• Sinh Hoạt,  TRẦN MẠNH CHI

    DƯ ÂM NGÀY THÁNG CŨ

    Những ngày vui trôi qua rất nhẹ, êm đềm và thoáng qua như một cơn gió thoảng. Những ngày tháng đong đầy những yêu thương không vương chút bụi ưu tư.

    Hôm nay nhận được những tấm hình họp mặt tại nhà của Katherine Minh Thư do anh Trần Mạnh Chi chụp, Khánh Lan gởi các bạn xem để nhớ lại những ngày vui bên nhau.

    Minh Khai, Khánh Lan, Ngọc Châu, Lyly, Giáng Tuyết

    Thụy Lan, Chi Mai, Minh Khai, Kiều My, Minh Châu, Ái Liên, Khánh Lan, Lâm Dung, Lệ Hoa, Minh Thư, LyLy, Ngọc Châu, Giáng Tuyết, Kim Thoa

    Các anh trai NVNT & TTG & khỏe vì……(?)

    Khánh Lan, Tháng 8, 2024

  • Sinh Hoạt,  Vương Trùng Dương

    MY SOUTH VIETNAM

    Vào 2 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 1/9/2024, tại Lavender (OC Entertainment), 14190 Beach Blvd, thành phố Westminster sẽ trình chiếu phim tài liệu My South Vietnam (song ngữ, lời Việt, phụ đề Anh ngữ).

    Đầu năm 2022, Vietnam Film Club của đạo diễn Chu Lynh bắt đầu thực hiện bộ phim tài liệu My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi, phát hành tháng 12 năm 2022. Trong 2 năm qua, phim được trình chiếu khắp nơi và lần nầy ra mắt tại Little Saigon

    Vietnam Film Club được thành lập năm 2010 bởi giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và đạo diễn Chu Lynh.

    GS Nguyễn Ngọc Bích (1937-2016), năm 1954 du học tại Hoa Kỳ, sau nhiều năm làm việc ở ngoại quốc, về nước năm 1972 cùng với hiền thê là TS Đào Thị Hợi thành lập Viện Đại Học Cửu Long ở Sài Gòn, Cục Trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại của Bộ Dân Vận Chiêu Hồi, Tổng Giám Đốc sau cùng của Việt Tấn Xã.

    Năm 1975 định cư ở Hoa Kỳ giảng dạy tại các đại học George Mason (1979-89), Trinity College (1979-81) và Georgetown University (1980-86). GS Nguyễn Ngọc Bích là Giám Đốc đầu tiên của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA) từ ngày thành lập cho đến lúc về hưu năm 2003.

    Đạo diễn Chu Lynh, sinh năm 1945 tại Quảng Bình, 1954 di cư vào miền Nam. Theo học tại các trường Institut de la Providence Huế, Bình Minh Huế, Lê Bảo Tịnh Sài Gòn.

    Năm 1965 nhập ngũ khóa 22 tại Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức. Phục vụ trong ngành Quân Nhu. Sau năm 1975 bị tù hơn 10 năm.

    Năm 1995, định cư tại Virginia, Hoa Kỳ theo diện H.O.

    Năm 2005, thành lập Câu Lạc Bộ Đằng Phương (bút hiệu Đằng Phương của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy). Trước khi thành lập Vietnam Film Club đã thực hiện các phim tài liệu. Từ đó đến nay đã thực hiện nhiều phim tài liệu giá trị. Ngoài ra Chu Lunh cũng là tác giả với tác phẩm Mảnh Da Vàng…

    Chu Lynh rất tâm huyết khi thực hiện bộ phim My South Vietnam khoảng mười tập, mỗi tập một chủ đề riêng khoảng 30-50 phút, đề cập đến những lãnh vực của xã hội miền Nam trước năm 1975 và phần nào sau năm 1975.

    Theo lời đạo diễn, bộ phim “Không những cho những người đã sống ở Miền Nam Việt Nam nhìn lại bức tranh miền Nam với những kỷ niệm, và những nỗ lực chiến đấu, xây dựng Miền Nam” của họ, mà còn cho người miền Bắc và giới trẻ không can dự vào chiến tranh hiểu được về xã hội thực của miền Nam. Và theo lời Chu Lynh VNCH đã thành quá khứ “Những cái gì xảy ra tại Miền Nam Việt Nam chỉ còn trong hồi tưởng và internet” vì vậy đạo diễn đã chịu khó đi khắp nơi phỏng vấn từ những vị thức giả, sĩ quan cao cấp, giới chức trong QLVNCH, những tù nhân chính trị, giới văn nghệ sỹ, giới truyền thông, giáo chức, thuyền nhân và người dân… tạo thành bức tranh toàn diện làm chứng nhân lịch sử.

    Với tâm huyết của nhà làm phim, Vietnam Film Club không gây quỹ, không kêu gọi đóng góp, và cũng không có nhà bảo trợ. Các thành viên tự lo chi phí, và vì thế gặp nhiều khó khăn. Và khi trình diễn cũng “vào cửa miễn phí”.

    Vẫn theo anh “Sở dĩ chúng tôi thực hiện các phim tài liệu, là vì chúng tôi thấy hải ngoại có nhiều video nói về lịch sử và chiến tranh Việt Nam trên internet, nhưng những video này chưa được thực hiện một cách có hệ thống về các khúc quanh lịch sử quan trọng”. Vả lại “Người Mỹ thường không hiểu và có cái nhìn sai lệch về cuộc chiến hoặc về Quân Đội VNCH, đa số những cuốn phim, những tác phẩm của họ là bào chữa cho sự rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam, và đổ lỗi cho Quân Đội VNCH.

    … Lịch sử Việt Nam quá nhiều đau thương. Nói đến người dân Việt Nam là nói đến những thảm kịch của chịu đựng, đau khổ, chết chóc, tan nát trong chiến tranh và sau chiến tranh.

    Chúng ta nên nhìn lại căn cước của mình thuộc về tổ tiên xây dựng đất nước và chống ngoại xâm. Nhìn nhau như vậy thì thấy gần gũi nhau hơn, và không lấy một chi tiết nhỏ như ‘anh theo đảng này, tôi đảng kia’ rồi trở thành đả kích, chia rẽ”.

    Với tâm tư tình cảm của người con, người lính khi rời khỏi quê hương: “Người Việt Nam nên nghĩ thân phận dân tộc Việt Nam đã đau khổ quá nhiều trong chiến tranh. Tìm hiểu quá khứ để có những bài học, để lý giải được hiện tại, từ đó có cái viễn kiến về tương lai.

    Người Việt Nam làm được việc nếu hiểu được quá khứ lịch sử của đất nước mình, và coi trọng tinh thần dân tộc hơn tất cả quyền lợi cá nhân và đảng phái.”

    Phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi của đạo diện Chu Lynh tóm gọn 4 tập với từng chủ đề: Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa – Văn Hóa Giáo Dục – Truyền Thông Báo Chí và Y Tế VNCH… Tất cả thể hiện tinh thần nhân bản, khai phóng của nền dân chủ tự do trong suốt hai thập niên qua. Sau năm 1975 nhìn lại các lãnh vực trên đã đảo ngược hoàn toàn.

    Nếu đạo diễn Chu Lynh có cùng ê-kíp đủ điều kiện để khi khắp nơi trên thế giới, gặp gỡ thân hào nhân sĩ và đồng hương hải ngoại thì phim My South Vietnam – Miền Nam Của Tôi trở thành tài liệu quý giá cho người Việt xa xứ. Không biết cuốn phim nầy đã phổ biến trên YouTube, người dân và giới trẻ có được theo dõi” Nếu được chuyển lửa là niềm vinh dự cho đạo diễn và cũng là hoài bão của chúng tôi.

    Trước đây, khi phim My South Vietnam được trình chiếu, tôi viết tổng quát trong mục Văn Nghệ của tờ báo. Nay được trình chiếu ở Little Saigon nên viết đôi giòng giới thiệu với đồng hương.

    Little Saigon, August 14, 2024

    Vương Trùng Dương, Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa

  • Kiều My,  RA MẮT SÁCH,  Sinh Hoạt

    “TẤM HÌNH BIẾT NÓI”- Đã Nói lên Điều Gì?

    Ngày 10 tháng 8, 2024-Ngày RMS 4 tác phẩm với một mục đích nhân đạo và tràn ngập tình người. Theo như lời của NV Chinh Nguyên thì đây chính là buổi gây quỹ để giúp LM. Nguyễn Văn Lý hiện đang trị bịnh do kết quả của những ngày tháng lao tù dưới chế độ cay nghiệt của nhà nước cộng sản Việt Nam. Số tiền quyên được do bán 4 tác phẩm và quyên góp từ các thành viên của Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (NVNT & TTG) và các nhà hảo tâm, sẽ được trao hết cho LM Nguyễn Văn Lý để Người lo việc thuốc thang và chữa trị bịnh. Buổi RMS và quyên góp lần này do sự hợp tác giữa hai nhóm, Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và Văn Thơ Lạc Việt (VTLV). Tại California, chúng tôi thu được gần $7,000, thật là quý giá và chúng tôi xin mượn giây phút này để cám ơn các nhà hảo tâm đã cùng chung một cánh tay với chúng tôi giúp cho buổi gây quỹ được thành công mỹ mãn.

    Từ hôm thứ sáu ngày 9 tháng 8, 2024, phái đoàn Văn Thơ Lạc Việt từ San Jose đã có mặt tại Orange County. 7 giờ tối, NVNT & TTG và VTLV họp cho việc RMS và dùng cơm tối tại tiệm phở Flavor vùng Fountain Valley.

    Thứ sáu ngày 9 tháng 8, 2024-thảo luận và dùng cơm tối tại tiệm Phở Flavor.

    Vừa đúng 11:30 am, phái đoàn San Jose cũng như GS Trần Mạnh Chị và NV Khánh Lan đã có mặt tại trước cửa của Thư Viện Việt Nam sách, nước, thức ăn. 12 giờ trưa NV Du Miên và phu nhân đến mở cửa và phụ anh em chúng tôi xếp bàn ghế, sách, v.v…và chuẩn bị đón khách tham dự.

    VN Du Miên

    Đón khách

    XNV Mỹ Linh phỏng vấn NV Chinh Nguyên

    Trong buổi ra mắt sách của nhà văn Chinh Nguyên tại THƯ VIỆN VIỆT NAM, nam California, một bích chương nổi bật với hàng chữ lớn “TẤM HÌNH BIẾT NÓI” trong khán phòng, đã gây ấn tượng sâu sa trong lòng quan khách tham dự. Vậy bốn chữ in đậm nét trong dấu ngoặc kép này đã nói lên điều gì?

    NV Kiều My

    Vào ngày thứ bảy 10 tháng 8, năm 2024, trong không khí nắng ấm của mùa hè vùng thủ đô người Việt tị nạn, Little Saigon…Người ta nhận thấy có các vị giáo sư, các văn nhân, thi sĩ, các cựu sĩ quan Không quân, các thân hữu, hội Đồng Hương và hội Học Sinh, tổng hội Ban Mê Thuộc, sư đoàn 5 Bộ Binh, đặc biệt có nhóm Văn Thơ Lạc Việt từ San Jose…đến Thư Viện Việt Nam tham dự buổi ra mắt 4 tác phẩm của nhà văn Chinh Nguyên. Những tác phẩm mang đậm nét văn hóa với những tư tưởng đầy tính nhân bản, mà tác giả Chinh Nguyên mong muốn cống hiến cùng độc giả yêu chuộng văn chương tại hải ngoại.

    4 MC điều khiển chương trình: DS Thanh Ngọc, NV Phạm Gia Đại, XNV Mỹ Linh, GS Trần Mạnh Chi

    Để khai mạc chương trình, nhà văn Phạm Gia Đại đã long trọng cử hành nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ, do ban Tiếng Thời Gian đồng ca. Tiếp đến là phút mặc niệm trong không khí trang nghiêm để tưởng nhớ đến những anh hùng vị nước vong thân, các dân quân cán chính đã chết trong những trại tù, cùng những nạn nhân đã thiệt mạng trên hành trình đi tìm tự do…

    Sau đó, MC. Mỹ Linh giới thiệu CHƯƠNG TRÌNH GÂY QUỸ “TẤM HÌNH BIẾT NÓI” và nhà văn Trần Việt Hải trưởng liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian chào mừng và tri ân quan khách đã đến tham dự buổi ra mắt sách của nhà văn Chinh Nguyên.

