đó để tránh những thảm họa đổ xuống cho gia đình. Mối tình cao đẹp ấy cuối cùng đã kết thúc bằng cái chết của Selma dù có mang. Chỉ còn lại chàng trai trẻ khóc than cho số phận trước ngôi mộ của người chàng yêu thương. Người con gái ấy đã rời bỏ kiếp sống khổ đau hiện tại để mong được tái sinh trong một cuộc đời khác cùng với đứa con vừa lọt lòng mẹ, mang theo cả tình yêu của đời nàng. Cùng với cái chết của nàng, Gibran đã chôn vùi luôn cả trái tim của mình. Một mối tình khởi đầu thật đẹp và kết thúc đầy nước mắt : Đó là mối tình chia ly tan vỡ, và đã gẫy cánh,Thơ Baudelaire
Bài L’Albatros (Chim hải âu), một trong những bài thơ nổi tiếng của Baudelaire, kết thúc bằng đoạn thơ sau đây :
“Người thi sĩ như (chim hải âu,) bay vương trên chín tầng mây
Chim bay trong bão táp và nhạo cười kẻ dương cung bắn ;
Bị đày xuống mặt đất giữa những tiếng la ó,
Hai cánh khổng lồ ngăn trở bước chân chim.”
Đó là hình ảnh của Baudelaire, cũng là hình ảnh của Cung Trầm Tưởng, vì người thi sĩ bị đày xuống trần thế say yêu và say thơ, họ rất giống nhau. Baudelaire đã sống kiếp lưu đày như thế nào ? Đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ra sao ? Thi phẩm Les Fleurs du Mal của ông có ảnh hưởng nhiều đối với thi ca Pháp và cũng như thi ca Việt Nam, mà Cung thi nhân vốn thích, tôi chia sẻ với ông điểm này.Conclusion:
Tôi suy nghĩ Cung Trầm Tưởng đã đúng với câu nói của người Pháp là: “Một người luôn ở vị thế đúng chỗ, đúng thời”.
——————————————————————————-
Những ai mến mộ dòng thơ Cung Trầm Tưởng và muốn có một buổi sinh hoạt vui tươi với thi nhân, xin liên lạc với Ban Tổ Chức chúng tôi theo Poster kèm. Một pose hình chụp chung, một dĩa bánh sinh nhật 90 của ông. hay một buổi mạn đàm thơ nhạc lưu niệm với Cung thi nhân về Cali từ nơi băng giá Minnesota..
VHLABơi trong cõi văn chương Cung Trầm Tưởng- :Việt Hải Los Angeles:
https://www.tvvn.org/cung-tram-tuong-viet-hai-los-angeles/
————————————————————————————
Thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi nhận trong thi tập
“Cung Trầm Tưởng: Một hành trình thơ 1948-2018”.Cách một tháng nhà thơ CTT ngỏ ý muốn tôi nói nhận định về thi tập này, nay tôi xin cô đọng lại chỉ nói về 2 bài thơ tiêu biểu trong loạt “thơ mới” của ông khi nhà thơ từ bỏ lối tình thơ ướt át “loại Chưa Bao Giờ Buồn Thế”: Hai bài mà tôi đàm đạo nhiều giờ cùng thi sĩ CTT với khá nhiều chi tiết lý thú là bài: “Núi và Suối Một Huyền Sử”. Đại để nhà thơ quen một bạn đồng tù ở trại Hầm Tân (tức trại trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận), gần trại có suối Nước Trong, có rặng núi Mây Tào. Chuyện kỳ tích như thần thoại Hy Lạp cổ xưa của thế kỷ hoàng kim Odysseus, có truyện tình lâm ly bi ai như lọai Romeo và Juliet. Chuyện về người con gái Ngọc Tiên và Cung Thi Nhân được thi vị hóa qua kỳ tích Ulysse gặp Pénélope như CTT đã sáng tác qua bài thơ #1.
* “Núi và Suối Một Huyền Sử”, thơ trích đoạn…
“Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ
Tháp Chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn
Tóc lăn tăn gió cỏ đuôi chồn
Lời vuốt ve ru hồn ngủ võng…
Núi giãi tâm tư, bày ước vọng
Chở chiều vàng lộng nắng rừng buông
Ôm nguyên thanh thoát một vùng hồng
Thụ phấn lòng em tình lẫm liệt”(trích thơ “Núi và Suối Một Huyền Sử” trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một Hành Trình Thơ 1948-2018)
Bài thơ #2 mang tên “Phồn Thực Ca”, tựa dề bài thơ nói về phồn tức phồn thịnh, phồn sinh, thiên nhiên phì nhiêu, được ưu đãi, ẩm thực dồi dào. Thi nhân tâm sự ngày còn trẻ ông bay công tác về miền tây tỉnh Phong Dinh Cần Thơ, thi nhân đã gặp một cô giáo Hậu Giang, cô có nước da trắng tuyệt trần, mũi cao vút, làn tóc dài như sông Cửu,.. Nàng là biểu tượng cho gái miền Nam, vùng đất kết hợp bởi 2 sắc dân, 2 nền văn minh cổ Champa và Khmer (đất Phù Nam, Óc Eo), Hai đế quốc này khi xưa chịu ảnh hưởng các nền văn hóa Brahman (Bà-la-môn) và Bangla (Ấn Bengale). Phải kể Champa (ảnh hưởng hệ phái Muslim Hồi từ gốc Mecca, trong khi Khmer chịu ảnh hưởng Ấn giáo nền văn minh Phật giáo. Vào thế kỷ 14 Chiêm quốc gây rối nước Đại Việt xứ ta vua Trần Thánh Tông (1240 – 1290), đem đại binh dẹp loạn, Chiêm quân vẫn phá phách, gây rối đất ta, Khi vua Chế Bồng Nga bị quân ta sát hại tại mật trận, hai vị vua hai nước Việt Chiêm đời sau là vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), và vua bên Chiêm quốc là Chế Mân (1288 – 1307) được hòa hoãn hơn, sự liên hệ trở nên thân thiện và nồng thấm hơn, bên vua bên ta đem gả ái nữ đẹp tuyệt trần cho Chiêm vương. Chế Mân tôn vinh Huyền Trân công chúa là hoàng hậu Paramecvari. Khi Champa và Đại Việt đã sống yên vui, hòa thuận trong bang giao giữa hai nước. Chế Mân đã nhượng đất đai, dâng hai châu Ô, châu Lý (nay là tỉnh Thừa Thiên-Huế), Đại Việt trước đó được thêm phần đất Thuận Hóa (tỉnh Quảng Bình), xứ ta mở rộng bờ cõi.
Đây là bước chiến lược mỹ nhân kế. Những dịp lễ hội Đại Việt, vua Chế Mân phái những đoàn vũ nữ apsara với thân hình phồn sinh, nảy nở bẩm sinh, đôi bồng đảo căng tròn nhựa sống, những apsara với cơ ngơi bốc lửa, mê ly như mọng, làn da ngăm sậm bánh mật, cánh mũi thon gọn và thẳng tắp, đôi mắt to tròn sâu thẳm. Tương tự bên văn hóa Khmer cũng có những điệu vũ do Apsara như vậy trong các di tích kiến trúc tại Angkor Thom ngày nay. Các tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu Châu Đốc cộng đồng Champa và Khmer Krom vẫn còn nhiều, và lễ lạc apsara vẫn phồn sinh, phồn thực như thơ Cung thi nhân. Chủ đề của nhà thơ ghi dấu huyền tích và nhan sắc, phần gái dẹp miền tây theo phạm vi nhân chủng học, nét đẹp do sự lai căng do tạp chủng (beauté par les races mélangées), vì sự tạp chủng giữa người gốc Champa và người Khmer pha lẫn sắc diện gốc Ả rập Mecca và Ấn Bangla, rồi lai Việt và Tàu, nên những thiếu nữ miệt Lục tỉnh động lòng thi nhân chăng (?), tôi xin hỏi ông nhé.
Bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”, thơ trích đoạn…
Ông viết về quyền lực siêu phàm của người nữ trong thơ Baudelaire, Cung Trầm Tưởng cho loại vầng tụng ca như sau:
Em ướp trầm hương ngan ngát thánh,
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên.
Em gần gũi cũng thiêng khôn kể,
Dạy dỗ thi ca ý niệm đền.Là khởi sự cùng là kết thúc,
Đầu nguồn mạch nước, cuối dòng sông.
Em sinh sôi những áng cầu vồng,
Trước Sách Ước đến sau cùng Lịch Sử.(trích thơ “Phồn thực ca” trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một Hành Trình Thơ 1948-2018).
CTT qua bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”. thi nhân CTT có hỏi tôi có biết gái miền tây đẹp như thế nào không, tôi bảo “Vợ em là gái Bắc Hà thành ra nên em không biết nhiều về các cô gái Cửu Long giang, miền Tây lục tỉnh ra sao”. Thi nhân bảo gái miền Tây đơm hoa kết trái bởi hương thơm mít tố nữ, bởi hương thơm hoa sứ nhà nàng (vì champa có nghĩa là hoa sứ), ôi chao nào những apsara phồn thực, kỳ bí, như những bầu vú sữa tím than, sa pô chê, nhãn lòng, cam mật, mận ngọt, quít đường,.. Với ký ức nay đã vào dĩ vãng với cô giáo Tây Đô ngày xưa, Cung thi nhân hình thành bài thơ “Phồn Thực Ca”, có liên hệ đến ký tích vũ công apsara dù nét xinh đẹp của người con gái có nguồn gốc tạp chủng của các nền văn minh cổ Champa và Khmer.
————————————————————————————-
Cung Trầm Tưởng
Cung Trầm Tưởng là một nhà thơ rất quen thuộc từ đầu thập niên 60. Tên tuổi Ông nhanh chóng tràn vào giới thanh niên trí thức thời bấy giờ khi ông từ Pháp trở về Việt Nam cùng không khí lãng mạn của phong trào thơ mới, lúc đó vẫn còn ảnh hưởng nhiều đến thanh niên trí thức Việt Nam.
Mặc Lâm, phóng viên RFA
2010-01-05Photo: Cung Trầm Tưởng
Ngay cái tên của ông cũng đã ấn tượng đối với nhiều người vì chất văn học rất đậm trong mỗi chữ: Cung Trầm Tưởng.
“Tôi là Cung Trầm Tưởng vào khoảng 50-51 tôi du học tại Pháp..sau đó tôi thi đỗ vào trường không quân của Pháp học chung với ông Nguyễn Xuân Vinh, ông Nguyễn Ngọc Loan…Đến năm 1957 tôi trở lại Sài Gòn và phục vụ trong binh chủng không quân cho đến ngày 30/4/1975 tức là được 23 năm.
Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế được tôi sáng tác trong khoảng thời gian này. Có những bài thơ tôi chưa từng đăng bất cứ báo nào thì bây giờ nó sẽ được tập trung lại trong toàn tập thơ của tôi trong 60 năm mang tên Cung Trầm Tưởng và Hành Trình Thơ, sẽ được xuất bản trong năm tới.”
Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như: Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế… Cung Trầm Tưởng.
Cung Trầm Tưởng vừa sơ lược cho chúng ta biết về đời sống sáng tác của ông mà trong đó phần quan trọng nhất làm nên một Cung Trầm Tưởng từ một bài thơ sống rất lâu trong trí nhớ nhiều người đó là tác phẩm Mùa Thu Paris. Tác phẩm này được đem tới người nghe qua tài năng của Nhạc sĩ Phạm Duy khi ông phổ nó thành thơ và giới thiệu trên đài phát thanh Sài Gòn.
Ngôn ngữ trong bài thơ thật ra không phải mới lạ hay phá cách để nổi tiếng, bài thơ được giới trẻ đón nhận một cách thích thú vì một chi tiết trước đó chưa bao giờ xảy ra, đó là:
Một chàng thanh niên Việt Nam du học có người yêu bên Pháp với tóc vàng mắt xanh… hai người yêu nhau và chính những cuộc chia tay trên ga vắng đã thi vị hóa câu chuyện để nó trở thành một mode mới trong đời sống thanh niên thời bấy giờ. Bài
thơ như một trang sách mới cùng những con đường lạ lẫm bên trời Tây mở ra cho giới trẻ và đâu đó người đọc cảm thấy phần nào hả hê bù đắp lòng tự ái dân tộc đã bị mất mát khá nhiều dưới gót giày được gọi là khai hóa văn minh của thực dân Pháp.
Mùa thu Paris
Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn lyMùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờMùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt gía từ tâmMùa thu nơi đâu ?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầuMùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thìMùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đờiMùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tùMùa thu !… Trời ơi ! Tình thu !
Nhà thơ Cung Trầm Tưởng chia sẻ với chúng ta kỷ niệm về bài thơ này:
“Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Thời đó tôi học ở trường Pháp cứ bị mang tiếng là Tây con, đã sẵn có ngôn ngữ Pháp và văn hóa Pháp thấm nhuần trong người thành ra sang bên đó mình không bị lạ lẫm. Tôi gặp một số mối tình dù rằng không vĩnh viễn nhưng nó đánh giá những kỷ niệm đầu đời của mình.”Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Cung Trầm Tưởng.
Kỷ niệm đầu đời cùng các mối tình tóc vàng mắt xanh ấy đã là nguồn cảm hứng cho nhiều bài thơ của Cung Trầm Tưởng vào thời mới lớn. Những chiếc ga nhỏ nằm trơ trọi giữa mùa đông nước Pháp đã từng chứng kiến biết bao cuộc chia tay trước đó, lại một lần nữa nhìn ngắm mối tình dị chủng giữa một chàng trai một đất nước bị trị và một cô gái tóc vàng, đại diện cho văn hóa và nếp sống phương Tây.
Từ đây trong hơi thở rẽ chia ấy, bắt đầu một thấm đượm khác nối liền hai bờ đại dương. Và cũng bắt đầu một vói ra ngoài, một trằn trọc mới đối với hàng triệu thanh niên Sài Gòn thời bấy giờ.
