• Văn Thơ

    Cha mẹ già và con cái

    This image has an empty alt attribute; its file name is image-107.png

    *Lời rào trước

    “Biết rồi ! Khổ lắm ! Nói mãi!”
    (“Số Đỏ” – Vũ Trọng Phụng)

    Mới đây không lâu tôi nhìn thấy bảng số xe sau một xe nhà đòn (Người Mỹ họ gọi xe chở quan tài là “Hearse”- A vehicle for conveying the coffin at a funeral – Ở Việt Nam người ta gọi đùa xe tang là “Xe Hoa có 8 thằng lơ!”) đọc như sau:



    “U2” (You too! –
    Có nghĩa là “Sắp tới phiên Bạn!”)



    Thật vậy, tính sổ ra thì các sư phụ, sư mẫu hay chính bản thân quý vị và tôi cũng không là ngọai lệ (“no Exception to the Rule”).

     Để chuẩn bị tinh thần cho cái “Chapter 7” (*) và trong khi chờ đợi,  xin mời đọc thêm bài này cho biết mà… nản…

    * Nên biết: “Chapter 7” là giai đoạn cuối dẹp tiệm vĩnh viễn  sau khi đã khai khánh tận (“Chapter 11”) và đáo hạn rồi mà vẫn không thể có cơ may nào phục hồi nổi!!!)

    Thân mến,



    Trần Văn Giang

    *

    Ông Chu Dung Cơ, Cựu Thủ tướng Trung Cộng từ năm 1998 đến năm 2003, nói về mối liên hệ giữa cha mẹ già và con cái như sau:

    “Cha mẹ thương con là vô hạn, con thương cha mẹ là có hạn. Con bệnh cha mẹ buồn lo. Cha mẹ bệnh con đến nhòm một cái, hỏi vài câu thấy là đủ. Con tiêu tiền của cha mẹ thoải mái, cha mẹ tiêu tiền của con chẳng dễ chút nào. Nhà của cha mẹ là của con. Nhà của con không phải là nhà của cha mẹ. Khi ốm đau cha mẹ già  trông cậy vào ai? Nếu chẳng may ốm đau dai dẳng hiếm thấy có đứa con hiếu nào ở bên giường? (‘cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử?’”

    Rồi ông gởi lời khuyên đối với các bậc cha mẹ là:

    “Khác nhau là như vậy! Người hiểu đời coi việc lo cho con là nghĩa vụ, là niềm vui không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình. Mặc dù cũng có nhiều con cái có hiếu nuôi cha mẹ.”

    Theo sách “Luận Ngữ,” khi Tử Du hỏi về chữ Hiếu, Khổng Tử đáp:

    “Chữ Hiếu bây giờ được hiểu là có thể nuôi dưỡng cha mẹ. Nhưng ngay cả chó và ngựa cũng đều phải nuôi dưỡng. Nếu thiếu đi sự kính trọng, thì sao có thể phân biệt hai việc đó đây.”

    Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.”

    Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.

    Một người thợ hớt tóc cho tôi biết về con cái của ông ta.  Cả hai đứa con đều có nhà riêng, cùng ở trong quận Cam, nhưng không mấy khi chúng điện thoại hỏi thăm ông? Tháng trước, ông bệnh nặng, nằm nhà một tuần lễ mà cũng chẳng đứa con nào ghé qua thăm. Ông nói thêm:

    “Chỉ trừ lúc nào chúng cần nhờ đến ông việc gì đó thì chúng nó ghé qua hay gọi điện thoại thôi…”

    Ông buồn bã kết luận:

    “Ở Mỹ này, có đến chín đứa con, nhưng cha mẹ già bệnh thì cũng phải vào ‘nursing home’ thôi!”

    “Nursing home” ở Âu Mỹ, mang tiếng là văn minh, hiện đại nhưng liệu rằng đây có phải là nơi yên ổn cho những ngày cuối cùng của tuổi già không? Tại các viện dưỡng lão trên đất Mỹ mỗi năm có hàng chục nghìn trường hợp khiếu nại vì cách đối xử của nhân viên như bỏ bê, đánh đập; để người già đại tiểu tiện, ói mửa mà không dọn dẹp, không cho uống nước; xâm phạm tình dục; tệ hại nhất là đối với những bệnh nhân “Alzheimer.”

    Năm ngoái, phúc trình của Bộ Y Tế tiểu bang Minnesota cho thấy chỉ trong vòng 5 tháng đã có 15 trường hợp bệnh nhân mất trí nhớ bị hành hạ, trong đó có những vụ như bị chọc ghẹo liên tục, bị nhổ nước bọt vào mặt, bị bóp ngực hay hạ bộ. Phải chăng nhà dưỡng lão, chặng cuối đời của người già là chốn địa ngục có thật trên trần gian như thế!

    Vậy thì con cái có hiếu tâm, xin cầu nguyện cho các đấng sinh thành sớm ra đi trước khi họ trở thành những người mất trí lú lẫn, nằm suốt ngày một chỗ, tiêu tiểu không kiểm soát được. Thấy cha mẹ lớn tuổi mà còn minh mẫn, mạnh khỏe nên mừng, mà thấy cha mẹ ra đi nhẹ nhàng, trước khi phải chịu những cảnh đau lòng của tuổi già lại càng mừng hơn.

    Tuy vậy, rất nhiều gia đình người Việt trên xứ người có được niềm an ủi là họ có những đứa con Việt Nam; nhất là những đứa con của một gia đình nghèo, lớn lên trong chiến tranh và thông cảm được nỗi thiệt thòi bất hạnh của cha mẹ mình.

    Lời đón sau

    “Be nice to your children because they are the ones who will choose your nursing home(s).”

    – Steven Wright


    Trần Văn Giang

  • Âm nhạc,  Lê Nguyễn Nga

    Bài hát NẮNG CHIỀU qua tiếng Tàu (3 dialects), Nhật và Việt.

    Qua tiếng Tàu (3 dialects), Nhật và Việt

    Bài hát NẮNG CHIỀU của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn

    Inline image

           NẮNG CHIỀU là tên một ca khúc của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, được sáng tác năm 1952. Bài hát không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà còn nổi tiếng ở Nhật Bản, Đài Loan và Hồng Kông. Tại các nước nói tiếng Hoa, bài hát được biết đến với tên 越南情歌 (Việt Nam tình ca) hay 南海情歌 (Nam hải tình ca) do Thận Chi (慎芝) đặt lời.
           Trong một lần phỏng vấn, Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã nói: “Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 5 năm 1945, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!”
           Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Ðúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm, ban nhạc Toho Geino có nhờ người chọn ra 12 bản nhạc Việt Nam đang nổi tiếng thời đó để chuẩn bị tập dượt và trình diễn tại Sài Gòn lẫn Nhật Bản, trong đó có bản “Nắng Chiều” và bản này đã được cô ca sỹ nhật Midori Satsuki hát. Năm 1960 Kỹ Lộ Hà 紀露霞, một ca sỹ người Đài Loan, cô yêu mến bản Nắng Chiều nên viết sang lời Hoa ngữ và phổ biến bản này sang Ðài Loan bằng lời ca tiếng Phúc Kiến, sau đó được nữ nghệ nhân Thận Chi 慎芝 (Khưu Tuyết Mai 邱雪梅) viết lại lời bằng âm Quan Thoại phổ biến ở Hồng Kông và các nơi khác. Nhờ những may mắn đó mà Nắng Chiều cứ thế được biết tới tại các nước ở vùng Đông Nam Á và sau năm 1975 lại theo người Việt và người Việt gốc Hoa đi khắp thế giới như hiện nay.
         Nhớ lại khoảng thập niên 1960 của thế kỷ trước, hội Văn Hóa Hoa Việt ở vùng Quận 5 Chợ Lớn có cho phổ biến một tập nhạc Việt đã được dịch ra lời Hoa để cho con em người Hoa có thể hát nhạc Việt được. Tập nhạc này chỉ được in dưới hình thức “quay ronéo” nên không được phổ biến rộng rãi. Tôi còn nhớ trong đó các bản nhạc như “Ai Về Quê Tôi”(Tiến Đạt) Mạnh Phát, “Ngày Trở Về” của Phạm Duy, “Lúa Mùa Duyên Thắm”, “Trăng Soi Duyên Lành”, “Lối Về Xóm Nhỏ” của Trịnh Hưng, “Về Dưới Mái Nhà” của Xuân Tiên, Y Vân, “Duyên Kiếp” của Lam Phương… và tôi thích nhất là bài “NẮNG CHIỀU” của Lê Trọng Nguyễn với lời tiếng Hoa thật hay, không biết là một nhân sĩ nào đó đã dịch thật tài tình, vừa sát nghĩa với lời Việt của Lê Trọng Nguyễn lại vừa có tính cách văn chương và nhất là vừa hợp với các âm giai lên xuống của bản nhạc khi hát  không bị gượng ép chút nào cả ! Lời ca rất tự nhiên nên thơ như được sáng tác bằng tiếng Hoa nguyên gốc vậy ! Và cũng vì thế mà cho đến nay, hơn 60 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ như in lời ca mượt mà gợi cảm đó. Xin được chép lại dưới đây để người Việt gốc Hoa nào đó thích bản nhạc “NẮNG CHIỀU” cùng hát cho vui (Nhớ là hát bằng âm “Quan Thoại”, chữ có màu đỏ bên dưới, chớ không phải âm Việt Hán):

                夕陽                                       TỊCH DƯƠNG là Nắng Chiều           xi yáng        回到渡頭夕陽斜照,                     Hồi đáo độ đầu, tịch dương tà chiếu,   Huí dào dù tóu, xi yáng xié zhào.   (Qua bên nước xưa là hoa về chiều)          金光疏落花葉飄搖。                     Kim quang sơ lạc, hoa diệp phiêu diêu.   Jin guang shu luò hua yè piao yao.(Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa)        來到村莊舉步徬徨,                     Lai đáo thôn trang, cử bộ bàng hoàng,   Lái dào cun zhuang, ju bù páng huáng.(Khi đến cuối thôn chân bước không hồn)        多麼懷念舊時人兒。                     Đa ma hoài niệm, cựu thời nhân nhi.   Duo me huái niàn, jìu shí rén ér.     (Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ)
      *  Từ phần hai của lời ca, sẽ bỏ đi phần phiên âm Việt Hán cho khỏi rườm rà !
            記得妹妹身材稍廋,                     Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy,      Jì dé meì meì shen cái shao sou,        柔和望我雙眸閃爍。                     Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh.      Róu hé wàng wo shuang móu shan shuo.        記得當年妳過庭前,                     Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm,      Jì dé dang nián ni guò tíng qián,        粉頰緋紅秀髮輕飄。                     Má em mầu ngà tóc thề nhẹ vương.      Fen xia fei hóng xiù fa qing piao.
    – 我回來過庭前,想起誓言,心冰冷,Nay anh về qua sân nắng, chạnh nhớ câu thề, tim tái tê,Wo huí lai guò tíng qián, xiang qi shì yán, xin bing leng,  不知如今,情妹呀,移戀何方?      Chẳng biết bây giờ người em gái,duyên ghé về đâu?Bù zhi rú jin, qíng meì ya, yí liàn hé fang?
    – 我回來桑田黃,山歌對答,不再唱,Nay anh về nương dâu úa, giọng hát câu hò, thôi hết đưaWo húi lai sang tián huáng, shan ge dùi dá, bù zài cháng,  苗條俏影,紫花前,往何處尋?      Hình bóng yêu kiều kề hoa tím biết đâu mà tìm?miáo tiáo qiào jing, zi hua qián, wảng hé chù xún?
            沉痛記起竹蔭底下,                         Anh nhớ xót xa dưới tre lá ngà,       Chén tòng jì qi, zhù yin di xià,        含愁望我妳說”愛我”。                      Gợn buồn nhìn anh em nói “mến anh !”.       Hán chóu wàng wo, ni shuo “ai wo”        白雲浮飄夕陽殘照,                         Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi,       Bái yún fú piao, xi yáng cán zhào,        想妳柔情晚霞留停!                         Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi !       Xiang ni róu qíng, wan xía líu tíng!

         Mặc dù một số từ được dịch thoát ý, không có “mot à mot” hay “word by word” gì cả, nhưng đã lột tả được hết ý của tác giả muốn gởi gấm trong lời ca.

          Dưới đây là lời ca bằng tiếng Phước Kiến  (tiếng nói thông dụng ở Đài Loan) với giọng hát của ca sĩ Kỷ Lộ Hà như đã nói ở phần trên :


                Còn dưới đây là … Ca sĩ Hoàng Thanh Nguyên của Tân Gia Ba  hát bài Nắng Chiều ( Tình Ca Việt Nam) với lời ca viết lại như sau :

    黃清元 越南情歌
    黃清元 越南情歌
    黃清元 越南情歌 Hoàng Thanh Nguyên hát VIỆT NAM TÌNH CA (Nắng Chiều) 我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, Tôi lại trở về bên bờ dòng Mê-Kông, Gió chiều vẫn thổi lay động mặt sông. 那樣美麗那樣迷戀,情人己離去多年。 Sông đẹp là thế, mơ màng là thế, nhưng người yêu thì đã rời xa nhiều năm rồi.
    我又來到舊日河邊,晚霞嬌艷吻著河面, Tôi lại trở về bên bến sông xưa, ráng chiều đẹp đẽ như hôn lấy mặt sông .那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。 Sông đẹp là thế mơ màng là thế, nhưng người yêu cũ đã đi mất bao năm rồi.
    Điệp khúc…
    往事一幕幕回到我眼前, Chuyện xưa cứ lần lượt hiện ra trước mắt tôi. 是夢景令人常懷念,夢景令人懷念。 Là mộng ảo dễ khiến người tiếc nuối, mộng ảo nên khiến người tiếc nuối. 何日夢境再回到我眼前, Không biết đến ngày nào cảnh mộng lại trở thành hiện thực trước mắt, 是真情令人長留戀,真情令人懷念。 Thật dễ làm cho người ta lưu luyến mãi, làm cho người ta tiếc thương mãi . 我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, (Lời của phần sau giống như lời của phần đầu.那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。 Những phần trên đây chỉ dịch nghĩa của lời viết lại bằng tiếng Hoa,我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, không phải là LỜI CA, nên không thể hát được ). 那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。
         Còn sau đây là lời HOA của bản nhạc NẮNG CHIỀU của Lê Trọng Nguyễn với tựa đề là :VIỆT NAM TÌNH CA  do nữ nghệ nhân Thận Chi viết lời  (Thận Chi tên thật là Khưu Tuyết Mai 邱雪梅, bà đã cùng chồng là Quan Hoa Thạch 關華石 tổ chức đại nhạc hội “Quần Tinh Hội” ở Đài Loan suốt gần 3 thập niên 1950-1980)

    作詞:慎芝                                     Viết lời : Thận Chi
    作曲:越南民歌                              Nhạc   : Việt Nam Tình Ca
    編曲:陳志遠                                 Hòa âm : Trần Chí Viễn

    我又來到昔日海邊          Tôi lại trở về bờ biển của ngày xưa,
    海風依舊吹皺海面          Gió biển vẫn làm cho mặt biển gợn sóng như xưa.
    那樣熟悉 那樣依戀         Thân thương là thế, quyến luyến là thế, 
    只有舊日人兒不見          Chỉ có người xưa là không còn gặp lại.
    不敢來到昔日海邊          Tôi không dám trở lại bờ biển của ngày xưa,
    海霞嬌艷擁著海面          Nắng chiều thật đẹp như ôm ấp lấy mặt biển.
    那樣熟悉 那樣依戀         Thân thương là thế luyến lưu là thế,
    只有故人離去多年          Chỉ có cố nhân là đã biền biệt nhiều năm rồi !                              ĐK那往事 一幕幕到我眼前           Chuyện xưa từng lớp từng lớp một như hiện ra trước mắt tôi,
    是夢境還是幻想 令人常懷念    Là mơ hay là ảo tưởng, đều khiến cho người ta luyến nhớ.
    那夢境 何日能回到眼前           Những chuyện mộng mơ, ngày nào mới thành hiện thực trước mắt.
    你又在我的身邊 無限情纏綿    Em lại đến bên tôi với muôn vàn quyến luyến.
    不敢來到昔日海邊          Giống như lời trên
    海霞嬌艷擁著海面
    那樣熟悉 那樣依戀
    只有故人離去多年                         ĐK
    那往事 一幕幕到我眼前
    是夢境還是幻想 令人常懷念
    那夢境 何日能回到眼前
    你又在我的身邊 無限情纏綿
    不敢來到昔日海邊         Giống như lời trên
    海霞嬌艷擁著海面
    那樣熟悉 那樣依戀
    只有故人離去多年

    越南情歌 – Nắng Chiều Bài hát nầy hát giống như lời trên đây.

