-
Nhân Văn Nghệ Thuật – Tiếng Thời Gian tham dự buổi tiệc Hội Ngộ 60 Năm Trường Trung học Trần Bình Trọng
-
Trò Chuyện với Nhạc Sĩ Lê Dinh
-
Mùa Đông – Sáng Tác mới của Ns. Lê Dinh
-
Thy Nga RFA Phỏng Vấn Nhạc sĩ Lê Dinh
Buổi nay, Thy Nga mời quý vị cùng nghe nhạc của Lê Dinh, từ các sáng tác thưở đầu, đến các bài sau này. Từ 26 năm nay, ông định cư tại Canada. Đã ở tuổi hưu nhưng ông vẫn tiếp tục sinh hoạt trong ngành phát thanh và báo chí; thỉnh thoảng lại sáng tác nhạc, đặc biệt là trong vòng ba năm qua, nhạc sĩ Lê Dinh phát hành được 5 cuốn CD. Vào tháng Tư năm ngoái 2003 thì ông được mời xuất hiện trên chương trình Paris by Night 70 Đọc thêm …
-
NS LÊ DINH CẢM NHẬN VỀ: TÂN NHẠC VIỆT NAM DƯỚI THỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Về âm nhạc, từ 38 năm nay, thành thật và công bình mà nói, chúng ta có thấy sự tiến triển nào trong bộ môn này không, hay là một sự tụt lùi tệ hại từ năm 1975 đến nay, hay nói một cách khác, CSVN đã giết chết âm nhạc Việt Nam. Đoc thêm…
-
Điệp Mỹ Linh Phỏng Vấn Bạn Hữu
Điệp Mỹ Linh xin kính chào nhạc sĩ Lê Dinh.
Thưa anh, từ cuối thập niên 90, Điệp Mỹ Linh được hân hạnh gặp anh và Cô Đan Thi tại Canada. Vào dịp đó cô Đan Thi đã dành cho em một cuộc phỏng vấn. Từ đó, Điệp Mỹ Linh được hân hạnh cộng tác với nguyệt san Nghệ Thuật do anh làm chủ bút và chủ nhiệm. Đến đầu tháng Tư-2015 – sau gần 20 năm – em mới được gặp lại anh, trong dịp anh sang Houston ra mắt DVD. Để mở đầu bài phỏng vấn này, xin anh vui lòng nói qua về tiểu sử của anh. Đọc thêm …
-
Chút Ý Nghĩ về Tết Âm Lịch và Dương Lịch – Việt Hải

-
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng tuyên thệ nhậm chức Thượng nghị sĩ Tiểu Bang Victoria, Úc Châu

Tân Dân biểu, Nghị sĩ Quốc Hội Victoria, Úc Châu. Ông Kiều Tiến Dũng ngồi ở hàng đầu (thứ hai bên trái)Sau một đời theo đuổi “đam mê khoa học”, ông Kiều Tiến Dũng, một Tiến sĩ Vật lý từng giảng dạy và nghiên cứu tại nhiều trường đại học nổi tiếng thế giới, vừa chiếm được một ghế tại quốc hội tiểu bang Victoria, Úc Châu. Ông chính thức tuyên thệ nhậm chức ngày 19/12 vừa qua vào dịp Lễ Khai mạc Quốc hội Victoria lần thứ 59. Ông là người Úc gốc Việt thứ 3 đắc cử vào quốc hội tiểu bang Victoria từ trước tới nay, và hiện là người gốc Việt duy nhất trong quốc hội khóa này. Trao đổi với VOA-Việt ngữ, ông cho biết lý do tham gia chính trị bắt nguồn từ nguyện vọng muốn đóng góp cho cộng đồng nơi mình sinh sống, đã manh nha từ khi ông rời Việt Nam trên một chiếc tàu tị nạn vào năm 1980.
Một người Úc gốc Việt, Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng, hộm 19/12 tuyên thệ nhậm chức Thượng nghị sĩ tiểu bang Victoria, Úc Châu, sau khi đắc cử để đại diện cho đơn vị Đông Nam Melbourne của Victoria, tiểu bang đông dân thứ nhì Úc Châu.

Ông Kiều Tiến Dũng ký sổ Thượng viện sau lễ tuyên thệ nhậm chức TNS tiểu bang Victoria, ÚcÔng Kiều Tiến Dũng ký sổ Thượng viện sau lễ tuyên thệ nhậm chức TNS tiểu bang Victoria, Úc
Ông cho biết cảm tưởng về buổi tuyên thệ nhân dịp Lễ khai mạc Quốc hội tiểu bang Victoria lần thứ 59:
“Đây là một buổi lễ khá long trọng vì cứ 4 năm thì quốc hội khai mạc một lần và có đại diện chính thức của Nữ Hoàng. Tôi là một trong những người mới trong quốc hội kỳ này chính thức tuyên thệ nhận nhiệm vụ và các trọng trách về những vấn đề trong quốc hội. Thì đây là niềm tự hào cho cá nhân và gia đình tôi. Đây cũng là do công sức của tập thể cộng đồng người Việt tại tiểu bang này nói riêng, và cộng đồng người Việt ở Úc nói chung.”
Ông Kiều Tiến Dũng là một người tị nạn cộng sản sang Úc năm 1980 với hai bàn tay trắng, cả cha lẫn mẹ từng phục vụ trong binh chủng Nhẩy Dù của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Đỗ cử nhân Toán tại Đại học Queensland 4 năm sau, ông được học bổng sang Anh và hoàn tất luận án Tiến sĩ Vật lý năm 1988. Ông từng giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Edinburgh và Oxford ở Anh, Đại học Melbourne và Swinburne ở Úc, cộng tác nghiên cứu với các đại học danh tiếng của Mỹ như Princeton, Columbia, MIT, và làm việc cho CSIRO, cơ quan nghiên cứu khoa học có uy tín nhất của chính phủ Úc.
Những công việc bề bộn đó không ngăn cản ông tích cực tham gia các hoạt động có ích cho cộng đồng. Cùng với một nhóm thân hữu, ông thành lập chương trình truyền hình Việt ngữ đầu tiên ở Melbourne, VNTV, hoạt động liên tục trong suốt 20 năm. Sau VNTV, Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng đã cùng cựu Trưởng Ban Việt ngữ đài SBS, Quốc Việt, thành lập đài Hồn Việt, phát thanh trên khắp nước Úc.
Sau những thành tích đó, điều gì thôi thúc ông tham gia chính trị?
“Thưa chị, từ lúc rời Việt Nam trên một chiếc tàu vào năm 1980, tôi đã luôn luôn có một cái nguyện vọng là được đóng góp cho cái cộng đồng nơi mình đang sinh sống. Và tôi nghĩ là ở cái tuổi này thì vấn đề trực tiếp đóng góp tham gia vào chính trị hoặc tham gia vào sinh hoạt là chuyện có thể làm được trong giai đoạn này trong cuộc đời của tôi, thành ra tôi đã nhận lời.”
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng đã nắm lấy cơ hội để thực hiện nguyện vọng của mình trong cuộc bầu cử ngày 24/11 tại Melbourne khi ông được Đảng Lao động Úc đề cử đại diện cho đảng ra dự tranh tại đơn vị miền Đông-Nam Melbourne.
Theo lời ông, thì đây không phải là một ghế an toàn. Thành phần cử tri người Việt tại đây chỉ là một thiểu số, trên dưới 35,000 người trong tổng số 508,000 cử tri hội đủ điều kiện đi bầu. Cư dân thì rất đa dạng, 168 sắc tộc, nói tới 200 ngôn ngữ khác nhau.
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng cho biết ngoài những chính sách của Đảng Lao động đương quyền được cử tri vùng Đông Nam ủng hộ, như xây bệnh viện, trường học, bệnh xá, vv… cá nhân ông theo đuổi một số chính sách riêng khi ra tranh cử:
“Tôi ra tranh cử trên một số chính sách nó phản ứng cái quá khứ của tôi. Thứ nhất là về vấn đề giáo dục, tôi có một ý nguyện là nước Úc phải có một nền giáo dục có thể sánh kịp với những nước ở Á Châu, đặc biệt là Singapore. Thứ hai, giáo dục trong các trường nghề cao đẳng rất quan trọng bởi vì nó dẫn tới việc làm, tới sự an sinh trong xã hội. Bên cạnh giáo dục, tôi rất chú tâm tới vấn đề cao niên. Đây cũng phản ánh lịch sử của cá nhân tôi. Chúng ta là người Việt, rời Việt Nam ra đi vào thập niên 1970, 1980, thời còn trẻ. Chúng ta đã bỏ nhiều công sức, đóng góp rất nhiều cho xã hội và cộng đồng xứ sở nơi chúng ta định cư, nay bước vào tuổi cao niên. Các bậc cha mẹ mà chúng ta bảo lãnh về sau cũng là người cao tuổi, thành ra dịch vụ cho người cao niên rất là quan trọng. Tôi hy vọng rằng nay đã được đắc cử làm Thượng nghị sĩ, thì tôi sẽ có tiếng nói, hay ý kiến đóng góp vào hai lĩnh vực đó nói riêng, và nhiều lĩnh vực khác nữa, thưa chị.”
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng chọn đại diện cho Đảng Lao động trong khi đa số người Việt tị nạn thế hệ lớn tuổi hơn luôn luôn ủng hộ Liên đảng Tự do-Quốc gia, vì “dị ứng” với cụm từ “lao động” bởi nó làm họ liên tưởng tới Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông giải thích về sự lựa chọn đó:
“Chính sách Đảng Lao động có những cái phù hợp với với ý nguyện của mình. Dĩ nhiên, không có một đảng nào, tập hợp hay tổ chức nào mà chúng ta có thể hoàn toàn đồng ý mọi chính sách, mọi lúc…Có nhiều chính sách tôi rất ủng hộ, có những chính sách tôi nghĩ là có thể ủng hộ nếu có những sự thay đổi, và có một vài chính sách tôi không thể ủng hộ được.Tuy nhiên đó là một sinh hoạt dân chủ tập thể, thì sau khi quyết định đưa ra, là đảng viên thì phải thi hành.”
Tuy vậy, Thượng nghị sĩ Kiều Tiến Dũng nhấn mạnh rằng nếu một chính sách đi ngược với nguyên tắc của cá nhân ông,về mặt đạo đức hay về một số khía cạnh liên quan tới người Việt, ông sẽ không ngần ngại lên tiếng, và tùy trường hợp, sẽ không chấp nhận.
Trả lời câu hỏi ông có tiên liệu những khó khăn của một dân cử gốc Việt, đại diện cho các lợi ích của nước Úc, trong những trường hợp có mâu thuẫn với những kỳ vọng của cộng đồng người Việt?

Kieu Tien Dung portraitTiến sĩ Kiều Tiến Dũng nói:
“Chính trị là một con đường chông gai. Trước khi tuyên thệ thì trong quốc hội có những buổi để giới thiệu những dịch vụ và những trách nhiệm cũng như nhiệm vụ của các dân biểu, thì một trong những tấm hình đầu tiên họ đưa ra là một chậu cá nhỏ trong đó có một con cá vàng. Đúng, một chính trị gia sẽ như một con cá nằm trong một cái chậu bị mọi người soi mói, chỉ trích… Mọi hành vi, nhất cử nhất động đều bị theo dõi và phán xét. Trong chính trị chúng ta mỗi người có mục đích riêng, lý tưởng riêng. Trong quốc hội có nhiều đảng phái, những đạo luật mà chúng ta coi là quan trọng thì khi muốn thông qua, chúng ta phải thương lượng với những đảng đối lập để thông qua được những gì chúng ta muốn. Người dân Úc bầu cho chúng tôi, nhưng cá nhân tôi cũng là người Việt, cộng đồng người chúng ta có những kỳ vọng. Đó là điều rất đúng, không có gì mà ngạc nhiên, tuy nhiên tôi nghĩ cộng đồng chúng ta trên 43 năm nay sống ở nước Úc và những nơi khác trên thế giới, đa số đều hiểu chúng ta sống trong một tập thể, bất cứ nước nào dù Mỹ hay Úc, đều đặt quyền lợi của nước họ lên trên hết. Chúng ta phải đóng góp cho nước chúng ta đang sinh sống. Chúng ta có thể tranh đấu cho những nhu cầu đặc biệt của chúng ta nhưng không nên kỳ vọng một cá nhân như tôi, hay một vài Thượng nghị sĩ và vài dân biểu gốc Việt khác có thể luôn luôn tranh đấu cho người Việt mà lấy đi quyền lợi của các nhóm khác.”
Là một người gốc Việt, Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng chia sẻ những ưu tư, trăn trở của ông cho quê hương Việt Nam trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nhiều nguy cơ.
“Tôi lúc nào cũng tha thiết và có những ưu tư về dất nước Việt Nam. Ưu tư lớn nhất của tôi là vấn đề toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trung Cộng bành trướng quá mạnh, là một nền kinh tế và sức mạnh quân sự đi đôi với những thủ đoạn, những áp lực mà họ áp đặt trên những nước lân bang, trong đó có Việt Nam.”
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng còn bày tỏ lo ngại về một nguy cơ khác liên quan tới luật đặc khu, nhường đất cho nước ngoài – đặc biệt là Trung Quốc- trong thời gian lâu dài, ông cho rằng đây là một mối nguy khác cho sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Ông nói muốn chống ngoại xâm thì dân phải một lòng, nước phải đoàn kết,và muốn vậy thì phải có dân chủ, dân quyền và nhân quyền.
Ông nói : “Muốn sống còn, nếu chúng ta muốn giữ được toàn vẹn lãnh thổ, thì người dân phải có nhân quyền và dân quyền thì mới hy vọng chúng ta còn được một đất nước Việt Nam.”
Tiến sĩ Kiều Tiến Dũng là người Úc gốc Việt thứ 3 từng đắc cử vào quốc hội Victoria từ trước tới nay, và hiện là người Việt duy nhất trong quốc hội tiểu bang, sau khi một người Úc gốc Việt khác, cô Trương Việt Hương, thành viên của Đảng Xanh, thất cử. Người Việt đầu tiên vào quốc hội Victoria cách đây khoảng 20 năm là thượng nghị sĩ Nguyễn Sang, sau khi đắc cử hai nhiệm kỳ, ông Sang không còn tham gia chính trị.
-
tran quang hai sings jingle bells for christmas with overtone singing style.
-
Hà Nguyên Du Với Niềm Đam Mê Thi Ca
Trần Việt Hải – Los Angeles.Viết về một người bạn văn nghệ mà tôi thân thiết từ bên nhà qua tình đồng hương quê quán Tây Ninh cũng như tình đồng cảm về thú tao nhã văn nghệ như VănThơ Nhạc, tôi muốn đề cập về anh Hà Nguyên Du…
Những phạm trù văn nghệ như Văn Thơ Nhạc anh đều tham dự đủ cả, anh tham gia say mê và anh góp mặt tích cực, đặc biệt là hai lãnh vực thi ca cổ nhạc và rồi đến tân nhạc. Anh viết nhiều ca khúc và đã phổ thơ cho các nhà thơ Tân Hình Thức…
Hẳn Hà Nguyên Du là một tên tuổi nổi bật trong thi ca của nhiều áng thơ.
Anh là cây bút trước 1975. Anh sáng tác nhiều thể loại thơ, từ thơ vần điệu cho đến thơ hiện đại là thơ Tân Hình Thức. Và anh cũng là một soạn giả nhiều bản tân cổ nhạc. Đây là điều khá hiếm, một sự quý báu khi mà nơi hải ngoại nếu không vun bồi hay phát huy tinh hoa cổ nhạc, ngành truyền thống để nó mai một là điều đáng buồn, buồn lắm.
Hà Nguyên Du cho xuất bản tuyển tập thơ thứ tư sau tác phẩm thơ Tân Hình thức là “Gene Đại Dương” qua nhóm Văn Học Nghệ Thuật “Nhân Ảnh Tân Văn và Tiếng Thời Gian”.
(Tính tác phẩm thơ xuất bản hôm nay là tác phẩm thứ tư chỉ tính riêng về Thơ)Tuyển tập thơ mới xuất bản hôm nay là:
“Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng”. Hoa quỳ khá giống hoa sen về hình dáng, màu sắc; sen và quỳ đều tòa hương thơm trong sự thanh cao… Và một loại Quỳ vàng chính là hoa hướng dương với ý nghĩa thể hiện niềm tin và nguồn hy vọng vươn lên với ánh mặt trời hay luôn hướng về điều tươi sáng nhất.Hà Nguyên Du đề tựa theo ý nghĩ của Nhà văn Thalassa Cruso, vốn yêu cỏ cây thiên nhiên, trong tác phẩm :
“To Everything There is a Season”
(năm 1973), bà Cruso cho là:
“Hương thơm mang lại những kỷ niệm, và nhiều kỷ niệm mang lại niềm vui hoài hương.” (Scents bring memories, and many memories bring nostalgic pleasure).Do vậy, những Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng, tự nó dâng hương thơm khi gợi lại niềm vui thi ca về quê xưa của tình hoài hương.
Trong khi nhà văn Ấn quốc APJ Abdul Kalam quan niệm :
“Thi ca xuất phát từ hạnh phúc cao nhất hoặc nỗi buồn sâu thẳm nhất”
(Poetry comes from the highest happiness or the deepest sorrow).Trong mấy mươi bài thơ của tác giả Hà Nguyên Du mà bạn cầm thi tập trên tay, thơ có bài vui và có bài buồn vì là tính thơ…
Hà Nguyên Du mang đam mê thi ca như ý tưởng của nhà văn Edgar Allan Poe:
“Với tôi thơ không phải là một mục đích, mà là một niềm đam mê”.
(With me poetry has not been a purpose, but a passion).Tương tự, thi hào Khalil Gibran nói: “Thơ là một sự thỏa mãn của niềm vui và nỗi đau và nỗi trăn trở, với một dấu gạch ngang nối kết của quyển từ điển.
(Poetry is a deal of joy and pain and wonder, with a dash of the dictionary).Hà Nguyên Du cổ xuý, ngợi ca thơ mới, hay làm thơ cách tân, hoặc thơ tân hình thức, dù rằng anh cũng đã sáng tác thơ đường luật hay lục bát theo lối thơ từ vần điệu cổ điển đến thơ tự do…
Nói về thơ Tân Hình Thức (New Formalism, Nouveau Formalisme) xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng đầu thập niên 30 của thế kỷ 20. Những người chủ trương phong trào thơ mới lúc bấy giờ muốn phá bỏ hình thức thơ “tám câu năm vần” và loại thơ mới ban đầu này là cuộc cách mạng thơ được hưởng ứng rất mạnh mẽ và kéo dài cho đến nay đã gần 80 năm rồi.
Trong vườn thơ Việt Nam trong thế kỷ 20, nổi bật những áng thơ đường của Quách Tấn, Thinh Quang, Đông Hồ, Chính Quách,… hay Hà Thượng Nhân; còn phong trào thơ mới có những gương mặt như Bích Khê, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng,… tôi muốn thêm tên anh bạn tác giả tuyển tập thơ này, người vốn lưu luyến, đã bỏ nhiều nỗ lực hầu chắt chiu, trau chuốt những áng thơ tân hình thức, do tim óc, phạm vi mà anh rất trân trọng và dành nhiều thì giờ một khoảng thời gian dài cho cái mình yêu thích.
Yêu thích thi ca bởi lẽ như nhà văn Pháp George Sand nói là :
“Người thu hút sự thích thú cao quý từ tình cảm của thơ là một nhà thơ thực sự, mặc dù ông chưa bao giờ viết một dòng trong suốt cuộc đời mình”.
(Celui qui attire les plaisirs des sentiments de la poésie est un vrai poète, mais il n’a jamais écrit une ligne dans toute sa vie).Trong khi nhà văn Gustave Flaubert cho cảm tưởng về thơ như một nhu cầu ở khắp nơi đều có nó:
“Không có một hạt nhỏ nào trong cuộc sống không chứa thơ trong đó”.
(Il n’y a pas une particule de vie qui ne porte pas de poésie en elle.)Nói về thi ca trong tác phẩm “Mon cœur mis à nu”, đăng trong tạp san Journaux intimes, 1864, thi hào Charles Baudelaire ghi nhận như :
“Hãy luôn luôn là một nhà thơ, ngay cả trong văn xuôi”.
(Soyez toujours un poète, même en prose) .
Charles Baudelaire (1821-1867) là nhà thơ lớn của văn học Pháp thế kỷ XIX thuộc trường phái tượng trưng chủ nghĩa.Arthur Rimbaud nhận định về Charles Baudelaire là “Vua của các nhà thơ”.