     NV Chinh Nguyên, NV Việt Hải, Hội Trưởng nhóm Văn Thơ Lạc Việt, San Jose

    Khánh Lan & Mộng Thủy trao chi phiếu gần $7, 000 cho NV Chinh Nguyên

    Ông Lê Văn Hải, hội trưởng Văn Thơ Lạc Việt San Jose phát biểu cảm tưởng. Ông chân thành cảm tạ quan khách hiện diện như là một món quà tinh thần lớn lao dành cho Linh mục Nguyễn Văn Lý và nhà văn Chinh Nguyên. Cảm tạ nhà văn Trần Việt Hải và nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật &Tiếng Thời Gian đã hợp tác với Văn Thơ Lạc Việt tổ chức cho sự kiện hôm nay thật tốt đẹp.

    XNV Mỹ Linh, NV Chinh Nguyên và phu nhân

    Nhà văn Chinh Nguyên phát biểu về tình trạng linh mục Nguyễn Văn Lý mang bệnh tật sau 4 lần bị cầm tù vì nói lên tiếng nói của lương tâm và nhân quyền. Ngoài linh mục Lý ra, ở trong nước còn rất nhiều người cũng bị giam cầm trong những trại tù khắc nghiệt chỉ vì tranh đấu cho tự do dân chủ. Vì thế, chúng ta là những người Việt hải ngoại có nợ với những người đã dám hy sinh mạng sống cho đồng bào trong nước cũng như cho dân tộc. Do đó, chúng ta nên làm bất cứ điều gì có thể để đền bù lại phần nào cho sự hy sinh quá lớn lao của họ, như trường hợp của linh mục Nguyễn văn Lý. Lm. Lý cũng gửi lời cảm tạ tất cả những quan khách đến tham dự buổi ra mắt sách và hổ trợ cho chương trình “Tấm Hình Biết Nói”. Đồng thời, Lm. Cũng nhắn nhủ rằng: Người Việt hải ngoại nên đoàn kết tranh đấu cho người Việt trong nước được tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và cho thế hệ mai sau.

    Bản hùng ca Việt Nam Việt Nam, sáng tác của cố nhạc sĩ Phạm Duy, vang lên trong hội trường qua tiếng hát của ban Tiếng Thời Gian, với những tà áo dài tha thướt truyền thống, hòa lẫn với tiếng ca hùng hồn của các nam ca sĩ; đã tạo nên một khí thế hùng hồn trong khoảng không gian ấm cúng của vùng trời tự do. “Việt Nam…Việt Nam” vọng lại bên tai… tiếng yêu thương, ngọt ngào …man mác nỗi ngậm ngùi cho quê hương khốn khổ đã bỏ lại sau lưng; nhưng không bao giờ lãng quên trong tâm tưởng, dù bất cứ nơi đâu trên hành tinh này của người Việt tha hương.

    Quà lưu niệm từ San Jose.

    Khách tham dự

    Sau phần bày tỏ cảm tưởng về buổi ra mắt sách hôm nay của nhà văn Du Miên, giám đốc Thư Viện Việt Nam là phần trình bày của nhà báo kiêm ký giả Kiều Mỹ Duyên, cô bày tỏ:

    Ký giả Kiều Mỹ Duyên

    “Vì sự cảm thông sâu sắc đối với những vị cao niên đau yếu trong các viện dưỡng lão mà không có thân nhân thăm viếng, rất đáng thương…Xin Chúa, Phật phù hộ cho họ được trải qua những ngày tháng hiu quạnh được bình an trong tâm hồn.”

    Nhà văn Trần Việt Hải và Dược sĩ Cao Thanh Ngọc nói về quyển song ngữ ANTI-AUTHORITARIAN (CẨM NANG CHỐNG ĐỘC TÀI) của nhà văn Phạm Đoan Trang. Thanh Ngọc là hậu duệ của VNCH, cô trình bày về tác phẩm Cẩm Nang Chống Độc Tài như sau:

    NV Việt Hải và DS Thanh Ngọc

    “Là cuốn sách nói lên sự thật về hiện tại của XHCNVN  Với tất cả tấm lòng yêu mến, Phạm Đoan Trang xin cống hiến quyển sách này cho những người đã đang và sẽ hy sinh vì dân tộc. PĐT ôm ấp hoài bão cho VN có được tự do, dân chủ và nhân quyền. Chính vì sự tranh đấu này mà tác giả đã bị nhà cầm quyền VN bỏ tù và bị ghép vào tội “có âm mưu lật đổ chính quyền”

    Việt Nam Minh Châu Trời Đông – nhạc sĩ Hùng Lân sáng tác. Ban Tiếng Thời Gian đã hùng hồn ca ngợi đất nước Việt anh hùng, lừng lẫy bên bờ Thái Bình Dương. Người con dân Việt mong báo đền ơn nước và thề hứa trung thành với sơn hà nước Nam.

    Diễn giả Mộng Thủy trình bày tác phẩm MY LIFE, một sáng tác của nhà văn Đông Anh, do nhà văn Chinh Nguyên chuyển sang Anh ngữ. Mộng Thủy đã diễn giải về tác phẩm My Life như sau:

    “Mặt trời mọc phương đông. Chiều lặn phương tây. Thời gian trôi không cảm xúc, nên lưu giữ trân trọng những kỷ niệm của thời gian của đời người, dù rằng kỷ niệm ấy khổ đau hay hạnh phúc. Tác giả Đông Anh đã gửi gấm những tư tưởng sâu lắng như một tiếng chuông gõ nhẹ vang vọng vào tiềm thức của con người để giúp chúng ta nâng niu những chân lý mới.”

    Tiếp theo, nhà văn Kiều My đảm trách vai trò diễn giả cho tác phẩm song ngữ Anh Việt “PLEASE COME IN…Có nghĩa là VÀO ĐI TÌNH ƠI…

    “Nói về một cô gái rất trẻ đi vào vùng núi rừng hoang vu để tìm người cha mà chưa bao giờ biết mặt. Cô đến xin tá túc nhà một người đàn ông đã đứng tuổi…và tình yêu đã nãy sinh giữa hai người dù tuổi tác quá chênh lệch. Chuyện trái cấm tình yêu này đã nói lên: tình yêu không biên giới dù ở trời đông hay trời tây, từ cổ chí kim cũng thế. Một triết gia đã từng nói: “Con tim có những lý lẽ riêng của nó, mà lý trí cũng không thể hiểu được.”

    Bài Ca Chiến Thắng được hát lên phá vỡ bầu không khí trang trọng của phần văn học. Gợi lại lòng người để hồi tưởng về một thời oanh liệt của chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    THORN IN THE HEART – tác phẩm thứ tư bằng Anh ngữ của nhà văn Chinh Nguyên, qua phần diễn giải của nhà văn Khánh Lan:

    “Nội dung từ một câu chuyện thật do tác giả ghi lại…THORN IN THE HEART là một tác phẩm viết bằng anh ngữ mà Khánh Lan xin tạm dịch nôm na là “Trái tim vụn vỡ” với mục đích giới thiệu đến thế hệ trẻ về những nỗi đau đớn mà ông cha của các em đã trải qua. Tác phẩm ghi lại cuộc đời của một chiến sĩ viễn du nơi đất khách quê người, cố tìm sống lại quãng thời gian đã mất, và quay ngược về quá khứ trải dài qua nhiều giai đoạn khác nhau. Từ những ngày tháng thanh bình của một thời thơ ấu đến những kỷ niệm vàng son, tràn gặp niềm vui của tuổi trưởng thành nhiều mơ ước và những ngày đen tối của chiến tranh với những biến cố tang thương, với âu lo, bom đạn và chiến tranh trường kỳ.

    NV Khánh Lan cũng nhắc đến Đại Văn Hào Marcel Proust đã viết trong tác phẩm À la recherche du temps perdu và cho rằng thời gian đã mất thì khó mà tìm lại được. Tiếc thương cho những hồn Việt và ước mơ cho một ngày thanh bình, độc lập, tự do, nay đã thay thế bởi “Ngục tù tăm tối và Người tù không bản án”…NV Khánh Lan cho rằng tác phẩm “Thorn in the Heart” hay “Trái tim vụn vỡ” là tiếng khóc trong tim của những chàng trai thế hệ nay vẫn sống lưu vong vì thời cuộc, binh biến trong giấc mộng Kinh Kha phục vụ quê hương. Chấm dứt bài diễn đọc, NV Khánh Lan gởi đến Đại Bàng Không Quân Chinh Nguyên với vần thơ kết sau đây.

    Chiến sĩ lưu vong tạm gác nghiệp binh

    Hồn Việt cơ đồ giấc điệp khôn nguôi.

    Giấc mộng kinh kha hận còn đậm nét

    Trong trái tim vụn vỡ sống lưu vong.

    Bản hùng ca “Cờ Ta Bay Trên Quảng Trị Thân yêu” đã bế mạc chương trình ra mắt sách của nhà văn Chinh Nguyên, thành công ngoài dự tính.

    Qua “TẤM HÌNH BIẾT NÓI” tự nó đã nói lên tất cả ý nghĩa, mà không cần từ ngữ nào để giải thích. Và nó đã bay đi khắp nơi trên thế giới này để phơi bày một “sự thật” sau bức màn sắt! Vì “Tấm Hình Biết Nói” này, mà nhà văn Chinh Nguyên đã nặng lòng, đem tim óc viết thành những tác phẩm để bán kiếm tiền gửi về cho nạn nhân trong tấm hình; đó là Linh mục Nguyễn Văn Lý. Người đang mang trọng bệnh sau nhiều năm bị tù đày vì nói lên tiếng nói của “lương tâm.” Mọi người ngưỡng mộ tấm lòng bác ái và hào phóng của nhà văn Chinh Nguyên đã thực hiện một nghĩa cử thật tuyệt vời!

    Kiều My, Nam California, August 8, 2024

    KHÁCH THAM DỰ

    CS Ngọc Hà, GS Lê Văn Khoa, NV Du Miên, NV Vương Trùng Dương

    NV Khánh Lan, GS Dương Ngọc Sum, NV Du Miên, NV Phạm Gia Đại

    NT Nguyễn Đại Thành & NS Dương Hồng Anh

    DS Thanh Ngọc & NV Khánh Lan

    KS Lân Pham, GS Dương Ngọc Sum, NS Dương Hồng Anh, GS Trần Huy Bích, KS Nguyên Hồng

  • Lê Nguyễn Nga

    Mùa Hè Rực Rỡ

    Lê Nguyễn Nga

    Để kỷ niệm một ngày mùa hè, các bạn nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian đã tổ chức một buổi họp mặt tại vùng Diamond Bar với trang phục kiểu người Hawaii.

    Các món ăn ngon do các anh chị em trong nhóm mang đến và rượu vang đầy một bàn. Ban nhạc hùng hậu của anh Tony Hiểu đã góp phần làm cho không khí thêm phần sôi động. Trong nhà trang trí với hoa và cây cảnh. Ngoài sân, những thiếu nữ với vòng hoa trên cổ và trên tóc khiến mọi người tưởng như đang ở Hạ Uy Di.

    Thức ăn đượm tình quê hương với các món như chả giò tôm cua, gỏi đu đủ với bò khô, bò kho của Khánh Lan và Mạnh Bổng cùng nhiều món ngon khác. Trái cây do Kiều My và các bạn khác mang đến. Nhà văn Việt Hải, Lệ Hoa, TrầnMạnh Chi và các bạn cùng nhau ăn uống và chuyện trò rất vui vẻ.