Chưa bao giờ buồn thế
Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia lyTiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cáchGa Lyon đèn vàng
Tuyết rơi buồn mênh mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màngHôn nhau phút này rồi
Chia tay nhau tức khắc
Khóc đi em. khóc đi em
Hỡi người yêu xóm học
Để sương thấm bờ đêm
Đường anh đi tràn ngập lệ buồn em…Ôi đêm nay
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia lyTàu em đi tuyết phủ
Toa anh lạnh gió đầy
Làm sao anh không rét
Cho ấm mộng đêm nay
Và mơ ngon trên khắp nẻo đường rầy !Trời em mơ có sao
Mình anh đêm ở lại
Trời mùa đông Paris
Không bao giờ có saoTrời mùa đông Paris
Chưa bao giờ buồn thế !Cung Trầm Tưởng không phảỉ chỉ làm thơ tình với những khuông mẫu yêu đương trai gái. Dù lãng mạn hay cổ điển thì thơ tình không thể chia sẻ được hết mọi khổ đau của một người bị đày đoạ trong vòng tù ngục. Cung Trầm Tưởng như hàng trăm ngàn người khác sau khi Sài Gòn sụp đổ, đã cùng với đồng đội vào những nhà tù tập trung cải tạo để trả lời cho bài học lịch sử về ý nghĩa cuộc chiến tranh mà ông và đồng đội là những người thua cuộc.
Thơ của Cung Trầm Tưởng từ đây trở thành lạnh lẽo và chai cứng hơn. Chữ nghĩa ông sử dụng trong các bài thơ tù trở nên sắc sảo đến kỳ lạ. Sắc sảo và đớn đau như kim châm vào tim giữa mùa đông miền Bắc:
Áo tù thẫm máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Ngó tay bỗng thấy già nua
Cứa em thân xác thấy mùa thu quaMôi cằn má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén canh pha nước bùn
Đêm nằm ruột rỗng vai run
Đầu kề tiếng súng chân đùn bóng đêm…Bài thơ được làm tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977 cách bài Mùa Thu Paris hơn 25 năm. Khoảng cách thời gian không làm bài thơ lạnh hơn mà chính khoảng cách con người làm bài thơ gần như hóa đá.
Ngôn ngữ thơ trong bài này bàn bạc những ẩn ức rất đời thường của người tù và người đọc cảm nhận ngay tính chất cay nghiệt của nó.
Thế nhưng Cung Trầm Tưởng lại có những bài thơ tù thấm đậm chất triết học. Nhà thơ tĩnh tại nhìn ngắm biến thiên của đời sống và thiền định tâm tưởng mình với những câu tuyệt đẹp:Mưa về gióng lê thê
Nai kêu nguồn đâu đó
Xưa nay tù ngục đỏ
Mấy ai đã trở vềVỗ, vỗ rơi tàn thuốc
Thả khói vào mông lung
Hư vô đẹp não nùng
Nụ hôn đời khốc liệt“Nụ hôn khốc liệt” dành cho đời phải chăng là một cách phản ứng thụ động trong thế giới bừng bừng thống nhục mà nhà thơ đang trải nghiệm?
Cõi sầu ta tinh khiết
Thép quắc vầng trán cao
Phong sương dệt chiến bào
Với máu se làm chỉĐã đi trăm hùng vĩ
Xông pha lắm đoạn trường
về làm đá hoa cương
Gởi đời sau tạc tượngNguồn sống hồi sinh
Cung Trầm Tưởng trở về với cuộc sống sau khi đã nếm trải đầy đủ mọi thứ mùi vị của tù nhân như hàng trăm ngàn người khác.
Trong không khí gia đình, ông có những dòng thơ gợi mở tinh khiết hơn sau nhiều năm tháng thiếu vắng. Tiếng chuông nhà thờ và những nhành huệ trắng đã giúp ông gội rửa tâm tình để tâm hồn ngày một tươi tắn hơn, Ông tìm ra được nguồn suối trong ngay tại nhà mình hay nói đúng hơn, ngay tại lòng mình, một cõi lòng đang chuyển mình cùng với thiên nhiên để tạm quên cõi tục.
Huệ trắng trinh nguyên sau một đêm
Huệ trong thư các huệ ngoài thềm
Sớm nay Chủ Nhật thơm thương quá
Chỉ có Sài Gòn trong dáng emChủ Nhật niềm tin màu huệ trắng
Hiền từ xoạt áo như lời kinh
Em đi lễ nhất trời trên ngõ
Dẫy tóc đen mềm ánh sao xanh…Sài Gòn dưới mắt nhà thơ đã dần dần lấy lại được hình ảnh tinh khôi của nó vào những sớm mai trong trẻo. Người con gái trong thơ ông từ từ sống lại, khác với cô tóc vàng khi xưa, cô gái Sài Gòn bây giờ trắng như huệ và trong như ban mai trinh nguyên của một Sài Gòn ấm áp.
Tuy thế, người yêu thơ Cung Trầm Tưởng không dễ gì quên cô gái tóc vàng bên trời Tây cách đây hơn 50 năm để chia sẻ những cảm nhận của nhà thơ những hình ảnh của các cô gái Sài Gòn ngày nay.
Tiếng còi tàu vẫn chứng tỏ ma lực của nó quyến rũ người đọc thơ đến mức sau bằng ấy năm, hình như mỗi lần nghe lại bản nhạc Tiễn Em do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ “Chưa Bao Giờ Buồn Thế” của ông, người nghe vẫn cảm thấy hình như đang dấy lên nỗi buồn man mác.
Nỗi buồn không tên nhưng có thật. Và nó vẫn ở đấy trong bất cứ người nào nếu từng thừa nhận rằng sự chia tay nào cũng đều rơi nước mắt…
RFA link: https://www.rfa.org/…/Arts-and-Literature-Magazine-Cung-Tra…
Thi Ca Cung Trầm Tưởng:
https://baotreonline.com/…/gio…/cung-tram-tuo%CC%89ng.baotreCung Trầm Tưởng:và tác phẩm, Một hành trình thơ:
https://www.nguoinam.com/phpbb/viewtopic.php?f=144&t=3136Mùa thu Paris – Cung Trầm Tưởng và Tiễn em – Phạm Duy:
https://bacsiletrungngan.wordpress.com/…/chua-bao-gio-buon…/Cung Trầm Tưởng và một hành trình thơ 60 năm:
http://www.viendongdaily.com/cung-tram-tuong-va-mot-hanh-tr…Nhà thơ Cung Trầm Tưởng và hoàn cảnh sáng tác những bài thơ Paris nổi tiếng: “lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế…”
http://vietmania.blogspot.com/…/nha-tho-cung-tram-tuong-va-
-
MẠN ĐÀM VĂN HỌC
-
Thi ca và sự huyền bí: Hội ngộ cùng nhà thơ Cung Trầm Tưởng lần thứ 5.
Nguồn gốc của thơ triết học (philo-poésie) có thể được gọi là cái gọi là Presocratics, những nhà tư tưởng ở thời Hy Lạp cổ đại, đã tham gia vào nguồn gốc của triết học và từ giữa thế kỷ thứ năm cho đến thế kỷ thứ tư trước Công nguyên. J. – C., nghĩa là đa số thức giả này hiện diện trước thời Socrates. Parmenides, Heraclitus, Empedocles và Democritus là những đại diện tiêu biểu nhất của hiện tại nơi mà thi ca và triết học không thể tách rời ra. Một mặt thì các nhà tư tưởng khác của thời đại Greco-Roman, nơi mà cho chúng ta thấy rằng thi ca là mối liên kết khá chặt chẽ hoặc trong ý nghĩa trung gian giữa tôn giáo và triết học. Họ chọn câu thơ Homeric, câu chuyện về Hesiod cũng như Horace cao quý trong Odes (Ode xuất phát từ “aeidein” của Hy Lạp, có nghĩa là ca hát hoặc cầu kinh kệ, và thuộc về truyền thống cổ xưa), vốn mang tính đa dạng của thơ trữ tình. Ban đầu Ode được kèm theo phần âm nhạc và khiêu vũ. Đấy là tương quan cho khái niệm thơ triết thuở tiên khởi của philo-poésie.
Theo Cung Trầm Tưởng, đã có nhiều bài thơ mà ông sáng tác gần đây phản ánh bằng cách nào đó và do một ý nghĩ nào đó là hành động rất bí ẩn. Một ý nghĩa khác, thơ “mới” của ông là một cách để gợi lên sự đa dạng của người khác và tất cả các lãnh vực pha trộn giữa Đông và Tây, … Liên quan đến sự đóng góp đầy chất thơ của Rabindranath Tagore, Kahlil Gibran, Charles Baudelaire, JP Sartre (tác giả truyện hư cấu giả tưởng của định mệnh kiếp sau, Les jeux sont faits), … Trong cuộc gặp gỡ tình bạn thân thiện với nhiều thành viên của câu lạc bộ Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, ông đã đồng ý rằng phong cách thơ mới của mình hôm nay mang vẻ bí ẩn về các vấn đề của tình yêu, thiên nhiên, con người, và của tâm linh..
Bàn về thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng.
Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm về vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc và tình yêu. Điểm nổi bật thấm đẫm chất văn trong tư tưởng của Tagore chính là thái độ đề cao con người. Triết học của Tagore là triết lý nhân sinh, lấy nền tảng là tình yêu thương mãnh liệt đối với con người. Ông phản ánh cuộc sống khốn cùng của những người dân nô lệ Ấn với niềm cảm thông sâu sắc, gióng lên tiếng nói đấu tranh đòi tự do và cuộc sống hạnh phúc cho con người. Có thể nói, với Tagore, được sống trên đời thực sự là niềm vui cao quý khi ở đó chứa chan tình yêu giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.Trong niềm vui để sống, Thượng Đế là đấng quyền năng thần bí xa xôi. Nhưng đối với R.Tagore, thượng đế không ở đâu xa lạ mà là nguồn an ủi cho ta yên vui, T agore sống với sự lạc quan, vì để làm nguồn an ủi, nó là tình yêu thương đã mang lại cho con người khát vọng và niềm vui sống. Trong tổ ấm tình yêu thương của chúng ta hãy lấy sắc màu, âm thanh, hương thơm, ấp ủ linh hồn”, những ý tưởng yêu thương, yêu sống và lạc quan lãng đãng trong 3 thi phẩm gồm Lời dâng (Gitanjali), Tâm tình hiến dâng (The Gardener) và Tặng vật (Lover’s Gift).
Còn về nhà thơ Kahlil Gibran:
Nhiều người còn nhớ câu nói của ông là “Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương”. (To wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving.)
Trong tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh – Broken Wings của nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sĩ người Mỹ gốc Lebanese – Kahlil Gibran, cốt truyện đại để là: “Tình yêu là kết quả của mối liên hệ tình yêu thánh thiện, platonic, không xác thịt, tác giả cho vai người nữ là Selma. Như Cung Trầm Tưởng, sự mộng ảo Gibran đã mô tả nhan sắc Selma như một nàng tiên nữ kỳ bí, khi ẩn khi hiện. Đôi tình nhân tuy yêu nhau nhưng phải chấp nhận kết quả cay đắng, họ phải chấp nhận sự chia lìa nhau, chôn kín mối tình sầu vừa chớm nở nhưng đã trở thành thiên thu. Selma vâng lời cha đi lấy người mà nàng không yêu, vì hiểu rằng cha nàng phải làm điều đó để tránh những thảm họa đổ xuống cho gia đình. Mối tình cao đẹp ấy cuối cùng đã kết thúc bằng cái chết của Selma dù có mang. Chỉ còn lại chàng trai trẻ khóc than cho số phận trước ngôi mộ của người chàng yêu thương. Người con gái ấy đã rời bỏ kiếp sống khổ đau hiện tại để mong được tái sinh trong một cuộc đời khác cùng với đứa con vừa lọt lòng mẹ, mang theo cả tình yêu của đời nàng. Cùng với cái chết của nàng, Gibran đã chôn vùi luôn cả trái tim của mình. Một mối tình khởi đầu thật đẹp và kết thúc đầy nước mắt : Đó là mối tình chia ly tan vỡ, và đã gẫy cánh”.Nào với Thơ Baudelaire
Bài L’Albatros (Chim hải âu), một trong những bài thơ nổi tiếng của Baudelaire, kết thúc bằng đoạn thơ sau đây :
“Người thi sĩ như (chim hải âu) bay vương trên chín tầng mây
Chim bay trong bão táp và nhạo cười kẻ dương cung bắn ;
Bị đày xuống mặt đất giữa những tiếng la ó,
Hai cánh khổng lồ ngăn trở bước chân chim.”Đó là hình ảnh của Baudelaire, cũng là hình ảnh của Cung Trầm Tưởng, vì người thi sĩ bị đày xuống trần thế say yêu và say thơ, họ rất giống nhau. Baudelaire đã sống kiếp lưu đày như thế nào ? Đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ra sao ? Thi phẩm Les Fleurs du Mal của ông có ảnh hưởng nhiều đối với thi ca Pháp và cũng như thi ca Việt Nam, mà Cung thi nhân vốn thích, tôi chia sẻ với ông điểm này.
Xét về thơ tiêu biểu của thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi nhận trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một hành trình thơ 1948-2018”. Nay tôi xin cô đọng lại chỉ nói về 2 bài thơ tiêu biểu trong loạt “thơ mới” của ông khi nhà thơ từ bỏ lối tình thơ ướt át như loại Chưa Bao Giờ Buồn Thế: Hai bài mà tôi đàm đạo nhiều giờ cùng thi sĩ CTT với khá nhiều chi tiết lý thú là bài: “Núi và Suối Một Huyền Sử”. Đại để nhà thơ quen một bạn đồng tù ở trại Hầm Tân (tức trại trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận), gần trại có suối Nước Trong, có rặng núi Mây Tào. Chuyện kỳ tích như thần thoại Hy Lạp cổ xưa của thế kỷ hoàng kim Odysseus, có truyện tình lâm ly bi ai như lọai Romeo và Juliet. Chuyện về người con gái Ngọc Tiên và Cung Thi Nhân được thi vị hóa qua kỳ tích Ulysse gặp Pénélope như CTT đã sáng tác một trường thi dài 5 trang sách.