Những bài thơ được chú ý nhất của Charles Baudelaire như là Tương Ứng (tức Correspondances) đã khiến ông trở thành người đi tiên phong của trường phái thơ tượng trưng. Nhà thơ sống với tình yêu đối với thi ca và bắt đầu sáng tác ngay từ tuổi đôi mươi.
Mặc dầu sống trong những đam mê để rồi ấp ủ tâm hồn nhưng những bài thơ của Charles Baudelaire vẫn đạt được trình độ nghệ thuật cao của thi ca, để ông tồn tại cho tới mãi về sau này. Xem bài thơ Tương Ứng (Correspodances) như sau…
“Thiên nhiên là ngôi đền, hàng cột là hàng cây
Đôi lúc thốt ra những lời nói xa xôi
Rừng tượng trưng nhìn những người qua lại
Với ánh nhìn từng quen biết đã lâuNhư những tiếng vang dài nơi xa thẳm
Hoà vào nhau thuần nhất, thẳm, đen
Mênh mông tựa ánh sáng và màn đêm
Đều tương ứng các âm thanh và hương sắc..”
(lời dịch Phạm Nguyên Phẩm)(Correspondances
La Nature est un temple où de vivants piliers
Laissent parfois sortir de confuses paroles
L’homme y passe à travers des forêts de symboles
Qui l’observent avec des regards familiers.Comme de longs échos qui de loin se confondent
Dans une ténébreuse et profonde unité,
Vaste comme une nuit et comme la clarté,
Les parfums, les couleurs et les sons se répondent…)Hãy xét xem hai bài thơ tiêu biểu trong thi tập này:
“Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng”
NHỮNG CON CHỮ MẦU NHIỆM
bàn phiếm con pu ter thành ra
vũ trường cho những bước chân lã
lướt tung tăng của những con chữ
những con chữ tinh khôi bước ratừ nguồn mạch não của người làm
thơ và người làm thơ cảm nhận
hạnh phúc qua mười ngón tay ông
biến thành những đôi chân cho nhữngcon chữ tung tăng như bước chân
chim tuổi học trò trên sân trường
những con chữ dan cing đẹp mắt
trên vũ trường phiếm khiến con mousemột mực hưởng ứng trên màn ảnh
trông dễ thương như bàn tay vẫy
của cô bé tuổi ô mai bàn
tay vẫy cô bé nhưng thừa quyềnnăng điều khiển và ra lệnh cho
người làm thơ sung sướng vâng lời
làm theo những con chữ như những
chiếc xe tải đầy hình ảnh vàý nghĩa ẩn dụ những con chữ
luôn biến hóa thành những con chuột
bạch mà người làm thơ dùng làm
thử nghiệm các thể loại thi cahay dòng thơ của mình những con
chữ thật mầu nhiệm ơi! thật mầu
nhiệm những con chữ vận mệnh
những con chữ thiêng liêng những conchữ đích thực mang sứ mệnh cao
cả những con chữ quyết định mọi
việc sinh tồn cho dân tộc mình cho
chính mình một người làm thơ chomạch dẫn hay mạch nối hai con
tim tình yêu của anh và em
mỗi ngày qua ứng xử và giao
tiếp những con chữ biến hóa chovũ trụ nắng mưa cho bầu trời
trong sáng cho không gian tối tăm
anh ước mơ những con chữ luôn
ngoan mỗi ngày nhảy nhót tungtăng như những dan cing trên vũ
trường bàn phím com pu ter anh
để những con chữ nói lời yêu
em mỗi ngày để những con chữ
biến thành dòng máu tim anh đềunhịp đập để những con chữ kết
đầy hoa trên cành cây thơ của
người làm thơ hay ai ai đó
đã dùng những con chữ thường ngàyơi.! những con chữ mầu nhiệm hỡi
em yêu… hỡi bạn bè khắp chốn..!!Đượm nét thơ tân hình thức,một dòng thơ mới hiện đại, bài thứ hai của thi sĩ Hà Nguyên Du chuyên chở ý tưởng thi ca như sau:
NGÓN TAY CỦA EM
ngón tay búp măng nõn nà của
em có cái móng cong cong dài
em thường vẽ lên đó một nụ
hồng màu tươi rói như màu máutrái tim rất lãng mạn của tôi
ngón tay của em hàm chứa nguyên
trinh cuộc đời tôi như một nhiệm
mầu! cái ngón tay có cái túiđựng hai chiếc chìa khóa dùng đề
mở hai cánh cửa thiên đàng và
địa ngục cái ngón tay trắng ngà
màu vàng sữa như một magicngón tay đã nhiều lần làm tôi
có những cảm giác như một thỏi
sắt rơi tũm xuống đáy biển hoặc
như một vật nhẹ bỗng bay vúthăng thiên cái ngón tay đã khảy
lên dây thần kinh tôi những thanh
âm tuyệt trần và cũng chính ngón
tay ấy đã mở nấp bầu lệtôi tuôn như suối nguồn thiên tạo
tôi sẽ tạc tượng ngón tay của
em bằng thạch cao có đeo lủng
lẳng hai chiếc chìa khóa nhưng tôikhông biết tụng niệm thần chú làm
sao để lồng vào đó cuộc đời
tôi như một linh hồn của ngón
tay được tạc tượng bằng thạch caongón tay búp măng nõn nà của
em có cái móng cong cong dài
ngón tay đã vẽ nên bức tranh
lập thể như tranh Picassomà chỉ có tôi xem mới hiểu
và khóc với bức tranh ấy từ
ngón tay của em làm ra chính
ngón tay em ngón tay lịch sử ..!!Tóm lại thơ tân hình thức đã gột bỏ những luật lệ gò bó của thơ vần điệu hay thơ cổ điển, tính phóng khoáng, thoáng mát như làn gió mới, nên thơ thu hút nhiều người trong giới thi ca, nhất là giới trẻ trong nước và hải ngoại. Giới trẻ vốn không vướng vấp đến thi ca vần điệu hay thơ truyền thống…
Nay tác giả Hà Nguyên Du, (người đã đến với thơ Tân Hình Thức ngay từ khi khởi phong trào, đóng góp sớm với tác phẩm thơ THT):
“ Gene Đại Dương”Và giờ đây, chúng ta có thêm thi tập: “Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng” ra đời, dù tác phẩm này bao gồm nhiều thể loại, nhưng nổi bật nhất, chúng ta cần chú ý đến dòng thơ mà anh nổ lực đóng góp lâu nay, là dòng thơ Tân Hình Thức…
Tôi nghĩ “ Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng” Là thơ như một Vầng Trăng Tỏa Sáng “ Trên Đóa Quỳ Vàng” trong đêm Và Đóa Quỳ Vàng của ngày đầy nắng ấm Để đóa quỳ Thi Ca vươn lên cùng ánh mặt trời nghệ thuật…
Xin trân trọng giới thiệu.
Trần Việt Hải – Los Angeles
Chút xíu thơ Hà Nguyên Du:
https://www.facebook.com/viethai.tran.942/posts/1479557308801601?hc_location=ufi -
Bình yên trong hoàng hôn

Các bạn thân! Sau một thời gian… nhờ cô em gái C.K miệt mài làm việc, từ tập hợp những tản mạn văn thơ, sắp xếp, layout …Bây giờ, quyển ebook “ Bình yên trong hoàng hôn” của Trầm Hương Ptt.hoàn thành để “ khoe” cùng bạn.
Nếu bạn là bạn đọc của Trầm Hương Ptt. thì nội dung của ebook nầy sẽ không có điều chi mới lạ, vì chúng ta đã từng chia sẻ những suy nghĩ rời nầy cho nhau, đã từng cho nhau những lời comments dấu ái, thân tình.
Quyển ebook nầy chỉ là nơi giữ những kỷ niệm, những tâm tình rời được xâu lại , liên kết nhau thành một “bức tranh văn “ với từng phân đoạn, vẽ lên dòng đời của một người.
Như món quà nhỏ Trầm Hương Ptt gửi về bạn. Mong bạn đón nhận tâm tình nầy với vòng tay rộng mở và nụ cười an nhiên.
Trầm Hương Ptt.
các bạn muốn đọc sách hay in thì bấm vào dòng chữ sau
Ref.Link:
BÌNH YÊN TRONG HOÀNG HÔN _Final
Bình yên trong hoàng hôn” của Trầm Hương Ptt:http://tongphuochiep-vinhlong.com/…/B%C3%8CNH-Y%C3%8AN-TRON…
Tình thu mênh mang của Trầm Hương Ptt
Canada mùa thu lại đến..Trong thời khắc giao mùa , thơ Trầm Hương Ptt. lại trở về. Vẫn những câu thơ không nằm trong vần điệu của thơ. Cách gieo vần, ngắt câu tự do, phóng khoáng, nhưng mời các bạn xem đây là chút hương thu của người xa xứ gửi tình về quê nhà…
Tình thu mênh mang
1-
Buổi sáng trên đường, ngắt cánh hoa thạch thảo, mân mê cánh hoa trên tay. Có phải hoa chở mùa thu về?
Chiếc lá bên hiên bay theo cơn gió, tiếng rơi nhẹ đất trời.
Bải cỏ đọng sương mai. Vàng hoa cúc. Lạnh heo may.
Nắng quái xuyên qua khung cửa. Ánh trăng vàng trong đêm.
Không gian êm êm. Giọt mưa thầm thì cùng cây cỏ. Lay tỉnh mùa thu thức dậy
mùa thu đến như mơ.
2-
Mùa bay trên những chồi hoa. Hạt mưa nghiêng nhẹ. Tàn rơi bao chiếc lá. Mưa có chia nổi buồn ?
Bầy thiên di hỏi Trời xanh… Thu về chưa sao hoàng hôn chở gió?
Phố nhỏ nằm đìu hiu dưới bóng trăng. Tôi đưa tay vớt chút trăng vàng, nhặt chiếc lá và gửi vào lá một nụ hôn .
Tôi hỏi chiếc lá có ước mơ không? Có muốn cùng gió bay đi muôn phương ? Như có lần anh hỏi tôi…Có muốn cùng anh đi hết con đường ?
Tay nắm tay đi dưới trời thu. Hoa tiểu cúc cười. Trăng vàng e lệ.
Lá khóc theo bước chân người, lá có đau ?
3-
“Yên Chi hoàng diệp lạc, Thiếp vọng tự đăng đài. Hải thượng bích vân đoạn, Thiền Vu thu sắc lai.” Đọc thơ Lý Bạch, rồi tự hỏi Đời mình còn được mấy mùa thu . Sân ga cuối trong tuổi hoàng hôn gần như hơi thở. Tôi chờ thu hay thời gian chở muà sang ?… 4- Phút giao mùa đến … “Chinh khách vô quy nhật”*..Chút hương thu tôi gửi đến người.
Trầm Hương Ptt
Dịch nghĩa của trích đoạn bài Thu Tứ của Lý Bạch.*Yên Chi vàng lá rụng
Lên gác thiếp trông xa
Trên biển mây xanh tán
Ngoài biên thu lại qua**Chinh khách chưa quay lại
Xuân nồng trong nắng đông của Trầm Hương Ptt
Ngày đăng: 28/01/2017 3:20 chiều / ý kiến phản hồi (10)
Đón xuân trong tuyết trắng mùa đông, tưởng nhớ đến những mùa xuân nơi quê nhà có hoa mai, hoa đào, có nắng xuân nồng ấm. Nơi đây mùa đông giá lạnh nhưng lòng người tha hương bỗng như ấm lại bên ly rượu nồng, thêm lời chúc tụng ngây thơ của các cháu nội ngoại mừng Tết ông bà. Một thoáng nhớ nhung đưa người viễn xứ trở về với những kỷ niệm xa xưa lúc tuổi xuân thì…
LTHK
0 co t 1
Xuân nồng trong nắng đông
Hương xuân thoảng trong không gian…Mênh mông tuyết phủ.
Mai đào, dẫn xuân về…lộc đất trời…
Tôi giang tay đón nhận mùa xuân.
Xuân đẹp, xuân nồng, tình xuân lan khắp.
Lời yêu thương và lời tình tự…Hơi thở mùa Xuân nhẹ đến bên thềm.
Bánh mứt dâng cúng ông bà, mang ước vọng bình an, ấp ủ nhớ thương trong khói nhang trầm mờ tỏ.
Dịu dàng nét xuân, đàn chim én gọi bầy, ríu rít bên nhau, trên những cành thông xanh lá.
Xuân cất tiếng gọi mời thân thiết, ấm trong cốc rượu nồng, xua đi giá lạnh mùa đông.
Xuân trong đôi mắt hòn bi ve, long lanh cuả các cháu, nụ cười với những chiếc răng sữa đang thay, vô tư hồn nhiên, chúc ông bà bằng câu nói quê hương ngọng nghịu…
“Chúng con mừng tuổi ông bà, kính chúc ông bà sống lâu trăm tuổi”.
Đôi má hồng, câu nói ngây thơ, trong sáng quá xuân ơi.
Tuyết đổ nhẹ bên hiên, chút bâng khuâng hoài niệm.
Xuân như con nước xuôi dòng.
Sáng mồng một đón xuân về trong nỗi nhớ, trái tim buồn rớt bên song.
Hong tình quê xa lắc. Có những hồi ức mùa xuân chứa cả quê nhà.
Lòng muốn ôm cả trời quá khứ….nghìn xuân mơ giấc mộng thường…
Ngày xuân ấy, tôi thả niềm vui trong ánh mắt môi cười, đời màu hồng trước mặt…
Những chiều ba mươi tết, chiếc Honda chạy trên đường vắng, thương câu ca
“Có ai lựa buổi chợ chiều mà đi….”
Lòng tôi như cánh hoa thủy tiên gửi về quê nhà, đón mừng năm mới…Lộc trời chan chứa tình xuân…Một mùa xuân xa xứ, dâng đời nỗi nhớ đầy vơi.
“Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau
Tóc xanh dù có phai màu
Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng
Xin chào nhau giữa lúc này
Có ngàn năm đứng ngó cây cối và
Có trời mây xuống lân la
Bên bờ nước có bóng ta bên người …”
Mượn bài thơ “Chào Nguyên Xuân” của nhà thơ Bùi Giáng.Gửi bạn một chút xuân nồng trong nắng đông.
Hạt Sương Nho Nhỏ 2 – Thơ: Trầm Hương Thơ – Nhạc: Phanxicô:
https://www.youtube.com/watch?v=SGAYiaJpf-4 -
Trần Quang Hải – Thơ tình Anh Việt ngữ

-
DÂN CA DÂN NHẠC VN – LÝ MIỀN NAM
Miền Nam nước Việt chúng ta là một lảnh thổ có một lịch sử trải dài qua nhiều thời đại, khởi thủy bằng Vương quốc Phù Nam từ thế kỷ 1.
Phù Nam (tiếng Phạn: नाम) là một quốc gia cổ trong lịch sử Đông Nam Á, xuất hiện khoảng đầu Công Nguyên, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông. Theo nhiều thư tịch cổ Trung Hoa, thì trong thời kỳ hưng thịnh, Vương quốc này về phía Đông, đã kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung Bộ (Việt Nam), về phía Tây đến thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Mã Lai.
Quốc gia này tồn tại cho đến khoảng nửa thế kỷ 7 (sau năm 627) thì bị sáp nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp. Mãi đến thế kỷ 17-18, phần lãnh thổ xưa kia được coi là trung tâm của Phù Nam, tách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, tức Nam Bộ ngày nay.
Chân Lạp (tiếng Khmer: ចេនឡា/Chenla, phát âm: Chên-la; Hán-Việt: 真臘) có lẽ là Vương quốc đầu tiên của người Khmer tồn tại trong giai đoạn từ khoảng năm 550 tới năm 802 trên phần lảnh thổ phía Nam của bán đảo Đông Dương gồm cả Campuchia và một số tỉnh phía Nam của Việt Nam hiện nay.
Chân Lạp-Phù Nam, vào năm 600.
Triều đại các vị vua của Vương quốc Chân Lạp theo truyền thuyết có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại “Campu”, lấy nàng Naga (con gái thần nước, biến từ rắn thành thiếu nữ). Từ “Campu” cũng bắt nguồn cho tên gọi của Campuchia sau này.Các vương quốc láng giềng xung quanh vào thời kỳ ban đầu của họ là Chăm Pa ở phía Đông, Phù Nam ở phía Nam và Dvaravati (thuộc Thái Lan ngày nay) ở về phía Tây Bắc.
Ban đầu là một nước chư hầu của Vương quốc Phù Nam (khoảng cho tới năm 550), trong vòng 60 năm sau đó nước Chân Lạp đã giành được độc lập và dần dần lấn lướt Phù Nam. Đến thế kỷ 6 thì họ đã xâm chiếm được miền Bắc của Phù Nam. Cuối cùng, trong thế kỷ 7 (khoảng giai đoạn 612-628), Chân Lạp đã xâm chiếm toàn bộ Phù Nam, chiếm toàn bộ dân cư của Vương quốc Phù Nam nhưng lại hấp thu nền văn hóa của họ. Năm 613, Ishanapura trở thành kinh đô đầu tiên của đế quốc mới Chân Lạp.
Bản đồ Đế quốc Khmer (Khmer Empire) cuối thế kỷ 12.
Đế quốc Khmer, tách ra từ Vương quốc Chân Lạp, là một cựu đế quốc rộng lớn nhất Đông Nam Á (với diện tích lên đến 1 triệu km², gấp 3 lần Việt Nam hiện nay) đóng trên phần lãnh thổ hiện nay thuộc Campuchia, đã từng cai trị và có phần đất phiên thuộc mà ngày nay thuộc lãnh thổ của các quốc gia: Lào, Thái Lan và miền Nam Việt Nam.Sự khởi đầu của kỷ nguyên Vương quốc Khmer Angkor được cho là bắt đầu từ năm 802 sau Công nguyên. Trong năm này, vua Jayavarman II đã tự xưng “Chakravartin” (Hoàng đế của thiên hạ).
Trong quá trình tạo lập nên đế chế này, người Khmer đã có các mối quan hệ thương mại với Đế quốc Java và sau đó với Đế quốc Srivijaya giáp biên giới Đế quốc Khmer về phía Nam. Di sản lớn nhất của Đế quốc Khmer là Angkor – kinh đô của Đế quốc này vào thời cực thịnh của nó. Angkor là chứng tích của sức mạnh và sự thịnh vượng của Đế quốc Khmer và cũng là hiện thân của nhiều tín ngưỡng mà nó đã mang trong mình. Các tôn giáo chính thức của đế chế này là: Ấn Độ giáo, Phật giáo Đại thừa cho đến khi Phật giáo Nam truyền chiếm ưu thế sau khi được du nhập từ Sri Lanka vào thế kỷ 13.
Tuy nhiên tới năm 1431, cuối cùng thì Angkor thất thủ trước quân Thái. Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 là giai đoạn suy tàn liên tục và thu hẹp đất đai của Đế quốc Khmer. Từ giữa thế kỷ 15, Đế quốc Khmer liên tục bị các cuộc xâm lăng của vương quốc Ayutthaya (Thái Lan cổ) tàn phá. Angkor liên tục bị chiếm đóng và tàn phá.
Tượng vũ nữ bằng đá thời Phù Nam, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng An Giang.
Sang đầu thế kỷ 17, Đế quốc Khmer có sự gắng gượng ổn định đôi chút dưới thời vua Chay Chettha II, tuy không thể bằng các thời kỳ trước đặc biệt là thời Angkor, với việc thành lập một thủ đô mới tại Oudong năm 1618. Vua Chey Chettha II đã mở rộng quan hệ với chúa Nguyễn ở Đàng Trong của Việt Nam, để cân bằng ảnh hưởng từ vương quốc Ayutthaya của Thái Lan. Ông đã cho phép một số ít người Việt đến sống tại Prey Nokor (sau này là Sài Gòn). Bằng sức ép lên đất nước còn đang suy yếu, vua chúa Việt Nam từ từ chiếm được tất cả các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bắt người Khmer phải đổi họ, tên theo tiếng Việt.Từ giữa thế kỷ 17 trở đi, Đế quốc Khmer trở nên suy yếu trầm trọng trước hai láng giềng hùng mạnh và tham vọng bành trướng là Xiêm và Đàng Trong (Việt Nam). Sự định cư của người Việt ở châu thổ sông Cửu Long từ đầu thế kỷ 17 dẫn tới việc họ sáp nhập hoàn toàn vùng đó vào năm 1757, vì thế Đế quốc Khmer mất một trong những vùng lãnh thổ trù phú nhất của họ.
Đến cuối thế kỷ 17, Đại Việt hoàn thành việc chiếm đóng vùng đất Miền Nam, Việt Nam bây giờ.
Một hố khai quật khảo cổ trong khu di tích Nam Linh Sơn, nằm cách chùa Linh Sơn (Ba Thê) 60m.