    Brian, chủ nhà, nghe nói nhà hôm nay sẽ đón tiếp khoảng 40 người khách nên đã vội mặc chiếc áo dài Việt Nam. Thật hài hước khi mở cửa đón ban nhạc, người đầu tiên đứng trước cửa là anh trưởng ban nhạc nhưng Brian nói “Chào Chị.” Ha ha, wrong!!

    “Người Tù Cuối Cùng”, Nhà văn Phạm Gia Đại với vai trò MC đã hướng dẫn chương trình một cách rất chuyên nghiệp. Những chai rượu vang làm say tình bạn hữu khiến mọi người vui ca hát và nhảy theo điệu nhạc.

    Các ca sĩ như Lam Dung, Ái Liên, Thúy Lan-Michael, Mạnh Bổng, Kiều My và nhiều nghệ sĩ khác đã hát thật hay – hơn cả tuyệt vời! Tiếng nói cười vang dội trong sân sau tạm ngưng để lắng nghe tiếng hát tuyệt vời của đội song ca Lâm Dung-Ái Liên trong bài “Lời Yêu Thương” (Jamaica Farewell) khiến mọi người say sưa với điệu nhạc. Kế đến là ca sĩ Kiều My, Mạnh Bổng hát rất truyền cảm. MC ca sĩ Trần Mạnh Chi và em trai cùng hai bạn gái đến cùng nhau hát.

    Vào giữa tiệc, anh chị GS Lê V Khoa-Ngọc Hà đến. Tiếng hát soprano cao vút của Ca sĩ Ngọc Hà trong bản “La Vie En Rose” khiến mọi người nhớ về tuổi trẻ của những thập niên 1960s. Ca sĩ Phạm Gia Đại với giọng trầm ấm qua bài “Les Feuilles Mortes”. Tuy trải qua bao nhiêu năm tháng tù đày nhưng anh hát vẫn hay.

    GS LVK và tôi đã trò chuyện về cuốn phim “My South Vietnam” của Chu Linh, sắp được trình chiếu tại Orange County vào đầu tháng 9 năm nay.

    Khoảng 8:30 tối, gia đình chị Hiền đến từ Việt Nam gồm 6 người, vừa xuống phi trường Los Angeles, đến tham dự.

    Ban nhạc vẫn chơi say mê, quên cả ăn và nghỉ mệt. Anh chị em bị lôi cuốn theo giọng nhạc, vẫn tiếp tục hát và nhảy như quên cả thời gian. GS Lê Văn Khoa phải nhắc nhở nên mọi người đã ngừng lại trong tiếc nuối.

    Đêm đã khuya và mọi người đều cảm thấy đói bụng. May mà Chị Thanh Mai có nhiều kinh nghiệm nên đã chuẩn bị một nồi cháo để mọi người ăn lấy sức lái xe về nhà.

    Việ Hải, Lê Hoa, Mạnh Bổng, Khánh Lan, Michael, Thụy Lan vẫn say mê nói chuyện. Hình như mọi người quên cả giấc ngủ rồi. Cho đến 1:30 sáng, ca sĩ Kiều My gần như ngủ gục trên bàn nên nhắc nhớ mọi người bây giờ là “nửa đêm về sáng” rồi. Chúng ta tan hàng là vừa.

    Chúng tôi đành chia tay mà trong lòng còn luyến tiếc. Thật là một buổi tiệc họp mặt mùa hè với không khí Haiwaii thật vui và ấm cúng trong tình thân hữu và văn nghệ của nhóm NVNT-TTG.

    Lê Nguyễn Nga

  • Kiều My,  Sinh Hoạt

    CHAN CHỨA TÌNH HÈ

    Hàng phía trước: Thanh Mai, Minh Khai, Kiều My, Ái Liên, Lâm Dung, LyLy, Ngọc Châu, Giáng Tuyết, Em gái anh Trần Mạnh Chi. Hàng phía sau: Minh Châu, Khánh Lan, Thụy Lan, Lệ Hoa, Katherine Minh Thư.

    Ds. Minh Thư là một nghệ sĩ vui tánh ca hát hồn nhiên như sơn ca hay họa mi giữa thiên nhiên, Minh Thư ghé Hawaii, yêu thiên nhiên hùng vĩ Hawaii. Những hải đảo Hạ Uy Di được coi như “Thiên đường hạ giới”. Người thổ dân Hawaii hay người hải đảo Caribbean có nguồn gốc Polynesia, các nơi có văn hóa riêng như cách phục sức, ẩm thực, âm nhạc, ngôn ngữ,.. ghé Jamaica, Bahamas, hay Puerto Rico, Bermuda,… ta nghe nhạc Calypso, Reggae, Rumba Cubana, Blue Jazz Hawaii,

    Jazz Bossa Nova,… Hôm họp mặt Aloha Luau Ohano tại tư gia Minh Thư, đôi song ca Lâm Dung và Ái Liên đã hát duo calypso bản  Lời yêu thương (Jamaica farewell) nhạc do NS. Harry Belafont. Khi tôi ghé qua Blue Note Hawaii jazz club, Outrigger Waikiki Beach Resort trên đại lộ Kalakaua, Honolulu, nghe Sleep Walk, Somewhere Over the Rainbow, hay What a Wonderful World,… âm thanh chen lẫn ukulele, bongo, hawaiian slide guitar… trong chuyến viếng thăm hải đảo Hạ Uy Di, tôi thực sự nhớ, và thấy từ “Thiên đường hạ giới” một Hawaii hồn nhiên bên thiên nhiên, một Hawaii  mang âm hưởng reggae, kanaka maoli (native music Hawaiian), có âm vang gospel blue jazz nhẹ nhàng, du dương, mát tai, … 

    Cám ơn bạn bè, cám ơn chủ nhà Brian và Katherine. 

    Trần Việt Hải

    NV Việt Hải & TS Lê Nguyễn Nga

    Chủ nhà Brian & Katherine và NV Phạm Gia Đại

    Hawaiian Party là buổi họp mặt mà nhóm chúng tôi dự định nhóm họp từ một năm trước, thế mà mãi đến hôm nay mới thực hiện được. Lần này Katherine Minh Thư đứng lên tổ chức tại nhà của cô. Cảm ơn Katherine nhé.

    The boys: Em TS Lê Nguyễn Nga, Trần Mạnh Chi, Brian, Mạnh Bổng, Michael, Tony Hiếu, em trai and Trần Mạnh Chi, Hùng Ngọc.

    The Girls: Khánh Lan, Minh Khai, Thanh Mai, Lệ Hoa, Thụy Lan, Minh Thư, Ngọc Châu, em gái anh Trần Mạnh Chi

    Khánh Lan nhớ là khoảng 4:00 chiều mọi người đã có mặt, ai cũng trong trang phục Hawaii thật dễ thương với những vòng hoa thật đẹp trên cổ. 

    Thế còn khánh Lan thì sao? Gớm, hôm ấy cô nàng điệu quá, súng sính trong cái áo đầm Hawaii dài đến chân, cái áo mà con gái khánh Lan đã mua tặng từ năm ngoái dự định sẽ mặc trong ngày kỷ niệm tám năm thành lập của Nhân văn nghệ thuật và Tiếng thời gian, nhưng đợi mãi chẳng ai hưởng ứng, nên cái áo đành cất trong tủ, cho đến hôm nay mới được đem ra mặc, mừng quá. Lại cám ơn Katherine lần nữa đã cho Khánh Lan cơ hội mặc áo mới.

    NV Việt Hải, TS Lê Nguyễn Nga, CS Ngọc Hà, GS Lê Văn Khoa, NV Khánh Lan

    Thức ăn trong  bữa bữa tiệc có nhiều món ngon và ban nhạc thì thật tuyệt vời. Tiệc tàn lúc 11.30 tối nhưng anh em chúng tôi ngồi tán gẫu mãi đến hơn 12.30 sáng. Về đến nhà là 01:30 sáng. Mệt phờ nhưng đây là một buổi họp mặt mùa hè vui quá.

    Khánh Lan

    Buổi tiệc họp mặt Hawaiian Party tại tư gia của Brian & Minh Thư cuối tuần qua, là một kỷ niệm khó quên của mùa hè 2024 vùng Diamond Bar, nam California đối với nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian.

    NV Việt Hải, TS Lê Nguyễn Nga, CNS Lâm Dung, CS Ái Liên, NV Kiều My

    Buổi chiều hôm ấy, trời thật đẹp! Thiên nhiên đã chiều lòng người ban đến luồng không khí mát dịu, khiến mọi người hăng hái đến với nhau tham dự buổi tiệc họp mặt theo phong cách Hạ Uy Di. Những vòng hoa đủ màu sắc vòng quanh cổ, những đóa hoa rực rỡ gắn lên những mái tóc…tưởng chừng như mình đang thưởng ngoạn vùng hải đảo Hawaii, trên những bờ biển cát trắng chạy dài. Mọi người thưởng thức những món ăn thuần túy quê hương…rất ngon, xen lẫn tiếng cười tiếng nói…thật vui thật hồn nhiên.

    MC NV Phạm Gia Đại

    Dancing all night

    Hoàng hôn dần buông xuống, tiếng hát tiếng nhạc trổi lên dưới bầu trời tươi mát giữa vùng núi đồi Diamond Bar.

    Nhìn xuống thung lũng dưới đồi, ánh đèn đã thắp sáng lên của một thành phố bình an. Mọi người có vẻ tận hưởng một buổi tối thật đẹp của tình bạn hữu giữa tiếng ca, tiếng nhạc trong những điệu nhảy tưng bừng…lả lướt với những nụ cười trên môi. Về đến nhà…nhìn đồng hồ đã 2 giờ sáng. Chao ôi! KM mệt lả và trong lòng dâng lên nỗi lo lắng, không biết sáng mai còn sức để hát  bài Giòng An Giang có những nốt nhạc cao chót vót?

    Mặc dù suốt đêm qua không ngủ, nhưng KM vẫn không quên bổn phận của mình là phải hát hai bản Giòng An Giang và Về Đây Nghe Em trong chương trình lễ giỗ cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, cựu chủ tịch đảng Tân Đại Việt. Nhưng thật may mắn! Sáng sớm Ngọc Hà text cho KM nói rằng: “Tối qua thấy mặt KM trông miserable quá! Gọi Hà nhé!” KM gọi Hà rồi hai đứa hẹn nhau đi ăn phở Holic cho tỉnh táo, Hà hứa sẽ song ca giúp KM. Mọi lo lắng đã trút xuống và niềm vui đến là sau khi hát bản Giòng An Giang được khán giả vỗ tay kèm theo tiếng “bis” vang lên. Thừa thắng xông lên, đôi song ca hát tiếp bài về Đây Nghe Em. Thật đúng với câu Benjamin Franklin đã nói: “A friend in need is a friend indeed”. Cảm ơn Ngọc Hà thật nhiều đã giúp KM. vượt qua ải lo âu.

    Không riêng gì KM, chắc chắn các bạn tham dự buổi tiệc Hạ Uy Di đêm ấy sẽ để lại dấu ấn thật sâu đậm trong tâm hồn với những kỷ niệm đẹp khó quên. Chân thành cảm tạ Brian và Minh Thư đã tạo cơ hội cho nhóm NVNT&TTG, được trải qua khoảnh khắc thật thú vị của một mùa hè chứa chan tình người.

    Kiều My

  • Tin tức,  Vương Trùng Dương

    VƯƠNG TRÙNG DƯƠNG, MỘT CÂY BÚT DA DIỆU

    Hơn ba mươi năm trở lại đây, trên các báo Việt ngữ ở hải ngoại, độc giả đã quen biết bút hiệu Vương Trùng Dương, một cây bút viết nhanh, viết đều, đủ loại, viết những gì cần thiết, trên rất nhiều phương tiện thông tin, báo giấy, báo mạng, nhật báo lẫn tuần báo, tạp chí, những blog, web văn học.