Bài thi ca thứ #2 mang tên “Phồn Thực Ca”, tựa đề bài thơ dài 3 trang sách nói về yếu tố phồn tức phồn thịnh, phồn sinh, thiên nhiên phì nhiêu, được ưu đãi, ẩm thực dồi dào,… Thi nhân tâm sự ngày còn trẻ ông bay công tác về miền tây tỉnh Phong Dinh Cần Thơ, thi nhân đã gặp một cô giáo,. Cô có nước da trắng tuyệt trần, mũi cao vút, làn tóc dài như sông Cửu,.. Nàng là biểu tượng cho gái miền Nam, vùng đất kết hợp bởi 2 sắc dân, 2 nền văn minh cổ Champa và Khmer (đất Phù Nam, Óc Eo), Hai đế quốc này khi xưa chịu ảnh hưởng các nền văn hóa Brahman (Bà-la-môn) và Bangla (Ấn Bengale). Phải kể Champa (ảnh hưởng hệ phái Muslim Hồi từ gốc Mecca, trong khi Khmer chịu ảnh hưởng Ấn giáo nền văn minh Phật giáo. Vào thế kỷ 14 Chiêm quốc gây rối nước Đại Việt xứ ta vua Trần Thánh Tông (1240 – 1290), đem đại binh dẹp loạn, Chiêm quân vẫn phá phách, gây rối đất ta, Khi vua Chế Bồng Nga bị quân ta sát hại tại mật trận, hai vị vua hai nước Việt Chiêm đời sau là vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), và vua bên Chiêm quốc là Chế Mân (1288 – 1307) được hòa hoãn hơn, sự liên hệ trở nên thân thiện và nồng thấm hơn, bên vua bên ta đem gả ái nữ đẹp tuyệt trần cho Chiêm vương. Chế Mân tôn vinh Huyền Trân công chúa là hoàng hậu Paramecvari. Khi Champa và Đại Việt đã sống yên vui, hòa thuận trong bang giao giữa hai nước. Chế Mân đã nhượng đất đai, dâng hai châu Ô, châu Lý (nay là tỉnh Thừa Thiên-Huế), Đại Việt trước đó được thêm phần đất Thuận Hóa (tỉnh Quảng Bình), xứ ta mở rộng bờ cõi.
Đây là bước tiến mở mang bờ cõi chiến lược mỹ nhân kế. Những dịp lễ hội Đại Việt, vua Chế Mân phái những đoàn vũ nữ apsara với thân hình phồn sinh, nảy nở bẩm sinh, đôi bồng đảo căng tròn nhựa sống, những apsara với cơ ngơi bốc lửa, mê ly như mọng, làn da ngăm sạm bánh mật, cánh mũi thon gọn và thẳng tắp, đôi mắt to tròn sâu thẳm. Tương tự bên văn hóa Khmer cũng có những điệu vũ do Apsara như vậy trong các di tích kiến trúc tại Angkor Thom ngày nay. Các tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu Châu Đốc cộng đồng Champa và Khmer Krom vẫn còn nhiều, và lễ lạc apsara vẫn phồn sinh, phồn thực như thơ Cung thi nhân. Chủ đề của nhà thơ ghi dấu huyền tích và nhan sắc, phần gái đẹp miền tây theo phạm vi nhân chủng học, nét đẹp do sự lai căng do tạp chủng (beauté par les races mélangées), vì sự tạp chủng giữa người gốc Champa và người Khmer pha lẫn sắc diện gốc Ả rập Mecca và Ấn Bangla, rồi lai Việt và Tàu, nên những thiếu nữ miệt Lục tỉnh động lòng thi nhân chăng (?), tôi xin hỏi ông nhé.
CTT điểm qua bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”. Thi nhân CTT có hỏi tôi có biết gái miền tây đẹp như thế nào không, tôi bảo “Không”. Thi nhân mạn đàm là gái miền Tây đơm hoa kết trái bởi hương thơm mít tố nữ, bởi hương thơm hoa sứ nhà nàng (vì champa có nghĩa là hoa sứ), ôi chao nào những apsara phồn thực, kỳ bí, như những bầu vú sữa tím than, sa pô chê, nhãn lồng, cam mật, mận ngọt, quít đường,.. Với ký ức nay đã vào dĩ vãng với cô giáo Tây Đô, tên Hậu Giang của thuở ngày xưa, Vẻ đẹp nhân hậu khiến Cung thi nhân hình thành bài thơ “Phồn Thực Ca”. Góc dĩ vãng đưa ông trở về với lý luận có mối liên hệ đến lịch sử cũ và ký tích vũ công apsara dù nét xinh đẹp của người con gái hậu giang đó có nguồn gốc tạp chủng ra sao của các nền văn minh cổ Champa hay Khmer, vẫn như nét huyền bí, và thần thoại trong chất thi ca của ông.



Hôm họp mặt hội ngộ thân hữu thi ca văn học với liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã huyên thuyên, hoạt bát say thơ trên sân khấu, ông đưa cử tọa về một góc trời Paris, có ga Lyon đèn vàng, có vườn Luxembourg. Thi ca huyền bí có Ngọc Tiên một huyền thoại Pénélope của Hy Lạp, rồi có lịch sử hiện về với “Phồn Thực Ca”. Vẻ đẹp Apsara Champa, hay Angkor Thom ẩn chứa nét thi triết vũ trụ, thiên nhiên, văn hóa, tâm linh, con người,… những khía cạnh mà thi ca Rabindranath Tagore, Kahlil Gibran, Charles Baudelaire, JP Sartre,… phản ảnh trong chất thơ. Chất thơ như vậy mang tính chất đồng bộ với thi ca Cung Trầm Tưởng.
Trong quan điểm “La bonne personne au bon endroit au bon moment” vì hầu như Cung thi nhân mang cung mạng Kim Phong Kiếm (Vàng ở Kiếm), vốn là người của danh vọng, của đào hoa, của số đỏ hồng loan chiếu mạng. Nhà thơ xét theo tướng số tử vi, ông Nhâm Thân (1932) được sao văn xương hội tụ cùng cung hóa khoa chiếu bổn thân, khiến bao lộc may văn cung hỗ trợ mệnh chủ tế về diện công danh phú quới, bổn mệnh được tài cao đức trọng nhờ văn chương, thi phú có biểu hiện xuất sắc về mặt tài nghệ thâm sâu văn học.
Như quan điểm trên, tôi suy nghĩ Cung Trầm Tưởng đã đúng với câu nói của người Pháp là: “Một người luôn ở vị thế đúng chỗ, đúng thời”.
Vâng, ông là người của duyên số danh vọng mãn kiếp! (L’homme de gloire kalpa, toujours!).
Trần Việt Hải, Los Angeles.
Cung Trầm Tưởng et “Philo-poesie francaise et mystique” avec un peu de concept francophone en littérature:
————————————————————————————-Sommaire … Philo-poésie et mysticisme … rencontre le poète Cung Trầm Tưởng …
L’origine de la poésie philosophique peut être référée aux soi-disant présocratiques, des penseurs qui, dans la Grèce antique, ont participé aux origines de la philosophie et étaient du milieu du Ve siècle jusqu’au IVe siècle av. J.-C., c’est-à-dire la majorité avant Socrate. Parménide, Héraclite, Empédocle et Démocrite sont les plus représentatifs de ce courant où la poésie et la philosophie sont indissociables. D’un côté, d’autres penseurs de l’époque gréco-romaine, où il nous montre que la poésie est le lien, ou au sens de la médiation, entre religion et philosophie. Ils choisissent le vers homérique, la scansion de Hésiode ainsi que le noble Horace dans les Odes, ou le fragment, mais aussi l’aphorisme ou le point, toute forme brève et confuse pour exprimer leurs pensées.
Selon Cung Trầm Tưởng, de nombreux poèmes qu’il a récemment composés reflètent en quelque sorte une pensée qui en est l’acte très mystérieux. Un autre sens, sa “nouvelle” poésie est un moyen d’évoquer la diversité de l’autre et tous les domaines de mélange entre Est et Ouest … Reliant la contribution poétique de Rabindranath Tagore, Kahlil Gibran, Charles Baudelaire, JP Sartre (Les jeux sont faits), … Lors de la réunion amicale de bavardage avec de nombreux membres du club NVNT & TTG, il a convenu que son nouveau style de poèmes portait aujourd’hui le mystère des questions de l’amour, de la nature, de … VHLA 20 Novembre 2019.
——————————————————————————
Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng.Thơ Tagore và thơ của Cung Trầm Tưởng có điểm tương đồng về những triết lý thâm trầm về vũ trụ, con người, cuộc sống, hạnh phúc và tình yêu. Điểm nổi bật thấm đẫm chất văn trong tư tưởng của Tagore chính là thái độ đề cao con người. Triết học của Tagore là triết lý nhân sinh, lấy nền tảng là tình yêu thương mãnh liệt đối với con người. Ông phản ánh cuộc sống khốn cùng của những người dân nô lệ Ấn với niềm cảm thông sâu sắc, gióng lên tiếng nói đấu tranh đòi tự do và cuộc sống hạnh phúc cho con người. Có thể nói, với Tagore, được sống trên đời thực sự là niềm vui cao quý khi ở đó chứa chan tình yêu giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên.
Trong niềm vui để sống, Thượng Đế là đấng quyền năng thần bí xa xôi. Nhưng đối với R.Tagore, thượng đế không ở đâu xa lạ mà là nguồn an ủi cho ta yên vui, T agore sống với sự lạc quan, vì để làm nguồn an ủi, nó là tình yêu thương đã mang lại cho con người khát vọng và niềm vui sống. Trong tổ ấm tình yêu thương của chúng ta hãy lấy sắc màu, âm thanh, hương thơm, ấp ủ linh hồn.”, những ý tưởng yêu thương, yêu sống và lạc quan lãng đãng trong 3 thi phẩm gồm Lời dâng (Gitanjali), Tâm tình hiến dâng (The Gardener) và Tặng vật (Lover’s Gift).Kahlil Gibran:
” Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương”.
“To wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving”
Trong tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh – Broken Wings của nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sĩ người Mỹ gốc Lebanese – Kahlil Gibran, cốt truyện đại để là:
Tình yêu là kết quả của mối liên hệ tình yêu thánh thiện, platonic, không xác thịt, tác giả cho vai người nữ là Selma. Như Cung Trầm Tưởng, sự mộng ảo Gibran đã mô tả nhan sắc Selma như một nàng tiên nữ kỳ bí, khi ẩn khi hiện. Đôi tình nhân tuy yêu nhau nhưng phải chấp nhận kết quả cay đắng, họ phải chấp nhận sự chia lìa nhau, chôn kín mối tình sầu vừa chớm nở nhưng đã trở thành thiên thu. Selma vâng lời cha đi lấy người mà nàng không yêu, vì hiểu rằng cha nàng phải làm điều đó để tránh những thảm họa đổ xuống cho gia đình. Mối tình cao đẹp ấy cuối cùng đã kết thúc bằng cái chết của Selma dù có mang. Chỉ còn lại chàng trai trẻ khóc than cho số phận trước ngôi mộ của người chàng yêu thương. Người con gái ấy đã rời bỏ kiếp sống khổ đau hiện tại để mong được tái sinh trong một cuộc đời khác cùng với đứa con vừa lọt lòng mẹ, mang theo cả tình yêu của đời nàng. Cùng với cái chết của nàng, Gibran đã chôn vùi luôn cả trái tim của mình. Một mối tình khởi đầu thật đẹp và kết thúc đầy nước mắt : Đó là mối tình chia ly tan vỡ, và đã gẫy cánh,Thơ Baudelaire
Bài L’Albatros (Chim hải âu), một trong những bài thơ nổi tiếng của Baudelaire, kết thúc bằng đoạn thơ sau đây :
“Người thi sĩ như (chim hải âu,) bay vương trên chín tầng mây
Chim bay trong bão táp và nhạo cười kẻ dương cung bắn ;
Bị đày xuống mặt đất giữa những tiếng la ó,
Hai cánh khổng lồ ngăn trở bước chân chim.”
Đó là hình ảnh của Baudelaire, cũng là hình ảnh của Cung Trầm Tưởng, vì người thi sĩ bị đày xuống trần thế say yêu và say thơ, họ rất giống nhau. Baudelaire đã sống kiếp lưu đày như thế nào ? Đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ra sao ? Thi phẩm Les Fleurs du Mal của ông có ảnh hưởng nhiều đối với thi ca Pháp và cũng như thi ca Việt Nam, mà Cung thi nhân vốn thích, tôi chia sẻ với ông điểm này.Conclusion:
Tôi suy nghĩ Cung Trầm Tưởng đã đúng với câu nói của người Pháp là: “Một người luôn ở vị thế đúng chỗ, đúng thời”.
——————————————————————————-
Những ai mến mộ dòng thơ Cung Trầm Tưởng và muốn có một buổi sinh hoạt vui tươi với thi nhân, xin liên lạc với Ban Tổ Chức chúng tôi theo Poster kèm. Một pose hình chụp chung, một dĩa bánh sinh nhật 90 của ông. hay một buổi mạn đàm thơ nhạc lưu niệm với Cung thi nhân về Cali từ nơi băng giá Minnesota..
VHLABơi trong cõi văn chương Cung Trầm Tưởng- :Việt Hải Los Angeles:
https://www.tvvn.org/cung-tram-tuong-viet-hai-los-angeles/
————————————————————————————
Thi sĩ Cung Trầm Tưởng ghi nhận trong thi tập
“Cung Trầm Tưởng: Một hành trình thơ 1948-2018”.Cách một tháng nhà thơ CTT ngỏ ý muốn tôi nói nhận định về thi tập này, nay tôi xin cô đọng lại chỉ nói về 2 bài thơ tiêu biểu trong loạt “thơ mới” của ông khi nhà thơ từ bỏ lối tình thơ ướt át “loại Chưa Bao Giờ Buồn Thế”: Hai bài mà tôi đàm đạo nhiều giờ cùng thi sĩ CTT với khá nhiều chi tiết lý thú là bài: “Núi và Suối Một Huyền Sử”. Đại để nhà thơ quen một bạn đồng tù ở trại Hầm Tân (tức trại trại Z30D, thuộc tỉnh Bình Thuận), gần trại có suối Nước Trong, có rặng núi Mây Tào. Chuyện kỳ tích như thần thoại Hy Lạp cổ xưa của thế kỷ hoàng kim Odysseus, có truyện tình lâm ly bi ai như lọai Romeo và Juliet. Chuyện về người con gái Ngọc Tiên và Cung Thi Nhân được thi vị hóa qua kỳ tích Ulysse gặp Pénélope như CTT đã sáng tác qua bài thơ #1.