Một hố khai quật khảo cổ trong khu di tích Nam Linh Sơn, nằm cách chùa Linh Sơn (Ba Thê) 60m.
oOoDân ca Dân nhạc cổ truyền của mỗi dân tộc trên thế giới đều có những nét đặc thù độc đáo riêng biệt. Những nét đặc thù độc đáo riêng biệt này đã đóng góp tạo nên một kho tàng văn hóa phi vật thể vô giá trên toàn cầu cho mọi người.
Dân ca Dân nhạc cổ truyền Việt Nam có những âm điệu ngũ cung đa dạng, phong phú. Những âm điệu và ca khúc dân dã này đã được sáng tác và truyền miệng trong dân gian qua nhiều thế hệ sau khi đã được gọt giũa, sàng lọc, phổ biến, vững bền cùng năm tháng.
Nền âm nhạc cổ truyền này mang âm hưởng của nhiều vùng miền cùng với nhiều thể loại trên khắp cùng đất nước. Và hôm nay mình trân trọng giới thiệu đến các bạn từng thể loại của từng vùng miền và trong những bài kế tiếp.
Đầu tiên mình giới thiệu đến các bạn các thể loại “Dân ca Miền Nam” ở miền Nam nước Việt. Câu châm ngôn “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò” là câu đã được sự đồng tình của đa số các nhà nghiên cứu nền dân ca truyền thống Việt Nam.
Trong dân ca miền Nam, “Lý” là một làn điệu dân ca đặc trưng của những người nông dân mộc mạc chất phát. Những lời ca trong những điệu “Lý” luôn nói lên tinh thần tích cực và sức sống mạnh mẻ của nông dân, lời lẽ thường chân thật và mộc mạc, không văn chương, nhưng diễn tả tình cảm bộc trực mà đậm đà.
Dưới đây mình có bài “Hồn Quê Trong Các Điệu Lý Đồng Bằng Sông Cửu Long” của Trân Phạm, và bài “Hát Lý Và Những Điệu Lý Nam Bộ” của ông Nguyễn Hữu Hiệp để các bạn tiện việc tham khảo về bộ môn nghệ thuật dân gian đặc thù này của miền Nam chúng ta.
Theo khám phá của các nhà nghiên cứu, Dân ca Miền Nam có trên vài trăm bài “Lý”. Nhưng phổ biến nhiều nhất trong dân gian là các bài mà mình xin tạm giới thiệu đến các bạn sau đây… Lý Chiều Chiều, Lý Con Sáo, Lý Chim Quyên, Lý Quạ Kêu, Lý Kéo Chài, Lý Cây Bông, Lý Con Sam, Lý Ngựa Ô, Lý Cái Mơn.
Đồng thời mình còn có 12 clips tổng thể các điệu “Lý Miền Nam” giới thiệu đến các bạn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Chiều Chiều. Hồn Quê Trong Các Điệu Lý Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trong kho tàng văn hóa dân gian của Việt Nam, dân ca có một vị trí quan trọng. Dân ca khắp ba miền Bắc Trung Nam có lịch sử hình thành khá lâu đời và dân ca Tây Nam bộ là một bộ phận của dân ca Nam bộ, có nguồn gốc từ những khúc hát cung đình (ngũ cung) lan ra giao thoa với ca hát dân gian (hát dâng bông, bóng rỗi) rồi biến hóa, linh động từ nội dung và hình thức, cô đặc lại, cấu thành món “đặc sản” tinh thần của người bình dân.
Tây Nam bộ hay Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất được tiền nhân khai mở sau cùng trong quá trình Nam tiến. ĐBSCL với địa hình thấp, mênh mang sông nước, vừa có biển lớn nhiều cá tôm, vừa có đồng bằng phì nhiêu rộng lớn, vườn tược xanh tươi, ở phía Tây Nam còn có núi non hùng vĩ. Cư dân ĐBSCL xưa nay được tiếng hiền lành, chân thật, cần cù, nhân nghĩa rạch ròi, cởi mở, hiếu khách và có lối sống thích nghi, sáng tạo. Dân ca Tây Nam bộ hầu như phản ánh hầu hết các nội dung trên.
Thông thường, nói đến sinh hoạt ca hát dân gian vùng ĐBSCL, nhiều người hình dung đến chiếu đờn ca tài tử, hoặc những bài bản vọng cổ giữa mênh mang sông nước. Nhưng sẽ là thiết sót nếu bỏ qua những điệu hò, hát ru và đặc biệt là các điệu lý xuất hiện khá nhiều trong sinh hoạt văn hóa dân gian và thường được dùng như một chất liệu để làm phong phú thêm các bài bản vọng cổ hay các vở cải lương. Lý là những khúc hát ngắn gọn với nhịp điệu phong phú và sinh động.
Lời hát của lý đa phần có vần điệu dễ nhớ nhưng khác với ca dao, hò, vè ở chỗ lý mang tính nhạc (hát), trong khi ca dao, hò, vè mang thuộc tính của thi ca (thơ). Các bài lý tiêu biểu, đại diện cho dân ca của các “miệt”, địa phương miền Tây Nam bộ như: Lý ngựa ô, Lý Cái Mơn, Lý cây bông, Lý con sáo Gò Công (Lý con sáo sang sông), Lý con sáo Bạc Liêu, Lý quạ kêu, Lý chiều chiều, Lý bông dừa, Lý Năm Căn, Lý Ba Tri, Lý tòng quân, Lý Mỹ Hưng, Lý kéo chài, Lý qua cầu… Các bài lý có nhịp điệu sinh động nhưng vẫn giữ sự chân chất mộc mạc, pha chút cảm giác mênh mông của hò. Lý cũng có những phân biệt câu cú, khúc, đoạn; phần âm điệu mạch lạc, nhất quán, không cầu kỳ. Mỗi bài lý cũng có thể có nhiều lời ca, soạn giả có nhiệm vụ quan trọng là làm sao cho lời ca mượt mà đi vào lòng người, hòa quyện với giai điệu.
Cũng như âm điệu, mỗi điệu lý đều có một nội dung rõ rệt, hoặc phổ biến những kinh nghiệm sản xuất, ca ngợi những đức tính, thiên nhiên tươi đẹp, hoặc oán trách nhau, hoặc mỉa mai, châm biếm bọn lý trưởng, cường hào… Nghiên cứu về dân ca Tây Nam bộ, người ta thấy rằng hầu như đa phần trong các điệu lý đều có hình bóng con sông, bến nước, làng quê và những làn điệu trữ tình tha thiết ấy luôn chứa đựng tình cảm nhớ quê hương, nhớ về ký ức lứa đôi nơi quê nhà. Ví dụ như lời ca trong bài “Lý Cái Mơn”:
Đàn cò bay về nơi thương nhớ
Nhớ bến sông xưa in hình bóng của người yêu…
… Sắc hương hoa đôi bờ sóng vỗ tình quê
Có hay chăng thuyền xa bến bến trông thuyền về
Thuyền tình ơi hãy chờ đợi ta bao tháng năm trôi qua
Nhưng người xưa vẫn luôn ngóng đợi tình chungly11
Không gian làng quê hiện ra thơ mộng, lãng mạn với nỗi hoài niệm man mác. Hay trong bài “Lý qua cầu”:
Trời bình minh chim về đây líu lo trên cành
Như mọi ngày dòng sông với con đò mong manh…Bài Lý qua cầu cũng nói về một mối tình trên dòng sông, bến nước có cô lái đò và người lữ khách. Và chuyện tình ấy có kết cuộc dang dở, buồn tênh! Một bài lý nữa cũng gắn liền với sông nước- “Lý bông dừa”:
Sông dài còn chảy xuôi theo dòng
Mà sao xa vắng em tôi biết tìm nơi đâu
Dòng sông còn chứa chan ân tình
Nay dang dở tình đầu ta còn gắn đợi ai…Tóm lại, các điệu lý ĐBSCL thường nghe mượt mà, dễ thương với vần điệu, lời ca giàu chất trữ tình, mang nhiều nỗi niềm hoài niệm quê hương, tình yêu, làng quê, dòng sông bến nước. Do đó các điệu lý thường khá dễ hát, dễ biểu diễn và cũng dễ đi sâu vào lòng người. Lý cũng như nhiều thể loại dân ca cổ nhạc khác đã in sâu vào lòng người đồng bằng, từ thuở tiền nhân khai mở đất phương Nam. Ngày nay các điệu lý là một bộ phận không thể thiếu được trong biểu diễn dân ca cổ nhạc. Những điệu lý với lời ca đẹp; nghệ sĩ – nghệ nhân biểu diễn đúng chất luôn được người thưởng thức trân trọng và mến mộ.
(Trân Phạm)
ly26
Hát Lý Và Những Điệu Lý Nam Bộ
Trên hầu khắc đất nước ta, nơi nào cũng có xuất hiện, định hình những làn điệu dân ca trữ tình rất ngọt ngào, đáng yêu. Có không ít làn điệu đã trở thành đặc sản của địa phương, khu vực, như hát ả đào, hát nói, hát đám, hát quan họ, hát huê tình, nói thơ, hò lờ… Nhưng chung nhất và phổ cập nhất của thời trước là “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”.
Giúp ta hiểu rõ thêm câu tục ngữ này, ông Trương Vĩnh Ký giải thích trong “Giáo trình Hát, lý, hò An Nam” (in thạch bản, 1886): “Người trong Nam (từ Đồng Nai ra tới Quảng Nam) thì hát lý hay hơn cả; còn ca, phú, thơ, vịnh thì người miền Bắc; còn về việc hò thì tại nơi kinh kỳ (Huế)”. Lẽ dĩ nhiên từ “hát” nói ở đây không mang hình thức diễn xướng như hát bội, hát cải lương… nó đích thực là một thể loại dân ca đặc hữu của những người thôn dân chân chất. Hát lý không chỉ đã đi vào sinh hoạt đời sống nhân dân ta từ hàng nghìn năm trước mà di sản văn hóa phi vật thể này còn biểu thị tinh thần lạc quan, sức sống mãnh liệt của dân tộc.
Chính vì thế nên khi xua quân xâm lược nước ta, vua Minh (Thành Tổ) ban chỉ dụ: “Một binh lính vào nước Nam… hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến những loại ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ nhỏ… một mảnh, một chữ đều phải đốt hết…” (đạo dụ ngày 21/8/1406). Rồi không đầy 9 tháng sau, ngày 16/5/1407, Minh Thành Tổ lại ban thêm một đạo chỉ dụ nữa, nội dung nhắc lại tinh thần chỉ dụ trước, đồng thời quở trách các tướng sĩ, khi bắt gặp “những thứ ấy” thì phải ra lệnh đốt ngay chứ không được xem rồi mới đốt, tức phải y lịnh thi hành cho nhanh, cho triệt để! Song như chúng ta đều đã biết, chẳng những họ đã không làm được điều đó mà còn bị nghĩa quân của Lê Lợi quét sạch ra khỏi cõi bờ! Nước nhà độc lập, tự chủ. Thế là giọng lý lại được tôn vinh, cất cao lên khắp các thôn làng! Nhân dân hát lý ở bất cứ nơi đâu, bất cứ vào dịp nào: một mình lúc đang làm đồng, chèo ghe, nghỉ lưng trên cánh võng; hoặc cùng bạn bè trong những cuộc hội hè, tết nhứt, giỗ quải…, có kẻ xướng người xô càng thêm hứng khởi. Ở miền Nam xưa được các nghệ sĩ xếp đứng đầu trong các điệu hát: “Nhứt lý, nhị ngâm, tam Nam, tứ oán…”.
Ta biết, lý là quê mùa, là điệu hát mà ca từ chính là những câu phong dao, ca dao được đệm lót thêm một số nhóm từ, cụm từ, tuy là “hư từ”, sáo rỗng và vô nghĩa nhưng lại rất cần để nhằm ngâm nga, đẩy đưa, hỗ trợ làn hơi, đồng thời nghệ nhân cũng hát xen những tiếng láy, điệp ngữ – chính là điệp khúc… làm cho tiết điệu thêm mượt mà, khúc chiết, khi thì tình tứ thiết tha, khi thì buồn thảm não nùng, khi thì nhẹ nhàng phấn khởi… Chính nhờ đề tài và nội dung phản ánh mọi hiện tượng xảy ra trong sinh hoạt đời thường của ca dao, nói được những góc cạnh tình cảm trong cuộc sống, và cũng nhờ ca từ giản dị tươi vui, dí dỏm nên lý dễ đi vào lòng người, rất được người bình dân ưa chuộng.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Ngựa Ô.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Ngựa Ô. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Về lý, ông Huỳnh Tịnh Của có giải thích và phân biệt rõ trong Đại Nam quốc âm tự vị (Imp, Rey Curiol & Cie Saigon, 1895):Hát lý: Hát bắt nhịp, giọng cao giọng thấp, lặp đi lặp lại.
Lý hát: Và kể và hát có mau có chậm (hiểu là vừa kể vừa hát… và “hát theo điệu ca ngâm”).Mà ca ngâm thì “muôn màu muôn vẻ”, thành ra hát lý phong phú đến mức có đến hàng trăm điệu (gần như mỗi bài là một điệu). Hiện người ta đã sưu tầm được ngót 160 bài! Con số này sẽ không dừng lại nếu các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian có điều kiện thực hiện thêm những chuyến điền dã tâm huyết.
Trong khẩu ngữ thông thường, dân gian ít phân biệt ca lý và hát lý, vì vậy ở khía cạnh này ta có thể hiểu ca hát là một. Về điệu lý, theo Lư Nhất Vũ – Lê Giang tác giả Tìm hiểu dân ca Nam Bộ thì, cũng như ở Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ, ông bà ta ở Nam Bộ có mấy cách đặt tên cho nhiều điệu lý, đại thể:
a) Lấy nội dung lời hát (ca dao) mà đặt: lý con cúm núm, lý con sam, lý con sáo, lý ngựa ô, lý cây bần, lý cây gòn, lý trái bắp, lý trái mướp, lý dầu dừa, lý mù u, lý bình vôi, lý cái phảng, lý chúc rượu, lý qua cầu, lý cấy, lý đương đệm, lý cảnh chùa, lý vọng phu v.v.
b) Lấy mấy chữ đầu câu hát mà đặt: lý con cua, lý con chuột, lý con mèo, lý chim chi, lý chim sắc, lý chim chuyền, lý cây xanh, lý cây bông, lý cây ớt, lý mạ non, lý dừa tơ, lý trồng hường, lý chẻ tre, lý chiếu bông, lý chiều chiều, lý bánh canh, lý dĩa bánh bò, lý ông hương, lý nàng dâu, lý ba xa kéo chỉ, lý xăm xăm, lý liễn vũ v.v.
c) Lấy tiếng đệm lót hoặc tiếng láy đưa hơi mà đặt: lý í a, lý băng rù, lý bằng lưu thủy, lý bằng rằng, lý cống xê xang, lý giọng ứ, lý hố khoan, lý hố mơi, lý kỳ hợi, lý lu là, lý tú lý tiên, lý rị đa (hoặc lý đu đê), lý rường ơ, lý tang tình, lý ợ, lý yến ảnh v.v.
Nghệ sĩ Linh Phượng
Nghệ sĩ Linh Phượng. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Ngoài ra người ta còn dựa vào xuất xứ của loại hình ca bóng rỗi mà đặt tên các điệu lý giọng bông; dựa vào đặc tính của nhóm tiếng đệm mô phỏng các bậc âm của “chữ đờn” dân tộc; hoặc tiếng tụng niệm kinh kệ mà đặt tên như: lý bản đờn, lý cống chùa v.v.Cũng có trường hợp lấy địa danh để đặt cho: lý Ba Tri, lý Cái Mơn… Điều này ít thấy phổ biến trong dân gian. Tất nhiên vẫn có trường hợp cùng một làn điệu nhưng mang tên lý khác nhau, và ngược lại. Việc phân loại chỉ mang tính tương đối bởi “định danh” như vậy không thể tránh được tình trạng nhập nhằng – nhập nhằng cả về việc “định lượng” nữa.
Theo chiều dài lịch sử và tiến trình mở nước, ca dao dân ca lan toả khắp nơi, tuỳ theo hình thái địa lý, hoàn cảnh xã hội, và nhất là do cách phát âm từng nơi mà dân ca nói chung, điệu lý nói riêng có sắc thái mang dấu ấn của vùng miền, chung nhất là dân ca ba miền. Rồi do giao lưu, tiếp xúc mà âm điệu, thanh điệu và cả những tiếng đưa hơi cũng được biến hóa, co giãn, làm cho làn điệu thêm phong phú, đồng thời cũng làm bật lên nét đặc thù ngôn ngữ âm nhạc. Thí dụ như điệu lý con sáo, chỉ với câu ca dao Ai đem con sáo sang sông, Cho nên con sáo sổ lồng bay xa, các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, sơ bộ đã ghi nhận có tới 30 bài, trong đó có 4 bài lý con sáo trung du Bắc Bộ trong hát ghẹo, 3 bài lý con sáo Bắc trong hát quan họ Hà Bắc và hát trống quân, 1 bài lý con sáo Thanh Hóa, 4 bài lý con sáo Huế, Nam Bình Trị Thiên, 2 bài lý con sáo Quảng vùng Nam Trung Bộ, và hơn 10 bài lý con sáo Nam Bộ. Tác giả cuốn sách chuyên khảo về dân ca Nam Bộ đã dẫn có nhận xét: Trong lịch sử âm nhạc chắc chưa có hiện tượng nào cùng một đề tài xuất xứ, từ hai câu ca dao mà có tới hàng chục làn điệu với sắc thái khác nhau và muôn màu muôn vẻ!
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục Liên Khúc Lý miền Nam: Lý Cây Bông, Lý Con Sáo, Lý Chim Quyên, và Lý Quạ Kêu.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Liên Khúc Lý Miền Nam: Lý Cây Bông, Lý Con Sáo, Lý Chim Quyên, và Lý Quạ Kêu. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Vì sao lý “con sáo sang sông – con sáo sổ lồng – con sáo bay xa” được các nghệ nhân dân gian ưa chuộng đến vậy?Lý, ngoài sức cuốn hút nhất định của âm điệu, nội dung của câu ca dao này đã phản ánh trung tâm tư, ước vọng của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân: truyền thống đấu tranh bất khuất, không chấp nhận làm nô lệ, luôn tìm mọi cách để “sổ lồng”, “sang sông”, “bay xa” tìm đến chân trời hạnh phúc. Và, thật kỳ diệu, dân tộc Việt Nam đã làm được điều đó!
Với hàng chục điệu lý như vừa nói, tưởng đã quá đủ để minh chứng tình cảm, cá tính người Nam Bộ – cũng là biểu tượng của sự hiên ngang, phóng khoáng của nhân dân. Nhưng nếu có chút tinh tế, ta sẽ thấy ở vùng miền nào cũng bật lên rất rõ nét sự tôn vinh điệu lý! Nếu lý ngựa ô đã có cuộc hành trình khắp nước thì lý con sáo cũng là bài lý thuộc loại dân ca ba miền, được các soạn giả dựa theo các làn điệu của lý mà sáng tác lời mới để mồi cho một làn điệu, một lớp, hay chuyển sang một ý khác đang diễn trên sân khấu nhằm làm thay đổi “thính vị” người nghe. Nó thường được đưa xen vào những bài vọng cổ, ca nhạc cải lương vì trước hết, đó là một điệu thức quen thuộc, dễ ca, có vui, có buồn nên dễ cảm nhận (nhưng dùng điệu lý trong những trường hợp vui dễ thành công hơn) như lý con sáo, lý giao duyên, lý vọng phu, lý ngựa ô, lý Phước Kiến, lý thập tình…
Trong khuôn khổ của một bài viết nhỏ, chúng ta chỉ có thể cảm nhận về lý một cách khái quát và mang tính chung nhất mà thôi. Việc tìm hiểu, phân tích sâu hơn tất nhiên đòi hỏi phải có công trình chuyên khảo dày công của các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, ở đó không thể thiếu phần ký âm từng điệu, giọng của các lão nghệ nhân.
Dưới đây là vài làn điệu lý “cùng lời khác nhạc” mà các nghệ nhân dân gian đã khéo xử lý những tiếng đệm lót, đệm phụ nghĩa, tiếng lý, tiếng đưa hơi, điệp ngữ… để nhằm hoàn chỉnh cấu trúc âm nhạc. Chúng tôi muốn giới thiệu một số làn điệu bài lý con sáo.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Con Sam.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Con Sam. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Trước tiên là bài được hát với tốc độ nhanh, nhịp điệu “nhát gừng”, khoẻ khoắn:– Ai đem con sáo (ký) qua sông (ký) qua sông. Cho nên con sáo (ơ sáo) sổ lồng (à xa mà) bay xa. Cho nên con sáo (á sáo) sổ lồng (ờ xa mà) bay xa (Ai… xa).