     Còn dưới đây là bài hát Nắng Chiều của ca sĩ Dương Yến, lời hát đúng với bản nhạc chép tay của ĐCĐ kèm theo bên dưới và cũng đúng với những tập nhạc xuất bản ở Đài Loan được bày bán trên các dĩa hè của Quận 5 Chợ Lớn trong thập niên 60 -70 của thế kỷ trước.

    【Official Audio】楊燕 – 越南情歌   Dương Yến – Việt Nam Tình Ca

    Cuối cùng mời tất cả cùng nghe NẮNG CHIỀU của Lê Trọng Nguyễn với tiếng Nhật Bản:

    Nắng Chiều (Lê Trọng Nguyễn) – Satsuki Midori (tiếng Nhật)

    Đỗ Chiêu Đức (sưu tầm trên mạng)

  • Văn Thơ

    MÙA XUÂN KHÔNG TRỞ LẠI

    Hồi ký  Hồng Thủy

                                                                        Kính tặng Mẹ yêu dấu người đã hy sinh

                                                                           cả một thời xuân  sắc cho chúng con.

    Mẹ tôi lấy chồng năm người 22 tuổi, bốn năm sau thì bố tôi qua đời, lúc đó mẹ tôi mới 26 tuổi, anh tôi 3 tuổi và tôi vừa tròn 18 tháng. Tôi không biết và không nhớ gì về bố ngoài những tấm ảnh trong một cuốn album cũ kỹ.

         Sau khi bố chết, ba mẹ con tôi về ở với ông bà ngoại. Tôi lớn lên trong thời kỳ chiến tranh nên gia đình chúng tôi phải rời thành phố tản cư về nhà quê.

     Ông bà ngoại tôi có một trang trại ở một làng nhỏ thuộc xã Đông Phú, Huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa. Làng ở gần núi nên có cái tên rất thơ mộng là làng Sơn Lương.

     Con đường làng làm bằng những phiến đá lớn nối tiếp nhau, hai bên là những khóm trúc, thỉnh thoảng chen vào những rặng tre cao ngất. Ở sau làng phía xa xa có một ngọn đồi đầy hoa sim tím, xa hơn nữa là những dẫy núi đá xanh lam với những hang động đầy thạch nhũ đẹp tuyệt vời. 

    Thời thơ ấu của tôi là những buổi sáng chạy tung tăng trong vườn, nhặt những cánh hoa bưởi trắng ngần, thơm ngát, xâu thành vòng tròn đội lên đầu giả làm công chúa.

     Những buổi trưa, anh em tôi trốn ngủ trưa, leo trèo hết cây táo sang cây ổi, hái những trái táo ngon ngọt ròn tan và những trái ổi chín vàng thơm phức 

    Những buổi chiều chạy nhẩy trong vườn, đuổi bắt những chú bướm đủ màu bay lượn quanh những luống hoa cải vàng tươi, hoặc theo trẻ con hàng xóm chạy ra đồi hái đầy những giỏ sim tím thẫm.

     Những buổi tối nằm rúc nách mẹ nghe kể chuyện cổ tích cho đến khi ngủ thiếp đi.

    Cứ như vậy, anh em tôi lớn lên trong sự cưng chiều và tình thương yêu trìu mến của ông bà ngoại và mẹ tôi.

     Ông nội và các cô chú thì ở quá xa, tận Phát Diệm lại thuộc “vùng tề” do chính phủ quốc gia kiểm soát,  nên chúng tôi hầu như không được tin tức và không liên lạc được.

     Cuộc sống êm đềm ở một trang trại vùng quê vắng lặng  thỉnh thoảng lại rộn rịp hẳn lên vì có khách ở xa đến chơi. Một hôm sau khi khách về rồi chị vú thì thầm bảo tôi: “Coi chừng em sắp mất mẹ vì có người muốn hỏi cưới mẹ đó.” Câu nói của chị vú làm tôi òa lên khóc và chị vú bị bà ngoại la cho một trận.

     Nhưng rồi chị vú vẫn không chừa, mỗi lần nhà có khách chị lại chỉ cho tôi ai là người muốn hỏi cưới mẹ. Không hiểu sao với cái đầu óc non nớt của tôi, tôi lại nghĩ ra một danh từ rất nặng nề để gọi mấy người đó.

     Tôi thường đứng thập thò ở cửa phòng khách nhìn “đối thủ” của tôi bằng một con mắt căm hờn và lầm bầm trong cổ họng: “Đồ ăn cắp!” (ý nói ăn cắp mẹ tôi đi). 

    Tôi không dám nói to sợ bà ngoại biết được, chắc chắn tôi sẽ bị ăn đòn vì bà ngoại rất nghiêm. Tuy chúng tôi được cưng chiều, nhưng bà ngoại dậy dỗ anh em tôi rất cẩn thận, nói với người lớn bao giờ cũng phải thưa gửi. Bà ngoại luôn luôn bảo: “Tội gì bà còn có thể tha, chứ vô lễ là không bao giờ bà tha cả, chắc chắn thế nào cũng bị đòn.”

    Thấy tôi thập thò ở cửa, “đối thủ” của tôi vẫy tôi vào với nụ cười thân thiện: “Bé vào đây, bác có kẹo cho bé đây này” và ông đưa ra một hộp kẹo buộc “nơ” rất đẹp. 

    Tuy trong bụng đang căm hờn sôi sục, tôi cũng không thể nào từ chối hộp kẹo quá hấp dẫn được, nên đành chạy vào đưa tay đỡ hộp kẹp và lí nhí cám ơn rồi chạy vụt ra.

     Thấy tôi ôm hộp kẹo, chị vú trêu tôi: “Ăn kẹo của người ta là bằng lòng cho người ta cưới mẹ đó.” 

    Tôi hoảng hốt ôm hộp kẹo vào trả lại cho khách, mẹ nhìn tôi ngạc nhiên: “Con vẫn thích kẹo lắm mà, bác cho con đã nhận rồi sao trả lại?” 

    Tôi chỉ lắc đầu buồn bã nhìn mẹ tôi và tiếc rẻ nhìn hộp kẹo rồi bỏ ra ngoài vườn ngồi một mình tấm tức khóc. 

    Buổi tối vào giường ngủ, thay vì kể chuyện cổ tích như mọi khi, mẹ đã hỏi tôi lý do tại sao tôi trả hộp kẹo lại cho khách. Sau khi nghe tôi tỉ tê kể lể mẹ vỗ nhẹ vào lưng tôi dỗ dành: “Tội nghiệp con, mẹ sẽ không bao giờ lấy chồng đâu. Con đừng lo nữa nhé.”

     Tôi sung sướng rúc vào lòng mẹ ngủ ngon lành. 

    Mùa hè năm tôi tròn 10 tuổi, bác T., con cụ Hường Đ. bạn thân của ông bà ngoại đến thăm. Bác cao lớn, đẹp trai và nghe nói học rất giỏi, có bằng cử nhân Luật. Bác góa vợ , không có con. Bác rất thích anh em tôi và cưng chiều hai anh em lắm. 

    Tôi còn nhớ bác chỉ định đến thăm gia đình chúng tôi vài ngày rồi đi, nhưng vì bác bị đau nên ở lại đến cả tháng. Trang trại của ông bà ngoại tôi vui hẳn lên vì có bóng đàn ông. Buổi tối bác dậy chúng tôi hát. Buổi sáng bác đưa chúng tôi ra ao ở trước nhà, chặt cây chuối cho anh em tôi làm phao ôm để bác dậy tập bơi.

     Trại của ông bà ngoại tôi có hai cái ao lớn, một ao cầu gỗ và một ao “tà-vẹc”, gọi như vậy vì một ao, cầu làm bằng những cây gỗ lớn ghép vào nhau và một ao, cầu ao làm bằng những cái “traverse” làm đường xe lửa. 

    Ao cầu gỗ lúc nào cũng đầy hoa bèo tím, ao “tà-vẹc” lúc nào cũng đầy hoa rau muống tím. Tôi yêu màu tím từ lúc còn nhỏ, bởi xung quanh tôi lúc nào cũng bao vây bởi nhừng hoa màu tím thật dễ thương. 

    Chiều chiều bác cùng mẹ con tôi đi dạo đồi sim, hoặc đi chơi triền núi và thăm các hang động.  Mỗi lần đi chơi như vậy bao giờ bác cũng cầm theo một cái mác dài để đề phòng gặp rắn rết hay thú dữ. Đi bên bác chúng tôi cảm thấy rất yên tâm và được che chở.

     Anh em tôi chạy nhảy tung tăng hái hoa đuổi bướm, trong khi bác và mẹ ngồi trên một tảng đá lớn nói chuyện.

     Buổi chiều xuống thật nhẹ,  không gian thơm mát như được ướp bằng hương đồng cỏ nội, cảnh vật thật thơ mộng, êm đềm. Khi bóng nắng tắt hẳn, chúng tôi mới thong thả ra về. 

    Vài tuần sau khi bác từ giã gia đình chúng tôi để về tỉnh, anh em tôi đã khóc và mắt mẹ cũng đỏ hoe. Trang trại của ông bà ngoại lại trở về với cái vắng lặng cố hữu của một gia đình gồm hai ông bà già, một người đàn bà trẻ và hai đứa con nít. 

    Những buổi tối sau đó, khi mẹ ngồi hong mái tóc dài đen mượt óng ả sau khi gội đầu còn thơm mùi chanh và bồ kết ở ngoài hàng hiên, bà ngoại thường đến bên mẹ thì thầm to nhỏ. Trong câu chuyện giữa bà và mẹ, tôi nghe thấy loáng thoáng có nhắc đến bác T., đến chuyện mẹ tôi lấy chồng, đến bốn chữ “Tiết hạnh khả phong”.

    Một hôm  nhớ đến bác T tôi hỏi mẹ “Bao giờ bác T lại đến thăm mình nữa?”

    Đôi mắt đẹp của mẹ nhìn tôi thật buồn ” Chắc bác không bao giờ đến nữa đâu con, trừ phi…”Tôi cướp lời mẹ hỏi dồn dập” Trừ phi sao hả mẹ ?”

    Mẹ không trả lời câu hỏi của tôi mà lại hỏi tôi bằng một giọng ngập ngừng “Con có thích bác T ở với mình mãi không ?” Tôi trả lời nhanh không cần suy nghĩ  “con thích lắm” Mẹ lại hỏi tiếp ” Như vây con có chịu cho mẹ lấy chồng không ?”.Nghe hai chữ “lấy chồng” tôi nhớ ngay lời dọa của chị Vú “Lấy chồng là người ta mang mẹ đi là các em mất mẹ đó.” Tôi lắc đầu quầy quậy và không hiểu sao nước mắt ở đâu đến nhanh quá, tôi mếu máo ” con không muốn mẹ lấy chồng ” . Từ đó mỗi lần đi chơi đồi sim với mẹ, tuy rất nhớ bác T tôi cũng không bao giờ dám nhắc tới bác nữa.

    Khoảng 1 năm sau, bác T trở lại thăm gia đình tôi, bác mang cho chúng tôi thật nhiều kẹo , bánh. Bác chỉ ở chơi một buổi rồi ra đi.Nghe mẹ nói bác tới từ giã để đi thật xa.Lần đầu tiên tôi nghe thấy hai chữ “dinh tê”, nói lóng là đi về vùng quốc gia.Lúc ấy vùng chúng tôi ở thuộc quyền Cộng Sản. Tối hôm đó không hiểu bà ngoại nói gì mà làm mẹ tôi khóc.Sau đó tôi cứ nghe bà nhắc đi nhắc lại ” lấy chồng là đeo gông vào cổ, đang sung sướng ở với bố mẹ, tiền không thiếu , danh thì chồng chết người ta vẫn gọi bà Tham ( bố tôi làm Tham tá thuế quan ) con trai con gái có đủ , có điên mới đi lấy chồng cho khổ vào thân” .

    Thời gian qua dần, anh em tôi lớn lên.Câu chuyện lấy chồng của mẹ không bao giờ còn được nhắc đền nữa. Rồi chúng tôi hồi cư về Hà Nội.  Tôi phải giã từ làng Sơn Lương nhỏ bé với bao nhiêu kỷ niệm đẹp của thời thơ ấu. Tôi phải giã từ những cánh hoa mầu tím thân yêu: hoa soan, hoa sim, hoa bèo và hoa rau muống. Những cánh hoa mầu tím đơn sơ mộc mạc đó không bao giờ tôi còn được thấy lại ở những thành phố huy hoàng đầy ánh sáng. Từ một đứa bé, tôi trở thành một thiếu nữ trưởng thành. Tôi lập gia đình rất sớm và biết thế nào là hạnh phúc lứa đôi, thế nào là sự đầm ấm của một gia đình no vợ đủ chồng. Tôi bỗng thấy thương mẹ tôi thấm thía.Tôi hối hận vì lúc còn bé đã nhất quyết không muốn mẹ đi lấy chồng.Tôi đã đọc nhiều truyện của Tự Lực Văn Đoàn, đã hiểu thế nào là ý nghĩa của  bốn chữ Tiết Hạnh Khả Phong. Bốn chữ mà những bậc cha mẹ cổ xưa( trong đó có bà ngoại tôi ) đã mang ra làm bức tường vây bọc chôn vùi cuộc đời của những người đàn bà góa bụa. Riêng mẹ tôi với số tuổi 26, số tuổi mà phần lớn chúng tôi mới bắt đầu bước vào đời, thì mẹ tôi đã phải giã từ tình yêu, giã từ mơ mộng, giã từ những ước muốn bình thường của một người đàn bà trẻ,  để khép kín cuộc đời trong một cánh cửa nặng nề của lễ giáo.

    Ước gì cho tôi trở lại thời thơ ấu, cho mẹ tôi trẻ lại như xưa. Tôi sẽ không dại dột ngăn cản mẹ đi lấy chồng. Tôi sẽ năn nỉ bà ngoại đừng ép buộc mẹ phải chôn kín tuổi xuân.Tôi sẽ thưa với ngoại: hạnh phúc không phải chỉ là tiền, là danh, là đầy đủ con trai con gái. Hạnh phúc là vòng tay âu yếm, là những săn sóc thương yêu , là ánh mắt trìu mến, là con tim ấm áp truyền hơi ấm cho nhau. Ngoại ơi, bà cháu mình đã sai thật rồi, mình đã làm lỗi lầm thật lớn khiến người mẹ tội nghiệp của con phải chịu suốt cả một đời một mình một bóng, đơn lẻ , quạnh hiu.

