• Văn Thơ,  Viet-Hải

    Mười Năm – Nhớ Nguyễn Xuân Hoàng

    Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng thấm thoát ra đi được 10 năm (Sinh ngày 7 tháng 7, 1940 tại Nha Trang, Khánh Hòa, và Mát ngày 13 tháng 9, 2014 (74 tuổi) tại San Jose, California, Hoa Kỳ. Ông là cựu học sinh Võ Tánh Nha Trang và Pétrus Kỳ Sài Gòn, lên đại học có lúc ông học dự bị y khoa nhưng cuối cùng vào văn chương, triết học ở Đại học Đà Lạt. Ông kể kỷ niệm dạy học ở trường Ngô Quyền, Biên Hòa, rồi một năm sau đó về dạy tại trường Petrus Ký ở Sài Gòn, nơi ông gắn bó hơn một thập niên cho đến ngày Sài Gòn bị giặc pắc pó, bắc nô cưỡng chiếm.

    Trong bài “Tháng Chín, nhớ Nguyễn Xuân Hoàng” của tác giả Trần Doãn Nho đăng trên báo online Người Việt. Kể về mục sổ tay của Nguyễn Xuân Hoàng, bài ghi nhận như sau:

    “Sổ Tay trước hết là sự kiện: xã hội, văn học, chính trị, bóng đá, thời tiết, ra mắt sách, tác phẩm mới, tác giả mới, phim mới… Lan man. Tản mác. Rời rạc. Nhưng đầy hơi thở, đầy hiện thực: gặp bạn bè ở Paris, ở Houston, ở Sài Gòn, lụt ở miền Trung năm 1999, ra mắt sách người này người nọ, những người bạn đến thăm, những người bạn đau, những người bạn qua đời, những chuyến đi, Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Orange County, những tác phẩm vừa xuất bản, cảm giác về những ngày mưa, ngày nắng, ngày tuyết, về giải bóng đá thế giới, về chuyến đi của Clinton sang Tàu, vân vân…

    Sổ Tay là những hồi ức sống động.

    “Một buổi tối, trong căn phòng hẹp nằm sau ‘ngõ hẻm’ Song Long, chủ nhà Mai Thảo tiếp Thụy Khuê, Bùi Bảo Trúc, vợ chồng nhà báo Đỗ Ngọc Yến, vợ chồng luật sư Đỗ Xuân Hòa, Khánh Trường… Nhà có ba chiếc ghế. Khách ngồi bệt xuống sàn, xung quanh là những cuốn sách, những chai rượu. Mọi người nói đủ thứ chuyện: cuộc sống, văn chương, thời sự… nhưng tuyệt nhiên không ai nói về sức khỏe của Mai Thảo và Khánh Trường. Từ gần một năm nay, cả hai nhà văn này không khỏe. Khánh Trường luôn cười nói, lạc quan hơn một người có sức khỏe bình thường. Thế nhưng, người ta biết ông đang bị sa sút về thể lý. Trong một tháng, hơn ba lần Khánh Trường vào bệnh viện. Có đôi lúc, tiếng nói ông thấp xuống, không còn cái ‘ồn ào sang sảng’ mỗi khi trêu ghẹo bạn bè. Rõ ràng là Khánh Trường không muốn nói và cũng không muốn nghe ai nói về tình trạng sức khỏe của mình. Còn Mai Thảo, chuyện di chuyển của ông đã bắt đầu khó khăn. Ăn rất ít. Chỉ những giọt rượu là những thang thuốc bổ còn giữ được ông ở lại với chúng ta.” (Văn, Tháng Bảy, 1997). Sổ Tay là những nhận xét cô đọng về người, về văn.

    Cái chết của một người bạn: “Tối thứ hai 24 tháng Năm, Phạm Phú Minh từ quận Cam gọi lên San Jose cho biết Lê Đình Điểu đã từ giã bạn bè ra đi. Giờ đó tôi vẫn còn ngồi trong tòa soạn. Đồng hồ chỉ 10 giờ hơn. (…) Điểu là người không hút xách, không rượu chè, không bài bạc, anh sống ngăn nắp và đàng hoàng. Sống ngăn nắp và đàng hoàng là một điều rất khó trong đời sống của chúng ta.” (Văn, Tháng Sáu, 1999)”.

    Chữ nghĩa Nguyễn Văn Sâm: “Nguyễn Văn Sâm đã nhìn Sài Gòn từ cái phía trái của nó. Bóng tối và sự khốn khó. Sài Gòn của mồ hôi và nước mắt. (…) Nguyễn Văn Sâm là người kể chuyện hơi rề rà nhưng có duyên.” (Văn, Tháng Tư, 2000)

    Một nhà thơ đã mất: “Cao Đông Khánh là một hiện tượng trong thi ca Việt Nam. Chữ nghĩa trong tác phẩm ông cũ một cách rất mới, nồng nàn và sôi nổi, say sưa và mê sảng. Ông có đôi mắt của một vị thần lưu linh, và có lối đọc thơ của một người đồng thiếp.” (Văn, Tháng Bảy, 1997),… Sổ Tay cũng là nơi của bạn bè văn nghệ, bạn cũ bạn mới bạn trong nước bạn ngoài nước bạn quen lâu bạn mới quen. Bạn, chao ôi là bạn. Ở đâu cũng có bạn, đi tới đâu cũng bạn. Đầy ắp bạn. Bạn, tự nó cũng là một thứ văn chương. Cái thế giới bạn bè của Nguyễn Xuân Hoàng cũng là thế giới của văn chương. Anh gặp bạn anh sống bạn anh uống bạn anh viết bạn…

    Tôi đọc bài viết “Nguyễn Xuân Hoàng Trên Con Dốc Tử Sinh” của nhà văn Ngô Thế Vinh. Tác giả viết kỷ niệm với nhà văn bạn như sau:

    “Quen được Nguyễn-Xuân Hoàng trong hoàn cảnh nào thì tôi không nhớ, nhưng đó là một tình bạn khá lâu năm. Khoảng giữa thập niên 1960-1970 Nguyễn-Xuân Hoàng đã cùng với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật và Nguyễn Quốc Trụ chủ trương nhà xuất bản Đêm Trắng. Họ đều ở lứa tuổi trên dưới 30, với sức sáng tác đang sung mãn với phong cách riêng mỗi người, được coi như là nhóm “Tiểu Thuyết Mới”, với quán La Pagode như một điểm hẹn sinh hoạt. Và tên tuổi mỗi người trong nhóm, sau này đều trở thành nhân dáng những nhân vật tiểu thuyết của Nguyễn-Xuân Hoàng.

    Giữa những năm giông bão của cuộc chiến tranh lúc đó, thỉnh thoảng tôi được đọc và cả quen biết họ trong những giai đoạn và các hoàn cảnh khác nhau, do rất khác về môi trường sinh hoạt và tôi thì cũng ít có thời gian ở Sài Gòn. Ra tới hải ngoại, hai người trong nhóm Đêm Trắng mà tôi còn giữ được mối liên lạc là Nguyễn-Xuân Hoàng và Nguyễn Đình Toàn….

    Mấy dòng viết vội và muộn màng này chỉ là những hồi tưởng đứt đoạn để gửi tới một người bạn là Nguyễn-Xuân Hoàng. Xong bậc trung học 1959, khởi đầu Hoàng có ý định học Y khoa, là sinh viên PCB Đại học Khoa học Sài Gòn một năm, thấy ngành học không thích hợp, Hoàng chuyển sang học ban Triết, Đại học Đà Lạt, sau Hoàng Ngọc Biên một năm. Tốt nghiệp 1962, là giáo sư Triết trung học Ngô Quyền ở Biên Hoà một niên khoá và rồi được thuyên chuyển về trường Petrus Ký Sài Gòn cho tới 1975. Nhưng Nguyễn Xuân Hoàng lại được biết tới nhiều hơn như một nhà văn một nhà báo tên tuổi từ những năm 1970. Hoàng là tổng thư ký tạp chí Văn Sài Gòn từ 1972, tiếp nối Trần Phong Giao, cùng với những tác phẩm đã xuất bản gồm tuyển tập truyện ngắn: Mù Sương, Sinh Nhật; tuỳ bút: Bất Cứ Lúc Nào Bất Cứ Ở Đâu; tạp ghi: Ý Nghĩ Trên Cỏ; và hai truyện dài: Khu Rừng Hực Lửa, Kẻ Tà Đạo…

    Thực ra không ai có thể chọn lựa một căn bệnh để được chết theo ý mình, ngoại trừ thứ tự do chọn lựa rất bạo động là tự sát cũng thường thấy ở các nhà văn như: Ernest Hemingway Ngư Ông và Biển Cả bằng súng (1961), Yukio Mishima Đền Vàng bằng gươm (1970), Yasunari Kawabata Ngàn Cánh Hạc bằng hơi ngạt (1972), Nhất Linh Đoạn Tuyệt bằng thạch tín (1963), Tam Ích Nghệ Thuật và Nhân Sinh treo cổ (1972)…

    Hoàng thì đã và đang sống một cuộc sống tràn đầy, nên tôi cũng hiểu rằng “bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu”, bạn tôi cũng đã sẵn sàng chuẩn bị cho dặm cuối của một chặng đường cheo leo trên con dốc tử sinh. Mark Twain thì bao giờ cũng với một cái nhìn rất nhẹ nhàng về cái chết: “A man who lives fully is prepared to die at any time.” Và rồi ra, đến một lúc nào đó, ở một nơi nào đó chắc Nguyễn-Xuân Hoàng cũng sẽ ngoảnh lại rồi mỉm cười mà nhắn với bằng hữu rằng: “Tường thuật về cái chết của tôi có phần quá đáng/ The report of my death was an exaggeration. Mark Twain”.”

    Với nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, hay nhạc sĩ Trần Quang Hải, cả hai tôi biết qua sân trường Petrus Ký. Hai ông bị dèm pha liên hệ vee cees. Một ông kẹt bên vợ, ông kia kẹt người cha về sinh sống bên Việt Nam. Tôi hiểu họ, đầu óc họ có sạn cả, những tiểu xảo marxisme socialisme, hay thế giới vô sản, thế giới đại đồng (le monde prolétarien, le monde universel, la fraternité universelle), là những trò bịp, bọn cee cees nắm giữ quyền bính, chúng tôi giơ ngón tay giữa ra thôi.

    Hãy dọc Aleksandr Solzhenitsyn, với những ác mộng như One Day of Ivan Denisovich, Gulag Archipelago, First Floor of Hell, Cancer Ward, và The Gulag Archipelago, hay những Cry from the Abyss, Chants de Prison, Flowers from Hell (Nguyen Chi Thien).

    Trong bài tôi viết cho Đặc San trường Petrus Ký, năm 2014 đề cập về GS. Nguyễn Xuân Hoàng, bài “Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, Văn Chương và Quê Hương” và bài “Văn Chương, Triết Học và Nguyễn Xuân Hoàng”, kỷ niệm thì tôi theo học lớp 12B4, thầy Hoàng dạy lớp 12B1, cách lớp tôi gần lắm, tôi gặp ông hàng tuần sang Mỹ thì kỷ niệm trao đổi văn học nhiều hơn. Tôi viết về Nguyễn Xuân Hoàng với những: Người Đi Trên Mây, Một Người Ngồi Trong Ghế Bành, Bụi Và Rác, Tự Truyện Một Người Vô Tích Sự, Căn Nhà Ngói Đỏ, Barbara,… Hãy hiểu chiều sâu nét bút của nhà văn như ông có những u buồn, hãy bao dung, hãy rộng mở, chiều sâu ngòi viết đó chất chứa phong văn lương thiện của bóng mây thoáng mát, Dĩ Văn Tải Đạo, hay Văn Dĩ Quán Đạo, hoặc “Le style, c’est l’homme”, nét bút của nhà văn trung thành với chữ nghĩa, trân quý với sách vở và yêu thương văn học.

    Tôi ngẫm nghĩ sự lương thiện và thành thật trong nét bút của Nguyễn Xuân Hoàng, ông khai về gia đình mình, thân phụ rượu chè say sưa, là can phạm “hạ sát” ông tây Gaulois nào đó ở Marseille, xong kéo bà đầm Gauloise tình nhân bỏ trốn, hay thành tâm của nét bút kể về người anh cả theo CS trong khi người anh khác là trung tá Không quân của QLVNCH hy sinh đền nợ nước,… Ông chia chung cái khổ tâm của những nhà văn như những Yung Krall Đặng Mỹ Dung, Phan Nhật Nam,…

    Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng tâm sự lòng trong ngòi viết:

    “Năm học sau cùng tôi vào Sài Gòn, được nhận vào trường Petrus Ký. Tôi học ban B, là ban Toán, như cách phân loại thời đó. Ở Petrus Ký hầu hết học sinh đều giỏi. Tôi chạy đua mệt nghỉ với các bạn cùng lớp. Ra trường, tôi ghi danh vào Đại học Khoa học, lớp PCB (viết tắt các môn học Physique, Chimie và Biologie). Tôi có ý định theo ngành y khoa… Đó là năm đầu tiên tôi bắt đầu đọc truyện. Tôi đọc Võ Phiến, Nguyên Sa, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Doãn Quốc Sỹ, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc… Tôi cũng đọc Phạm Công Thiện và Nhất Hạnh. Rồi tôi đọc André Gide, St. Exupéry, Marcel Proust, Hermann Hesse, Francois Mauriac, André Maurois, Camus, Sartre, Dostoievsky, Tolstoi… Tôi đọc cả Hemingway, Faulkner, Tennessee Williams, Arthur Miller… Đọc bản dịch Việt ngữ lẫn bản tiếng Pháp… Gặp sách gì cũng đọc, ngấu nghiến. Có cuốn đọc hiểu. Có cuốn không hiểu gì cả. Tôi tìm kiếm mò mẫm để không bị lạc. Nhưng tôi bị lạc thật. Cuốn sách tôi thích lúc đó là Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền. Và tôi thấy các môn Vật lý, Hóa học và Sinh học ở nhà trường sao mà buồn chán. Thế giới văn chương kỳ ảo và đầy hấp lực, mặc dù lúc đó tôi ao ước mình trở thành nhạc sĩ hơn là nhà văn….”

    Hãy đọc tiếp Nguyễn Xuân Hoàng mô tả kỷ niệm xưa có những yếu tố ảnh hưởng đời ông: Đà Lạt, Văn Chương và Triết Học:

    “Chưa hết niên học, tôi quyết định bỏ lớp, vì một lý do mà khi có dịp tôi sẽ viết lại dưới hình thức một truyện ngắn. Tôi ghi danh thi vào ban Triết, Đại Học Đà Lạt. Kỳ thi có khoảng 300 thí sinh, nhà trường tuyển 28 người. Và tôi là người đội sổ. Có hai đề thi để chọn. Tôi không nhớ đề kia, vì nó dính dáng đến một triết gia mà tôi chưa bao giờ nghe tên (vì có học hành gì đâu!), tôi chọn đề với câu nói của André Gide, tác giả La Porte Étroite. Bài luận văn của tôi phải là một bài dở nhất thế giới. Tôi nghĩ, mình thi chơi không đậu thì thôi, vì tôi cũng đã thi vào một trường khác và tôi đã được nhận. Buổi học đầu tiên Linh Mục giáo sư Alexis Cras sau khi chào mừng cả lớp, đã gọi tên tôi đứng dậy cho Cha biết mặt và Cha mỉm cười nói bài luận văn của tôi là một trường hợp đặc biệt. Cha không giải thích thế nào là đặc biệt, nhưng tôi biết đó là một bài viết được vớt vì người viết chẳng có chút kiến thức giáo khoa nào về triết cả.”

    Nguyễn Xuân Hoàng, ông thầy điển trai qua làn da hoa bưởi, nhân dáng bảnh bao mà tôi bắt gặp trong khu hành lang đệ nhất B trên lầu 2 của trường Petrus Ký lắm lần. Ông sang Mỹ muộn màng để cắp sách lại đại học để thi thố cấp bằng cao như nhiều bạn bè của ông, hay như những học trò của ông tại đây, tôi muốn ám chỉ cái đất nước này, “American land, the Land of Opportunity”. Sự nhiêu khê, ác nghiệt của cuộc sống xung quanh khiến ông ở ẩn, sống trong im lặng với sự nuôi dưỡng của văn chương theo 2 nghĩa đen và bóng. Tôi hiểu ông, tôi ước gì Nguyễn Xuân Hoàng sống lại những ngày niên thiếu tại Nha Trang tĩnh lặng và hồn nhiên không có bóng mây mờ xung quanh ông. Nguyễn Xuân Hoàng hiền hòa tự bản chất, Nguyễn Xuân Hoàng cô đơn trong ý nghĩ sau:

    “Mười năm sau, đặt chân lên đất nước này, tôi đã không còn tuổi trẻ. Trong văn chương ở đây tôi gặp lại một nền văn chương ở đó. Người ta dụng văn như một phương tiện. Những chiếc áo ngụy bán trong kia, và những chiếc nón cối bán bên này. Những người chống đối nhau nhưng sử dụng chữ nghĩa giống nhau như hệt. Phỉ báng, lăng mạ, chửi rủa, buộc tội… Giống nhau cho cả người thua kẻ thắng. Văn học nghệ thuật đích thực chỉ còn là một vùng đất nhỏ, bên này cũng như bên kia. Tôi học rất nhiều bằng sự câm lặng. Tôi khám phá ra chữ nghĩa của tôi đã không còn Chàng và Nàng, tôi lược bỏ không thương tiếc những tĩnh từ trong câu văn tôi. Tôi sợ những chữ mình viết ra chưa ráo mực đã cũ, như tấm ảnh rửa bằng thứ nước thuốc xấu, bị ố vàng dưới ánh sáng. Nhiều cuốn sách viết trước 1975 giờ đọc lại đã thấy cũ. Những đề tài thời thượng nhanh chóng bị đào thải. Tôi sợ những trang chữ của mình. Tôi cố đơn giản cùng cực trong cách dùng chữ. Tôi tránh cái sướt mướt. Tôi muốn những câu văn khô. Tôi “không ưa một nhà văn nói lý quá nhiều. Họ chỉ làm như vậy khi họ không còn tin vào cái lực của ngòi bút họ. Khi một người đàn bà đã qua thời nhan sắc vẫn thường bình luận nhiều về tình yêu, ghen tuông nhiều hơn và chẳng chịu thừa nhận bất cứ sắc đẹp của ai.” Ai đã nói câu đó vậy?”

    Trích dẫn câu nói của một nhà văn bạn, ông cho phần kết thúc bài viết như sau:

    “Nhà văn nào mà chẳng bất lực trước trang giấy trắng? Giá trị đến như Truyện Kiều mà Nguyễn Du thiên tài cũng chỉ mơ ước “mua vui được vài trống canh.” Giá trị văn học thường chỉ được người ta nhắc đến khi người viết không còn nữa… Ai lấp đầy những khoảng trống trong tư tưởng nhà văn? Ai? Người nào? May ra chỉ có thiên nhiên. Thiên nhiên sẽ lấp bằng đất, như đã từng lấp mộ các bậc đế vương hoặc bất kỳ một kẻ vô danh không tuổi không tên, không quê hương, không sự nghiệp.

    Xin tha lỗi cho những suy nghĩ luộm thuộm đầu Ngô mình Sở của một người đang chuẩn bị chuyến hành hương.”

    Nguyễn Xuân Hoàng xác định rõ trong phong cách viết: “chữ nghĩa của tôi đã không còn Chàng và Nàng”, bần bút xem trong tác phẩm “Một người ngồi trong ghế bành”, thú thật ông diễn tả đôi bạn tình nhân tỏ tình, lãng mạn mà theo tôi hình như có khoảng hư không ngăn cách, tôi viết văn yêu thì cho đôi tình nhân ấy được yêu nhau tới bến, gần gũi tình yêu “xáp lá cà”, yêu thương kiểu “alasso”, tapis tới tấp, nào những pha l’épaule sur l’épaule, main dans la main, hay lèvres scellées lèvres,… nhưng ông giữ biên cương nào đó, nên viết chuyện tình platonic, như tác phẩm của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, không như Mối tình nồng cháy chênh lệch quá mức tuổi tác của chú Đạt và cháu Diễm trong truyện “Yêu” của Chu Tử, hay Mối tình dị chủng giữa Martha và Chương mà hồn ái ân dâng trào, môi liền môi như trong “Dấu Chân Cát Xóa” của Doãn Quốc Sỹ, hoặc Tình yêu taboo như “Forbidden love” giữa cô giáo Trâm và cậu học trò nhỏ Minh trong truyện “Vòng Táy Học Trò” của Nguyễn Thị Hoàng,… Như vậy, truyện tình của Nguyễn Xuân Hoàng có biên cương ranh giới hẳn hòi, có hố sâu ngăn cách, có thắng hơi an toàn, một “roman” khá hiền hòa như các câu ái tình trong bài viết:

    “Diệp thả tay tôi ra, nhưng mùi thơm của tóc nàng bay tận mũi tôi… Diệp ôm chặt cánh tay tôi bên hông nàng…”, rồi kế nữa cú văn hiền khô, “Tôi đẩy cửa kính và đứng qua một bên nhường Diệp vào trước. Nàng lột khăn xuống rũ nước mưa và chúng tôi chọn một chiếc bàn hơi khuất trong góc phòng… Nhưng liền ngay khi đó tiếng cười của nàng chợt tắt sau câu nói và mắt Diệp mở lớn ngạc nhiên hướng về chiếc ghế bằng da màu đỏ.

    Dù sao, tôi phải công nhận là Diệp đẹp. Có lẽ vì cái dáng cao cao của nàng, bộ ngực khoẻ mạnh trên một thân thể khá mong manh, cái vẻ lạnh lẽo ở khuôn mặt cẩm thạch, cùng với mớ tóc rối đen khô làm tôi choáng váng.”

    Hãy hỏi Nguyễn Xuân Hoàng có chân thật trong văn chương?

    Như đã trình bày, những tác phẩm Nguyễn Xuân Hoàng cho nội dung lành mạnh, xây dựng theo phong thái tốt đẹp, những mơ ước thực sự của con người. Trong văn chương của Leo Tolstoy với “La Guerre et la Paix” (War and Peace), hay Boris Pasternak với “Doctor Zhivago”, con người là nạn nhân của chiến tranh. Cả Jean Jacques Rousseau, Khổng Tử hay Sigmund Freud minh định trong ý tưởng con người ban sơ vốn mang tính thiện, hiếu hòa, nhưng rồi cuộc sống ganh đua, tranh giành sinh ra ác tính, trong bình diện tiểu phẩm chia sẻ quan điểm nhìn cuộc đời, Nguyễn Xuân Hoàng viết lên “Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Đâu”. Trong chiến cuộc con người ước mơ hòa bình. Tôi đọc như xem cuốn phim của Pasternak. “Có phải là một điều nhảm nhí không khi ta nói đến tình yêu trong một thời đại mà người ta chỉ đề cập đến sự chết. Tôi vẫn nghĩ rằng con người càng đến gần với tình yêu chính là tiến gần đến cái chết. Yêu là chết. Và trước cái chết, người ta bao giờ cũng ham muốn sự sống. Và sự sống là gì nếu không là tình yêu? Ngụy biện quá, phải không?”.

    Nguyễn Xuân Hoàng thích bạn bè văn chương, sống nội tâm, nhưng cô đơn trong bài viết, nỗi trăn trở của ông khi mà cuộc chiến ông mất đi người anh, những bạn bè thân, Sài Gòn vẫn vui chơi, vẫn sinh hoạt dửng dưng. Chính sự cô đơn đã khiến ông thu mình trong vỏ ốc trầm mặc, nội tâm dằn co mâu thuẫn, và viết lên bài viết này. Đọc văn ông để hiểu tâm trạng ông hơn. Đọc tác phẩm, ta cố đi sâu vào từng ngõ ngách thầm kín của tâm hồn mà nội dung chuyên chở ý tưởng sâu xa của người viết đặt để cốt truyện được tạo ra vậy.

    Trong bài “Nhà Văn và Thời Gian”, tác giả Nguyễn Xuân Hoàng viết:

    “Ông đã cho tôi nhiều suy gẫm về những giá trị đạo đức tinh thần, những trăn trở của một chiều dài lịch sử, những khát vọng, những đớn đau của một thời tuổi trẻ, một thời đạn bom. Cảm ơn ông đã đưa triết lý vào đời sống văn chương thật tài tình, để những khô rốc của triết lý nở rộ trong đời sống hằng ngày. Tôi nghĩ là ông đã thành công trong sự nghiệp văn chương của ông không phải bằng số lượng mà bằng chất lượng ông đã cẩn thận chắt chiu. Tôi cũng xin nói thêm là những tác giả, những bài viết mà Văn đã chọn lựa đã xứng đáng đứng trong trời đất, của hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau.”

    Nói đến Nguyễn Xuân Hoàng không nhắc đến tác phẩm “Người Đi Trên Mây” (NĐTM) e là thiếu sót. Tác giả mô tả nhân vật nam chính, tên Trần Lâm Thăng, là người ngoại giao rộng quen biết nhiều với giới văn nghệ sĩ thời 1970 tại một thuở Sài Gòn. Thăng có cơ hội tiếp xúc với một khuôn mặt chính trị sáng giá thuở ấy, nhân vật Phan thì là một người đam mê quyền lực vô cùng. Thăng có nhiều đàn bà đẹp theo đuổi bên cạnh anh. Từ Lan, con gái ông Lý, người giàu có có ảnh hưởng đến đời Thăng. Rồi người con gái tên Uyên, con gái của ông Phan, rồi người con gái khác là Quỳnh với nét quyến rũ trời cho, đã sống chung với Thăng giữa một Sài Gòn đầy rẫy những dèm pha, và những tiếng đồn dị nghị. Trong khi chuẩn bị chờ ra tòa ly dị với Lan, Thăng bước vào tá túc trong biệt thự của ông Phan để tránh những phiền nhiễu, phá rối gây ra từ phía Lan và ông Lý. Nhưng rồi lại bị gò bó trong sự giam hãm trong một khung cảnh lệ thuộc quá chu đáo của bà Phan và cô Uyên, Thăng quyết định rời bỏ ngôi biệt thự sang trọng, bay đi tìm không khí tự do. Thăng quen với Quỳnh, và về chung sống với nàng tại một khu ổ chuột tồi tàn của Sài Gòn.

    Khi con người lý tưởng cuộc sống, ông vua có thể bỏ ngai vàng sống theo ý muốn riêng của mình. Đó là quan niệm của hiện sinh, existentialisme trong truyện NĐTM. Đọc tiếp Nguyễn Xuân Hoàng sáng tác tác phẩm “Bụi và Rác” sau biến cố đổi đời khi khúc phim Miền Nam bị đứt. Vào cuối những ngày cuối tháng tư 1975, khi thành phố Sài Gòn lao đao trong hỗn loạn trước nguy cơ đổi thay của lịch sử. Thăng và Quỳnh, như mọi người là chứng nhân mục kích những cảnh đổi đời phi lý và oan trái. Với giới cầm quyền mới thì lạm danh chính phủ cách mạng, đứng trước sự kiện trớ trêu này khiến cho một người như Trần Lâm Thăng vốn có tâm thức kinh điển về triết Tây phương ngao ngán. Cách mạng à ? Làm cách mạng có phải là để cướp bóc tài sản của người dân lành ư ? Cách mạng có phải là làm trống trải những căn nhà này cho đầy căn nhà kia. Làm cách mạng có phải là hạ thấp mức sống của một xã hội đang ngăn nắp bình yên xuống thành một xã hội thụt hậu, mà cuộc sống đã bị ngưng đọng như chìm vào đáy vực nghèo khổ.

    Những ý tưởng mà Thăng cảm thấy buồn bã và sự sống của mình tựa như chung quanh những hạt bụi giữa những đống rác thối tha hay thứ rác rưỡi bẩn thỉu giữa cuộc đời đầy bụi bặm. Không thể sống với cái đổi thay mà người ta gọi là “cách mạng”, và không thể hòa nhập vào cái không gian đầy ngờ vực nhau, ám khí bao trùm lên cả đất nước, Thăng tìm cách ra đi như bao người khác. Sau lần bị bắt ở miền Tây, rồi về lại Sài Gòn, căn nhà Thăng trở nên trống rỗng, khi biết Quỳnh đã đem con lao ra biển đông vượt biên tìm Thăng, thế là anh mất hết điểm tựa, cuộc sống vất vưỡng trong nỗi lo âu phập phồng cho những dự định ra đi.