Bài khác, hát theo giọng “ợ”, xử lý nhóm tiếng đệm “ừ vậy phải đó thê” với cơ cấu giai điệu cũng như cơ cấu điệu thức rất mượt mà, có duyên (do Huỳnh Ngọc Trảng sưu tầm):
– Ai đem con sáo (này ơ ợ là sông cái) qua sông (bớ em ôi! Dạ ừ vậy phải đó thê).
Cho nên con sáo sổ lồng bay xa (đồn rằng tang tình bớ mà… bay xa).Và một bài nữa với giọng “bằng”, sử dụng cụm từ “ưng ứng ưng” (do Hoàng lê và Trần Kiết Tường ghi):
– Ai, ai đem, ai đem bằng chim sáo, ưng ưng ứng ưng ưng.
Sang sang sang sang sang sông ai đem chim sáo sang sông.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Cho, cho nên, cho nên bằng chim sáo, ưng ưng, ứng ưng ưng.
Sổ sổ sổ sổ sổ lồng cho nên chim sáo sổ lồng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Quay Tơ.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Lý Quay Tơ. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Đúng như câu tục ngữ “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”, một thời hát lý từng được thế nhân coi là một thể loại dân ca trội bật ở miền Nam. Đặc biệt, ở Nam Bộ hát lý có sức cuốn hút rất mãnh liệt, đến mức:Con cua quậy ở dưới hang,
Nó nghe giọng lý kềnh càng bò lên!
(Lý con cua quầy)“Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”, rõ ràng Nam Bộ không chỉ đã kế thừa cái vốn văn hóa cổ truyền có cội nguồn từ miền Bắc mà còn phát triển mạnh mẽ, làm tôn vinh cái vốn chung của dân tộc.
(Nguyễn Hữu Hiệp).
Article link: https://dotchuoinon.com/…/14/dan-ca-dan-nhac-vn-ly-mien-nam/
-
GSTS Trần Quang Hải biểu diễn đàn môi

-
GS.TS. Trần Văn Khê phát biểu về độc đáo ca trù và sáng tạo hát thơ (2002)

-
CÕI ĐẸP

Cao Huy Thuần
Qụyển sách nhỏ này động đến một giai đoạn lịch sử lớn, lớn về mọi mặt: chính trị, xã hội, phong hóa, ngôn ngữ, văn chương, báo chí, mỹ thuật – nói chung là văn hóa. Chỉ trong vòng mười lăm năm, từ 1930 đến 1945, dằng co giữa cái cũ và cái mới trong xã hội đẩy dần cái cũ vào bóng tối đồng thời với những chuyển biến chính trị chấm dứt một quá khứ thuộc địa đau thương. Giới hạn trong lĩnh vực xã hội, văn hóa, hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay là hai mũi dùi bén nhọn nhất trong chiến trận giữa cũ và mới, đưa Lý Toét lên địa vị danh tướng có một không hai trong lịch sử báo chí Việt Nam.
Chị Phạm Thảo Nguyên là một trong những người đã có công lớn sưu tầm để đưa lên mạng toàn bộ Phong Hóa và Ngày Nay tản mác khắp nơi. Đọc lại hai tờ báo oanh liệt một thời ấy, chị có dịp khám phá thêm tài ba xuất chúng của Nhất Linh trong những địa hạt mà ít người biết đến, nhất là mỹ thuật. Ngoài tiểu thuyết, Nhất Linh còn là họa sĩ, từng thi đậu vào trường Mỹ thuật Đông Dương, từng vẽ tranh trong báo, từng tạo không gian đẹp cho báo bằng tranh của các họa sư, chưa kể là cha đẻ của Lý Toét. Nhưng công lớn nhất về mỹ thuật của Nhất Linh, nghĩa là của Phong Hóa và Ngày Nay, là đưa một tài ba hiếm có lên ngai vàng của một vương quốc mà tôi xin được gọi là Cõi đẹp. Tài ba ấy là Cát Tường, tác giả của “Áo dài Lemur”, chiếc áo đã nhập vào hình hài Việt Nam một cách hài hòa đến nỗi bây giờ nghiễm nhiên trở thành biểu trưng của bản sắc Việt Nam. Mượn giọng trào phúng của Phong Hóa và Ngày Nay, Cát Tường trào phúng hóa tên mình để đặt tên cho tác phẩm: tiếng Pháp “le mur” là cái tường, là bức tường, tên ấy cũng là cái mới đang đánh nhau với cái cũ, cái cũ ở đây là hai chữ Hán “Cát Tường”, rất bác học, rất nghiêm trang, rất không biết cười. Ông Cát Tường đưa tiếng cười vào áo: áo dài Lemur trước hết là một tiếng cười, tiếng cười trẻ trung, tươi vui, lạc quan, yêu đời của những nhan sắc đôi mươi thấy mình đã là bướm, không còn bị giam giữ nữa trong chiếc kén bí hiểm của gia đình, xã hội. Phải đặt áo ấy vào trong bối cảnh tươi vui của Phong Hóa và Ngày Nay mới thấy rõ toàn diện bức tranh của một xã hội chuyển mình, đổi mới từ trong ra ngoài, từ tâm hồn đến y phục.
Chúng tôi sinh ra trong khoảng thời gian chuyển mình ấy, nhưng quá nhỏ và lại ở chốn quê mùa, chỉ biết ông Cát Tường qua một mẫu áo dài duy nhất. Gần đây, nhờ xem một buổi trình diễn áo dài để kỷ niệm tác giả của áo, và bây giờ đọc sách này của chị Phạm Thảo Nguyên, tôi mới được biết ông Cát Tường không phải chỉ vẽ một mẫu áo mà nhiều mẫu áo dài khác nhau để mặc tùy mỗi hoàn cảnh, khi đi dự tiệc, khi đi chơi mát, khi hóng gió biển, khi trời lạnh mùa đông, khi nóng bức mùa hè, khi xuân đến, khi thu sang, mùa nào màu sắc nấy, ngày đêm đậm nhạt đổi thay, sang trọng, duyên dáng, thướt tha, hoa bay bướm lượn. Cảm tưởng gì gợi lên trong tôi? Không thể kể lịch sử của chiếc áo Lemur, cũng như không thể kể Tự Lực văn đoàn, tách rời khỏi sự xuất hiện tươi mát của một giai tầng xãhội trung lưu, trí thức, mơ mộng cái mới, giã từ cái cũ. Gọi họ là “tiểu tư sản” thì cũng được thôi, nhưng không có “tiểu tư sản” ấy thì không có sáng tạo Lemur này.
Nói như vậy không có nghĩa là chỉ có “tiểu tư sản” mới sáng tạo ra cái Đẹp. Chị em nông thôn ta ngày trước đã sáng tạo ra chiếc yếm mỹ miều. Nhưng áo dài Lemur có cái đặc sắc kỳ diệu là vượt ra khỏi lý lịch khai sinh tiểu tư sản để ban quốc tịch Việt Nam cho mọi người, không phân biệt ngoài hay trong, quê nhà hay lưu đày tứ xứ, ban cho cả người nước ngoài muốn có cái hãnh diện được làm “dâu Việt Nam”. Mẹ tôi ngày trước, khi khách đến nhà, phải mặc áo dài rồi mới ra ngồi trên phản tiếp khách. Lễ lược, cưới xin: áo dài. Dân thị thành còn bắt chước Âu Mỹ mặc áo đầm cho cô dâu; phụ nữ thôn quê có lễ phục nào trang trọng hơn: áo dài? Thậm chí, ở Huế ngày trước, nóng nực dường ấy, mà các chị bán cháo bán chè, khi quảy gánh ra đường, cũng mặc áo dài. Đâu là tiểu tư sản? Cái đẹp tiểu tư sản thuở khai sinh biến thành cái đẹp đạo đức của mọi tầng lớp. Thậm chí hơn nữa, áo dài còn xuất hiện trong cả đấu tranh chính trị ở nước ngoài. Cầm cờ đi đầu biểu tình hay cầm biểu ngữ, chắc chắn phải là hai phụ nữ, hai chiếc áo dài. Báo chí Paris vừa đăng lại hình ảnh ấy để kỷ niệm 50 năm một năm 1968 lịch sử. Có người Việt Nam nào không thấy hồn của mình phất phới trên tà áo dài duyên dáng kia?
Từ hình ảnh, xin bắt qua bài hát. Chúng tôi, nhi đồng thuở ấy, đứa nào mà không hát Lưu Hữu Phước? Đứa nào mà không yêu nước khi hát các bài ca của ông? Nhưng Lưu Hữu Phước đâu phải chỉ có anh hùng ca! Ông còn tình tứ, lãng mạn, ga-lăng, và đặc sệt tiểu tư sản với các cô gái thanh xuân trong hành khúc mang tên là “Thiếu nữ Việt Nam”. Thiếu nữ nào vậy?
Trông hoa xuân thắm tươi trên muôn cành
Lòng niên thiếu chan chứa hương xuân
Reo lên trong nắng mớitrong vui mới
Vì chị em ấy hoa của đời.Thiếu nữ nào cũng là mùa xuân cả, thiếu nữ nào cũng là hoa xuân cả, thiếu nữ nào cũng là nắng mới cả. Nhưng hát lên trong giaiđoạn Cát Tường ấy, hát lên trước chiếc đũa thần của chàng nhạc trưởng sinh viên Hà Nội ấy, khó mà tưởng tượng có bóng dáng một chiếc liềm cùng đi trong hành khúc, khó mà tưởng tượng không có hoa bướm áo dài tung bay trong hứng khởi của người sáng tác. Toàn là thiếu nữ Cát Tường cả thôi. Toàn là những xuân thì mới mẻ, vui sống, yêu đời, gieo rắc tiếng cười lạc quan quen thuộc trong văn chương Tự Lực văn đoàn, Ngày Nay, Phong Hóa. Cùng với văn chương ấy, tiểu tư sản không kém một phân, Lưu Hữu Phước thúc đẩy chị em:
Đi ta đi dắt nhau ta đi lên cùng
Và ca hát trong ánh nắng mai
Reo tươi vui khắp nơi reo vui sống
Vì chị em ấy hương của đờiĐồng nội cũng có hương hoa, nhưng khó mà tưởng tượng hương hoa bay lên trong hành khúc không phải là những tiên nga Hà thành, đối tượng của Cát Tường, tha thướt với Lemur. Thế nhưng, ngay trong chốn quê mùa của tôi, ai mà chẳng thấy mình cũng đi, vô duyên quá, con trai gì màđi với con gái, nhưng gái trai đâu có phân biệt gì trong tiếng reo vui từ cùng một lổng ngực của tuổi trẻ? Nắng, hoa, hương của trời đất là tài sản chung, có riêng ai là triệu phú, riêng ai là vô sản đâu! Và cái Đẹp, ở đâu mà chẳng có, nếu biết nhìn một bông hoa thì ngay cả một bông cỏ hèn mọn cũng chứa đựng tất cả diễm lệ của vũ trụ.
Bởi vậy, chẳng lẽ có ai ganh tỵ với những chiếc áo dài tươi vui trên sân khấu thị thành, chẳng lẽ có đôi vai quang gánh nào mỉa mai “Thiếu nữ Việt Nam” trong hành khúc không phải là tôi? Chẳng lẽ có anh chàng lý thuyết gia nào còn lẩm nhẩm ôn bài học “quan niệm đẹp của giới thống trị là quan niệm đẹp thống trị”? Này anh ơi, có ai không hãnh diện cái đẹp của áo dài là cái đẹp Việt Nam, hơn thế nữa, là cái Đẹp trong Cõi Đẹp mà ai cũng là nghệ sĩ, mà ai cũng là trọng tài của chính mình?
Hỡi linh hồn của tác giả áo dài Lemur, trong Cõi đẹp của ông có bóng dáng giai cấp chăng?
Cao Huy Thuần
-
Hương vị đời

Hương vị đời
Chút đăng đắng trong cuộc sống
cũng là chút hương vị đời. (NVS)
Thằng Chà hí hửng cầm hai cuốn truyện Tàu bước qua ngạch cửa khi trời vừa hừng sáng. Bữa nay chúa nhựt ba nó ở nhà nhưng đã cho phép nó đi đổi truyện. Ngày thường ông đạp xe máy ra Trà quít làm việc tối mịt mới về, lợi dụng giờ giấc nó tự ý đi không cần phép tắc, nhưng khi ông ở nhà thì phải hỏi phải thưa. Nó bước nhè nhẹ ngang qua chuồng gà tính mở cửa ngỏ thì con Ô nhảy ra chuồng hồi nào không biết lật đật chạy theo quấn quít bên chưn. Con Ô thân thiện thiệt tình nhưng sáng nay sự thân thiện đó không làm cho thằng Chà khoái chí chút nào. Hai cuốn truyện Tàu được đưa ra quơ quơ làm võ khí nhưng con Ô chỉ cần né đầu là tránh được dễ dàng rồi cứ lẩn quẩn theo cản chưn trở cẳng. Thằng Chà tức khí đứng lại tính ăn thua đủ thì con Ô cũng khựng lại, ngóng cao cổ đập cánh phành phạch rồi cất tiếng gáy. Không khí đương yên tĩnh bỗng sôi động lên, đàn gà mái nhao nhao vừa cục tác vừa gục gặc đầu đủng đỉnh đi tới đi lui trong chuồng hay chõ mỏ qua khe rào kêu réo. Thằng Chà thừa cơ hội, lận hai cuốn truyện vô bụng, kéo áo phủ xuống, cuốn nào cũng đã được chủ nhơn đóng bằng giấy dầu nên nó không sợ mồ hôi làm ướt. Mau chưn nó phóng ra ngoài. Con Ô sau một giây ngơ ngác, chạy đuổi theo chủ chừng 5, 7 thước thì bỏ cuộc, quay vô bay đậu lên hàng rào chuồng chừng một vài phút rồi nhảy xuống hăm hở rượt đuổi bầy thê thiếp, không còn tha thiết gì tới chủ nữa.
Đã tờ mờ sáng. Đằng xa kia, nơi chưn trời một chút ánh hồng bắt đầu ló dạng. Tiếng ếch nhái đã hết inh ỏi. Màn sương khuya và gió lạnh báo hiệu cho thằng Chà bằng một cơn nhảy mũi dài tiếp theo một cái rùng mình nổi ốc từ duới chưn cẳng lên tới tay chưn. Nó kéo hai vạt áo lại sát nhau, bẻ cao cổ áo rồi lấy tay đập nhè nhẹ lên đầu để cái nón nỉ cũ của cậu nó vạt ra cho được chắc hơn. Nó nhắm hướng cầu Ngang đi miết…
Con đường đê tháng Hè đất cứng, chủ ruộng đã xắn đất đắp nện tạo một chút phẳng phiu xe máy chạy được, nhưng với đứa đi chưn không như nó một lúc thì thấy hơi nhói nhói dưới gót. Nó cảm thấy vậy thôi, không quan trọng lắm nên vừa đi vừa suy nghĩ tới lúc gặp mặt con Quyên đổi hai cuốn truyện nầy lấy hai cuốn truyện khác. Tùng dịp nói vài ba chuyện bâng quơ ngó mặt cho đở nhớ.
Nghĩ tới đây thằng Chà cười hí hí một mình, nhảy chưn sáo vài ba cái trước khi đi lại như bình thường.
Mấy người đàn bà đi chợ sớm bước mau qua mặt nó. Một người quay lại hỏi chọc:
‘Chà, Chà, mầy đi xóm sớm ha! Đi đổi truyện Tàu hay đi thăm nhỏ Quyên đó mậy?’
Một bà xồn xồn, bà con xa với phía ba nó, lên giọng răn đe của người trưởng thượng:
‘Coi chừng đó, nó lớn hơn mầy hai tuổi lận, lơ mơ nó đánh cho sặt máu mũi. Năm sau thì nó tới tuổi bẻ gảy sừng trâu, vật mầy như vật ếch, đừng có tưởng bở!’
Chị ta nói tới đây thì như thích thú day qua phân bua với người đồng hành:
‘Chị coi, con nhỏ lớn sộ, thằng nầy có chút nhí mà tối ngày tò vè, xẩn quẩn. Muốn lắm nên kiếm chuyện tới lui hoài. Mà khổ, con nhỏ coi bộ chịu đèn mới chết một cửa tứ mấy thằng trang lứa lối xóm của nó.’
Chị ta coi bộ hứng chí với lời châm chọc của mình, bèn cười hô hố sau câu nói.
Người đàn bà đầu tiên thấy vui vui, quay qua thằng Chà, dạy đời:
‘Chà mầy đừng có lớ ngớ đứng ngoài vàm nữa nha, không múm vô vàm thì thiên hạ ẳm mất tiêu giờ. Con nhỏ cũng ngộ đến chứ có sứt môi méo miệng gì đâu nà! Da nó lại trắng nữa, dân ruộng rẫy mà như vậy thì kiếm đâu được đứa thứ hai!’’
Được mợi cái người có bà con bước gần tới vò đầu nó:
‘Ối chà! Trước khi đi thăm mèo cậu đã hớt tóc tai đàng hoàng ha. Thầy hù nào mà hớt coi được đến. Con Quyên nó chết mê chết mệt còn gì!’
Thằng Chà cười cười trong họng mà ngượng ngịu ngang, không trả lời trả vốn gì hết, cắm đầu cắm cổ bước mau qua khỏi đám đàn bà nhiều chuyện. Họ quay qua nói với nhau rậm ran về đề tài trai gái bồ bịch tình tang trong xóm. Nó bối rối, ngó ngoái lại coi họ có nói gì về mình nữa không. Hình như đề tài đã được đổi quaq chuyện cá mắm, chồng con. Nhìn từng cái rổ tre, từng cái giỏ xách đong đưa theo mấy cánh tay đánh đồng xa của các bà, nó nghĩ ngợi bâng quơ về một hình ảnh ôm ấp trong trí.
Trời sáng lần, âm thanh và cảnh tuợng đêm tối đã được thay bằng giai điệu của hoạt cảnh ban mai. Tiếng gió nhẹ xào xạc qua kẻ lá tre hòa với tiếng nghiến răng của hai thân tre cọ vô nhau theo gió mạnh, tiếng chó sủa xa xa và tiếng lịch bịch của mấy con trâu bị chủ đánh ra đồng…
Bỗng nhiên thằng Chà xuýt xoa rồi cong một chưn lên, nhảy cò cò. Đổ cộc, nó rủa thầm:
‘Mắc dịch mấy thằng cha hút thuốc liệng tàn bậy bạ. Vái cho chết tiệt hết khỏi hại người khác. Tàn thuốc hút rồi cũng không biết liệng xuống ruộng, liệng bậy trên đường đê, con nít đạp nhằm một cái đau thấu mây xanh! Trời mới tưng bửng sáng đã làm tầm bậy rồi! ’
Nó giơ bàn chưn lên dòm dòm. Tuy đau nhưng cũng không tới nỗi nào. Nó sửa sửa lại hai cuốn truyện Tàu cho yên vị rồi tiếp tục đi. Cây me keo làm ranh giới Xóm Me Keo cuối làng nó với xóm Mả Lạn đầu làng của nhỏ Quyên đã được bỏ lại sau lưng. Mặt trời sau rặng cây bên kia sông đương hé dạng.
Nó lầm lũi đi tới, chỗ nầy đồng vắng nhưng đất đồng khô nứt nẻ không phải ruộng, mấy tháng trước đội banh hai xóm đá giao hữu được vài lần thì giải tán vì thường xảy ra xích mích, đánh lộn đánh lạo khiến mích lòng mích bề người lớn một thời gian. Nhớ tới chuyện đó thằng Chà xuýt xoa thầm tiếc. Nó thấy lời nói thầy Thìn là đúng: ‘Bây chơi thể thao mà không có tinh thần thể thao chút nào hết! Thường thì phải theo phong cách mã thượng: Ăn không kiêu ngạo hay hạ nhục địch thủ, thua không làm trận làm thượng rồi kiếm cớ gây sự. Điệu nghệ chơi bời là vậy… Ai đời tụi bây bị ôm mấy trái thì bữa sau chận đường đánh thằng đá vô gôn, còn đương đá thì đốn giò, chặt ống quyển mấy thằng giỏi của đội kia. Chơi vậy thì chơi với chó chớ chơi với ai! Cái mửng chơi xấu nầy lớn lên có nước nằm nhà, dầu đá hay cách mấy cũng không ai cho vô hội tuyển trung bình chớ đừng mong gì được vô hội danh tiếng như Ngôi Sao Gia Định hay AJS.’
Từ hình ảnh thầy Thìn nó nhớ tới hai má lúm đồng tiền của nhỏ Quyên và thấy lòng mình mát rượi, xao xuyến. Nó vừa đi vừa đá một cục đất tròn theo từng bước chưn, tưởng tượng là trái banh mà nó đương lừa để kiếm cách giao cho bạn làm bàn.