  • Văn Thơ,  Việt Hải

    Tưởng rằng đã quên ? “Hoài Niệm” với Hồng Vũ Lan Nhi.

    Tôi biết chị Hồng Vũ Lan Nhi (HVLN) qua sự giới thiệu của chị Bích Huyền, rồi được biết cả hai chị đều là bạn tri kỷ từ ngôi trường Trưng Vương, cũng như thân với chị Cao Mỵ Nhân, người tôi hằng ái mộ những dòng thơ dạt dào trong kho tàng thi ca vô tận của người Việt chúng ta.

    Tôi nhận được cuốn thi tập “Hoài Niệm” hôm nay, sách dầy độ 300 trang với 239 bài thơ. Tên tác giả và tựa đề nằm bên trên với nét chữ xanh lá mạ, màu của niềm tin, của sức sống. Tác giả có tên thật là Lê Hồng Diệp, bút hiệu là Hồng Vũ Lan Nhi, hiện cư ngụ tại Orange county, vùng Nam Cali. Bìa sách màu vàng nhạt của sự nhớ mong, phía trước có vẽ hình chiếc ghe như chở người đọc về kỷ niệm, bìa sau lại thêm một chiếc ghe khác như ghe hoài niệm chở HVLN về với dĩ vãng đã qua với bốn câu thơ bất hủ:

    “Chỉ trong phút giây hoài niệm,

    Dĩ vãng theo nhau lũ lượt về,

    Kỷ niệm như dấu chân trên cát,

    Lún xuống đời những vết đau tê”

    Inline image

    HVLN mở đầu sách với bài thơ theo thể tự do nhắc tác giả nhiều kỷ niệm của tuổi mới lớn, thuở mực tím nhiều xao xuyến, nhiều mộng mị khi bước vào tình yêu. Bài “Nụ Hôn Đầu” hình như đã phản ảnh đặc tính dễ thương của tình yêu trai gái Việt Nam, sở dĩ tôi nói vậy vì nụ hôn của người Việt được biểu tượng cho sự cao quý và sự trói buộc đời nhau, ta hãy nghe HVLN diễn tả tâm sự của tác giả:

    “Nhớ hôm nào, bầu trời đầy sao,

    Nụ hôn đầu e ấp trao nhau,

    Ngỡ ngàng làm sao là lúc ấy…

    Ôm nhau mà tưởng mộng chiêm bao!”

    Hai câu sau cho thấy mối tình Việt Nam dễ thương sao đấy… Tình cảm của buổi ban đầu vẫn là sự ngỡ ngàng, rụt rè, e thẹn, nó đẹp và nhắc đến mối tình đầu của chính tôi, khi nắm tay em mà ngỡ giấc mơ chiêm bao, con tim của tôi dường như đập loạn nhịp, chả bù khi sang Mỹ đi hẹn hò date với một cô bạn Mỹ, chúng tôi nếu có nắm tay nhau hay hôn nhau là sự đương nhiên của cái tình cảm “bạo phát bạo tàn”.

    Tôi nhắc chừng lòng phải ngợi ca bài thơ này thêm nữa vì có thể nó nhắc nhở tôi cũng như muôn độc giả, bạn bè khác về cái tuổi mực tím “khi đã yêu thì mơ mộng nhiều”, dù ngày nay đa số bạn bè đã “quá lứa” của sự mộng mơ, có chăng là tâm hồn chúng ta quay về dĩ vãng để làm mềm con tim bị đời vùi dập giấc mơ xưa. HVLN sáng tác bài tình thơ này ngày 8 tháng 5, năm 1960. Vượt bao thời gian qua cái giá trị về tình yêu theo quan niệm cổ điển vẫn đong đầy nỗi nhớ, vẫn lưu luyến một thời biết yêu, một thời nhớ mãi “nụ hôn đầu” khi trao nhau mộng tình ngày xanh.

    “Nụ hôn đầu, ôi, sao đắm say,

    Em úp mặt vào đôi bàn tay,

    Chẳng biết vì sao Em lại khóc,

    Cho môi hồng thấm lệ tràn đầy,”

    Thấy chưa? Nội chỉ hai câu sau cũng đủ “nhức nhối” bao con tim thổn thức. Vâng, đây chính là vần thơ “đáng đồng tiền bát gạo” nhất theo thiển ý của tôi.. Tôi đoạn nhìn đồng hồ mà mồm lẩm bẩm: “Chết chửa, nếu còn sớm tí nữa, tôi sẽ nhấc phone bàn với chị HVLN bài điểm sách này chỉ cô đọng quanh bài thơ này mà thôi thì tôi có thể viết thành thi ca tiểu luận rồi, còn lại 238 bài thơ khác nên dành cho chuyến sau vậy. Theo ý riêng của tôi từ thuở sáng tác thơ thì có lẽ tôi yêu mến nhất thể thơ lục bát và trân trọng diễn tả nụ hôn khi người ta yêu nhau. như một dạo mình đã ươm trong một bài bài thơ Anh ngữ nào đó là:

    “If you are in love,

    You must kiss.

    If you don’t kiss,

    Just forget your love.”

    Phải chăng trong cùng ý thơ Việt ngữ là:

    “Yêu nhau hãy trao nụ hôn,

    Nụ hôn thiếu vắng sao hồn bảo yêu” …???

    Thi sĩ HVLN hội đủ cả hai khía cạnh này trong thi tập “Hoài Niệm”, thơ lục bát của chị bàng bạc, lai láng rất nhiều trong 300 trang giấy, “thơ nụ hôn” của chị sáng tác rất nhẹ nhàng, rất e ấp, rất dễ thương và rất tình tự làm người đọc xao xuyến con tim, đam mê của thuở hẹn hò. HVLN lại tiếp:

    “Em đã âm thầm biết nhớ ai,

    Biết bâng khuâng trong những đêm đài,

    Anh ơi nếu mộng đời không thắm,

    Tình mình Em quyết chẳng hề phai.”

    Lại hai câu cuối “đáng đồng tiền bát gạo” nữa. Đối tượng của chị HVLN năm đó là người sung sướng nhất trần gian khi được vần thơ mực tím yêu thương, khi người con gái trịnh trọng nắn nót từng câu, từng chữ vung đầy tình nghĩa yêu đương như thế này. Ông thầy bói trong Lăng Ông Bà Chiểu năm xưa bói tôi duyên số đào hoa, nhưng thú thật dù tôi có tu chín kiếp chả có ai trao tôi bài thơ mực tím này cả.

    Tôi đọc bài lục bát “Nỗi Lòng Người thủy Thủ” mà tôi nhớ hôm nói chuyện trong phone, chị HVLN nói về mối tình với người thương áo trắng thủy thủ ngày nào trong cái tình tự của cơn mê hoa biển như:

    “Đêm khua nghe sóng vỗ bờ,

    Tưởng như tiếng của người xưa gọi về,

    Bao giờ mới tỉnh cơn mê?

    Bao giờ quên được nỗi tê dại này?”

    Sài Gòn xưa có sáng nắng chiều mưa như hồn vất vưởng nhơ’ nhung, của những hẹn hò, những đưa đón, những gặp gỡ mối tình hải quân áo trắng, thơ HVLN vẫn nối tiếp nhiều câu mà tôi chỉ tóm tắt ẩn ý. Lại tiếp…

    “Khi yêu nào có ai ngờ,

    Mơ’i tri âm đó bây giờ… cố nhân,

    Dòng đời xuôi ngược bao lần,

    Mà hình bóng cũ vẫn hằn vết sâu”

    Trong tình yêu nếu không duyên nợ thì có thể là tình yêu không ràng buộc hoặc không trọn vẹn để rồi khi nàng ghé thăm cảnh biển chạnh lòng nhớ người yêu xưa. Người tình cũ đã neo sang bến khác trong cuộc đời đầy phong ba của kiếp sống hải hồ, rồi một ngày nao người tình áo trắng nhìn lại sóng biển, hình bóng người bạn gái cũ hiện về trong nước biển xanh của nghìn trùng đại dương mà khi xưa chàng đã không quên gửi tặng loài hoa biển trong các chuyến hải hành…

    “Nhớ chùm hoa biển trắng phau,

    Nhớ khi tàu đã nhổ neo, tách bờ,

    Thả hồn trở lại bến xưa,

    Lòng người thủy thủ vẫn mơ, vẫn buồn?”

    Trùng dương dâng sóng cuộc đời khóc lệ chia ly khi tàu tách bến, rời cảng để cuộc đời không đến với nhau như ước hẹn, lời chia ly đó đã lắng sâu vào lòng đại dương.

    Trong bài “Lẻ Loi” HVLN kể về chuyện tình đôi đũa so le được ví von:

    “Người ta như đũa có đôi

    Tôi như chiếc đũa lẻ loi bên lề,

    Một mình lặng lẽ sầu khuya,

    Một mình trong những chiều lê thê buồn,”

    Nỗi cô đơn, u hoài trong đêm thanh vắng như dòng sông không bến đổ, như muà đông có con nắng lạnh lùng cho tâm tư đơn côi và như loài chim biển hải âu tung cách vỗ trên ngàn khơi mênh mông:

    “Một mình ôm nỗi cô đơn,

    Như dòng sông chảy tìm về cõi xa,

    Như mùa đông, nắng nhạt nhòa,

    Như cánh chim biển la đà ngoài khơị”

    Trong bài “U Mê” cho thấy sự tương phản là đối tượng của HVLN mang con tim đơn côi bên dòng sông Tương:

    “Biết rằng Em chẳng yêu tôi,

    Nhưng tôi không thể xa rời bóng Em,

    Long lanh mắt sáng sao chìm,

    Thanh tơ manh chỉ, dáng mềm liễu thưa”

    Tương khúc được diễn tả tiếp:

    “Tình tôi dâng trọn Em rồi,

    Em là nữa mản hồn tôi kiếm tìm,

    Yêu Em bằng cả con tim,

    U mê không biết phận mình ra sao!”

    Trong bài “Tình Chờ” HVLN lại cho nụ hôn lên ngôi tình ái:

    “Nhìn em tươi mát nụ cười,

    Lòng anh chao đảo đứng ngồi không yên,

    Thèm hôn vào cánh môi hiền,

    Thèm được ôm bờ vai mềm nhung tơ,”

    Đối tượng của HVLN vẫn lãng đãng trong giấc mộng, nàng đến với chàng khi là thiếu nữ hồn nhiên, trong trắng, chàng trông ngóng mòn mỏi tâm tư, chàng thèm được ôm vai người tình, thèm được hôn môi người cho thõa lấp nỗi tình nhớ miệt mài đợi mong:

    “Môi em chưa một lần hôn,

    Bờ vai chưa một người ôm… dập dìu,

    Mắt chưa in vết dấu sầu,

    Tim chưa ghi khắc tình đầu bóng ai”

    Lại nụ hôn ngọt ngào bên nỗi nhớ được ca ngợi trong bài “Thủ Thỉ Với Bóng”:

    “Có nụ hôn nồng rất thiết tha

    Có vòng tay ôm ấp rất đậm đà

    Rồi những chiều bên nhau thủ thỉ

    Cùng ngắm mây trôi cõi xa.”

    Nụ hôn vẫn chất chứa, ẩn hiện trong thi tập “Hoài Niệm”, nhưng thôi thì xin tạm gác qua đề mục này, dù rằng nó đã khuấy động tâm tư thuở mực tím của chính tôi nhiều lắm, vì đi xa hơn nữa bài viết sẽ biến dạng sang tiểu luận “Nụ hôn” trong thi ca HVLN mất…ah hah !

    Song song với khía cạnh tình nồng nhung lụa yêu đương được khéo léo khai thác qua thi ca, người ta còn thấy khía cạnh nhân bản của HVLN qua nhiều bài ca ngợi thiên nhiên trong cuộc sống, tình yêu quê hương đất nước cũng như tình cảm thuộc về luân lý, đạo đức của HVLN khi nhắc về gia đình, song thân, anh em, con cháu, bà con, bạn bè thân thiết,…

    Trong bài “Tiếng Khóc Đầu Đời” những tâm tình của HVLN trang trải qua bài thơ dài hai trang giấy mô tả về cái hạnh phúc gia đình gắn bó tiêu biểu của người Việt:

    “Được tin vui trong họ

    Một bé gái chào đời

    Biết bao lời chúc tụng

    Đến từ khắp muôn nơi…

    Chúc mừng ông bà Nội

    Niềm vui sươ’ng nào bằng

    Gái trai thêm dâu rể

    Cháu chắt sẽ đầy đàn…”

    Ngày lễ Hiền Mẫu, HVLN dâng hoa đến Mẹ qua bài “Bông Hồng Dâng Mẹ”:

    “Nhìn lên trơi cao,

    Mà sao không thấy

    Mẹ hiền đâu vậy

    Mẹ thấy con không?

    Ra vườn hái một bông hồng

    Đem vào dâng Mẹ tỏ lòng kính yêu.”

    Bài “Nhớ Bố ” đề cập về gia đình của tác giả:

    “Chúng con nhớ Bố thật nhiều,

    Quyết tâm ghi tạc những điều Bố khuyên,

    Sống sao xứng đáng Thánh Hiền,

    Dâu hiền, rể thảo, cháu Tiên, con Rồng,

    Thủy chung đạo đức vợ chồng,

    Con yêu, cháu quí, một lòng không nguôi…

    Thương yêu đùm bọc lẫn nhau,

    Các con hạnh phúc một màu thắm tươi …”

    Trên cao hơn hết thi ca HVLN có vô số bài nói về tôn giáo, nói về Chúa, nói về Phật , tôi thấy một sự bình an trong thi ca của HVLN. Có thể vì sự lựa chọn tôn giáo đã ru người thơ trong cái ý thức tâm linh cho chính mình, nhất là một chổ nương tựa sự thư thái của tâm hồn. Vì đấng tối cao của tôn giáo nào cũng đưa chúng ta về nguyên thủy của sự chân, thiện, mỹ trong cuộc sống này.

    Bài “Lời Nguyện Cầu” tác giả kể câu chuyện chàng trai đến dự lễ nhà thờ và gặp cô láng giềng hiền thục:

    “Sáng Chủ Nhật đến nhà thờ,

    Gặp cô hàng sớm cũng vừa tới nơi,

    Nhìn nhau đều nhoẻn miệng cười,

    Vô tình hai đứa lại ngồi cạnh nhau,”

    Chúa Ngôi Hai đã chứng giám cho mối tình hàng xóm với ước mơ thầm kín bền duyên vợ chồng:

    “Con nào dám ước mơ Tiên,

    Để hồn bay bổng tới miền Bồng Lai,

    Chỉ cầu xin Chúa Ngôi Hai,

    Cho chúng con được mãi hoài… bên nhau.”

    Bài “Tâm Tình Với Chúa” HVLN tỏ bày ý mình cùng Chúa như sau:

    “Con quì hàng ghế cuối

    Trong thinh lặng mênh mông

    Lòng ngổn ngang trăm mối

    Con buồn, Chúc biết không?”