    – Viết nhanh, và đều. Rất nhanh, mỗi ngày có một sự kiện gì trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật, âm nhạc, là chỉ cách một vài ngày sau đó, đã có ngay bài viết của Vương Trùng Dương. Dù một bản tin vẫn có ít nhiều tư/tài liệu cần biết về sự vụ ấy.

    – Viết đủ loại. Một tác phẩm mới của một tác giả vừa ra mắt độc giả, một văn nghệ sĩ vừa qua đời, một cuộc triễn lãm hội họa, một đêm ca nhạc tầm cở, buổi thuyết trình văn học đáng lưu tâm, đều có bài viết của Vương Trùng Dương. Khi là tường thuật hiện tình, đôi khi là một bài nhận định, tiểu luận. Đương nhiên, theo cách viết “trường phái nhanh gọn” Vương Trùng Dương, không phải “chuyên sâu” như các phê bình gia chuyên nghiệp. Nhưng với Vương Trùng Dương, ta có ngay “Cái để đọc”.

    Đây là một lợi điểm của Dương, trong một nhơn loại đương thì, cần thức ăn nhanh, ham cái “biết ngay tích tắc”. Thái độ chung hiện nay của quần chúng, qua mọi lĩnh vực, là lướt qua, lướt qua. Nhưng những qua nhanh này là biểu kiến của văn minh, của tiến hóa, không là cái lụp chụp kiểu ăn xổi ở thì.

    – Viết những gì cần thiết. Mỗi ngày, mỗi tỉ sự vụ, làm sao viết cho hết. Sự phân loại, lựa ra những hiện tình cần thiết để loan, đề viết về, là một nghệ thuật. Vương Trùng Dương đã rất nhạy bén, nên đã có hằng trăm bài về các nhạc sĩ, văn gia, thi sĩ, những nhân vật nổi tiếng, xưa, tận nay. 

    Qua hàng chục năm cầm bút, Vương Trùng Dương, đã viết về những tên tuổi được liệt kê dưới đây:

    – Nhạc sĩ, ca sĩ:

    Hoàng Trọng, Đoàn Chuẩn, Lê Thương, Lê Trọng Nguyễn, Lan Đài, Trầm Tử Thiêng, Song Ngọc, Hoàng Nguyên, Lê Trạch Lựu, Nguyễn Văn Đông, Nhật Trường Trần Thiện Thanh, Anh Bằng, Nguyễn Hiền, Vũ Đức Nghiêm, Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Đan Thọ… Thái Thanh, Mộc Lan, Thanh Thúy, Hà Thanh, Lệ Thanh, Lê Thu, Mai Hương…

    – Nhà văn, nhà thơ:

    Khái Hưng, Nhất Linh, Phan Khôi, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thạch Kiên, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Bà Tùng Long, Cung Tích Biền, Nguyện Thị Thụy Vũ, Linh Bảo, Văn Quang, Văn Phan, Nguyễn Quang, Hà Mai Anh, Nguyễn Thụy Long, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Thái Tú Hạp, Mai Trung Tĩnh, Võ Thạnh Văn, Trạch Gầm, Trần Yên Hòa, Dương Viết Điền, Phan Xuân Sinh, Lê Đức Luận…

    Hoàng Cầm, Quang Dũng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Hữu Loan, Nguyễn Bá Trác, Nguyên Sa, Lê Trạch Lựu, Lê Thương, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đình Toàn, Du Tử Lê, Trần Tuấn Kiệt, Hà Huyền Chi, Phan Nhự Thức, Lê Văn Trung, Trần Văn Sơn…

    – Nhà nghiên cứu, nhà giáo:

    Hồ Biểu Chánh, Trần Huy Bích, Lê Văn Khoa, Lê Mộng Nguyên… Những đề tài liên quan về Văn học Nghệ thuật, Âm nhạc…

    Nhìn chung, Cõi viết của Vương Trùng Dương thiên về âm nhạc. Tâm sự về ngọn nguồn “ma đưa lối quỷ dẫn đường” vào cái cõi réo rắc lênh đênh của dây tơ tiếng kèn, chính Dương  đã có lời tâm sự. Rằng thì, từ thuở bé anh đã say mê lời ca tiếng hát. Âm nhạc giúp anh hiểu biết hơn, giải khuây khi buồn, làm dịu cơn đau, mở rộng tâm hồn để tiếp cận với cái đẹp của thiên nhiên, con người.

    Xem ra, hơn nửa số lượng Dương đã viết là về âm nhạc. Món này nó đa đoan diễm lệ hơn chốn văn chương thơ phú, hội họa rất nhiều. Bởi vì nó luôn, anh anh em em, người tình già đầu non, cô tình trẻ chỗ cổng trường; trong thị thành con đường tình bóng mát lá me bay, nơi chiến trường lửa đạn xương gãy thịt rụng tùm lum, vầy mà qua âm nhạc, tình huống nào cũng gởi gắm được cái nhớ nhung quyến luyến, quanh quẩn với Chữ Tình. Nhà văn, bị người tình cho ra rìa, hiếm khi ngồi kỳ khu, ra công viết cái truyện tả oán. Nhưng với một nhạc sĩ, lời than van tình lỡ tình sầu, tình oan trái, tình thiên thu, tình trong giây phút, tình nghèo tình muộn tình xa’’… lắm khi lại trở thành những tuyệt tác.

    Nhạc sĩ nói riêng, âm nhạc nói chung là vị thần tình ái. Đủ mùi ca ngâm chỗ biệt ly tái hội. Tiếng tơ đồng, nhịp phách, lời ca nó xoáy vào tâm can con người, đục thẳng và tức thì, hơn mắt phải đọc, mặt phải nhìn từng dòng từng trang chữ. Lại khổ chữ lớn chữ nhỏ trên giấy tốt giấy xấu, đeo kính vào gỡ kính ra. Viễn thị cận thị thậm chí đui mắt vẫn rung cảm khi nghe tiếng nhạc. Nấu bếp, nhậu nhẹt, ngủ với vợ, là lúc sách vở, tranh họa đi chỗ khác chơi, bấy giờ tiếng nhạc lời ca lên ngôi.

    Vương Trùng Dương mê nhạc, viết về âm nhạc, là đúng vậy rồi.

    Luôn luôn làm việc nhưng thấy Dương cũng khá thảnh thơi. Mỗi sáng luôn có mặt ở một quán cà phê quen thuộc, cùng anh em, ngay cả thời gian 7 năm, phụ trách Section B (bài vở và layout) nhật báo. Những câu chuyện văn nghệ, lan man những sự đời gió trăng mây nước. Dương luôn vui vẻ, khiêm tốn, hài hòa thân thiện với mọi người. Văn là người. Văn phong của Dương cũng nhẹ nhàng, thoáng đảng. Chữ nghĩa khá dể hiểu.

    *

    Một khối tình con. Vì đời còn là một bài thơ.

    Vương Trùng Dương, tên khai sinh là Trần Ngọc Dưỡng, sinh đầu tháng 2 năm 1945 (âm lịch tuổi Giáp Thân) tại Quảng Nam. Gia đình của Dương, từ lâu, định cư tại Chợ Được, một ngôi chợ khang trang nằm bên bờ sông Trường. Chợ cũng là bến ghe thuyền. Đò dọc theo sông dài, đò ngang qua bên kia sông là vùng ven biển Đông. Gần biển, những đêm mùa đông, trong chiếu chăn hãy còn nghe tiếng sóng biển ầm vang.

    Buổi chiều, đêm trăng, ngồi bến sông Chợ Được, nhìn sông dài trời rộng, những thuyền trôi, đẹp vô cùng. Sông Trường, non chín mươi năm trước, khi tôi tuổi lên mười, là con sông huyền hoặc, khá đặc biệt của Xứ Quảng.

    Tại miền Trung Việt, hầu hết các con sông đều bắt nguồn từ cao, trong lòng dãy Trường Sơn, đổ xuống đồng bằng rồi ra cửa biển. Sông Trường không như thế. Nó chảy dọc theo bờ biển, gần như song song với con đường Cái quan, từ bắc vào nam. Nếu gọi nó có nguồn từ nam ra bắc cũng chẳng ai cãi cọ. Vì nó là một hợp dòng từ hai cửa biển chảy qua về với nhau. Phía bắc là cửa Đại, Hội An, phương nam là cửa An Hòa, Tam Kỳ.

    Chẳng ai hiểu nó bắt nguồn từ cửa biển nào. Nên chẳng biết bờ sông bên nào là tả, hoặc là hữu ngạn của nó.

    Hằng ngày, tuổi thơ, Dương nhìn ngắm sông, mê mây trôi lòng nước, cùng bọn nhóc nhảy ùm, tắm sông. Ký ức đã dìu dặt.

    Sông Trường, có hai dòng nước từ hai cửa biển chảy vào ngược chiều nhau, An Hòa đổ ra, Hội An chảy vào. Mỗi khi thủy triều dâng, biển chảy vào mỗi cửa sông. Thủy triều hạ, nước biến cửa nào tự chảy trả về biển đó. Lúc triều dâng hay rút, nước sông Trường vẫn một dòng nước ngọt, không hề có cái lờ lợ vì pha nước biển. Nơi hai dòng nước ngược chiều đụng/gặp nhau là bến Tây Giang. Suốt chiều ngang sông từ bờ này sang bờ kia song, chỗ này, có một ngấn nước cao. Thủy triều hạ, ngấn nước tan. Sông lại hoàn sông. Chờ ngày mai, thủy triều lên, sự tình lại tái hiện.

    Tuổi lên mười, tôi có dịp đến Chợ Được, may còn có dịp nhìn con sông rộng, những đêm trăng, thuyền bến, khu chợ đã vắng người, một vùng quê thơ mộng, bãng lãng vô cùng. Hôm nay Trường Giang đã cạn, chỉ là một con lạch nhỏ, những bùn lầy.

    Hội An, một đô thị cổ, một thời rực rỡ cửa biển,  mở ra đại dương với những thương thuyền Bồ Đào Nha, Y Pha Nho, Pháp Lang Sa, Nhựt Bổn… Hội An một thời ngủ dài, ngủ những mấy trăm năm, Hội An thức giấc với xiêm y, hình hài một di sản thế giới; Và, Sông Trường huyền hoặc bên này, Trường Sơn kỳ vĩ núi kia; những quần thể tháp Chàm Mỹ Sơn Đồng Dương; Và, Dòng sông Thu sức chảy bạt ngàn, phá bờ này thành vịnh nước sâu, bồi qua bờ kia thành những bãi dâu xanh chiều chiều; Quảng Nam, khí thiêng ấy đã giúp gì cho những danh nhân Xứ Quảng ở khắp mọi lĩnh vực?

    *

    Một lần, vào cuối thập niên 50s, thế kỷ trước, theo lời mời, tôi lại có dịp đến Chợ Được, để tập cho các em gái, thiếu nữ Phật Tử Chợ Được những màn vũ múa. Tôi đánh đàn và trực tiếp chỉ dẫn cho các em. Trong số này có hai người chị của Vương Trùng Dương. Bấy giờ Dương đang là một thiếu niên khá ngộ nghĩnh 14 tuổi. Dương rất mê tiếng đàn măng-đô-lin của tôi. Sinh hoạt Phật Tử nơi đây rất đông. Một ngôi chùa to đẹp, vườn chùa rộng đầy bóng mát, là do chính thân phụ Vương Trùng Dương đứng ra gầy dựng, và bảo tồn đã lâu năm.

    Hai tuần ở Chợ Được là những ngày vui, những giờ hạnh phúc của chúng tôi.

    *

    Thời thế đã mau chóng đổi trắng thay đen, chiến tranh, ly tán. Mỗi phận người bỗng là, “Một chiếc linh hinh hồn nhỏ / man man thiên cổ sầu” (Huy Cận). Xa nhau tưởng đã quên nhau. Hai mươi bảy năm sau, 1987, tôi tình cờ gặp lại Vương Trùng Dương từ Đà Lạt về Sài Gòn, lúc Dương ghé thăm tôi

    Bấy giờ Dương đã là một sĩ quan quân đội Cộng Hòa. Xuất thân khóa I Nguyễn Trãi, Đại học Chiến tranh Chính trị Đà Lạt (12/1966-5/1969). Phục vụ ở Tiểu Đoàn 20, rồi Tiểu đoàn 10 CTCT, sau cùng trở về quân trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt. Năm 1975, một thời gian đi trại tù Cải tạo trở về, Dương ghé thăm tôi, chuẩn bị cho năm 1990, đi định cư theo diện H.O tại Mỹ.