    Trong hai cốt truyện “Người Đi Trên Mây” và “Bụi và Rác”, ta thấy ẩn ý của tác giả nói lên sự tự do bị mất đi hay bị tước đoạt, chút gì đó suy tư trong quan điểm existentilisme được ông ươm mầm. Còn đọc tự truyện Một người vô tích sự là kể chuyện gia đình, đọc nó để hiểu con người và nếp suy tư của nhà văn. Càng đọc văn Nguyễn Xuân Hoàng người đọc nghiệm ra rằng thuở ấu thơ của ông hình như không được như ý, ông cho biết người cha say sưa, anh cả ra đi biền biệt, mặt nội tâm thiếu vắng sự hồn nhiên của tuổi thơ, vốn cần sự thanh thản dễ chịu. Quá khứ là một nỗi buồn thơ ấu không bình yên luôn ám ảnh ông. Bãi biển Nha Trang quê nhà mà có những lúc ông ra ngồi một mình cô đơn đến độ dày vò tâm thức và cô độc lạnh lùng. Kỷ niệm mang theo vào văn chương, tôi nhận thấy khi viết về quê nhà Nha Trang ông tri ân vùng đất cũ cưu mang ông, dù nơi đó có những kỷ niệm buồn tênh, tuổi niên thiếu chôn vùi ngày tháng cũ man mác qua đi.

    Có lúc tôi lang thang vào blogpage (website) VOA của Nguyễn Xuân Hoàng, bài vở nhiều lắm, thong thả đọc, có bài do ông giáo Petrus Ký dạy môn văn chương, GS. Nguyễn Văn Sâm, được GS. Nguyễn Xuân Hoàng cho đăng trên VOA, dĩ nhiên người trong xứ “truy cập” vào rất nhiều. Trong cái nhìn của tôi khi ai viết về những vị ân sư, những vị thầy mình hâm mộ, mến mộ là sự hãnh diện, GS. Nguyễn Văn Sâm viết về vị thầy toán học của ông, GS. Nguyễn Văn Phú. GS. Phú dạy môn toán học vốn khó nuốt, ôi những phương trình vi phân, những phương trình tích phân; những ngữ toán như équation différentielle, équation intégrale mà những năm đầu tiên ngành kỹ sư của anh em chúng tôi va chạm trong các campus Mỹ. GS. Nguyễn Văn Phú còn là nhà văn biên khảo rất uyên bác, đặc biệt về triết lý Phật học.

    Tôi bắt gặp Nguyễn Xuân Hoàng viết về quê xưa, Nha Trang.

    ” Nhatrang, đó là một thành phố của tình yêu và chia biệt, thành phố của những mối tình mùa hè, của những con sóng biển vô tình, những con dã tràng trên cát, những dấu chân bị nước cuốn đi không để lại một vết tích nào như thể trước đó nó không hề tồn tại…

    Tôi là người có hai quê: cha tôi ở bên Thành, mẹ tôi ở N.H. Nhatrang nằm ở giữa. Đường đi lên Thành-Citadelle gần, nhưng đường từ Nhatrang đi N.H. xa hơn, cách nhau tới hai ngọn đèo, đèo Rù Rì và đèo Rọ Tượng. Mẹ tôi người Minh Hương. Và N.H. có thể nói là thị trấn của những người Minh Hương. Tính chất Minh Hương ấy hiện lên rất rõ trong những ngày lễ lạc. Cả một thị trấn chiếm một khúc ngắn trên quốc lộ Một và tỉnh lộ Hai Mươi Mốt này gặp ngày lễ lớn người ta thấy bay rợp trời những lá cờ Trung Hoa, họa hoằn lắm mới thấy một vài lá cờ Việt Nam. Và ngay cả những người dân sống trên con lộ chính này cũng là những người Hoa. Bà dì tôi đúng là một người Hoa, Hoa một trăm phần trăm, Hoa từ mái tóc ngắn kiểu “bôm bê” đến giọng nói, từ cách sống đến lối nghĩ, từ quần áo của bà mặc đến lối trang trí nhà cửa … Thế nhưng mẹ tôi, lạ thay không có chút mảy may Tàu. Trái lại bà có cái vẻ bề ngoài của một phụ nữ tây phương hơn là một người Á đông. Chỉ có y phục, cách ăn uống, cách dạy con, sự xuề xòa, giọng nói của bà là Việt Nam mà thôi. Bà giống một phụ nữ Việt nghèo khổ hơn là một người Hoa giàu có….”

    Văn phong của Nguyễn Xuân Hoàng nhắc nhớ tâm hồn tôi về chốn đẹp quê hương, văn chương của ông cho tôi chút xao xuyến, chút bâng khuâng, và chút bồi hồi khi moi góc nhớ quê hương từ tiềm thức cũ mà hinh như đã chìm sâu vào quên lãng. Bài ông ghi nhận tiếp:

    “Tôi hiểu vì sao tôi yêu những khóm dương trên biển hơn ngôi nhà, yêu bãi cát trên biển hơn chiếc giường tôi nằm chung với một đứa khác mỗi đêm… Nhatrang, thành phố của biển xanh, và cát trắng, của rừng dương, rừng dừa, của Hòn Chồng, Cầu Đá, của cầu Hà Ra, Xóm Bống, của Tháp Bà, của Lương Sơn, Đồng Ðế, …Nhatrang, thành phố ấy bao giờ cũng dính chặt vào trí nhớ tôi…. Ngôi trường tiểu học là thiên đường của tuổi thơ, nơi đã cho tôi những tình bạn trong sáng mà giờ đây khi hồi tưởng lại tôi vẫn thấy ấm áp cả trái tim…”, hay

    “Nhatrang, thành phố đó đã dạy cho tôi bài học đầu tiên về lòng nhân ái. Ông chú bà thiếm tôi là những người nhân ái như thế. Những người con của chú thiếm tôi cũng là những người nhân ái như thế. Nhưng tôi giống như một con vật bị săn đuổi vì thiếu cha, thiếu mẹ, chui rúc vào những hang động của tuổi thơ. Bãi biển đẹp nhất trên thế giới là nơi tôi tìm đến những ngày trốn học. Núp dưới bóng những gốc cây dừa, nằm giữa lùm cây trong rừng dương, hay ẩn mình trong hốc đá Hòn Chồng, tôi khám phá ra đời sống là một chuỗi những hạnh phúc và đớn đau, hay những đớn đau-hạnh phúc. Tôi thấy sự cô đơn trong đám đông và thấy cả nỗi ấm áp tình người trong sự cô độc…”

    Tôi liên tưởng Nha Trong, nơi tôi ở khi bé xíu, noi bố tôi làm viêc. Đấy cũng là quê xưa. Một quê hương mang theo trong tâm tưởng. Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn, quê hương tiềm ẩn trong ký ức, rất khó quên, lòng yêu mến quê hương mà quyển sách xưa của văn hào người Ý, Edmondo de Amicis, tác giả của danh tác “Tâm Hồn Cao Thượng” (Les Grands Coeurs, Cuore [Heart] 1886), kể về lòng yêu nước của cậu bé Thành Padova yêu thương quê hương, một dấu ấn cho nhiều chúng ta của một thuở đã qua. Một chế độ chính trị, một thể chế cầm quyền có thể vi phạm sai lầm bởi yếu tố nhân tai, nhưng quê hương bởi bản sắc không bao giờ sai trái cả. Hãy ca tụng nơi bạn sinh ra, dù quê làng thôn xóm có nghèo khổ, nhưng đó là quê hương bởi định nghĩa, bởi tình yêu cho quê hương, quê hương là nôi sưởi ấm trong góc nhớ trong tâm hồn của mỗi chúng ta. Mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương. Khi bỏ nước ra đi, chúng ta mang theo trong lòng một [những] khuôn mặt, một giọng nói, một màu áo, một tiếng rao quà … mà chúng ta không hề ngờ tới. Chỉ khi nào trái tim ta đau buốt vì thương cảm, hoặc nổ tung ra vì hạnh phúc ta mới chợt nhớ ra quê hương đang ở trong lòng ta. Cũng có khi quê hương sống dậy vì một chút nắng, hay một giọt mưa, một bãi cát [vàng] hay một con sóng biển, một mầu trời hay một tiếng nói mang âm hưởng của vùng quê ta, … lúc đó ta biết rằng không có chi ngăn nổi trí nhớ nóng bỏng của ta làm hiện ra những hình ảnh cũ. Bởi vì thật bất ngờ, đôi khi chỉ thoảng một “mùi hương” cũng đủ khơi dậy trong ta biết bao kỷ niệm quê hương.

    Nguyễn Xuân Hoàng tiếp:

    “Đối với tôi, thời tiết giá buốt những ngày cuối đông đầu xuân ở California gợi lại trong tôi biết bao điều về thành phố quê hương, nơi đã nhìn tôi lớn lên, đã thêu dệt trong tôi biết bao mộng ảo, đã đày đọa tôi tới chín tầng địa ngục.

    Nhatrang, đó là một thành phố của tình yêu và chia biệt, thành phố của những mối tình mùa hè, của những con sóng biển vô tình, những con dã tràng trên cát, những dấu chân bị nước cuốn đi không để lại một vết tích nào như thể trước đó nó không hề tồn tại…

    Tôi là người có hai quê: cha tôi ở bên Thành, mẹ tôi ở N.H. Nhatrang nằm ở giữa. Đường đi lên Thành-Citadelle gần, nhưng đường từ Nhatrang đi N.H. xa hơn, cách nhau tới hai ngọn đèo, đèo Rù Rì và đèo Rọ Tượng. Mẹ tôi người Minh Hương. Và N.H. có thể nói là thị trấn của những người Minh Hương. Tính chất Minh Hương ấy hiện lên rất rõ trong những ngày lễ lạc. Cả một thị trấn chiếm một khúc ngắn trên quốc lộ Một và tỉnh lộ Hai Mươi Mốt này gặp ngày lễ lớn người ta thấy bay rợp trời những lá cờ Trung Hoa, họa hoằn lắm mới thấy một vài lá cờ Việt Nam . Và ngay cả những người dân sống trên con lộ chính này cũng là những người Hoa. Bà dì tôi đúng là một người Hoa, Hoa một trăm phần trăm, Hoa từ mái tóc ngắn kiểu “bôm bê” đến giọng nói, từ cách sống đến lối nghĩ, từ quần áo của bà mặc đến lối trang trí nhà cửa … Thế nhưng mẹ tôi, lạ thay không có chút mảy may Tàu. Trái lại bà có cái vẻ bề ngoài của một phụ nữ tây phương hơn là một người Á đông. Chỉ có y phục, cách ăn uống, cách dạy con, sự xuề xòa, giọng nói của bà là Việt Nam mà thôi. Bà giống một phụ nữ Việt nghèo khổ hơn là một người Hoa giàu có. [Những người Hoa trong thị trấn nhỏ này chỉ có người giàu chớ không có người nghèo]. Nhưng thời gian tôi ở với mẹ và cha tôi ít hơn là thời gian tôi ở với chú thiếm tôi ở thành phố Nhatrang. Và làng Quang Thạnh, quê của cha tôi, nơi tôi còn có những thân thích ruột thịt khác, những ông chú hiền lành, những ông bác khó tính, những bà cô khắc nghiệt, những người anh em họ hàng cùng lứa tuổi tôi gần gũi một cách nhạt nhẽo,… Tôi là một người khách lạ trong ngôi nhà trọ.

    Gần như cả ngôi làng đó chỉ gồm toàn những người trong dòng họ nhà tôi. Cái bánh xe nước trong phim “Chúng Tôi Muốn Sống” do Lê Quỳnh đóng với Mai Trâm và Thu Trang thuộc vùng đất nhà từ đường phía cha tôi. Tôi không ở với cha tôi, mà cũng không ở với mẹ tôi. Tôi xa gia đtình từ nhỏ. Tôi ở nhà chú tôi vì cha tôi muốn tôi ở nhà quê, và vì mẹ tôi muốn tôi “phải đi học”. Chú tôi làm việc ở toà tỉnh Nhatrang, lúc đầu nhà ở đường Hoàng Tử Cảnh, sau dọn về đường Yersin. Ông chỉ là một công chức thường, lương ba cọc ba đồng, còn thiếm tôi thì vì sức khoẻ kém, gần như chỉ suốt ngày quanh quẩn trong nhà lo cho đàn con. Vậy mà chú thiếm tôi phải nuôi thêm một miệng ăn ngoài một đàn con gần mười đứa, không một lời than văn. Chú thiếm tôi rất thương tôi, những đứa em tôi, con của chú thiếm tôi, cũng tử tế với tôi như một người anh ruột. Nhưng tôi sớm nhận ra mình chỉ là một đứa bé lạc loài, một kẻ ăn nhờ ở đậu, một miệng ăn gây nhiều khó khăn cho một gia đình đông đúc. Và thế đó mà tôi lớn lên, lớn lên trong một đời sống tâm hồn khốn khổ, giữa một thành phố thơ mộng và đẹp đẽ là Nhatrang. Tôi không ở lâu trong một ngôi nhà nào. Mỗi nhà chứa tôi trong một thời gian ngắn.

    Nhatrang, thành phố của biển xanh, và cát trắng, của rừng dương, rừng dừa, của Hòn Chồng, Cầu Đá, của cầu Hà Ra, Xóm Bống, của Tháp Bà, của Lương Sơn, Đồng Đế, …Nhatrang, thành phố ấy bao giờ cũng dính chặt vào trí nhớ tôi. Ngôi trường tiểu học là thiên đường của tuổi thơ, nơi đã cho tôi những tình bạn trong sáng mà giờ đây khi hồi tưởng lại tôi vẫn thấy ấm áp cả trái tim. Những Đoàn Lân, Lê Văn Quyền, Tôn Thất Lưu, Trần Lâm Cao, và Hà Thúc Nhơn, Duy Năng, Trần Ngọc Bích, Dương Hồng Ngọc, Trương Hồng Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Huỳnh Tấn…những người bạn gái như Bích Ngô, Bích Hường, Hoàng Thị Ngọc Táo, Minh Nguyệt, …những ông anh bà chị như Như Phú, Tuý Hoa, Dạ Khê, Nguyễn Hữu Trí, …những đứa em Hoàng Bắc, Ngọc Trúc, Liên Châu, Chúc, …và cả những người “yêu” Odette, Bạch Mai, Bích nếu tôi được phép gọi như thế. Những bạn ấy có người vẫn còn ở thành phố này nơi tôi đang sống, cũng có người đang ở những tiểu bang khác, những quốc gia khác…. Có người còn sống có người đã chết, nhưng dù đang có mặt tại đây nơi xứ lạ quê người, hay vẫn còn ở quê nhà bao giờ gặp lại hay nhắc đến cũng đều gợi lại trong tôi những tình cảm tốt đẹp, trong sáng, và thơ dại, như thể chỉ có trong những chuyện cổ tích hơn là ngoài đời.

    Nhatrang, tên gọi đó với tôi không phải chỉ một thành phố, đó là một gia đình. Không phải gia đình được định nghĩa là một tổ ấm gồm cha mẹ con cái và anh em. Gia đình tôi trong những ngày cắp sách đến trường là những ngôi nhà luôn luôn thay đổi. Có khi là nhà bà Dì trên Xóm Mã Lạng; có khi là nhà bà Cô ở Rạch Rau Muống. Có khi là nhà ông Chú ở Hoàng Tử Cảnh. Nếu những bữa cơm gia đình tôi đói tình thương thì chính những giờ học làm tôi no nê kiến thức và tình cảm. Những ông thầy bà cô tôi là những khuôn mẫu đẹp đẽ không bao giờ phai trong trí nhớ tôi. Cả một thành phố Nhatrang là gia đình tôi. Lớp học, bãi biển, rừng dương, bầu trời, ngọn gió, tình bạn,…. Đó mới chính là gia đình tôi…

    Nhatrang, thành phố đó đã dạy cho tôi bài học đầu tiên về lòng nhân ái. Ông chú bà thiếm tôi là những người nhân ái như thế. Những người con của chú thiếm tôi cũng là những người nhân ái như thế. Nhưng tôi giống như một con vật bị săn đuổi vì thiếu cha, thiếu mẹ, chui rúc vào những hang động của tuổi thơ. Bãi biển đẹp nhất trên thế giới là nơi tôi tìm đến những ngày trốn học. Núp dưới bóng những gốc cây dừa, nằm giữa lùm cây trong rừng dương, hay ẩn mình trong hốc đá Hòn Chồng, tôi khám phá ra đời sống là một chuỗi những hạnh phúc và đớn đau, hay những đớn đau-hạnh phúc. Tôi thấy sự cô đơn trong đám đông và thấy cả nỗi ấm áp tình người trong sự cô độc. Tôi không phải là học sinh giỏi. Tôi càng không phải là một học sinh thông minh. Tôi chỉ là một đứa bé thấy thích thứ gì thì cố mà đi tìm hiểu cho ra thứ đó. Thủa đó tôi không tìm ra chữ nào phù hợp với suy nghĩ của tôi, nhưng gần đây tôi giật mình đọc được tựa đề một cuốn truyện dịch từ tác phẩm của Colleen McCullogh, The Thorn Birds, mà tôi rất “thích”: Tôi là một trong “Những con chim ẩn mình chờ chết”.

    Tôi xa Nhatrang đã lâu. Lâu lắm. Tôi đã đi nhiều nơi, nhiều thành phố, nhiều nước. Tôi đã gặp gỡ nhiều người. Những người thông minh, khôn ngoan, đẹp đẽ, giàu có, sang trọng. Những người nghèo khó, vô gia cư, vô nghề nghiệp. Những người tha phương cầu thực. Tôi đã sống với họ, đã chia xẻ nỗi đau với họ. Tôi khám phá ra hình như tôi gần gũi hơn với những ngưòi cùng khổ. Tôi cũng là nạn nhân của bọn người hãnh tiến, bọn ăn xổi ở thì. Nhưng thật ra, họ giàu hay họ nghèo, họ có chức tước danh vọng hay họ chỉ là những người thường dân vô danh …bao giờ tôi cũng yêu thương họ. Yêu thương những con người bị đọa đày và tội nghiệp cho sự hãnh tiến của những kẻ số đỏ. Yêu thương sự chân thật lòng nhân ái của người này, và tha thứ những dối trá lọc lừa của người kia. Yêu thương cả những người trưóc đây từng chà đạp lên nỗi đau khổ của tôi. Cũng như tôi đã từng yêu thương những lằn roi xé thịt của cha tôi nhiều lần giáng xuống thân thể run rẩy của tôi, yêu thương những giọt nước mắt của mẹ tôi từng khóc vì tôi làm mẹ khổ.

    Chính thành phố Nhatrang với biển khơi mênh mông của nó, rừng dương xanh đầy gai góc của nó, …đã trở lại với tôi. Nhatrang ở trong trái tim tôi. Nó nhắc tôi nhìn ra sự phù du và phù phiếm, nó chỉ cho tôi “ngoài trời có trời”, “ngoài biển có biển”. Chiều nay, tôi đi một mình đến Huntington Beach, một chút biển ở Cali để tìm ra một chút biển Nhatrang. Trên chiếc cầu bắc cao trên bờ cát một buổi tối tôi đã nhìn thấy biển đêm, nhìn thấy quê hương tôi mờ mịt. Tôi quên mất quá khứ, tôi không có tương lai. Và hiện tại? Tôi là “con chim ẩn mình chờ chết”…(Nguyễn Xuân Hoàng, California 1 tháng Ba, 1996).

    Để kết thúc bài viết “Mười Năm – Nhớ Nguyễn Xuân Hoàng” cho tạp san Văn Học Mới, nhà thơ Hà Nguyên Du bảo “Nhớ ông Hoàng quá, ông phải viết cho thầy Hoàng Petrus Ký. Tôi nghe anh Hà Nguyên Du, khi thầy Hoàng ở tuổi mới lớn, ông lấy bút danh là Hoang Vu. Có thể Nguyễn Xuân Hoàng vẫn thao thức với bài thơ duy nhất của mình. Tựa bài thơ là Mang Mang… Rất triết tính và rất thiền tính mặc dù xa gần nói đến cái chết…

    Mang Mang

    Từ xa phố chợ đến giờ

    chân quen bỏ lệ gõ bờ lộ quen

    hoang vu chín đến độ thèm

    lạnh tàn nhẫn rót vào đêm lên đường

    mùa sương phố núi mù sương

    nhịp buồn hút gió hồn nương sao rừng

    chuyện linh hồn với bản thân

    bàn tay thượng đế mộ phần chiêm bao

    đồi thông xanh tóc nghẹn ngào

    ngập ngừng lạnh xuống từ bao lâu rồi

    còn tôi, còn chỉ mình tôi

    mây bay đầu núi kéo trời lên xa

    bàn tay thoáng nổi da gà

    thẳm sâu lòng đất nhà ga luân hồi

    Hoang Vu (Nguyễn Xuân Hoàng)

    ———————————————————————–

    Kỷ niệm Mười năm Nguyễn Xuân Hoàng vãng sanh tiên giới và mây bay đầu núi kéo trời lên xa, thẳm sâu lòng đất nhà ga luân hồi,…

    Việt Hải Los Angeles, lớp 12B4, Promo 1972, Mùa Hè Đỏ Lửa, Petrus Ký của nước VNCH (NEVER HỒ). 

  • Âm nhạc,  Lê Nguyễn Nga

    MẸ RU CON

    HAPPY MOTHER’S DAY

    MẸ RU CON

    Mẹ ru con ngủ hàng ngày

    Tiếng ru thấm mãi ơn dầy nghĩa cao          

    Con ơi hãy ngủ đi nào

    Đêm khuya thao thức dạt dào tinh sâu        

    Dòng sữa Mẹ qúa ngọt ngào                   

    Nuôi con khôn lớn mong sao nên người

    Con ngủ say nét môi cười

    Tiếng Mẹ ru mãi suốt đời không thôi

    Con nay khôn lớn rạng ngời

    Sức Mẹ luôn đã ngược xuôi, mỏi mòn

    Tuổi đời chồng chất như non

    Mẹ thương theo gót chân con, giúp tròn

    Mẹ tôi nay đã không còn

    Ơn sâu tình Mẹ núi non sánh bằng

    Đời con, những bước gian nan

    Mẹ tôi luôn mãi cưu mang mọi đàng  

    Mẹ ơi hoa nở rồi tàn

    Tình Mẹ như thác trên ngàn không ngưng

    Nhớ Mẹ nước mắt rưng rưng

    Cánh hoa dâng Mẹ nhớ nhung ngập tràn.

    Lê Nguyễn Nga

    Ngày Lễ Mẹ 2020

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Viet-Hải

    Những tác dụng bất ngờ của hạt hồ đào đối với sức khỏe

    Hạt Hồ Đào (Pecan)

    Hạt Óc Chó (Walnut)

    Hạt hồ đào (pecan) thường bị nhầm lẫn với hạt óc chó (Walnut). Đây là loại quả hạch có nhiều công dụng đối với sức khỏe. Loại hạt được giáo sư đại học Mỹ ngợi khen vì tác dụng giảm mỡ máu tuyệt vời: Có…

    1. Giá trị dinh dưỡng của hạt hồ đào

    Hồ đào đặc biệt giàu các chất dinh dưỡng quan trọng, điển hình như chất xơ, thiamine và kẽm. Khoảng 28g hạt hồ đào có chứa: 196 calo, 2,5g chất đạm, 20,5g chất béo, 4g tinh bột, 2,7g chất xơ, 38% DV đồng, 16% DV thiamine (vitamin B1), – 12% DV kẽm, 8% DV Magie, 6% DV phốt pho, 4% DV sắt.

    Đồng được biết đến là một khoáng chất quan trong có liên quan tới chức năng tế bào thần kinh, sức khỏe hệ miễn dịch và tăng sinh tế bào hồng cầu. Trong khi đó thiamine rất cần thiết trong quá trình chuyển hóa carbohydrate thành năng lượng cung cấp cho các hoạt động của cơ thể. Kẽm trong hạt hồ đào cần thiết cho chức năng miễn dịch, sự phát triển của tế bào, chức năng não và thúc đẩy quá trình chữa lành vết thương.

    2. Những tác dụng của hạt hồ đào đối với sức khỏe

    Dưới đây là một số tác dụng của hạt hồ đào đối với sức khỏe dựa trên các nghiên cứu khoa học được đăng tải trên NCBI:

    2.1. Chống tăng cân quá mức: Theo Medical News Today, mới đây các nhà nghiên cứu tại NIH cho biết, những con chuột được ăn chế độ ăn nhiều chất béo bao gồm hạt hồ đào nguyên hạt hoặc chiết xuất polyphenol từ hồ đào có thể chống lại bệnh béo phì và gan nhiễm mỡ so với những con chuột có chế độ ăn nhiều chất béo nhưng không có hạt hồ đào hay chiết xuất hạt hồ đào.

    Theo nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí Nutritions hồi tháng 5 năm 2023 này thì các lợi ích thu được khi thêm hạt hồ đào vào chế độ ăn của chuột cho thấy quá trình đốt cháy năng lượng của cơ thể được tăng cường, từ đó giúp kiểm soát cân nặng và sức khỏe tổng thể. Bên cạnh đó, các lợi ích bổ sung bao gồm giảm cholesterol, kháng insulin và giảm viêm.

    Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng khi quan sát có sự giảm kích thước và hiện diện của các tế bào miễn dịch ở cả tế bào mỡ dưới da và nội tạng – thường được biết tới là nguyên nhân gây viêm nhiễm và các biến chứng có liên quan tới béo phì.

    2.2. Đặc tính chống viêm mạnh mẽ: Theo WebMD, hạt hồ đào chứa chất béo omega-3 có thể giúp giảm viêm do viêm khớp. Khi kết hợp với magie, canxi, chất xơ, viamin E và kẽm cho thấy loại hạt này có đặc tính chống viêm mạnh mẽ.

    Trong bảng xếp hạng hơn 100 loại thực phẩm theo mức độ chống oxy hóa của USDA thì hạt hồ đào nằm ở top 20. Cũng nhờ giàu chất chống oxy hóa và kháng viêm mà bổ sung hạt hồ đào vào chế độ ăn cũng giúp nâng cao hệ miễn dịch để chống lại nhiễm trùng và sửa chữa các tổn thương sẵn có. Folate trong hạt hồ đào cũng đang được xem xét với công dụng bảo vệ chống lại những thay đổi đối với DNA – nguy cơ dẫn tới ung thư.

    2.3. Cải thiện sức khỏe tim mạch: Theo Healthline, hạt hồ đào là một nguồn axit béo không bão hòa đơn tuyệt vời có lợi cho sức khỏe tim mạch. Theo đó, ăn 30g hạt hồ đào mỗi ngày trong 12 tuần giúp cải thiện tỷ lệ cholesterol có lợi so với cholesterol xấu ở những người mắc bệnh động mạch vành.

    Một nghiên cứu khác ở những người có lượng cholesterol bình thường bổ sung 68g hạt hồ đào mỗi ngày cũng cho thấy lượng cholesterol có hại giảm đáng kể sau 8 tuần so với nhóm không thêm bất kì loại hạt nào vào chế độ ăn.

    Bên cạnh đó, hạt hồ đào cũng giàu magie, canxi và kali tốt giúp giảm huyết áp hiệu quả. Hơn nữa việc giảm lượng cholesterol có hại sẽ giảm nguy cơ đột quỵ hoặc đau tim.

    2.4. Ổn định đường huyết: Theo Healthline, hạt hồ đào có thể thúc đẩy việc kiểm soát lượng đường trong máu tốt hơn nhờ hàm lượng chất xơ dồi dào – giúp làm chậm quá trình hấp thụ đường vào máu. Tác dụng này đặc biệt có lợi đối với những người bị tiểu đường, nhóm bị thừa cân hoặc béo phì để cải thiện khả năng sử dụng insulin hiệu quả của cơ thể.

    Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các loại hạt có thể giúp ngăn ngừa bệnh tim ở những người mắc bệnh tiểu đường. Ăn nhẹ các loại hạt khi đói sẽ giúp bạn cảm thấy no, giúp bạn dễ dàng tránh các thực phẩm giàu carb và kiểm soát lượng đường trong máu.

    Hơn nữa chế độ ăn này cũng giúp cải thiện chức năng của các tế bào beta trong tuyến tụy, chịu trách nhiệm với việc sản xuất insulin.

    Ngoài ra, hạt hồ đào có chỉ số đường huyết rất thấp, có nghĩa là ăn chúng không làm tăng lượng đường trong máu, ngay cả ở những người mắc bệnh tiểu đường. Ăn quả hồ đào thậm chí có thể bù đắp tác động của thực phẩm có chỉ số đường huyết cao hơn khi ăn như một phần của cùng một bữa ăn.

    2.5. Thúc đẩy chức năng não bộ: Hạt hồ đào chứa nhiều chất dinh dưỡng đem lại những tác dụng liên quan tới việc cải thiện chức năng não bộ bao gồm cả người lớn tuổi bị suy giảm nhận thức chẳng hạn như axit béo không bão hòa đơn và đa.

    Đặc biệt, axit béo không bão hòa đơn có liên quan tới việc giảm tỷ lệ suy giảm tinh thần và giảm viêm cho cơ thể. Tuy vậy những nghiên cứu về chức năng này vẫn đang hạn chế về các số liệu liên quan tới mức độ ảnh hưởng trực tiếp của hạt hồ đào tới chức năng não bộ như thế nào.