    Rồi một đoạn khác lại tâm tình thành khẩn:

    “Giờ, con lạc lõng quá

    Như chiếc lá giữa dòng

    Không tìm được bến đậu

    Giữa đất trời mênh mông”

    Đấng tối cao luôn luôn trả lời nghịch cảnh của kẻ yếu đuối về tâm linh:

    “Trong lúc bơ vơ nhất

    Tiếng Chúa gọi – Không ngờ

    Con như bừng giấc mộng

    Trầm luân đến bao giờ”

    Thi ca HVLN đề cập nhiều về kiếp phù du, vô thường của con người trầm luân trong cái thế giới Ta Bà nhiều bể khổ như triết lý nhà Phật diễn giảng. Hãy lắng nghe bài “Trần Gian Cõi Tạm”:

    “Cuộc sống vô thường

    Chợt có, chợt không

    Phù du một kiếp

    Trở về tay không.”

    Khi nói về lòng ham muốn, sự tham lam vô biên của nhân thế HVLN viết bài “Niệm Phật Cầu An”:

    “Mùi hương trầm tỏa bên hàng xóm

    Chắc có người niệm Phật cầu an

    Phật ơi ở chốn nhân gian

    Chúng sinh đau khổ vì ham muốn nhiều…”

    Những lời thật lòng của HVLN như sự công kích thói đời vốn thiên nhiều về tham, sân, si, vốn hưởng thụ, vốn bon chen, tranh giành tư lợi, bắt chẹt chèn ép lẫn nhau, vốn tham lam, đố kỵ, ganh ghét hãm hại nhau, rồi tác giả đưa vào bốn câu kết:

    “Phật đã hiểu rỏ tình nhân thế

    Đâu cần kể lể dông dài

    Hỉ, nộ, ái, ố… trần ai

    Phật thương cứu độ đoái hoài chúng sinh.”

    Trong bài “Hư Vô” HVLN viết lại những lời kinh nhật tụng tránh cõi trầm kha tục lụy, đừng gieo oán hờn, đừng mãi đè nhau, tranh hơn thua thiệt:

    “… Rời khỏi cõi Ta Bà

    Hết tranh đua hơn, thiệt

    Coi mình là vô ngã

    Cuộc sống là vô thường

    Nên chẳng còn xa la.

    … Kiếp này đừng gieo hận…

    Sẽ thoát khỏi trầm luân”

    Bài thơ vô cùng cảm động vì gần gủi với những ý nghỉ của tôi khi con người cận kề cái chết, một thoáng buồn u uẩn khi tôi đọc từng câu văn HVLN viết, chị nói về lần đi thăm người tình trong cơn “thập tử nhất sinh” trong bài “Thăm Anh Trong Phòng Hồi Sinh”:

    “Giờ này chỉ có riêng em

    Lang thang dưới ánh đèn đêm một mình

    Hỏi trăng, trăng vẫn vô tình

    Hỏi sao sao vẫn lặng thinh hững hờ “

    HVLN hỏi thiên nhiên, hỏi người yêu và lại hỏi chính mình trong nỗi ngậm ngùi, thương nhớ và rất cô đơn:

    “Hỏi mây, mây cũng làm ngơ

    Chỉ nghe tiếng gió thẫn thờ lướt trôi

    Hỏi anh, anh cũng im lời

    Hỏi mình, chỉ thấy một đời cô đơn”

    Lệ rơi trên má buồn, trăn trở như kiếp người rong ruổi trong mảnh tình sầu bi ai:

    “Lệ rơi trên má, lệ buồn

    Hồn nghe trống vắng giữa trời quạnh hiu

    Đời chia đôi ngả tình sầu

    Một vành tang liệm nỗi đau lắng chìm”

    Trong cơn hôn mê của người tình tác giả thẫn thờ tình em, khi lòng quặng đau như cắt khi nhìn máy điện tâm đồ thay đổi theo làn hơi, nhịp thở của người thương, tác giả cảm thấy yếu đuối, tâm tư bất lực đứng trước con bệnh. Tôi rất cảm thông với nỗi lòng của chị HVLN, tôi cho đây là một tuyệt tác nói về đời sống tình cảm, về tình yêu vốn nhân bản, love and care, yêu mới lo, đúng chứ:

    “Phòng hồi sinh, Anh im lìm

    Lòng đau như cắt, đứng nhìn Anh thôi

    Nhịp tim lên xuống từng hồi

    Trong cơn mê, có nhớ người Anh yêu?”

    Phải chăng Gibran cho ý tưởng chân thật như HVLN, như nhiều chúng ta ? “Tình yêu và tình cảm không nhuốm màu tư lợi và vị kỷ, mà là biểu tượng cho tình yêu thuần khiết nhất. Tất cả chúng ta nên hướng tới một mối tương quan hệ dựa trên tình yêu thương vị tha và tình cảm dành cho nhau” (Love and affection that is not tainted with self-interests and personal gain is the purest form of love. We should all move towards a relationship that is strongly based on selfless love and affection for each other).

    Tác giả thầm trách móc sự bất công của Tạo Hoá khi chia duyên rẻ thúy và sự bất công như vậy đã miên viễn đến với nàng:

    “Long đong lận đận đã nhiều

    Mà sao trời vẫn còn đầy đọa Em?

    Không cho hạnh phúc bền Duyên

    Còn đem bão tố, mây đen kéo về”

    Cuối cùng cho một tình yêu là sự chia tay vĩnh viễn. Kiếp nhân sinh vốn lắm trầm luân, bể khổ. Khi tìm hạnh phúc, ôi hạnh phúc vốn tạm bợ và rồi một cõi đi về chốn hư vô là sự chia ly trong nỗi buồn sầu thế nhân:

    “Trời như còn muốn chia lìa

    Mỗi người một nẽo não nề chưa, Anh?”

    Như đã nói thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi là con người sống thiên về tình cảm, đa đoan với đủ thứ tình cảm từ tình gia đình, tình gia tộc, tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu thiên nhiên, tình mực tím,…, và tình bằng hữu. Tôi bắt gặp bài thơ “rất Trưng Vương” dành cho người bạn cố tri đồng lớp, thi sĩ Cao Mỵ Nhân qua bài “Viết Cho Mỵ”:

    “Cao Mỵ Nhân, Cao Mỵ Nhân,

    Đọc thơ Mỵ, chợt buồn thấm nhanh,

    Lao xao gió nhẹ lay cành,

    Đong đưa, từng ngọn lá mềm đong đưa,”

    Thuở mực tím Trưng Vương năm nào lại hiện về trong hoài niệm cố tri về người bạn có máu yêu văn học, một Cao Mỵ Nhân thiên tài sáng tác thi ca từ cái thuở 13 của thi ca Nguyên Sa ca tụng lứa tuổi tuyệt vời trong văn học, khi mưa rơi nhìn những chùm bong bóng vỡ đầy tay. Chị Cao Mỵ Nhân bước tập tểnh vào làng thi ca khi vào tuổi mộng mơ mực tím tại Hà Nội. Bần bút này rất trân quý bậc đàn anh, đàn chị trong lảnh vực văn thơ, mà trong đó có những thi tài như Bích Huyền, Cao Mỵ Nhân, Hồng Thuy, Hồng Anh, Quỳnh Giao,rồi Hồng Vũ Lan Nhi, và nhiều nữa,… Riêng với các chị vừa nêu tên thuộc sân trường Trưng Vương, hihi…rất gần nhà tôi, hoài niệm có Sở Ba Son, có Thảo Cầm Viên Sở Thú. Các chị lên trung học khi tôi dứt sữa Similac hay Guigoz, lúc quý chị bước vô lãnh vực thi ca khi tôi còn chạy rong ngoài đường tắm mưa, em ơi 50% em ơi, nhất là khi Sài Gòn bị mưa lũ lầy lội những cơn mưa rào nặng hạt. Để rồi ngày hôm nay chính cả quý chị đã thành danh cho tôi viết cảm nhận thi ca của quý chị và lại do “thằng bé Guigoz tắm mưa 50% năm xưa”, dâng xúc cảm viết về nét thi ca đặc thù của quý chị góp phần phong phú hóa nền văn học Việt Nam tại hải ngoai.

    Bài “Viết Cho Mỵ” được tiếp tục:

    “Rồi nhìn nắng gắt ban trưa

    Thấy lunhg linh cả thời xưa… học trò

    Của ngày chập chững làm thơ

    Của ngày đã biết mộng mơ, biết buồn!…”

    HVLN kể về tình bạn thuở học trò khắng khít trong 16 câu kế. Đoạn kết là bốn câu nhận định về mối thâm tình của tình bằng hữu cố tri:

    “Viết cho Mỵ lá thơ này

    Gói tròn ý nghĩ, giải bày tâm tư

    Trưa nay nắng đẹp như mơ

    Ướp vào thư, gửi bạn xưa… làm quà.”

    Tôi thích tính chất thi ca của thi sĩ HVLN vì có những bài khôi hài, dí dỏm, hóm hỉnh, bỡn cợt như thơ của Vị Xuyên Trần Tú Xương, như thơ của Mậu Binh Hà Huyền Chi mà tôi vốn ái mộ trong cái thi ca tinh nghịch, cà rỡn. Hãy nghe bài “Hão Huyền”:

    “Tôi mơ mộng thật hão huyền

    Rằng tôi có thật nhiều tiền để tiêu

    Mua một miếng đất phì nhiêu

    Xây trên đó một túp lều tình yêu

    Qua bao nắng sớm mưa chiều

    Túp liều lý tưởng tan theo bọt bèo…”

    Sau những bài thơ sầu bi ai thi sĩ Hàn Mặc Tử trăn trở về Mộng Cầm hay Đỗ Lễ thổn thức với bài tinh ca “Sang Ngang”, HVLN cũng tự than trong bài “Cô Đơn” như sau:

    “Tôi cô đơn nhất trên đời

    Trần gian chẳng có người thứ hai

    …

    Phương nào cũng chỉ lang thang một mình

    Trời đầy sóng gió điêu linh

    Chỉ vì thiếu vắng Người Tình trăm năm.”

    Nhại theo bài thơ “Trăng Vàng Trăng Ngọc” của thi sĩ Hàn Mặc Tử :

    “Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!

    Ai mua trăng tôi bán trăng cho

    Không bán đoàn viên, ước hẹn hò…

    Bao giờ đậu trạng vinh qui đã

    Anh lại đây tôi thối chữ thơ.

    Không, Không, Không! Tôi chẳng bán hòn Trăng.

    Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng

    Tôi nói thiệt, là anh dại quá:

    Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang.

    Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!

    Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi

    Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi

    Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi

    Trăng mới là trăng của Rạng Ngời”

    (Hàn Mặc Tử)

    HVLN sáng tác bài thơ “Bán Sầu”, tảc giả chế nhạo người tình và chính mình như sau:

    “Ai mua, tôi bán sầu cho

    Sầu này ấp ủ đúng vừa độ men

    …

    Thế rồi sầu chàng ai mua

    Món hàng rao bán chẳng vừa lòng ai.”

    Tác giả công nhận nỗi sầu của mình và tìm người chia sẻ theo lối quảng cáo thương mại, nếu mua sầu người mua sẽ được tặng thêm sầu…:

    “Ai mua, tôi bán sầu cho

    Sầu này ủ đúng vừa độ men

    Mua rồi, tôi sẽ tặng thêm

    Chút cô đơn, chút muộn phiền, đủ chưa?”

    Từ lúc kỷ thuật điện tử liên mạng internet xuất hiện, vô số những cặp tình nhân quen qua duyên nợ email, HVLN sáng tác bài thơ bỡn cợt “Tình Email”:

    “Làm quen nhau trên… “net”

    Nào ai biết ai đâu?

    Trong mail đều kể hết

    Để hiểu rỏ về nhau

    …

    Đọc thơ cười khúc khích

    Bên này bổng dưng vuị…

    Rồi bên kia mơ mộng…

    Lòng không còn trống rỗng…”

    Thói quen trao đổi, nhận email khi thành thông lệ mà bên kia vì lý do nào đó tự động ngưng gửi email, thì bên này lòng sẽ héo úa chết khô theo “Tình Email”:

    “Bên kia E-mail đều…

    Tim bên này xôn xao

    Ngày càng thêm khắng khít

    Càng thắm thiết, đậm sâu

    Đêm nay sao trằn trọc

    Nằm nghe chó sủa ma

    Chả lẽ buồn phát khóc

    Khi vắng lá thư xa?”

    Từ những thập niên 80’s và 90’s khi con người đương đầu thần chết do các căn bệnh tim mạch vì cung cách ăn uống bừa bãi, ít vận động thể dục, nên giới y khoa rầm rộ khuyến khích người dân năng tập thể dục, vận động cơ thể. Giới con buôn không bỏ lỡ dịp may mở ra những trung tâm thể dục như Jack LaLane, Bally’s, vô số và vô số… Phong trào đến tập thể dục tại các nơi này trở thành mode thời thượng, nghiễm nhiên thành thông lệ, truyền thống, và đến đó rồi người ta kết bạn, quen nhau,…:

    “Sáng nay đến tập Bally’s

    Trên đường đi, đã thấy gì, nhớ không?

    …

    Gặp cô Em má hây hồng,

    Hỏi thăm, Em đã có chồng hay chưa?…”

    Mối tình Jack LaLane hay mối tình Bally’s lên ngôi tình ái theo tháng ngày quen nhau, khi người nam biết người thiếu nữ hiện sống độc thân gối chiếc:

    “Em là Tiên nữ cô Dâu,

    Vương miện Em đội trên đầu ngàn sao,

    Anh mang hia mão, vương bào,

    Rể Vua xin cuối đầu chào Tiên Nương,…”

    Cuối cùng cho một chuyện tình Bally’s ngày nào đã trôi theo dòng nước mưa của dĩ vãng hoài niệm, của một chuyện tình mộng mị đã qua. Rồi con tim quên ngủ ngày xưa đã không còn đắm say tình nồng và ngày nay con tim đã đổi khác..:

    “Hôm nay trời vẫn còn Đông,

    Gió vẫn lạnh vẫn trong, vẫn buồn,

    Tim xưa mê lắm tình buồn,

    Tim giờ đã khác Tim nồng năm nao.”

    Xuyên những bài thơ vui nhộn, mang tính chất khôi hài của thi sĩ HVLN, điều cuối cho tôi kết luận HVLN là con người can đảm dám nói những điều u uẩn của mình đong đầy những trang giấy đơn lẻ. HVLN không màu mè, không dấu diếm, không ngại ngùng khi tự trêu mình, đó là phong thái của trường phái Vị Xuyên mà tôi rất chuộng thi ca Tú Xương của cái thuở trung học ngày xa xưa.

    Để tóm tắt bài viết về thi tập “Hoài Niệm” của thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi, tôi xin ghi nhận nét thi ca rất lãng mạn của ngườị thơ này một lần nữa. Chúng ta hãy lắng nghe bài lục bát “Đôi Mắt”, những vần thơ thật dễ thương:

    “Tình cờ, bốn mắt nhìn nhau,

    Thẹn thùng dấu vội mây sầu trên vai,

    Cúi đầu tránh né mắt ai,

    Mà sao Tim đập mãi hoài không thôi,…”

    Bài lục bát “Ngày Cưới Em”, HVLN mô tả tâm trạng người nam chia ly với người tình khi nàng quyết định lên xe hoa:

    “… Trời thì giông gió mưa bay,

    Rượu nồng uống mãi cho say khướt đời,

    Cho quên đôi mắt biết cười,

    Đôi môi nồng ấm, dáng người thanh tơ…”

    Bài lục bát “Tim Hồng Thao Thức” diễn tả đôi tình nhân đang say men tình ái:

    “Đêm nay trăng sáng ngập trời,

    Mơ màng, hình bóng của Người phủ vây,

    …

    Tình yêu như rượu nồng cay,

    Hỏi rằng say rượu hay say men tình?”