    Lại 29 năm sau, năm 2016 tôi gặp Dương tại Mỹ. Trên 55 năm (1959-2016) hai anh em chúng tôi chỉ gặp nhau một lần (1987) Sự quý hiếm ấy tạo ra cái tình thân thiết. Vàng này được thử lửa đời.

    Lúc này, sau khi có mặt trên đất Mỹ, Vương Trùng Dương, đã có một bề dày hoạt động văn nghệ báo chí khá đáng khen. Là, thành viên trong Trung Tâm Văn Bút VN Nam California những năm đầu của thập niên 1990s và Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại. Tổng Thư Ký các tờ Việt Press, nguyệt san Thế Giới Nghệ Thuật, tuần báo Tình Thương, Đất Nước, Rạng Đông, bán nguyệt san KBC (2002-2005), nguyệt san văn học Tân Văn (một thời gian), nguyệt san Hồn Việt…

    Năm 2005, Chủ Nhiệm Cali Weekly và trang web Cali Weekly. Năm 2008, phụ trách Section B của nhật báo Saigon Nhỏ (2008-2016, đảm trách bài vở và layout) & Tổng Thư Ký, Chủ Bút nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa cho đến nay.

    Hiện nay Vương Trùng Dương sống tại Little Saigon, nhà cửa khang trang, con cháu đông đúc, tất cả học hành giỏi dang.

    Viết những dòng này, tôi đã ở thềm tuổi 90, người em Vương Trùng Dương đã 80. Nhưng còn viết, còn chuyện trò được, cười vui cùng hoa cỏ, nếu tất cả có thể, thì cứ là vui.

    Vương Trùng Dương viết nhiều về bạn bè, thân hữu… Nhưng, theo lời tâm sự chỗ riêng tư, Dương cho biết đã từ chối phỏng vấn về bản thân (chỉ có 2 lần với nhà báo Uyên Vũ và nhà thơ Triều Hoa Đại). Với tôi, Dương vẫn luôn luôn coi tôi như một người anh, một Huynh Trưởng trong Gia Đình Phật Tử vào cuối thập niên 1950s nơi quê nhà, vì tôi và người chị thứ sáu của Dương cùng tuổi và trong GĐPT (nay đã ra người thiên cổ).

    Cuộc đời gẫm lại, là một bài thơ. Bài thơ lung tung, không vần, không niêm luật bắt buộc, nhiều nắng vàng gió mưa tự động, bao rủi may bất ngờ, là một đời thanh thoát. Cứ là, tôi đến từ buổi sơ nguyên, và hẹn em ở thế kỷ sau. Lãng mạn dỏm, xem sao.

    Cung Tích Biền, Senior Village Garden Grove, Orange County, July, 2024

  • Lê Nguyễn Nga,  Văn Thơ

    MỪNG LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ 4th of July  

    MỪNG LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ 4th of July  

    Cuộc chiến Bắc Nam khởi ngọn cờ                                             

    Bắc Nam giao chiến máu đào rơi   

    Đấu tranh vững chí giành độc lập 

    Binh súng oai hùng trận chiến khơi 

    *

    Chế độ thuộc địa khắp các nơi 

    Anh Hoàng oai khiếp súng vang trời 

    Dân tình oan ức nên vùng dậy 

    Chống lại triều đình Anh Quốc thôi 

    *

    Chế độ thuộc địa kết thúc rồi 

    Dẹp cờ Anh Quốc bỏ đi thôi  

    Từ nay độc lập mười ba states

    Lá cờ sao sọc bay khắp nơi 

    *

    Mừng vui độc lập mình phải nhớ 

    Xương máu anh hùng cuộc chiến xưa  

    Cho ta vui sống trong vinh hiển 

    Đất nước Hoa Kỳ, oai dũng thừa .

    Lê Nguyễn  Nga

     4th of JULY,  2024

  • Lê Nguyễn Nga,  Văn Thơ

    Nhớ Ngày Quân Lực    

    Nhớ Ngày Quân Lực    

    Nhớ những ngày xưa nhớ nước non  

    Vào Ngày Quân Lực kết lòng son   

    Quân dân liên kết tình thương mến  

    Nhớ mãi chiến y đẹp thuở còn     

    Tung cánh chim bằng, tuôn kiếm báu   

    Xuất quân vung kiếm diệt câm hờn    

    Phù nhà cứu nước, tình quê thắm   

    Giữ nước, diệt gian khí tiết tròn.  

    Lê Nguyễn Nga – 2024

    Kỷ niệm 19 tháng 6 Ngày Quân Lực VNCH

  • Tin tức

    Nhà Văn Nguyễn Quang, Văn Chương & Cuộc Tình Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh

    Chiều Thứ Sáu, 17/5/2024, nhân ngày giỗ cố nhạc sĩ Lam Phương tại tư gia Minh Khai (em gái Lam Phương) thành phố Fountain Valley, Nam California. Vì trong tình thân hữu nên chỉ có ít thân hữu và Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tham dự.

    Nhà văn Nguyễn Quang và tôi ra sân sau trò chuyện, ông cho biết sẽ thực hiện hồi ký lịch sử viết tiếng Anh vì cuộc đời đã trải qua giai đoạn thăng trầm từ thập niên 1940’ cho đến nay qua tám thập niên. Tôi nghĩ tác phẩm nầy sẽ có giá trị vì tác giả là chứng nhân thời cuộc ghi lại từ trong nước đến hải ngoại.

    Cuối tháng 5/2024, người bạn gợi ý với tôi việc thực hiện tuyển tập (tổng quát) với các nhà văn, nhà thơ lão thành trên chín mươi tuổi còn sống và sáng tác vào năm 2025 để đánh dấu nửa thế kỷ văn học hải ngoại. Đây là ý kiến hay, ở Mỹ đã có chúng tôi và sẽ liên lạc với vài bạn văn phương xa.

    Ở Little Saigon, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thọ 103 tuổi, lúc trên 90 tuổi vẫn còn sáng tác. Nữ sĩ Dương Hồng Anh, 93 tuổi ra mắt thi phẩm thứ 12 Những Gì Để Nhớ vào mùa xuân 2024… Nhà văn Nguyễn Quang (phu quân cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh) ở tuổi 93 vẫn còn minh mẫn, viết lách và sẽ ấn hành tác phẩm. Khi bạn tôi vào Google tìm “nhà văn Nguyễn Quang” thì không biết gì cả! Tôi cảm thấy đây là sự thiếu sót của chính bản thân và vài bạn cầm bút quen biết khi viết về nhà văn Nguyễn Quang mà không phổ biến rộng rãi trên các websites với nhà văn đã một thời dấn thân cho văn nghiệp nhưng bản tính khiêm nhường và chỉ quan tấm đến người bạn đời (tác phẩm và cuộc sống) nên có lẽ phần nào bị “đóng khung” trong sự nghiệp văn chương.

    Tháng 6/2024 là ngày giỗ nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (nhà báo, nhà thơ, nhà văn) nên nhân dịp nầy tôi viết về cuộc tình của bà với nhà văn Nguyễn Quang. Nữ sĩ MĐHT nổi tiếng từ trong nước đến hải ngoại, và cũng là người phục hồi lại Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nên tên tuổi bà được mọi người biết đến nhưng “Đằng sau một người đàn bà thành công luôn có bóng dáng người đàn ông” ở trường hợp nầy. Trong thời gian qua, tôi thấy có vài tác phẩm về văn học hải ngoại không đề cập đến các tác giả đã hiện diện trong những thập niên qua (ngay cả nhà văn Linh Bảo).

    Hơn mười năm qua, tôi không còn phụ trách mục sinh hoạt văn nghệ cho tờ báo nên ít tham dự trong những buổi ra mắt sách, ngoại trừ tác giả thân quen và trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời Gian (nhưng có các bài viết của Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My…)

    Nhà văn Nguyễn Quang đã ấn hành nhiều tác phẩm và đã từng ra mắt sách (RMS) nhưng đến năm 2022, tôi mới ghi nhận: RMS Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân.

    (Trích): “Ban Tổ Chức Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức buổi RMS hai tác phẩm Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang tại hội trường Thư Viện Việt Nam, thành phố Garden Grove. Nhà văn Nguyễn Quang là phu quân nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017). Tuy bước sang tuổi 90 nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn khỏe mạnh và hoàn thành hai tác phẩm thứ 8 & 9: Phận Đàn Bà & Ôn Cố Tri Tân.

    Nhà văn Nguyễn Quang (Nguyễn Quang Huy) sinh quán tại Phú Nổ, làng Khánh Hưng, Tỉnh Sóc Trăng, du học tại Pháp từ năm 1950, đỗ Cử Nhân Toán. Năm 1955-1962, theo học tại đại học Cambridge ở Anh, đỗ Cao Học Kinh Tế (nay gọi là Thạc Sĩ). Ông trở lại Pháp, làm việc cho nhiều nhà xuất bản tuần báo ở Paris. Ông làm phó chủ bút cho tờ Paris Match…

    Tuy xa quê hương gần bảy thập niên nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn nặng tình với quê hương vì vậy qua các tác phẩm của ông mang hình ảnh và tâm thức người Việt tha hương với cội nguồn dân tộc. Cũng vào thời điểm nầy, Chủ Nhật, 13/4/2014 tại hội trường Thư Viện Việt Nam, nhân dịp sinh nhật 83 tuổi, nhà văn Nguyễn Quang đã ra mắt tác phẩm Một Giấc Mơ. Nhà văn Nguyễn Quang cho biết: “Đây là tác phẩm để tưởng niệm các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968. Bày tỏ sự tôn kính lòng kiên quyết của các bà vợ, của các Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong ngục tù cộng sản”.

    Trong tác phẩm Phận Đàn Bà (“Đau đớn thay phận đàn bà” – Nguyễn Du), nhà văn Nguyễn Quang đã khéo léo trong việc sử dụng những hình ảnh, ngôn ngữ, hoàn cảnh để so sánh, để ví von. Lời văn ẩn dụ những sinh hoạt quen thuộc hàng ngày trong một gia đình tưởng như hoàn mỹ, để truyền tải sâu sắc ý tưởng của mình. Đọc tác phẩm Phận Đàn Bà cho chúng ta ba ý niệm khác nhau, cả ba phần đều đề cặp đến cuộc đời, danh phận cũng như sự kiên nhẫn, nhịn nhục và chịu đựng của người đàn bà.

    Phần một thuộc thể loại tình cảm xã hội về một gia đình được coi là lý tưởng nhưng lại trải qua nhiều uẩn khúc như sự giằng co giữa lương tâm nghề nghiệp, bổn phận với vợ con và trách nhiệm với người tình.

    Trong phần thứ hai thì lại đặt nặng về phần văn hóa xoay quanh những tranh luận về phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia. Phần này rất có ích cho những ai muốn học hỏi, nghiên cứu để mở mang kiến thức.

    Phần thứ ba là những câu chuyện qua từng mẩu chuyện mà tác giả đã thu nhận được từ bạn hữu, từ những mẩu chuyện “đàn ông đàn bà”, những chuyện do “mắt thấy tai nghe“, được ông ghi lại trên trang giấy. Trong từng mẩu chuyện, với tâm hồn nhận bản, phác thảo bức tranh về nhân tình thế thái…

    Về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang ôn lại lịch sử nước Việt, từ thời Hồng Bàng với các vị vua Hùng Vương, rồi qua các triều đại Lý, Lê, Trần, Nguyễn… đất nước ta trải qua ngàn năm Bắc thuộc, gần 100 năm Pháp thuộc, chiến tranh Quốc Cộng, thời CSVN thống trị…

    Thành ngữ “Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ” (ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay). Tác giả gợi lại bài học lịch sử từ thời lập quốc trải qua các thời kỳ Bắc thuộc từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên đến thế kỷ mười lăm sau công nguyên với các bậc anh thư, anh hùng dân tộc yêu nước đã đứng lên chống trả quân xâm lược. Thời kỳ Pháp thuộc với những sĩ phu yên nước dân thân cho đại cuộc… Thời kỳ Cộng Sản xâm nhập cho đến hiện tại với thảm họa như quá khứ… Với tinh thần bất khuất của người dân Việt, noi gương những bậc tiền nhân để xây dựng lại trang sử vàng son.