    3. Nhược điểm tiềm ẩn:

    Mặc dù hạt hồ đào có liên quan tới một số lợi ích sức khỏe tiềm năng nhưng có một số vấn đề cần lưu ý:

    – Không nên ăn hạt hồ đào nếu bạn có tiền sử dị ứng với các hạt, quả hạch trước đó như hạnh nhân, hạt điều, hạt dẻ và quả óc chó

    – Hàm lượng calo của 28g hạt hồ đào tương đương gần 200calo – tương đối cao nên việc ăn nhiều khẩu phần có thể làm tăng lượng calo tiêu thụ hàng ngày của bạn. Bạn cần cố gắng kiểm soát lượng calo bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống hoặc tăng mức độ hoạt động thể chất khi thêm hạt hồ đào vào chế độ ăn hàng ngay.

    4. Phân biệt quả óc chó và hạt hồ đào

    Hồ đào và óc chó đều thuộc nhóm quả hạch nhưng là hai loại khác nhau. Bạn có thể phân biệt dựa trên hình dáng và mùi vị, cụ thể:

    – Hình dáng của hai loại hạt tương đối giống nhau đều có các rãnh nhăn nhưng khác nhau về màu sắc:

    + Hạt óc chó có màu vàng sáng (vàng sữa)

    + Hạt hồ đào có màu vàng hoặc nâu sẫm

    – Mùi vị:

    + Hạt óc chó khi ăn có vị chát ở đầu lưỡi

    + Hạt hồ đào có vị ngọt hơn.

    Nhìn chung, hồ đào là một loại hạt tốt cho sức khỏe nhưng bạn chỉ nên ăn tối đa mỗi ngày một khẩu phần khoảng 28g để tránh tiêu thụ quá nhiều chất xơ gây khó chịu cho hệ tiêu hóa. Nếu băn khoăn về dị ứng hay tình trạng sức khỏe, bạn nên liên hệ với bác sĩ để nhận được lời khuyên phù hợp.

    ——————————————————————

    Pecan, hạt hồ đào giàu dinh dưỡng cho sức khỏe

    May 9, 2024: SAN DIEGO, California (NV) – Nói đến “superfood” người ta thường nghĩ ngay đến pecan, hay còn biết đến với cái tên là hạt hồ đào với vị thơm bùi đặc trưng. Đây là một trong những thực phẩm rất phổ biến mà bạn có thể chế biến nhiều cách khác nhau, không chỉ dùng trong bánh nướng, các món ăn mặn mà còn có thể dùng như một ăn vặt, đem lại năng lượng cho cơ thể, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, theo trang mạng mindbodygreen hôm 14 Tháng Ba. Hạt pecan có chất xơ, thiamine, zinc và manganium, là các khoáng chất cần thiết cho quá trình trao đổi chất và sức khỏe của xương. (Hình minh họa: Antoni Shkraba/Pexels)

    Thành phần dinh dưỡng của pecan

    Mỗi 1 oz pecan có đến 3 gram protein, 4 gram carbohydrate và 18 gram chất béo không bão hòa đơn, bao gồm cả oleic acid và chỉ có 2 gram chất béo bão hòa. Ngoài ra, trong hồ đào còn có chất xơ, thiamine, zinc và manganium, là các khoáng chất cần thiết cho quá trình trao đổi chất và sức khỏe của xương.

    Món ăn vặt lành mạnh không thể chê

    Ngành công nghiệp thực phẩm luôn thay đổi không ngừng và họ luôn tìm ra những công nghệ và thực phẩm mới để làm sao vừa có thể tiện lợi cho người dùng nhưng cũng vừa bảo đảm lành mạnh cho cơ thể. Trong đó, pecan là loại hạt được để ý hơn cả vì nó có thể thay thế các món ăn vặt khác mà vẫn tạo cảm giác ngon miệng, thơm ngon mà vẫn đầy đủ dưỡng chất.

    Ngoài ra, hạt pecan có chứa đến 3 gram protein, nhưng không có gì là ngạc nhiên khi nó trở thành nguồn thực phẩm cung cấp năng lượng cho các vận động viên mỗi khi tập luyện hay cần phải hồi phục lại sức lực để duy trì sự bền bỉ.

    Bánh pie hồ đào rất phổ biến ở Mỹ.

    Bạn có thể dùng hồ đào như một topping cho nhiều món ăn, từ món yến mạch điểm tâm, bánh pudding hay thậm chí là cả sữa chua. Thay vì uống các loại sữa hạt như sữa hạnh nhân, sữa đậu nành thì bạn có thể tìm kiếm sữa hồ đào để uống, đem lại hương vị béo béo, bùi bùi. Ngoài ra bạn còn có thể dùng sữa hồ đào để pha cà phê sữa hoặc làm sinh tố, đem lại một thức uống bổ dưỡng mà không có quá nhiều calories.

    Thêm một bí quyết nữa là hạt pecan được dùng rất nhiều trong các món bánh tráng miệng, đặc biệt là dùng để làm bánh quy, bánh quế và các vỏ bánh pie đặc sắc của người Mỹ. Không chỉ vậy, hạt hồ đào hiện nay còn được dùng trong rất nhiều món ăn chay, là nguồn nguyên liệu lý tưởng để ăn kèm với bánh mì và các loại salad khác.

    Việt Hải sưu tầm

  • Kiều My,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt,  Tin tức

    Buổi Ra Mắt Hồi Ký: NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ CỦA NV PHẠM GIA ĐẠI

    Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian chào mừng NV Phạm Gia Đại ra tác phẩm

    Tập hồi ký “Người Muôn Năm Cũcủa nhà văn Phạm Gia Đại được ra mắt cùng độc giả ngày Chủ nhật 5 tháng Năm 2024 vừa qua, trong không khí vui tươi giữa không gian ấm cúng của Westminster Community Center tại thành phố Westminster, Nam California.

    Thiên nhiên đã ưu đãi cho thủ đô người Việt tị nạn một ngày đẹp trời của tiết Xuân…  mát mẻ dịu dàng. Người người nô nức về đây cùng tham dự buổi ra mắt sách của nhà văn, kiêm bình luận gia Phạm Gia Đại của đài truyền hình VCAL TV, mà mọi người rất quý mến. Bằng sự nhiệt tình, độc giả đã mở rộng vòng tay đón nhận quyển hồi ký thứ hai mang tên NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ của nhà văn Phạm Gia Đại, sau tập hồi ký thứ nhất NHỮNG NGƯỜI TÙ CUỐI CÙNG xuất bản năm 2011, thành công mỹ mãn.

     Với sự tham dự đông đảo của nhiều thành phần trong cộng đồng người Việt tại thủ đô tị nạn Hoa Kỳ, trong sự kiện đặc biệt này. Chúng ta nhận thấy có sự góp mặt của GS. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa và phu nhân Ngọc Hà, các cựu quân nhân Sư đoàn 5 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những cựu tù nhân chính trị và hình sự; nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gồm có: Thụy Lan, Mộng Thủy, Minh Khai, Minh Châu, Minh Thư v.v… Những nhà văn tên tuổi như: Nguyễn Quang,Vương Trùng Dương, nhà thơ Lê Nguyễn Nga, nhà văn Khánh Lan và phu quân Mạnh Bỗng,Nhà văn ký giả Kiều Mỹ Duyên và nhà văn Kiều My…các thân hữu, quan khách và những hội đoàn: đặc biệt với sự hổ trợ của gia đình tác giả từ khắp nơi tề tựu về; khiến khánh phòng trở nên rộn rịp như một ngày hội.

    GS Lê Văn Khoa & Phu Nhân, C Ngọc Hà và tác giả: NV Phạm Gia Đại

     Susan Tạ, Khánh Lan, Minh Khai, Thụy Lan, Kiều My, Minh Thư   

    Tác giả Phạm Gia Đại cùng những người bạn tù

    Quang Cảnh của hội trường Westminster trong ngày RMS

    Khai mạc chương trình là nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa kỳ trong sự trang nghiêm cung kính…Người Việt hải ngoại cùng một lòng hướng về Tổ quốc Việt Nam thân yêu, dù nghìn trùng xa cách. Cũng như thế, mọi người kính cẩn nghiêng mình trước lá cờ Hoa Kỳ, bày tỏ lòng tri ân đối với nhân dân và đất nước này đã cưu mang những người Việt tị nạn CS. Sau đó, một phút mặc niệm trong thinh lặng thật cảm động, bùi ngùi thương cảm cho những chiến sĩ QLVNCH, dân quân cán chính, những người tranh đấu cho tự do, nhân quyền đã hy sinh vì Tổ quốc. Ngoài ra, sau 1975, hàng trăm ngàn nạn nhân xấu số đã vùi thây dưới lòng biển cả hay những nơi rừng thiêng nước độc trên con đường thoát hiểm đi tìm Tự do.

    Ca khúc Ai Trở Về Xứ Việt: thơ cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ nhạc, mở đầu chương trình văn nghệ qua phần trình diễn của ca sĩ MC. Bích Ngọc…

    MC Ngọc Bich và NV Phạm Gia Đại

    Ký Giả Kiều Mỹ Duyên:

    Nữ ký giả tài ba Kiều Mỹ Duyên đảm trách nhiều vai trò, vừa là ký giả, nhà báo, đồng thời là nhà văn. Bà là tác giả của 2 tác phẩm xuất sắc đã được xuất bản, đó là: “Chinh Chiến Điêu Linh” và “Hoa Cỏ Bên Đường”.

    Nữ ký giả đã viết về hồi ký “Người Muôn Năm Cũ” như sau: “Nhà văn Phạm Gia Đại ở tù 17 năm vẫn còn sinh tiền, đã viết ra những nỗi khốn khổ nhất trên trần gian cho chúng ta đọc. Ông là người sống hết lòng với Tổ Quốc, có niềm tin tôn giáo mãnh liệt, yêu thương Mẹ và tha nhân, biết ơn cuộc đời, biết ơn mọi người đã giúp ông sống sót qua những năm tháng tối tăm nhất trong ngục tù CS. Người mà ông mang ơn nhất là thân mẫu của ông. Ông ngưỡng mộ những vị lãnh đạo tinh thần qua những việc làm bình thường nhưng rất phi thường của ngài Thượng tọa Thích Thanh Long.”

    Trong LỜI TỰA ở trang đầu của tác phẩm Người Muôn Năm Cũ, ký giả Kiều Mỹ Duyên đã viết: “Cố gắng để sinh tồn, để vươn lên dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã. Trong khốn cùng mới thấy nghị lực phi thường và sĩ khí của người tù. Hãy đọc hồi ký NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ của nhà văn Phạm Gia Đại để thấy đời vẫn đẹp sao, để thấy rằng mình vẫn còn may mắn và hạnh phúc. Hãy tu nhân tích đức để mai này ra đi nếu được trở lại trần gian sẽ không phải trầm luân và có cuộc đời an vui hạnh phúc.”

    Nhà Văn Ký giả Kiều Mỹ Duyên

    Nhà văn, diễn giả Phạm Gia Đại:

    Có thể nói: đây là tiết mục xuất sắc nhất trong chương trình. Nhà văn Phạm Gia Đại kiêm diễn giả, trình bày về hồi ký “Người Muôn Năm Cũ,” thật tuyệt vời! Trong suốt một giờ đồng hồ qua phần trình bày về tác phẩm của ông, mọi người trong khán phòng thinh lặng, lắng nghe…cảm động và thán phục!

    Cả hội trường cùng trở về quá khứ với ông trong “Người Muôn Năm Cũ”, để cùng chia sẻ những ngày tháng tù đày của những người tù khốn khổ trong những trại tù “cải tạo” của CSVN. Dưới ngòi bút với lối văn phong trong sáng của tác giả, nhưhọa sĩ tài ba, đã vẽ lại bức tranh u ám về thảm cảnh đau khổ tột cùng của những tù nhân còm cõi không còn dáng dấp của con người. Tâm trí cũng như thể xác họ đã bị tê liệt bởi sự đọa đày khủng khiếp của những tên cai ngục lòng lang dạ thú, với dã tâm giết người tù chính trị chết lần mòn trong những trại giam tập trung. Người tù bị tra tấn hằng ngày qua nhiều hình thức như: bỏ đói, hành xác, lao động khổ sai, kết hợp rất tinh vi với tra tấn tinh thần qua những buổi học tập để nghe chính trị viên khoác lác tô vẽ về thiên đường ảo tưởng “Xã hội chủ nghĩa.” Những tay sai này có cơ hội lên án tù nhân chế độ cũ, hầu biện minh cho việc chính quyền Hà Nội đã giam cầm họ quá lâu, so với sự tuyên truyền “khoan hồng nhân đạo” khi mới chiếm đoạt miền Nam.

    NV Phạm Gia Đại

    Những người tù cuối cùng được sống sót thoát khỏi trại giam giết người sau 17 năm, có thể nói, đó là “một phép mầu”! Nhờ vào nhiều yếu tố thiết yếu như: sự tiếp tế lương thực, thuốc men, quần áo ấm, các vật dụng cần thiết…từ gia đình; nhờ vào sự tranh đấu bền bỉ và khốc liệt của nhiều cá nhân và đoàn thể với chính phủ Hoa Kỳ; nhờ vào sức chịu đựng phi thường của người tù, vượt lên trên tất cả những gì bình thường nhất về sức người trong cuộc đời. Ngoài yếu tố gia đình, tình đồng đội, sức chịu đựng phi thường của người tù – niềm tin vào đấng thiêng liêng là sức mạnh đã giúp họ sống sót. Lại thêm tấm lòng nhân bản của người tù đã xoay chuyển được cơn sóng dữ trong thảm trạng, trở thành một sự thường tình để chấp nhận và chịu đựng trong hoàn cảnh thiếu sống thừa chết.

    Trải qua sóng gió của kiếp tù đày khổ sai trong ngục tù CS, nhà văn Phạm Gia Đại đã hít thở được không khí tự do, đã được nhìn thấy ánh bình minh cuối đời mình ở miền đất hứa…Đi lần về quá khứ để tìm những “Người Muôn Năm Cũ,” mà quãng đời còn lại của tác giả sẽ chẳng bao giờ quên. Hình ảnh gia đình thân thương từ những ngày còn ở Hải Phòng bên cha mẹ cùng những anh em, rồi di tản vào miền Nam qua hiệp định Geneve 1954, chia đôi đất nước. Sau khi di cư vào Nam, người cha qua đời vì bạo bệnh, Mẹ phải gánh vác hết mọi việc. Sau đó là biến cố miền Nam sụp đổ tháng 4, 1975. Tác giả đi tù khổ sai suốt 17 năm dài và hai người anh cũng đi tù nhưng được thả sớm hơn. Trong giai đoạn khó khăn sống chết này, chính người Mẹ đã chắt chiu từng đồng để gửi quà nuôi ba anh em trong tù. Ôi…tình thương của Mẹ dành cho con quá đổi bao la như biển cả, khiến ông luôn tưởng nhớ đến Mẹ, dù bà đã về cõi vĩnh hằng. Ngoài ra, còn gia đình những người em từ bên Mỹ cũng gửi quà về nuôi hai anh được kéo dài cuộc sống mõi mòn trong cảnh tù đày cho đến khi ra tù. Thuốc men, thực phẩm do gia đình gửi vào tù, nhờ vậy mà các bạn tù cũng được chia sẻ trong tình người (theo lời Mẹ ông căn dặn) – “một miếng khi đói bằng một gói khi no” vậy!

    Trở về những ngày tháng tuổi học trò dù đã xa xưa lắm, nhưng tác giả vẫn nhớ đến những người bạn cũ với những kỷ niệm tuy đơn sơ, nhưng chan chứa tình cảm dạt dào của thời niên thiếu. Cậu bé tên Nam, người bạn đầu tiên của những lớp tiểu học ở bến Chương Dương, khi mới di cư vào Nam. Hai bạn Nguyễn văn Duyệt và Đặng Trần Đắc là hai người bạn thân ở bậc trung học. Khi định cư ở Hoa Kỳ, tác giả có dịp hội ngộ với bạn Đắc tại California; và chính Đắc là người đầu tiên khuyến khích Phạm Gia Đại viết quyển hồi ký thứ nhất “Những Người Tù Cuối Cùng” Trong “Người Muôn Năm Cũ”, có Lâm Minh Hạnh là bạn đồng nghiệp của tác giả làm việc tại Trung Tâm Chiêu Hồi Thị Nghè vào những năm 1966-1970. Đã nhiều năm xa cách, và cũng có duyên hội ngộ tại California cách đây vài năm.

    Trong trận đại hồng thủy 1975, đã cuốn trôi một số lớn người vào những ngục tù tăm tối của CS, và họ nghĩ rằng cuộc đời mình sẽ vĩnh viễn chôn vùi trong đó. Nhưng may mắn thay! Tác giả đã gặp được những vị thầy, những ân nhân, những người bạn tù… đã giúp ông thêm kiến thức sâu sắc về chính trị và củng cố lập trường quốc gia vững chắc hơn. Những ân nhân này là thầy Tâm, Hòa thượng Thích Thiện Chánh và Thượng tọa Thích Thanh Long, là những bậc thầy đáng kính. Bên cạnh đó, còn có anh Thạnh, Lạng và Kiên trong tổ điện…là những người đã từng chia sẻ khổ đau với tác giả trong những ngày dài tù rạc.

    Ngày ra tù là ngày chan chứa bao nỗi vui mừng, biết rằng mình vẫn sống còn để chờ ngày đi định cư Hoa Kỳ đoàn tụ với những người thân yêu. Trong thời gian này, tác giả đã kết thân với Jum Bum Seo, là C.E.O Đại Hàn trong công ty sản xuất giày thể thao Hừng Sáng, nơi tác giả làm việc. Một tình bạn mà tác giả không hề quên vì lòng tốt của bạn, là người an ủi ông trong những ngày tháng cô đơn, buồn bã khi ra tù ở Saigon.

    Những “Người Muôn Năm Cũ” trong ký ức của tác giả còn có những người bạn tù đã cùng sống chết, chia sẻ với nhau trong những ngày đen tối, khổ ải của mười mấy năm chốn địa ngục. Họ là “những người tù cuối cùng” được thả sau 17 năm bị giam cầm gồm  những thành phần như: tình báo, cảnh sát đặc biệt, an ninh quân đội, quân báo , trinh sát v. v…Là những người bạn vong niên mà tác giả nhớ nhiều nhất như: Hoàng Lãm, Trần quang Lựu, Nguyễn văn Quí, Lê Hữu Minh v.v…anh hồi chánh Miên. Ngay cả con chó trung thành Pepsi, chủ nhân của nó là Hoàng Hiểu luôn đi lẽo đẽo với những người tù ra bãi lao động, hay chạy lăn xăn theo đội đứng chờ điểm danh nhập trai, cũng là một thành viên của “người muôn năm cũ” luôn hiện diện trong ký ức của tác giả.

    Sau cùng, chúng ta hãy luôn tưởng nhớ và tri ân hàng triệu quân dân cán chính VNCH, đã nằm xuống cho Tự Do, cho nền Dân chủ miền Nam, Việt Nam. Trong “Những Người Tù Cuối Cùng” đó, có những người đã là những ánh sao rơi rụng dưới bầu trời tự do, vì tuổi đã già, sức đã yếu sau những năm dài tù đày. Xin hãy an nghĩ chốn vĩnh hằng, nơi không còn đau thương đọa đày, không có chiến tranh tàn khốc, nơi có ánh sáng hiền hòa chào đón các anh! Nguyện thắp nén hương lòng để tưởng nhớ và tri ân các vị anh hùng đã hy sinh cho Tổ quốc Việt Nam!

    Sau khi diễn giả chấm dứt bài nói chuyện, cả hội trường vỗ tay tán thưởng phần trình bày lưu loát, tường tận và xúc tích về “Người Muôn Năm Cũ” của chính tác giả Phạm Gia Đại, đã gây niềm xúc động sâu sắc trong lòng người. Vì ông là một trong những người tù cuối cùng, đã chôn vùi một phần đời mình trong cảnh tù đày cùng cực, là nhân chứng của nhà tù CS. còn sống sót.

    Ca khúc Trường Làng Tôi

    Ca sĩ Thụy Lan và Minh Thư

    Kết thúc phần văn nghệ cũng như chương trình ra mắt sách NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ bằng ca khúc Trường làng Tôi, với giai điệu vui tươi trong sáng qua tiếng hát Thụy Lan và Minh Thư, trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian. Ca khúc này gợi trong ta nỗi nhớ khôn nguôi thuở còn cắp sách đến trường… thật đẹp, thật bình yên trong 9 năm ngắn ngủi của nền đệ nhất Cộng Hòa miền Nam Việt Nam.

    Thời gian đã qua đi có bao giờ trở lại để dân Việt được hít thở không khí trong lành của TỰ DO và NHÂN BẢN! Xin ơn trên ban phúc lành cho tất cả những cựu tù nhân và toàn thể dân Việt khắp nơi trên thế giới cũng như trong nước, luôn được an vui trong cuộc sống! Hầu chờ đón một ngày mai tươi sáng rạng ngời trên quê hương Việt Nam.

    KIỀU MY

  • Khánh Lan,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt

    TIỆC MỪNG SINH NHẬT CỦA NHÀ VĂN BÁC SĨ NGUYỄN XUÂN QUANG

    Khánh Lan tường trình buổi RMS

    NV Kiều My, LS DS Michelle Thanh Mai, NV Khánh Lan, NV BS Nguyễn Xuân Quang (Ngồi)

    Quận Cam hôm nay có đến 3 buổi RMS khác nhau gồm: Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng, Nhà Văn Phạm Gia Đại, Nhà Văn Đặng Thơ Thơ và buổi mừng sinh nhật & giới thiệu các tác phẩm mới của Nhà Văn Bác Sĩ (NV BS) Nguyễn Xuân Quang. Sự trùng hợp ngày RMS này đã tạo nên sự lo lắng khả quan cho 4 tác giả nói riêng vì số quan khách tham dự sẽ bị phân chia ra 4 nơi khác nhau, cũng như tạo nên sự phân vân không ít cho nhiều độc giả yêu sách trong cộng đồng người Việt tại vùng Little Saigon là không biết nên tham dự buổi RMS của ai?

    Riêng phần chúng tôi (Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian) thì quen thân với cả hai nhà văn: NV BS Nguyễn Xuân Quang và NV Phạm Gia Đại. Chính vì vậy mà anh chúng tôi quyết định chia làm hai nhóm.

    Nhóm thứ nhất sẽ tham dự buổi mừng sinh nhật và giới thiệu sách mới của NV BS Nguyễn Xuân Quang được tổ chức từ 11:30 sáng-3:00 chiều tại Golden Sea Restaurant. Chúng tôi gồm NV Nguyễn Quang, phu quân của cố NV Minh Đức Hoài Trinh, GS Dương Ngọc Sum, GS Trần Mạnh Chi, NV Kiều My, CNS Lâm Dung, Ngọc Quỳnh, Ái Liên, Khánh Lan và phu quân, Mạnh Bổng. (NV Việt Hải bị bệnh bất thình lình nên xin lỗi vắng mặt).

    Kiều My, Khánh Lan

    NV Nguyễn Quang, XNV Thanh Thảo, NV BS Nguyễn Xuân Quang, GS Dương Ngọc Sum, Mạnh Bổng, NV Khánh Lan, GS Trần Mạnh Chi.

    NV BS Nguyễn Xuân Quang và phu nhân, Luật Sư Dược Sĩ (LS DS) Michelle Thanh Mai Nguyễn đã rất chu đáo trong việc tiếp đãi quan khách. Đó là một bữa tiệc sinh nhật thịnh soạn tại nhà hàng Golden Sea. Hiện diện trong buổi tiệc Khánh Lan nhận thấy có rất nhiều quan khách và bạn hữu như NS Võ Tá Hân và phu nhân, GS Phạm Thị Huê và phu quân, XNV Thanh Thảo, XNV Hồng Vân và rất nhiều tao nhân mặc khách mà Khánh Lan xin lỗi không rõ quý danh…cũng trong số ấy, con gái trưởng của bác sĩ Quang là Luật sư Nguyễn Mai An và phu quân là Nguyễn Hữu Minh, cháu ngoại và cô con thứ của hai vị là Bác Sĩ Nguyễn Á Mỹ Amy cũng về để mừng tuổi “Bố”.

    Mở đầu buổi tiệc và sau khi ngỏ lời cám ơn quan khách tham dự, NV BS nói: “Tôi vốn nói ít viết nhiều” nên tôi xin nhường lời lại cho “nhà tôi”, Michelle Thanh Mai. NV BS cũng không quên cám ơn LS DS Michelle Thanh Mai đã luôn đứng cạnh bên ông để hỗ trợ (support) và giúp ông trong lúc ông hoàn thành công việc như thu thập các tài liệu, dữ kiện nghiên cứu, chụp hình tranh ảnh, hình tượng, v.v… trong bảo tàng viện hay trong thư viện.

    Tiếp lời NV BS Quang, LS DS Michelle Thanh Mai đã nói những lời thật cảm động đến BS Quang rằng bà rất vui đã được cùng BS sánh bước đi khắp nơi, thưởng ngoạn phong cảnh đẹp, bà hứa sẻ luôn ở bên ông và “support” BS Quang, để ông có thể hoàn thành những ước vọng của ông trong sự nghiệp văn chương, biên khảo… Kết luận, LS DS Michelle Thanh Mai với nụ cười luôn nở trên môi, rất duyên dáng, di dỏm, đáng yêu khi bà ví von: “Đằng sau sự thành công của người đàn ông, thì luôn luôn có người đàn bà ở bên cạnh để nhắc nhở”. (Phải chăng là những lúc NV BS quên không nhớ là định nói điều gì…)

    Cô Mai An và cô Á Mỹ Amy cũng đã chia sẻ cảm nghĩ của cô về sự thành công & chúc mừng BS Quang ra tác phẩm mới cũng như chúc sức khỏe cho Bố Mẹ. Trong ngày vui của “Bố Quang”, Cô Mai An đã đại diện cho gia đình mình và em gái Á Mỹ Amy tặng BS một bức ảnh phóng lớn những tác phẩm của ông. Cô nói: Cô và em gái không biết biếu “Bố” quà gì? “Bố” cần gì? nên hai cô nghĩ món quà này là quý nhất.

    Chương trình của buổi tiệc gồm hai phần: Phần đầu là giới thiệu 4 tác phẩm mới nhất của NV BS Nguyễn Xuân Quang và phần sau là văn nghệ phụ diễn của các anh chị trong nhóm Văn Nghệ Lạc Hồng, Nhóm Quan Họ Bắc Ninh và các thân hữu. Chen lẫn với chương trình văn nghệ là tiết mục giới thiệu tác phẩm “Trống Đồng” do chính tác giả trình bày trong hơn 45 phút, rất đặc biệt. Bộ sách Trống Đồng gồm 6 quyển, ghi lại tỉ mỉ từng chi tiết về di tích, lịch sử và nguồn gốc. Được biết NV BS Nguyễn Xuân Quang là nhà biên khảo duy nhất về trống đồng hiện nay và ông đã đi khắp nơi trên thế giới để nghiên cứu và thu thập tài liệu khi viết tác phẩm này. Ngoài bộ sách Trống Đồng, còn các loại sách khác như Tiếng Việt Huyền Diệu (2004), Ca Dao Tục Ngữ, tinh hoa dân Việt (2002), An Overview of The Ngọc Lũ, Bronze Drum, Through Its Bands, v.v…

    Khoảng 2:30 chiều, anh em chúng tôi xin phép rời buổi tiệc mừng sinh nhật của NV BS Nguyễn Xuân Quang để tham dự buổi RMS của NV Phạm Gia Đại.

    Nhóm thứ hai đã đến buổi RMS của NV Phạm Gia Đại được tổ chức từ 1:00 chiều đến 4:00 chiều gồm: Nhà thơ John Tạ & phu nhận Susan Tạ, Nhà Văn Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa & phu nhân, Ngọc Hà, Nhà Văn Vương Trùng Dương, NT Lê Nguyễn Nga, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Khai, Minh Châu, Mộng Thủy.

    Mộng Thủy, Thụy Lan, Minh Thư, Minh Châu, Susan Tạ, Minh Khai

    Chị Susan Tạ, Khánh Lan, Minh Khai, Thụy Lan, Kiều My, Minh Thư

    NV Phạm Gia Đại RMS với tác phẩm thứ hai của ông sau tác phẩm hồi ký “Những Người Tù Cuối Cùng” xuất bản năm 2017. Sách dầy 493 trang. Đây là một tài liệu sống và trung thực ghi lại những đắng cay, gian khổ mà những người tù thuộc hàng ngũ quân nhân cán chính của chế độ VNCH đã trải qua sau năm 1975 trong các trại tù tập chung của CS VN.