    Bài lục bát “Ru Tình” đầy tính chất quyến luyến yêu thương:

    “À ơi, Tình hãy ngủ yên,

    Ngủ say đi nhé cho quên sầu đời,

    Đừng thao thức nữa, Tình ơi,

    Đừng mơ ánh mắt nụ cười đắm say…”

    Bài lục bát “Mùa Đông Đan Áo”, còn gì nhớ nhung hơn khi người ra đi khoác lên chiếc áo len cho ấm tâm tư do người tình ở lại đã đan cho mình…:

    “Người đi có nhớ gì nhau,

    Để người ở lại buồn đau phận mình,

    Áo đan gửi gấm bao tình,

    Từng sợi nhớ, lấp bóng hình xa xôi…”

    Bài “Sao Đành Giận Em”, tác giả bộc lộ nỗi lòng trăn trở của mình với người tình, lời văn khá táo bạo:

    “Em vẫn nhớ, mắt Anh tình tứ lắm,

    Và đôi môi ngọt lịm mật ong ngon,

    Vòng tay ôm, như rắn quấn trọn hồn,

    Em ngất ngây với tình Anh cuồng nhiệt.”

    Lại thêm một bài thơ tình táo bạo yêu đương, nào hãy nghe bài “Tặng Anh Nỗi Nhớ”:

    “Tặng Anh nỗi nhớ nhung này,

    Từ trong Tim, nhớ trào ngoài xác thân,

    …

    Nhớ từ gáy đến… lưng chừng,

    Vòng sau ra trước, ngập ngừng… gọi Anh.”

    Trong bài “Biết Không Anh”, nhưng lời tình tự nồng nàn yêu thương, những giờ hàn huyên ngọt ngào vì lý do nào đó bổng chấm dứt, người con gái chợt chơi vơi, lạc lõng trong tâm hồn:

    “Dù không nói yêu Anh,

    Sao lại buồn vô kể,

    Khi vắng giọng thân quen,

    Chả lẽ yêu là thế?”

    Trong bài thơ “Tình Muộn”, tác giả diễn tả mối tình chắp nối của nhân duyên muộn màng:

    “Trong nỗi nhớ muộn màng,

    Em dành cho Anh đó,

    Những xao xuyến rộn ràng,

    Ngất ngây Tình chớm nở”

    Và rồi nếu duyên nợ không thành trong kiếp này thì đành hẹn kiếp sau. Bài thơ lục bát cuối cùng “Lời Thề Kiếp Sau” hứa hẹn cho trọn cuộc tình:

    “Trăm năm một cõi đi về,

    Ngàn năm vẫn giữ lời thề kiếp sau,

    Kiếp này đã chẳng cùng nhau,

    Kiếp sau nguyện sẻ sầu chia vui…”

    Rất tiếc trong khuôn khổ giới hạn của bài viết ngắn không cho phép tôi đi qua trọn đầy đủ 239 hết các bài thơ của thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi, những dòng phớt nhẹ trên thi ca của chị đã được trình bày như lời giới thiệu chân tình của Việt Hải Los Angeles, để trân trọng giới thiệu thi tập đầu tay của chi. Tôi chia sẻ với chị với số tuổi đời của chị và bao năm hiện diện trong giới văn học, báo chí từ thuở trước năm 75 khi chị vừa làm giáo sư dạy trung hoc, kiêm ký giả viết cho một số báo tại Sài Gòn, thi tập này đánh dấu một khúc quanh muộn màng nhưng rất vững chãi và chín chắn khi cô đọng cuộc đời mình qua nhiều áng thi ca mượt mà, trữ tinh trong “Hoài Niệm” này. Và như hai nhà văn Vishakha Goyal và George Eliot thì những ước muốn hay gợi giấc mơ thi ca của nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi không bao giờ muộn màng cả. Vì…

    Theo nhà văn người Ấn Vishakha Goyal quan niệm: “Hãy theo đuổi ước mơ của bạn và không bao giờ là quá muộn khi đạt được kết quả” (Pursue your dreams, and achieve it. It Is never too late). Còn văn hào người Anh George Eliot cho rằng: “Không bao giờ là quá muộn để trở thành những gì bạn có thể đã có.” (It is never too late to be what you might have been).

    Một lần nữa VHLA xin chia vui cùng chị HVLN đón chào đứa con tinh thần của chi sắp sửa ra mắt giới tao nhân mặc khách hay nhiều thân hữu văn chương sẽ dến chúc vui cùng chị. Sure, I am.

    RMS “Hoài Niệm” vào ngày 20 tháng 7, 2003 tại Westminster, Little Saigon.

    Việt Hải, Los Angeles.

    27/06/2003

    ————————————————————————-

    Ân Tình Cho Thơ Lãng Mạn, Việt Hải Los Angeles:

    https://www.rongmotamhon.net/…/vhan102_tholangman.htm

    Thông Báo Đăng Kèm:

    THIỆP MỜI

    Trân trọng kính mời tất cả các thi văn hữu và quý đồng hương yêu mến bộ môn thi ca đến chung vui với chúng tôi buổi lễ Ra Mắt Thi Tập “Hoài Niệm” của Hồng Vũ Lan Nhi được tổ chức vào Chủ Nhật, ngày 20 tháng 7, 2003, lúc 1:00PM đến 4:00PM tại Phòng Sinh Hoạt Nhật Báo Người Việt, địa chỉ: 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683. Diện Thoại (714) 892-9414.

    Ban tổ chức:

    Nguyễn Kim Trinh

    Lê Minh Phú

    http://www.thuvienvietnam.com/bao/tvvn/issue17/index.cfm?ref=ARTICLES%5FTH%26%23432%3B%20T%EDN%20%2D%20TH%F4NG%20B%E1O%5F732

    ———————————————————————-

    Chương Trình:

    1:00PM-1:30PM Tiếp đón quan khách, sơ giao hàn huyên

    1:30PM-4:00PM Khai mạc

    + Giới thiệu tác giả do Cao Mỵ Nhân

    + Giới thiệu tác phẩm do:

    Phạm Thi Huệ

    Bích Huyền

    Trần Phong Vũ

    Văn nghệ (xen kẽ):

    + Ngâm thơ: Giáng Hương, Minh Nguyệt

    + Ca nhạc:

    Hoàng Nam

    Thu Hà

    Nhã Đoàn

    Ngọc vân

    Ngọc Hà

    Minh Chúc

    ++ Điều hợp chương trình:

    Uyển Diễm và Nguyễn Đình Cường

    +++ Vào cửa tự do.

    ————————————————————————

    Hội ngộ cùng nhà thơ Cung Trầm Tưởng lần thứ 5:

    http://www.ninh-hoa.com/VietHai…

    Tuyển tập thi ca Cao Mỵ Nhân – Bài Thơ Tình Muộn.:

    http://www.ninh-hoa.com/…/DS2018_VietHai-CaoMyNhan…

  • Tin tức

    Mùa Thu Sài Gòn với Khánh Lan, Thụỵ Lan và Trầm Hương Pu

    Nhân nhận được thi tập mới mới của thi sĩ Trầm Hương Pu vừa in xong, nhà văn Nguyễn Vĩnh Thịnh gửi biếu chúng tôi. Hai ông bà văn nghệ sĩ này đều nhà giáo tại miền Nam tự do trước năm 1975.

    Em hỏi anh có mùa thu Sài Gòn ?

    Tôi biết một mùa thu Sài Gòn | Radio Tâm Sự

    GS. Nguyễn Vĩnh Thịnh là cựu học sinh Petrus Ký, do vậy chúng tôi quen biết nhau. GS. Thịnh cho ấn hành nhiều tác phẩm, trong số tác phẩm ông cho ấn hành, tôi rất quý tác phẩm biên khảo mang nét triết học tâm linh, Triết Học Phật Giáo và Những Luận Đề. Với nhà thơ Trầm Hương Pu, bà yêu thơ, bà say thơ, thơ bà dã được dăng tải ở nhiều nơi như Mỹ, Canada, Úc, Pháp…. Trong tác phẩm trước mặt tôi đây: Tình Nhẹ Như Tơ, một thi tập gần một trăm trang, bìa rất thẩm mỹ, màu xanh lơ ở đầu bìa lan toả xuống, chen lẫn tím nhạt gần cuối bìa với tên tác giả Trầm Hương Pu . Tôi thoáng nghĩ người tao bìa ngỏ ý biệu lộ đây là những dòng thơ nối kết nhiều niên kỷ khi tác giả thanh xuân rồi ngày nay khi chiều về. Viết giới thiệu sách do GS. Nguyễn Khắc Phụng, Ph.D.; Thật vậy, thi tập gồm những bài thơ tình yêu thương nhuóm chất lãng mạn cho đến những bài thơ nhắc nhớ thiên nhiên và quê hương. Ví dụ như trích đoạn:

    Mùa thu Sài Gòn

    Buổi sáng trời se lạnh

    người Sài Gòn gọi thu, với những cơn mưa đổ về

    sáng trưa chiêu, bất chợt

    làm dịu đi cái cái nóng oi bức của miền quanh năm hai mùa mưa nắng

    (Tôi ra di mang theo mùa thu Sài Gòn, Trầm Hương Pu).

    Thơ tình của Trầm Hương Pu xin trích đoạn tiêu biểu như bài thơ làm tựa dề cho bìa sách, đăng ở trang 69 như sau:

    Tình một thưở như sương

    Nhẹ nhàng như phím nhạc

    Như cung sầu cung thương

    Tơ vương sầu không dứt

    (Tình Nhẹ Như Tơ, Trầm Hương Pu)

    Chúng tôi đọc những bài tình thơ ướt át khác như Trầm Hương, Nụ Cười Còn Lưu Dấu, Hạ Buồn, Độc Thoại, Mơ, Buồn, Cơn Mưa Buồn, Bâng Khuâng, Giấc Mơ Buồn, Tình Nhẹ Trầm Hương, Này Em,….

    Ba anh em chúng tôi, Thuỵ Lan, Khánh Lan và Việt Hải bàn nhau về mùa thu trong thi ca, mùa thu ở các nơi. DĨ nhiên phải có mùa thu Sài Gòn. Nói tới thu Sài Gòn. Chúng tôi nhớ đến nhạc của Ngô Thụy Miên, như bài nhạc sau:

    Em hỏi anh mùa thu Sài Gòn

    Nắng còn vương vương trên hàng phố vắng

    Em hỏi anh mùa thu Sài Gòn

    Nước mắt bây giờ có như mưa tuôn

    Sài Gòn đó em ơi

    Nước mắt đau thương che bao nụ cười héo hắt trên môi

    Cuộc đời đó em ơi

    Đã quá gian nan cho bao phận người chơi vơi một thời

    Tìm đâu tháng năm xưa

    Đâu nắng như thơ, đâu mưa tình cờ, lá hát như mơ

    Và đường phố quanh đây

    Nghe vẫn chưa quen bao nhiêu nhọc nhằn kiếp sống hôm nay

    Như mùa thu về qua một trời

    Áo lụa năm xưa đâu còn phố cũ

    Anh giờ như mộng du một đời

    Em có bao giờ thấu cho lòng anh…

    (Thu Sài Gòn).

    Để xem thi tập của tác giả Trầm Hương Pu hay GS. Phạm Thị Trí, xin tham khảo các link sau đây….

    https://tongphuochiep-vinhlong.com/tag/tram-huongptt/…

    https://online.fliphtml5.com/edkn/ukee/…

    https://tongphuochiep-vinhlong.com/2020/10/mot-goc-mua-thu/

    Thử bàn về chủ đề Mùa thu Sài Gòn ta mang theo trong miền ký ức hay là bất cứ mùa thu nơi đâu có lá vàng rơi công viên, với khí hậu ôn hoà dễ chịu, dù là ở Âu châu, Mỹ châu, Á châu,…

    Đầu tiên, nhìn về các mùa trong năm như Xuân Hạ Thu Đông theo từng tháng thì tính theo âm lịch, tháng Giêng, tháng 2, 3 là mùa Xuân; tháng 4, 5, 6 là mùa Hạ; tháng 7, 8, 9 là mùa Thu; 10, 11, 12 là mùa Đông. Theo cách tính này thì ngày mùng 1 tháng Giêng là ngày đầu của mùa Xuân. Nhưng âm lịch không phản ánh thực đúng sự biến thiên của thời tiết. Với Viêt Nam thì Sài Gòn ở vĩ độ 10 vùng ảnh hưởng nhiệt đới, được xem như có 2 mũa mưa nắng rõ rệt, Mùa thu hình như các tháng 10 dến 12 chỉ se lành lạnh, thu rất nhẹ. Còn Hà Nội ở vĩ độ 21 vùng ảnh hưởng ôn đới, Thu Hà Nội rất rõ nết. Vì miền Bắc có 4 mùa trong năm. Nhiều quốc gia ở vùng ôn đới sẽ cảm nhận được rõ rệt đặc trưng của các mùa trong năm và các đặc tính thời tiết cụ thể như mùa xuân ấm áp hoa nở khắp nơi, mùa hè nóng nực, mùa thu mát mẻ, mùa đông giá rét. Như đã nói tại Việt Nam chỉ có ở miền Bắc chúng ta mới cảm nhận được thời tiết 4 mùa trong năm còn lại miền Nam chỉ có 2 mùa; Thực sự đó là mùa nắng và mùa mưa. Khí trời của các mùa xuân hạ thu đông theo nhiệt độ khí hậu như sau:

    Mùa xuân : từ 10 – 12°C

    Mùa hè : cao hơn 22°C

    Mùa thu : từ 10 – 12°C

    Mùa đông : khí hậu dưới 10°C

    Nhà văn Thụy Lan kể về kỷ niệm mùa thu Sài Gòn trong nỗi nhớ tiềm ẩn trong dĩ vãng, nỗi nhớ Sài Gòn nay định cư nơi xứ người nên thời gian chỉ còn là khi ngồi ngắm một cơn mưa thu hoa dầu trong gió, dưới bầu trời loang nắng. Sài Gòn làm văn nhân nhớ nhiều ký ức cơn mưa thu về tháng 10, khi hoa dầu bay trong gió, dưới bầu trời loang nắng. Sài Gòn vẫn là Sài Gòn vấn vương có nắng mưa, như thời gian và trong bài hát Thu Sài Gòn của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã đem chúng tôi về với những ngày mùa thu khi ta thấy Sài Gòn chuyển mùa chút se lành vì trời đổ mưa.