    Tác phẩm văn chương mang tâm huyết của người Việt lưu vong cho thế hệ hiện tại và các thế hệ tiếp nối có giá trị về bài học lịch sử Việt Nam suy ngẫm để xây dựng đất nước trong tương lai thanh bình, thịnh vượng.

    Những bài học từ quá khứ để suy nghiệm hiện tại. Trước đây, tôi có giới thiệu khái quát về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân, trong đó có nhắc đến: “Cụ Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942) tự Ôn Như là nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam. Tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Hán, tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ. Quyển Cổ Học Tinh Hoa (cùng Trần Lê Nhân) ấn hành năm 1928 đến nay gần một thế kỷ vẫn được ấn hành và lưu truyền. Hai vị biên soạn đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu những tinh hoa của nền cổ học phương Đông. Với 250 mẩu chuyện liên quan trong cuộc sống, con người, cách xử sự sao cho phù hợp với từng nơi từng lúc. Có thể nói đó là cuốn sách “dạy làm người” để biết nhìn nhận “cái xưa” để xử thế “cái nay” mà qua từng mẩu chuyện với lời bàn rất hữu ích.

    Nhà văn, dịch giả Mộng Bình Sơn (1923–2011) đã viết nhiều tác phẩm, trong đó có quyển Ôn Cố Tri Tân gồm 3 tập, ấn hành năm 1967, Sống Mới xuất bản tại Sài Gòn. Dẫn chứng hai quyển sách của người xưa của nước ta về Ôn Cố Tri Tân vẫn còn giá trị trong cuộc sống. Sau nầy nửa thế kỷ ở hải ngoại, tác giả Nguyễn Quang nay ở tuổi chín mươi mốt vẫn mang hoài bão của bậc cao tuổi nơi quê người qua tác phẩm…

    Trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang như Nhập Gia (2007), Ông Giáo Làng (2009), Ốc Mượn Hồn (2012), Một Giấc Mơ (2013), Ngoại Tình (2016), Thần Giao Cách Cảm (2017), Ôn Cố Tri Tân (2020) và Phận Đàn Bà (2022)… có vài tác phẩm đã RMS ở Trung Tâm Minh Đức và Thư Viện Việt Nam, Little Saigon.

    Cuộc Tình cùng Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh

    Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh (MĐHT) tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó biết sự lợi dụng của phong trào, bà bỏ về Huế tiếp tục học. Năm 1964, bà du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Á Đông La Sorbonne, Paris. Năm 1967, bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF (Office de la Radiodiffusion et Television Francaise, tiền thân đài RFI hiện nay), làm phóng sự nhiều nơi như Algérie (Bắc Phi) và Việt Nam.

    Năm 1972, bà được cử theo dõi và tường thuật Hòa Đàm Paris. Năm 1973, bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, từ năm 1974 đến năm 1975. (Hai bài thơ của bà được Phạm Duy phổ thành ca khúc Kiếp Nào Có Yêu Nhau & Đừng Bỏ Em Một Mình. Ngoài ra nhạc sĩ Võ Tá Hân, cháu gọi cô, phổ những bài thơ qua ca khúc Mẹ bảo ta đừng nhìn qua cửa sổ, Mẹ bảo, Nhớ mẹ, Thức thêm một giờ nữa, Viết bài thơ này… Bài thơ Ai Trở Về Xứ Việt  (1962) do Phan Văn Hưng phổ nhạc cũng nổi tiếng).

    Sau biến cố tang thương 1975, bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí Hồn Việt Nam và trở lại cộng tác với đài ORTF. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhận tư cách hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế vào năm 1979. Với các tác phẩm của MĐHT như Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang, Paris 1976)… với sữ hỗ trợ của phu quân.

    Mùa Xuân năm 1971, MDHT làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp (một trong những đài truyền hình lâu đời nhất thế giới), mời nhà văn Nguyễn Quang tới phỏng vấn trên đài. Từ buổi gặp gỡ đó, có sự đồng cảm với nhau.

    Khi trở lại trong Hiệp Định Paris, trong tinh thần yêu nước của người Việt và nhóm sinh viên lúc tranh đấu cho Việt Nam Cộng Hòa, cùng lý tưởng, hai trái tim họ gặp nhau.  Vì công việc bà trở lại Sài Gòn, năm 1975 định cư tại Paris, nhà văn Nguyễn Quang và nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh nên duyên vợ chồng (trước đó ông và bà đã có con riêng).

    Năm 1980, nhà văn Nguyễn Quang sang Mỹ với người bạn đời Minh Đức Hoài Trinh (các con ở lại Pháp). Với bằng cấp chuyên môn ở Anh, ông tiếp tục với lãnh vực nầy. Với hoài bão sáng tác của nữ sĩ MĐHT, ông tận tình thực hiện và phổ biến. Những tác phẩm của nữ sĩ MĐHT đều do phu quân thực hiện như Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư I (tái bản 1987), Niệm Thư II (1988), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990), Bất Đáo Trường Thành Phi Hảo Hán (1990), Ngõ Trúc (1997), Chính Khí Của Người Cầm Bút (2014)… nhất là tác phẩm Văn Nghiệp & Cuộc Đời của Minh Đức Hoài Trinh, RMS tại Hội trường nhật báo Người Việt ngày 17/9/2005, tác phẩm nầy được RMS ở các nới khác (bà không viết hồi ký nên tác phẩm nầy với công việc biên soạn của ông đóng góp cho nền văn học). Ông viết: “

    Nhà văn Nguyễn Quang chia sẻ về người bạn đời:

    “Trong lúc tôi soạn đọc một số lớn tư liệu của Minh Đức Hoài Trinh, ngẫu nhiên tìm ra một mảnh giấy nhỏ viết tay viết từ ngoài chiến trường, dù bị gián đoạn, chỉ có một vài dòng nhưng tôi cảm nhận được tâm tư xót xa của một ký giả chiến trường, tôi rất xúc động nên muốn chia xẻ cùng quí độc giả như sau:

    “Mùi hôi không cản được tình thương”, Minh Đức Hoài Trinh.

    “Đi đếm xác chết đó là một công việc tôi hay làm trong những năm hành nghề ký giả. Ai nghe nói cũng nhắm mắt rùng mình, kêu ghê, kêu sợ, kêu eo ôi gì mà kinh thế. Nhưng mỗi người, nhất là mỗi đứa sống với cái nghề cầm bút thường mang một chứng điên khác nhau riêng biệt. Ở giai đoạn chiến tranh lịch sử nầy mà không cầm súng ra trận thì cũng phải làm một cái gì. Nói cầm súng ra trận không phải là tại thích nhìn cảnh bắn giết nhau, nhưng để nghe những tiếng khóc của chính trong lòng mình. Khóc người đang quằn quại, đang gục ngã, đang hấp hối. Đi tìm cảm giác lạ, mỗi người “viết sĩ đi tìm một nẻo khác nhau, bên bàn đèn, trong cánh tay, mái tóc tình nhân, trong hộp đêm trong điệu nhạc, hoặc là những đứa như tôi, thẩn thờ quanh quẩn bên mấy cái xác chết. Tại sao tôi không đi tìm cảm hứng ở những nơi khác, chính tôi cũng có lần đặt câu hỏi tại sao?

    Có lẽ vì tò mò muốn nhìn xem những cái xác ấy mới hôm qua còn thơm sạch, còn cười nói, ăn uống, những sự học hỏi, suy nghĩ, những lời đùa vui dí dỏm mới ngày hôm trước đã phát ra từ cái mắt cái miệng ấy. Thế rồi chỉ một tiếng nổ, một lát gươm, tất cả đều tiêu tan, không phải được thành mây khói…“. “

    Minh Đức Hoài Trinh lặn lội săn tin trên các vùng lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, ghi nhận những sự kiện giao tranh mất còn, từ miền Nam ra miền Trung. Miền Trung là nơi sinh quán và miền Nam là nơi trú quán.

    Sau những cuộc chiến có những tử sĩ con yêu của miền Nam Việt Nam hay những chàng trai thế hệ của QLVNCH đã vĩnh viễn ra đi vì bốn chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn”, trong bài viết “Mây Trên Đèo Hải Vân”, Minh Đức Hoài Trinh viết: “Trực Thăng từ từ hạ cánh chúng tôi trở về phòng đợi. Đợi mây tan nhận nụ cười an ủi trên môi người phi công kiên nhẫn, chỉ có thế không có cách gì khác. Mãi đến hai giờ chiều chúng tôi trở lên trực thăng. Chiếc áo quan vẫn còn nằm đấy, y nguyên…

    Mây đã chịu tan bớt đi trên đỉnh đèo, trực thăng đã đủ sức vượt qua làn mây. Phi trường Phú Bài không mở chúng tôi đỗ ở phi trường Đại Nội trong thành Huế.

    Trước khi ra khỏi phi cơ tôi quay lại nhìn cái hòm, nhìn cái hòm lần cuối cùng, nhìn người chết, nhìn lá cờ VNCH, thì thầm một lời vĩnh biệt. Anh ngủ cho yên và lá cờ hãy che chở cho anh”, Minh Đức Hoài Trinh.

    Trong tác phẩm Ngoại tình của ông với câu chuyện tình rất lãng mạn, đẹp trích vài câu thơ tiếng Pháp để nói về tình yêu. Cuộc tình của ông, từ khi gặp nhau ở Pháp và sang Hoa Kỳ cũng vậy nhưng không ghi lại. Những năm cuối đời, nữ sĩ MĐHT ốm yếu, bệnh hoạn được phu quân tận tình chăm sóc cho đến khi bà về cõi vĩnh hằng. có người cho rằng nữ sĩ MĐHT nổi tiếng, “cây đại thụ” với ông (?) nhưng với tôi, ông chính là “cây đại thụ” chăm sóc cho những tác phẩm của bà qua những thập niên xuất hiện trên văn đàn hải ngoại. Ông chính là bạn văn, bạn đời tận tụy, thủy chung trong cuộc sống.

    Nhà Văn Nguyễn Quang & NVNT – TTG

    Khoảng mười năm nay, nhà văn Nguyễn Quang sinh hoạt với Nhân Ảnh Tân Văn và sau nầy thành Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    Với tuổi già tham gia cùng bạn trẻ (theo tuổi tác của ông) là niềm vui và cũng là niềm khích lệ trong sinh hoạt đời sống và văn nghệ. Mọi cuộc sinh hoạt trong nhóm nầy đều có sự hiện diện của ông. Khi nữ sĩ Minh Dức Hoài Trinh qua đời (chiều Thứ Sáu, 9 tháng Sáu, tại bệnh viện Huntington Valley Healthcare Center, Huntington Beach. Hỏa táng tại Peek Funeral Home, Chủ Nhật 25/6). Để an ủi nỗi buồn sống cô đơn của ông, nhóm nầy cũng thường đến hội ngộ tại tư gia của ông (tôi nhớ khoảng cuối năm 1990, vài lần ghé ngôi nhà của ông bà có hàng trúc phía trước nên gọi là “đường trúc thư quán” sau nầy chuyển về khu người già gấn đó cũng thuộc Midway City – Thị Trấn Giữa Đàng).