‘Bữa nay tía đi coi mạch bốc thuốc cho ông quản Hên ở làng bên.’ Nó mừng rơn khi nghe con Quyên báo tin đó. Con nhỏ hí hửng:
‘Chà ngồi chơi một lát nha, Quyên đi nấu chè táo xọn hai đứa mình ăn chờ tía về. Có cuốn Phong Kiếm Xuân Thu tía mới mua tháng trước, quí lắm, Chà coi sơ cho đỡ ghiền trong khi đợi chè.’
Con nhỏ lăn xăn chạy lên chạy xuống vừa lo nồi chè vừa tiếp bạn. Lửa củi nóng hắt làm má nó hồng hồng, thằng Chà ngó thiếu điều rớt cặp mắt. Con nhỏ bẽn lẽn lấy khăn lông lau mồ hôi mặt, ngồi xuống đối diện bạn chơi hỏi đố chuyện Tàu.
‘Chà đố trước đi.’
Cũng cái mửng cũ, nó hỏi chuyện ai cũng biết để lấy lòng bạn:
‘Chuyện Tôn Tẩn giả điên trong bộ nào bà biết không?’ Nó dùng tiếng bà thay vì kêu bằng Quyên như mọi khi.
‘Dễ ợt! Xuân Thu Oanh Liệt!’
‘Lúc cuối cùng ông ta ra sao vậy kà?’
‘Ổng vô núi Thạch Nhân tu luyện.’
‘Rồi sao nữa?’
‘Mất biệt, không ai biết gì hơn. Có lẽ theo thầy Quỷ Cốc tu luyện linh đơn rồi thành tiên.’
‘Hay ha! Bà rành sáu câu ha. Thiệt ra ông làm như vậy mới là có cốt tiên. Thành công giúp đời rồi thì lo tu dưỡng cho mình. Trần thế vốn nhiều bụi nhơ, người có cốt tiên không ai màng.’
Con Quyên đưa tay lên chồng sách nhón lấy bộ Xuân Thu Oanh Liệt cầm tay, hỏi:
‘Mà Chà còn nhớ bài thơ khen Tôn Tẩn của người đời sau không?’
‘Ba năm luyện pháp núi Vân Mộng,
Một lúc đem ra giúp vạc Tề.’
Nhỏ Quyên thấy thằng Chà thuộc nên cùng đọc với bạn hai câu sau:
‘Công toại danh thành lòng chẳng động,
Về non tu luyện lánh cơn mê.’
Hai đứa cười lớn khi hết câu. Con Quyên vui quá, giơ cao bộ truyện đập xuống chồng truyện trên bàn. Ngực nó bật tung một cái nút bóp. Nó lật đật đưa tay lên che. Thằng Chà lần đầu tiên thoáng thấy mãng trăng trắng huyển ảo trước ngực bạn, lập lại mấy tiếng lánh nơi mê theo giọng hỏi làm cho Quyên mắc cở bỏ vô nhà trong một nước sau tiếng nói lầm thầm: Đồ quỉ!
Ngồi đó hèn lâu mà con nhỏ không ra, buồn tình nó đứng dậy nói lớn:
‘Tui đi về nha bà! Chè táo xọn đâu không thấy đợi hoài. Lại còn bị giận hờn.’
Tiếng con Quyên sau bếp vọng ra:
‘Hơi (mới) có! Bộ đói lắm sau mà hối vọng ngược vọng xuôi vậy?’
Nó mừng rơn khi con nhỏ hai tay bưng chén chè đầy ắp để trên dĩa đàng hoàng. Đưa tay đở, tùng dịp đụng vô mấy ngón tay ngà ngọc, nó nói theo kiểu ‘làm quen’ để địch thủ hết giận:
‘Chà thích cách nói thiệt là miền Hậu giang của Quyên: hơi (mới) có, tiếng mới được nuốt đi tạo một thổ ngơi đặc biệt dễ mến cách gì, cũng như nghe mấy thiếm bán hàng nói thồi lại, nói giùm làm, Chà thấy chơn chất gần gũi làm sao ấy!’
Cặp môi cắn chỉ mím nhẹ chịu đựng chừng vài giây rồi mới hơi mỉm cười. Nó nói nhỏ giọng thủ thỉ êm đềm của người tình:
‘Đừng giận nha! Cho Chà xin lỗi nha.’
Con Quyên nhỏ nhẹ:
Bạn hữu thì ai chấp nhứt gì, nhưng xin đừng nói chơi, nó nhẹ thể con người mình đi!’
Hai đứa cúi đầu mạnh ai nấy ăn, không khí tuy đã không còn nặng chình chịch như hồi nảy nhưng lòng nó vẫn còn mặc cảm như đã làm một lỗi lầm rất lớn. Nó cố gắng không ôn lại trong trí cái mình vừa mới thấy mà nghĩ tới cách làm sao cho con Quyên hết giận.
Thầy Thìn về nhà coi như một sự cứu bồ đúng lúc, thằng Chà lật đật rút lui sau khi xin phép mượn lại bộ La Thông Tảo Bắc với bộ Phong Thần Diễn Nghĩa. Con nhỏ không thèm ngó nó từ giả.
Vậy mà con Quyên hết hờn sau đó không lâu. Những lần tới đổi truyện tiếp theo hai đứa vẫn thân mật như thường. Có lần con nhỏ nói giọng người lớn không ngờ:
‘Truyện Tàu tức là truyện của người Tàu, truyện bên Tàu. Nước người ta có nhiều tuồng tích hay ho như vậy người nước mình thì mạt rệp từ đường, đi cày đi cấy cực khổ đã không đủ ăn thì chớ lại còn bày đặt rượu chè be bét như hủ hèm. Lúc say xỉn thì lè nhè rồi đánh đập vợ con hay gây sự đâm chém thiên hạ. Còn lúc bình thường bị làng xã ức hiếp, bị phú lít mã tà đá đít bộp tai thì ôm đầu máu chịu, im re chẳng dám phản kháng.’
Thằng Chà không nói gì. Những chuyện nầy nhan nhãn đầy trời nên trở thành thường sự. Hèn lâu nó mới nói một câu lãng xẹt:
‘Bà biết hảo hớn là gì không? Là anh hùng đó!’
Con Quyên chép miệng:
‘Người Tàu họ tinh quái lắm. Họ không nói dũng nhơn, hão dũng, anh kiệt hay gì gì đó mà nói hão hớn có nghĩa là người Tàu tốt, người Tàu giỏi, hay người Tàu anh hùng. Làm như thiên hạ không ai là anh hùng như người Tàu, người Hán.’
Thằng Chà lại ngồi im, há hốc miệng nghe nhỏ Quyên lý thuyết. Nó thấy Quyên hơn mình về mặt nầy. Con nhỏ thoát ra khỏi mấy cuốn truyện Tàu còn nó thí dính cứng vô đó. Thuộc lòng La Thông, La Côn, La Xán lúc nhỏ lúc lớn lúc già, thuộc lòng tên và hành trạng mấy chục anh hùng hão hớn Lương Sơn Bạc nhưng không có cái nhìn về thực tế cuộc đời trước mặt như con Quyên.
Nó ngó bạn không nháy mắt, thầm thán phục lẫn ước mơ. Ôi cặp má lúm hai đồng tiền nho nhỏ, hồng hồng với vài sợi gân đỏ lờ mờ dưới lớp da mịn màng, khiến nhỏ ta đỏ mặt quay đi chỗ khác.
3.
Cửa nhà thầy Thìn đã mở. Ông đương ngồi tréo ngoảy bên cái bàn giữa nhà. Bình trà trước mặt. Một tay cầm cuốn sách đóng bằng giấy manh (main), tay kia cầm tách nước đưa tới gần miệng nhưng đã ngừng lại ở đó. Ông đọc chậm rãi từng câu:
Ta chay trường khinh mạn lục thân,
Bạn bè tới thăm chẳng rần rần.
Nhắp chén trà thơm không rượu uống,
Dọn dĩa rau dưa chẳng thịt mần.
Hạ nhẹ tay cầm sách xuống, Thầy Thìn đưa tay cầm tách nước lên chút xíu nữa, chầm chậm nhắp một ngụm. Thoáng thấy cảnh đó Thằng Chà hơi khựng lại khi bước tới hàng rào mồng tơi. Trong cửa buồng con Quyên nảy giờ đứng im lặng kính cẩn ngó cha mình ngâm thơ, thấy dạng thằng Chà bèn nháy mắt hất hàm ra dấu biểu đừng bước tới nữa.
Thầy Thìn hạ tách nước xuống, đưa sách lên cao ngang tầm mắt, ngâm tiếp, giọng nho nhỏ vừa đủ nghe:
Bằng hữu lạ ta sao ăn chay,
Chỉ bởi Thiên Đường – Địa Ngục hai.
Ăn chay rau giá vậy mà tốt,
Dẫn tới Linh Sơn khoái thích thay!
Thiều quang thấp thoáng lẹ lắm mà,
Mỗi ngày tâm niệm Phật Di Đà.
Hiểu lẽ Tử – Sinh, chuyện phải có,
Chốn cố hương về lòng hoan ca.
Con Mực nằm dưới đất cuộn mình ngoan ngoản lim dim nhưng đưa mõm gác lên một bàn chưn chủ, thầy Thìn lấy chưn kia xoa xoa lên mình con vật, nó cựa cựa uốn éo như thưởng thức tình thương, như tỏ lòng biết ơn. Người chủ ngó xuống con vật cưng của mình rồi cầm sách lên ngâm nga tiếp:
Thời gian trần thế có mấy hồi,
Đời người ngày tháng thoáng như thoi.
Nam choắc thành ông, nữ thành bà,
Bao người nhận thấy dung nhan đổi!
Con Mực thình lình phóng ra hực hực chào người quen. Tách nước trên bàn được Thầy Thìn uống cạn sau khi chậm rãi để sách xuống, ngó ra sân. Con Quyên bước thụt vô buồng. Thằng Chà lật đật buớc vô, chào thưa bác nói mình đem đổi truyện.
Nó trịnh trọng để hai cuốn truyện lên bàn, lí nhí:
‘Dạ, cháu thấy kẹp trong hai cuốn nầy, mỗi cuốn có một tờ giấy oảnh. Chắc bác để lâu rồi quên. Xin nhắc bác hổng thôi rớt mất uổng.’
Thầy Thìn lật ra chỗ có tiền, lấy bỏ túi. Thầy ngó ngoái lại cố ý kiếm đứa con gái rượu để thầm trao đổi gì đó, nhưng không thấy. Một lúc sau con Quyên mới bưng ra một chồng truyện Tàu và một xấp Sách Bạn Trẻ của nhà xuất bản Nam Việt để lên bàn.
‘Lần nầy tía cho Chà mượn hai loại luôn nha! Coi chuyện Tàu hoài cũng nhàm. Loại Sách Bạn Trẻ nầy tốt hơn, thực tế hơn.’
Thầy Thìn cười lớn:
‘Con biết ý tía đa! Đọc cho mở mắt ra với người. Mà sao con cho nó mượn nhiều như vậy? Chắc sợ nó đổ đường tới đây mất công chứ gì! Chà nó có lý do để đi một tuần hai ba lần. Xá gì đường xa!’
Đứa con gái hơi xẻng lẻng, cười mím chi nói tía chọc con hoài, tụi con chỉ là bạn hữu cùng xóm cùng làng. Chà mất công đổ đường thì ăn nhập gì tới con!’
‘Để nói cho hai đứa nghe. ’ Thầy Thìn sửa lại bộ ngồi. ‘Đọc truyện Tàu thì phải biết là cái tụi Tàu nó viết toàn là khoe dân tộc nó anh hùng, nào là người Tàu có sức mạnh cử đỉnh ngàn cân, nào là người Tàu giỏi thập bát ban võ nghệ. Họ kêu những người đó là tướng, là người Trời, là thái tử con Ngọc Hoàng đầu thai, là một ngôi sao trên trời bị đọa. Họ kêu dân mình là Nam man, mấy dân tộc chung quanh là Đông di là Bắc dịch là Thổ Phồn…, kêu người Âu Mỹ là Bạch quỷ. Tóm lại ai không phải người Tàu đều là kẻ xấu, người dở, dã man, hèn mọn…’
‘Mà thôi!’ Tách nước lại được thổi, húp. Sau cái chép miệng, thầy Thìn tiếp: ‘Tại người mình không chịu viết truyện là do làm biếng suy nghĩ với làm biếng tưởng tượng, có viết thì ăn cắp ý, có khi còn cọp-py nguyên con. Để cho thiên hạ viết thay mình thì phải bị như vậy thôi. Tía nói cho hai đứa nghe nè: Đọc thì đọc, mê thì mê nhưng phải biết cái tốt để theo cái dỡ để tránh, đừng có lậm mấy cái pháp thuật bày đặt của họ mà quên thực tế ngoài đời… Cuộc sống bên ngoài không dễ như trong sách đâu nà. Kẻ xấu tràn đầy như giòi đục thịt sình, như ruồi bu xác chết. Nhưng học trung hiếu tiết nghĩa trong truyện thì được, bắt chước làm anh hùng thì không nên. Chết như không đó!’
Con Quyên liếc liếc thằng Chà như ngầm bảo rằng tía nói thì rán nghe để tía vừa lòng. Thằng Chà đứng im rơ, chăm chú như nuốt từng lời vàng ngọc của thầy Thìn. Ngó vô miệng thầy nhưng trong lòng tưởng tượng về đôi môi cắn chỉ, về má lúm đồng tiền, về cặp mắt hột nhãn của con Quyên…
‘…Tía thấy thằng Chà thẳng ngay. Lớn lên sẽ là người tốt, không phải là tụi ‘cầu điền vấn xá’, tụi ‘ái bất thích thủ’ như thiên hạ nhan nhãn thời nay!…’
‘Dạ ‘cầu điền vấn xá’ là gì hả tía, ‘ái bất thích thủ’ cũng vậy. Tía nói chữ mắc quá con không hiểu. Không biết Chà có hiểu không.’
Ánh mắt thầy Thìn rọi vô mặt nó, thằng Chà nhè nhẹ lắc đầu.
‘Là bọn đêm ngày cầu mong có được ruộng vườn chim bay gảy cánh chó chạy cong đuôi, gạt đầu nầy cướp đầu nọ để được nhà sang cửa rộng ấy mà! Bọn ham cái gì thì ôm cứng không chịu buông tay ra. Cầu biệt thự thênh thang ở Ô Cấp, ở Đà Lạt, ở Nha Trang, Phú quốc…, kéo vô, kéo vô cho tràn họng, cho ngập mặt thì hỏi làm sao có lòng với người nghèo khổ, với tổ quốc được. Khi lòng tham muốn quơ quào quá lớn thì lòng thiện còn đâu chỗ trú? Chà nó có tấm lòng thành thật. Sẽ là người tốt. Tía nói vậy đó, bây tính sao thì tính. Làm sao coi được thì thôi.’
Người cha quay mặt ngó thẳng vô khách hèn lâu rồi quay qua đứa con gái:
‘Chim chóc có cái hay mà loài người không biết bắt chước. Chim mẹ đi kiếm mồi cho chim con lúc con còn nhỏ. Khi chim con tới độ ra ràng thì giúp đẩy cho bay. Một hai lần khi chim con bay được thì thôi không xía vô nữa. Tía cũng vậy, chuyện tình cảm của con cái tía để con cái quyết định, không cản trở cũng không khuyến khích.’
Con Quyên bỏ chạy vô buồng. Thầy Thìn lắc đầu cười. Thằng Chà không hiểu hết ý nghĩa câu nói của thầy Thìn nhưng lờ mờ thấy rằng mình không bị ghét bỏ. Nó nghĩ rằng rồi đây nó sẽ được tới căn nhà nầy thường xuyên hơn. Và nó đưa mắt vô nhà trong, tay nắm chặt như một người chiến thắng.
4.
Ông già mơ màng ngó ra vườn. Khu vườn đẹp theo kiểu Việt Nam với vài thứ cây ăn trái và một vuông đất nhỏ cho mấy bà còn mạnh mạnh xới đất trồng rau. Không ăn uống gì ba cái thứ đó nhưng ‘tưới nước ngắt lá’ để nhớ ‘thời chưa bịnh, lúc còn sởn sơ’ là câu cửa miệng của một số ông bà còn đi lại được. Ông già còn đủ sức để điều khiển xe lăn ra hưởng khung cảnh khu vườn. Tôi vài lần đi thăm người bác cùng lứa tuổi ông cũng ở trong nursing home nhiều người Việt Nam nầy từ đó quen ông và được nghe kể về chuyện hơn bảy mươi năm trước…
‘Chúng tôi thân thiết với nhau như vậy tới ba bốn năm, tôi nhổ giò bể tiếng, đứng nhĩnh hơn Quyên nửa trán khi thi đậu bằng Thành Chung rồi đậu luôn kỳ thi còm-mi làm việc ở tòa bố tỉnh Sốc Trăng. Hai đứa không thề thốt gì nhưng trong lòng coi nhau như đã cặp bồ, không còn là bạn hữu nữa. Những lần tới nhà Quyên tự nhiên hơn và cũng chẳng cần đổi truyện. Được cho uống nước đá chanh muối, được trách cứ nhẹ nhàng sao không chịu đội nón dang đầu trần ra đường coi chừng cảm nắng… Nhiều lần còn được ngồi ăn chung với thầy Thìn để nghe thầy giảng chữ nghĩa thánh hiền. Những khi thầy đi bắt mạch xa, chúng tôi ngồi đối diện nói chuyện tự nhiên hơn. Cũng chỉ là chuyện trời trăng mây nước, chuyện Tề Thiên Đại thánh đánh quỷ trừ yêu. Nhiều lắm là một hai cái nắm tay. Rồi thôi. Trong sáng.
Vậy mà… Bỗng nhiên tôi mất tung tích Quyên. Tôi lúc đó như người chết đuối trôi sông. Đâu chừng là đầu năm 1950. Quyên đi đâu thầy Thìn cũng không biết, chỉ để lại bức thư tạ lỗi bất hiếu đại ý là thấy cảnh nước nhà tang thương, người nghèo khổ bị bóc lột, kẻ cô thế bị ức oan, Tây tà nạt nộ chưởi bới dân… Lòng quặn đau không chịu nổi. Quyên không nói mình đi với phe phái nào. Quân lưu động trong đầm lầy, trên sông cùng rạch cạn của tướng Lê Quang Vinh, tướng Trần Văn Soái, quân đóng ngay tại Sàigòn hoa lệ của tướng Lê Văn Viễn Bình Xuyên… hay gì gì nữa!’
Ông già ngừng một lúc hèn lâu, mắt mơ ngàng ngó vô mấy con chim nhảy nhót trên bãi cỏ, vài ba con sóc vui đùa leo lên leo xuống mấy gốc cây cao. Tôi ngó vô con người sức mõn chỉ còn lại chút trí nhớ le lói ánh chiều tàn mà nghĩ tới mai hậu mình… Cuộc sống một người sau cùng rồi cũng như vậy sao? Tưởng ông đã quên những gì đã nói bỗng ông tiếp, không cần ngó tôi, như là để nói với chính mình, hợp lý như nảy giờ không có lúc ngừng nghỉ:
‘Quyên vô bưng làm nữ cứu thương sống đời nguy hiễm rày đây mai đó hay theo phe quốc gia làm nữ quân nhân như một nghề, sống an lành với chồng con xa chiến trường… Tôi biệt biết. Cha Quyên cũng biệt biết. Chúng tôi hai người đàn ông liên kết nhờ tình yêu đối với một người nữ đã biền biệt tăm hơi, thường ngó nhau buồn thảm. Những cuốn sách của ông đóng bụi trong tủ chẳng còn mời gọi tôi như ngày xưa. Thầy Thìn từ đó lặng lẽ như cái bóng, chuyện coi mạch hốt thuốc ai năn nỉ lắm mới chịu đi, còn thì ngồi trên cái ghế năm xửa năm xưa với bình trà mọi thuở, nhiều khi đến lần sau cách lần trước cả tháng cũng thấy ông trong vị trí đó, trong dáng điệu đó, khiến tôi có cảm tưởng ông ngồi một chỗ, uống trà để cầm hơi, bỏ ăn bỏ ngủ. Ông lắm khi lãm nhãm về những thang thuốc hay như Tứ Quân thang, Ngũ Vật thang, Bổ Trung Ích Khí thang …. rồi chép miệng thở dài. ‘Cũng bởi những nữ tướng kiểu Đào Tam Xuân, kiểu Phàn Lê Huê, những Thập Nhị Quả Phụ, những Sở Vân, những Mạnh Lệ Quân… chuyện sách vở không dễ như chuyện đời. Nó bồng bột quá, nó tưởng mình là con nhà tướng, nó tưởng đâu là súng đạn cũng như cung tên có thể né tránh được.’