    Em hỏi anh mùa thu Sài gòn

    Nắng còn vương vương trên hàng phố vắng

    Em hỏi anh mùa thu Sài gòn

    Nước mắt bây giờ có như mưa tuôn

    Trong vòm trời ký ức, mùa thu Sài Gòn hiện lên trong hồn với những tia nắng vào sáng sớm và chút se lạnh nhẹ nhàng của những cơn gió chiều vờn bay mái tóc và xoay tròn vài chiếc lá vàng trên phố hay những cơn mưa rả rích trong tiếng nhạc ru không gian thu về. Bàn luận về ý tưởng qua bài thi ca Tôi ra di mang theo mùa thu Sài Gòn, khi xem cảm tác của nhà thơ Trầm Hương Pu, hình như ai đã ở lâu với Sài Gòn thì kỷ niệm phải có, và đã mang theo như hồn thơ Trầm Hương Pu,

    Thông thường đa số người ta hồ nghi Sài Gòn có mùa thu. Thụỵ Lan cho là Sài Gòn có mùa thu khi khí trời chuyển mùa từ mùa hè oi bức nhẹ nhàng sang thu dễ chịu. Ta trầm mặc nghĩ ngợi về Sài Gòn nhe nhàng bước sang thu khi cánh phượng hồng dần rũ cánh, tiếng ve vọng vang tắt hẳn trên những con đường, trong không gian thiên nhiên và khi trời Sài Gòn bỗng mây xanh trên cao vời vợi với chút nắng vàng e ấp dưới hàng cây lác đác lá vàng rơi. Mùa thu ghé ngang Sài Gòn khi cơn gió se lạnh tràn về trong tháng 10. Cái lạnh vào buổi sáng sớm nhè nhẹ dịu dàng. Cái lạnh chỉ vừa chớm dâng lên cảm giác thu sang, khi những cơn gió heo may làm tóc bay bay trong buổi sớm tinh mơ. Thật vậy, Sài Gòn lúc sang thu đẹp thi vị và nhẹ nhàng e ấp. Hình như hàng cây vươn mình như cao hơn, trời như xanh hơn, và tiếng xào xạc của bước chân báo hiệu mùa tựu trường trong kỷ niệm.

    Nắng thu gió vờn lao xao

    Cổng trường mở rộng đón chào học sinh

    Cho năm học mới yên bình

    Người người đổ đạt cung nghinh nhân tài

    Mùa thu Sài Gòn ít lạnh hơn Huế và Hà Nội, vì 2 thành phố này ở vĩ dộ cao hơn ở hướng trên vùng ôn đới. Ví dụ như thời tiết mùa thu hiện nay, ngày 10/30/20, Hà Nội nhiệt độ ban ngày là 77°F, Huế 78°F và Sài Gòn 84°.F lúc 10 giờ sáng. Nhiệt độ Huế và Hà Nội mùa thu năm nay khá gần nhau, lạnh hơn ở Sài Gòn. Nhiệt độ 84°.F tương đương với 23° Celsius. Mùa thu Sài Gòn của Trầm Hương Pu, hay của tất cả chúng ta như se lạnh, không cần khoác áo manteau dầy hay pardessus khi đi ra phố.

    Xin chúc mừng thi sĩ Trầm Hương Pu. với tác phẩm mới Tôi ra di mang theo mùa thu Sài Gòn, do giáo sư Nguyễn Vĩnh Thịnh gửi biếu. Chúc mừng ông bà.

    Doris Thuỵ Lan, Los Angeles.

    Đấy là phần văn nhân Doris Thuỵ Lan chia vui cùng 2 giáo sư cũng là hai thi văn nghệ sĩ Nguyễn Vĩnh Thịnh và Phạm Thị Trí. Kế tiếp là phần đóng góp của nhà văn Khánh Lan bàn luận về bài thơ nỗi nhớ quê hương qua bài thi ca Tôi ra di mang theo mùa thu Sài Gòn, nhà thơ Trầm Hương Pu…

    Khánh Lan hỏi câu hỏi ngộ nghĩnh “Sài Gòn Có Mùa Thu không?”. Hỏi có nghĩa câu trả lời đã có theo ý tôi đoán. Ký ức nhìn về thì Sài Gòn có những ngày mưa, mà cứ ngỡ như mưa thu rơi trên phố.

    Nhắc đến Sài Gòn người ta nghĩ ngay đến sự sầm uất, náo nhiệt, liên tưởng tới khói bụi và những dòng xe nườm nượp như mắc cửi; rồi bỗng dưng cơn giông kéo mây đen về thật nhanh, mưa như trút nước, nhưng chỉ một lúc thôi thì trời quang đãng, mưa tạnh và nắng lại trải dài trên những con đường vẫn còn loang nước mưa trũng. Nét đẹp khác của mùa thu Sài Gòn như Thụỵ Lan và Trầm Hương Pu cho văn thơ. Khi mùa thu ghé ngang Sài Gòn khi mà tiết trời bỗng se se lạnh vào buổi sáng sớm. Cái lạnh nhè nhẹ dịu dàng. Cái lạnh theo Khánh Lan như thu về ở Đà Lạt, Luxembourg, Amsterdam, Dartmouth, Boulder, Chiang Mai, Đài Bắc, hay Seoul,… khi thu sang chỉ vừa chớm, khi những cơn gió heo may làm tóc ai bay bay trong buổi sớm tinh mơ. Không như thu có những thiếu nữ choàng manteau, caban hay pardessus loại nhẹ trên phố xá Milan, Paris, London hay Tokyo. Thu Sài Gòn khung cảnh se lạnh trời kia trên phố Nguyễn Huệ, Lê Thánh Tôn, Tư Do,… có người thiếu nữ nhè nhẹ kéo kín cổ chiếc áo khoác mỏng, nét đẹp đơn giản như trời Sài Gòn vào thu.

    Sài Gòn mùa thu bạn còn nhớ ta bước đi chầm chậm dưới những hàng me ở trung tâm thành phố. Những hàng me dọc theo những con phố để khung cảnh đáng yêu hơn, dĩ vãng có một Sài Gòn đầy lãng mạn và mộng mơ. Ai đi ngang những con đường có lá me bay dường như cũng chạnh lòng mình cảm nhận nỗi man mác thú vị bóng mát Sài Gòn dù phố Gia Long, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Duy Tân, Công Lý,… Thu Sài Gòn là thế đấy. Mùa ôn hoà nhưng thú vị, nét thi ca lãng mạn của nó ẩn hiện ra một thu Sài Gòn rất riêng khi nhìn thấy lá me gió ru nhẹ xao xác, vương lên tóc người thiếu nữ với tà áo dài trắng bay phất phới đang đi Honda dame, hay xe Cady hướng xe đến trường…

    Nỗi nhớ Sài Gòn của Trầm Hương Pu trong thi ca khiến anh em chúng tôi ghi nhận những dòng này, California chúng tôi hay Montreal của ông bà văn thi nhân, thu về cho tiết trời dịu dàng, lá vàng nhẹ rơi, trong khung cảnh mùa thu, tất cả chúng ta dang tìm về kỷ niệm cũ, Tháng 10 thu sang Sài Gòn da diết nỗi nhớ những kỷ niệm đã qua, những người đã xa…Thời gian làm quên mau mà thời gian cũng làm nhớ sâu lắng. Nỗi nhớ như sợi dây thật mảnh mai, nhưng thật sắc cứa vào ký ức vỡ òa kỷ niệm. Vết thương 1975 như không nhìn thấy mà sao không thể liền lại nỗi nguôi ngoai.

    Mùa Thu Sài gòn

    Thu Sài gòn mang theo góc nhớ

    Mộng mơ nhiều bên ni bên nớ

    Tĩnh nhẹ như tơ thu lãng đãng

    Thơ Trầm Hương ru về dĩ vãng !….

    Melinda Khánh Lan.

    Lời sau cùng chúng tôi chúc mừng thi nhân Trầm Hương Pu với dứa con tinh thần, thi tập Tinh Nhẹ Như Tơ được gặt hái nhiều thành công, được giới tao nhân mặc khách yêu chuộng hỗ trợ khi ra mắt sách..Xin chúc mừng, chúc mừng !

    Việt Hải, Thuỵ Lan và Khánh Lan.

    —————————-

    Cám ơn Thuỵ Lan và Khánh Lan.cho nhận xét về thi phẩm Nỗi nhớ Sài Gòn của nhà thơ Trầm Hương Pu, tức giáo sư Phạm Thị Trí bên khung trời Canada. Những gì hai bạn góp ý tưởng và chúc mừng khá thi vị, nhất là chia sẻ bài thơ Tôi ra di mang theo mùa thu Sài Gòn, của nhà thơ Trầm Hương Pu, Thiết nghĩ anh em chúng ta đều có kỷ niệm với mùa thu Sài Gòn. Để kết thúc tôi xin gửi tặng đôi uyên ương thi văn nhân Trầm Hương Pu và Nguyễn Vĩnh Thịnh, cùng các văn thi hữu các nơi bài thơ nhớ Sài Gòn, khi Sài Gòn là người tình ta mang theo trong tâm tưởng…. Theo lối suy nghĩ của nhà thơ Rudy Francisco, ông chỉ sáng tác đoản thi, hay thơ ngắn như sau:

    “Parfois, de courts poèmes ou de simples poèmes occupent encore le plus d’espace dans nos cœurs”.(Sometimes short poems or simple poems still hold the most space in our hearts).

    Việt Hải Los Angeles: Em yêu, Sài Gòn của anh .

    “Em yêu, Sài Gòn của anh …

    Trái tim ai chạm đến mùa thu đến bây giờ.

    Sài Gòn mùa thu trông thật đáng yêu trong vẻ đẹp thu sang

    Hỡi ai suy tưởng Sài Gòn chỉ có mùa mưa và nắng.?

    Mùa thu ngập cả một bầu trời thơ mộng như giấc mơ em ”.

    (Việt Hải Los Angeles)

    “Chérie, mon Saigon …

    Dont le cœur touche l’automne à venir.

    L’automne de Saigon est si adorable dans sa beauté

    Dont les juges Saigon n’a que des saisons pluvieuses et ensoleillées.?

    L’automne est rempli d’un ciel poétique comme mon rêve ».

    (Viet Hai Los Angeles)

    “Darling, my Saigon…

    Whose heart touches autumn coming now.

    Saigon’s autumn looks so adorable in its beauty

    Whọ judges Saigon is only having rainy and sunny seasons.?

    Autumn is filled with a poetic sky as my dream”.

    (Viet Hai Los Angeles)

    Mong gặp nhị vị quý văn thi nhân tại California nếu có qua đây, thủ dô người Việt tự do khi ra mắt sách.

    Việt Hải Los Angeles.

    ————————————————————————–

    Sau đây xin đính kèm lời tự tiình mùa thu của thi nhân Trầm Hương Pu….

    Nhớ Sài Gòn Mùa Thu để xem MỘT GÓC MÙA THU.

    Ngày đăng: 12/10/2020

    Tháng mười, sau lễ Tạ ơn,( Ở Canada lễ Tạ Ơn, vào ngày thứ hai của tuần lễ thứ nhì trong tháng mười, sớm hơn ở Mỹ ) là chính thu. Sẽ không còn những chiếc lá xanh, lá thật sự đổi màu, thu đẹp nhất là lúc nầy, nhất là hàng cây bên đường, trong công viên hay ở những cánh rừng phong( nhiều lắm nơi đây) và khoảng độ 1 tuần… lá sẽ bắt đầu… lìa cành rơi theo cơn gió.

    Tôi nhìn đám cúc Họa mi. đang héo dần dưới làn gió se se lạnh.

    Màu trắng thanh khiết, mang hương sắc tinh nguyên của đất trời… ngày nào… đang đỗi màu tàn úa.

    Hương cúc không còn nồng…hương chết theo mùa gần cuối thu. Hương nhạt theo những cơn mưa thu dù không nặng hạt.

    Mời xem link rất hay: Ebook thơ “Tình nhẹ như tơ” của Trầm Hương Ptt

    https://tongphuochiep-vinhlong.com/tag/tram-huongptt/?fbclid=IwAR1gPTtojHmG4yV-NOEe3LkcXOXbzDPajZGlk5GIpbZ4x5GD-cmRAtMiUpc

    “Thu ơi. Hãy giữ lại giùm tôi chút nắng vàng lẫn chút yêu thương hương mùa cũ”

    Mùa thu không đáp lời tôi… mùa thu đang bước dần qua cánh cửa thời gian.

    Rồi không lâu nữa, mùa đông sẽ về. Từng cơn gió đầu đông lướt qua song..Trái tim tôi nghe chừng lạnh lắm.

    Trong khoảng thời gian giao mùa thu- đông, khi nhìn hàng cây trơ cành , những sắc thu đã mất, bầu trời có những hôm xám đục, gió lạnh từ phương bắc thổi về, con người dễ bị trầm cảm, nếu không có niềm vui gia đình, bạn bè chia sẻ tâm tư, hoặc tự tìm cho mình niềm vui qua viết, đọc, xem phim, nấu ăn, đi du lịch, chụp ảnh… hay tìm đến tôn giáo mà mình đặt niềm tin, có người đêm đêm đi khiêu vũ, hát karaoke cùng một số bạn bè cùng sở thích… Mọi người đang cố thích nghi với thời gian và cuộc sống…

    Lúc nầy, vì bệnh dịch đang trở lại đợt 2 trong thành phố. Những nơi giải trí vui chơi, hàng quán vừa mở cửa chưa được bao lâu thì có lệnh đóng cửa lại . Bài học mang mask, nhớ rửa tay, giử khoảng cách ít nhất 2 m được nhắc nhở thường xuyên trên t.v. Hạn chế tụ hợp đông người, giới hạn trong nhà 10 người, ngoài sân 25 người. Thành phố kêu gọi bải bỏ ngày Halloween của trẻ em vào cuối tháng 10.

    Mọi người thật sự âu lo, nhất là sắp đến mùa dịch cúm hằng năm, cộng thêm dịch Covid lây lan. Tôi đang tìm cho mình niềm vui để vực mình dậy, vì mọi người đang lo bệnh trầm cảm sẽ xảy ra nhiều hơn, nhất là mùa đông năm nay.

    Nhìn mùa thu tàn…Tôi ngộ ra … đời không có gì là hằng cữu, muốn tâm bình yên cũng khó lắm. Làm sao để “ tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến” ?

    Trầm Hương Ptt — with Mindy Pham Luu and LAT … 65 others

    (Cho những ai yêu mến mùa thu).

  • Văn Thơ

    Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học của nhà văn Khánh Lan

    Khi duyệt qua tác phẩm thứ nhất, mang tên “Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học” của nhà văn Khánh Lan, sách này có thể chia ra làm 4 loại khuynh hướng như sau:

    1. Bàn luận về nghệ thuật văn chương trong văn học: “Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học” (trang 01):

    Nếu nghĩ đến tự bản chất tư tưởng của nghệ thuật của văn chương thì nó đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ qua. Theo quan điểm nho học của Khổng Tử và các nhà nho thuở xưa về sự kiện “Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”, xuất hiện sau gần 15 thế kỷ, vào đời Tống. Đây là một nguyên lý về bản chất và nhiệm vụ xã hội của văn học thuở xưa phiến diện, tiêu cực và như sự áp đặt. “Văn” nghĩa ở đây chỉ là văn chính luận. Còn “Đạo” là “luân lý học” của thuở Tống Nho, kết tinh một cách sẵn có những mặt tiêu biểu đạo đời theo tam giáo như Khổng giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Và văn “chở” cái đạo có sẵn như “phương tiện chuyên chở vật chất“, nghĩa là hoàn toàn tách rời giữa nội dung và hình thức; hay một cách suy nghĩ khác giữa ý nghĩ nội tâm và ý muốn trong đời sống chúng ta.