* “Núi và Suối Một Huyền Sử”, thơ trích đoạn…
“Đáy mắt có chiều sâu tráng lệ
Tháp Chàm ảnh ảo ngậm hoàng hôn
Tóc lăn tăn gió cỏ đuôi chồn
Lời vuốt ve ru hồn ngủ võng…
Núi giãi tâm tư, bày ước vọng
Chở chiều vàng lộng nắng rừng buông
Ôm nguyên thanh thoát một vùng hồng
Thụ phấn lòng em tình lẫm liệt”(trích thơ “Núi và Suối Một Huyền Sử” trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một Hành Trình Thơ 1948-2018)
Bài thơ #2 mang tên “Phồn Thực Ca”, tựa dề bài thơ nói về phồn tức phồn thịnh, phồn sinh, thiên nhiên phì nhiêu, được ưu đãi, ẩm thực dồi dào. Thi nhân tâm sự ngày còn trẻ ông bay công tác về miền tây tỉnh Phong Dinh Cần Thơ, thi nhân đã gặp một cô giáo Hậu Giang, cô có nước da trắng tuyệt trần, mũi cao vút, làn tóc dài như sông Cửu,.. Nàng là biểu tượng cho gái miền Nam, vùng đất kết hợp bởi 2 sắc dân, 2 nền văn minh cổ Champa và Khmer (đất Phù Nam, Óc Eo), Hai đế quốc này khi xưa chịu ảnh hưởng các nền văn hóa Brahman (Bà-la-môn) và Bangla (Ấn Bengale). Phải kể Champa (ảnh hưởng hệ phái Muslim Hồi từ gốc Mecca, trong khi Khmer chịu ảnh hưởng Ấn giáo nền văn minh Phật giáo. Vào thế kỷ 14 Chiêm quốc gây rối nước Đại Việt xứ ta vua Trần Thánh Tông (1240 – 1290), đem đại binh dẹp loạn, Chiêm quân vẫn phá phách, gây rối đất ta, Khi vua Chế Bồng Nga bị quân ta sát hại tại mật trận, hai vị vua hai nước Việt Chiêm đời sau là vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308), và vua bên Chiêm quốc là Chế Mân (1288 – 1307) được hòa hoãn hơn, sự liên hệ trở nên thân thiện và nồng thấm hơn, bên vua bên ta đem gả ái nữ đẹp tuyệt trần cho Chiêm vương. Chế Mân tôn vinh Huyền Trân công chúa là hoàng hậu Paramecvari. Khi Champa và Đại Việt đã sống yên vui, hòa thuận trong bang giao giữa hai nước. Chế Mân đã nhượng đất đai, dâng hai châu Ô, châu Lý (nay là tỉnh Thừa Thiên-Huế), Đại Việt trước đó được thêm phần đất Thuận Hóa (tỉnh Quảng Bình), xứ ta mở rộng bờ cõi.
Đây là bước chiến lược mỹ nhân kế. Những dịp lễ hội Đại Việt, vua Chế Mân phái những đoàn vũ nữ apsara với thân hình phồn sinh, nảy nở bẩm sinh, đôi bồng đảo căng tròn nhựa sống, những apsara với cơ ngơi bốc lửa, mê ly như mọng, làn da ngăm sậm bánh mật, cánh mũi thon gọn và thẳng tắp, đôi mắt to tròn sâu thẳm. Tương tự bên văn hóa Khmer cũng có những điệu vũ do Apsara như vậy trong các di tích kiến trúc tại Angkor Thom ngày nay. Các tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu Châu Đốc cộng đồng Champa và Khmer Krom vẫn còn nhiều, và lễ lạc apsara vẫn phồn sinh, phồn thực như thơ Cung thi nhân. Chủ đề của nhà thơ ghi dấu huyền tích và nhan sắc, phần gái dẹp miền tây theo phạm vi nhân chủng học, nét đẹp do sự lai căng do tạp chủng (beauté par les races mélangées), vì sự tạp chủng giữa người gốc Champa và người Khmer pha lẫn sắc diện gốc Ả rập Mecca và Ấn Bangla, rồi lai Việt và Tàu, nên những thiếu nữ miệt Lục tỉnh động lòng thi nhân chăng (?), tôi xin hỏi ông nhé.
Bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”, thơ trích đoạn…
Ông viết về quyền lực siêu phàm của người nữ trong thơ Baudelaire, Cung Trầm Tưởng cho loại vầng tụng ca như sau:
Em ướp trầm hương ngan ngát thánh,
Ngồi trong đời cũng ngự ngôi trên.
Em gần gũi cũng thiêng khôn kể,
Dạy dỗ thi ca ý niệm đền.Là khởi sự cùng là kết thúc,
Đầu nguồn mạch nước, cuối dòng sông.
Em sinh sôi những áng cầu vồng,
Trước Sách Ước đến sau cùng Lịch Sử.(trích thơ “Phồn thực ca” trong thi tập “Cung Trầm Tưởng: Một Hành Trình Thơ 1948-2018).
CTT qua bài thơ #2 “Phồn Thực Ca”. thi nhân CTT có hỏi tôi có biết gái miền tây đẹp như thế nào không, tôi bảo “Vợ em là gái Bắc Hà thành ra nên em không biết nhiều về các cô gái Cửu Long giang, miền Tây lục tỉnh ra sao”. Thi nhân bảo gái miền Tây đơm hoa kết trái bởi hương thơm mít tố nữ, bởi hương thơm hoa sứ nhà nàng (vì champa có nghĩa là hoa sứ), ôi chao nào những apsara phồn thực, kỳ bí, như những bầu vú sữa tím than, sa pô chê, nhãn lòng, cam mật, mận ngọt, quít đường,.. Với ký ức nay đã vào dĩ vãng với cô giáo Tây Đô ngày xưa, Cung thi nhân hình thành bài thơ “Phồn Thực Ca”, có liên hệ đến ký tích vũ công apsara dù nét xinh đẹp của người con gái có nguồn gốc tạp chủng của các nền văn minh cổ Champa và Khmer.
————————————————————————————-
Cung Trầm Tưởng
Cung Trầm Tưởng là một nhà thơ rất quen thuộc từ đầu thập niên 60. Tên tuổi Ông nhanh chóng tràn vào giới thanh niên trí thức thời bấy giờ khi ông từ Pháp trở về Việt Nam cùng không khí lãng mạn của phong trào thơ mới, lúc đó vẫn còn ảnh hưởng nhiều đến thanh niên trí thức Việt Nam.
Mặc Lâm, phóng viên RFA
2010-01-05Photo: Cung Trầm Tưởng
Ngay cái tên của ông cũng đã ấn tượng đối với nhiều người vì chất văn học rất đậm trong mỗi chữ: Cung Trầm Tưởng.
“Tôi là Cung Trầm Tưởng vào khoảng 50-51 tôi du học tại Pháp..sau đó tôi thi đỗ vào trường không quân của Pháp học chung với ông Nguyễn Xuân Vinh, ông Nguyễn Ngọc Loan…Đến năm 1957 tôi trở lại Sài Gòn và phục vụ trong binh chủng không quân cho đến ngày 30/4/1975 tức là được 23 năm.
Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế được tôi sáng tác trong khoảng thời gian này. Có những bài thơ tôi chưa từng đăng bất cứ báo nào thì bây giờ nó sẽ được tập trung lại trong toàn tập thơ của tôi trong 60 năm mang tên Cung Trầm Tưởng và Hành Trình Thơ, sẽ được xuất bản trong năm tới.”
Trong thời kỳ ở Pháp tôi làm thơ rất nhiều tập trung vào thơ lãng mạn, tình yêu đôi lứa như: Mùa Thu Paris, Chưa Bao Giờ Buồn Thế… Cung Trầm Tưởng.
Cung Trầm Tưởng vừa sơ lược cho chúng ta biết về đời sống sáng tác của ông mà trong đó phần quan trọng nhất làm nên một Cung Trầm Tưởng từ một bài thơ sống rất lâu trong trí nhớ nhiều người đó là tác phẩm Mùa Thu Paris. Tác phẩm này được đem tới người nghe qua tài năng của Nhạc sĩ Phạm Duy khi ông phổ nó thành thơ và giới thiệu trên đài phát thanh Sài Gòn.
Ngôn ngữ trong bài thơ thật ra không phải mới lạ hay phá cách để nổi tiếng, bài thơ được giới trẻ đón nhận một cách thích thú vì một chi tiết trước đó chưa bao giờ xảy ra, đó là:
Một chàng thanh niên Việt Nam du học có người yêu bên Pháp với tóc vàng mắt xanh… hai người yêu nhau và chính những cuộc chia tay trên ga vắng đã thi vị hóa câu chuyện để nó trở thành một mode mới trong đời sống thanh niên thời bấy giờ. Bài
thơ như một trang sách mới cùng những con đường lạ lẫm bên trời Tây mở ra cho giới trẻ và đâu đó người đọc cảm thấy phần nào hả hê bù đắp lòng tự ái dân tộc đã bị mất mát khá nhiều dưới gót giày được gọi là khai hóa văn minh của thực dân Pháp.
Mùa thu Paris
Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn lyMùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờMùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt gía từ tâmMùa thu nơi đâu ?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầuMùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thìMùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đờiMùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tùMùa thu !… Trời ơi ! Tình thu !
Nhà thơ Cung Trầm Tưởng chia sẻ với chúng ta kỷ niệm về bài thơ này:
“Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Thời đó tôi học ở trường Pháp cứ bị mang tiếng là Tây con, đã sẵn có ngôn ngữ Pháp và văn hóa Pháp thấm nhuần trong người thành ra sang bên đó mình không bị lạ lẫm. Tôi gặp một số mối tình dù rằng không vĩnh viễn nhưng nó đánh giá những kỷ niệm đầu đời của mình.”Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Cung Trầm Tưởng.
Kỷ niệm đầu đời cùng các mối tình tóc vàng mắt xanh ấy đã là nguồn cảm hứng cho nhiều bài thơ của Cung Trầm Tưởng vào thời mới lớn. Những chiếc ga nhỏ nằm trơ trọi giữa mùa đông nước Pháp đã từng chứng kiến biết bao cuộc chia tay trước đó, lại một lần nữa nhìn ngắm mối tình dị chủng giữa một chàng trai một đất nước bị trị và một cô gái tóc vàng, đại diện cho văn hóa và nếp sống phương Tây.
Từ đây trong hơi thở rẽ chia ấy, bắt đầu một thấm đượm khác nối liền hai bờ đại dương. Và cũng bắt đầu một vói ra ngoài, một trằn trọc mới đối với hàng triệu thanh niên Sài Gòn thời bấy giờ.
Chưa bao giờ buồn thế
Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia lyTiễn em về xứ mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cáchGa Lyon đèn vàng
Tuyết rơi buồn mênh mang
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màngHôn nhau phút này rồi
Chia tay nhau tức khắc
Khóc đi em. khóc đi em
Hỡi người yêu xóm học
Để sương thấm bờ đêm
Đường anh đi tràn ngập lệ buồn em…Ôi đêm nay
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia lyTàu em đi tuyết phủ
Toa anh lạnh gió đầy
Làm sao anh không rét
Cho ấm mộng đêm nay
Và mơ ngon trên khắp nẻo đường rầy !Trời em mơ có sao
Mình anh đêm ở lại
Trời mùa đông Paris
Không bao giờ có saoTrời mùa đông Paris
Chưa bao giờ buồn thế !Cung Trầm Tưởng không phảỉ chỉ làm thơ tình với những khuông mẫu yêu đương trai gái. Dù lãng mạn hay cổ điển thì thơ tình không thể chia sẻ được hết mọi khổ đau của một người bị đày đoạ trong vòng tù ngục. Cung Trầm Tưởng như hàng trăm ngàn người khác sau khi Sài Gòn sụp đổ, đã cùng với đồng đội vào những nhà tù tập trung cải tạo để trả lời cho bài học lịch sử về ý nghĩa cuộc chiến tranh mà ông và đồng đội là những người thua cuộc.
Thơ của Cung Trầm Tưởng từ đây trở thành lạnh lẽo và chai cứng hơn. Chữ nghĩa ông sử dụng trong các bài thơ tù trở nên sắc sảo đến kỳ lạ. Sắc sảo và đớn đau như kim châm vào tim giữa mùa đông miền Bắc:
Áo tù thẫm máu đôi vai
Bàn chân nứa chém, vành tai gió lùa
Ngó tay bỗng thấy già nua
Cứa em thân xác thấy mùa thu quaMôi cằn má hóp thịt da
Ngô vơi miệng chén canh pha nước bùn
Đêm nằm ruột rỗng vai run
Đầu kề tiếng súng chân đùn bóng đêm…Bài thơ được làm tại Hoàng Liên Sơn vào mùa thu năm 1977 cách bài Mùa Thu Paris hơn 25 năm. Khoảng cách thời gian không làm bài thơ lạnh hơn mà chính khoảng cách con người làm bài thơ gần như hóa đá.
Ngôn ngữ thơ trong bài này bàn bạc những ẩn ức rất đời thường của người tù và người đọc cảm nhận ngay tính chất cay nghiệt của nó.
Thế nhưng Cung Trầm Tưởng lại có những bài thơ tù thấm đậm chất triết học. Nhà thơ tĩnh tại nhìn ngắm biến thiên của đời sống và thiền định tâm tưởng mình với những câu tuyệt đẹp:Mưa về gióng lê thê
Nai kêu nguồn đâu đó
Xưa nay tù ngục đỏ
Mấy ai đã trở vềVỗ, vỗ rơi tàn thuốc
Thả khói vào mông lung
Hư vô đẹp não nùng
Nụ hôn đời khốc liệt“Nụ hôn khốc liệt” dành cho đời phải chăng là một cách phản ứng thụ động trong thế giới bừng bừng thống nhục mà nhà thơ đang trải nghiệm?
Cõi sầu ta tinh khiết
Thép quắc vầng trán cao
Phong sương dệt chiến bào
Với máu se làm chỉĐã đi trăm hùng vĩ
Xông pha lắm đoạn trường
về làm đá hoa cương
Gởi đời sau tạc tượngNguồn sống hồi sinh
Cung Trầm Tưởng trở về với cuộc sống sau khi đã nếm trải đầy đủ mọi thứ mùi vị của tù nhân như hàng trăm ngàn người khác.
Trong không khí gia đình, ông có những dòng thơ gợi mở tinh khiết hơn sau nhiều năm tháng thiếu vắng. Tiếng chuông nhà thờ và những nhành huệ trắng đã giúp ông gội rửa tâm tình để tâm hồn ngày một tươi tắn hơn, Ông tìm ra được nguồn suối trong ngay tại nhà mình hay nói đúng hơn, ngay tại lòng mình, một cõi lòng đang chuyển mình cùng với thiên nhiên để tạm quên cõi tục.