    Tác phẩm hồi ký thứ hai xuất bản năm nay, 2024, song ngữ Anh và Việt và có lẽ cũng là tác phẩm cuối cùng của NV Phạm Gia Đại, đó là lời tâm sự của tác giả. Tác phẩm thứ hai với tên gọi “Người Muôn Năm Cũ”, dầy 441 trang và là sự nối tiếp của tác phẩm thứ nhất, nhấn mạnh vào tấm lòng yêu tổ quốc, niềm tin tôn giáo, lòng yêu thương của cha mẹ & anh em, sau hết là lòng biết ơn của tác giả đến bạn bè cũng như tha nhân đã giúp ông vượt qua những khó khăn và sống sót qua những năm tháng tối tăm nơi cảnh tù đầy. (Mời quý độc giả đón xem bài tường trình về buổi RMS của NV Kiều My)

    Rời bữa tiệc mừng sinh nhật của NV BS Nguyễn Xuân Quang, anh em chùng tôi thẳng tiến đến Westminster Community Center để ủng hộ buổi RMS của NV Phạm Gia Đại. Lúc ấy NV Phạm Gia Đai đang nói về những khó khăn gian khổ và những kỷ niệm cười ra nước mắt của các anh em tù trong trại “cải tạo”. Hai mẩu chuyện NV Phạm Gia Đại kể nghe thật chua chát mà Khánh Lan nhớ mãi.

    • Chuyện thứ nhất là một người bạn tù của ông đã quấn 14 tờ báo (nhật trình) lên người để cho bớt lạnh, thế mà vẫn run lên cầm cập bởi cái “rét” (cái lạnh) buốt da, thấu xương thịt của miền Bắc.
    • Chuyện thứ hai là khi NV Phạm Gia Đại trở về sau 17 năm trong tù “Cải Tạo”, ông ở trọ tại nhà của người anh rể. Một hôm có người hàng xóm đến chơi nhà ông anh rể, khi nhìn thấy NV, bà buột miệng nói: “Lạ quá, người ta ở nước ngoài về thì trông khỏe mạnh và đẹp trai, thế mà sao anh Đại lại trông gầy và xấu xí thế nhỉ?” Câu nói khiến ông anh rể của NV phải bật cười trong nước mắt. “Ấy, bà lầm mất rồi, chú ấy vừa được thả tù về đấy.” Nghe sao thảm thương và chua chát làm sao?

    Mặc dù hôm nay có đến 4 buổi RMS nhưng lạ lùng thay hội trường Westminster Community Center lại đầy kín người là người và mọi người đã ở lại cho đến giờ phút cuối. Phần lớn quan khách là những bạn tù của nhà văn hoặc các chiến binh thuộc chương trình HO và các anh chị em cựu học sinh của trường Chu Văn An, Saigon. Chắc hẳn NV Phạm Gia Đại đã được các bạn đồng môn, đồng nghiệp lòng kính yêu rất nhiều trong quá khứ.

    Buổi RMS của NV Phạm Gia Đại kết thúc lúc 4:00 chiều, anh em chúng tôi cùng ở lại để chụp chung một tấm hình kỷ niệm cùng nhà văn.

    Tấm hình kỷ niệm ngày RMS của NV Phạm Gia Đại

    Chúc mừng NV BS Nguyễn Xuân Quang & LS DS Michelle Thanh Mai Nguyễn và NV Phạm Gia Đại thành công trong buổi RMS.

    Khánh Lan

    NV BS Nguyễn Xuân Quang, LS DS Michelle Thanh Mai Nguyễn và NV Khánh Lan

  • DU LICH,  Viet-Hải

    Khám phá những phong cảnh của Costa Rica.

    Costa Rica là quê hương của đội tuyển bóng đá sẽ đối đầu Tây Ban Nha tối nay. Khách nước ngoài coi đây là điểm đến tuyệt vời cho du lịch nghỉ hưu vì chi phí sinh hoạt rẻ, thời tiết đẹp. Dưới đây là những điểm đến thú vị cho chuyến du lịch đến Costa Rica.

    Tận hưởng mùa hè thiên đường khi du lịch Barbados

    Mặc dù chỉ là một hòn đảo nhỏ, nhưng khi du lịch Barbados, bạn sẽ được khám phá rất nhiều địa điểm thú vị như hang động kỳ bí Harrison, nhà máy sản xuất rượu Rum, các vườn hoa hoặc rừng nhiệt đới cũng như đắm mình trong làn nước trong xanh và tham gia các hoạt động thể thao thiên nhiên.

    Barbados là một quốc đảo xinh đẹp thuộc vùng phía Đông của biển Caribbean. Mặc dù không có quá nhiều đặc điểm nổi bật nhưng vùng đảo này lại có một sức hút kỳ lạ với du khách đến từ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là những người yêu cái nắng, gió, cát của biển và đam mê lướt sóng. Ngay khi đặt chân đến đây, bạn sẽ cảm nhận được sự thoải mái và nhẹ nhàng của thiên nhiên cũng như con người nơi đây. Bên cạnh thiên nhiên tuyệt đẹp, khi du lịch Barbados bạn còn được khám phá nền văn hóa đậm đà bản sắc và làm quen với những người dân bản địa thân thiện. Đây sẽ là cơ hội để bạn ngắm nhìn những sinh vật biển dưới đại dương, những rạn san hô rực rỡ sắc màu hay một con tàu chìm đắm dưới nước. Hải sản tôm cua cá ghẹ,…

    Oistins là thành phố nhỏ nhất của Barbados nhưng lại là một điểm đến đáng tự hào về lịch sử của cộng đồng đánh cá lớn nhất đảo. Đặt chân đến đây, bạn sẽ thấy rất nhiều tàu đánh cá và bạn hoàn toàn có thể mua những chú cá tươi ngon vừa được đánh bắt ngay tại khu chợ địa phương. Đặc biệt, vào tối thứ Sáu, nơi đây còn có hoạt động Fish Fry với những món ăn địa phương ngon được chế biến tại chỗ.

    Holetown, ban đầu được gọi là Jamestown, được xem là nơi định cư đầu tiên ở Barbados vào năm 1627. Hàng tháng, tại đây sẽ diễn ra lễ hội Holetown kéo dài một tuần với nhiều sự kiện giải trí như các cuộc thi sắc đẹp, biểu diễn khiêu vũ, nhạc sống, biểu diễn thời trang, diễu hành xe cổ, thưởng thức ẩm thực địa phương và mua về những món đồ thủ công do Bajan sản xuất.

    Hang động Harrison là một hang đá vôi kết tinh và là một trong những kỳ quan vĩ đại của Barbados với nhũ đá và măng đá tuyệt đẹp cùng dòng nước trong vắt. Bên cạnh tham quan, bạn cũng sẽ được nghe thuyết minh về lịch sử cũng như địa lý của hang động trong suốt hành trình. Ngoài ra, gần đây có có khu vực trưng bày các hiện vật khảo cổ được thu thập từ nhiều địa điểm khác nhau trên hòn đảo.

    Tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Barbados, bạn sẽ được tận mắt chiêm ngưỡng các loài động vật ở cự ly gần trong môi trường sống tự nhiên của chúng. Nơi đây là nhà của nhiều loại chim như hồng hạc, vẹt, bồ nông và chim công. Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều loài động vật khác, đặc biệt là loài khỉ xanh.

    Biển Crane, với bãi cát màu hồng tuyệt đẹp, là một trong những bãi biển nổi tiếng nhất ở Barbados. Du khách thường đến đây để vui đùa trên con sóng lượn, tắm nắng trên những bãi cát mềm mại và ngắm nhìn biển xanh mây trắng.

    Với khung cảnh tuyệt đẹp nằm trên những ngọn đồi ở trung tâm Barbados, Rừng hoa bao gồm hệ thực vật nhiệt đới yên bình. Nếu bạn là người yêu thích hoa thì có thể tản bộ dọc theo những con đường mòn để ngắm nhìn những cây cọ xinh đẹp, những nhành hoa lan đầy màu sắc hay nhiều loài hoa rực rỡ khác.

    Bi giớ tui ghing bồ tèo sang Bahamas của madam Khánh Lan nhé, bà Kiều My cứ quảng bá Hawaii và Paris, và Cannes, Monaco và Nice, French Riviera, Cote d’Azur,… Kiều My sang hướng dó coi chừng cha Poutine, sang hướng Caribbean Beach Resort chỉ gặp cha MAGA DJ Trump thôi. We’re okay. Bahamas nhé !…

    Bahama Mama (Long Version)

    Bahamas là một quần đảo nằm trong Đại Tây Dương về phía đông Hoa Kỳ. Với cảnh quan tuyệt đẹp, quyến rũ, bầu không khí trong lành, mát dịu và đặc biệt còn khá hoang sơ nên được rất nhiều du khách ví đây là thiên đường của hạ giới. Nếu bạn đang lên kế hoạch du lịch Bahamas hãy cùng tham khảo những thông tin dưới đây nhé, chắc chắn sẽ giúp chuyến đi của các bạn suôn sẻ, thuận lợi hơn.

    Thời điểm lý tưởng để du lịch Bahamas         

    Bahamas thuộc kiểu khí hậu cận nhiệt đới nên quanh năm luôn mát mẻ, dễ chịu. Tuy nhiên do nằm ngoài khơi nên Bahamas cũng thường hứng chịu nhiều thiên tai như bão, lũ, thủy triều, sóng thần,…Thông thường bão, lũ sẽ xuất hiện vào mùa hè hoặc mùa thu. Chính vì thế, thời điểm thích hợp nhất để du lịch Bahamas là vào mùa đông. Lúc này thời tiết không quá lạnh cũng không quá nóng mà luôn ấm áp, dễ chịu, thích hợp với những chuyến tham quan hay lặn biển.

    Nassau – Phương tiện di chuyển ở Bahamas

    Nếu đến những hòn đảo lớn, bạn có thể di chuyển bằng taxi hay xe bus. Giá vé sẽ phụ thuộc vào chặng đi và tuyến đường, trung bình khoảng 1 – 2,5 USD/người. Tuy nhiên nếu giá cả không phù hợp bạn nên chủ động mặc cả để có được mức giá tốt nhất. Đặc biệt tại thủ đô Nassau, bạn có thể thuê một chiếc xe ngựa (3 chỗ ngồi) để di chuyển vòng quanh thành phố, thăm thú phố phường và ngắm nhìn khung cảnh tươi đẹp, thanh bình của đô thị hải đảo. Du lịch nước ngoài đến quần đảo Bahamas, bạn không chỉ được chiêm ngưỡng những hòn đảo tuyệt đẹp, thỏa sức vui đùa cùng nắng gió, tham gia các lễ hội độc đáo mà còn được tận hưởng những phút giây thật sự thư giãn cùng gia đình, bạn bè. Đảo Nassau là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Bahamas. Nơi đây có những bãi cát trắng mịn trải dài, những khu mua sắm sầm uất, những con phố lung linh về đêm – là địa điểm rất lý tưởng để du khách tận hưởng kỳ nghỉ trọn vẹn.

    Bờ biển Cabbage được xem là một trong những bãi biển đẹp nhất Bahamas, du khách đến đây có thể đắm mình trong làn nước trong xanh, tận hưởng bầu không khí mát lành và tham gia những hoạt động thú vị. Andros được mệnh danh là đảo tình yêu, với khung cảnh nên thơ, lãng mạn, rất thích hợp nghỉ tuần trăng mật. Vườn quốc gia Lucayan là hệ thống hang động dưới nước, đến đây bạn sẽ có những trải nghiệm vô cùng thú vị và đáng nhớ. Nếu bạn đã không còn hứng thú với những chuyến du lịch theo tour thì kỳ nghỉ này thử một lần vi vu đến Bahamas đi, đảm bảo các bạn sẽ muốn ở mãi chẳng muốn về hoặc có về thì chắc sẽ hối tiếc, mong một ngày nào đó sẽ trở lại. Nằm trên bờ biển Caribbean gần Panama, Puerto Viejo nổi tiếng với giới trẻ và khách du lịch bụi vì những bãi biển xinh đẹp. Nơi đây còn có nhiều hoạt động hấp dẫn như lướt sóng, tiệc tùng trong bầu không khí náo nhiệt… Puerto Viejo sở hữu những bãi biển tuyệt đẹp. Thị trấn vô cùng sôi động về đêm và được coi là một nơi nổi tiếng nhất khu vực bờ biển Caribbean. Ngoài ra, Puerto Viejo còn có nhiều khách sạn bãi biển yên tĩnh, dành cho những ai đang tìm kiếm sự yên bình, thư giãn.

    Cahuita là một thị trấn nhỏ nằm ngay cạnh công viên quốc gia Cahuita, cách Puerto Viejo khoảng một giờ về phía Bắc. Đây là một nơi lý tưởng để thư giãn với quán bar sôi động mở trong thành phố. Xong viếng Công viên Quốc gia Cahuita là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã. Tuy nhiên, phần lớn mọi người chỉ thích ngồi một chỗ để nghỉ ngơi, đọc sách sau những chuyến du ngoạn dài bằng đường bộ, khám phá thảm động vật, bơi lội, hoặc lướt sóng tại đây. Nếu ưa thám hiểm, bạn có thể tham gia chuyến tham quan có hướng dẫn đến Công viên Quốc gia Cahuita. Tortuguero (có nghĩa là Vùng đất của Rùa) là phiên bản tiếng Costa Rica của rừng nhiệt đới Amazon. Nằm trên bờ biển phía bắc, Vườn quốc gia Tortuguero trải rộng trên 77.000 mẫu Anh. Khu vực rộng lớn này có một loạt các con sông và kênh đào xuyên qua rừng rậm.Điểm thu hút lớn nhất đối của Tortuguero là số lượng lớn rùa đến làm tổ dọc theo bờ biển. Thời điểm tốt nhất để xem chúng đẻ trứng là vào tháng 4 và tháng 5. Tuy nhiên, nếu không đến vào khoảng thời gian này, bạn vẫn có thể dạo quanh và bắt gặp nhiều loài động vật hoang dã ở đây quanh năm.

    Vườn quốc gia Corcovado nằm trên bán đảo Osa xa xôi ở phía tây nam Costa Rica. Được thành lập vào năm 1975, công viên có diện tích 424 km vuông và trở thành công viên lớn nhất trong cả nước. Corcovado từng rất nổi tiếng trước kia nhưng giờ đây, vườn quốc gia này trở nên cũ kỹ và lạc hậu hơn so với nhiều nơi khác ở Costa Rica. Đường đến bán đảo cũng không dễ đi, nhưng bù lại, du khách sẽ được khám phá với những bãi biển tuyệt đẹp nhưng vắn vẻ, vô số loài động vật hoang dã, đi bộ đường dài, cắm trại… tuyệt vời tại đây. Nằm ở độ cao 1.670m so với mực nước biển, Arenal là một trong nhiều ngọn núi lửa của Costa Rica. Thỉnh thoảng, ngọn núi lửa này vẫn phun trào và nếu có duyên, bạn sẽ có thể nhìn thấy dung nham chảy xuống từ đỉnh núi. Tuy nhiên, điều đó ít có khả năng xảy ra vì núi lửa đã không hoạt động trong bảy năm qua. Ngoài ra, khu vực này còn có rất nhiều điểm đến thú vị như có thác nước La Fortuna, công viên quốc gia với hoạt động đi bộ đường dài hấp dẫn, cảnh hoàng hôn trên hồ, thám hiểm hang động, vượt thác, đi bè, tắm suối nước nóng… Đây cũng là một trong những nơi được ghé thăm nhiều nhất trong cả nước.

    Manuel Antonio là bãi biển nổi tiếng nằm trên bờ biển Thái Bình Dương với không gian rộng lớn, cát trắng và làn nước trong xanh ấm áp. Tuy nhiên, đây chưa phải là điểm thu hút nhất của Manuel Antonio. Kế dến là Manuel Antonio, nơi gần Manuel Antonio có một công viên quốc gia mở cửa từ năm 1972, mỗi năm đón hơn 150.000 du khách. Nơi đây có những con đường mòn đi bộ tuyệt đẹp, một số bãi biển yên tĩnh, và nhiều loại động vật hoang dã ở địa phương. Thôi tui đưa bồ sang Cóta Rica của Mộng Thủy nha, mời xem,…

    Costa Rica – Thiên đường du lịch khám phá thiên nhiên.

    Costa Rica giống như một ốc đảo bình yên giữa các nước láng giềng ồn ào và là một thiên đường du lịch, nhất là loại hình du lịch sinh thái, được ví là “hòn ngọc của Trung Mỹ”. Hơn một phần tư diện tích Costa Rica là những khu bảo tồn quốc gia. Diện tích chỉ 51.000km2, nhưng Costa Rica có số lượng các loài động vật nhiều hơn cả hai nước Mỹ và Canada cộng lại; hệ thực vật phong phú không kém với hơn 3.000 chủng loài hoa lan dại…

    Là một quốc gia nhỏ ở vùng Trung Mỹ, Costa Caribbe nằm kẹp giữa nước Nicaragua ở phía bắc và Panama phía nam, còn phía đông là biển Caribbe và phía tây là biển Thái Bình Dương. Quốc gia này có một thảm rừng xanh quý giá với hàng ngàn loài chim lạ, hơn 15 ngàn loài bướm, 3.000 loài hoa lan đẹp cùng nhiều loại thú quý hiếm… Các nhà khoa học đến đây nghiên cứu cho biết không nơi đâu trên thế giới có thảm rừng phong phú về sinh vật và thực vật lạ như ở đây. Nhờ vậy mà Costa Rica thu hút hàng triệu du khách mỗi năm. Du lịch được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của Costa Rica nên chính quyền đã có chính sách bảo vệ thiên nhiên một cách hữu hiệu. Họ đã dành hơn 30% diện tích đất đai cho thiên nhiên, muông thú và con người chỉ được thăm viếng giới hạn, tuyệt đối không được sinh sống, khai phá và săn bắn trong vùng này. Điều này khiến cho du khách yêu thiên nhiên rất hài lòng.

    Vườn quốc gia Toruguera là một trong những điểm đến không thể bỏ lỡ trong hành trình khám phá đất nước Costa Rica. Nằm trong vịnh Caribbe, vườn quốc gia Toruguera là tổ ấm được bảo vệ cho loài rùa xanh đến sinh sản đầu mùa hè đến cuối mùa thu hàng năm. Du khách chỉ có thể đến thăm vùng này bằng máy bay thủy động cơ hay bằng tàu nhỏ. Nếu đi bằng tàu, du khách sẽ được len lỏi vào những con rạch nhỏ, tận hưởng cảnh vật thiên nhiên, muôn thú đủ loại hiện ra trước mắt. Dọc hai bên bờ, rừng cây soi bóng trên mặt nước trong veo, đàn cò nhởn nhơ tìm mồi, đàn cá sấu lười biếng nằm bất động trên cồn cát phơi nắng. Trên cành cây, tiếng chim ríu rít gọi đàn, từng đàn khỉ leo trèo, chuyển động vang cả góc rừng… Để giúp du khách thăm rừng, các cơ quan du lịch ở Costa Rica cho làm những cây cầu treo dài và chắc chắn, giúp du khách “đi trên ngọn cây” xuyên rừng, tha hồ ngắm cảnh, chụp ảnh… Phong cảnh, cây cối và hoa sắc nơi đây tương tự như vùng Hawaii. Với du khách thích cảm giác mạnh thì có những thang đu hoặc dây đu chắc chắn để đu mình như kiểu Tarzan từ cây này qua cây khác…

    Rời vườn quốc gia Toruguera, du khách đến tham quan khu bảo tồn Monteverde. Khu bảo tồn thú hoang dã này bao gồm 6 hệ sinh thái khác nhau với tổng diện tích là 4 ha. Đi bộ từ cổng vào khu bảo tồn đến ranh giới lục địa bắc và nam Mỹ, du khách sẽ chứng kiến sự thay đổi của hệ sinh thái từ rừng khô ráo cho đến rừng ẩm ướt. Có đến 2.000 loài thực vật bản xứ sống tại khu vực này, đáng chú ý nhất là phong lan. Ngoài ra còn có khoảng 350 loài chim và 100 loài thú có vú. Du khách sẽ thú vị và kinh ngạc khi đến thăm khu vườn bướm Monteverde. Khu vườn này bao gồm một hệ thống nhà lưới và hai khu nhà kính. Khu nhà kính thứ nhất mô phỏng môi trường của các cánh rừng vùng hạ lưu, còn nhà kính thứ hai giống với môi trường rừng vùng trung du. Hai khu nhà kính này chứa đến hàng trăm con bướm nhiệt đới thuộc 40 loài khác nhau.

    Công viên quốc gia Manuel Antonio là rừng bảo tồn nhỏ nhất và đẹp nhất của Costa Rica. Khu bảo tồn được bao bọc bởi những bãi cát trắng trải dài theo bờ biển Thái Bình Dương nổi tiếng nhờ sự đa dạng về hệ động thực vật: có đến 184 loài chim và 109 loài thú có vú trú ngụ. Đây là nơi duy nhất trên thế giới du khách có thể tìm thấy loài khỉ Titi. Trong khi đi dạo trong rừng Manuel Antonio, du khách có cơ hội được trông thấy loài giông mào, khỉ và nhiều loài chim rực rỡ sắc màu. Vào ngày thứ bảy hằng tuần, Công viên quốc gia Manuel Antonio còn tổ chức các hoạt động như: đi bè qua các thác nước, câu cá, tham quan rừng đước, cưỡi ngựa… Đến Costa Rica, du khách không chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ của núi lửa Arenal, rừng rậm Monteverde ẩn trong sương, thác nước huyền bí La Paz… mà còn được nghỉ ngơi trong những khách sạn sinh thái (không máy lạnh, không truyền hình và không điện thoại) ẩn mình trong các khu rừng nhiệt đới bên bờ Thái Bình Dương.

    Việt Hải, May 6, 2024

  • KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Auld Lang Syne & Nhạc Chế

    Nói về nhạc chế với tuổi trẻ thời đi học vào thập niên 1950’ ở miền Nam VN, thịnh hành nhất với bài ca dân ca với giai điệu đơn giản được nhà soạn nhạc Herbert Stothart đưa ca khúc Auld Lang Syne vào phim Waterloo Bridge (La Valse dans l’ombre) từ thập niên 1940’. Ca khúc nầy với nhiều lời nhạc chế, trong đó phổ biến nhất với “Tò te, ma le đánh đu, Tarzan nhảy dù, cao bồi bắn súng. Chết cha con ma nào đây, làm tao hết hồn, thằn lằn cụp đuôi…”.

    Phim Waterloo Bridge (trắng đen) ra đời vào thập niên 1940’ (thế kỷ XX) ở Hollywood với hai diễn viên chính là Vivien Leigh và Robert Taylor. Phim được đạo diễn Mervyn LeRoy được chuyển thể từ một vở nhạc kịch trên sân khấu Broadway,

    Vivien Leigh (Vivian Mary Hartley) sinh ra Tây Bengal, Ấn Độ (1913-1967), minh tinh điện ảnh nổi tiếng người Anh. Bà đã giành được 2 giải Oscar trong vai Scarlett O’Hara trong phim Gone with the Wind (Cuốn Theo Chiều Gió năm 1939).

    Robert Taylor (1911-1969) là một trong những tài tử gạo cội của điện ảnh Mỹ. Ông được gọi ví von là Robert Tay Bưng… cho các anh bồi nhà hàng của Pháp ở Việt Nam.

    Từ ngày người Pháp đem phim vào chiếu ở Việt Nam (những năm đầu là phim câm). Lúc đó Pháp nhập phim Mỹ vào Pháp, trong hợp đồng khai thác có thêm khoản sẽ đem những phim Mỹ ấy sang chiếu các nước khác, phim Mỹ vào Pháp được người Pháp chuyển âm sang nói tiếng Pháp hay phụ đề chữ Pháp… Vì vậy phim Waterloo Bridge qua tựa đề La Valse dans l’ombre (Điệu Vũ Trong Bóng Mờ)  tiếng Pháp, phụ đề Việt ngữ, quen thuộc với khán giả trong nước.

    Cốt truyện xảy ra trong hoàn cảnh chiến tranh Đệ Nhất Thế Chiến. Roy (chú của Roy là một công tước nước Anh) và Myra tình cờ gặp nhau trên cầu Waterloo (London) khi có còi báo động chiến tranh. Họ cùng nhau trú trong ga tàu điện ngầm, tại đây Myra (Vivien Leigh) mời Roy (Robert Taylor) đến xem vở balette Hồ Thiên Nga, cô tham gia diễn xuất tuy nhiên Roy đã rất tiếc không đến được vì có việc riêng. Nhưng Myra đã bất ngờ khi nhìn thấy Roy đến trong buổi trình chiếu. Tình yêu của họ nhanh chóng nảy nở sau buổi tối lãng mạn tại câu lạc bộ Candlelight. Ngày hôm sau, Roy và Myra quyết định làm đám cưới trước ngày anh lên đường ra chiến trận.

    Vì không tham gia vào một buổi diễn, Myra bị đuổi khỏi đoàn, cô bạn Kitty bất bình cho Myra và quyết định ra đi cùng cô. Mẹ của Roy hẹn gặp Myra nhưng trong lúc chờ đợi mẹ anh đến, Myra bất ngờ đọc trên báo tin Roy đã hy sinh trên mặt trận, đầu óc cô choáng váng. Do quá đau khổ Myra đã có thái độ khiếm nhã với mẹ của Roy.

    Đau khổ và thất nghiệp, Myra lao vào cuộc đời vũ nữ. Trong lúc chờ khách tại sân ga, cô lặng người khi nhìn thấy Roy trở về. Roy hân hoan khi gặp người yêu cũ còn Myra cảm thấy choáng váng và tủi thân nhưng cô vẫn quyết định vẫn tiếp tục tình yêu với Roy. Trở về lâu đài của Roy ở Scotland, Myra đã không hoà nhập vào cuộc sống ở đây vì mặc cảm không còn xứng đáng với người yêu, cô bỏ đi. Roy và cô bạn Kitty tìm Myra khắp các quán bar nhưng không thấy, Myra đã lao vào các đoàn xe đi ngược chiều để tự vẫn trên cây cầu Waterloo.

    Cuộc tình quá bi thảm trong hoàn cảnh trớ trêu trong ca khúc tiếng Pháp là Ce n’est qu’un au Revoir (Chant des Adieux), thi hào Scotland, Robert Burns, viết vào năm 1788. Ca khúc vang vọng trong các lần chia tay và lần vĩnh biệt khi Roy đứng trên cây cầu Waterloo (nơi lần đầu tiên họ gặp nhau) tưởng nhớ hình ảnh người tình nơi lần đầu tiên họ gặp nhau. Cuốn phim nầy ban đầu không cho chiếu ở Anh vì Roy là  sĩ quan và cháu của công tước lại say mê “gái làng chơi”!

    Bài hát nầy rất thông dụng, được phổ biến hầu như khắp hoàn cầu nhưng lại được hát vào những dịp khác nhau. Nguyên thủy của bài hát là dùng để “mừng đón” niềm vui mới đến (Quảng Trường Time Square ở New York, khi quả cầu tụt xuống theo 12 tiếng chuông đồng hồ để rồi ngân vang ca khúc nầy), nhưng về sau nó lại được sử dụng để ngậm ngùi “tiễn đưa” trong luyến tiếc trong những cuộc chia tay.

    Ca khúc nầy nguyên thủy theo ca dao của xứ Scotland (Tô Cách Lan), hai người bạn thân rất lâu không gặp nhau rồi rủ nhau nhậu bia, nhậu rượu, nhưng với điều kiện tiền ai nấy trả. Hai ông cùng lè nhè nhắc lại bao nhiêu chuyện cũ thuở năm xưa năm xửa như: Nào là cùng nhau leo đồi, nào là cùng nhau lội suối… Cứ nhắc xong một kỷ niệm thì họ lại cùng nâng ly nốc cạn. Uống cho đến say thì thôi. Trong cuộc đời lính tráng thuở trước, gặp nhau nhậu nhẹt “ Tò te, ta nâng cốc lên, nhậu cho đã đời, rồi mai xa cách. Uống đi, ai say thì say, rồi ra chiến trường, người còn người không!”…

    Lời ca khúc Auld Lang Syne (Rod Stewart) tiếng Anh: In the Days gone by

    “Should auld acquaintance be forgot and never brought to mind?

    Should auld acquaintance be forgot and the days of auld lang syne?

    For auld lang syne, my dear, fFor auld lang syne

    We’ll drink a cup of kindness yet, for the sake of auld lang syne…”

    Lời tiếng Pháp (Jacques Sevin): Joyeux Au Revoir

    “Faut-il nous quitter sans espoir sans espoir de retour?

    Faut-il nous quitter sans espoir de nous revoir un jour?

    Ce n’est qu’un au revoir, mes frères, ce n’est qu’un au revoir.

    Oui, nous nous reverrons, mes frềres, ce n’est qu’un au revoir!…”.