    Trong nhận thức về sự bất phân giữa văn và sử, văn và triết ở thời kỳ đầu sự phát triển của văn chương. Ví dụ những người theo ý tưởng áp đặt Mác-xít cũng đặc biệt nhấn mạnh bản chất tư tưởng của văn chương, coi văn chương và nghệ thuật nói chung là một hình thái ý thức xã hội, một công cụ nhận thức, một khí cụ của tư tưởng. Tất nhiên cách nhận thức cuộc sống, tác động tư tưởng của văn chương nghệ thuật có những nét riêng, có tính đặc thù, so với các hình thái ý thức xã hội khác, như triết học, đạo đức, tôn giáo…

    Trong khi văn chương vốn dĩ mang bản chất phóng khoáng, nhân bản không ràng buộc do yếu tố tư duy. Một xu hướng tiếp cận khác bên trời Âu lại chú trọng bản chất nghệ thuật của văn chương, mối liên hệ mật thiết giữa văn chương và nghệ thuật, coi văn chương là một loại hình nghệ thuật. Đây là cách xem xét của Aristote trong quyển Thi ca học có lúc gọi là Nghệ thuật thi ca. Đặc biệt ở các nhà mỹ học Đức từ cuối thế kỷ XVIII, theo lập luận Kant và Hegel, bản chất nghệ thuật của văn chương càng được nhấn mạnh, và họ coi nghiên cứu văn chương, thi ca học là một bộ phận của mỹ học. Theo hướng tiếp cận này, người ta lưu ý nhiều đến mối liên hệ giữa văn chương với âm nhạc, với bản sắc tư duy lãng mạn.

    Cho nên bài văn “Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học” chuyên chở ý niệm về Nghệ thuật vị Nghệ thuật do thi sĩ Théophile Gautier hay Oscar Wilde cổ suý việc đề cao quan điểm riêng tư, mang tư duy lãng mạn. Ngược lại, xu hướng trên là “Nghệ thuật vị nhân sinh” thường được hiểu là nghệ thuật giữ vai trò hay mang nhiệm vụ phụng sự xã hội, kinh tế, quyền lực và tất cả nghệ thuật.  Như vậy nghệ thuật chỉ là công cụ cho phạm vi kinh tế, xã hội hay chính trị.  Do đó nghệ thuật vị nhân sinh (l’art pour la vie hay art for life) là lý thuyết khẳng định bản chất phạm vi xã hội của nghệ thuật, chủ trương nghệ thuật gắn bó với đời sống xã hội, chính trị, chống lại các khuynh hướng nghệ thuật và thoát ly khỏi ý tưởng lãng mạn trong cuộc sống. Bài viết đơn cử cho ý tưởng văn chương phục vụ nhu cầu xã hội điển hình qua những tiểu thuyết của Harriet Beecher Stowe, hay Mark Twain. Phía văn chương Việt Nam có 2 hệ phái tranh cải nhau kịch liệt như nhà văn Hải Triều chủ trương Nghệ thuật vị nhân sinh và nhà văn Hoài Thanh chủ trương Nghệ thuật vị nghệ thuật.

    • Chủ đề Tiểu thuyết Xã hội về Thân phận con người:

    Phần này có 3 bài như sau: Những Kẻ Khốn Cùng (trang 27), Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (trang 99) và Ngư Ông và Biển Cả (trang 133).

    • Những Kẻ Khốn Cùng (Les Misérables) là tiểu thuyết của văn hào Pháp Victor Hugo, được xuất bản năm 1862. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nền văn học thế giới thế kỷ 19. Tác phẩm Những người khốn khổ là câu chuyện về xã hội nước Pháp trong khoảng hơn 20 năm đầu thế kỷ 19 kể từ thời điểm Napoléon I lên ngôi và vài thập niên sau đó. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Jean Valjean, một cựu tù khổ sai tìm cách chuộc lại những lỗi lầm gây ra thời trai trẻ.

    Bộ tiểu thuyết không chỉ nói tới bản chất của cái tốt, cái xấu, của luật pháp, mà tác phẩm còn là cuốn bách khoa thư đồ sộ về lịch sử, kiến trúc của Paris, nền chính trị, triết lý, luật pháp, công lý, tín ngưỡng của nước Pháp nửa đầu thế kỷ 19. Chính nhà văn Victor Hugo cũng đã viết cho người biên tập rằng: “Tôi có niềm tin rằng đây sẽ là một trong những tác phẩm đỉnh cao, nếu không nói là tác phẩm lớn nhất, trong sự nghiệp cầm bút của mình“. Những người khốn khổ cũng nổi tiếng vì đã được chuyển thể nhiều lần thành các vở kịch, bộ phim, trong đó nổi tiếng nhất phải kể tới vở nhạc kịch mang cùng tên.

    Les Misérables bản dịch đầu tiên tại Việt Nam của Nguyễn Văn Vĩnh xuất bản năm 1926, với tên “Những kẻ khốn khổ“, của nhà Trung Bắc Tân Văn ở Hà Nội in song ngữ dài 10 tập khoảng 3000 trang.

    • Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (The Adventures of Tom Sawyer) là một quyển sách được nhà văn Mark Twain viết với bút pháp độc đáo, miêu tả tâm lý, cử chỉ, hành động của một chú bé sống tại một ngôi làng nghèo bên sông Mississippi. Tác giả đã miêu tả xuất sắc tính cách, tâm lý, hành động của chú bé thông minh, nghịch ngợm nhưng dũng cảm và có một tấm lòng nhân hậu giàu tình nghĩa. Ý tưởng hay từ bài viết như sau:

                Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer là tiểu thuyết của Mark Twain(1835 – 1910), ông là một nhà văn trào phúng nổi tiếng của Mỹ, những tác phẩm của ông, với tính chất châm biếm sâu sắc, tâm lý xã hội, chống sự áp bức thống trị của bọn cầm quyền phong kiến tư bản, nhất là chống cái chính sách dã man phân biệt chủng tộc đối với người da đen ở Mỹ.

    Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer kể về cậu bé Tom Sawyer nghèo khổ, lớn lên trong một thị trấn nghèo cạnh dòng sông Mississippi, St. Petersburg, Missouri. Tom Sawyer là một cậu bé yêu thiên nhiên, hiếu động, tinh nghịch, giàu trí tưởng tượng, thích các trò mạo hiểm, nghịch ngợm, nhiều khuyết điểm nhưng rất thông minh và nhiều tình cảm.

    “Đó là một lời nói dối cao thượng rộng lượng và hào hiệp,

    lời nói dối đáng để người ta ngẩng cao đầu đi vào lịch sử.”

    Câu nói của ngài thẩm phán Thatcher khi ông nghe cô con gái của ông là Becky kể rằng Tom đã nói dối để gánh chịu trận đòn chuyển từ lưng Becky qua lưng Tom.  Thẩm phán Thatcher lại càng lấy làm khâm phục và cho rằng Tom không phải là một cậu bé tầm thường, đó là một bản chất can đảm và lòng dũng cảm khi cậu bé đã cứu con gái của ông ra khỏi hang động.  Ông nói:

    “Một ngày kia, Tom sẽ trở thành một luật gia lớn

    hay một chiến sĩ vĩ đại.”

    • Ngư ông và Biển cả (The Old Man and the Sea): là truyện tiểu thuyết do Ernest Hemingway sáng tác ở Cuba năm 1951 và xuất bản năm 1952. Đây là truyện ngắn dạng viễn tưởng cuối cùng được Hemingway viết (và được xuất bản khi ông còn sống), là tác phẩm nổi tiếng và là một trong những đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Tác phẩm đoạt giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 1953. Nó cũng góp phần quan trọng để nhà văn nhận Giải Nobel văn học năm 1954. Trong tác phẩm này ông đã triệt để dùng nguyên lý mà ông gọi là “tảng băng trôi“, chỉ mô tả ba phần nổi còn lại bảy phần chìm, khi mô tả sức mạnh của con cá, sự chênh lệch về lực lượng, về cuộc chiến đấu không cân sức giữa con cá rất dữ với ông già. Tác phẩm ca ngợi con người, sức chịu đựng và khát vọng của con người.

    Xét về nội dung thì câu chuyện về nếp sống đánh cá lênh đênh, gian nan của ông lão người Cuba, Santiago, người đã cố gắng chiến đấu trong ba ngày đêm với một con cá kiếm khổng lồ trên biển vùng. Gulf Stream (Vịnh Hải lưu) khi ông câu được nó. Sang đến ngày thứ ba, ông dùng lao đâm chết được con cá, buộc nó vào mạn thuyền và mang về nhưng đàn cá mập lại đánh hơi thấy mùi của con cá mà ông bắt được nên đã ùa tới, ông cũng rất dũng cảm đem hết sức mình chống chọi với lũ cá mập, phóng lao và thậm chí dùng cả mái chèo để đánh. Cuối cùng ông giết được khá nhiều con và đuổi được chúng đi, nhưng cuối cùng khi ông về đến bờ và nhìn lại thì con cá kiếm của mình, nó đã bị rỉa hết thịt và chỉ còn trơ lại một bộ xương trắng.

    • Chủ đề Tiểu thuyết với nét Triết tính:

    Phần này có 3 bài như sau: Hermann Hesse, Một bậc hàn lâm văn chương (trang 45), Khung cửa hẹp (trang 87) và Đi tìm thời gian đã mất (trang 115).

    • Hermann Hesse, Một bậc hàn lâm văn chương: là một nhà thơ, nhà văn và họa sĩ người Đức. Năm 1946 ông được tặng Giải Goethe và Giải Nobel Văn học. Tác giả kể ông là bạn thân tri kỷ với nhà văn Thomas Mann. Tình bạn giữa Hermann Hesse và Thomas Mann đã tạo ra những chủ đề về tương quan hiện diện trong dòng văn triết học của Hesse và Mann.

    Những tiểu thuyết của Hermann Hesse chứa đựng những ý tường, nhân sinh quan về đời sống phương Đông với các tôn giáo thần bí; về tâm lý của các nhân vật của ông; phong cách đạo đức như triết gia Nietzsche. Bài viết đi sâu về tác phẩm Câu Chuyện Dòng Sông (Siddhartha) là một cuốn tiểu thuyết mang tính cách ngôn của Hermann Hesse kể về hành trình tâm linh của một người Ấn Độ tên là Siddhartha trong thời đại của Thích Ca,  Hesse gọi là Hoàng tử Siddhartha Gautama.  Sách được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1922, sau khi Hesse trải qua một thời gian ở Ấn Độ trong thập niên 1910. Sách được xuất bản ở Mỹ năm 1951 và trở nên có ảnh hưởng lớn vào thập niên 1960. Tác phẩm kể lại chuyện xảy ra ở Ấn Độ vào thời cổ đại vào khoảng thời gian của Đức Phật ở thế kỷ thứ 6 TCN. Truyện bắt đầu khi Siddhartha, con của một Brahmin, bỏ nhà ra đi để tham gia những nhà tu khổ hạnh cùng với người bạn thân là Govinda. Cả hai đều ra đi để tìm sự khai sáng. Câu Chuyện Dòng Sông đã đi qua một chuỗi các thay đổi và tự nhận thức khi anh cố gắng đạt được mục đích này.

    • Khung cửa hẹp (La porte etroite): là tiểu thuyết của văn hào Pháp André Gide được coi là một cuốn tiểu thuyết kinh điển và còn là một trong những tác phẩm nổi tiếng trên thế giới. Cuốn tiểu thuyết được dịch giả Bùi Giáng dịch sang Việt ngữ, xuất bản bởi NXB An Tiêm năm 1966. 

    Năm 1946, André Gide được bầu làm Giáo sư Danh dự trường Đại học Oxford và được tặng giải Nobel năm 1947. Đây là một cuốn tiểu thuyết viết về tình yêu lãng mạn, để cao lòng trinh bạch, sự hy sinh và những đấu tranh nội tâm giữa cõi thực và hư vô trong đạo giáo của xã hội Tây Phương thời ấy. André Gide đã dùng một lối viết cầu kỳ, ngôn ngữ khó hiểu, nó kén chọn người đọc ở một trình độ cao và thấu hiếu về lý thuyết đạo giáo cũng như triết học hiện sinh và lý thuyết nhân sinh quan. 

    • Đi tìm thời gian đã mất (À la recherche du temps perdu): là bộ tiểu thuyết gồm 7 tập của nhà văn Pháp Marcel Proust, được viết từ 1908-1909 đến 1922 và xuất bản từ 1913 đến 1927, trong đó 3 tập cuối chỉ được xuất bản sau khi tác giả qua đời. Tiểu thuyết này được xếp vào trong danh sách mười cuốn tiểu thuyết được thanh niên Pháp ưa thích nhất trong thế kỷ XX. Tạp chí Time cũng chọn Đi tìm thời gian đã mất trong danh sách mười cuốn sách vĩ đại nhất mọi thời đại.

    Qua nội dung của tác phẩm “Đi tìm thời gian đã mất” là loại tiểu thuyết tự truyện với nhân vật chính là người kể chuyện về chuyện tình của mình với những ước mơ, dằn vặt qua mối tình đẩu với Gilberte, rồi đến mối tình thơ mộng và đau xót với Albertine sống  trong cái thiên đường của một xã hội thượng lưu giả dối và nhạt nhẽo, rồi chết một cách thảm thương. 

    “Thời gian lại tìm thấy” có nghĩa là tìm tìm ra lẽ sống của mình, là cống hiến cuộc đời cho nghệ thuật. Tất cả những hoạt động xã hội chỉ là “thời gian đã mất” và biến cái thời gian đã mất ấy thành một hành động sáng tạo như Proust đã viết: “Những thiên đường thật đó là những thiên đường đã mất“. Cốt truyện của “Đi tìm thời gian đã mất” có giá trị ở lối kiến trúc diễn đạt thâm sâu, phân tích suất sắc, nặng phẩn mộng tưởng, cho ta những cảm giác dào dạt và thu hút người đọc. 

    “Đi tìm thời gian đã mất” đã mở đầu cho loại tiểu thuyết mới trong thế kỷ XX và có giá trị cao đượm nét triết tính, với những câu văn dài bất tận như dòng suy tư, cấu trúc ngữ pháp đặc biệt tạo nên những lớp thời gian chồng chất lên nhau, hoài niệm chồng chéo lên hoài niệm, hồi ức kéo theo hồi ức, những thể nghiệm được mô tả theo tốc độ tiệm tiến tương ứng với thời gian của chuyện kể. Câu chuyện tưởng như chỉ xoay quanh những chủ đề mang tính chất riêng tư của một nhân vật, nhưng khi đọc lại cho ta một cảm giác lùi về thời gian đáng kể ở dĩ vãng. 

    Chính các nhà văn thế kỷ XX thừa nhận, dù thích hay không thích thì tác phẩm này cũng đã là một biểu tượng cụ thể buộc các nghệ sĩ hiện đại phải thay đổi cách nhìn của mình về thế giới hiển nhiên và cách biểu hiện thế giới bên ngoài. “Đi tìm thời gian đã mất” vì thế trở thành một cột mốc trong hành trình thời gian của tiểu thuyết hiện đại của thế kỷ XX.   

    • Chủ đề Tiểu thuyết Tình cảm Chiến tranh:

    Phần này có 2 bài như sau: Một thời để yêu và một thời để chết (trang 13) và Bác sĩ Zhivago (trang 167).

    • Một thời để yêu và một thời để chết (A Time to Love and a Time to Die): của Erich Maria Remarque là tình yêu giữa chiến tranh đầy máu lửa, đắng cay, nuớc mắt và hoài vọng với lời viết đậm nét vị tha, nhân đạo, an phận, yêu quê hương và chấp nhận số mệnh của một người thanh niên trót sinh ra trong thời chiến. Tình yêu và chiến tranh là những tiếng khóc của trái tim, là xót xa cho thân phận và là rạo rực của nhớ mong. Qua lời văn của Erich Maria Remarque đã đưa người đọc hình dung ra được một chiến trường khốc liệt với xác người không vẹn toàn, xình thối, vùi chôn dưới từng lớp tuyết, những cảnh điêu tàn, những nóc nhà cháy, những bức tường đổ nát, những đống gạch vụn. 
    • Bác sĩ Zhivago (Dr. Zhivago): “Cánh tay phải của tôi. Lau nước mắt giùm tôi.” Đó là hai câu trong một bài thơ của Boris Leonidovich Pasternak đã viết để diễn tả những uẩn khúc trong tim khi tác phẩm Bác sĩ Zhivago ra đời năm 1957, bị cấm xuất bản cũng như lưu hành tại Nga, nhất là khi nội dung của tác phẩm bị nhà nước cho là bôi nhọ chính sách và buộc ông phải từ chối nhận đề cử lãnh giải thưởng Nobel văn chương năm 1958, với lý do sự việc này làm giảm uy tín của Đảng Cộng Sản Liên Xô. 