Huệ trắng trinh nguyên sau một đêm
Huệ trong thư các huệ ngoài thềm
Sớm nay Chủ Nhật thơm thương quá
Chỉ có Sài Gòn trong dáng emChủ Nhật niềm tin màu huệ trắng
Hiền từ xoạt áo như lời kinh
Em đi lễ nhất trời trên ngõ
Dẫy tóc đen mềm ánh sao xanh…Sài Gòn dưới mắt nhà thơ đã dần dần lấy lại được hình ảnh tinh khôi của nó vào những sớm mai trong trẻo. Người con gái trong thơ ông từ từ sống lại, khác với cô tóc vàng khi xưa, cô gái Sài Gòn bây giờ trắng như huệ và trong như ban mai trinh nguyên của một Sài Gòn ấm áp.
Tuy thế, người yêu thơ Cung Trầm Tưởng không dễ gì quên cô gái tóc vàng bên trời Tây cách đây hơn 50 năm để chia sẻ những cảm nhận của nhà thơ những hình ảnh của các cô gái Sài Gòn ngày nay.
Tiếng còi tàu vẫn chứng tỏ ma lực của nó quyến rũ người đọc thơ đến mức sau bằng ấy năm, hình như mỗi lần nghe lại bản nhạc Tiễn Em do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ “Chưa Bao Giờ Buồn Thế” của ông, người nghe vẫn cảm thấy hình như đang dấy lên nỗi buồn man mác.
Nỗi buồn không tên nhưng có thật. Và nó vẫn ở đấy trong bất cứ người nào nếu từng thừa nhận rằng sự chia tay nào cũng đều rơi nước mắt…
RFA link: https://www.rfa.org/…/Arts-and-Literature-Magazine-Cung-Tra…
Thi Ca Cung Trầm Tưởng:
https://baotreonline.com/…/gio…/cung-tram-tuo%CC%89ng.baotreCung Trầm Tưởng:và tác phẩm, Một hành trình thơ:
https://www.nguoinam.com/phpbb/viewtopic.php?f=144&t=3136Mùa thu Paris – Cung Trầm Tưởng và Tiễn em – Phạm Duy:
https://bacsiletrungngan.wordpress.com/…/chua-bao-gio-buon…/Cung Trầm Tưởng và một hành trình thơ 60 năm:
http://www.viendongdaily.com/cung-tram-tuong-va-mot-hanh-tr…Nhà thơ Cung Trầm Tưởng và hoàn cảnh sáng tác những bài thơ Paris nổi tiếng: “lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế…”
http://vietmania.blogspot.com/…/nha-tho-cung-tram-tuong-va- -
Nguyễn Tường Thiết: Mối tình của đôi ta
Lời Tòa Soạn.- Sau đây là bài nói chuyện của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con út của nhà văn Nhất Linh trong buổi Ra Mắt cuốn sách “Tự Lực Văn Đoàn và các Cây Bút Hậu Duệ” tổ chức vào ngày hôm qua 9 tháng 11 năm 2019 tại thành phố San Jose, California.
https://www.diendantheky.net/2019/11/nguyen-tuong-thiet-moi-tinh-cua-oi-ta.html
Kính thưa quý vị,
Cách đây khoảng mấy tuần lễ tôi nhận được một cú điện thoại của anh Nguyễn Hùng Tâm, trưởng nam của ông Nguyễn Hùng Trương, tức ông chủ nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn trước năm 1975. Anh Tâm mời tôi xuống San José nói chuyện trong buổi Ra Mắt Sách này, cuốn sách “Tự Lực Văn Đoàn và các cây bút Hậu Duệ” mà anh là người đứng ra tổ chức và bảo trợ. Tôi toan từ chối vì với tuổi xấp xỉ 80 tôi rất ngại phải đi xa, nhưng tôi nghĩ đến cái công của ông Khai Trí đối với văn học miền Nam Việt Nam, tôi nhận lời.
Tôi có một mối giao tình đặc biệt với ông Khai Trí, thân phụ của anh Tâm. Trước khi thân phụ tôi, nhà văn Nhất Linh, qua đời năm 1963, ông cụ có ủy thác cho tôi trông nom hai nhà xuất bản Đời Nay và Phượng Giang và quyết định xuất bản những tác phẩm của ông cụ. Với ủy thác ấy tôi đã liên lạc với ông giám đốc nhà sách Khai Trí để phối hợp việc tái bản không những sách của ông cụ tôi mà là sách của những tác giả khác trong Tự Lực Văn Đoàn. Nhu cầu tái bản sách TLVĐ rất cao vì TLVĐ nằm trong giáo trình giảng dậy môn Việt văn bậc trung học, nên tôi liên lạc với ông Khai Trí hầu như thường xuyên và kéo dài suốt 10 năm cho đến tận ngày Cộng sản cưỡng chế miền Nam.
Trước khi nói về một vài kỷ niệm vui vui của tôi với ông Khai Trí tôi cũng xin phép được thay mặt tất cả quý vị có mặt ở đây để ngỏ lời tri ân ông Khai Trí. Trong suốt 20 năm giữa hai cuộc di cư 1954 và di tản 1975 trong khi nền văn học miền Bắc chỉ là một con số không to tướng thì ở miền Nam tự do chúng ta được thừa hưởng một nền văn học mà theo thiển ý của tôi, rực rỡ và đa dạng không thua gì thời đại Tự Lực Văn Đoàn vào thập niên 1930. Trong sự nở rực của 20 năm văn học miền Nam VN ông Khai Trí, trong vai trò hỗ trợ và phổ biến những công trình văn hoá, đã đóng góp một phần không nhỏ.
Trong suốt 10 năm liên lạc với ông Khai Trí tôi có khá nhiều kỷ niệm với ông. Nhưng kỷ niệm tôi ghi nhớ nhất là hôm ông tiết lộ với tôi điều bí mật này: nhà sách Khai Trí số 62 đường Lê Lợi còn là địa điểm hẹn hò của không biết bao nhiêu những cặp trai gái yêu nhau vào những thập niên 50, 60 và 70 của thế kỷ trước.
Nếu trong số các quý vị ở đây đã có ai một thời dùng nhà sách này làm chỗ hẹn hò và đã đinh ninh đó là nơi không bị ai chú ý thì quý vị có thể lầm to. Ông Khai Trí có lần tâm sự với tôi: “Một trong những tiêu khiển rất thú vị và thâm trầm của ông là ông đã dùng khá nhiều thì giờ đứng quan sát gian hàng sách đông đảo của ông, không phải để rình bắt những tay ăn trộm sách, mà là để phát hiện những cặp tình nhân kín đáo dùng nhà sách của ông làm chỗ hẹn hò”.
Kính thưa quý vị,
Đối với những quý vị ở trong hạn tuổi từ 70 cho đến 90 và đã từng ở Sài Gòn trong thời niên thiếu thì có lẽ kỷ niệm êm đẹp nhất trong đời là những buổi chiều cuối tuần đi bát phố Sài Gòn, bên cạnh người yêu nữa thì lại càng tuyệt, chúng ta thả bộ trên đường Lê Lợi, ghé thăm nhà sách Khai Trí, ăn kem ở quán Mai Hương, uống cà phê ở La Pagode rồi thả mình trong máy lạnh của những rạp xi nê Rex, Eden hay Vĩnh Lợi.
Hôm nay, trong không khí hồi tưởng đầy hoa mộng ấy, tôi xin kể với quý vị một câu chuyện tình. Một chuyện tình của thế hệ trước, thế hệ tiền bối. Đó là chuyện tình của thân phụ tôi, nhà văn Nhất Linh. Không phải là chuyện tình trong tiểu thuyết của Nhất Linh như Dũng và Loan trong Đôi Bạn, Trương và Thu trong Bướm Trắng, Siêu và Mùi trong Xóm Cầu Mới hay Thanh và Ngọc trong Dòng Sông Thanh Thủy. Mà là chuyện tình có thực của Nhất Linh với một người đàn bà mà ông rất yêu quý, người đàn bà ấy ngẫu nhiên lại là mẹ của chúng tôi.
Tại sao tôi lại kể chuyện tình giữa bố mẹ tôi?
Chắc có người nghĩ làm gì có tình yêu trong hôn nhân ở thế hệ tiền bối của chúng ta. Và nếu có, chắc cũng chẳng có gì hay ho để kể lại. Với quan niệm thông thường của xã hội ta thời đó thì thân phận của bà Nhất Linh chẳng qua cũng chỉ như thân phận “nuôi một đàn con với một chồng” của bà Tú Xương mà thôi.
Nhưng thật sự khác hẳn. Trước hết ta hãy xem giây phút trước khi nhắm mắt Nhất Linh đã để lại những lời chăng chối gì với người bạn đời của ông:
Mình,
Mối tình của đôi ta trong bao năm đẹp đẽ lắm rồi không mong mong ước gì hơn nữa.
Anh,
Nhất Linh 7-7-1963.
Hai mươi chữ này mới đích thực là những dòng chữ viết sau cùng của nhà văn Nhất Linh trước khi lìa đời, chứ không phải là bẩy mươi mốt chữ trong bản di ngôn chính trị nổi tiếng của ông: “Đời tôi để lịch sử xử”.
Trong lời vĩnh biệt Nhất Linh dùng chữ “Mình” để xưng hô với vợ. Chữ “mình” mang nhiều ý nghĩa. Mình có thể là “em”, mình cũng có thể là “anh”, mình cũng có thể là “chúng ta”. Mình bao hàm ý nghĩa vợ chồng “đôi ta là một”. Và trong bao nhiêu năm “đôi ta” ấy đã gắn bó nhau bằng một “mối tình”, một mối tình “đẹp đẽ” đến độ “không còn mong ước gì hơn nữa”.
Nhất Linh có nói quá không khi ông viết những lời sau cùng này?
Tôi tin rằng ông đã không nói quá. Tôi tin là ông thành thật. Tôi tin thế bởi vì ông quan niệm tình yêu hôn nhân khác với đa số chúng ta. Nó cao hơn quan niệm thông thường. Quan niệm mà theo tôi gần với câu sau đây của nhà văn Pháp Saint-Exupéry: “yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng”.
Cha mẹ tôi lấy nhau năm 1925. Trước khi lấy nhau cậu trai 19 tuổi giao ước ngay với cô gái 18 tuổi: “Mỗi người có một bổn phận: anh có bổn phận đối với xã hội, em có bổn phận đối với gia đình”. Tôi chưa thấy một cặp vợ chồng nào mà sự giao ước ban đầu lại được lại được cả đôi bên tôn trọng lâu dài như thế. Suốt cuộc đời tôi chứng kiến cảnh cha mẹ tôi sống xa nhau. Cha tôi hầu như lúc nào cũng sống xa gia đình, ông lo chuyện xã hội, chuyện văn hoá, chuyện đất nước. Ông sống bôn ba nhiều năm bên Trung Hoa. Mẹ tôi một mình gánh trách nhiệm gia đình, bà buôn cau, lấy tiền nuôi đàn con gần 10 đứa. Không bao giờ tôi nghe mẹ tôi than vãn về chuyện cha tôi thường xuyên vắng mặt, nếu có ai hỏi, mẹ tôi chỉ nhẹ nhàng nói: “anh ấy tuổi con ngựa, không thể ngồi yên một chỗ được”. Cũng vì thường xuyên phải sống xa nhau nên những thời gian hiếm hoi được sống chung cả hai đã tạo cho nhau những ngày chung sống trở thành môt chuỗi “những ngày diễm ảo”.
Vừa lấy nhau, tuần trăng mật chưa hết mặn nồng, mẹ tôi đã chịu cảnh chia ly đầu tiên: cha tôi, cậu thanh niên 20 tuổi, khích động trước cái chết năm 1926 của nhà ái quốc Phan Chu Trinh, tháng 3 năm ấy ông bỏ trường Mỹ Thuật, từ Hà Nội đáp xe lửa vào Sài Gòn, tham dự đám tang nhà cách mạng. Trên chuyến xe lửa xuyên việt, khi ngang đèo Hải Vân ông làm bài thơ sau đây tặng cô vợ mới cưới:
Đèo Hải Vân mây trời man mác
Bến Lăng Cô bãi cát trắng phau
Buồm ai thấp thoáng về đâu
Phiêu lưu hồ hải thêm sầu lòng ai?
(Nhất Linh, 3/1926)
Vì tham dự đám tang Phan Chu Trinh chàng trai Nguyễn Tường Tam bị Pháp lùng bắt, ông trốn sang Cao Miên, sống bằng nghề vẽ và tìm đường du học. Năm sau 1927 ông Đi Tây.
Trong thập niên 1930, Nhất Linh ra báo Phong Hóa & Ngày Nay, thành lập Tự Lực Văn Đoàn và sáng tác rất mạnh. Ông hoàn thành gần 10 tác phẩm. Trong thập niên đó bà Nhất Linh cũng sinh gần 10 người con. Mẹ tôi nói đùa: “Cứ mỗi lần mẹ thai nghén một đứa con thì bố cũng thai nghén một tác phẩm”. Rồi mẹ tôi nói thêm: “Mỗi lần bố viết xong và xuất bản một cuốn tiểu thuyết, cũng như sau khi mẹ sinh đẻ một đứa con, thì dù mẹ có bận rộn buôn bán đến đâu đi nữa bố cũng buộc mẹ phải bỏ hết để sống với nhau riêng biệt một thời gian bên bãi biển Sầm Sơn”. Như vậy thì nội trong thập niên 1930 bố mẹ tôi đã có với nhau gần 10 cái “honeymoon”.

Trong thập niên 1940 con người nghệ sĩ Nhất Linh nhường bước cho người chiến sĩ Nguyễn Tường Tam. Dũng, nhân vật tiểu thuyết trong Đôi Bạn, Đoạn Tuyệt lôi phăng tác gỉa Nhất Linh đi làm cách mạng! Nhất Linh lập đảng chống Pháp, chống Cộng, lập chiến khu, tham gia chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến với chức Bộ Trưởng Ngoại Giao, rồi bôn ba sang Trung Quốc. Trong suối 10 năm con người cách mạng không sáng tác một cuốn tiểu thuyết nào. Người bạn đời của ông cũng ngừng sinh đẻ. Thảo nào sinh năm 1940, tôi là đứa con út trong nhà.