    Theo nhà văn Việt Hải con chim đầu đàn, trong phần phát biểu và cám ơn quan khách, ông đã chia sẻ như sau: “Nói đến nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, năm 2015 khi đó chúng tôi chỉ có 5 người. Tôi, GS Trần Mạnh Chi, HS Lưu Anh Tuấn, Ngô Thiện Ðức và Lý Tòng Tôn. Ngày nay, bao gồm thành viên và các thân hữu ở khắp nơi chúng tôi có khoảng 4, 5 trăm người. Chủ trương chính của chúng tôi tập trung trên hai mảng văn học nghệ thuật và âm nhạc. Bên VHNT thì lo về in ấn, tưởng niệm và ra mắt sách của một số các nhà văn nổi tiếng và một số đã khuất núi. Bên Tiếng Thời Gian lo phần âm nhạc cho các buổi ra mắt sách. Ngoài ra chúng tôi cũng thành lập một khoá giảng dạy âm nhạc căn bản cho thành viên của nhóm…”

    Nhà văn Khánh Lan, người đảm trách blogpot NVNT & TTG từ tháng 5/2018 cho đến nay đã phổ biến vài trăm bài viết, sơ lược các sinh hoạt trong quá khứ của nhóm như tổ chức các buổi ra mắt sách của các văn, thi, nhạc sĩ… vinh danh và chúc thọ các vị tiền bối, tổ chức các buổi party và mừng sinh nhật.

    Trong 9 năm qua, mỗi năm thường tổ chức 5, 6 lần từ Tất Niên đến Giáng Sinh trong đó có vài lần ra mắt sách, sinh nhật, chúc thọ… Với “cây nhà lá vườn” nhiều ca sĩ trong nhóm đóng góp cho chương trình văn nghệ đa dạng, phong phú vì vậy việc tổ chức dễ dàng.

    Hơn ba thập niên làm báo, tôi đã tham dự nhiều lần sinh hoạt nhưng với nhóm nầy tôi cảm thấy sự đồng tình, thân thiện “mỗi người một tay” cùng nhau góp sức và tài chánh cho việc chung, rất quý. Với tinh thần tự nguyện và tự lập nên nhóm NVNT & TTG đã đóng góp nhiều lần sinh hoạt không bị tai tiếng…

    Trở lại với nhà văn Nguyễn Quang, với tác phẩm Một Giấc Mơ (2013, RMS tại Thư Viện Việt Nam, tháng 5/2014) ông cho biết: “Đây là tác phẩm để tưởng niệm các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968. Bày tỏ sự tôn kính lòng kiên quyết của các bà vợ, của các Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong ngục tù cộng sản”.

    Hình bìa tác phẩm với cô gái mặc  áo dài trắng với một bông hồng, tôi rất thích.

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa là người Cần Thơ, khi giới thiệu tác giả đã nhắc đến phu nhân của tác giả là nhà thơ Minh Ðức Hoài Trinh mà ông rất ngưỡng phục từ lâu nay. Nhắc đến tác phẩm của Nguyễn Quang được ra mắt, ông nói: “Một Giấc Mơ” của Nguyễn Quang là một giấc mơ không chỉ của cá nhân tác giả, mà là một giấc mơ vừa thương đau vừa thơ mộng của cả một dân tộc, lồng trong một cuộc tình của đôi nam nữ thời chinh chiến”

    Nhà giáo Lưu Trung Khảo nói: “Nhà văn Nguyễn Quang, xuất ngoại, xa đất nước từ năm 1950, hết ở Pháp, đến ở Anh rồi qua Hoa Kỳ mà vẫn còn nhớ đến tiếng Việt, không chỉ nhớ mà còn viết nên những tác phẩm cho các thế hệ sau muốn tìm hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của đất nước. Văn ông viết xuất sắc. Ngôn ngữ Việt Nam mà còn tồn tại được là chính từ những nhà văn của chúng ta còn sáng tác. Là một nhà giáo, tôi xin được trân trọng cảm ơn sự đóng góp của nhà văn Nguyễn Quang vào kho tàng văn học Việt Nam hải ngoại”

    Tuy xa quê hương hơn bảy thập niên, nhà văn Nguyễn Quang vẫn luôn nặng tình với quê hương vì vậy qua các tác phẩm của ông mang hình ảnh và tâm thức người Việt tha hương với cội nguồn dân tộc. Đó cũng là tâm thức của nữ sĩ MĐHT, cùng tâm hồn, đồng cảm, lý tưởng với nhau cuộc tình.

    Hiện nay, theo tôi, chỉ có nhóm NVNT & TTG mới đủ tài liệu và gần gũi nhà văn Nguyễn Quang để thực hiện tác phẩm Nhà Văn Nguyễn Quang, Cuộc Đời, Tình Yêu & Sự Nghiệp để góp mặt trong văn đàn Việt Nam hải ngoại.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon , June 12, 2024

    From Giáo Sư Trần Huy Bích

    Tôi xin góp thêm một ý: Chúng ta không nên quên sự kiện từ nhiều năm nay, nhà văn Nguyễn Quang vẫn tích cực hoạt động trong Mạng Lưới Nhân Quyền VN (Vietnam Human Rights Network):

    (Vietnam Human Rights Network.
    vietnamhumanrights.net/viet/aboutus.htm

    Tố chức này theo dõi và lên tiếng mạnh mẽ mỗi khi nhà cầm quyền CS vi phạm, rồi đàn áp những tiếng nói bênh vực cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở trong nước, soạn các bản Báo cáo hàng năm về tình trạng nhân quyền ở VN, và cấp Giải thưởng cho những chiến sĩ tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền.

    Trong tổ chức này, nhà văn Nguyễn Quang giữ chức vụ Thủ Quỹ. Có nghĩa nếu chúng ta (hay bất cứ ai) ký một chi phiếu để ủng hộ các hoạt động của Mạng Lưới Nhân Quyền, thì người thay mặt tổ chức ấy ký bức thư cám ơn chúng ta, không ai khác hơn là nhà văn Nguyễn Quang:

    vietnamhumanrights.net/English/aboutus.htm

    vietnamhumanrights.net/viet/aboutus.htm

  • Sinh Hoạt,  Tin tức,  Vương Trùng Dương

    Nhà Văn Nguyễn Quang, Văn Chương & Cuộc Tình Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh

    Chiều Thứ Sáu, 17/5/2024, nhân ngày giỗ cố nhạc sĩ Lam Phương tại tư gia Minh Khai (em gái Lam Phương) thành phố Fountain Valley, Nam California. Vì trong tình thân hữu nên chỉ có ít thân hữu và Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tham dự.

    Nhà văn Nguyễn Quang và tôi ra sân sau trò chuyện, ông cho biết sẽ thực hiện hồi ký lịch sử viết tiếng Anh vì cuộc đời đã trải qua giai đoạn thăng trầm từ thập niên 1940’ cho đến nay qua tám thập niên. Tôi nghĩ tác phẩm nầy sẽ có giá trị vì tác giả là chứng nhân thời cuộc ghi lại từ trong nước đến hải ngoại.

    Cuối tháng 5/2024, người bạn gợi ý với tôi việc thực hiện tuyển tập (tổng quát) với các nhà văn, nhà thơ lão thành trên chín mươi tuổi còn sống và sáng tác vào năm 2025 để đánh dấu nửa thế kỷ văn học hải ngoại. Đây là ý kiến hay, ở Mỹ đã có chúng tôi và sẽ liên lạc với vài bạn văn phương xa.

    Ở Little Saigon, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thọ 103 tuổi, lúc trên 90 tuổi vẫn còn sáng tác. Nữ sĩ Dương Hồng Anh, 93 tuổi ra mắt thi phẩm thứ 12 Những Gì Để Nhớ vào mùa xuân 2024… Nhà văn Nguyễn Quang (phu quân cố nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh) ở tuổi 93 vẫn còn minh mẫn, viết lách và sẽ ấn hành tác phẩm. Khi bạn tôi vào Google tìm “nhà văn Nguyễn Quang” thì không biết gì cả! Tôi cảm thấy đây là sự thiếu sót của chính bản thân và vài bạn cầm bút quen biết khi viết về nhà văn Nguyễn Quang mà không phổ biến rộng rãi trên các websites với nhà văn đã một thời dấn thân cho văn nghiệp nhưng bản tính khiêm nhường và chỉ quan tấm đến người bạn đời (tác phẩm và cuộc sống) nên có lẽ phần nào bị “đóng khung” trong sự nghiệp văn chương.

    Tháng 6/2024 là ngày giỗ nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (nhà báo, nhà thơ, nhà văn) nên nhân dịp nầy tôi viết về cuộc tình của bà với nhà văn Nguyễn Quang. Nữ sĩ MĐHT nổi tiếng từ trong nước đến hải ngoại, và cũng là người phục hồi lại Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nên tên tuổi bà được mọi người biết đến nhưng “Đằng sau một người đàn bà thành công luôn có bóng dáng người đàn ông” ở trường hợp nầy. Trong thời gian qua, tôi thấy có vài tác phẩm về văn học hải ngoại không đề cập đến các tác giả đã hiện diện trong những thập niên qua (ngay cả nhà văn Linh Bảo).

    Hơn mười năm qua, tôi không còn phụ trách mục sinh hoạt văn nghệ cho tờ báo nên ít tham dự trong những buổi ra mắt sách, ngoại trừ tác giả thân quen và trong nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng thời Gian (nhưng có các bài viết của Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My…)

    Nhà văn Nguyễn Quang đã ấn hành nhiều tác phẩm và đã từng ra mắt sách (RMS) nhưng đến năm 2022, tôi mới ghi nhận: RMS Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân.

    (Trích): “Ban Tổ Chức Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức buổi RMS hai tác phẩm Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang tại hội trường Thư Viện Việt Nam, thành phố Garden Grove. Nhà văn Nguyễn Quang là phu quân nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017). Tuy bước sang tuổi 90 nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn khỏe mạnh và hoàn thành hai tác phẩm thứ 8 & 9: Phận Đàn Bà & Ôn Cố Tri Tân.

    Nhà văn Nguyễn Quang (Nguyễn Quang Huy) sinh quán tại Phú Nổ, làng Khánh Hưng, Tỉnh Sóc Trăng, du học tại Pháp từ năm 1950, đỗ Cử Nhân Toán. Năm 1955-1962, theo học tại đại học Cambridge ở Anh, đỗ Cao Học Kinh Tế (nay gọi là Thạc Sĩ). Ông trở lại Pháp, làm việc cho nhiều nhà xuất bản tuần báo ở Paris. Ông làm phó chủ bút cho tờ Paris Match…

    Tuy xa quê hương gần bảy thập niên nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn nặng tình với quê hương vì vậy qua các tác phẩm của ông mang hình ảnh và tâm thức người Việt tha hương với cội nguồn dân tộc. Cũng vào thời điểm nầy, Chủ Nhật, 13/4/2014 tại hội trường Thư Viện Việt Nam, nhân dịp sinh nhật 83 tuổi, nhà văn Nguyễn Quang đã ra mắt tác phẩm Một Giấc Mơ. Nhà văn Nguyễn Quang cho biết: “Đây là tác phẩm để tưởng niệm các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968. Bày tỏ sự tôn kính lòng kiên quyết của các bà vợ, của các Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong ngục tù cộng sản”.

    Trong tác phẩm Phận Đàn Bà (“Đau đớn thay phận đàn bà” – Nguyễn Du), nhà văn Nguyễn Quang đã khéo léo trong việc sử dụng những hình ảnh, ngôn ngữ, hoàn cảnh để so sánh, để ví von. Lời văn ẩn dụ những sinh hoạt quen thuộc hàng ngày trong một gia đình tưởng như hoàn mỹ, để truyền tải sâu sắc ý tưởng của mình. Đọc tác phẩm Phận Đàn Bà cho chúng ta ba ý niệm khác nhau, cả ba phần đều đề cặp đến cuộc đời, danh phận cũng như sự kiên nhẫn, nhịn nhục và chịu đựng của người đàn bà.

    Phần một thuộc thể loại tình cảm xã hội về một gia đình được coi là lý tưởng nhưng lại trải qua nhiều uẩn khúc như sự giằng co giữa lương tâm nghề nghiệp, bổn phận với vợ con và trách nhiệm với người tình.