    Trong tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago, Boris Pasternak “Chống Xô Viết”, chỉ trích rất tế nhị các chế độ “Stalin-nít”, chế độ “tập thể hóa”, cuộc “Đại Thanh Trừng” (the Great Purge) và Quần Đảo Ngục Tù (the Gulag). Tác phẩm Bác sĩ Zhivago còn bị nhà cầm quyền gán cho tội nói xấu cuộc Cách mạng Xô viết. Tháng 12 năm 1989, người con trai của Văn Hào Boris Leonidovich Pasternak tên là Yevgenii Borisovich Pasternak đã được phép đi tới thành phố Stockholm để nhận lãnh Giải Thưởng Nobel Văn Chương của cha cậu. 

    Tác phẩm Bác sĩ Zhivago nhận định một cách rõ ràng về số phận và lựa chọn của người trí thức trong sự xoay vần của thời cuộc bên cạnh chuyện tình yêu ngang trái giữa Yury Zhivago và Lara Guishar. Một chuyện tình đau đớn của những người tình lạc nhau trong chuyến tàu định mệnh, chiến tranh tạo nên sự chia ly, đặt con người trong chấp nhận hy sinh và số phận con người-tình yêu trong những dòng xoáy của lịch sử. 

    • Chủ đề Tiểu thuyết Tinh yêu Lãng mạn:

    Phần này có 2 bài như sau: Trà Hoa Nữ (trang 75), Chuyện Tình Yêu (trang 147).

    • Trà Hoa Nữ (La Dame aux Camélias/The Lady of the Camellias): Alexandre Dumas, Jr. là tiểu thuyết gia, nhà soạn kịch nổi tiếng người Pháp), ông được vào Viện Hàn lâm Pháp năm 1874 và được trao huân chương Bắc Đẩu Bội tinh năm 1894. Trà Hoa Nữ là một tiểu thuyết được viết bởi Tác giả Alexandre Dumas Jr. năm ông 23 tuổi và được xuất bản lần đầu vào năm 1848. Tiểu thuyết Trà hoa nữ đã khẳng định tài năng và đem lại vinh quang rực rỡ cho Alexandre Dumas Jr., nhất là sau khi tác phẩm được ông chuyển thể thành kịch, trình diễn vào năm 1852 ở Paris, tại Nhà hát de Vaudeville, Paris. 

    Theo tài liệu cho biểt, trước năm 1975, nhà soạn kịch/nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã chuyển thể cuốn truyện Trà Hoa Nữ và được trình diễn lần đầu tiên tại Sài Gòn, Việt Nam. Vở kịch này lại được trinh diễn thêm hai lần nữa do ban kịch Kim Cương (2002) tại Sài Gòn và ban kịch Sống (2013) tại California, Hoa Kỳ. Tác phẩm Trà hoa nữ được dịch ra nhiều loại ngôn ngữ, lan truyền rộng rãi trong lãnh vực phim ảnh, kịch nghệ ở nhiều quốc gia, được người xem hâm mộ và ưu ái đón nhận.

    Cốt truyện Trà Hoa Nữ dựa trên bối cảnh tại nước Pháp vào giữa thế kỷ 19, cuốn tiểu thuyết kể về chuyện tình đau thương, một bi kịch cuộc đời của nàng kỹ nữ xinh đẹp Marguerite Gautier và một nhà trí thức trẻ tuổi, luật sư Armand Duval. Tác phẩm Trà hoa nữ không những được coi là một tác phẩm lãng mạn, trữ tình, cảm động mà còn chứa đựng nhiều yếu tố hiện thực, đảm bảo được nghệ thuật văn chương, có giá trị tinh thần, lòng nhân đạo và sự hy sinh cao cả cho tình yêu, đầu tiên và duy nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của nàng kỹ nữ vắn số Marguerite Gautier. 

    Cuốn sách ghi lại câu chuyện qua lời kể của Armand Duval về một mối tình ngang trái, một tình yêu đích thực mà Armand đã dâng hiến cho nàng kỹ nữ trẻ Marguerite. Chính tình yêu chân chính ấy, đã cứu vớt tâm hồn Marguerite và đưa nàng về với cuộc đời mới, thanh cao, trong sạch. Marguerite đã quyết định từ giã cuộc sống xa hoa, vật chất, nhung lụa đầy ô nhục để đổi lấy một cuộc sống lương thiện, dẫu biết rằng con đường ấy sẽ đầy chông gai và phải chịu nhiều đau khổ.

    • Chuyện Tình Yêu (Histoire d’Amour/Love Story): là tiểu thuyết của Erich Segal, ông là một nhà viết tiểu thuyết, kịch bản gia và là giáo sư văn học Hy Lạp và Latinh tại Đại học Harvard, Đại học Yale (1958), Princeton University, Dartmouth College ở Hoa Kỳ, Oxford University, Anh quốc, University of Munich, Đức quốc và lấy bằng Tiến sĩ Văn học Thế giới vào năm 1965. Erich Segal là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về hài kịch thời La-mã, năm 1967 bắt đầu viết kịch bản cho phim ảnh và chuyển thể cuốn truyện Yellow Submarine thành cuốn phim ca nhạc có cùng tựa của ban The Beatles. Cuối thập niên 1960, Erich Segal viết kịch bản cho cuốn phim Love Story, rồi chuyển thể thành cuốn tiểu thuyết có cùng tựa, đạt thành công rực rỡ.

    Bộ phim từng nhận được nhiều thưởng Oscar: Giải thưởng Golden Globe Award for Best Screenplay-Motion Picture, Guggenheim Followship for Humanlities, US & Canada. Giải Quả cầu vàng cho Bộ phim xúc động nhất, Giải Quả cầu vàng cho Diễn viên nữ đóng cảm động nhất dành cho Ali MacGraw. Giải Quả cầu vàng cho Đạo diễn xuất sắc nhất dành cho Arthur Miller. Giải Oscar cho Âm nhạc hay nhất dành cho Francis Lai. Giải Quả cầu vàng cho Âm nhạc hay nhất dành cho Francis Lai. Giải Quả cầu vàng cho Kịch bản phim hay nhất dành cho Erich Segal, cùng 11 đề cử khác. Nổi bật câu nói bất hủ trong cuốn tiểu thuyết đã trở thành tuyên ngôn kinh điển của tình yêu.

    “Yêu có nghĩa là không bao giờ nói lời hối tiếc”.

    Love Story thuộc loại tiểu thuyết tình cảm xã hội, lãng mạn, trữ tình, một là câu chuyện tình đích thực, nồng cháy nhưng lại quá thảm sầu của một mối tình bất điệt, đã làm thổn thức và tê tái không biết bao nhiêu trái tim khán giả. Khởi đầu câu chuyện với chuyện tình của một cô gái mới lớn đi song song với bản tính năng động, tự lập, cao ngạo, tự hào của một chàng sinh viên Harvard thuộc gia đình thượng lưu và nổi tiếng. Sự tranh đấu cho tình yêu không cùng giai cấp, người giầu và kẻ nghèo, đưa đến những thử thách để bảo vệ hạnh phúc cho một tình yêu đích thực và tận cùng là bệnh tật & sự chết…

    Điều đáng kể trong tác phẩm là tác giả Erich Segal đã nêu rõ sự kỳ thị của một xã hội định kiến Mỹ trong thế kỷ 20, nơi mà sự phân biệt giai cấp vẫn tồn tại.  Sự thủ cựu trong quan niệm sống mà thế hệ trẻ của thập niên 1970 không còn tin tưởng vào quan niệm cũ kỹ già nua trong xã hội phong kiến và nó không còn thích hợp với suy nghĩ của giới thưởng ngoạn đang nuôi dưỡng một quan niệm sống mới:  Tự quyết, tự lập, tự hành động cụ thể và tự áp dụng dựa theo tiếng gọi của con tim. 

    xXx

    Tóm lại, tác phẩm Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học của nhà văn Khánh Lan ra đời có  thể nói là để đóng góp vào kho tàng văn học chữ Việt nói chung được chút nào đó phong phú hơn, nhất là ở khía cạnh bàn luận về nghệ thuật của văn học; cũng như giới thiệu một số tác phẩm đã đi vào lịch sử văn học của thế giới. Tác phẩm này gồm những bài viết trình bày đôi nét chính của những danh tác lẫy lửng như kiến thức chung của con người ở mọi thế kỷ.

    Đọc tác phẩm Những ý nghĩ về Nghệ Thuật trong Văn Học của nhà văn Khánh Lan giúp cho những ai muốn theo một khoá văn học thu gọn ít tốn kém thời gian đi sưu tập nhiều tác phẩm thời danh qua nét nhận định của nữ bỉnh bút Khánh Lan. Theo ý tưởng của nhà văn người Anh Edward Morgan Forster cho là:  “Điều tuyệt vời về văn học vĩ đại là nó biến người đọc nó trở thành tình trạng của người đã viết tác phẩm.” (E. M. Forster: What is wonderful about great literature is that it transforms the man who reads it towards the condition of the man who wrote.); Đọc những danh tác giá trị, sự vĩ đại của những danh tác giúp cho kiến thức con người phong phú hơn.

    Thật vậy.

    Trần Hoàng Nam.

  • Văn Thơ

    Đôi Lời Phi Lộ

    Dương viết Điền.

    Ai đã từng đọc những chuyện trinh thám đều biết rằng, bất kỳ câu chuyện nào cũng làm cho chúng ta say mê nhờ nội dung của các câu chuyện quá kỳ bí, hồi hộp, ghê rợn và lắm lúc kết cuộc thật đau lòng. Vì vậy, các tác giả của những chuyện trinh thám phải là những nhà văn có những đặc tính như thích phiêu lưu mạo hiểm, thích dấn thân, thích tò mò và nhất là trí tưởng tượng rất mạnh đến tuyệt vời, lắm lúc hơn cả tuyệt vời!. Họ thường rất thông minh, lanh lẹ, năng động, hoạt bát. Lắm lúc họ xông xáo vào đời một cách liều lĩnh, nhiều lúc rất ngoạn mục. Nhờ thế những tác phẩm của họ được thai nghén bằng những dữ kiện thật kỳ bí, hấp dẫn, thật ly kỳ và hồi hộp. Thế nên lắm lúc đọc các tác phẩm trinh thám của họ, ta cảm thấy như bị nghẹt thở, sởn da gà, cảm thấy như dựng tóc gáy, rụng rời tay chân! 

    Tuy nhiên, cho dù những người nào có năng khiếu thiên phú đi nữa, nhưng một khi muốn hành nghề thám tử để điều tra tôi phạm, người ta phải học qua những khoá học chuyên môn về nghiêp vụ này. Thế nên ngay từ đầu, tác giả đã cố ý trang bị cho nữ thám tử Lê Minh trong cốt chuyện bằng những khoá học như phải tốt nghiệp Cao học Criminal Justice, hoàn thành khoá đào tạo của Học viện Cảnh sát và sẽ gia nhập Lực Lượng Tư Pháp Tội Phạm Sát Nhân.

    Điểm qua một số nhà văn trên thế giới với những tác phẩm của họ viết về chuyện trinh thám, ta thấy rất nhiều nhà văn nam cũng như nữ, đã để lại cho đời những tác phẩm thật hấp dẫn và lâm ly, thật ngoạn mục và hồi hộp đến toát mồ hôi hột. Chẳng hạn như văn sĩ người Anh Ian Flaming với điệp viên 007 lừng danh nhất thế giới, văn sĩ Conan Doyle với tác phẩm nổi tiếng Sherlock Holmes, nữ văn sĩ Agatha Christie với tác phẩm Án Mạng Trên Sông Nile, nhà văn Da Brown với tác phẩm Mật Mã Davinci, tác giả Lôi Mễ với tác phẩm Đề Thi Đẫm Máu, nữ văn sĩ Gillian Flyn với Cô Gái Mất Tích, nhà văn Shannon Mc Kenna với Đứng Trong Bóng Tối, nhà văn Thomas Harris với Sự Im Lặng Của Bầy Cừu, nhà văn Thuỵ Điển Stieg Larsson với Cô Gái Có Hình Xăm Rồng, nhà văn Truman Capote với Máu Lạnh, nhà văn Nhật Minato Kanae với Thú Tội, nhà văn Nesbo với Chim Cổ Đỏ,  nhà văn Việt nam Phạm cao Cũng với Chiếc Gối Đẫm Máu, Vết Tay Trên Trần, nhà văn Thế Lữ với tác phẩm Lê Phong và Mai Hương, Gói Thuốc Lá, Đòn Hẹn, Tay Đại Bợm.

    Đặc biệt trong bài đôi lời phi lộ này, tôi muốn đề cập đến những nhà văn nữ viết về chuyện trinh thám. Ai cũng biết rằng phái nữ thường được mệnh danh là phái liễu yếu đào tơ với những đặc tính nhu mì, hiền hậu thường chỉ thích đọc và viết về những chuyện tình yêu lãng mạn, những chuyện tình buồn vời vợi, khi thì nức nở sầu thương, khi thì giận hờn tiếc nuối để rồi biệt ly và xa nhau, chứ ít khi viết về những chuyện đánh đấm, võ thuật, múa may quay cuồng, đâm chém giết nhau, thịt rơi máu đổ; hay những tác phẩm liên quan đến hình sự, điều tra tội phạm, nói chung là các chuyện phản gián, chuyện gián điệp, chuyện tình báo.v v…Vậy mà trong những nhà văn nữ của thế giới nói chung và  của Việt nam nói riêng, có một nữ văn sĩ Việt nam ở hải ngoại đã dấn thân bất chấp thân phận là liễu yếu đào tơ đã quyết chí hoàn thành một tác phẩm về chuyện trin

    Nhà văn Tess Gerritsen với tác phẩm Call after Midnight, Peggy Sue Got Murdered, The Bone Garden. Xin xem hình kèm bên dưới.

    Nhìn chung, tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám” này là một tác phẩm rất có giá trị cho ngành tội phạm hình sự theo đó, những ai mới bắt đầu vào nghề hay đang hành nghề thám tử, gián điệp, cần nên đọc để trau giồi thêm kiến thức nghề nghiệp và rút tỉa kinh ngiệm quý báu trong lúc hành nghề.

    Tóm lại, với tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám”, nữ văn sĩ Khánh Lan đã để lại cho đời một kiệt tác về văn chương Việt nam tại hải ngoại, đặc biệt trong lãnh vực về chuyện trinh thám, rất hấp dẫn, thật hồi hộp, đọc xong sẽ nổi da gà và dựng tóc gáy ngay. Tôi xin trân trọng giới thiệu với độc giả khắp năm châu tác phẩm trinh thám thật tuyệt vời này.

    California, ngày 20 tháng 02 năm 2021.

    Dương viết Điền.

    (Hình ảnh trong bài lấy từ Wikipedia).

    California, ngày 20 tháng 02 năm 2021.

    Dương viết Điền.

    (Hình ảnh trong bài lấy từ Wikipedia)