    Năm 1940, nhà thơ Thế Lễ lần đầu tiên đã dịch sang tiếng Việt: Bài Ca Tạm Biệt

    “Ngày nay sắp cùng bùi ngùi xa cách

    Cớ sao ta không còn trông

    Rồi đây có ngày mình còn gặp nhau

    Cách nhau nhưng ta hằng vui

    Vì nay biết sau còn ngày sung sướng

    Cách xa nhưng ta hằng mong

    Rồi đây có ngày lại còn gặp nhau…”

    Phim tình cảm trong chiến tranh như tựa đề tiếng Anh Waterloo Bridge tưởng như phim thời sự, tựa đề tiếng Pháp La Valse dans l’ombre có vẻ lãng mạn và hấp dẫn hơn. Chẳng hạn phim Cầu Sông Kwai (tiếng Anh: The Bridge on the River Kwai, (tiếng Pháp: Le Pont de la Rivière Kwai) về đề tài chiến tranh vào Đệ Nhị Thế Chiến, quay ở Thái Lan. Nhạc phẩm nầy không có nhạc chế, đặc biệt huýt gió rất hay.

    Thuở đó cụ bà Vivien Leigh được mệnh danh là người đẹp của thế kỷ, sáng chói danh vọng, thần tượng của nữ giới nhưng “hồng nhan đa truân” không những về bệnh tình mà những bi kịch trong cuộc đời tình yêu và hôn nhân. Ngoài những người đàn ông qua đời cụ, 3 mối tình từ lúc 19 tuổi với người chồng lớn hơn 13 tuổi cho đến khi 47 tuổi lấy người chồng kém hơn 4 tuổi… Vì nhan sắc và tài hoa trên nghệ thuật thứ bảy, ông chồng nào cũng ghen nên cuộc sống không được thoải mái… Cây càng cao thì hưng chịu nhiều gió. Cuộc đời là vậy.

    Tình cờ được tin người bạn từ thuở xa xưa nơi cố hương vừa qua đời. Hồi đó tôi cũng sở trường với nhạc chế nhưng người bạn nầy được tôn làm “sư phụ” vì dám xâm mình nhạc chế bài “suy tôn” của nhạc sĩ Ngọc Bích, dễ bị tù như chơi! Ca khúc Auld Lang Syne qua nhạc chế của bạn tùy hứng theo đối tượng (cả thầy, cô) chọc cười trong lớp.

    Bạn cũ ra đi, không biết nói gì, gởi bạn lời vĩnh biệt!

    Nghe ca khúc ca khúc Auld Lang Syne, nhớ lời nhạc chế thuở nào với bạn cố hương.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, April 2024

  • DU LICH,  Dương Viết Điền

    DU LỊCH ANH VÀ PHÁP QUỐC.

    Chiếc phi cơ hãng hàng không United Airlines Boeing 747 cất cánh tại phi trường quốc tế San Francisco lúc 1:00 giờ ngày 19 tháng 10 năm 2007 và đã đáp xuống phi trường quốc tế Heathrow tại Luân đôn ở Anh quốc lúc 7:10 sáng ngày 20 tháng 09 năm 2007 sau 10 giờ bay.

    Vừa xuống phi trường, toán chúng tôi sáu người gồm anh chị Lê văn Chính, anh chị Bùi phước Ty, và vợ chồng tôi cùng một số người khác phải ngồi chờ ông trưởng đoàn hướng dẫn du lịch từ Los Angeles dẫn một toán khác sang theo lời dặn của nhân viên tại đại lý bán vé máy bay ở California.

    Hai giờ sau, ông trưởng đoàn hướng dẫn người Hoa dẫn một toán khác từ Los Angeles cũng vừa đến. Vì chúng tôi có mang dấu hiệu của hãng du lịch Tour Ritz màu đỏ ở trên túi áo của từng người, cũng như ông trưởng đoàn cầm cây cờ nhỏ trên tay có in hình của hãng Tour Ritz trên lá cờ nên chúng tôi nhận ra nhau rất nhanh. Đọc tài liệu của hãng du lịch, chúng tôi đã biết ông trưởng đoàn là người Hoa mang tên Leung Reddy chứ chưa được diện kiến. Bây giờ chúng tôi mới thấy ông khi ông tập họp chúng tôi để điểm danh. Ông ta trạc độ 58 tuổi, người thấp, nước da ngâm ngâm. Thế là hai toán chúng tôi lên xe buýt qua Terminal 4 để đón một toán khác nữa cũng vừa từ New York sang. Sau khi đã tập họp ba toán lại với tổng số 42 người, ông Leung Freddy trưởng đoàn hướng dẫn du lịch chỉ thị cho tài xế xe buýt lái xe hướng về lâu đài Windsor Castle tại Anh quốc để bắt đầu cuộc hành trình du lịch 4 nước ở Âu châu gồm Anh, Pháp, Thụy sĩ và Ý.

    Vừa đến gần lâu đài Windsor Castle thì trên trời bỗng xuất hiện một vài đám mây và mấy phút sau trời bắt đầu mưa nhè nhẹ. Chúng tôi liền lấy dù ra để che mưa. Ông trưởng đoàn du lịch sau khi gặp một bà đầm người Anh liền giới thiệu với chúng tôi và cho chúng tôi biết tên bà ta là Venesha. Sau đó ông ta dặn chúng tôi hãy đi theo bà đầm này để nghe bà ta

    Lâu đài Windsor Castle tại Luân đôn nhìn từ trên không (Hình trích từ Wikipedia)

    thuyết minh, giải thích, kể chuyện về lịch sử lâu đài chúng tôi sắp vào xem. Theo sự hướng dẫn của ông trưởng đoàn du lịch, chúng tôi liền đi theo bà Venesha này để nghe bà ta kể chuyện. Cứ mỗi lần bà ta nói xong, ông trưởng đoàn lại dịch sang tiếng Hoa cho những người không biết tiếng Anh. Cứ theo lời giải thích của bà Venesha thì chúng tôi biết tổng quát được rằng, Windsor Castle nằm trong quận Birkshire thuộc thành phố Luân đôn. Đây là lâu đài lớn nhất thế giới. Diện tích của lâu đài này khoảng 484,000 square feet.Trong thời chiến, đây là thành lũy kiên cố chống ngoại xâm và cũng là nơi ở của các vị vua chúa qua các triều đại quân chủ của hoàng gia Anh. Tại lâu đài này, nữ hoàng Elizabeth II thường hay về đây để nghỉ cuối tuần. Thế rồi chúng tôi được hướng dẫn đi khắp các phòng ốc trong lâu đài cổ kính này. Nào là nơi các vị hoàng đế tiếp tân, nào là nơi các vị hoàng đế hội họp, nào là nơi cất giấu những vũ khí trong thời chiến như cung, tên, gươm, giáo , kiếm, nào là nơi ăn chốn ở của các nữ hoàng vv… Sau khi xem qua giường ngủ của các vị vua và của các nữ hoàng, một du khách trong đoàn chúng tôi  hỏi bà Venesha rằng, tại sao giường ngủ của nữ hoàng lại rộng hơn giường ngủ của vua. Bà ta vừa tủm tỉm cười vừa trả lời rằng, sở dĩ giường của nữ hoàng rộng hơn giường của vua là để thỉnh thoảng vua qua thăm nữ hoàng và ở lại với nữ hoàng!

    Giường Nữ hoàng ( Hình trích từ Wikipedia )

    BàVenesha vừa trả lời xong thì du khách chúng tôi đều nhoẻn miệng cười. Có người lại cười to lên như có vẻ thích chí, nhiều du khách khác lại chỉ mĩm miệng cười mà thôi.

    Thế rồi bà Venesha lại hướng dẫn chúng tôi đến nơi khác trong cung điện để tiếp tục tham quan tất cả những di tích lịch sử trong lâu đài Windsor Castle nầy.

    Lâu đài Windsor Castle năm 1907( Hình trích từ Wikipedia)

    Nữ hoàng Victoria ( Hình trích từ Wikipedia)

    Sau hơn một tiếng đồng hồ đi tham quan trong lâu đài Windsor Castle, chúng tôi tất cả 42 người ra điểm hẹn tại ngã ba đường để gặp ông trưởng đoàn. Sau khi điểm danh đầy đủ, ông Leung Freddy cầm một bì thư đựng tiền do chúng tôi đã nộp sẵn trao tặng cho bà Venesha rồi chúng tôi vỗ tay để cám ơn và tán thưởng sự tận tâm và thiện chí của bà trong trong thời gian hướng dẫn chúng tôi vừa qua. Sau khi từ giả bà venesha ông trưởng đoàn hỏi anh em trong đoàn du lịch chúng tôi rằng, nếu du khách nào muốn đến thăm đại học Cambridge thì nộp mỗi người 30 Euro, và số du khách đến tham quan phải trên 20 người mới được chấp thuận. Khi nghe ông trưởng đoàn nói như vậy một số người liền đưa tay lên. Ông trưởng đoàn đếm đi đếm lại vẫn không đủ 20 người nên phải hũy bỏ chuyến đi tham quan đại học Cambridge. Sau đó chúng tôi theo ông trưởng đoàn lên xe đến khu phố người Hoa để ăn cơm chiều .

    Theo gót chân ông Freddy, chúng tôi vào tiệm ăn Gerrard’s corner Restaurant ở đường Gerrard Street Sw1. Vì ông trưởng đoàn du lịch là người Hoa nên ông ta có lẽ đã quen biết nhiều tiệm ăn của người Hoa. Vì vậy, ông luôn luôn dẫn chúng tôi vào ăn tại các phố nguời Hoa ở. Ngồi trên xe buýt xuyên qua những con đường dẫn đến tiệm ăn, chúng tôi thấy đường sá tại thành phố Luân đôn rất chật hẹp nhưng thật sạch sẽ. Hai bên đường hầu như không có chỗ đậu xe. Chỉ thấy người qua lại thật tấp nập trên lề đường như ngày hội mặc dầu hôm đó là ngày thứ hai chứ không phải là ngày thứ bảy. Mấy cô gái người Anh với mái tóc bồng bềnh sánh vai cùng các bạn trai đi dọc đại lộ giữa phố chiều thật nên thơ. Rất nhiều đàn ông mặc veston, thắt cà vạt đi dạo phố chiều làm cho khu phố tăng thêm vẽ quý phái giữa chốn phồn hoa đô hội. Cũng lắm trai thanh gái lịch ngồi uống cà phê trong các quán cà phê dọc hai bên đường trông thật thanh bình, vui vẻ. Một điều khác lạ đập vào mắt tôi khiến tôi nhớ lại lúc còn theo học ở bậc trung học, một vị giáo sư đã kể cho chúng tôi nghe về sự luân lưu của xe cộ trong thành phố ở Anh quốc: tất cả đều lái xe về phía bên trái. Thảo nào tài xế xe buýt chúng tôi đang lái trên lane bên trái khiến tất cả du khách trên xe đều cảm thấy là lạ. Sau khi dùng cơm chiều tại phố người Hoa xong, chúng tôi được lệnh lên xe buýt để về khách sạn Guoman nằm trên đại lộ St Katherine’s way, London E 1W1LD. Khách sạn này toạ lạc trên bờ sông Thames và đối diện với chiếc cầu nổi tiếng the Tower Bridge. Vừa đến khách sạn, chúng tôi ai nấy cũng đều mệt mỏi sau mười tiếng đồng hồ ngồi trên máy bay ngủ gà ngủ gật, và mấy tiếng đồng hồ đi xem lâu đài Windsor  nên vội vàng lấy hành lý thật nhanh để vào khách sạn nghỉ ngơi.

    Sau khi phân phối chìa khoá phòng cho chúng tôi, ông Leung Freeddy dặn dò chúng tôi rằng, sáng mai chuông điện thọai sẽ báo thức đúng 6 :15 giờ, ăn điểm tâm tại khách sạn 7:00 giờ, tập họp để đi tham quam các danh lam thắng cảnh tại Anh lúc7:45 giờ . Vừa ổn định chỗ ngủ tại các phòng trong khách sạn, anh Lê văn Chính, anh Bùi Phước Ty và tôi rủ nhau ra quán Starbucks gần khách sạn để uống cà phê và nói chuyện phiếm. Lần đầu tiên trong đời ngồi uống cà phê trong một quán ở bên đường nơi quê người đất khách tại Anh quốc, tâm hồn tôi cảm thấy hân hoan, hay hay, là lạ. Khoảng 11 giờ khuya, chúng tôi trở lại khách sạn để nghỉ ngơi ngõ hầu sáng mai thức dậy cho đúng giờ.  Theo lời dặn dò của ông trưởng đoàn hướng dẫn du lịch, chúng tôi đều có mặt trước khách sạn Guoman đúng 7:45 giờ sáng. Vì địa điểm tham quan hôm nay gần khách sạn nên chúng tôi chỉ đi bộ vài phút rồi băng qua đường là đến. Đó là chiếc cầu the Tower Bridge of the River Thames và The Tower of London. Cũng như chiều hôm qua tại lâu đài Windsor, sáng nay ông Leung Freddy cũng giới thiệu với chúng tôi một bà đầm người Anh khác tên là Catherine làm hướng dẫn viên để đến thăm The Tour of London. Dĩ nhiên ông trưởng đoàn du lịch cũng đi theo bà ta để thông dịch ra tiếng Hoa cho những du khách người Hoa. Vì hãng du lịch này của người Hoa có cái tên là Ritz Tours nên du khách hầu hết là người Hoa. Trong số 42 người thuộc đoàn du lịch chúng tôi, chỉ có 8 gười là người Việt, số còn lại là người Hoa cả.

    Thế là chúng tôi đi theo ông Leung Reddy và bà Catherine để nghe họ trình bày, giải thích, kể chuyện về chiếc cầu the Tower Bridge và the Tower of London. Theo sự trình bày và giải thích của bà Catherine chúng tôi được biết rằng, năm nhà thầu khoán chuyên nghiệp điều động 432 công nhân xây cất trong tám năm trời mới hoàn thành chiếc cầu nầy vào năm 1894. Hai khối đá gồm những tảng đá lớn ghép lại được đặt nằm dưới lòng sông

    để giúp xây cất cầu. Trên11,000 tấn thép được xử dụng để làm khung cho cầu và đường đi bộ. Sau khi hoàn thành xong, mặc dầu hệ thống nâng cầu rất phức tạp, nhưng máy nâng có thể đưa cầu lên tối đa 80 độ chỉ trong một phút mà thôi.

    Chiếc cầu The Tower Bridge bắc qua dòng sông Thames. (Hình trích từ Wikipedia)

    Sau khi đã tham quan the Tower Bridge, chúng tôi liền đi bộ băng qua đường để đến tham quan the Tower of London. Tại đây bà  Catherine cho chúng tôi biết tổng quát về di tích lịch sử này như sau : tháp Tower of London do William the Conqueror xây năm1078 . Đây vừa là chiến lũy chống ngoại xâm, vừa là nơi ở của Hoàng gia Anh vừa là ngục tù (đặc biệt dành cho những người tù cao cấp và những tù nhân thuộc Hoàng tộc). Đây cũng là nơi để hành quyết và tra tấn các tù  nhân và cũng vừa là xưởng đúc vũ khí, nhà ngân khố, sở thú, nơi đúc tiền, đài thiên văn . Từ năm 1303, đây cũng là nơi cất giữ châu báu ngọc ngà của Vương Quốc Liên Hiệp.

    The Tower of London (Hình trích từ Wikipedia)

    Một người lính đứng gác gần mấy khẩu thần công đặt trong the Tower of London. ( Hình trích từ Wikipedia)

    Tác giả chụp chung với hai nhân viên trong The Tower of London.

    Sau khi tham quan tháp the Tower of London xong, ông Leung Reddy cũng trao cho bà Catherine một bì thư đựng tiền trước mặt chúng tôi để cám ơn bà. Sau đó, ông Leung Reddy chỉ thị cho anh tài xế chở chúng tôi đi vòng quanh trong thành phố Luân đôn rồi dừng lại từng địa điểm  để xem như dinh Quốc hội, tháp Big Ben, quảng trường Trafalga, điện Burkingham, khu phố Westminster Abbey.

    Cứ mỗi lần dừng lại một địa điểm nào, ông trưởng đoàn liền giải thích cho chúng tôi nghe về nguồn gốc lịch sử của từng địa điểm đó.

    Khu phố Westminster Abbey( Hình trích từ Wikipedia)

    Những thắng cảnh tại thành phố Luân đôn

    Thành phố Luân Đôn, Ngự Lâm Quân trong ngày lễ sinh nhật thứ 80 của Nữ hoàng Elizabeth, Điện Burkingham (Hình trích từ Wikipedia)

    Toà nhà Quốc hội ( Hình trích từ Wikipedia)

    QUẢNGTRƯỜNG TRAFALGA

     

    Tháp Big Ben (Hình trích từ Wikipedia)

    Tại những nơi này, chúng tôi tha hồ chụp hình, quay phim để làm kỷ niệm trong chuyến du lịch tại Anh quốc. Sau khi tham quan những địa danh nói trên,ông trưởng đoàn nói anh tài xế xe buýt chở chúng tôi đến tiệm ăn Aroma ở China town để dùng cơm trưa. Và chiều hôm ấy, chúng tôi được tự do đi shopping tại China town rồi ai nấy tự túc mua vé xe buýt, xe tắc xi, xe điện ngầm để về lại khách sạn và bữa cơm chiều chúng tôi cũng sẽ tự túc đi tìm tiệm ăn mà  lo liệu lấy.

    Nhớ lại sau khi ăn cơm trưa xong, Ông Leung Freddy có mách cho chúng tôi một tiệm ăn của người Thái, đối diện với khách sạn chúng tôi đang trú ngụ nằm ở bên kia bờ sông Thames. Vì vậy sau khi đi shopping ở China town về, 6 người chúng tôi liền rủ nhau thả bộ qua cầu Tower Bridge để đi tìm tiệm ăn ở bên kia bờ sông Thames đối diện với khách sạn chúng tôi đang tạm trú. Sau vài phút đi bộ trên cầu hóng gió chiều và nhìn dòng sông Thames chảy qua cầu, chúng tôi đã tới bên kia cầu. Theo những bậc tầng cấp đi xuống đường, chúng tôi liền đến ngã tư gần cầu nhất rồi băng qua đường , đi ngược lại hướng hồi nãy để tới bên bờ sông. Đi dọc theo bờ sông đối diện với khách sạn bên kia bờ, chúng tôi thấy các tiệm ăn nằm san sát nhau. Tiệm nào tiệm nấy thực khách đều chật ních.

    Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ giá cả ở những tiệm nầy chắc phải đắt lắm. Vì vậy chúng tôi chỉ đi dạo dọc bờ sông Thames chứ không vào tiệm nào cả. Tuy nhiên vì trời cũng vừa tối và ai nấy cũng đều cảm thấy đói bụng cả rồi nên chúng tôi liền băng qua một đường hẻm để đi tìm tiệm ăn người Thái mà ông trưởng đoàn đã giới thiệu trưa nay. Khoảng năm phút sau chúng tôi đã thấy tiệm ăn của người Thái. Thế là sáu người chúng tôi vào ngay trong tiệm để dùng cơm tối. Khoảng một giờ sau chúng tôi rời tiệm ăn để trở về khách sạn. Trên đường trở về, chúng tôi cũng đi bộ băng qua cầu Tower Bridge như lúc ban chiều. Vì đã chín giờ tối nên trên cầu đèn điện rất sáng. Đi trên cầu nhìn xuống dòng sông, chúng tôi thấy mấy chiếc thuyền đậu sát bên bờ đằng kia phản chiếu ánh đèn điện xuống mặt nước sông Thames thật tuyệt đẹp.   

    Sau hai ngày du lịch tại nước Anh, theo chương trình đã vạch sẵn, sáng mai chúng tôi phải lên đường để qua nước Pháp.

    Vì đã được trưởng đoàn dặn dò chiều qua nên sáng nay chúng tôi thức dậy thật sớm để chuẩn bị lên đường. Thế là chúng tôi tất cả 42 người lên xe buýt để tiến về ga xe lửa làm thủ tục hải quan trước khi lên xe lửa vượt biển Manche qua đất Pháp. Đang say sưa nhìn cảnh vật dọc hai bên đường lần cuối, bỗng anh Bùi phước Ty nói nhỏ bên tai tôi:

    – Điền, farewell to London!

    Nghe anh bạn Bùi phước Ty nói như vậy lòng tôi bỗng chùng xuống đến ngậm ngùi! Thật thế, giờ phút chia ly đã điểm rồi! Chỉ vài giờ nữa là chúng tôi sẽ xa Luân đôn, xa Anh quốc ngàn năm. Biết bao giờ mới trở lại đây ? Thôi thì vĩnh biệt lâu đài Windsor, vĩnh biệt the Tower Bridge of the Thames River, vĩnh biệt the Tower of London, vĩnh biệt dòng sông Thames có dòng nước hiền hòa chảy ngang qua cầu tuyệt đẹp, khi mùa thu mới bắt đầu về qua biểu tượng mấy chiếc lá vàng vừa bay nhè nhẹ rồi rơi xuống giữa dòng sông. Bỗng tôi nhớ đến bài thơ When we two parted của thi sĩ Lord Byron Anh quốc nói về sự biệt ly khiến lòng mình thêm xúc động:

    When we two parted

    In silence and tears

    Half broken hearted

    To sever for years

    mà một thi sĩ nào đó đã dịch như sau:

    Giờ phút chia ly đã điểm rồi

    Nghẹn ngào lặng nuốt lệ thầm rơi

    Mang mang nửa cõi lòng tan tác

    Ly biệt xui chi tủi trọn đời.

    California, một chiều thu nhạt nắng .

               (tháng 10 năm 2007)

                  Dương viết Điền

    Sau khi mất hai giờ rưởi vượt biển Manche bằng xe lửa từ Waterloo để qua Pháp, như thường lệ, chúng tôi cũng làm thủ tục hải quan trước khi lên xe buýt đi xem các danh lam thắng cảnh của đất nước này. Tại ga xe lửa trên đất Pháp, chúng tôi lên xe buýt để tiến về sông Seine. Ông trưởng đoàn cho chúng tôi biết rằng trên đường đến bờ sông Seine, chúng tôi sẽ đi ngang qua trước điện Versaille nơi chúng tôi sẽ được ông ta hướng dẫn đến tham quan  ngày mai. Vì vậy ông nói với chúng tôi rằng khi xe buýt chạy ngang trước điện Versaille, ông ta sẽ nói “Đây là điện Versaille” và chúng tôi tất cả đều chào mừng bằng cách nói to lên một chữ “wow”. Hân hoan trước những lời ông trưởng đoàn đề nghị, tất cả chúng tôi đều bằng lòng ngay. Và khoảng một phút sau, khi xe vừa chạy ngang trước điện Versaille, ông trưởng đoàn du lịch cất tiếng nói thật to:

    -Đây là điện Versaille.

    Tất cả chúng tôi đều vui mừng, đồng thanh cũng cất tiếng nói thật to:

    -Wow !

    Theo chương trình đã vạch sẵn, ông trưởng đoàn du lịch hướng dẫn chúng tôi đến bờ sông Seine của nước Pháp ở thủ đô Paris để lên du thuyền chạy vài vòng trên dòng sông Seine ngõ hầu du khách có thể ngắm cảnh dọc hai bên bờ.

    Ước mơ nhìn dòng sông Seine mấy mươi năm trời bây giờ không ngờ đã thành sự thật.

    Du khách trên thuyền đang ngồi nhìn dòng sông Seine.

     

    Dòng sông Seine chảy qua thủ đô Paris ( Hình trích từ Wikipedia)

    Ngồi trên thuyền đang nhẹ nhàng lướt sóng, chúng tôi say sưa nhìn hai bên bờ không để mất một lâu đài, một biệt thự, không để sót một bến nước, một gốc cây. Đằng kia phía bên trái bờ sông Seine, những lâu đài thật nguy nga, những biệt thự thật tráng lệ đang đứng sừng sững dưới trời cao giữa thu đô Pari trông sao mà huy hoàng và lộng lẫy. Xa xa, tháp Eiffel vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt đang ngạo nghễ dưới trời cao giữa thủ đô nước Pháp như đang đợi chờ tất cả 42 người trong đoàn du lịch Tour Ritz đến tham quan ngày mai. Bỗng đâu, mấy chiếc lá vàng bay bay rồi rơi nhè nhẹ xuống dòng sông Seine khiến lòng tôi chợt nhớ mùa thu đang về giữa thủ đô Paris, để rồi văng vẵng bên tai tôi tiếng hát của ca sĩ Hoàng Dũng qua bài “ Mùa thu không trở lại” của nhạc sĩ Phạm trọng Cầu:

    Em ra đi mùa thu
    mùa thu không trở lại
    Em ra đi mùa thu
    sương mờ giăng âm u.

    Em ra đi mùa thu
    Mùa thu không còn nữa
    Đếm lá úa mùa thu
    Đo sầu ngập tim tôi.

    Ngày em đi
    Nghe chơi vơi não nề
    qua vườn Luxembourg
    Sương rơi che phố mờ
    Buồn này ai có mua?

    Từ chia ly
    Nghe rơi bao lá vàng
    Ngập giòng nước sông Seine
    Mưa rơi trên phím đàn
    Chừng nào cho tôi quên.

    Hôm em ra đi mùa thu
    Mùa thu không trở lại
    Lá úa khóc người đi
    Sương mờ dâng lên mi.

    Em ra đi mùa thu
    Mùa lá rơi ngập ngừng
    Đếm lá úa sầu lên
    Bao giờ cho tôi qu

    Bỗng sóng nước vỗ mạnh vào mạn thuyền khiến nước văng tung toé lên thuyền rồi tạt vào mặt tôi làm tôi trở về với thực tại. Chị Hồ thị Thu Hương, phu nhân của anh Lê văn Chính, đang cầm máy chụp hình đứng đối diện với tôi liền bảo tôi và bà xã tôi hãy đứng sát bên nhau một tí nữa, rồi nhìn về phía tháp Eiffel để chị ấy chụp cho một bức hình trên dòng sông Seine làm kỷ niệm. Sau đó, sáu anh em chúng tôi đứng sát bên nhau rồi nhờ một du khách trên thuyền chụp cho chúng tôi một tấm hình làm kỷ niệm luôn.

    Sau khoảng một giờ ngồi trên thuyền lướt sóng để ngắm nhìn hai bên bờ sông Seine, ông trưởng đoàn du lịch liền thúc dục chúng tôi bước xuống thuyền leo lên xe buýt lại, chuẩn bị đến trung tâm thương mại Lafayette ở China town của thủ đô Paris để đi mua sắm. Vừa đến trung tâm thương mại Lafayette, chúng tôi được ông trưởng đoàn du lịch Leung Freddy cho biết rằng, tất cả chúng tôi được tự do đi shopping trong hai giờ và đúng 6:oo giờ chiều phải có mặt tại nơi xe buýt đậu để đi ăn cơm tối. Tại đây chúng tôi đi qua đi lại nhìn áo quần bày bán trong các tủ kính mà chẳng ai mua sắm gì cả vì giá cả đắt quá. Anh Bùi phước Ty nói với tôi rằng tôi ít chú trọng đến ăn mặc nhưng anh ta cũng muốn cho tôi biết rằng, trước đây loại áo Montagu rất nỗi tiếng nhưng bây giờ không dám mua vì giá cả khá đắt. Thế rồi anh Ty dẫn tôi đến một cửa kính gần đấy và chỉ cho tôi một chiếc áo Montagu đang nằm trong tủ kính. Thấy tôi và anh Ty đang nhìn chiếc áo Montagu này, anh chàng đứng bán hàng tiến về phía chúng tôi.

    Khi anh ta đứng trước mặt tôi, tôi liền chỉ chiếc áo Montagu nằm trong tủ kính và hỏi:

    -Je voudrais cette chemise, c’est combien?( Cái áo này giá bao nhiêu vậy?)

    Anh ta trả lời:

    -Quatre-vingts francs (80 franc)

    Tôi nói ngay:

    -C’est trop cher!( Quá đắt )

    Nói xong tôi và anh Ty bỏ đi.