Cái xe lăn được điều khiển để ra chỗ có chút ánh nắng sớm. Gương mặt ông già có chút rạng rỡ hơn.
‘Nói về thầy thuốc Thìn ai ghét thì ghét chứ tôi thương đứt ruột. Ông ngâm nga thơ phú làm mình mất thời giờ, ông tuông điển tích nầy nọ chẳng ăn nhập gì tới cuộc sống chung quanh làm mình khó chịu nhưng đó là những kiến thức quí dàng trời.’
Ông già hom hem lục túi lấy chai Dầu Xanh Con Ó ra xức vài quẹt trên nhơn trung, trên yết hầu, trên chớn thủy:
‘Khổ thiệt! Muốn xức dầu phải trốn ra đây! Xức trong đó y tá họ rầy, nói nhiều người chịu không được mùi dầu. Nhứt là thằng y tá người Mễ. Nó nhăn nhăn mũi như là dầu nầy thúi không bằng. Hồi xưa đi hành quân tôi thủ theo mấy chai Nhị Thiên Đường đề phòng trường hợp… Hồi còn má tôi, mỗi khi tôi đi đâu xa má tôi cắt củm mua cho mấy chai….’
Tôi làm thân, đưa tay mượn chai dầu của ông, quẹt trên mũi mình mấy cái.
‘Tôi còn nhớ thầy Thìn cắt nghĩa chữ Nhị Thiên Đường mà chắc trên đời nầy không mấy người Việt Nam nào biết: Nhị Thiên Đường là nhà thuốc cứu người. Dầu Nhị Thiên là dầu cứu người. Nó như ông Trời thứ hai đã cứu mạng ta, ông trời thứ nhứt là cha mẹ đã sanh ra ta…’
Thấy ông già vừa nói vừa ngó những chùm hoa hồng trắng vương giả, tôi liếc mau về phía cửa sổ rồi day qua bứt lẹ cho ông hai cái hoa thiệt đẹp. Đưa bàn tay run rẫy khô cằn đầy gân xanh ra nhận, ông gật gật đầu mà con mắt đã ươn ướt:
‘Ngày trước đâu có tiền để mà tặng hoa tặng quà. Bây giờ muốn tặng bao nhiêu cũng được thì đã không còn người để tặng.’
Tôi được dịp đi sâu hơn chút nữa vào đời tư ông:
‘Bác có bao giờ gặp lại bà Quyên không?’
‘Có mà không, không mà có. Chẳng biết sao mà nói cho đúng!’
‘?????’
‘Cuối năm 58, đại đội tôi đi tiếp ứng, bị phục kích, tan nát. Tôi bị thương nặng ở hai chưn, thằng hiệu thính viên cố kéo ra khỏi trận địa chừng 100 thước, đẩy vô một lùm bụi, lấy cây lá đậy điếm cẩn thận rồi chạy đi vì tiếng nói lào xào của họ đã tới gần. Họ đến kéo xác đồng đội và thu dọn chiến trường. Nằm trong bụi tôi thấy một cái ót quen thuộc, một dáng đi điệu đứng quen quen. Người xưa nói nếu chẳng quen lung đố nhìn nhau cho đặng mà! Chỉ có cặp mắt thôi, cô ta quấn khăn rằn ngang mũi che kín mặt, chỉ chừa có bao nhiêu đó. Tôi định chừng hết 80% là Quyên của tôi. Tôi nín thở, không biết nên im lặng hay kêu lên tên em. Để bảo tồn sanh mạng, tôi quyết định nằm im. Cô ta đi về phía tôi, hơi khựng lại một chút khi nhìn thấy cặp mắt của tôi qua kẻ lá rồi quay về, kéo theo hai người đồng đội nam, mặt đằng đằng sát khí vừa bước tới…
Ngày ấy tới nay đã bốn chục năm rồi tôi chưa giải được bài toán đó. Có thể là Quyên, có thể không. Có thể người ấy thấy tôi, có thể không. Đời mà! Thiệt thiệt hư hư, tỉnh tỉnh mê mê. Phải phải quấy quấy, như sự ra đi của Quyên. Để yên lòng, tôi đồ chừng lúc đó mình bị thương nên mê man và hình ảnh cái cô bận bà ba đen bịt mặt bằng khăn rằn kia là không có thiệt. Mê mà!’
Tôi nói vuốt đuôi và đưa tay đẩy cái xe lăn vài ba thước cho ông vui.
‘Có thể là mê đó bác, chuyện nầy người ta kêu là sảng, không có thiệt đâu. Nhứt là khi mình bị thương quá đau đớn, quá cận kề lằn mứt tử sanh.’
‘Sau trận đó tôi thường nằm chiêm bao thấy Quyên, rõ ràng, nhưng mặt buồn dười dượi mà vía tôi trong chiêm bao cũng buồn, cái buồn lạ lắm, kéo dài tới thức dậy hồi lâu vẫn còn. Vía tôi hỏi gì Quyên cũng lắc đầu không nói rồi đi xuyên qua người tôi, mất biệt. Tôi đồ chừng Quyên đã….’
Ông già Chà bật khóc nức nở. Tôi để tay lên vai ông an ủi.
Một luồng gió lạnh thổi qua hơi lâu. Tôi rùng mình. Ông già hắt hơi hai ba cái thiệt mạnh như muốn văng ra khỏi cái xe lăn rồi im trong vị thế ngồi không được thoải mái với cái đầu nghẻo xuống, cằm chấm ngực. Tôi đợi một lúc lâu mới đưa tay lên mũi ông để nghe hơi thở.
Êm re.
Tránh qua một bên để nhân viên nursing home làm việc, ngó gương mặt buồn man mác nhưng đượm chút thanh thản của người chết, tôi nghĩ rằng Trời đất đã ban cho ông một hương vị đời, tuy thật tế có chua cay đắng chát nhưng hương thơm của tình yêu trai gái thuở thiếu thời còn đọng hoài trong trái tim, cứ thoang thoảng dịu êm làm ông mang cảm giác buồn buồn dễ chịu.
Ông già Chà ra đi mang theo cuộc tình không trọn. Tôi biết chắc tình yêu của ông với bà Quyên nào đó là mối tình trọn vẹn trong lòng ông nếu không nói là đẹp đẽ vô song. Không đẹp sao ông ôm ấp nâng niu tới hơi thở chót, không đẹp sao ông mang vác từ quê hương tới xứ người?
Trên đường lái xe về, tôi lại muốn nghĩ rằng người nữ mà ông già Chà thấy không phải là bà Quyên. Và người đó cũng không thấy ông đương nằm vái Trời trong bụi rậm. Mà Trời Đất Quỷ Thần ơi! Tại sao tôi lại bận trí về chuyện tình thời xa xưa của một ông già chẳng thân tộc gì với mình! Biết đâu lúc hắt hơi cuối đời là lúc ông nhìn thấy cái má lúm đồng tiền của người con gái năm xưa trong khói sương mờ ảo của Vô Thức. Biết đâu người tình của ông chờ đợi bao nhiêu năm nay mà ông cứ nấn níu hoài trên cái cõi trần tạm bợ để mong có ngày gặp lại cố nhân “lai vô ảnh khứ vô tung …”Nguyễn Văn Sâm
(Khởi bút, Sàigòn đầu tháng 3, 2018. Kết bút, California cuối tháng 5.)Lời người viết truyện:
Quí bạn,
Truyện hơi dài dòng há! Tôi vừa viết vừa nhớ lại vài ba chuyện của Nguyễn Tuân ấy mà: Nét Bút Người Tử Tù. Đố chữ (?)… Mấy câu thơ ông thầy đông y Thìn ngâm nga, thấy trong kinh ‘Bách Tuế Tu Hành Kinh’ của Vân Thê đại sư百歲修行經﹣雲棲大師戒殺修行勸世文, kinh Phật bình dân của Tàu phổ biến ở VN vào cuối thế kỷ 19. Dịch thoát mấy đoạn đầu: 我吃長齌慢六親 親朋來到冷淨靜 只有茶來沒有酒 只有素菜沒有葷…. Cũng nên nhắc lại vài ba từ ngữ thời của truyện này, cuối 40 đầu 50, nay đã đổi thay hay đã mất, xe máy: xe đạp; giấy oảnh: tờ giấy hai chục đồng Đông dương. Tiền nầy có giá trị rất lớn thời đó, có thể bằng 20 triệu tiền hồ bây giờ. Xin lỗi nếu truyện làm bạn chán đọc. Hình như tôi viết cho những người ở tuổi thất thập cổ lai… (NVS)
-
Nói thêm về tác giả NgọcCường
Như hầu hết quý vị có thể đã biết, tôi đọc tác giả Bâng Khuâng từ ngày ông còn là một cậu bé chưa tới 10 tuổi, viết những đoản văn thật ngắn về những điều tỉ mẩn xảy ra trong cuộc sống đời thường hàng ngày.
Kể từ kỷ niệm xa xôi ấy, đến nay đã hơn nửa thế kỷ, tôi thực sự không còn nhớ chi tiết của bài viết ký tênTường Cường, chỉ chiếm chừng nửa trang giấy khổ nhỏ của tờ Văn Hóa Ngày Nay, bộ mới, dưới sự chăm sóc của cố văn hào Nhất Linh. Tuy nhiên, ấn tượng sâu đậm vềmột Con Muỗi bị kẹt trong cái màn buông trên giường ngủ của cậu bé tác giả, ở lại rất lâu, rõ nét, trong trí nhớ tôi.
Mãi tới năm 2014, khi tác giả từ Ohio về quận Cam ra mắt tập truyện ngắn đầu tay Bèo Giạt, ông có nhã ý mời tôi nói ít lời về cuốn sách trong lần gặp mặt đầu tiên ấy, nghe tôi vui mừng nhắcchuyện cũ mà ông không hề hay biết, cũng không nhớ chính ông là tác giả đoản văn tôi đang nói đến, nên ông ngạc nhiên và bối rối ra mặt. Phần tôi, cũng bối rối không kém dù không chút ngờ vực về trí nhớ của mình. May mà ông là nhân vật có thật, đang ngồi trước mặt tôi, có tác phẩm trình làng, từng ký bút hiệu Tường Cường nay thay đổi chữ lót, trở thành Ngọc Cường để ghi nhớ tên cô con gái đầu lòng đã mất thời ông chinh chiến xa nhà. May hơn nữa là ông nhận có viết lách ngày còn bé vì không biết làm gì thời thơ ấu lang thang nhàn rỗi ấy, chỉ không nhớ chuyện Con Muỗi.
Sở dĩ tôi mạn phép lan man như thế chỉ để đi tới kết luận là sau ngần ấy năm tháng tích lũy những gìông tha thiết cưu mang, cần viết ra, tác giả Ngọc Cường của đầu thế kỷ 21 trong bối cảnh một nước Mỹ to lớn, quyền lực, hung hãn, phức tạp, vẫn y nguyên là Tường Cường của một thời trẻ dại, sớm mồ côi mẹ, trôi nổi giữa thành phố Saigon không có nơi an trú yên ấm cho thể tánh mỏng manh và đa cảm của cậu. Do bản năng sinh tồn hay do thiên khiếu sớm sủa báo trước văn tài, cậu bé Cường đi tìm nơi ẩn náu trong đám đông sinh vật hiện hữu xung quanh bằng cách chú tâm quan sát cuộc sống của những sinh vật nào cậu có cơ hội tiếp cận, bắt đầu bằng Con Muỗi. Cùng với tuổi đời, khung trời tuổi nhỏ của cậu ngày càng mở rộng. Hết quan sát và vui chơi thân thiện với loài vật, cậu hướng đến con người, vô hình chung, tạo ra một trường phái sáng tác riêng biệt.
Tôi gặp lại Tường Cường của thập niên 50 thế kỷ 20, sau rất nhiều phong ba, bão tố xảy đến cho Việt Nam ở một thời khoảng lịch sử nhiều biến động, thế nhưng tưởng chừng tác giả Con Muỗi vẫn y nguyên là ông với đôi mắt điềm tĩnh nhìn đời như một thiền sư an nhiên trước sự an bài không tránh khỏi của duyên nghiệp tiền định.
Cảm giác lập tức của độc giả khi đọc Bèo Giạt, như tôi đã chia sẻ trong lần ra mắt tập truyện cách nay bốnnăm, là sự tẻ nhạt. Tựa như khi chúng ta xem một cuộn phim không có nhiều tình tiết hư cấu gay cấn, không có cả sự phóng tay làm ra số phận của các nhân vật theo ý riêng mà chỉ là một chuỗi nối kết những gì xảy ra cho các nhân vật củaông trong đời thường, được ghi lại bằng ống kính của một nhiếp ảnh gia nhìn thấu suốt sự bất lực của kiếp người. Cho tới nay, có lẽ không có nhiều tác giả có được sự khép mình để chấp nhận, để có cách nhìn khiêm nhượng nếu không nói là hàng phục của Ngọc Cường. Bên trong, bên dưới cảm giác nhạt nhẽo, nhàm chán, còn một cảm giác bi thương ít ai chịu nhìn nhận, mà, cho dù nhìn nhận hay không, nỗi bi thương vẫn đè nặng lên mỗi phận người. Tuyệt đối trung thành, một cách tỉ mỉ trong mỗi ghi nhận, ông cũng dùng đúng thứ ngôn ngữ tuyệt đối giản dị trao đổi hàng ngày giữa các nhân vật ông chọn đưa vào sổ thiên tào. Để tuyệt đối là một người kể chuyện đứng ngoài, ông giấu nhẹm mình, không chịu trách nhiệm về những vui /buồn hay may/rủi mà các nhân vật ấy phải nhận lãnh, trong đó có bản thân ông cũng cố lờ đi buồn/vui, may/rủi của chính mình.
Có một lý thuyết được công nhận rộng rãi, kể cả với nhà văn Ngọc Cường, rằng chính khán giả, độc giả của mọi công trình trước tác hay sáng tác được hình thành bởi các tác giả có tác phẩm, mới là những người thực sự kếtthúc các tác phẩm ấy, cho chúng một linh hồn, một dung mạo và một ý nghĩa. Đọc Bèo Giạt, đọc Hệ Lụy hay đọc Bâng Khuâng của Ngọc Cường là trường hợp điển hình cho lý thuyết này.
Câu chuyện nào của ôngcũng lơ lửng tầng mây, là những bức ảnh khoanh lại một mảng thời gian không đầu, không đuôi, như thể ai rồi cũng chỉ có một quãng đời để sống, với gặp gỡ rồi biệt ly ở nơi đến và nơi đi, bằng tiếng cười thoảng qua, bằng tiếng khóc ở lại, không bao giờ biết rõ xuất xứ cũng như chung cuộc của sự xuất hiện những khoảng khắc vô nghĩa ấy.
Hơn nửa thế kỷ viết trong cưu mang lặng lẽ hay viết xuống những mặt giấy lạnh lẽo, Ngọc Cường tạo ra một trường phái của riêng ông qua ngót nghét gần ngàn trang sách phản chiếu một nhân sinh quan nhất quán xuyên suốt ba tác phẩm tuần tự góp mặt trên văn đàn hải ngoại mỗi hai năm một cuốn, 2014, 2016 và 2018. Bày tỏ trong lời mở ở phần đầu cuốn Bâng Khuâng quý vị đang có trong tay, tác giả chia sẻ: “Do ngôn ngữ và chữ viết có giới hạn khi diễn tả hay tiếp nhận tư tưởng cùng cảm xúc nên không ai có thể tường tận hết được người viết muốn nói gì. Phật đã cảnh cáo các môn sinh trong câu “Như Lai xưa nay chưa nói lên điều gì cả.”
Ông ở trong và cũng ở ngoài tác phẩm. Ông viết để chữ nghĩa cất lên tiếng nói của chúng. Y như chúng ta ai cũng có một cuộc đời mà mình không thực sự làm chủ, tưởng là có hóa ra không, muốn thế này, nó ra thế nọ. Ngẫm cho cùng, nỗi bi ai đeo đẳng con người, kim cương hay châu ngọc long lanh có khác gì hàng mã? Biết vậy nhưng con ngườihết đời này qua đời khác, vẫn phải gánh vác thánh giá và chặng đường khổ ải trong nhọc nhằn vinh quang này, sau cùng, được giải thích bằng nước mắt yêuthương của Mẹ hiền Maria hay của Phật Bà Quán Thế Âm luôn đổ xuống thân phận con cái các bà như một cứu rỗi. Ngọc Cường ca ngợi tình yêu/tình thương, thấy trong đó sự an ủi: “Dường như ở làng Jaux hẻo lánh hay bất cứ nơi xa xôi nào khắp thế giới, một khi có tình yêu gia đình và tình thân của bạn bè, nơi đó có niềm vui và hy vọng.” (Lưu Vong, tr. 94) “Phải chăng tình yêu chỉ có ý nghĩa khi làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn?” (Yêu và Hận, tr. 46) Độc giả sẽ gặp những câu trích dẫn tương tự rải rác ở nhiều nơi khác trong cả 3 tập truyện của NC.
Để minh họa những lời liều lĩnh vượt cả khuyên răn của Như Lai trong phần bày tỏ hôm nay, tôi xin mượn ba truyện kể của tác giả NC trong tập Bâng Khuâng, được chọn ra do chính tác giả,một văn hữu cùng họ tộc Nguyễn Tường và một người đọc phái nữ, là các truyện Long và Thủy (tr. 13) Lưu Vong (tr. 79) và Mối Chân Tình (tr. 95) để giới thiệu cùng quý vị.
I.- Truyện Long và Thủy, ngay đầu sách, mô tả một đôi tình nhân thời loạn ly, đang trong tình cảnh sắp phải chia tay bên ngoài cổng phi trường. Long sẽ trở lại đơn vị với cuộc sống đầy bất trắc của người lính xưa nay chinh chiến mấy ai về? Thủy từ đây sẽ không còn là cô sinh viên vô tư đi bên lề vận mệnh đất nước như bao lâu trước mà bắt đầu biếtlo âu thế sự. Thế nhưng trong giây phút chập chùng biệt ly ấy, cả hai “vẫn đứng yên một chỗ, không biết nói gì với nhau.” Nàng thì liên tưởng tới một cảnh trong phim Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết, khi người lính Đức còn trẻ bị bắn gục, trên tay còn nắm lá thư của người tình hậu phương báo tin nàng có thai, tỉnh bơ như chuyện của ai khác, liên tưởng nhưng không nghĩ chuyện liên quan tới chính mình cũng đang trong cảnh ngộ kẻ hậu phương, người tiền tuyến yhệt các nhân vật trong phim. Ngồi trong quán nước, họ tính nhẩm cả chuyện ai sẽ trả tiền món giải khát và khi Thủy “đưa cho Long ly rau má, chàng lắc đầu, nàng bèn uống một lèo hết ly.” (Tr. 22.)
Kể lại nguồn gốc cuộc tình, Thủy cho biết: “Hôm đó không phải là lần đầu hai người gặp nhau nhưng lại là thời điểm bỗng dưng nàng biết chắc chắn mình đã yêu, rõ ràng như định mệnhđã an bài.” Nghĩ về tương lai cuộc tình, Thủy chia sẻ dự tính chắc mà cũng không chắc của một cô dâu ngày cưới, lấy chồng thời chiến chinh: “Em sẽ đi dạy học, tiện thời gian lo việc nhà cửa, con cái nhưng đó chỉ là giấc mơ xa vời trước hoàn cảnh bấp bênh của Long.” Rồi nàng thấy tủi thân, bất lực, như bị một guồng máy khổng lồ nghiền nát mình.” (Tr.20) Rồi nàng nhận ra “cuộc đời của họ – gồm 4 người, hai chị em Thủy và Hà, hai người bạn Long và Châu- đều mong manh, bấtđịnh, như đám mây lơ lửng trên đầu đôi tình nhân trưa nay không biết sẽ trôi vềđâu? (Tr. 20) Truyện kết thúc bằng câu hỏi vẩn vơ không có lời giải đáp của Châu lúc Saigon sắp mất và Châu sắp ra đi không có Hà theo: “Cớ sao người bạn thân thiết nhất của mình (là Long) lại có thể là người lính cuối cùng gục ngã cho cuộc chiến?” Không chỉ Long không có mặt, cả Châu cũng mơ hồ như chiếc bóngbên đường của ai khác vào giây phút hạ màn bi thảm trong vở kịch của họ.
Truyện “Long và Thủy” đóng lại bằng cảnh hai người lính già vô danh lạc lõng trong một tiệc cưới tràn trề bia rượu và tiếng nói cười huyên náo ở Bắc Cali. Họ nhắc tới Long và Thủy như chút kỷ niệm đã xa mờ trên dòng thời gian phôi pha.