Trong thập niên 1950, từ Trung Hoa về nước năm 1951, Nhất Linh theo lời khuyên nhủ của vợ, tuyên bố không làm chính trị. Ông trở lại đời văn sĩ. Từ Hà Nội ông vào Sài Gòn năm 1952, kéo theo người con út là tôi đi theo ông, năm sau ông lên Đà Lạt sinh sống, cũng lại kéo tôi đi theo nữa. Nhất Linh tương đối sống an bình trên Đà Lạt. Ông chơi lan, thổi hắc tiêu, mua đất ở Fim Nôm, lập nhà bên bờ suối Đa Mê. Chúng tôi giữ rất nhiều hình ảnh của ông trong thời gian này, trong đó có bức hình chụp bố mẹ tôi tươi cười bên dòng suối Đa Mê, mẹ tôi nằm trên võng, bố tôi đứng bên. Tôi rất quý bức ảnh này vì nó là bức duy nhất tôi thấy Nhất Linh cười. Trong bao nhiêu năm tôi tự hỏi tại sao tất cả những bức hình tôi giữ Nhất Linh đều có gương mặt trầm lắng, khắc khổ, chỉ trừ mỗi bức ảnh này là cười tươi. Mãi gần đây tôi mới hiểu lý do vì sao.
Mấy tháng trước một nhà báo ở Việt Nam, anh Nguyễn Vĩnh Nguyên, gửi tặng tôi một quyển sách do anh viết nhan đề “Đà Lạt, một thời hương xa”. Cuốn sách dành hẳn một chương “Tiếng hắc tiêu trên đồi thông” nói về ông cụ tôi trong thời gian ông sống ở Đà Lạt với khá nhiều hình ảnh, tư liệu quý giá. Trong số đó có bức ảnh với lời chú thích: “Ông bà Tam tại suối Đa Mê. Ảnh: Vũ Hà Tuệ sưu tầm”. Bức ảnh chụp bố mẹ tôi bên chiếc võng, tương tự như bức ảnh tôi có, nhưng đặc biệt là ghi thêm hàng chữ viết tay của bố tôi: “Thân tặng anh chị Gioãn. Bên giòng Đa Mê. Kỷ niệm Lễ Vàng 32 năm. Nhất Linh”. Tôi thắc mắc: Không biết Lễ Vàng là gì? Bức ảnh chụp năm 1957. Tôi làm con tính: 1957-32 = 1925. Đúng boong! Năm 1925 là năm bố mẹ tôi lấy nhau. Hoá ra ngày chụp ảnh cũng là ngày kỷ niệm 32 năm “wedding anniversary” của bố mẹ tôi. Thảo nào mà cả hai bức hình trông ông bà tươi rói. Hôm đó bố tôi mời mẹ tôi và các bạn bè (trong số có bác Lê Đình Gioãn, người bạn thân của ông cụ) từ Sài Gòn lên Fim Nôm để ăn mừng “ngày kỷ niệm cưới” trong rừng, bên dòng suối thơ mộng.
Tôi đã tưởng sự khám phá bức ảnh này chấm dứt cuộc hành trình 60 năm đi tìm Nhất Linh của tôi. Nhưng không. Chỉ mới cách đây 55 ngày, một ngạc nhiên khác xẩy đến cho tôi. Cũng trong buổi Ra Mắt cuốn sách “TLVĐ và các cây bút hậu duệ” tổ chức tại trường Đại Học UC-Long Beach, Nam California, ngày 15 tháng 9 năm 2019 vừa qua, một thiếu nữ tôi không quen biết tiến lại gần tôi và trao cho tôi một món quà bất ngờ. Cô ta nói: “Thưa Bác, cháu giữ trong tay tài liệu này cũng khá lâu nhưng không dám gửi bác vì sợ thất lạc. Hôm nay nghe nói bác nói chuyện trong buổi Ra Mắt Sách này, cháu tới đây với mục đích trao tận tay món quà này cho bác”. Món quà là một bài thơ viết tay của chính Nhất Linh. Bài thơ nhan đề “Buồm giục viễn du” viết trên một tờ giấy pelure mỏng mà thời gian đã ngả sang màu vàng úa. Cuối bài thơ, trên chữ ký Nhất Linh, có ghi thời gian và địa điểm sáng tác: Trên bãi biển, cuối Thu 1940.

Tôi sinh ngày 23 tháng 10 năm 1940. Như vậy tuổi của bài thơ ngang với tuổi đời của tôi, xấp xỉ 80. Tôi nhớ tới lời của mẹ tôi: “Mỗi lần bố viết xong và xuất bản một cuốn tiểu thuyết, cũng như sau khi mẹ sinh đẻ một đứa con, thì dù mẹ có bận rộn buôn bán đến đâu đi nữa bố cũng buộc mẹ phải bỏ hết để sống với nhau riêng biệt một thời gian bên bãi biển Sầm Sơn”. Không còn nghi ngờ gì nữa, bài thơ này bố tôi làm ở Sầm Sơn, ngay sau khi tôi sinh ra đời.
Nhìn tờ giấy với bài thơ đã úa màu thời gian tôi cảm động và bâng khuâng.
Bây giờ tôi có thể yên tâm khép lại cuộc hành trình của tôi đi tìm Nhất Linh. Vì tôi đã tìm ra lời giải đáp tôi đặt ra cho chính mình: Nhất Linh đã thật sự nghĩ gì trong giây phút cuối cùng trước khi ông nhắm mắt?
Ông đã nghĩ đến mẹ tôi, đến bao kỷ niệm êm đềm chung sống giữa hai người, ông đã nghĩ đến “mối tình của đôi ta trong bao năm đẹp đẽ lắm rồi, không mong mong ước gì hơn nữa..”.
Xin cám ơn quý vị và xin kính chào quý vị.
Nguyễn Tường Thiết
-
Ra mắt sách “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ” tại San Jose, CA.
Được sự yểm trợ tổ chức của Văn Thơ Lạc Việt, Buổi trưa hôm qua Thừ Bảy 9/11/2019, Ông Nguyễn Hùng Tâm – con trai ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhân nhà sách Khai Trí tại Saigon ngày xưa – đã mời được một vài nhân vật đại diện cho nhóm Nhân văn Nghệ thuật từ Nam Cali đến, tổ chức buổi ra mắt tác phẩm “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây bút Hậu duệ”, tại nhà hàng Grand Fortune trên đường Monterey Rd, thành phố San José bắc California.
Buổi ra mắt sách với khoảng 140 quan khách, văn nghệ sĩ tham dự, đặc biệt khách đường xa có ông Nguyễn Tường Thiết, con trai Út của Nhà văn Nhất Linh – Người Khai sáng Tự Lực Văn Đoàn – trong phần phát biểu về tác phẩm của các hậu duệ, đã gợi lại những kỷ niệm về Nhất Linh, người cha kính yêu của ông suốt chặng đường dài hoạt động chính trị và văn học Việt Nam.
Chương trình cũng được lồng vào với phần văn nghệ do các ca nghệ sĩ của Ban văn nghệ Thơ văn Lạc Việt trình diễn, khá phong phú, ắm áp.
Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi ghi lại về buổi ra mắt sách, xin được chia xẻ đến Quý vị và Các Bạn xa gần, cùng thêm một Lời Giới thiệu về một tác phẩm văn học mới, với nhiều cây bút hậu duệ, vẫn ước mơ Tự Lực Văn Đoàn, dòng Văn học ngọt ngào mãi sẽ còn mãi chảy vào lòng người viễn xứ.
Mạc Phong Đình



-
Ra mắt sách “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ” tại San Jose, CA.
Được sự yểm trợ tổ chức của Văn Thơ Lạc Việt, Buổi trưa hôm qua Thừ Bảy 9/11/2019, Ông Nguyễn Hùng Tâm – con trai ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhân nhà sách Khai Trí tại Saigon ngày xưa – đã mời được một vài nhân vật đại diện cho nhóm Nhân văn Nghệ thuật từ Nam Cali đến, tổ chức buổi ra mắt tác phẩm “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây bút Hậu duệ”, tại nhà hàng Grand Fortune trên đường Monterey Rd, thành phố San José bắc California.
Buổi ra mắt sách với khoảng 140 quan khách, văn nghệ sĩ tham dự, đặc biệt khách đường xa có ông Nguyễn Tường Thiết, con trai Út của Nhà văn Nhất Linh – Người Khai sáng Tự Lực Văn Đoàn – trong phần phát biểu về tác phẩm của các hậu duệ, đã gợi lại những kỷ niệm về Nhất Linh, người cha kính yêu của ông suốt chặng đường dài hoạt động chính trị và văn học Việt Nam.
Chương trình cũng được lồng vào với phần văn nghệ do các ca nghệ sĩ của Ban văn nghệ Thơ văn Lạc Việt trình diễn, khá phong phú, ắm áp.
Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi ghi lại về buổi ra mắt sách, xin được chia xẻ đến Quý vị và Các Bạn xa gần, cùng thêm một Lời Giới thiệu về một tác phẩm văn học mới, với nhiều cây bút hậu duệ, vẫn ước mơ Tự Lực Văn Đoàn, dòng Văn học ngọt ngào mãi sẽ còn mãi chảy vào lòng người viễn xứ.
Mạc Phong Đình
-
Thơ John Tạ: Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam
Người viết: Vương Thơ Sinh


John Tạ là người bạn thân 30 năm trên nước Mỹ. Anh sang xứ người bươn chải qua nhiều ngành nghề vất vả, rồi qua thời gian anh vươn lên thành công về 2 lãnh vực auto parts và thuốc dược thảo. Nghề thuốc bắc là ngành gốc gia truyền của anh. Gia đình John Tạ gốc Hoa, Anh lớn lên ở Việt Nam vượt biên thành công sang Mỹ, anh kể cho tôi nghe những kỷ niệm vui buồn ở quê nhà khi xưa. Việt Nam là quê hương canh cánh trong tâm thức của anh. Nay ở luống tuổi chuẩn bị về hưu, tuổi về chiều, càng về chiều anh nhớ Việt Nam hơn.
Gần đây, anh sáng tác một bài thơ, những ý tưởng tạo nên thơ xuất phát từ con tim: “Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam”. Bài thơ được nghệ sĩ Chí Tâm phổ thành nhạc. Nhạc mang nét đặc sắc của thể lọai “folk ballad” như kể chuyện (music of storytelling, musique à raconter, musique comme les contes). Bản ballad này là một bài hát kể một câu chuyện, và nó diễn tả nỗi nhung nhớ quê hương.
Sau đây là phần giới thiệu về thi phẩm và lời của bài thơ được chuyển sang thể nhạc…
Nỗi lòng ly hương nhớ quê cũ.
Quê hương luôn là nguồn cảm hứng thi ca bất tận của những nhà văn, nhà thơ trong mọi thời đại. Tình cảm đối với nơi được gọi là quê hương, linh thiêng không gì có thể thay thế được, que hương trong nỗi nhớ được chữ nghĩa ghi chép bằng những câu chữ đượm tình quê hương. Nó là nỗi niềm khắc khoải, chất chứa trong lòng, những kỷ niệm bỗng dưng hiện về trong trí tưởng cũng đủ khơi gợi tâm hồn nhạy cảm, hoài niệm về nơi quê xưa chốn cũ. Tình cảm thuần túy đó đã được thể hiện trọn vẹn trong thi phẩm của thi nhân
John Tạ qua bài Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam.
Do vậy, đi xa hơn trong ý tưởng, tình yêu với quê hương bắt nguồn từ những xúc cảm từ con tim. Nỗi xúc cảm dạt dào với quê hương được gói gọn trong từng câu thơ, hay lời nhạc, ví dụ như nhạc sĩ Frédéric Chopin dâng nỗi niềm nhớ quê hương Ba Lan qua nhiều tác phẩm ballad Mazurka; hay trường hợp nỗi nhớ ly hương của ca nhạc sĩ Enrico Macias nhung nhớ quê hương Algerie của ông; hoặc giả khi ta so sánh với bài Tình Ca của nhạc sĩ Phạm Duy: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”. Nỗi xúc cảm của các nhạc sĩ này về quê hương có thể xem như sự tương đồng của nội tâm John tạ.
Mời đọc tiếp:
1/ Chopin sáng tác nhiều bài nhạc nhớ quê hương Ba Lan
Chopin được sinh ra và lớn lên trên đất nước Ba Lan, quê hương của nhiều thể loại âm nhạc, Opera, nhạc đường phố, nhạc trong nhà… Đi nơi đâu cũng có thể thưởng thức những ca khúc Arian và Roman, các điệu vũ Polonaises và Waltzes. Rất nhiều người biết chơi các nhạc cụ như piano, violon, viola, cello,… Thuở niên thiếu, Chopin đã mục kích từ các ngang cùng ngõ hẻm của các làng mạc miền quê Ba Lan, để cậu bé say đắm trong các điệu dân ca, dân vũ. Chopin nhận ra nét hay tự sự của các bản folk ballad Mazurka chứa đựng một nỗi buồn mênh mang mà không thể diễn đạt bằng lời, nhưng lại được bộc lộ một cách giản dị trong âm điệu qua cung đàn dương cầm. Âm nhạc dân gian Ba Lan, đặc biệt là âm nhạc của các loại vũ khúc đã làm rung động tâm hồn non nớt của Chopin, là cội nguồn của những giai điệu đẹp như thơ mà ông sáng tác sau này.
Trong cuộc đời long đong về nghệ thuật âm nhạc của 52 bản Mazurka do ông soạn thành tác phẩm để đời chính là tình yêu quê hương đất nước Ba Lan và khát vọng tự do mà nhạc sĩ đã gửi gắm. Những nhạc khúc ấy của Chopin được công chúng Ba Lan nhìn nhận là một gia tài quý báu của dân tộc. Hãy nghe nhạc bản Frederick Chopin Polish Song ‘Sad river’, Op 74 No 3, Nhạc khúc u buồn Melancholy ballad “Smutna rzeka” (The Sad River, 1831)
Link nhạc Chopin: https://www.youtube.com/watch?v=xFS3WkowqVg
2/ Enrico Macias sáng tác nhạc nhớ quê hương
Gaston Ghrenassia là tên thật của nghệ sĩ Enrico Macias, ông sinh năm 1938 tại Constantine, Algerie trong một gia đình gốc Do Thái và đã học chơi Guitar từ thuở thơ ấu. Gaston Ghrenassia bước vào đời với nghề giáo viên trung học, nhưng năm 1961, chiến tranh độc lập tại Algerie diễn ra dữ dội, vì dính líu vào một vụ ám sát, ông buộc phải rời khỏi Algerie, định cư ở Pháp và vĩnh viễn không bao giờ còn được trở về quê hương. Bài hát “Adieu mon pays” được ông viết trong tâm trạng buồn nhớ quê hương nên có sức truyền cảm rất mãnh liệt.