    Sau đó tôi và bà xã tôi lên thang máy để đi xem tổng quát cho biết trung tâm thương mại Lafayette ở Pháp trước khi ra chỗ hẹn tại nơi xe buýt đậu để cùng đoàn du lịch chuẩn bị đi ăn cơm tối. Sau khi ăn cơm tối xong, chúng tôi được ông Leung Freddy hướng dẫn đến một hý trường nỗi tiếng tại thủ đô Pari để xem một show thật ngoạn mục khoảng 3 tiếng đồng hồ, gọi là “ Moulin Rouge Cabaret Show”. Vì vé vào cửa cho mỗi người là 120 Euro tương đối đắt nên tôi nghĩ thầm rằng, không biết chương trình của show nầy có hấp dẫn không  đây. Vì vậy khi thấy ông trưởng đoàn đi ngang trước mặt, tôi có hỏi ông về nội dung chương trình như thế nào, ông bảo chờ xem rồi sẽ biết. Và đúng như ông trưởng đoàn nói “chờ xem rồi sẽ biết”. Sau khi xem xong, tôi thấy nội dung chương trình cũng khá hấp dẫn vì có những tiết mục là lạ như hai ca sĩ vừa đi vừa hát trên không trung lúc điện trong rạp đều tắt cả, một anh chàng vật lộn với con trăn dưới nước, hay là những vũ khúc sexy 50% vv… Lúc chương trình chưa bắt đầu, các nhạc công chơi nhạc cho các ca sĩ hát để du khách ai muốn nhảy thì lên sân nhảy rồi cứ tự nhiên như người Hà nội mà nhảy theo những điệu nhạc các ca sĩ đang hát giữa thủ đô Paris. Anh chị Bùi phước Ty cảm thấy ngồi không yên khi nghe nhạc trỗi lên trên sân khấu nên đã kéo nhau lên nhảy mấy bản bolero cũng đỡ ghiền. Khoảng 11 giờ khuya, chúng tôi ra khỏi rạp rồi lên xe buýt  về khách sạn Evergreen Laurel Hotel Paris ở tại số 8 Places Georges Pompidou 92300 Levallois để nghỉ ngơi.

    Cũng như thường lệ trước khi vào khách sạn nghỉ ngơi, ông trưởng đoàn thường báo cho chúng tôi biết giờ báo thức, giờ điểm tâm và giờ khởi hành đi xem các danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử tại các nước chúng tôi đến du lịch. Tuy nhiên vì mới đến nơi đất lạ xứ người nên hơi khó ngủ, anh Lê văn Chính, anh Bùi phước Ty và tôi lại rũ nhau nhau xuống phòng trà ở tầng dưới của khách sạn để uống nước trà và nghe nhạc cổ điển Tây phương do một Pianist trình diễn đàn piano. Ngồi nghe nhạc và nói chuyện phiếm khoảng một giờ sau chúng tôi mới lên phòng ngủ.

    Đúng 7:45 giờ sáng, tất cả 42 du khách chúng tôi có mặt đầy đủ trước khách sạn Evergreen Laurel để lên xe buýt đến xem Điện Versailles, một trong những niềm kiêu hãnh của Pháp quốc và sự đố kỵ của nhiều chế độ quân chủ tại Âu châu. Tại đây, chúng tôi cũng được ông trưởng đoàn giới thiệu một bà đầm người Pháp nhưng nói được tiếng Anh để hướng dẫn chúng tôi đi xem những di tích lịch sử của dòng họ các nhà vua Louis XIV, XV, XVI trong Điện Versailles. Cũng giống như vào tham quan các lâu đài Windsor ở bên Anh quốc, tại đây, chúng tôi cũng được hướng dẫn đi xem tất cả những gì nằm trong Điện Versailles như phòng tiếp tân của vua, phòng hội họp, phòng ngủ, phòng triển lãm những vũ khí thời đại phong kiến của chế độ, nơi trưng bày những ngọc ngà châu báu vv…

    Điện Versailles (Hình trích từ Wikipedia)

    Khi vào phòng này, chúng tôi được bà đầm người Pháp cho biết rằng, rất nhiều vàng nằm khắp trong phòng, trên cửa sổ, trong tủ kính, nơi cửa chính ra vào, trên kệ sách vv…đều là vàng 24 cà rá cả. Khi nghe bà ta nói như vậy anh Lê văn Chính nói với tôi rằng, chắc chắn có vàng lấy từ các nước thuộc địa về trong đó có vàng lấy từ Việt nam qua. Tôi liền mỉm miệng cười như đồng tình với anh ấy. Thế rồi anh em trong đoàn chụp hình quay phim liên hồi. Ai thích hình gì thì chụp hình ấy. Chúng tôi vừa quay phim vừa chụp hình say sưa đến nỗi đoàn du lịch chúng tôi đã qua phòng khác mà không biết. Thế là chúng tôi phải vừa đi vừa chạy cho kịp đoàn du lịch. Sau khi gặp bà đầm người Pháp nghe bà ta trình bày và giải thích chúng tôi mới biết rằng, sở dĩ bà ta nói rất nhanh rồi đi ngay qua phòng khác vì cứ mỗi năm phút lại có một đoàn du lịch khác vào nữa. Nếu không đi ngay thì phòng sẽ chật ních người và nếu không trình bày nhanh sẽ trễ những nơi khác không xem được theo chương trình đã vạch sẵn.

    Sau khi tham quan Điện Versailles, chúng tôi lại lên xe buýt để sang xem Bảo tàng viện

    Louvre. Nơi đây, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và thưởng ngoạn đến say mê mấy chục tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng nhất thế giới cũng như xem tất cả những gì liên quan đến di tích lịch sử của triều đại Hoàng đế Napoleon vang bóng một thời.

    Bảo tàng viện Louvre (Hình trích từ Wikipedia)

    Điều vui vui cho tôi là khi nhìn bức tượng của Napoleon Đại đế trong Bảo tàng viện Louvre, tôi cứ cười thầm trong bụng mãi vì nhớ đến câu chuyện của một giáo sư dạy môn kinh tế học kể cho chúng tôi nghe cách đây 41 năm, khi thấy chúng tôi ngủ gà ngủ gật trong đại giảng đường. Vị giáo sư ấy kể rằng có một lần trước khi dẫn đoàn quân bách chiến bách thắng trở về, Napoleon Đại đế đã gởi thư về cho người tình là Josephine dặn nàng khoan tắm đã. Giáo sư ấy vừa kể xong thì tất cả sinh viên trong đại giảng đường tỉnh táo lại hết, không còn ai ngủ gà ngủ gật nữa.   Sau khi tham quan Điện Versailles và Bảo tàng viện Louvre, chúng tôi nghỉ ngơi để dùng cơm trưa tự túc, sau đó lại lên xe buýt vượt qua cầu bắc qua dòng sông Seine tiến về tháp Eiffel . Tại đây chúng tôi được ông trưởng đoàn nói sơ qua về nguồn gốc của tháp này theo đó tháp Eiffel do kỹ sư Alexandre Gustave Eiffel  thiết kế. Tháp được xây cất khoảng giữa năm 1887 và 1889, sau đó được khánh thành vào ngày 31 tháng 03 năm 1889. Trong lúc tạo dựng tháp này, khoảng 300 công nhân ráp nối 18,038 miếng sắt đã được tôi luyện, xử dụng hai triệu rưởi đinh tán. Tháp Eiffel cao 342 mét, nặng 7, 300 tấn.

    Tháp Eiffel và dòng sông Sein về đêm(Hình trích từ Wikipedia)

    Năm 2006, có 6 triệu du khách đến tham quan tháp này và kể từ lúc khánh thành tháp này cho đến ngày nay, đã có hơn hai trăm triệu du khách đến thăm.  Sau khi trình bày tổng quát những vấn đề liên quan đến tháp Eiffel, ông trưởng đoàn liền phát mỗi người một vé để lên tháp nhìn quang cảnh thành phố Paris giữa nắng chiều. Tiền mua vé này du khách chúng tôi đã nộp cho ông trưởng đoàn chiều hôm qua.Tất cả là 30 Euro cho mỗi người gồm vé ngồi trên thuyền để dạo trên dòng sông Seine và vé lên tháp Eiffel .Chúng tôi liền sắp hàng nối đuôi nhau vào thang máy để được đưa lên tháp Eiffel. Sau khoảng mười lăm phút , chúng tôi đã  lên được tầng thứ hai của tháp. Vừa bước khỏi thang máy để ra vị trí đứng nhìn xuống thành phố Paris, bà xã tôi bỗng buột miệng nói bên tai tôi :

    -Đẹp quá anh ơi! Nhìn xuống dưới kia kìa! Thành phố Paris sao mà đẹp quá! Dòng sông Seine càng đẹp hơn nữa anh à! Anh lấy máy ảnh ra mà chụp vài tấm hình đi anh.

    Mà thật thế, đứng ở tầng thứ hai của tháp Eiffel nhìn xuống, chúng tôi thấy toàn cảnh của thành phố Paris đẹp tuyệt trần! Xa xa, Điện Versailles, Bảo tàng viện Louvre, Điện Champs Elysees như nổi bật một góc trời. Đẹp nhất và nên thơ nhất là dòng sông Seine chảy qua thành phố Paris đang uốn khúc giữa nắng chiều. Bởi mùa thu đang về trên nước Pháp, vì trời thu đang ngự trị giữa thành phố Paris nên lá vàng từ trên một số cây dọc hai bên bờ sông Seine đang bay nhè nhẹ rồi từ từ rơi xuống dòng sông. Nhìn dòng sông Seine đang uốn khúc giữa nắng chiều thu, nhìn lá vàng bay là đà rồi rơi trên dòng nước biếc, lòng tôi bỗng xúc động đến ngậm ngùi rồi bâng khuâng nhớ đến những thi nhân của nước Pháp cứ mỗi độ thu về đã từng dệt nên những vần thơ thật lãng mạn, đa tình, thật nghẹn ngào, nuối tiếc! Một Guillaume Apollinaire với L’Adieu thật nức nở sầu thương, một Alphonse de Lamartine với Le Lac thật hoang vắng đơn côi, một Paul Verlaine với Chansons D’automne thật ê chề đau đớn, đầy ắp những kỷ niệm nghẹn ngào! Bất giác tôi ngâm bài thơ Chansons D’automne của Paul Verlaine khi thấy nắng chiều đang trải dài trên dòng sông Seine tuyệt đẹp:

    Les sanglots longs

    Des violons

    De l’automne

    Blessent mon coeur

    D’une langueur monotone

    Tout suffocant

    Et blême, quand

    Sonne l’heures

    Je me souviens

    Des jours anciens

    Et je pleure

    Et je m’en vais

    Au vent mauvais

    Qui m’emporte

    Decà delà

    Pareil à la

    Feuille morte

     « Tiếng đàn ai đó lê thê

    Vĩ  cầm réo rắt ê chề lòng đau

    Bơ vơ chuông đổ đồng hồ

    Lòng như héo hắt thu tàn năm xưa

    Bao kỷ niệm, theo gió đưa

    Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót xa

    Bao năm lữ thứ xa nhà

    Giang hồ phiêu bạt lá vàng tả tơi…”

    (Lãng Du)

    Dương viết Điền,

    California, một chiều thu nhạt nắng. (tháng 10 năm 2007)

                 

  • Sinh Hoạt,  THO

    Nữ  Sĩ Dương Hồng Anh, 93 Tuổi Vẫn Sáng Tác Thi Ca

    Bài viết của Ký Giả Thanh Phong, Nhật Báo Viễn Đông

    Hai trong số các nhà thơ nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam là cụ Dương Khuê (1839 -1902) và cụ Nguyễn Khuyến (1835-1909); cả hai là bạn tri kỷ của nhau. Khi nghe tin cụ Dương Khuê mất Nguyễn Khuyến đã làm bài thơ bất hủ “Khóc Bạn” (Khóc Dương Khuê) Bài thơ được coi là bài Văn Tế viết theo thể thơ song thất lục bát gồm 38 đã được ghi vào văn học sử. Hai câu đầu là tiếng than thở xót xa, bùi ngùi:

    Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta..”

    Cụ Dương Khuê  mất đi song có người cháu ruột là nữ sĩ Dương Hồng Anh, năm nay đã 93 tuổi nhưng chất thơ trong người thi sĩ vẫn chưa cạn và luôn tuôn trào lai láng trên những tập thơ để cống hiến cho đời thêm tươi đẹp.

    Cách nay vài ngày, gia đình chúng tôi vinh hạnh đón tiếp  nữ sĩ Dương Hồng Anh ghé thăm. Với tuổi đời gần 100, thi sĩ Dương Hồng Anh không còn lái xe nên đã nhờ thi sĩ Tha Nhân, một bạn thơ luôn yêu mến, kính trọng và coi nữ sĩ Hồng Anh như người chị, cả về tuổi tác lẫn thơ văn nên sẵn sàng chở nữ sĩ Hồng Anh khi cần đi đây đi đó.  Sở dĩ chúng tôi được vinh dự đón tiếp một thi sĩ nổi tiếng như nữ sĩ Dương Hồng Anh và thi sĩ Tha Nhân là vì khi còn học Trung Học tại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ  tôi được học Hán Văn với giáo sư Dương Tự Tam, một niên trưởng trong gia tộc thi sĩ Dương Hồng Anh.

    Mặc dù đã cao tuổi nhưng sức khỏe và nhất là tinh thần nữ sĩ Dương Hồng Anh vẫn rất minh mẫn, nữ sĩ cho chúng tôi biết đôi nét về thân thế và sự nghiệp làm văn thơ của mình:

    “Tôi sinh năm 1931 tại Hà Nội, nếu theo thế thứ họ Dương là Dương Nguyệt Anh – Hồng Anh, là cháu nội trực hệ cụ Dương Khuê, Vân Đình, Hà Đông. Thân phụ tôi là cụ Dương Tự Tám, từng làm Hiệu Trưởng trường tiểu học Nhật Tiến, Hà Nội trước năm 1945; bố tôi là nhà giáo sống thanh bạch nhưng rất ưa chuộng thi ca và nhờ giòng máu của bố, tôi cũng mê thi ca và khi còn nhỏ tuổi tôi đã làm bài thơ đầu tay được đăng trên báo Cậu Ấm Cô Chiêu năm 1949. Sau đó tôi làm nhiều bài thơ đăng rải rác trên các báo Cải Tạo, Hồ Gươm, Sinh Lực, Giang Sơn, Giác Ngộ. Từ năm 1952 đến năm 1954 tôi làm Thư Ký Tòa Soạn báo Sinh Lực tại Hà Nội. Tác phẩm đầu tiên là Hương Mùa Chinh Chiến in chung với các tác giả: Minh Tân, Hồng Anh, Minh Đức, Tuyết Lan năm 1952 tại Hà Nội. Sau khi sang định cư tại Hoa Kỳ, tôi sống tại thành phố Westminster và từ năm 2010 đến nay tôi đã xuất bản 11 thi tập: Từ Phương Trời Xa (2010),  Chiều Bến Đợi (2012), Tiếng Thầm (2013), Đôi Bờ Thương Nhớ (2014), Mầu Trăng Thuở Ấy (2015), Sợi Nhớ Sợi Thương (2016), Tình Thu (2017), Vương Vấn Hồn Quê (2018), Nguồn Cội (2019), Mầu Thời Gian (2021), Những Gì Để Nhớ (2023) và tôi vẫn tiếp tục làm bạn với Thơ, vẫn sáng tác cho đến khi Trời không cho sáng tác  nữa mới gác bút!”

    Thi sĩ Dương Hồng Anh có biệt tài “Xuất khẩu thành thơ”, nữ sĩ có khả năng làm đủ các thể thơ: Lục bát, song thất lục bát, tứ tuyệt, thất ngôn bát cú v.v.. Nhà văn Khánh Lan, một văn thi sĩ nổi tiếng tại hải ngoại đã yêu mến và tỏ lòng kính trọng nữ sĩ Dương Hồng Anh nên xin được gọi nữ sĩ Dương Hồng Anh bằng Cô (viết hoa),  và nhà văn Khánh Lan viết về nữ sĩ Dương Hồng Anh : “..Với văn phong giản dị, nhẹ nhàng, trong sáng và chân thật, chắc hẳn nữ sĩ sẽ đưa khách thưởng ngoạn thi ca đến  khu vườn hoa đầy hương sắc, êm đềm và thơ mộng… Trong thi phẩm “Những Gì Để Nhớ” tác giả ghi lại trên trang giấy những kỷ niệm êm đẹp, xen lẫn những vui buồn đã trôi theo thời gian qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, về quê hương cách xa ngàn dặm với Hà Nội mến yêu, về nghĩa mẹ tình cha, tình nghĩa phu thê, lòng hiếu đạo của các con, tình bạn bè, và sau cùng về chính cuộc đời mình…. Đọc thơ của nữ sĩ Dương Hồng Anh, chúng ta không thể ngờ rằng Cô đã ngoài  90. Câu nói “90 tuổi vẫn còn xuân” có lẽ đúng với Cô Hồng Anh, bởi tâm hồn Cô vẫn trẻ trung, thơ Cô vẫn hồn nhiên và tươi mát như một đóa hoa mà Thượng Đế đã ưu ái dành cô Cô…”

    Ở tuổi đời như nữ sĩ Dương Hồng Anh chắc hẳn đã chất chứa quá nhiều kỷ niệm, và với tài làm thơ thiên phú, lại được sống trong gia đình lễ giáo, nữ sĩ Dương Hồng Anh đã hấp thụ biết bao tinh hoa của ông bà, cha mẹ và những người thân trong gia tộc, nên trong 11 tác phẩm đều có những bài thơ “Thương cha, nhớ Mẹ”, nhớ quê hương  như bài “Công Cha Nghĩa Mẹ”:

    Ngồi đây mà nhớ sông Hồng

    Bờ đê cát trắng nghe lòng nao nao

    Giòng sông kỷ niệm tuôn trào

    Công cha nghĩa mẹ, lẽ nào dám quên  (Những Gì Để Nhớ)

    Ngoài cha mẹ, nữ sĩ Dương Hồng Anh vẫn mãi không quên phu quân Nguyễn Sĩ Hiệp nay đã ra người thiên cổ:

    Thế là đũa đã không đôi

    Một người đi để một người cô đơn

    Hoàng hôn rồi lại hoàng hôn

    Có làn mây trắng  chở buồn lang thang

    Mấy mùa mưa nắng ngỡ ngàng

    Mấy mùa hoa rụng lá vàng về đâu

    Người đi đi mãi phương nào

    Có nghe tâm sự gửi vào thiên thu ( Bài Thế Là trong tp Những Gì Để Nhớ)

    Khi hay tin danh họa, nhà thơ Vũ Hối từ trần, nữ sĩ Dương Hồng Anh đã làm ngay bài thơ Tưởng Nhớ Vũ Hối:

     Thế là xa cách từ nay

    Tiếc thương Vũ Hối thiên tài văn chương

    Thơ văn, Thư pháp sở trường

    Anh đem gom tặng bốn phương bạn bè

    Hoa tay, hoa bút đam mê

    Lừng danh thế giới chẳng hề tính toan

    Với đời, sống trọn nghĩa nhân

    Với thơ, anh trải chữ tâm tháng ngày

    Quà xuân Mậu Tuất còn đây

    Mà sao anh vội về ngay nhà Trời

    Tâm hương đưa tiễn ngậm ngùi

    Chúc anh thanh thản mỉm cười Tiên Du

    Viết về nữ sĩ Dương Hồng Anh đã có rất nhiều bạn thơ, văn  như  các nhà văn Khánh Lan, Trần Việt Hải, thi sĩ Tha Nhân ..và theo tôi, nhà văn Trần Minh Trí trong bài “Cảm nghĩ về thơ Dương Hồng Anh” đã nói hết cho người đọc biết về con người, về chất thơ, về tấm lòng yêu quê hương, bạn bè và tha nhân của nữ sĩ Dương Hồng Anh “..qua ba tập thơ xuất bản kế tiếp tại Hoa Kỳ: Từ Phương Trời Xa, Chiều Bến Đợi và Tiếng Thầm, tôi cảm nhận được hồn thơ dạt dào của bà trong cuộc sống, từ thời thơ ấu, lớn lên ở miền Bắc, di cư vào Nam ở tuổi thiếu nữ còn cắp sách đến trường Trưng Vương, và nay định cư tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ. Bà cảm xúc với cuộc đời, với vạn vật, với người thân, với bạn bè, với nơi chốn cư ngụ, với quê hương gấm vóc, với hồn thiêng sông núi, với danh lam thắng cảnh của Hà Nội đẹp như tiên cảnh, với địa danh chiến công hiển hách của các vị anh hùng dân tộc, với ngày vui lễ hội, với thời tiết bốn mùa, và..với tình yêu, không phải chỉ tình yêu ích kỷ của đôi lứa mà là tình yêu bao la cùng thế sự. Đối với nhà thơ Hồng Anh mọi thứ đã thành thơ . Cả cuộc sống thành thơ trong rung cảm thiết tha say đắm ít ai đạt được. Đọc thơ của bà là một lý thú được chia sẻ cùng bà những cảm xúc tuyệt vời của thơ hay…(Đôi Bờ Thương Nhớ).

    Trước khi ra về, nữ sĩ Dương Hồng Anh còn cho chúng tôi nghe hai bài thơ, một bài nữ sĩ làm tặng nhà thơ Dương Tuyết Lan ở Hà Nội, nhưng cũng có ý nói với chúng tôi, bà “Vẫn Làm Thơ”:

    Em ơi! Chị vẫn làm thơ

    Vẫn còn đêm trắng thẫn thờ gió bay

    Nhớ nhau đếm tháng đếm ngày

    Sầu lên khói biếc hồn say ngàn trùng (Vẫn Làm Thơ trong tập thơ Nguồn Cội.

    Bài thứ hai, là bài nữ sĩ vừa viết khi tuổi đời  vừa đúng 93:

    Mới đấy, mà nay đã chín ba

    Con tàu chở chữ đậu sân ga

    Ga này ga nữa đi chưa hết

     Bút mực hành trang năm tháng qua

    Tôi vẫn đi hoài vẫn bước đi

    Mặc đời dâu bể có hề chi

    Nâng niu kỷ niệm thương và nhớ

    Một góc trời xa nghĩ ngợi gì…….”

    Kính chúc nữ sĩ Dương Hồng  Anh vẫn mãi làm thơ nâng niu kỷ niệm thương và nhớ, để cho đời mãi mãi nhớ thương./.

    Nữ Sĩ Dương Hồng Anh Ra Mắt tập thơ thứ 12 do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức ngày 17 tháng 12, 2024. Từ trái sang Phải: NV Khánh Lan, NV Kiều My, NS Dương Hồng Anh, NV Việt Hải, MC Mộng Thủy.

    Thanh Phong

  • DU LICH,  Khánh Lan

    Du lịch ngắm hoa anh đào và thăm bạn

    March 28, 2024: Cuộc thưởng ngoạn ngắm hoa anh đào vùng Washington D.C cuối tháng Ba đã đem đến cho chúng tôi nhiều ngạc nhiên và thích thú cũng như đã để lại trong chúng tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Tuy khởi đầu cuộc du lịch gặp nhiều trắc trở vì chuyến bay từ phi trường LAX đến phi trường Dulles International, Virginia bị đình trệ, “Stand by” flights đến ba lần vì hãng máy bay American đã “booked” quá tải, phải ngủ lại khách sạn một đêm, hành lý bị thất lạc, v.v… Tuy đó là “chuyện lớn” nhưng vẫn không làm nản lòng sáu chúng tôi gồm: Chị Tố  Đoan,  Kiều Chi, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Khánh Lan, và Mạnh Bổng.

    Từ trái sang phải: Mạnh Bổng, Chị Hằng vợ anh Phạm Xuân Thái, Kiều Chi, Tố Đoan, Khánh Lan, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Anh Phạm Xuân Thái. (Hình chụp tại Alexandia Harbor)

    March 29, 2024: Sau cùng chúng tôi đã được lên máy bay nhưng đường bay hoàn toàn thay đổi. Nếu đúng như chương trình hoạch định thì chuyến bay “one stop” của chúng tôi sẽ ghé phi trường Dallas Fort Worth (DFW) International, Texas rồi bay thẳng qua phi trường Dulles International, Virginia. Nhưng cuối cùng lại trở thành chuyến bay “Two stops”, máy bay đã dừng lại ở phi trường DFW, Texas và Des Moines International (DSM), Iowa trước khi bay đến phi trường Ronald Reagan National, Washington DC, thay vì đi đến phi trường Dulles International, Virginia như theo chương trình đã ấn định lúc ban đầu. Chính vì sự đảo lộn đó mà hành lý của chúng tôi đã đi theo máy bay về phi trường Dulles International, Virginia thay vì phi trường Ronald Reagan, Washington DC.

    Sau khi máy bay hạ cánh tại phi trường Ronald Reagan, Washington DC khoảng 11:30 tối, chúng tôi đã nhận thấy anh Phạm Xuân Thái đứng ở khu lấy hành lý từ bao giờ. Anh Phạm Xuân Thái là anh của Kiều Chi, anh là người đã sống tại tiểu bang Washington DC từ năm 1975 cho đến nay và cũng là bạn rất thân với gia đình NV Hồng Thủy. Từ đầu tháng Ba, Anh Thái đã rất chu đáo và tận tình trong việc hướng dẫn & hoạch định chương trình thăm viếng ba vùng Washington DC, Virginia, Maryland cho chúng tôi lần này. Trong khi Kiều Chi giới thiệu chúng tôi với anh Thái thì cũng là lúc chúng tôi được biết hành lý của chúng tôi hiện đang ở phi trường Duller International, Virgina.

    Từ giã anh Phạm Xuân Thái và Kiều Chi, chúng tôi thuê Uber về phi trường Dulles International, Virginia để lấy hành lý, lúc đó đã gần nửa đêm nên kho chứa hành lý của hãng máy bay American sắp đóng cửa. Lấy hành lý xong, chúng tôi đi lấy xe tại Dollar Rent A Car và lái xe về tư gia của NV Hồng Thủy, đồng hồ điểm 1:30 sáng. Thế mà NV Hồng Thủy vẫn thức để chờ đón chúng tôi. (Cám ơn lòng hiếu khách của chị Hồng Thủy). Như vậy, chúng tôi đã mất 2 ngày để bay từ California đến Washington DC.

    Khánh Lan, Ngân (bạn của Kiều Chi từ tiểu bang Kansas), Kiều Chi, Tuyết Nga, Đức Hạnh, Chị Tố Đoan.

    March 30, 2024: Ngắm hoa anh đào tại bờ hồ Tidal Basin, Vì là Easter Spring Break nên du khách đến thưởng ngoạn hoa anh đào rất đông và chúng tôi không sao tìm được chỗ đậu xe. Anh Mạnh Bổng và anh Xuân Thái đành phải hy sinh lái xe lòng vòng quanh khu Tidal Basin sau khi “drop chúng tôi off“, chờ chúng tôi đi xem hoa và chụp hình. (Cám ơn sự kiên nhẫn đáng yêu của hai anh).

    3,000 cây hoa anh đào Nhật Bản hơn 100 trăm năm tuổi đồng loạt nở rộ ở khu vực quanh bờ hồ Tidal Basin, thủ đô Washington D.C và đã thu hút hàng triệu người từ khắp nơi đến thưởng ngoạn. Quanh bờ hồ, những bông hoa đào đã nở rộ, rực rỡ. Những cánh hoa đào mong manh bay bay trong gió, những cành hoa đào nghiêng bóng xuống mặt hồ trong vắt tạo nên một khung cảnh thật thơ mộng và hữu tình.

    Tuyết Nga, Khánh Lan, Chị Hằng, Ngân, Kiều Chi, Tố Đoan, Hồng Thủy, Đức Hạnh.

    Hoa Anh Đào năm nay nở sớm do nhiệt độ bất thường tại Thủ đô Washington D.C., nhưng vẫn còn ưu ái để lại trên cành những chùm hoa màu trắng, màu Hồng xinh xắn. Du khách cũng như chúng tôi len lỏi, chen nhau ngắm hoa và chụp hình lưu niệm. Có lẽ để mừng lễ Phục Sinh nên khu Tidal Basin hôm nay vui quá, hàng ngàn cánh diều với nhiều hình dạng và màu sắc khác nhau tung bay phất phới trên bầu trời trông thật vui mắt, thật đẹp và hay lạ. Chuyến du lịch ngắm hoa Anh Đào năm nay của chúng tôi thật đúng lúc, đúng thời gian và “lucky” vì NV Hồng Thủy cho biết qua năm 2025 sẽ có khoảng hơn 200 cây hoa anh đào quanh khu Tidal Basin bị chặt, đốn đi vì rễ cây đâm xuống làm nứt hồ nước.

    NV Hồng Thủy & Khánh Lan

    Lincoln Memorial và Thomas Jefferson Monument cũng không xa nên chúng tôi tản bộ qua để chụp những tấm hình lưu niệm trước khi ra về.

    March 31, 2024: Ngắm hoa Anh Đào tại khu làng Kenwood: Theo lời chỉ dẫn của anh Phạm Hồng Thái, chúng tôi đi ngắm hoa anh đào tại khu làng Kenwood. theo tài liệu internet cho biết, Kenwood vào đầu những năm 1930 và 1940, một nhà phát triển địa phương đã trồng cây anh đào như một cách để thu hút những người mua nhà tại khu ngoại ô thành phố này. Hiện nay có hơn 1,200 cây hoa anh đào và những cây hoa Magnolia tại đây đã tô điểm cho khu làng Kenwood trở nên tuyệt vời với hàng trăm nghìn bông hoa nhỏ màu trắng xinh đẹp nở rộ trong mỗi mùa xuân. Làng hoa anh đào Kenwood là một trong những địa điểm ngắm hoa anh đào nổi tiếng tại thủ đô Washington D.C.