II.- Truyện Lưu Vong, tr.81, xoay quanh bữa ăn tối do vợ chồng Lan và Thọ thết đãi vợ chồng Oanh và Dũng tại nhà. Thọ là bác sĩ, chẳng biết duyên nghiệp bởi đâu, đã định cư ở Jaux, một ngôi làng nhỏ, cách Paris 60 cây số hướng Bắc. Chồng hành nghề thầy thuốc, v ợ cặm cụi đi làm công chức cho thành phố mấy chục năm, họ xây được một dinh cơ đồ sộ bốn tầng lầu ở ven làng và sống sung túc. Bữa ăn tối tuy đãi bạn các món quốc hồn quốc túy, rau muống luộc đánh dấm cà chua, cá nục kho song vẫn theo lối Tây, uống rượu khai vị và tráng miệng bằng bánh hạnh nhân. Dũng vốn không ưa Thọ vì sự cách biệt giai cấp xã hội nên dù Thọ cầu thân, Dũng vẫn không muốn gần gũi nhiều. Chàng muốn vợ từ chối lời mời nhưng rồi vốn quen để vợ quyết định, chàng lại theo đi. Ăn xong, thấy nụ cười đắc ý trên môi Lan, hãnh diện vì bữa cơm ngon, thấy Thọ xoa bụng trong một cử chỉ thỏa thuê, khoe đã bảo được vợ phải đi chợ Tăng Frères để mua thức ăn hiếm quý mời bạn nhưng Dũng không bận tâm nữa mà thoải mái thưởng thức cái ghế bành đặt cạnh lò sưởi, hơi ấm lửa củi nhà Thọ dễ chịu hơnhẳn cái máy sưởi cũ kỹ nhà mình, thậm chí “cảm giác êm ái như đang được sống dưới mái ấm gia đình.” Hai vợ chồng đã hẹn nhau phải ra về cho kịp chuyến xe lửa cuối rời làng lúc 11 giờ đêm nhưng rồi họ để cho nhiều sự tình cờ lôi cuốn và cuối cùng ở lại không chỉ qua đêm mà cả ngày hôm sau nữa. Quan trọng hơn, thông qua cảm nghĩ đổi thay trong bản thân, Dũng nhận ra dáng vẻ ung dung, phong lưu quý phái của vợ chồng chủ nhà thật ra cũng đáng yêu, chỉ chính mình đáng trách vì đã xét người hời hợt. Biên giới giữa đáng yêu và đáng trách có thật mỏng manh, dễ xóa nhòa như thế không hay đấy là sự thỏa hiệp để mà sống, kiểu Bài không tên số 6 của Vũ Thành An, “Hãy cố yêu người mà sống, lâu rồi đời người cũng qua?” Còn gì tội nghiệp hơn thếcho một kiếp nhân sinh? Sau cùng, nhân vật Mụ Hường trong cùng truyện khiến Dũng khám phá ra ý nghĩa sâu xa hơn của hai chữ Lưu Vong, là mất quê hương vàcũng mất chính mình, vong quốc hay vong thân như bóng với hình.
III.- Trong truyện Mối Chân Tình, tr. 95, tác giả mô tả cảnh đời khó nghèo của đôi vợ chồng Lan và Thân từ khi còn ở trong nước và trước nữa, khi họ còn là hai thành viên trong một nhóm nhỏ sinh hoạt Phật sự, lấy nhau trong mơ hồ, không biết do tình yêu hay chỉ là tình bạn mà chỉ “với một nội dung đơn giản là một khi đã là bạn với nhau, họ sẽ là bạn suốt đời như dấu ấn in đậm nét lên trang giấy trắng” (tr.102) Biến cố30/4/75 xảy ra, Thân mang cấp bậc trung úy, chỉ huy một đại đội cố thủ ở Phước Tuy, không bỏ chạy theo Tiểu đoàn trưởng đã đào ngũ mà hô hào binh sĩ thuộc quyền bắn hạ cả xe tăng T54 của địch để rồi kẹt lại và phải trình diện vào trại cải tạo. Lan một mình lăn lóc, bươn chải chợ Trời nuôi hai đứa con dại và chồng tù tội vắng nhà. Nhiều đêmtrên căn gác nhỏ, nhìn con thơ say ngủ, Lan vừa ứa nước mắt thương thân vừa hãnh diện không biết bằng cách nào mà mình có thể chu toàn cả hai vai trò làm mẹ và làm vợ tù như thế? Các nhân vật của Ngọc Cường sống lam lũ, vất vả, đếm từng giọt mồ hôi, nước mắt để sinh tồn nhưng luôn với tâm thế bơ vơ, lạc lõng, như những chiếc lá bị gió cuốn đi.
Thân trả nợ cải tạo xong, thời cuộc đưa đẩy cả gia đình qua Mỹ định cư. Hai vợ chồng, hai đứa con hội nhập khó khăn vào xã hội mới. Ngoài công việc của một nhân viên gác đêm để kiếm sống, Thân tìm khuây khỏa bằng cách lên chùa làm công quả để chỉ thấy cảnh chùa và cảnh Bolsa cũng na ná như nhau song chàng không có lựa chọn nào khác.Ngoài đi chùa, khi có cơ hội, Thân mời bạn bè tới nhà nhậu nhẹt, nhắc chuyện ngày xưa. Đứa con gái lớn lên, lấy chồng, sinh con đẻ cái và sống làng nhàng quangày với công việc của một cô thợ móng tay. Đứa con trai ham chơi, lang bạt,không chịu học hành, không chịu đùm đềvợ con như con cái nhà khác cho cha mẹ có cháu nội bế bồng. Thân giận lắm nhưng vẫn không từ bỏ được con. Lan vừa tạm ổn định cuộc sống thì biết làmình bị ung thư, phải làm hóa trị. Nghe chồng mời bạn tới nhà, chị phàn nàn“Tôi mệt quá mà anh còn kiếm thêm việc, tôi không dọn dẹp được đâu đấy, uống vừavừa thôi, đừng để say quá rồi nói năng bậy bạ.” Nói là nói thế nhưng chập sau, chính Lan lại đề nghị chồng mời thêm bạn và tự nguyện móc túi đưa thêm tiển để chồng chợ búa, mua thêm rượu và thức ăn. Cứ như họ là những quân cờ dưới bàn tay của một kỳ vương đầy quyền năng và có lòng tốt đáng tin cậy như tác giả nhận định (tr. 105) Câu chuyện cứ thế mà kéo lê thê qua 14 trang giấy, mô tả cuộc sống của một tập thể nhỏ người Việt di tản quần cư ở tiểu bang California có đông người Việt nhất, cách sống, cách ứng xử của họ với nhau và với cảnh ngộ bất ưng, những buồn vui họ trải qua, nhiều tâm sự giống nhau và khác nhau tùy thuộc những thành công hay thất bại trong nỗ lực riêng; chuyện cha mẹ trong hai gia đình cố cựu đành quên ước hẹn hôn nhân cho con cái trong nỗi ngại ngùng vì địa vị xã hội nay quá chênh lệch; chuyện đi hay không đi biểu tình như một cách bày tỏ lập trường chống cọng vì tuy lập trường chỉ có một nhưng động cơ và quan điểm thể hiện không nhất quán từ góc nhìn của mỗi người; chuyện một ông đại tá như đại bàng gãy cánh trong tháng tư đen, chịu hàng phục nghịch cảnh để trở thành cai tù đối với anh em cùng trại giam, sớm tối tả tơi quát tháo anh em y như một nhân vật phường tuồng để rồi qua đây, chui nhủi vì hổ thẹn và cuối cùng xuốngtóc đi tu; chuyệnkhi qua đời, có những cựu chiến binh quân lực VNCH lưu vong trối trăn xin đừng phủ cờ trên quan tài vì họ đã không có cái vinh dự hy sinh ngoài chiến trường..vv..
Cứ thế, cứ thế, chi tiết, tỉ mẩn, kiên tâm, Ngọc Cường ôm hếtcuộc sống trong vòng tay, chăm chút, thương yêu quan sát, ghi chép. Không có gì lớn lao cả nhưng đó là những mảnh đời có thật dưới ánh mặt trời, những buồng phổi người đã cố gắng thở, những trái tim người đã cố gắng đập và sẽ không bao giờ được biếtđến như những trang ngoại sử mà chính sử sẽ thiếu sót nếu không có ai thấy mìnhở trong và ghi chép lại. Ngườichiến sĩ vô danh hy sinh trên mặt trận súng đạn được tri ân với đài tưởng niệm,được ghi công và tuyên dương bằng sử sách; người thường dân vô danh chết trên mặt trận sinh tồn của nhân loại không có lúc nào ngưng nghỉ cũng cần được quan hoài vì những đóng góp của họ để xây dựng xã hội. Đọc Ngọc Cường để có những giây phút thấm ngấm phận người và phận mình, là phiên bản của nhau trên dòng sinh mệnh vô tận chung, may ra chúng ta sẽ dễ dàng đến với nhau và xót thương nhau hơn, sẽ cùng nhau hoàn chỉnh bản nháp CON NGƯỜI, tác phẩm đầu tiên của Thượng Đế, mộ tcách có ý nghĩa hơn .
Mạo muội chia sẻ vài nhận định thô thiển với ít nhiêu chủ quan của tôi hôm nay về tác phẩm thứ 3, Bâng Khuâng, của nhà văn Ngọc Cường, kính mong quý vị và tác giả lượng thứ mọi suy diễn hạn hẹp, sai sót chắc chắn phải có của chúng tôi, xin quý vị mỗi người hãy cầm một cuốn Bâng Khuâng về nhà, đọc để tự mình đón nhận những gửi gấm tâm huyết và chân tình của tác giả, để qua đó, thấy cuộc đời như giòng sông, chỗ sâu chỗ cạn nhưng luôn chan chứa sức sống bền bỉ của nhân loại, trong đó, mỗi chúng ta được vinh hạnh thấy có mình dự phần.
Bùi Bích Hà
-
Tản Mạn Về Mùa Xuân Qua Thi Ca
Việt Hải, LA
Bây giờ tháng 12, cận cuối năm 2018, giới báo chí chuẩn bị bài vở cho Giai phẩm Mùa Xuân. Xuân cũng là dịp Tết. Hình như không gian đang rộn rã và hình như lòng tôi cũng đang hân hoan lắm. Nói đến Tết thì Tết lại vào mùa Xuân, là Năm Mới, là Lễ Hội. Tôi lại vung bút ca “bài ò e con ma đánh đu” tiễn đưa Năm Cũ Mậu Tuất 2018 ra đi và để đón mừng Năm Mới 2019, theo âm lịch là năm Kỷ Hợi.
Thật vậy, Tết mang tính linh thiêng đối với mọi người, mọi nhà, mọi giới và mọi tôn giáo.Tết Nguyên đán là thời điểm giao mùa đón Xuân sang. Mùa Xuân vốn là mùa các thi sĩ có nhiều cảm hứng với thi ca. Từ Đông sang Tây, như từ Nguyễn Bính, Huy Cận,Vũ Đình Liên, J. Leiba, Đinh Hùng, Hồ Dzếnh, Hàn Mặc Tử, Phạm Anh Dũng, Hồng VũLan Nhi, Cao Mỵ Nhân, Yên Sơn, Trần Dạ Từ, Lê Hân, Khiếu Long, Kim OanhAustralia, Annie Trần, Nguyễn Hiền, Kim Tuấn, Hồ Dzếnh, Hà Huyền Chi, Quyên Di,Hải Vân Sagittaires, Marie Christine TV, Thái Tú Hạp – Ái Cầm, Trần Việt Hải,Trần Mạnh Chi,… đến Victor Hugo, Paul Verlaine, Emily Dickinson, WilliamBlake, William Shakespeare, Théophile Gautier, và Charles Baudelaire.
Khi nào là Tết? Khi nào hết Tết?
Thuở nhỏ khi ta nhắc đến Tết như là cái gì còn lâu lắm, là cái gì phải trông chờ. Do vậy trong dân gian có những từ ngữ vui vui như: Tết Mán mọi, Tết Ma-rốc, Tết Công-gô,… như cái gì “còn khuya”, “còn lâu”!
“Cu kêu ba tiếng cu kêu,
Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè”.Với dân miệt Lục Tỉnh, hễ qua ngày Mồng 10 tháng Chạp là coi như Tết rồi. Mãi hết ngày Mồng 10 tháng Giêng năm sau thì cái không khí Tết mới hết dần đến cuối tháng Giêng là hết Tết.
Mùa xuân là một trong bốn mùa thường được công nhận ở những vùng ôn đới và vùng cận cực nam bắc, tiếp nối mùa đông và diễn ra trước mùa hạ. Về mùa xuân có rất nhiều định nghĩa, nhưng cách sử dụng khác nhau tùy vào khí hậu, văn hóa và tập quán của mỗi khu vực. Khi ở Bắc bán cầu đang là mùa xuân thì ngược lại ở Nam bán cầu sẽ là mùa thu. Vào ngày xuân phân, ngày dài xấp xỉ 12 giờ và kể từ đó trở đi quãng thời gian ban ngày bắt đầu tăng lên. Ngoài đề cập đến một mùa trong năm, mùa xuân hay “thời kỳ mùa xuân” còn thường được liên tưởng đến sự tái sinh, trẻ hóa, đổi mới, sự sống lại và tái phát triển.
Trong phạm vi văn chương thì năm tháng hay bốn mùa (có mùa Xuân, danh từ chung) dùng để tính thời gian đã trôi qua, ví dụ như:
“Xuân này đến nữa đã ba xuân,
Đóm lửa tình duyên tắt nguội dần.”
(Nguyễn Bính)hay
“Anh cho em mùa xuân
nụ hoa vàng mới nở,
chiều đông nào nhung nhớ…Anh cho em mùa xuân
mùa xuân này tất cả
lộc non vừa trẩy lá”
(nhạc Nguyễn Hiền, thơ Kim Tuấn).hay
“Bầy chim hót líu lo chào mừng
Nụ xuân ngát hương dịu ngọt ngào
Làn gió mát đưa tình lên cao…Mầu môi thắm sao mà nồng nàn
Dòng tóc vắng bay trong chiều vàng
Em có biết xuân về hay chăng?”
(nhạc Phạm Anh Dũng)Về ý nghĩa”Xuân” như một tĩnh từ thì trong văn chương như “xuân sắc”,”xuân xưa”, “xuân xanh”, “thanh xuân”,… thuộc về tuổi trẻ, hay thuộc về thời xưa cũ, đã qua, hoặc hàm ý là tươi đẹp, tràn đầy sức sống như tuổi xuân, ví dụ như trong câu thơ sau:
“Gió đưa cây trúc ngã quỳ,
Ba năm chực tiết còn gì là xuân!”
(Ca dao)hay
“Đi bên nhau hồn chậm với vai gần
Tiếng ca buồn ôi tiếng hát thanh xuân
Ta dừng lại và nghe chiều rét mướt
Em mười sáu, tuổi kiều thơm dịu ngọt”
(bài “Ngự Trị”, Trần Dạ Từ).hoặc
“Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời.
Bao cô thôn nữ hát trên đồi.
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi”.
(“Mùa Xuân Chín”, Hàn Mạc Tử).Trong thiên văn học người ta định nghĩa mùa xuân bắt đầu từ thời điểm diễn ra tiết xuânphân (khoảng ngày 21 tháng 3 ở Bắc bán cầu và ngày 23 tháng 9 ở Nam bán cầu) và kết thúc vào thời điểm diễn ra tiết hạ chí (khoảng ngày 21 tháng 6 ở Bắc báncầu và 21 tháng 12 ở Nam bán cầu). Trong khí tượng học, để thuận tiện thì người ta tính mùa xuân bao gồm toàn bộ các tháng Ba, Tư và Năm ở Bắc bán cầu còn tại Nam bán cầu là toàn bộ các tháng Chín, Mười và Mười Một.
Tuy nhiên,theo truyền thống thì lịch của một số nền văn hóa như lịch Ireland chẳng hạn, người ta tính toàn bộ các tháng Hai, Ba và Tư. Tại Việt Nam cũng như các nướckhác chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa thì người ta tính mùa xuân bắtđầu từ thời điểm diễn ra tiết lập xuân (khoảng ngày 5 tháng 2) và kết thúc tạithời điểm diễn ra tiết lập hạ (khoảng ngày 5 tháng 5).
Tết là mùaxuân của vạn vật. Mỗi năm xuân về một lần. Thế thì con gái tuổi nào là tuổi xuân? Xưa các cụ nói con gái tuổi trăng tròn là xuân. Tuổi đời của mỗi ngườ iđẹp nhất là thuở thanh xuân và nó lại càng đẹp hơn khi tuổi thanh xuân ấy bỗng xuất hiện một bóng hình để ta nhung nhớ và yêu thương, hãy xem thơ Đinh Hùng. Để rồi ta nghĩ ngợi về hồn thơ thi nhân Đinh Hùng nhìn xuân sang mà nhớ hương xuân người xưa:
“Xuân nào như xuân mới?
Hương nào như hương xưa?
Lòng chàng không có tuổi
Duyên chàng se tình cờ”.Trong bài”Năm qua”, nhà thơ J. Leiba (tức Lê Văn Bái đồng thuở với những TháiCan, Đông Hồ, Thế Lữ,…) cho thơ tỏa nét âu yếm yêu kiều của nỗi lòng vui buồn của người xuân nữ ở lứa tuổi trăng tròn:
“Em nhớ năm em lên mười lăm
Cũng ngày đông cuối sắp sang xuân
Mừng xuân, em thấy tim hồi hộp
Nhìn cái xuân sang khác mọi lần”.Khi mùa xuân mới về mọi người chúc tụng những điều tốt đẹp an lành, hãy nghe thơ Cao Mỵ Nhân:
“Hãy chúc nhau Xuân vàng bất tận
Trên quê hương đại mộng viên thành
Những cành lê tuyết từ muôn dặm
Trao tặng non sông vạn ý lành”.hay
XUÂN MUÔN Ý
Mở cửa xem Xuân đến cách nào
Xuân từ tám hướng gọi xôn xao
Trầm hương nhã nhạc lan trên sóng
Cánh én bay cùng tiếng hát caoXuân đến khi ta mải đợi chờ
Xin cùng ta sánh bước vào thơ
Ở đây không kể thời gian nữa
Ta với Xuân chung một cõi mơTa hỏi Xuân tươi trọn cuộc đời
Xuân cười: năm tháng có đầy vơi
Nhưng, bao giờ cũng vui như Tết
Bạn hỡi, mau về dự hội chơiXuân ở bên ta mãi nhé Xuân
Bốn bề bát ngát bóng giai nhân
Nguồn thơ bất tận dâng muôn ý
Xuân bỗng thăng hoa đẹp bội phần …
(thơ Cao Mỵ Nhân)Đón mừng, cung nghinh mùa xuân mới, thơ chào mùa xuân sang:
Nhịp Xuân
“nghe trong cành lá chờn vờn
tiếng gió tâm sự van lơn nhánh cành
màu xanh mướt rượt màu xanh
nắng xuân vừa lót long lanh nét tìnhtôi nghe gót bước bình minh
đi vào thành phố cung nghinh em về
dáng mai huệ sánh đề huề
bên lan bên cúc tỉ tê bước cùngáo hoa vạt lụa tà nhung
lâng lâng chở mộng vào chung với người
góp nhau từng mắt môi cười
cho đời thắm thiết xuân tươi trổ màunghe thăm thẳm lời nguyện cầu
trời cao đất rộng lòng người bao la”.
(thơ Lê Hân).Trong bài “Khi Em Về Mùa Xuân” như lời bình minh khi xuân về, như khi em về đất trời tưng bừng rực rỡ, vì em là mùa xuân và vì mùa xuân là em, trông đàn bướm vàng bay lượn giữa mùa xuân, ta nhìn em lòng sao nhiều bỡ ngỡ, những mùa xuânxưa khi xa vắng nhau lòng nhớ nhung vô ngần, và nay…
Khi Em Về Mùa Xuân
“Khi em về đất trời bừng rực rỡ
Đàn bứom vàng bay lựon giữa mùa xuân
Ta nhìn em lòng sao nhiều bỡ ngỡ
Xưa xa nhau lòng rạn vỡ vô ngầnKhi em về mùa hoa đăng nở rộ
Cúc, Mai, Đào thơm ngát những mùi hưong
Hồn ta như lạc vào cơn mê lộ
Trong gió xuân ai hát khúc mê thừongKhi em về ta giật mình ngoảnh lại
Đã một thời mình đánh mất đời nhau
Kỷ niệm buồn mắt nhìn nhau ngần ngại
Dấu yêu xưa như chợt sớm phai màu”.