“J’ai quitté mon pays, j’ai quitté ma maison
Ma vie, ma triste vie se traîne sans raison
J’ai quitté mon soleil, j’ai quitté ma mer bleue
Leurs souvenirs se réveillent, bien après mon adieu
Soleil! Soleil de mon pays perdu…
Enrico Macias: Người nghệ sĩ lưu vong và ca khúc “Adieu Mon Pays” (hay J’ai quitté mon pays).
(Bỏ lại sau lưng Tổ quốc,tôi bỏ lại sau lưng mái nhà xưa
Đời tôi, một đời buồn chán cứ trôi đi chẳng còn ý nghĩa gì
Bỏ lại sau lưng ánh mặt trời, tôi bỏ lại cả đại dương xanh thẳm
Những kỷ niệm trong tôi bừng trỗi dậy, sau những lời tạ từ của tôi.
Mặt Trời, ôi Mặt trời của Tổ quốc xa xôi…)
3/ Nhạc nhớ nhà của Phạm Duy với bài Tình Ca ca ngợi quê hương: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”.
Về hoàn cảnh sáng tác, khi Phạm Duy không chịu được cuộc sống gò bó mất tự do tư tưởng trong chiến khu Việt Minh nên ông bỏ đi. Ông viết Tình ca để biểu lộ nỗi xúc cảm và lòng yêu nước của mình; đồng thời kêu gọi tinh thần ái quốc, đoàn kết ba miền trong bối cảnh đối đầu giữa người Quốc gia-Cộng sản.
Bàn về nội dung phần lời, nhạc phẩm Tình ca nói lên tình quê hương đất nước của một người Việt Nam qua sự phân chia có chủ ý như sau:
Đoạn 1 bày tỏ tình yêu với tiếng Việt, bắt đầu với câu “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…”, rồi diễn giải cái ‘tiếng nước tôi’ đó qua tiếng mẹ ru, câu hò, câu hát, tiếng ‘khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’.
Đoạn 2 bày tỏ tình yêu đối với non sông đất nước Việt: “Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh…”, những hình ảnh dãy Trường Sơn, sông Cửu Long, sông Hương, sông Hồng… xuất hiện như vẽ lên một dải đất nước nối liền.
Đoạn 3 bày tỏ tình yêu với con người Việt Nam với “Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu…”, từ những người chân lấm tay bùn mà vẫn hiên ngang “mình đồng da sắt” suốt vài ngàn năm lịch sử đau thương, cho đến những đời Vua chúa nối nhau giành lại độc lập cho dân tộc. Rồi ở cuối mỗi phần lời, Phạm Duy dùng bốn câu thơ lục bát, là thể thơ riêng của Việt Nam.
Lời ca khúc này rất được yêu thích vì tính chất ballad ái quốc, tự sự mới mẻ và ít thấy trong nền tân nhạc. Bên cạnh đó, tác giả còn vận dụng một cách điêu luyện những thủ pháp, hình thức quen thuộc của các thể ca dao dân gian trong văn học dân ca Việt Nam.
Lời Giới thiệu bài – Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam
Tương tự như bài Tình Ca, ta chia thơ ra 3 phân đoạn:
Đoạn 1: Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam Hỡi Tổ Quốc tôi kính yêu
Việt Nam, thật đẹp tuyệt vời ơi cố hương…
Tôi sinh ra nơi vùng bình yên, ôi hoa niên xuân thì hồn nhiên,…
Đoạn 2: (Ly hương) Tôi nhìn lên mây trắng quyến luyến ánh mắt trên trời xanh,
Và nước mắt thầm rơi hướng trông đại dương xanh ngút trời…
Hỡi trùng dương!… tìm đâu mái nhà của tôi?…
Đoạn 3: Lòng mang ơn nặng sâu, Tổ Quốc ơi!…
Tổ Quốc tôi mến yêu Việt Nam, niềm mến yêu tự hào…
Lòng tôi càng yêu Việt Nam mãi không quên…
Quê hương Việt Nam nỗi nhớ… (John Tạ)
Đất nước Việt Nam, nơi đã cưu mang tôi, thuở nhỏ tôi sống hồn nhiên và lớn lên trong tâm thức vô tư theo giòng thời gian trôi chảy…
Bỗng nhiên, cuộc đời tôi lại bị cuốn theo mệnh nước, tang tóc thê lương, ruột thắt lòng đau phải bỏ xứ lìa quê,
trĩu nặng trong tôi ngút ngàn niềm thương, nỗi nhớ…
Rồi một ngày kia tôi rời xa đất nước, vất vả lênh đênh trên đại dương mênh mông xanh thẳm… thuyền ghe mong manh quá làm sao vượt qua với sóng xô bão nổi. Tôi ngước mắt nhìn trời xin ông tha mạng, cứu vớt chúng tôi, đừng nhận chìm chúng tôi dưới lòng đại dương sâu thẳm… bởi vì trong tôi còn ôm ấp những mộng tưởng, những ước mơ, đường tương lai tươi sáng, tạo dựng hạnh phúc ấm no cho người, cho đời, cho dân tộc tôi cùng chung hưởng…
Này bạn ơi!, Quê hương Việt Nam tôi, sông núi hữu tình, nét đẹp quê hương tôi đâu thua gì những danh lam thế giới. Dù hôm nay tôi có sống tha hương nơi chân trời góc biển, tôi vẫn nhớ muôn đời không thể nào quên…
Tôi vẫn mãi mãi yêu Người… “Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam”…
BẢN NHẠC “TÔI YÊU TỔ QUỐC VIỆT NAM”
Phần Thơ Nhạc:
Lời: John Tạ Pricess Life, Chí Tâm phổ nhạc, hòa âm và trình bày.
Tôi Yêu Tổ Quốc Việt Nam Hỡi Tổ Quốc tôi kính yêu
Việt Nam, thật đẹp tuyệt vời ơi cố hương…
Tôi sinh ra nơi vùng bình yên, ôi hoa niên xuân thì hồn nhiên,
Vì đâu ai gây biến thiên, quê hương khói lửa triền miên,
Bao nhiêu nghiệt oan, vô thường vây quanh tử sinh,
Ôi thương cho dân tộc Việt Nam, lòng nặng buồn cho đất nước tôi…
Năm xưa tôi rời xa cố hương…
Tôi nhìn lên mây trắng quyến luyến ánh mắt trên trời xanh,
Và nước mắt thầm rơi hướng trông đại dương xanh ngút trời…
Hỡi trùng dương!… tìm đâu mái nhà của tôi?…
Ác tâm trời mưa lại thêm bão giông, sóng gió dập vùi…
tội nghiệp bao sanh linh, thuyền ghe mong manh đã vở tan rồi…
Hỡi cao sanh!… Cầu xin ông, đừng đem tôi, xa cuộc đời,
về nơi miền xa biển sâu, bởi vì, tôi vẫn… còn bao ước mơ đời tôi…
niềm mơ ước tương lai hạnh phúc thênh thang rộng mở…
trong tôi… còn đợi chờ… *Số kiếp nhân sinh đi qua bao lần gian nan khổ đau?
vững chí tiến bước kiên gan tô đẹp tương lai thêm sáng tươi…
Cho đời, cho người trên thế gian,
Ta cùng, trọn niềm vui chung với nhau, hưởng cảnh an bình lâu dài…
Ha ha… đẹp quá quê hương mến yêu,
Sánh vai trên khắp thế giới, chốn đây tươi đẹp gấm hoa…
Thân tôi dù cho, xa xôi biển trời… niềm nhớ thương, làm sao quên lãng…
Lòng mang ơn nặng sâu, Tổ Quốc ơi!…
Tổ Quốc tôi mến yêu Việt Nam, niềm mến yêu tự hào…
Lòng tôi càng yêu Việt Nam mãi không quên…
Điệp khúc: thêm câu: Hỡi Bạn ơi… * Số kiếp nhân sinh…
June 20, 2019.
———————————————————————————
Los Angeles, 01 tháng 11, 2019.
Vương Thơ Sinh ghi nhận.
-
Tưởng niệm Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý: Một cuộc đời tài hoa, một lý tưởng cao đẹp
Tâm An/Người ViệtOctober 26, 2019

Lễ tưởng niệm Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt vào tối 25 Tháng Mười. (Hình: Tâm An/Người Việt)
WESTMINSTER, California (NV) – Tối Thứ Sáu, 25 Tháng Mười, hàng trăm người trong đó có bạn bè, đồng nghiệp, bằng hữu và gia quyến của dòng họ Nguyễn Tường đã có mặt tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster, để tưởng nhớ về cuộc đời, sự nghiệp và con người của kiến trúc sư, họa sĩ Nguyễn Tường Quý trước khi tiễn ông về cõi vĩnh hằng.
Kiến Trúc Sư (KTS) Nguyễn Tường Quý là cháu của ba nhà văn nổi tiếng thuộc dòng họ Nguyễn Tường trong Tự Lực Văn Đoàn là nhà văn Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam. Từ thời sinh viên, ông là một nhà hoạt động có lý tưởng sống cao đẹp và luôn trung thành với tổ quốc
Ông được biết tới là một KTS đa tài từng làm trong Bộ Dân Vận thời VNCH, ông đã thiết kế ra nhiều công trình đẹp ở Thủ Thiêm, Sài Gòn. Ông còn là họa sĩ tài hoa, biết thưởng ngoạn cái đẹp và cho ra đời nhiều bức tranh có giá trị. Ông còn được nhiều bạn bè đồng nghiệp mến mộ bởi một phong cách sống giản dị và dung hòa. Ông cũng là một triết gia sâu sắc, quan niệm cuộc đời là vô thường, luôn coi mọi thứ nhẹ nhàng và luôn đem niềm vui cho mọi người.

Bà Phạm Minh Tâm (phải), phu nhân Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý, và bà Hoàng Vĩnh, tổng giám đốc công ty Người Việt. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Tới dự lễ tưởng niệm KTS Nguyễn Tường Quý còn có nhiều người từ các tiểu bang xa xôi khác cùng về hội ngộ như các ông Trần Vũ Bản từ Chicago, Illinois; Nguyễn Văn Trân từ Houston, Texas.
Trong không khí trang nghiêm và thân tình, KTS Trần Vũ Bản, một trong những đồng nghiệp và là người bạn thân nhất, gắn bó lâu nhất với KTS Nguyễn Tường Quý, xúc động chia sẻ: “Tôi không thể nào quên những kỷ niệm với anh Quý. Ngay từ thời sinh viên đại học, anh Quý đã say mê tham gia các hoạt động xã hội, từ cứu trợ lũ lụt ở miền Trung, cứu trợ đồng bào tị nạn từ Tây Nguyên về Tây Ninh, ngày phát quà, tối sinh hoạt ca hát phục vụ cho đồng bào.”
“Thừa hưởng truyền thống gia đình tranh đấu cho tự do và độc lập, anh Quý là một thành viên hoạt động rất đắc lực trong các tổ chức chống Cộng, các đoàn thể thành niên thiện chí, sinh hoạt đều đặn, có nhiều đóng góp tích cực. Từ vận động trong giới sinh viên, đến soạn thảo phát truyền đơn, vận động biểu tình, từng nhiều lần gặp nguy hiểm phải trốn tránh đi xa,” ông nhớ lại.
Gắn bó với ông Quý từ thời sinh viên, khi ra trường KTS Trần Văn Bản đã cùng với ông Quý thành lập công ty kiến trúc có tên B&Q chính là tên viết tắt của hai người.
Ông Bản bồi hồi nhớ lại: “Anh Quý từng thiết kế thành công đồ án kiến trúc phát triển đô thị đầu tiên ở Việt Nam dọc sông Sài Gòn với những căn biệt thự có cầu tàu, ca nô trượt nước, các cư xá dọc theo xa lộ Sài Gòn Biên Hòa và trong khu Thủ Thiêm. Ngày nay, sau nửa thế kỷ, khu Thủ Thiêm Quận 2 vẫn là địa điểm đắt giá nhất ở Sài Gòn, có nhiều tranh chấp nhất. Nhờ các thành quả đó mà Thượng Tọa Thích Minh Châu, viện trưởng Viện Phật Giáo Vạn Hạnh, đã mời công ty B&Q chúng tôi nghiên cứu thành lập Phân Khoa Xây Dựng cho viện.”

Ông Nguyễn Tường Thiết, con trai nhà văn Nhất Linh, cầm bức họa nhà văn Nhất Linh do nhà báo Đinh Quang Anh Thái trao tặng. (Hình: Tâm An/Người Việt)
KTS Trần Văn Bản cho biết, sau năm 1975, cho dù sang hải ngoại nhưng người bạn Nguyễn Tường Quý của ông vẫn tiếp tục tranh đấu cùng người chú ruột là Bác Sĩ Nguyễn Tường Bách và người anh ruột là Luật Sư Nguyễn Tường Bá.
Ông cũng nhắc lại bốn câu thơ mà KTS Nguyễn Tường Quý đã viết tặng ông trên bức tranh phong cảnh non cao năm nào, với lời lẽ vô cùng giản dị mà sâu sắc, mang tính thiền trong Phật Giáo:
“Buổi chiều lên động núi cao,
Ngắt bông hoa dại, ném vào cõi không,
Phủi tay nghe mộng bềnh bồng,
Áp tai dưới cỏ thấy lòng dửng dưng.”Từ Houston, Texas, một người bạn thân khác, KTS Nguyễn Văn Trân cũng bày tỏ lòng ngưỡng mộ một người bạn tài hoa KTS Nguyễn Tường Quý.
“Tôi gắn bó với Nguyễn Tường Quý và gia đình của anh đến nỗi mà tôi còn được đổi tên thành Nguyễn Tường Trân. Không có gì xót xa bằng chuyện tiễn đưa một người bạn quý, đã gắn bó với nhau đúng 60 năm cuộc đời. Nhưng tôi cũng có niềm vui ngầm khi bạn mình thoát khỏi những cuộc tranh đấu, thoát khỏi cõi đời này, thênh thang trở về cõi Phật,” ông chia sẻ.

Một trong những người bạn thân thiết của Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý, từ trái, Kiến Trúc Sư Nguyễn Văn Trân, Kiến Trúc Sư Trần Vũ Bản và nhà báo Hà Tường Cát. (Hình: Tâm An/Người Việt)
“Đối với tôi anh luôn là một người giản dị, ít khi mặc complet, luôn đi giày không có vớ, đi xe gắn máy mà không nổ máy… Anh còn là một người tài hoa, vẽ tranh bằng cả tay phải và tay trái khiến nhiều người ngưỡng mộ,” ông Trân nói thêm.