    Hoa Magnolia và Khánh Lan

    Khu làng Kenwood với những ngôi nhà trị giá hơn 1 triệu USD

    Kenwood là một khu phố đẹp với những ngôi nhà trị giá hơn 1 triệu USD nằm giữa River Road và Little Falls Parkway ở Chevy Chase. Nó được phát triển bởi Edgar Kennedy – ông chủ tòa nhà chung cư Kennedy-Warren trong Quận – và cộng sự của ông là Donal Chamberlin. Ted Beverly, người đã sống ở Kenwood từ năm 1978 cho biết các cây hoa anh đào được bắt đầu trồng cây ngay cả trước khi những căn nhà được bắt đầu xây cất. Những ngôi nhà đầu tiên tại Kenwood được hoàn thành vào năm 1929.

    Những con đường tràn ngập hoa anh đào

    Khi những cây anh đào được trồng xung quanh Tidal Basin vào năm 1912 đã truyền cảm hứng cho Kennedy và Chamberlin. Nhưng thực ra chính một cư dân Quận Montgomery mới là người đầu tiên đề xuất trồng những cây có hoa cho khu vực này, David Fairchild là một “nhà thám hiểm thực vật” của Bộ Nông nghiệp sống ở Chevy Chase. Năm 1906, ông đã nhập cảng 100 cây hoa anh đào từ Công ty Yokohama và trồng chúng trên sườn đồi trong khu đất của mình và nhận thấy cây phát triển mạnh ở khu vực này và đến năm 1934, 2,000 cây anh đào Yoshino đã được trồng tài Washington D.C.

    Vào mùa xuân, những cành hoa trĩu nặng uốn lượn trên các con phố Kenwood, che khuất bầu trời một màu trắng xáo tựa như một tấm màn phủ đầy tuyết và thu hút hàng ngàn du khách mỗi năm.

    Phong cảnh đẹp trong khu làng Kenwood

    Cũng trong ngày 31 tháng 3, chúng tôi tham dự buổi “Hội Ngộ Kinh Thương 2024” tại nhà Cô Vân Nga, giáo sư anh văn của trường Đại Học Kinh Thương Minh Đức, Saigon. Sau bao năm không gặp nhau, các anh chị Kinh Thương kẻ còn người mất, tay bắt mặt mừng.

    Khánh Lan và Cô Vân Nga

    Kinh Thương Hội Ngộ 2024

    Aril 1, 2024:  The US Capital, Botanical Garden, Hirshhorn Sculpture Garden, Galery Of Art Museum, v.v…Thật là một cực hình để tìm được một chỗ đậu xe tại các địa điểm này, vì thế Anh Mạnh Bỗng thường bỏ chúng tôi trước cửa để đi tìm chỗ đậu xe hoặc chạy lòng vòng quanh phố để 5 đứa con gái như chúng tôi có cơ hội chụp những tấm hình đẹp. (Cảm ơn anh Mạnh Bổng).

    The US Capital

    Hirshhorn Sculpture Garden, Galery Of Art Museum

    Botanical Garden, Khánh Lan, Tố Đoan, Đức Hạnh…cứ lội mưa mà đi…tỉnh bơ…

    April 2, 2024: The White House: Sau khi lòng vòng bên ngoài của The White House và chụp hình phía ngoài cổng. Chúng tôi đi ăn trưa tại khu VN Eden Center, đây là trung tâm sinh hoạt thương mại của người Việt giống như khu Little Sài Gòn ở quận Cam của chúng ta. Khánh Lan đã gặp Ông Nam Lộc tại đây như theo lời dặn của NV Việt Hải và chụp một tấm hình lưu niệm với ông như NV Việt Hải giao phó. Hôm ấy Ông Nam Lộc làm MC cho chương trình đại nhạc hội của tiệm Teletron.

    The White House

    Chúng tôi đi ăn trưa tại khu VN Eden Center

    Mạnh Bổng, Ngân, Hạnh, Khánh Lan, Kiều Chi, Xuân Thái, Tố Đoan, Tuyết Nga, Chị Hằng, Hồng Thủy, Mẫn

    Buổi trưa, họp mặt tại nhà của anh Phạm Xuân Thái & Chị Hằng và cũng là buổi tiễn chân bạn hai bạn  Mẫn & Ngân về lại tiểu bang Kansas. Tại đây, chúng tôi đã gặp con trai thứ của nhạc sĩ Hoàng Trọng, Ca nhạc sĩ Hoàng Cung FA và em họ của khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, Dương Nguyệt Thu Lan. Cũng tại đây, chúng tôi đã gặp nhiều anh chị khác như anh chị Hiệp & Thư, anh chị Tiến & Thu Lan. Tất cả các anh chị này đều hát rất hay và hát các nhạc phẩm thuộc thể loại nhạc tiền chiến mà chúng tôi rất yêu thích.

    Chị Hằng, Tuyết Nga, CNS Hoàng Cung Pha (Con của NS Hoàng Trọng), anh Xuân Thái, Mạnh Bổng, Đức Hạnh, Tố Đoan, Hồng Thủy, Khánh Lan

    Hàng đứng: Các anh Tiến, Mẫn, Thái, Hiệp, Hoàng Cung Pha và chị Hằng. Hàng ngồi: Tố Đoan, Khánh Lan, Tuyết Nga, Chị Thư, Ngân, Hạnh, Kiều Chi, Chị Thu Lan, NV Hồng Thủy

    Buổi tối, chúng tôi cùng NV Hồng Thủy đến dự buổi họp mặt văn nghệ tại tư gia của nhà văn tiến sĩ Lưu Nguyễn Đạt. Hôm ấy, ca sỹ Anh Dũng cũng đến giúp vui. Thật là thú vị được thưởng thức những tiếng hát rất hay và nghe những bản nhạc tiền chiến mà các anh chị đến giúp vui văn nghệ đã hát hôm ấy. Nhà văn tiếp sĩ Lưu Nguyễn Đạt đã tặng khánh Lan ba tác phẩm văn học của ông gồm: văn, thơ và biên khảo mà ông đã cho xuất bản cách đây vài năm trước. Ông cũng không quên gửi tặng NV Việt Hải một thi tập song ngữ: Heartfulness hay Hồn Nước.

    Họp mặt tại nhà của NV TS Lưu Nguyễn Đạt. NV Lưu Nguyễn Đạt & Ca Sĩ Anh Dũng

    Tại đây, chúng tôi cũng gặp được Thi sĩ Lê Thị Ý,  Bà là tác giả của bài thơ Tưởng Như Còn Người Yêu. Bài thơ này đã được Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Chúng tôi cũng có cơ hội phỏng vấn Bà về nguồn cảm hứng gì đã khiến Bà sáng tác bài thơ này. Bà nói, Bà sống ở Ban Mê Thuật, nơi mà Bà đã nhìn thấy và là nhân chứng của nhiều chiến sĩ đã nằm xuống, cảnh những đám tang và những thiếu phụ đã khóc than trong đau khổ vì mất người yêu, v, v…nên vì thương cảm cho hoàn cảnh của họ, Bà đã viết nên bài thơ này.

    NV Khánh Lan, TS Lê Thị Ý, NV Hồng Thủy

    April 3, 2024: Thăm cô của Tuyết Nga ở Virginia cách Maryland khoảng hơn một tiếng lái xe và dùng cơm trưa với gia đình của cô.

    Thăm gia dình Cô của Tuyết Nga

    April 4, 2024: Thăm viếng “The Colonial Williamsburg” ở thành phố Virginia.  Williamsburg là một thành phố của bang Virginia ở Hoa Kỳ, trước kia là thủ đô của Thuộc địa Virginia từ năm 1699 đến năm 1780 và đóng một vai trò quan trọng trong Cách mạng Hoa Kỳ. Nó tạo thành “Tam giác lịch sử” cùng với Jamestown và Yorktown. Trung tâm của nó là Colonial Williamsburg, một khu làng lịch sử và bảo tàng lịch sử với những sinh hoạt sống động, các diễn viên hoặc người bán hàng tại Colonial Williamsburg mặc những trang phục cổ xưa mô tả cuộc sống thuộc địa hàng ngày trên đường phố, cửa hàng và công xưởng.

    Colonial Williamsburg

    April 5, 2024, Philadelphia, Pennsylvania và thăm Cô của Khánh Lan: Chúng tôi quyết định đi thăm thành phố Philadelphia thuộc tiểu bang Pennsylvania và tiện thể thăm cô của Khánh Lan sau khi chúng tôi ghé thăm The Liberty Bell, The Love Park, the Old City Hall và The Rading Terminal Market. Rất tiếc là chúng tôi không có đủ thời gian để ghé thăm The Old town of Philadelphia và The Amis town. Đã bao năm không trở về đây, thành phố đã thay đổi rất nhiều, đẹp hơn và đông du khách hơn. (Đây là lần thứ ba Khánh Lan trở lại nơi này).

    Tại “Liberty Bell”

    Tuyết Nga & Đức Hạnh ở “The Rading Terminal Market”

    Ghé thăm gia đình Cô của Khánh Lan

    April 6, 2024, ghé thăm nhà thờ The Basilica of the National Shrine of the Immaculate Conception và dạo phố Old town Alexandria, National Harbor:

    The Basilica of the Nationa Shrine of the Immaculate Conception hay Vương cung thánh đường của đền thờ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội

    Địa chỉ: 400 Michigan Ave NE, Washington, DC 20017 và mở cửa chính thức năm 1959. Architect: Charles Donagh Maginnis và Architectural styles: Romanesque Revival architecture, Neo-Byzantine architecture.

    Basilica of the National Shrine of the Immaculate Conception là nhà thờ Công giáo La Mã lớn nhất ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ, và là một trong mười nhà thờ lớn nhất trên thế giới. Nhà thờ được Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ chỉ định là Thánh địa cầu nguyện và hành hương quốc gia. Vương cung thánh đường là đền thờ Đức Mẹ nổi tiếng của quốc gia, dành riêng cho bổn mạng của Hoa Kỳ; Đức Trinh Nữ Maria dưới danh hiệu là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và thường được gọi là Nhà thờ Công giáo của Hoa Kỳ. Được viếng thăm bởi Giáo hoàng Phanxicô, Giáo hoàng Benedict XVI, Thánh John Paul II, và Thánh Teresa of Calcutta, Vương cung thánh đường, sánh ngang với các thánh địa lớn của châu Âu và thế giới.

    Mang phong cách Byzantine-Romanesque, kiến ​​trúc thượng tầng đồ sộ là nơi có hơn 80 nhà nguyện và phòng thí nghiệm liên quan đến các dân tộc, nền văn hóa và truyền thống vốn là kết cấu của đức tin Công giáo. Vương cung thánh đường cũng là nơi lưu giữ bộ sưu tập nghệ thuật giáo hội đương đại lớn nhất trên trái đất. Mở cửa 365 ngày mỗi năm, Vương cung thánh đường đón gần một triệu du khách hàng năm, thu hút khách hành hương cũng như khách du lịch từ khắp nơi trên đất nước và trên thế giới.

    Vương cung thánh đường Đền thờ Quốc gia Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội phải mất 39 năm để xây dựng kể từ khi bắt đầu xây dựng vào năm 1920 cho đến khi hoàn thành vào năm 1959, sau một thời gian gián đoạn trong Thế chiến thứ hai. Các kiến trúc sư Maginnis và Walsh ở Boston đã chọn phong cách La Mã-Byzantine cho tượng đài Công giáo quốc gia để tượng trưng cho đức tin và tình yêu của Hoa Kỳ đối với người bảo trợ của nó, Đức Trinh Nữ Maria. Đức Maria dưới danh hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

    Kiến trúc La Mã được xác định bởi kích thước đồ sộ, tường dày, mái vòm, trụ cầu, vòm háng, tháp và xe cứu thương được trang trí, trong khi kiến trúc Byzantine được chú ý nhờ đặc điểm đặc biệt nhất của nó, mái vòm. Trong kiến trúc Byzantine, một mái vòm hình tròn hoặc hình elip được đặt trên một căn phòng hình vuông hoặc hình chữ nhật bằng các mặt dây chuyền, kết cấu hình tam giác giúp tăng cường và hỗ trợ phần đế giữ mái vòm. Phong cách Romanesque-Byzantine đã được chọn cho Đền thờ Quốc gia để cho phép xây dựng bên ngoài cùng một lúc và bên trong, để hài hòa với kiến trúc của Washington, D.C., và để phân biệt với Nhà thờ Quốc gia Washington – kiểu Gothic Nhà thờ Tân giáo có công trình đang được tiến hành vào thời điểm đó.

    Ngày nay, Vương cung thánh đường Đền thờ Quốc gia Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội là nhà thờ Công giáo La Mã lớn nhất ở Bắc Mỹ và nằm trong số mười nhà thờ lớn nhất thế giới và được xây dựng hoàn toàn bằng đá, gạch, ngói – không có khung hoặc cột thép kết cấu. Vương cung thánh đường chứa bộ sưu tập nghệ thuật giáo hội đương đại lớn nhất thế giới. Hơn nữa, sự trang trí nghệ thuật của Vương cung thánh đường, cả trong lẫn ngoài, đều phù hợp với phong cách kiến trúc La Mã-Byzantine. Bên ngoài của Vương cung thánh đường có hình tượng của các vị thánh cũng như các cổng vòm và cổng vòm được điêu khắc tinh xảo.

    Tympana được điêu khắc phù điêu trang trí các lối vào phía đông và phía tây bên trong cũng như các hốc khác nhau ở khu vực gian giữa và thánh đường. Cửa sổ kính màu và kính mài trang trí cho cả khu vực Nhà thờ Thượng và Hạ. Nghệ thuật Byzantine đáng chú ý ở việc sử dụng khảm và đá cẩm thạch. Điều này bao gồm việc trang trí khảm bảy mái vòm chính cùng với nhiều nhà nguyện và nhà nguyện bên cạnh. Nhà thờ cũng được trang trí bằng những tấm đá cẩm thạch tuyệt đẹp. Những viên bi mịn hơn mở ra cho phép các đường vân của đá cẩm thạch tạo thành các mẫu đối xứng. (dựa theo tài liệu Wikipedia)

    Old town Alexandria, National Harbor:
    Rời nhà thờ The Basilica of the Nationa Shrine of the Immaculate Conception, anh Phạm Xuân Thái đưa chúng tôi đi dạo phố Old town Alexandria và dùng bữa cơm trưa tại nhà hàng Thái. Ăn xong, chúng tôi đi đến National Harbor, chụp hình cùng với các pho tượng của các binh chủng Hoa Kỳ, pho tượng Marilyn Monroe, v.v…Sau cùng là thử thời vận, đen đỏ tại Casino. Xui quá, mỗi chúng tôi thua $20.

    Alexandria Harbor

    Dạo phố Alaxandria Harbor

    Dùng bữa cơm trưa tại nhà hàng Thái, Mai Restaurant

    Và dạo phố tại National Harbor

    The Famous Pictures

    April 7, 2024 thăm bạn của Chị Tố Đoan, một người bạn cùng quê và cùng trại tỵ nạn mà chị Tố Đoan đã không gặp lại từ ngày đi định cư tại Mỹ. Con gái của chị bạn này đã bị lạc đạn trong một lần đi chơi cùng các bạn tại Las Vegas khi em mới 21 tuổi, năm nay em mới 28 tuỗi. Em là đứa con gái duy nhất của bạn chị Tố Đoan.

    April 8, 2024: Đạo phố RIO, Buổi sáng, sau bữa ăn điểm tâm, Chị Hồng Thủy rủ chúng tôi đi mua sắm tại khu shopping Rio. Rio Shopping Center là khu mua sắm sang trọng của các khách hàng giầu có. Nơi đây có phong cảnh đẹp, hồ nước và các nhà hàng lịch sự. Sau khi mua sắm một vài món hàng và dạo phố, chúng tôi dùng bữa cơm trưa tại một nhà hàng Mexico.

    Rio Shopping Center

    Buổi chiều, chúng tôi cùng Chị Hồng Thủy chuẩn bị bữa cơm mời anh chị Thái & Hằng. Chị Hồng Thủy thật chu đáo và hiếu khách. Từ hôm trước, chị đã chuẩn bị thức ăn cho mọi người, nào là bún riêu cua, mì xào dòn. Đây là hai món ăn đặc biệt mà chị nấu rất ngon. Chiều nay, chúng tôi đã có một bữa tiệc gia đình thân mật và đầm ấm. Cám ơn Chị Hồng Thủy nhiều và nhiều lắm.

    Bữa cơm thân tình

    April 9, 2024: Ngày cuối ở Maryland và chuẩn bị về lại California. Chuyến bay non-stop lúc 5:30 chiều nay sẽ đưa chúng tôi trở về California. Hôm nay, chúng tôi không đi đâu cả và quyết định “spend some times” với Chị Hồng Thủy. Mười mấy ngày rong chơi, hôm nay là ngày đầu tiên chúng tôi “take it easy” và chị em ngồi nói chuyện với nhau như thể cùng sống chung trong một mái nhà từ lâu. Chúng tôi vừa ôn lại chuyện cũ và chia sẻ những chuyện mới. Có thể nói, đây là chuyến du lịch đầu tiên mà chúng tôi cảm nhận được cái không khí thân tình giữa tình bạn hữu, sự ân cần, chăm lo của một người chị (Hồng Thủy) khiến chúng tôi vô cùng cảm kích.

    Trước cửa nhà của Chị Hồng Thủy

    Chúng tôi cũng xin mượn giây phút này để gửi lời cảm ơn đến anh Phạm Xuân Thái và chị Hằng đã rất chu đáo và hướng dẫn rất tường tận các địa điểm du lịch cũng như thắng cảnh đẹp. Nhất là Chị Hồng Thủy đã tiếp đón chúng tôi rất nồng hậu, nhiệt tình và chu đáo từ miếng ăn đến giấc ngủ như một người chị cả. Chúng em cảm ơn Chị thật nhiều.

    Khánh Lan, California 2024

    Khánh Lan tại “The Love Park”

  • Tin tức

    CHINH PHỤ NGÂM & VƯỜN HOA THƠ

    Lời Tựa Của Tác Gỉả (Vương Thanh)
    (Preface for Vietnamese & Bilingual Readers)
    Chinh Phụ Ngâm, nguyên tác của danh sĩ Đặng Trần Côn, diễn nôm song thất lục bát của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm là một áng thơ tình kiệt tác của Việt Nam và thế giới. Tập thơ diễn tả nỗi thương nhớ chồng, người chinh phu nơi quan ải, và những đau khổ người khuê phụ thời chiến loạn phải chịu đựng trong sự sự bạo tàn của chiến tranh. Tiếp tục sự đóng góp cá nhân cho công trình bảo tồn và phổ biến văn hóa Việt mà tôi bắt đầu từ tập thơ nhạc song ngữ “A Garden of Vietnamese Lyrics & Verse”, gồm khoảng 150 bài thơ và nhạc của nhiều tác giả, tiền chiến và hiện đại, xuất bản năm 2019, cho đến tác phẩm song ngữ “The Tale of Kiều” được phổ biến năm 2023 qua ebook, sách in, trang mạng và youtube videos, rồi năm giáp thìn này, tôi vừa hoàn tất tập thơ song ngữ “Chinh Phụ Ngâm / Lament Song of a Soldier’s Wife”.
    Để tiện lợi cho việc phổ biến văn hóa Lạc Hồng tới tay những người yêu thơ ở khắp nơi trên thế giới, tôi làm ebook thay vì sách in, tuy cũng có bản giấy đen trắng được phổ biến trên Amazon cho hai tập thơ nhạc song ngữ “The Tale of Kieu” và “A Garden of Vietnamese Lyrics & Verse”. Với sách ebook, tranh ảnh, lời thơ có màu sắc, đẹp, dễ đọc và có thể mang theo trong phone hay để trên mạng và xem bất cứ nơi nào, lúc nào. Ebook (sách điện tử) có links để bấm vào xem những tài liệu liên quan ở trên mạng Internet, hay là nghe nhạc, xem youtube videos. Bản giấy in không thể làm được những điều này.
    Chinh Phụ Ngâm dùng nhiều từ cổ và điển tích, nên bản tiếng Việt cũng không dễ đọc. Dưới mỗi trang thơ gồm những đoạn thơ Việt, Anh đối chiếu, tôi để chú thích tiếng Việt và có khi chú thích tiếng Anh. Chú thích tiếng Anh ít khi cần thiết vì bản dịch tiếng Anh cũng giải thích vừa đủ để thưởng thức và không có những từ cổ như bản tiếng Việt. Tôi nghĩ một thiếu niên lớp 10, lớp 11 ở Hoa Kỳ có thể đọc hiểu bản dịch tiếng Anh thoải mái.

    Thể thơ tự do được dùng trong việc chuyển ngữ. Với sự khác biệt rất lớn giữa hai ngôn ngữ Anh, Việt, thì chỉ có thể thơ tự do mới có thể diễn tả tương đối trọn vẹn ý nghĩa của một áng thơ nguyên tác dài. Không bị gò bó bởi khuôn khổ, bởi vần điệu, âm tiết, số câu, số chữ, nên có thể dùng những cụm từ thích hợp nhất với ý nghĩa của nguyên tác. Tuy thể tự do, nhưng cũng khá nhiều vần điệu vì tôi là nhà thơ song ngữ và là người Việt Nam, nên cố gắng làm cho những lời thơ dịch nghe nhẹ nhàng, tự nhiên, ngát hương vị thơ, để khỏi phụ lòng những áng văn chương kiệt tác của quê hương.
    Dịch thơ Việt qua tiếng Anh khác khá nhiều với dịch thơ tiếng Hán qua tiếng Việt. Tiếng Việt có rất nhiều vần và có nhiều từ Hán Việt thông dụng, nên dịch qua thơ Việt khá dễ dàng.
    Trong hơn 50 bài Hán thi mà tôi dịch qua thơ Việt, với những tác giả Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lý Thương Ẩn, Lương Ý Nương, Tô Đông Pha, v.v., tôi đã dùng nhiều thể loại thơ bao gồm bát cú, lục bát, tứ tuyệt, thất ngôn, lục ngôn, tự do (và tự do phối hợp nhiều thể loại thơ). Quan điểm chính yếu trong dịch thuật của tôi là phải dịch tương đối sát ý nghĩa với nguyên tác, và cho bản dịch có “Hồn”, lời nghe tự nhiên, còn dùng thể thơ nào chỉ là tùy duyên.
    Tôi dịch những tác phẩm truyện Kiều, Khu Vườn Thơ Nhạc Việt, Chinh Phụ Ngâm, v.v. qua Anh ngữ cũng là DUYÊN.. Duyên là vì tôi lớn lên và ở Hoa Kỳ gần nửa thế kỷ và làm thơ từ thuở thiếu niên. Một hôm, tôi đọc lướt qua một số câu dịch truyện Kiều qua tiếng Anh của vài dịch giả, đăng ở trên mạng. Tôi thấy có những bản dịch phóng tác quá nhiều, thêm thắt ý tưởng, lời riêng của dịch giả để gò ép cho có vần, hay có bản vì gò ép số âm tiết (syllables) cho mỗi câu, nên nghe rất không tự nhiên, có khi rườm lời, có khi thiếu sót và làm mất đi khá nhiều cái Hay, cái Đẹp của câu thơ trong nguyên tác. Vì cái Duyên ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, vì cái Duyên là một nhà thơ song ngữ, vì cái Duyên yêu thích thơ cổ phong (mời đọc áng thơ Vọng Tiền Nhân của VT), vì cái Duyên tôn trọng sự chính xác của một người làm việc trong ngành kỹ thuật, tôi muốn đóng góp, sau khi tham khảo vài bản dịch khác, một bản dịch truyện Kiều thật xứng đáng với văn chương tuyệt diệu của thi hào Nguyễn Du. Tôi đưa phổ biến đầu năm 2023, rồi mùa đông vừa qua,
    tôi chợt có cảm hứng muốn dịch áng thơ gửi gấm nỗi lòng người chinh phụ thời ly loạn: kiệt tác phẩm Chinh Phụ Ngâm. Quyển sách ebook gồm hai tập thơ: “Chinh Phụ Ngâm” và “Vườn Hoa Thơ Nhạc Lạc Hồng”.
    Lúc đầu, tôi tính chỉ cho vào một ít thơ văn nhạc của mình ở cuối sách để bạn đọc biết thêm một chút về dịch giả Chinh Phụ Ngâm. Nhưng trước khi xuất bản lại chợt muốn chia sẻ một ít di sản của nền thi ca, âm nhạc Việt, nên quyết định làm một vườn hoa thơ nhạc cho vào cuối tập để tiện việc phổ biến văn hóa quê hương. Từ đó, tập thơ “Vườn Hoa Thơ Nhạc Lạc Hồng” ra đời với thơ và nhạc của 165+ tác giả, 60+ nghệ sĩ, đường dẫn vào (links) 120+ youtube videos và mp3s, và 180+ đóa hoa thơ, hoa nhạc.
    Chúc bạn đọc những khoảnh khắc an vui, thoải mái khi xem tập thơ Chinh Phụ Ngâm và dạo bước Vườn Hoa Thơ Nhạc Lạc Hồng. Xin tùy tiện chỉa sẻ tập thơ nhạc này với gia đình và quý bằng hữu.

    Vương Thanh
    March 25, 2024

    Thơ VƯƠNG THANH.jpeg

    ***********Lời Giới Thiệu (Nhất Hùng)CŨNG LÀ MỘT “CÔNG ĐỨC”
    Nhất Hùng Mar 01, 2024

    Là người yêu văn học, vì thế chẳng thể nào lại không nghiền ngẫm những tác phẩm “Văn Học Trung Đại” lớn của Việt Nam như TRUYỆN KIỀU, CUNG OÁN NGÂM KHÚC, CHINH PHỤ NGÂM. Trong dòng Văn Học Trung Đại ấy tôi đặc biệt yêu thích tác phẩm CHINH PHỤ NGÂM của Đặng Trần Côn bởi vì đây là một tác phẩm Văn Học có giá trị, có nội dung và có tính nghệ thuật sâu sắc, một viên ngọc quý trong kho tàng Văn Học Việt Nam. Chinh Phụ Ngâm còn là một trong những tác phẩm đầu tiên của thể loại ngâm khúc, nó có ảnh hưởng lớn đến các tác phẩm ngâm khúc sau này như Cung Oán Ngâm Khúc, Thu Dạ Lữ Hoài Ngâm…Và quan trọng nhất tác phẩm này vẫn còn nguyên giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc cho đến ngày nay.
    Điểm qua nội dung, tác phẩm Chinh Phụ Ngâm thể hiện giá trị nhân đạo, đồng cảm sâu sắc với những nổi đau khổ, bất hạnh của người “chinh phụ” phải chịu cảnh xa cách, biệt ly chồng trong hoàn cảnh ly loạn, điều này đúng cho bất cứ “chinh phụ” nào ở khắp nơi trên quả địa cầu. Tác phẩm đã gởi lời ẩn dụ lên án những cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn khốc, gieo rắc bao bi thương mất mát cho con người, nhất là phụ nữ trong thời chiến, ở bất cứ nơi nào, bất cứ thời đại nào.
    Điểm qua giá trị nghệ thuật, Đặng Trần Côn sử dụng thành công thể thơ Song Thất Lục Bát, thể hiện được những cung bậc cảm xúc phức tạp của nhân vật mà lại trữ tình sinh động và hiệu quả.
    Tác giả lại sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ, so sánh, nhiều điển tích điển cố để thể hiện nội dung tác phẩm một cách sâu sắc, gợi cảm. Bút pháp tả cảnh ngụ tình thể hiện tâm trạng nhân vật thật tinh tế thật hiệu quả.
    Một tác phẩm đạt được nhiều ưu điểm của Văn Học Việt Nam như thế mà lại không chuyển ngữ không giới thiệu cho những người yêu thích văn học của thế giới thì thật đáng tiếc. Đặc biệt là ở Mỹ, nơi có hàng triệu con em Việt đang trưởng thành, nếu bảo các em các cháu nói-viết tiếng Anh còn sõi hơn tiếng Việt chắc không sai. Thế sao không giúp cho thế hệ này biết các kiệt tác văn chương Việt Nam. Muốn thế thì phải chuyển ngữ mà chuyển ngữ tác phẩm Chinh Phụ Ngâm sang tiếng Anh, quả thật không đơn giản. Nó đòi hỏi dịch giả phải là người am tường, hiểu được cái tinh túy, cái thâm thúy của Văn Chương Việt
    Lại còn phải hiểu điển tích, điển cố xuyên suốt trong tác phẩm. Một câu thơ, một vài chữ điển tích điển cố được tác giả sử dụng nhưng lại diễn tả một câu chuyện, kể ra có khi dài hơn một trang giấy.
    Những tưởng sẽ không có ai có kỳ công làm cái chuyện tựa “dời non, lấp biển” này.
    Vậy mà hôm nay, bạn trẻ Vương Thanh báo cho biết, đã hoàn tất bản dịch CHINH PHỤ NGÂM qua Anh Ngữ và chuẩn bị in thành tác phẩm song ngữ. Trước hết, cảm ơn bạn đã đóng góp công sức truyền bá, phổ biến Văn Chương Việt cho ít nhất là thế hệ trẻ Việt ở hải ngoại, chỉ có người có tấm lòng yêu Văn Chương Việt, yêu tiếng Việt mới kỳ công đến thế, đúng là Công Đức Vô Lượng.
    Giá trị của tác phẩm Chinh Phụ Ngâm đã được khẳng định. Phần đánh giá bản chuyển ngữ qua tiếng Anh của bạn Vương Thanh xin dành cho độc giả thẩm định. Nhưng tha thiết mời bạn đọc và quảng bá rộng cho thế hệ trẻ Việt ở hải ngoại, làm thế là quý vị đã đóng góp một phần công đức trong nỗ lực ngợi ca và duy trì văn hóa Việt nơi xứ người.
    Được biết bạn Vương Thanh là con trai út của Nữ Sĩ Tuệ Nga, người đã thành danh trong giới Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam. Quả là “Hổ Phụ Sinh Hổ Tử”.
    Chúc Mừng Nữ Sĩ Tuệ Nga, Chúc Mừng Bạn Vương Thanh

    Nhất Hùng

  • RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt,  Vương Trùng Dương

    Hồi Ký “Người Muôn Năm Cũ” của nhà văn Phạm Gia Đại

    Vương Trùng Dương

    Alexander Solzhenitsyn sau 8 năm lao tù  (1945-1953) trong chế độ Cộng Sản Liên Xô đã ghi lại hình ảnh kinh hoàng, đau thương đó trong các tác phẩm The First Circle (Tầng Đầu Địa Ngục), One Day in The Life of Ivan Denitsovich (Một Ngày Trong Đời Của Ivan Denitsovich), Khu Ung Thư (Cancer Ward), Tầng Đầu Địa Ngục (The First Circle), Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago)… Những tác phẩm này đã được dịch sang Việt ngữ, ấn hành trước năm 1975 ở Sài Gòn. (Bài viết “Solzhenitsyn, Chiến Hữu Văn Nghệ” của tôi đăng trên Đặc San Ức Trai của Trường ĐH.CTCT Đà Lạt năm 1973, giới thiệu tổng quát về giá trị tác phẩm của người cầm bút đã sống trong gông cùm của guồng máy cai trị độc tài đảng trị được phổ biến trên văn đàn quốc tế).