(thơ Khiếu Long).Với ngườ ilính năm xưa, xuân về trong tháng ngày xông pha chinh chiến, chinh nhân trôi nổi theo vận nước, nay trong kiếp sống lưu vong biệt xứ, ta đón mùa xuân nghe sao cằn cỗi trong lòng…
“Anh tiếp tục cuộc đời làm lính
Sinh tử, phiêu bồng đến 1975
29 tháng Tư trời đất hờn căm
Anh thảng thốt theo dòng người
Lìa xa Tổ Quốc
Gần ba mươi bảy năm qua
Vẫn không thể nào quên được
Một thuở ngang trời
Một khúc chia ly
Sáng hôm nay đầu mùa Xuân
Anh ngồi ở nơi đây
Ngồi với cốc cà phê nhỏ giọt
Tai nghe nhạc phong linh cùng tiếng chim ca hót
Đón Xuân về
Sao nghe cằn cỗi trong tim!”
(thơ Yên Sơn)Nhà thơ Vũ Đình Liên là một trong những thi nhân xuất sắc của phong trào Thơ mới. Thuở 1936 ông sáng tác bài thơ “Ông đồ” đăng trên báo Tinh hoa. Bài thơ đi vào văn học sử, ý thơ cho thấy sự thay đổi xã hội, chuyển mình từ nền nho họcs ang tây học.
Bài thơ này được đánh giá như một thi phẩm tuyệt tác và được nhìn từ nhiều góc độ loại nhịp thơ ngũ ngôn, chất bi kịch xã hội tính, nét triết lý về thời gian, tinh thần dân tộc tính, nỗi buồn hoài cổ, nỗi u hoài trước sự xâm lăng của người Pháp,… Điểm chính trong bài viết này là áng thơ nói về mùa xuân…
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua
…Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?”Vũ Đình Liên vốn chịu ảnh hưởng Baudelaire. Vũ Đình Liên là nhà thơ kiêm nhà giáo tận tụy với công việc sư phạm, ông dạy học (môn Pháp văn) và dịch thơ, mà hầu như chỉ dịch thơ đại thi hào Pháp Charles Beaudelaire. Do vậy, sự kiện ông thích thơ Beaudelaire, ít nhiều chất thơ tự do tây phương (vers libre occidental) đã là nét đột phá cho ông thành công trong phong trào thơ mới thuở ban sơ, nên bạn bè gọi ông là “Baud Liên”, vắn tắt như là một “BaudelaireVietnamien”.
Thơ Pháp Charles Baudelaire.
CharlesBaudelaire là chủ soái của phong trào thi ca lãng mạn Pháp. Sự lãng mạn vô song trong thi ca yêu đương đầy nét xuân tình của Baudelaire qua trích đoạn phân đoạn I trong bài thi ca như sau…
” Que m’importe que tu sois sage ?
Sois belle ! et sois triste ! Les pleurs
Ajoutent un charme au visage
Comme le fleuve au paysage
L’orage rajeunit les fleurs.Je t’aime surtout quand la joie
S’enfuit de ton front terrassé
Quand ton cœur dans l’horreur se noie
Quand sur ton présent se déploie
Le nuage affreux du passé.Je t’aime quand ton grand œil verse
Une eau chaude comme le sang
Quand, malgré ma main qui te berce
Ton angoisse, trop lourde, perce
Comme un râle d’agonisant.J’aspire, volupté divine !
Hymne profond, délicieux !
Tous les sanglots de ta poitrine,
Et crois que ton cœur s’illumine
Des perles que versent tes yeux !”
(bài Tình khúc buồn, Madrigal triste).Phần chuyển ngữ
“Anh không cần em phải hiền ngoan.
Em hãy đẹp! Và hãy buồn! Đầy nước mắt.
Làm tăng thêm vẻ quyến rũ cho khuôn mặt.
Như dòng sông làm cho phong cảnh đẹp hơn
Như dông bão càng làm cho hoa trẻ lại.Tôi yêu em hơn hết – khi niềm vui
Lẩn tránh vầng trán em nặng trĩu.
Khi trái tim em chết đuối trong kinh dị.
Khi sự hiện diện của em phơi bày.
Đám mây xấu khủng khiếp của thời quá khứ.Tôi yêu em, khi đôi mắt to của em tuôn chảy
Một dòng nước mắt nóng như máu.
Mặc dù tay anh xoa dịu.
Nỗi thống khổ của em quá đỗi nặng nề, làm khoét thủng.
Như để tiếng rên của người hấp hối.Anh hút vào sự khoái lạc thần tiên.
Bài ngợi ca thâm trầm tuyệt diệu.
Với tất cả tiếng thổn thức trong lồng ngực của em.
Và anh tin rằng trái tim em rực sáng.
Qua những hạt ngọc trai long lanh từ mắt em tuôn chảy”.
(thơ Charles Baudelaire)Theo cung cách thi ca lãng mạn như của Baudelaire, xin đan cử ví dụ bài thơ sau:
“Nắng thức dậy tô son con gái
Thắm má đào bỏng cháy hồn si
Đôi mắt biếc thầm nói những gì
Lời hò hẹn xuân thì mở ngõTrang vở ước dòng thơ tình tỏ
Pha mực hiền gắn bó xuyến xao
Xếp từ Y-Ê-U con chữ kề nhau
Trang giấy mới xôn xao thương nhớÝ nguyên trinh đắm say bỡ ngỡ
Đoá mộng đầu e ấp bờ môi
Đời trổ hoa thơm ngát tinh khôi
Chim ríu rít trên đồi Xuân mớiNắng Xuân nay, gió mùa chướng tới
Ký ức hồi tung bới tình xưa
Hồn ai vướng víu ngoài khung cửa
Kìa Xuân! Mùi trầm thoảng hương đưa.(“Kìa Xuân”, Kim Oanh, Australia)
Sự lãng mạn trong thi ca của thi nhân Hồ Dzếnh trước chúa xuân như sau:
Ý Xuân
Trời đẹp như trời mới tráng gương,
Chim ca, tiếng hát rộn ven tường.
Có ai bên cửa, ngồi hong tóc
Cho chảy lan thành một suối hương…Sắc biếc giao nhau, cành bắt cành,
Nước trong, hồ ngợp thủy tinh xanh.
Chim bay, cánh trĩu trong xuân ý,
Em đợi chờ ai, khuất bức mành?Giữa một giờ thiêng, tình rất đẹp,
Mắt buồn và rất… rất thanh thanh.
Mày ai bán nguyệt, người ai nhỏ,
Em ạ, yêu nhau…chết cũng đành!(Hồ Dzếnh, hay Hà Triệu Anh, 1916–1991).
Kế đến, xét qua thơ của nhà thơ lãng mạn Pháp khác là Théophile Gautier. Xem rằng ý thơ khá táo bạo về tình cảm yêu đương…
Nụ cười đầu tiên của mùa xuân (Premier sourire du printemps)
Premier sourire du printemps
Tandis qu’à leurs œuvres perverses
Les hommes courent haletants,
Mars qui rit, malgré les averses,
Prépare en secret le printemps.Pour les petites pâquerettes,
Sournoisement, lorsque tout dort,
Il repasse des collerettes
Et cisèle des boutons d’or.Dans le verger et dans la vigne,
Il s’en va, furtif perruquier,
Avec une houppe de cygne,
Poudrer à frimas l’amandier.La nature au lit se repose ;
Lui, descend au jardin désert
Et lace les boutons de rose
Dans leur corset de velours vert.Tout en composant des solfèges,
Qu’aux merles il siffle à mi-voix,
Il sème aux prés les perce-neiges
Et les violettes aux bois.Sur le cresson de la fontaine
Où le cerf boit, l’oreille au guet,
De sa main cachée il égrène
Les grelots d’argent du muguet.Sous l’herbe, pour que tu la cueilles,
Il met la fraise au teint vermeil
Et te tresse un chapeau de feuilles
Pour te garantir du soleil.Puis, lorsque sa besogne est faite,
Et que son règne va finir,
Au seuil d’avril tournant la tête,
Il dit : “Printemps, tu peux venir !”.”Phần chuyển ngữ
“Đương khi con người chạy hết hơi
Đến với những công trình tai quái của họ
Tháng Ba cười, dẫu những cơn mưa rào ào ạt
Vẫn ngấm ngầm soạn sửa mùa xuânVới những bông hoa cúc nhỏ xinh
Nó thầm lén khi mọi vật còn đang thiếp ngủ
Là đi là lại những cổ áo xếp nếp
Rồi tỉa tót những nụ vàng tươiTrong ruộng nho trong vườn cây quả
Nó đến rồi, gã thợ cạo lẻn qua
Với một nhúm tua mào chim thiên nga
Rắc sương giá lên vườn cây hạnhTrên giường thiên nhiên đang ngơi nghỉ
Còn nó, đi xuống vườn hoang
Và thắt giùm hoa hồng những nụ
Trong chiếc yếm nịt nhung xanh kiaVừa sáng tạo những hoà âm
Nó huýt khẽ với đàn chim sáo
Vừa gieo những bông hoa tuyết trên đồng
Còn trong rừng gieo hoa tím rung rinhTrên đám cải xoong bên dòng suối
Tai nghe ngóng, hươu cúi đầu uống nước
Bằng bàn tay kín đáo nó lẩy từng bông
Hoa chuông bạc long lanh của cây linh lanDưới cỏ, để cho anh hái được
Nó đặt trái dâu, da mọng hồng tươi
Và dệt cho anh chiếc mũ lá cây
Để tránh ánh nắng trờiThế rồi, khi công việc đã xong xuôi
Sự trị vì sắp đến hồi kết thúc
Bên ngưỡng cửa tháng Tư quay đầu lại
Tháng Ba ta bảo rằng: “Mùa xuân ơi, xuân đến rồi đó!”.
(Bản dịch của Đào Duy Hiệp).Nói về mùaxuân trong thi ca Pháp có lẽ không thể không nhắc đến bài thơ Printemps của thi sĩ Victor Hugo,
Mùa xuân (Printemps)
“Voici donc les longs jours, lumière, amour, délire !
Voici le printemps ! mars, avril au doux sourire,
Mai fleuri, juin brûlant, tous les beaux mois amis !
Les peupliers, au bord des fleuves endormis,
Se courbent mollement comme de grandes palmes ;
L’oiseau palpite au fond des bois tièdes et calmes ;
Il semble que tout rit, et que les arbres verts
Sont joyeux d’être ensemble et se disent des vers.
Le jour naît couronné d’une aube fraîche et tendre ;
Le soir est plein d’amour ; la nuit, on croit entendre,
A travers l’ombre immense et sous le ciel béni,
Quelque chose d’heureux chanter dans l’infini.”
(Victor Hugo).Phần chuyển ngữ
“Đây rồi những ngày dài, ánh sáng, tình yêu, điên quá!
Mùa xuân tới rồi! tháng ba, tháng tư với nụ cười dịu ngọt,
Tháng năm đầy hoa, tháng sáu cháy da, những tháng đẹp bạn của ta!
Rặng dương bên bờ những con sông đang ngủ,
Uốn thân mềm như cành cọ thật to;
Chim phập phồng trong đáy rừng yên ấm;
Mọi vật như cất tiếng cười, và cây xanh
Vui vì được bên nhau, trao nhau những lời thơ.
Ngày mới chào đời quấn trên đầu bình minh hiền tươi mát;
Buồi tối đầy tình yêu; đêm đến tưởng như nghe,
Qua bóng tối mênh mông và dưới bầu trời đầy ơn phước,
Một niềm vui đâu đây hát trong vô tận bốn bề.”
(Hồ Văn Hiền dịch).Sau đây là trích đoạn của bài thơ Impression de printemps của thi sĩ Paul Verlaine.
Impression de printemps
Il est des jours – avez-vous remarqué? –
Où l’on se sent plus léger qu’un oiseau,
Plus jeune qu’un enfant, et, vrai! plus gai
Que la même gaieté d’un damoiseau (*).
(poème de Paul Verlaine).Ấn tượng khi mùa xuân về
Ấy là những ngày hỡi bạn còn nhớ chăng ?
Thuở mà bạn cảm thấy mình quởn hơn loài chim,
Vô tư hơn một đứa trẻ, và thật vậy! vui tươi hơn
Đó cũng là nỗi hân hoan của loài chim hải đảo. (*)
(thơ Paul Verlaine, VHLA chuyển ngữ.)*: chimtrogon damoiseau > loài chim hoang dã có nhiều ở hải đảo Haiti suốt ngày ca hót hồn nhiên, vô tư.
Kế tiếp là trích đoạn thơ xuân của ba thi sĩ Mỹ Emily Dickinson; William Blake và WilliamShakespeare, người Anh.
Trời xuân.
Nắng xuân phơi phới đã về
Quanh năm chẳng thấy đông hè thu sang
Khung trời tươi mát không gian
Tháng ba xuân đáo mai vàng hiếm khi.
(VHLA phóng tác thơ Emily Dickinson)A Light Exists In Spring
(Poet Emily Dickinson).A light exists in spring
Not present on the year
At any other period.
When March is scarcely here
(Poem by Emily Dickinson).Thơ trích đoạn của William Shakespeare, bài Spring.
Vườn Xuân
Vườn xuân mùa hoa cúc trổ bông
Khung trời hiển hiện màu trắng bạc
Cúc vàng chào đón mùa xuân sang
Tô màu đồng hoa màu thỏa thích.
(VHLA phóng tác)Spring
When daisies pied, and violets blue,
And lady-smocks all silver-white,
And cuckoo-buds of yellow hue
Do paint the meadows with delight.(William Shakespeare, derived from Love’s Labors Lost, by William Shakespeare (1564-1616).
Thơ trích đoạn của William Blake, bài Spring.
Sound the flute!
Now it’s mute.
Birds delight
Day and night.
Nightingale
In the dale,
Lark in the sky,
Merrily,
Merrily, merrily to welcome in the year.
(poem William Blake)Mùa xuân
Chim muông thay tiếng thanh tiêu
Dạ oanh cất tiếng sáo chiều xuân sang
Sơn ca tíu tít nắng vàng
Đêm ngày tiếng hót âm vang năm dài.
(VHLA phóng tác từ thơ xuân William Blake)Mùa xuân buồn ly hương, cảm tác thơ sầu viễn xứ, xem thi ca Hà Huyền Chi.
Dạo Phố Mùa Xuân
Chi Dậu người hoa bắt giây leo
Vàng phai lá nhớ tay chiều ngùi thương
Hôm mai sầu rụng bên đường
Còn trên lưng gió chút hương hải tần
Dặm dài cho biết phù vân
Về đâu thì cũng cát lầm bèo trôi
Lội mòn vỉa phố quê người
Họa may tìm gặp cái tôi ngang tàng
Giao thừa lửa đốt buồng gan
Mỗi xuân lữ thứ có ngàn dao đâm”.
(thơ Hà Huyền Chi)Thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi cảm tác bi “Xuân Đợi Chờ”.
“Mai nở vàng cành khoe sắc tươi
Mang màu hoa thắm đến tô đời
Nắng hồng trải mông xuân như ý
Đem thái hòa gieo khắp cõi trời.Xuân không hẹn, xuân về rồi đó
Xuân của xum vầy của tình vui
Riêng chỉ một người hiu hắt nhớ
Cánh chim còn bay lạc phương trời.Đep quá tháng ngày quấn quít nhau
Tiếng cười như suối chảy dòng sâu
Thời gian không đủ hong tình nhớ
Một phút xa nhau, một phút sầu.Bao mùa xuân đến, bao mùa đợi
Chỉ thấy lòng quay quắt ngóng trông
Tình ơi sao cứ xa vời vợi
Để kẻ đầu sông kẻ cuối dòng”.
(thơ Hồng Vũ Lan Nhi).“Trăng 14”, nhớ mùa xuân xưa với nhà thơ Quyên Di.
“Nhớ buổi xuân thì ngày xưa ấy
Rạo rực lòng trai buổi trăng về
Ngây ngất hương trời người con gái
Bờ môi trót nếm rượu đam mê.Trăng lên vời vợi ngang đầu núi
Trăng tàn bờ lạnh dải ngân hà
Một bóng chim trời bay rất vội
Về nơi viễn phố nẻo sương pha.Là lúc qua rồi thời xuân sắc
Chén đời đã cạn rượu đam mê
Những lúc đêm về ngồi trầm mặc
Quên cả trăng xanh phủ bốn bề.“
(thơ Quyên Di, Nhân Văn Nghệ Thuật).Xuân Vui Say
Rót chén mừng xuân rượu vui đầy
Nâng lên cùng uống chúc lộc may
Tân niên hạnh phúc bình an tiến
Dốc hết bầu thơ tửu ngất ngây
Xuân nhật vinh quang phú quý lai
Say mèm cạn chén ôi men cay
Tấn tài tấn phát tết an khang
Hồn chếch choáng vui trong giấc say!
(Trần Việt Hải).Nắng xuân
Gió nhẹ ru làn nước
Liễu rủ ven bờ hồ
Đong đưa cành lá vàng
Mơn man chút tâm tư
Man mác thoáng nỗi lòng
Hôm nay xuân lại về
Không gian trời vắng lặng
Sao ta chợt thấy buồn?
(Hải Vân Sagittaires, aka Marie Christine TV, Espagne)Xuân Sang
Nắng đẹp bình minh tỏa ánh vàng
Khung trời cảnh sắc lúc xuân sang
Không gian gió thoảng lâng lâng nhẹ
Phố xá tươi màu phố thênh thang
Lữ khách thập phương mừng trẩy hội
Cành mai khóm trúc tranh xóm làng
Giao thừa hái lộc vui pháo tết
Chúc phúc an bình nẽo quan san.
(thơ xuân Trần Mạnh Chi).Mừng Chúa Xuân
Xuân về tươi thắm cành đào
Hoa Mai vàng rực đón chào tết sang.
Chim muông ríu rít rộn ràng,
Trời xuân tỏa ngát mênh mang an lành
Xuân về thắm đượm trời xanh,
Mai đào trúc cúc họp thành tứ hoa
Tiết xuân trải lộc mọi nhà
Khung trời nắng đẹp bao la mây ngàn
Mùa xuân thay áo không gian
Chan hòa cảnh vật bình an đất trời.”
(thơ Annie Trần, Texas)Mùa xuân là mùa để bắt đầu một chu kỳ của thiên nhiên mới, dù thơ của nhà thơ Annie Trầncho là tiết xuân trải lộc mọi nhà, khung trời nắng đẹp bao la mây ngàn, và mùa xuân thay áo không gian, chan hòa cảnh vật bình an đất trời. Mọi cảnh quan có thể thay đổi, nhưng đối vì tình yêu cần sự trung trinh, sự thủy chung như thơ của nhà thơ Thái Tú Hạp. Mời xem áng thơ sau.
Mùa Xuân Yêu Em
(Thái Tú Hạp dành tặng Ái Cầm).“mùa xuân từ thuở yêu em
núi non xứ Quảng cũng mềm bước đi
hàng cây nẩy lộc thầm thì
nghe như giòng suối từ bi cội nguồn
mùa xuân từ độ bao dung
tiếng chung thuỷ ở, tiếng đường mật vui
tiếng hờn ghen, tiếng ngậm ngùi
tiếng đau dao cắt, tiếng mùi mẫm yêu
lúc khuya sớm thuở quê nghèo
lúc chinh chiến lửa phận treo tuổi mình
lúc ngã ngựa, khi tàn binh
lúc non cao vẫn trọn tình thăm nuôi
trùng dương u thảm phận người
quẩn quanh hải đảo tiếng cười đắng cay
xa rồi thác lũ trời tây
đời hư ảo thoáng chim bay cuối ngàn
đất trời thơm ngát lộc non
cho ta xuân thắm vô vàn yêu em.”oOo
Lời kết bài,thi ca bốn mùa luôn luôn là đề tài gây cảm tác dễ dàng cho giới thi nhân hay giới nghệ sĩ; xuyên suốt bài viết này là nhiều áng thi ca ca tụng mùa xuân cùng tình yêu lãng mạn được trích dẫn, bởi vì hai chủ đề này không bao giờ xưa cũ cả. Phàm là con người chúng ta vẫn phải đối diện với Mùa Xuân và Tình Yêu, mãi mãi vã mãi mãi.
Để chấm dứt bài viết, người viết bài xin chúc mọi người, mọi gia đình một mùa xuân mới nhiều an lành và hạnh phúc, đặc biệt trong tình yêu thương vợ chồng, tình yêu của gia đình.
Trần Viết Hải, Los Angeles, tháng 12 năm 2018.
-
Hình ảnh buổi RMS “Bâng Khuâng” – Dec 12.2018
