Nhà văn Khánh Lan, đại diện nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian, cũng chia sẻ những kỷ niệm với KTS Nguyễn Tường Quý trong buổi ra mắt sách “Hệ Lụy” của em trai ông, nhà văn Ngọc Cường, tại tòa soạn nhật báo Người Việt, năm 2016. Đó là hình ảnh một Nguyễn Tường Quý luôn nở nụ cười trên môi khiến cho người đối diện cảm thấy ấm áp và dễ gần.
Nhà báo Ngô Nhân Dụng, chủ nhiệm nhật báo Người Việt, chia sẻ: “Tất cả anh em trong nhật báo Người Việt đều là bạn của anh Nguyễn Tường Quý. Tôi quen biết anh đã 64 năm từ khi anh còn đang học trường Kiến Trúc và sinh hoạt trong Tổng Hội Sinh Viên. Tình bạn của chúng tôi rất ‘nhạt nhẽo’ vì không đi nhậu, không cà phê, không mạt chược, đánh đáo… không có tất cả những thú vui mà người đời hay đàm đạo với nhau. Nhưng có một điều lạ là mỗi lần gặp anh là mình tươi vui, yêu đời.”
Từ Canada, bà Thanh Thảo xúc động nói về những kỷ niệm của bà trong 40 năm gắn bó với người họa sĩ Nguyễn Tường Quý: “Chỉ cần gặp anh một lần, nghe anh nói chuyện về kháng chiến, về tranh đấu cho dân tộc, về lý tưởng yêu nước… là tôi đã thấy anh là một người có tư tưởng lớn, một nhà trí thức yêu nước, một họa sĩ có tâm hồn và là một triết gia nhìn thấu cuộc đời là vô thường.”

Hàng trăm người là bạn bè, bằng hữu và gia quyến của Kiến Trúc Sư Nguyễn Tường Quý hội ngộ để tưởng niệm về ông tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster, vào tối 25 Tháng Mười. (Hình: Tâm An/Người Việt)
Lần lượt những người bạn hữu thân thiết đều nói lên tình cảm tốt đẹp của mình với người quá cố, như KTS Phan Quang Cơ, Trương Văn Quý.
Được biết ông Nguyễn Tường Quý là một nhà tranh đấu thời VNCH và từng có tên trong danh sách 28 người bị Việt Cộng liệt vào danh sách bị tử hình, cùng với nhà văn Phạm Quốc Bảo.
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, chủ bút nhật báo Người Việt, nhân dịp này cũng gửi tặng lại gia đình KTS Nguyễn Tường Quý bức họa về cố nhà văn Nhất Linh mà ông đã lưu giữ rất lâu trong phòng làm việc của ông.“KTS Nguyễn Tường Quý đã sống một cuộc sống mà người Mỹ gọi là colorful, nghĩa là một cuộc sống trọn vẹn, có lý tưởng, tình yêu và đầy màu sắc,” ông Thái nhận xét. (Tâm An)Link: Tưởng niệm KTS Nguyễn Tường Quý: Một cuộc đời tài hoa, một lý tưởng cao đẹp
Tưởng niệm KTS Nguyễn Tường Quý: Một cuộc đời tài hoa, một lý tưởng cao đẹp“Nguyễn Tường Quý đã sống một cuộc sống mà người Mỹ gọi là colorful, nghĩa là một cuộc sống trọn vẹn, có lý tưởn… -
VIETV DIRECTV HỘI THOẠI TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ CÁC CÂY VIẾT HẬU DUỆ
-
Sinh Nhật Ns. Tuấn Khanh 7-3-20
Khánh Lan
Vào lúc 1 giờ chiều ngày 16 tháng 11, năm 2019, Liên nhóm “Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian” đã tổ chức buổi Vinh danh và mừng Thượng thọ Nhạc sĩ Tuấn Khanh tại NT Studio, trên đường Brookhurst, thành phố Westminster, California. Hôm ấy, trời thật đẹp! Những tia nắng vàng óng ánh, len lỏi qua những cành cây như để sưởi ấm vài chiếc lá khô còn xót lại trên cành. Trong một không gian lãng mạn của mùa thu, có lẽ không còn gì thú vị hơn khi được cùng bạn bè cùng thưởng thức những bài tình ca của một thời xa xưa…
Tuy mới 12:30 chiều, nhưng đã có khá đông thân hữu xếp hàng ngoài cửa. Nét vui tươi hiện rõ trên khuôn mặt từng người. Phía bên trong, ban tiếp tân cũng đã bắt đầu bận rộn tiếp đón khách vào chỗ ngồi. Đúng 1 chiều, Gs Quyên Di và Xướng Ngôn viên Khoa Cát (đài truyền hình SAIGON TV, 57.3) chào đón Ns Tuấn Khanh và Ns Bùi Thiện cùng đi chung với ông.
Khách tham dự gồm có sự hiện diện của của Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa, Nhà văn Mắt Nâu, Nhà Thơ Việt Cường, Thi Sĩ Bích Ty, Ca Sĩ Chung Tử Lưu, Ca sĩ/Bác Sĩ Vương Đức Hậu, Nhạc trưởng Bùi Quỳnh Qiao (Ban hợp xướng Ngàn Khơi), Ca Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng, Nhà Văn Nguyễn Huy Quang, Nhà văn Dương Tử, Giáo sư/Nhà văn Dương Ngọc Sum, Nhà thơ Dương Hồng Anh, Nhà thơ Võ Ý, Nhà báo/Nhà văn Phạm Quốc Bảo, Nhà văn Hạo Nhiên Trần Thế Ngữ, Nhà văn/Nhạc sĩ Dương Viết Điền, Nhà văn Hà Nguyên Du, Trương Thành Đức, Ông Nguyễn Lý Sáng (Cựu Hội trưởng Tây Ninh Đồng Hương Hội), Bác sĩ/Ca sĩ Nguyễn Đức Cường, Bác sĩ/Ca sĩ Trương Đức Cường, Họa Sĩ Lâm Thủy, Ký Giả Uyên Vũ, Nhạc sĩ Mạc Vũ Phạm Gia Cổn và nhóm Hoàng Hạc Khí Công, nhóm Nghệ sĩ Hoa Mai Nga Lam (San Diego), Nhiếp ảnh gia Hòa Quân .v.v…. Đặc biệt, còn có sự hiện của Nhà báo Phạm Kim (Báo Người Việt Tây Bắc, Seattle) đến từ Seattle.
Sau phần chào Quốc Kỳ và một phút tưởng niệm, MC Nhật Uyên thay mặt Nv Việt Hải và Liên Nhóm NVNT & TTG, giới thiệu về chủ trương và sinh hoạt, thành phần BTC, cũng như gởi lời cám ơn đến các nhà bảo trợ và các mạnh thường quân đã hỗ trợ trong việc duy trì và bảo tồn những sinh hoạt văn hóa nghệ thuật của hội. Chương trình được tiếp tục với MC Khánh Lan, giới thiệu về tiểu sử cũng như những sáng tác của Ns Tuấn Khanh.
Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tên thật là Trần Ngọc Trọng, sinh năm 1933 tại Nam Định. Năm 1950, ông về sống tại Hà Nội và học vĩ cầm từ một người anh. Trong một bài phỏng vấn của phóng viên Đức Tuấn, tòa báo Người Việt, tháng Tư, năm 2013, Ns Tuấn Khanh đã tâm sự rằng, “Người thầy đầu tiên dạy nhạc cho ông là ông Nguyễn Văn Diệp, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Ns Tuấn Khanh chuyển sang học nhạc từ ba ông thầy người Pháp, cho nên chắc chắn những sáng tác của ông, không ít thì nhiều, đã chịu ảnh hưởng nền âm nhạc Tây Phương”.
Năm 1953, ông giành giải nhất của đài phát thanh Pháp Á về giọng hát. Ông sáng tác cả hai thể loại: tình ca và những ca khúc mang âm hưởng nhạc tiền chiến. Đôi khi, ông viết theo lời yêu cầu của nhà xuất bản mà ông gọi là “Nhạc Đại Chúng”‘ một loại nhạc rất thịnh hành và ăn khách thời ấy. Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Thương Hoài Thương, điển hình là bài Lệ Tình, Tuy Anh Không Nói. Trần Kim Phú qua sáng tác Vì lỡ thương nhau.v.v… Ngoài việc viết nhạc, ông còn là ca sĩ với nghệ danh “Trần Ngọc”.
Năm 1955, Ns Tuấn Khanh di cư vào miền Nam Việt Nam. Tại Saigon, ông đàn cho đài phát thanh và ban Giao Hưởng của trường Quốc Gia Âm Nhạc. Nhạc phẩm đầu tay của ông là bài “Đò Ngang”, viết cùng với Ns Y Vân.
Sau năm 1975, ông ngưng mọi sáng tác trong vòng 7 năm và chuyển sang nghề dạy học tại tư gia. Những lần vượt biên thất bại đã khiến ông vô cùng thất vọng, tưởng chừng mình không bao giờ có được cơ hội đặt chân lên miền đất tự do. Và lần vượt biên sau cùng, ông đã thành công.
Khi Đến Hoa Kỳ, ông được một nhà thờ Tin Lành bảo lãnh và ông đã sáng tác cả 100 bài nhạc đạo cho sứ đạo này. Sau sáu tháng sinh sống tại San Jose, trong một buổi nói chuyện, ông đã theo lời mời của NS Phạm Duy, về sống tại miền nam California. Nơi đây, ông đã lấy lại nguồn cảm hứng và bắt đầu sáng tác lại từ đó. Vào năm 2002, Trung tâm Thúy Nga mời ông cộng tác trong chương trình “Thúy Nga By Night 64: Đêm Văn Nghệ Thính Phòng” với chủ đề vinh danh ba Nhạc sĩ: Tuấn Khanh, Vũ Thành An và Từ Công Phụng.
Ns Phạm Duy đã nhận xét về dòng nhạc của NS Tuần Khanh như sau: “Tất cả trong các nhạc sĩ, đã suốt một đời sáng tác cho quê hương Việt Nam, qua bao luân lạc, Ns Tuấn Khanh là một nhạc sĩ đã nối tiếp con đường sáng tác nhạc tiền chiến và rất thành công”.
Năm 1982, ông đinh cư tại thành phố Garden Grove, California. Tại đây, ông và gia đình mở một tiệm phở mang tên Hoa Soan Bên Thềm Cũ .
Những sáng tác của Ns Tuấn Khanh đều được cả khán giả trong và ngoài nước trân trọng và yêu chuộng. Ông đã sáng tác hơn 100 nhạc phẩm. Những nhạc phẩm được lưu truyền qua nhiều thế hệ, phải nhắc đến là: Hoa Soan Bên Thềm Cũ, Chiếc Lá Cuối Cùng, dưới Giàn Hoa Cũ, Quán Nửa Khuya, Nhạt nhòa, Nỗi Niềm, Một Chiều Đông, Kiếp Sầu Đau, Chiều Biên Khu, Tại Vắng Anh, Kiếp Sau, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, là những bài nổi tiếng… Ông tâm sự, phần lớn mỗi bản nhạc của ông sáng tác đều mang một niềm tâm sự và phát xuất từ những cảm xúc có thật của ông. Chẳng hạn, nhạc phẩm “Chiếc Lá Cuối Cùng” là nhạc phẩm kể lại chuyện tình ngang trái của chính ông. Và nhạc phẩm “Nhạt Nhòa” là sáng tác của ngày chia tay người yêu trong một hoàn cảnh gần như chạy trốn, vội vã và chan hòa nước mắt. Ông cho biết ý nhạc của bài hát này đã đến với ông và ông đã ôm ấp & nuôi dưỡng nó trong tim mình trong suốt năm ngày lênh đênh trên biển cả…….
Chương trình văn nghệ do Gs Quyên Di và nhóm âm nhạc của Liên Nhóm NVNT & TTG phụ trách. Mở đầu chương trình ban tam ca “Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên” đã trình bày nhạc phẩm bất hủ của Ns Tuấn Khanh “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”. Đặc biệt sau đó, phần trình diễn nhạc phẩm “Dưới Giàn Hoa Cũ” của Cs Chung Tử Lưu với sự phụ diễn của nhóm vũ TTG gồm Khánh Lan, Thanh Châu… đã khiến cho chương trình tăng thêm phần sinh động và hào hứng. Chương trình nối tiếp với những nhạc phẩm nổi tiếng như: Nhạt Nhòa, Quán Nửa Khuya, Một Chiều Đông, Chiều Biên Khu, Nỗi Niềm v.v….
Trong suốt thời gian 3 tiếng rưỡi, hội trường NT Studio chìm trong yên lặng. Mọi người như để hết tâm hồn theo dòng nhạc, thưởng thức những khúc nhạc vàng và lắng nghe những lời chia sẻ của Ns Tuấn Khanh, về những cảm xúc của ông qua từng sáng tác, từng giai đoạn và những biến chuyển xẩy đến cho ông, theo dòng thời gian.
Dưới sân khấu, Ns Tuấn Khanh ngồi yên lặng, hai tay ông ôm tấm plaque mà Liên Nhóm NVNT & TTG trao tặng ông, chăm chú theo dõi phần trình diễn. Mặt ông tươi sáng với nụ cười mãn nguyện luôn nở trên môi. Thỉnh thoảng, vài giọt nước mắt lăn dài trên má nhưng ông vẫn thản nhiên, không che dấu những giọt lệ hạnh phúc.
Trước khi kết thúc chương trình, Ns Tuấn Khanh phát biểu cảm nghĩ của ông về buổi Vinh Danh và Chúc Thọ. Giọng ông nghẹn lại vì xúc động “Còn gì hạnh phúc cho bằng, đến cuối đời, tôi được mọi người nghĩ đến và cho tôi một buổi chiều vui như hôm nay, tôi không biết nói gì hơn”.
Bế mạc chương trình là phần cắt bánh Vinh Danh và Chúc Thọ Ns Tuấn Khanh. Chương trình kết thúc lúc 5:00 chiều. Bài “Hoa Soan Bên Thềm Cũ” được ban hợp ca Tiếng Thời Gian và thân hữu cùng hát lại lần thứ hai, rồi lại lần thứ ba, để tiễn chân ông …
CS Bùi Thiện kể lại, trên đường về, Ns Tuấn Khanh không ngừng nói về những cảm xúc của ông và ông rất cảm động trước sự chân tình của GS Quyên Di và Liên Nhóm NVNT & TTG vì ông đã có một buổi sinh nhật thật hạnh phúc và khó quên.
2:07 sáng ngày 26, tháng 11, 2019
Khánh Lan