    Ngày 10 tháng 12 năm 1970, Hàn Lâm Viện Thụy Điển tuyên bố trao tặng giải Nobel Văn Chương trong toàn bộ tác phẩm của ông đánh động lương tâm mọi người trên thế giới.

    Trong thời gian ở Hoa Kỳ, nhà văn Solzhenitsyn tiếp tục cho ra đời những tác phẩm: Russian Nights, 1977 (Đêm Nước Nga), The Mortal Danger, 1980 (Nguy Hiểm Tử Vong), The Red Whell (Bánh Xe Đỏ), August 1914 (Tháng Tám 1914),  October 1916 (Tháng Mười 1916), March 1917 (Tháng Ba 1917) và April 1917 (Tháng Tư  1917)…

    Sau khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam năm 1975, Quần Đảo Ngục Tù dựng lên từ Nam ba Bắc. Trong chốn lao tù nầy đã có nhiều tù nhân đã ấn hành tác phẩm, tiêu biểu như: Cùm Đỏ của Phạm Quốc Bảo, Đáy Địa Ngục của Tạ Tỵ, Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Cuối Tầng Địa Ngục của Đỗ Văn Phúc, Trại Ái Tử & Bình Điền của Dương Viết Điền… họ là những nhà văn nên viết hồi ký cũng là lẽ thường tình.

    Trải qua 17 năm trong lao tù, tác giả Phạm Gia Đại ấn hành hồi ký Người Tù Cuối Cùng năm 2011. Chương II với Cánh Cửa Địa Ngục, “Một năm ở trại Long Thành, họ đã để cửa ngỏ, bây giờ lần đầu tiên họ chính thức đối xử với chúng tôi như những tù nhân… Cánh cửa của Địa Ngục vừa mở rộng ra để đón nhận chúng tôi vào”. Chương Ngày Trở Về nơi trại tù Hàm Tân (Chương I Khu Rừng Lá Buông) có 3 chương. Chương XXIII (Kết). Danh sách hai mươi người cuối cùng còn sót lại bao gồm bốn ông tướng là Lê Minh Đảo, Lê Văn Thân, Đỗ Kế Giai và Trần Bá Di, mười lăm anh em nữa là hai anh Bửu Uy và trung úy Thắng trong Phủ Đặc Ủy; ba cảnh sát là hai trung tá NH Hải, TV Xoàn, thiếu tá PT Ngưu; người về từ Việt Nam Thương Tín Hoàng Hiểu; thiếu úy PRU trinh sát tỉnh Hòa “điếc”; anh Miên “hồi chánh viên”; ANQĐ là đại tá Sảo, Hãn, trung tá Hiếu, Kiên, thiếu tá Mẫn; lực lượng đặc biệt là thiếu tá LH Minh, nhà văn Thảo Trường TD Hinh và tôi thuộc tòa đại sứ HK”.

    Ngày trở về, anh không được niềm vui trọn vẹn vì người bạn đời “chia tay” trong lúc anh còn ở trong lao tù. Nhưng câu kết: “Anh muốn nói với em rằng anh còn thương yêu em, thương em rất nhiều dù cho kỷ niệm của chúng mình đã phần nào phai nhòa theo năm tháng”.

    Khi chúng tôi cùng làm chung tờ báo trong tòa soạn, tôi mới biết người bạn đời đó là em gái của người bạn cùng khóa với tôi và cùng học với anh ở trường trung học Chu Văn An.

    Tác phẩm Người Tù Cuối cùng với lối hành văn giản dị, nhẹ nhàng, không có gì hằn học nhưng qua từng chương sách với từng cảnh ngộ, nỗi xót xa, đau khổ qua tháng ngày nghịch cảnh và tình cảm cao đẹp của những người tù cư xử với nhau trong hoàn cảnh nghiệt ngã nên rất cảm động.

    Hồi Ký nầy do tác giả dịch sang Anh ngữ The Last Prioners để độc giả ngoại quốc và giới trẻ am hiểu.

    Tác phẩm Những Người Tù Cuối Cùng ra mắt ở Little Saigon ngày 18/5/2011 và The Last Prioners cũng ra mắt vào ngày 15/5/2016. Tác phẩm Người Muôn Năm Cũ sẽ ra mắt vào Chủ Nhật (từ 1 giờ chiều đến 4 giờ chiều) tại Westminster Community, 8200 Westminster Blvd. TP Westminster, đối diện Tượng Đài Việt-Mỹ. Tác giả chọn ngày ra mắt vào tháng 5 rất ý nghĩa vì đó là ngày mất nước.

    Hồi ký Người Muôn Năm Cũ dày trên 500 trang với 17 chương  là tác phẩm thứ nhì của nhà văn Phạm Gia Đại.

    Trải qua 17 năm lao tù với con người mảnh khảnh nhưng rất nghị lực, anh dấn thân trong lãnh vực truyền thông, xông xáo trong sinh hoạt cộng đồng trong những thập niên qua, thật đáng quý.

    Trong hai câu thơ của Vũ Đình Liên vào thời tiền chiến “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ” thường được nhắc đến qua các bài viết khi nhớ đến hình ảnh trong quá khứ, nay nhà văn Phạm Gia Đại chọn tựa đề trong tác phẩm qua 17 chương để độc giả nhớ lại ngày tháng cũ… Nếu gọi “văn tức là người” thì bản tính hiền hòa, nhân hậu của tác giả sẽ cùng đồng cảm với người đọc.

    Vương Trùng DươngLittle Saigon, March 28, 2024

  • Âm nhạc,  KIẾN THỨC TỔNG QUÁT,  Vương Trùng Dương

    Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa & Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds)

    Tên tuổi Lê Văn Khoa, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc, nhiếp ảnh gia, giáo sư… đã được đề cập rất nhiều trước năm 1975 ở trong nước và những thập niên ở hải ngoại.

    Chiều Thứ Bảy 13/11/2013, Hội Hiếu Nhạc và Tổng Hội Sinh Việt Nam đứng ra tổ chức “Lê Văn Khoa – Một Đời Âm Nhạc (A Lifetime of Music)” tại hí viện La Mirada Theatre mừng sinh nhật ông ở tuổi tám mươi và tri ân nguời nhạc sĩ đã dành cả đời hơn nửa thế kỷ phục vụ cho nghệ thuật, cho âm nhạc.

    Trước và sau đó đã có những buổi vinh danh và trình diễn những tác phẩm âm nhạc của ông từ tân nhạc, cổ nhạc đến nhạc cổ điển Tây phương.

    Người con sinh ra trên mảnh đất Tây Đô, Cần Thơ bước vào tuổi chín mươi mốt, tuy sức khỏe yếu nhưng với âm nhạc như “liều thuốc bổ” nên từ Orange County bay sang thành phố Allen, tiểu bang Texas để tham dự buổi trình diễn Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds) với dàn đại hoà tấu Allen Philharmonic và ban hợp xướng Allen Symphony Chorus, vào tối ngày 6 tháng Tư 2024 tại khán thính đường của Allen High School Performing Art Center. Chương trình được chuẩn bị từ tháng Hai năm nay, có sự chấp thuận và ủng hộ của Chủ Tịch Kathy Litinas cùng ban quản trị The Allen Philharmonic tại thành phố Allen cùng các nhạc trưởng, giám đốc âm nhạc như Ryan Ross, Rusty King…. Giám đốc điều hành chương trình, Ian Bùi, Diễm Tú, nghệ sĩ Hải Yến và Chủ Tịch The Allen Philharmonic Kathy Litinas. Cô Diễm Tú viết và đọc các mẩu giới thiệu Anh-Việt cho từng bản nhạc.

    Theo các bản tin, bài viết ghi nhận được, tổng hợp chương trình nhạc giao hưởng với các ca nhạc sĩ Việt Nam và Mỹ. Theo nhà thơ Đinh Yên Thảo:

    Theo lời Ban Tổ Chức, “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” là sự kết hợp Đông-Tây độc đáo, mang những thang âm mới mẻ, chưa từng được công diễn bất cứ nơi nào qua những tiếng đàn bầu, đàn kìm, đàn tranh, đàn T’rưng hoà quyện cùng dàn nhạc giao hưởng và ban hợp xướng Tây phương. Từ vọng cổ Cao Văn Lầu cho đến opera, từ nhạc sĩ Lê Văn Khoa cùng các nhạc sĩ qua nhiều thế hệ… Từ những tài danh Việt-Mỹ từng đoạt giải thưởng âm nhạc Grammy danh giá cho đến các nhà soạn nhạc trẻ tài năng gốc Việt đang tạo tiếng vang tại hải ngoại, chương trình là câu chuyện kể về chiến tranh và ước vọng hoà bình, về những mất mát trong hành trình tìm tự do.

    “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” là cuộc hội ngộ văn hóa hiếm hoi tại Mỹ, không chỉ giới thiệu nhạc Việt và những tài năng trình diễn và sáng tác nhạc cổ điển gốc Việt đến các khán giả Mỹ mà còn mang đến cho khán giả Việt một hành trình âm nhạc Việt Nam, những hoài niệm về lễ hội trăng rằm, những ngày quê hương thanh bình ngày xưa, cùng niềm tự hào và hy vọng về một thế hệ trẻ gốc Việt đang bước vào lãnh vực nghệ thuật chưa mấy được phổ biến trong cộng đồng…

    Với gần 20 tiết mục, mỗi tiết mục đều mang một sắc thái và phong cách riêng biệt, đã mang lại sự bất ngờ, thú vị lẫn cảm kích cho khán giả hiện diện, trong đó có không ít khán giả đến từ các thành phố trong và ngoài Texas.

    Ca sĩ Teresa Mai, nghệ danh Sangeeta Kaur, người Mỹ gốc Việt “Nàng công chúa âm nhạc và khúc thanh âm” đầu tiên đoạt giải Grammy vào năm 2022 với dĩa ‘Mythologies’, hạng mục Best Classical Vocal Album. Teresa có bằng Cử Nhân môn Opera Performance từ California State University và bằng Cao Học (MS) môn Vocal Performance từ Nhạc Viện Berklee danh tiếng ở Boston. và ca sĩ Hila Plitmann gốc Do Thái đã hai lần được trao giải Grammy.

    Ba ca khúc trong trường ca Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương được ban hợp xướng Allen trình bày dưới sự phụ họa các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam là một tiết mục thật xuất sắc.

    Nhạc trưởng Jon Lê Culpepper cho biết, anh lớn lên và theo đuổi đam mê trong môi trường không có nhiều nhạc sĩ cổ điển người Việt thì chương trình “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” có lẽ đã mang lại cho anh và khán giả người Việt một cơ hội được gặp gỡ không chỉ nhạc sĩ Lê Văn Khoa mà cả những tài năng gốc Việt còn rất trẻ trong lãnh vực âm nhạc cổ điển này.

    Nhạc sĩ Patrick Vũ, đang theo học cao học âm nhạc nhưng tác phẩm của anh đã được các dàn hợp xướng Mỹ trình diễn nhiều nơi và đã được National Concerts mời sáng tác một bản hợp xướng sẽ được trình diễn tại Carnegie Hall tại New York, là một trong những trung tâm trình diễn âm nhạc cổ điển uy tín và danh giá nhất thế giới.

    Dylan Trần từ Lousiana, nhà soạn nhạc và từng được nhiều giải thưởng sáng tác và có tác phẩm được trình diễn ra ngoài nước Mỹ, như tại Úc, Anh, Pháp, Áo, Phần Lan… cựu sinh viên cao học về nhạc phim tại USC và là nhà soạn nhạc có những khách hàng như Sony, Samsung…, các tác phẩm của anh từng xuất hiện trong các liên hoan phim như Sundance, Hollyshorts… Nhạc sĩ Duy Trần cũng là nhà sản xuất chương trình “Dòng Chuyển Của Âm Thanh”, người đã bỏ rất nhiều công sức để phân lại các tác phẩm của nhạc sĩ Lê Văn Khoa cho từng nhạc cụ trong dàn giao hưởng, phối hợp cùng nhóm kỹ sư âm thanh và cùng với cô Diễm Tú làm MC với khán giả Việt-Mỹ.

    Jon Lê Culpepper là người sáng lập ca đoàn Dallas Chamber Choir và hiện là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị. Dưới sự điều khiển của Jon, DCC đã đoạt giải American Prize in Choral Performance – Professional Division năm 2019-2020. DCC từng trình diễn với Fort Worth Symphony, nhạc sĩ Hans Zimmer (2 Oscars, 4 Grammys) và Ramin Djawadi (“Game of Thrones”). Năm 2021 Jon được tặng American Prize của giải Dale Warland Award cho bộ môn Choral Conducting, hạng mục Professional Division. Jon sẽ điều khiển một ban hợp xướng học sinh chọn lọc từ ca đoàn của Allen High School.

    Chương trình kết thúc với nhạc phẩm “Việt Nam, Việt Nam” của nhạc sĩ Phạm Duy do nhạc sĩ Lê Văn Khoa hòa âm. Dàn hợp xướng Allen Symphony Chorus của Dallas, Texas đã kỳ công quyết định hát Việt Nam, Việt Nam bằng tiếng Việt cho bằng được, cho dù đã có lời đề nghị giảm khó khăn, chỉ hát với bản Anh ngữ của dịch giả Ian Bùi. Thời gian luyện tập phát âm, đã buộc các thành viên dàn hợp xướng làm việc gấp ba để có thể trọn vẹn trình diễn, và tạo những tràng pháo tay, và cả những giọt nước mắt của các khán giả Việt.

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã chia sẻ, điều ông vui nhất là chúng ta đã đưa nhạc Việt âm vang, hoà vào với nhạc giao hưởng Tây Phương và khán giả Việt lần đầu được nghe ban hợp ca Mỹ trình bày một số ca khúc Việt quen thuộc. Ông cũng nói thêm rằng, các nhạc sĩ Mỹ trong chương trình đều bày tỏ sự thích thú và cảm ơn ông đã biên soạn những tấu khúc Việt Nam mà lần đầu tiên họ trình diễn.

    Nghệ sĩ Hải Yến, người trình diễn nhiều tiết mục nhạc cụ dân tộc phối hợp với dàn nhạc giao hưởng, các thành viên ca đoàn ở Dallas nói “Tự nhiên chúng tôi có cảm giác rất thân thuộc với người Việt Nam, với văn hóa Việt Nam”.

    Ca sĩ Phạm Hà (họ Nguyễn) là một giọng ca Baritone khá quen thuộc trong những chương trình nhạc thính phòng tại Nam Cali từ năm 1999 đến nay. Anh thường xuyên xuất hiện cùng ban hợp xướng Ngàn Khơi hoặc trình diễn solo những ca khúc operatic cổ điển bằng tiếng Anh, Pháp, Ý… Khi hay tin có “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” anh tình nguyện tham gia, ví von với điều kiện “Chỉ cần bù cho mình tiền lương 3 ngày nghỉ việc!”.

    Đặc biệt Nguyễn Đức Đạt, khiếm thị từ nhỏ, sang Mỹ năm 1991 và được học bổng Âm Nhạc tại đại học Cal State Fullerton. Nguyễn Đức Đạt từng thắng nhiều giải Guitar như Disney Creative Challenge Award, National Panasonic Young Solo Artist Competition.

    Với nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa, không thể nào quên Symphony 1975 và ngôn ngữ âm nhạc phi biên giới của nó vang vọng ở mọi nơi và được cảm thấu về nỗi đau của một quốc gia đã bị bôi xóa. Năm 2005, khi biểu diễn tại Úc với ban đại hòa tấu và hợp xướng Royal Melbourne Philharmonic, khán phòng phải chứa đến 2,000 khách. Khi chấm dứt Symphony 1975, khán giả đứng lên vỗ tay không ngớt trong gần năm phút, khiến nhạc trưởng Andrew Wailes phải ra hiệu cho dàn nhạc chơi lại phần chót Ca Ngợi Tự Do để đáp ứng thịnh tình khán giả.

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa trong những thập niên qua, ngoài đất nước nầy, đã từng “đem chuông đi dấm xứ người” với nhiều quốc gia trên thé giới, đặc biệt với Ukraine, đã mang lại tiếng vang, đem lại niềm hãnh diện tài hoa nhạc sĩ Việt Nam lưu vong.

    Hy vọng, tuy tuổi hạc đã cao nhưng với tấm lòng nhiệt huyết và uy tín, hy vọng sẽ có những buổi Dòng Chuyển Của Âm Thanh (A Legacy of Sounds) được quy tụ ca nhạc sĩ Việt-Mỹ trong nay mai để được thưởng thức.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon, April 12, 2024

  • Âm nhạc,  Tha Nhân

    NẾU CÓ DỊP

    NẾU CÓ DỊP 

    Tha Nhân kính phụng họa Bài ‘’Còn gặp Nhau’’ của nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương

    Nếu có dịp thì ta cứ vui                                            

    Thời gian vẫn chảy giọt mưa trôi
    Công danh tăm tiếng rồi quên lãng
    Còn mãi tình thương sống với đời    

    Nếu có dịp thì ta cứ thương
    Văn thơ nghiệp chướng lỡ tơ vương                    

    Góp gom từng chút tình thương đó
    Đem biếu nhân gian khắp mọi đường.

    Nếu có dịp thì ta cứ chơi
    Chơi cho thoải mái chút quên đời
    Chơi cho thanh lịch và cao thượng
    Xả hết chân tình chớ nửa vời!

    Nếu có dịp thì ta cứ cười
    Cười vang sảng khoái dạ vui tươi
    Đề hoa thêm sắc hương thêm ngát
    Để thắm tình đời đẹp nết người

    Nếu có dịp thì ta cứ chào

    Cho dù biển rộng với trời cao
    Mặc cho biến đổi trò đen bạc
    Vẫn chữ chân tình mà đãi nhau

    Nếu có dịp thì ta cứ say
    Say thơ say nhạc vẫn lâu nay
    Say tình say nghĩa say bằng hữu
    Say để cho quên những tháng ngày

    Nếu có dịp thì ta cứ đi
    Đi thăm bạn hữu, kẻ hàn vi
    Dùng lời an ủi, hay tâm lý

    Giúp được tha nhân vui lạ kỳ!!

  • Lê Nguyễn Nga

    NHỚ THƯƠNG CHA

    Kính mời quý thầy và các thân hữu thưởng thức bản nhạc Nhớ Thương Cha, thơ Lê Nguyễn Nga

    30 THÁNG 4 – THƯƠNG TIẾC VIỆT NAM

    Tháng 4 lại về. Bao nhớ thương cho đất nước Việt Nam

    bị cưỡng chiếm từ Tháng 4, 1975.

    Xin đi ngược về quá khứ. Với Hiệp định Geneve 20 tháng

    7 năm1954, nước Việt Nam bị chia đôi, lấy vĩ tuyến 17

    làm ranh giới. Phía bắc là của Cộng Sản. Phía nam là

    phần đất tự do.

    Năm 1956 toàn dân miền Nam bầu cử tổng thống hợp hiến

    và hợp pháp. Tổng thống Ngô Đình Diệm đắc cử và thành

    lập nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Nhưng, Việt Cộng đã chiêu

    dụ một số người tập kết ra miền Bắc và tiếp tục mưu đồ

    cướp chiếm miền Nam. Việt Cộng cũng gài người ở lại để

    âm mưu đánh phá miền Nam. Trong lúc này miền Nam lo

    thành lập chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Một chính phủ

    chủ trương tự do. Vào những năm đầu, tuy gặp khó khăn

    vì còn phôi thai, nhưng đời sống người dân tương đối khá

    hơn Miền Bắc về mọi phương diện. Ít nhất người dân được

    hưởng không khí tự do. Từ năm 1956, xã hội miền Nam

    tiến triển tốt đẹp về quân sự và dân sự.

    Miền nam thành lập chính quyền. Với guồng máy hành

    chánh, kinh tế, và giáo dục theo chính thể Cộng Hòa. Các

    trường đại học được mở rộng. Nông dân được cấp đất và

    nông cụ để khai phá ruộng vườn. Kinh tế thương mại theo

    tự do tư bản. Nông sản thu hoạch được là của người dân,

    thuộc quyền xử dụng của người dân. Từ những thành phố

    nhỏ đến thủ đô Saigon, dân chúng buôn bán sinh sống

    hoàn toàn tự do phát triển. Tài sản riêng của người dân

    được tôn trọng. Một đất nước đang cố gắng tham gia vào

    cộng đồng thế giới từ năm 1960 và kiêm luôn vai trò là

    thành trì ngăn chận làn sóng CS tại Đông Nam Á từ năm

    1956 đến 1975.

    Trong lúc miền Nam lo cho đời sống dân chúng, thì miền

    Bắc, từ năm 1958 , bộ mặt lừa dối của CS núp dưới danh

    nghĩa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, để đánh phá với

    chủ tâm cướp luôn miền Nam. Một điều đáng buồn là có

    nhiều người trí thức đã lầm lạc theo Việt Cộng giúp đánh

    phá miền Nam trên mọi mặt từ văn hoá, tư tưởng, đến quân

    sự.

    Những cuộc đánh phá giết chóc trên đất Nam từ năm 1960

    kéo dài thật nghiệt ngã. Bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng

    Hòa và dân chúng đã hy sinh cùng với binh lính và sĩ quan

    Đồng Minh, nhiều nhất là Hoa Kỳ. Sử sách đã ghi công

    những trận chiến anh hùng như An Lộc, Huế, Đồi Charlie,

    cổ thành Quảng Trị, v.v. Cuộc tàn sát dân chúng khi tấn

    công vào Huế năm1968, Tết Mậu Thân, đã thảm sát trên

    năm ngàn người và người chết bị chôn chung trong nhiều

    nấm mồ tập thể. Việt Công vừa đánh cướp đất vừa lừa dối

    nhân dân và lừa dối thế giới. Không tàn ác không lừa dối

    không phải là Cộng Sản.

    Hậu quả đưa đến Hiệp Định Paris 1973. Mỹ ngừng viện

    trợ quân sự và rút quân.

    Không súng đạn, không xăng quân đội VNCH vẫn can

    đảm tiếp tục chiến đấu với những vũ khí còn lại. Những

    cuộc đánh phá tàn bạo vẫn tiếp diễn.

    Rồi ngày 30 tháng 4, 1975. Đài Phát Thanh đã tung ra bài

    White Christimas như là một ám hiệu. Quân đội Hoa Kỳ

    đã rút đi. Những người quân nhân và dân chính Mỹ cuối

    cùng đã rút đi bởi những chiếc trực thăng treo trên nóc Toà

    Đại Sứ Hoa Kỳ.

    Buổi sáng 30 tháng 4, 1975 . Đài Phát Thanh phát lời của

    Đại tướng Dương Văn Minh đại diện Chính Phủ miền

    Nam tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

    Không chỉ những người lính đã buông súng, tôi người viết,

    cũng là nhân chứng của ngày lịch sử đó. Những tiếng đại

    bác vọng lại từ Vùng Bốn Chiến thuật, từ vòng đai nới

    rộng của thủ đô Sài gòn. Những tiếng súng tử thủ có cả

    tiếng súng tự sát của nhiều tướng lãnh và nhiều sĩ quan,

    binh sĩ VNCH.

    Xin nghiêng mình ghi ơn các chiến sĩ VNCH.

    Các anh không thua trận chiến. Các Anh những người

    chiến đấu cho Tự Do đã bị bắt buộc buông súng.

    Thế hệ người văn minh trung trực đã thua đoàn người rừng

    rú, hèn hạ, tàn ác, đám người chuyên lừa đảo. Trò lừa đảo

    và tàn ác của VC đã áp lên toàn miền nam.

    Các anh chiến sĩ VNCH bị lừa dối đi học tập 10 ngày. VC

    Nói láo một cách hèn hạ. Một chế độ tù đày nghiệt ngã dã

    man, có nhiều người bị tù đến 16 năm. Bao nhiêu người

    đã bỏ mình trong các trai tù Cải Tạo.

    Bện cạnh đó, tại thành phố và các tỉnh, Việt Cộng đã lên

    chiêu bài kiểm kê tài sản của người dân. Nói rõ hơn là ăn

    cướp nhà và cướp tài sản của toàn dân.

    Chồng đi cải tạo. Trong nhà chỉ còn lại đàn bà và trẻ

    con đã bị cướp nhà, đuổi ra sống trong vùng Kinh Tế Mới.

    Họ chết trên đồng hoang vì không có nước và thức ăn.

    Những vùng kinh tế mới đã biến thành những vùng đồi

    khô, xương trắng.

    Dân chúng đã bắt đầu vượt biên tìm tự do, bất chấp nguy

    hiểm. Bao nhiều người đã chết trên biển cả.

    Cán bộ VC cướp nhà cướp tài sản và tham nhũng khắp nơi,

    trở thành giàu có và sống xa hoa. 

    Luân lý không còn.

    Lương tâm con người biến mất. Nhiều phu nữ và trẻ em

    đã bán mình trong những cuộc truy lạc chỉ để kiếm miếng

    ăn. Nhà nước chiếm đất thành phố để cho ngoại quốc vào

    kinh doanh. Bên cạnh đó là những xóm trọ của công nhân

    nghèo. Ngoài thành phố dân đen phải sống trong những

    nghĩa địa.

    Sự lừa dối đê hèn của CS đã thắng tầng lớp người có học,

    có nhân tâm của chế độ Viêt Nam Cộng Hoà. Một quân

    đội với hải lục không quân tinh nhuệ, với tinh thần cương

    quyết bảo vệ lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà đã bị cưỡng

    bức chết tức tưởi vì quyền lợi riêng tư khi tham chiến vào

    Việt Nam. Có bao giờ nước Mỹ nhìn lại về cái chết của

    cả một Dân Tộc Việt Nam không?

    Xã hội Việt Nam sau hơn 48 năm đã biến thành một xã hội

    trong đó con người đã bỏ mất nhân phẩm chỉ để sống còn

    dưới chế độ Cộng Sản.

    Nước Mỹ và thế giới nghĩ gì về hàng triệu chiến sĩ và nhân 

    dân Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh trong cuộc chiến này!

    Những thanh niên, từ tuổi 24 đến 40 đã chiến đấu anh dũng

    và đã hy sinh cho cuộc bảo vệ lý tưởng tự do của Miền

    Nam. Trong đó có nhiều người đã là thương phế binh, 

    tật nguyền đói khổ đang sống vất vưởng trong nước.

    Bao nhiêu hy sinh và nước mắt. Bây giờ chỉ còn lại Tháng Tư Buồn.

    Lê Nguyễn Nga

    Tháng 4 2022