    Trong phần thứ hai thì lại đặt nặng về phần văn hóa xoay quanh những tranh luận về phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia. Phần này rất có ích cho những ai muốn học hỏi, nghiên cứu để mở mang kiến thức.

    Phần thứ ba là những câu chuyện qua từng mẩu chuyện mà tác giả đã thu nhận được từ bạn hữu, từ những mẩu chuyện “đàn ông đàn bà”, những chuyện do “mắt thấy tai nghe“, được ông ghi lại trên trang giấy. Trong từng mẩu chuyện, với tâm hồn nhận bản, phác thảo bức tranh về nhân tình thế thái…

    Về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang ôn lại lịch sử nước Việt, từ thời Hồng Bàng với các vị vua Hùng Vương, rồi qua các triều đại Lý, Lê, Trần, Nguyễn… đất nước ta trải qua ngàn năm Bắc thuộc, gần 100 năm Pháp thuộc, chiến tranh Quốc Cộng, thời CSVN thống trị…

    Thành ngữ “Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ” (ngẫm nghĩ việc xưa để hiểu việc nay). Tác giả gợi lại bài học lịch sử từ thời lập quốc trải qua các thời kỳ Bắc thuộc từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên đến thế kỷ mười lăm sau công nguyên với các bậc anh thư, anh hùng dân tộc yêu nước đã đứng lên chống trả quân xâm lược. Thời kỳ Pháp thuộc với những sĩ phu yên nước dân thân cho đại cuộc… Thời kỳ Cộng Sản xâm nhập cho đến hiện tại với thảm họa như quá khứ… Với tinh thần bất khuất của người dân Việt, noi gương những bậc tiền nhân để xây dựng lại trang sử vàng son.

    Tác phẩm văn chương mang tâm huyết của người Việt lưu vong cho thế hệ hiện tại và các thế hệ tiếp nối có giá trị về bài học lịch sử Việt Nam suy ngẫm để xây dựng đất nước trong tương lai thanh bình, thịnh vượng.

    Những bài học từ quá khứ để suy nghiệm hiện tại. Trước đây, tôi có giới thiệu khái quát về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân, trong đó có nhắc đến: “Cụ Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942) tự Ôn Như là nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam. Tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Hán, tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ. Quyển Cổ Học Tinh Hoa (cùng Trần Lê Nhân) ấn hành năm 1928 đến nay gần một thế kỷ vẫn được ấn hành và lưu truyền. Hai vị biên soạn đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu những tinh hoa của nền cổ học phương Đông. Với 250 mẩu chuyện liên quan trong cuộc sống, con người, cách xử sự sao cho phù hợp với từng nơi từng lúc. Có thể nói đó là cuốn sách “dạy làm người” để biết nhìn nhận “cái xưa” để xử thế “cái nay” mà qua từng mẩu chuyện với lời bàn rất hữu ích.

    Nhà văn, dịch giả Mộng Bình Sơn (1923–2011) đã viết nhiều tác phẩm, trong đó có quyển Ôn Cố Tri Tân gồm 3 tập, ấn hành năm 1967, Sống Mới xuất bản tại Sài Gòn. Dẫn chứng hai quyển sách của người xưa của nước ta về Ôn Cố Tri Tân vẫn còn giá trị trong cuộc sống. Sau nầy nửa thế kỷ ở hải ngoại, tác giả Nguyễn Quang nay ở tuổi chín mươi mốt vẫn mang hoài bão của bậc cao tuổi nơi quê người qua tác phẩm…

    Trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang như Nhập Gia (2007), Ông Giáo Làng (2009), Ốc Mượn Hồn (2012), Một Giấc Mơ (2013), Ngoại Tình (2016), Thần Giao Cách Cảm (2017), Ôn Cố Tri Tân (2020) và Phận Đàn Bà (2022)… có vài tác phẩm đã RMS ở Trung Tâm Minh Đức và Thư Viện Việt Nam, Little Saigon.

    Cuộc Tình cùng Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh

    Nữ Sĩ Minh Đức Hoài Trinh (MĐHT) tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó biết sự lợi dụng của phong trào, bà bỏ về Huế tiếp tục học. Năm 1964, bà du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Á Đông La Sorbonne, Paris. Năm 1967, bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF (Office de la Radiodiffusion et Television Francaise, tiền thân đài RFI hiện nay), làm phóng sự nhiều nơi như Algérie (Bắc Phi) và Việt Nam.

    Năm 1972, bà được cử theo dõi và tường thuật Hòa Đàm Paris. Năm 1973, bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, từ năm 1974 đến năm 1975. (Hai bài thơ của bà được Phạm Duy phổ thành ca khúc Kiếp Nào Có Yêu Nhau & Đừng Bỏ Em Một Mình. Ngoài ra nhạc sĩ Võ Tá Hân, cháu gọi cô, phổ những bài thơ qua ca khúc Mẹ bảo ta đừng nhìn qua cửa sổ, Mẹ bảo, Nhớ mẹ, Thức thêm một giờ nữa, Viết bài thơ này… Bài thơ Ai Trở Về Xứ Việt  (1962) do Phan Văn Hưng phổ nhạc cũng nổi tiếng).

    Sau biến cố tang thương 1975, bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí Hồn Việt Nam và trở lại cộng tác với đài ORTF. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhận tư cách hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế vào năm 1979. Với các tác phẩm của MĐHT như Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang, Paris 1976)… với sữ hỗ trợ của phu quân.

    Mùa Xuân năm 1971, MDHT làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp (một trong những đài truyền hình lâu đời nhất thế giới), mời nhà văn Nguyễn Quang tới phỏng vấn trên đài. Từ buổi gặp gỡ đó, có sự đồng cảm với nhau.

    Khi trở lại trong Hiệp Định Paris, trong tinh thần yêu nước của người Việt và nhóm sinh viên lúc tranh đấu cho Việt Nam Cộng Hòa, cùng lý tưởng, hai trái tim họ gặp nhau.  Vì công việc bà trở lại Sài Gòn, năm 1975 định cư tại Paris, nhà văn Nguyễn Quang và nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh nên duyên vợ chồng (trước đó ông và bà đã có con riêng).

    Năm 1980, nhà văn Nguyễn Quang sang Mỹ với người bạn đời Minh Đức Hoài Trinh (các con ở lại Pháp). Với bằng cấp chuyên môn ở Anh, ông tiếp tục với lãnh vực nầy. Với hoài bão sáng tác của nữ sĩ MĐHT, ông tận tình thực hiện và phổ biến. Những tác phẩm của nữ sĩ MĐHT đều do phu quân thực hiện như Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư I (tái bản 1987), Niệm Thư II (1988), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990), Bất Đáo Trường Thành Phi Hảo Hán (1990), Ngõ Trúc (1997), Chính Khí Của Người Cầm Bút (2014)… nhất là tác phẩm Văn Nghiệp & Cuộc Đời của Minh Đức Hoài Trinh, RMS tại Hội trường nhật báo Người Việt ngày 17/9/2005, tác phẩm nầy được RMS ở các nới khác (bà không viết hồi ký nên tác phẩm nầy với công việc biên soạn của ông đóng góp cho nền văn học). Ông viết: “

    Nhà văn Nguyễn Quang chia sẻ về người bạn đời:

    “Trong lúc tôi soạn đọc một số lớn tư liệu của Minh Đức Hoài Trinh, ngẫu nhiên tìm ra một mảnh giấy nhỏ viết tay viết từ ngoài chiến trường, dù bị gián đoạn, chỉ có một vài dòng nhưng tôi cảm nhận được tâm tư xót xa của một ký giả chiến trường, tôi rất xúc động nên muốn chia xẻ cùng quí độc giả như sau:

    “Mùi hôi không cản được tình thương”, Minh Đức Hoài Trinh.

    “Đi đếm xác chết đó là một công việc tôi hay làm trong những năm hành nghề ký giả. Ai nghe nói cũng nhắm mắt rùng mình, kêu ghê, kêu sợ, kêu eo ôi gì mà kinh thế. Nhưng mỗi người, nhất là mỗi đứa sống với cái nghề cầm bút thường mang một chứng điên khác nhau riêng biệt. Ở giai đoạn chiến tranh lịch sử nầy mà không cầm súng ra trận thì cũng phải làm một cái gì. Nói cầm súng ra trận không phải là tại thích nhìn cảnh bắn giết nhau, nhưng để nghe những tiếng khóc của chính trong lòng mình. Khóc người đang quằn quại, đang gục ngã, đang hấp hối. Đi tìm cảm giác lạ, mỗi người “viết sĩ đi tìm một nẻo khác nhau, bên bàn đèn, trong cánh tay, mái tóc tình nhân, trong hộp đêm trong điệu nhạc, hoặc là những đứa như tôi, thẩn thờ quanh quẩn bên mấy cái xác chết. Tại sao tôi không đi tìm cảm hứng ở những nơi khác, chính tôi cũng có lần đặt câu hỏi tại sao?

    Có lẽ vì tò mò muốn nhìn xem những cái xác ấy mới hôm qua còn thơm sạch, còn cười nói, ăn uống, những sự học hỏi, suy nghĩ, những lời đùa vui dí dỏm mới ngày hôm trước đã phát ra từ cái mắt cái miệng ấy. Thế rồi chỉ một tiếng nổ, một lát gươm, tất cả đều tiêu tan, không phải được thành mây khói…“. “

    Minh Đức Hoài Trinh lặn lội săn tin trên các vùng lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, ghi nhận những sự kiện giao tranh mất còn, từ miền Nam ra miền Trung. Miền Trung là nơi sinh quán và miền Nam là nơi trú quán.

    Sau những cuộc chiến có những tử sĩ con yêu của miền Nam Việt Nam hay những chàng trai thế hệ của QLVNCH đã vĩnh viễn ra đi vì bốn chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn”, trong bài viết “Mây Trên Đèo Hải Vân”, Minh Đức Hoài Trinh viết: “Trực Thăng từ từ hạ cánh chúng tôi trở về phòng đợi. Đợi mây tan nhận nụ cười an ủi trên môi người phi công kiên nhẫn, chỉ có thế không có cách gì khác. Mãi đến hai giờ chiều chúng tôi trở lên trực thăng. Chiếc áo quan vẫn còn nằm đấy, y nguyên…

    Mây đã chịu tan bớt đi trên đỉnh đèo, trực thăng đã đủ sức vượt qua làn mây. Phi trường Phú Bài không mở chúng tôi đỗ ở phi trường Đại Nội trong thành Huế.

    Trước khi ra khỏi phi cơ tôi quay lại nhìn cái hòm, nhìn cái hòm lần cuối cùng, nhìn người chết, nhìn lá cờ VNCH, thì thầm một lời vĩnh biệt. Anh ngủ cho yên và lá cờ hãy che chở cho anh”, Minh Đức Hoài Trinh.

    Trong tác phẩm Ngoại tình của ông với câu chuyện tình rất lãng mạn, đẹp trích vài câu thơ tiếng Pháp để nói về tình yêu. Cuộc tình của ông, từ khi gặp nhau ở Pháp và sang Hoa Kỳ cũng vậy nhưng không ghi lại. Những năm cuối đời, nữ sĩ MĐHT ốm yếu, bệnh hoạn được phu quân tận tình chăm sóc cho đến khi bà về cõi vĩnh hằng. có người cho rằng nữ sĩ MĐHT nổi tiếng, “cây đại thụ” với ông (?) nhưng với tôi, ông chính là “cây đại thụ” chăm sóc cho những tác phẩm của bà qua những thập niên xuất hiện trên văn đàn hải ngoại. Ông chính là bạn văn, bạn đời tận tụy, thủy chung trong cuộc sống.

    Nhà Văn Nguyễn Quang & NVNT – TTG

    Khoảng mười năm nay, nhà văn Nguyễn Quang sinh hoạt với Nhân Ảnh Tân Văn và sau nầy thành Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian

    Với tuổi già tham gia cùng bạn trẻ (theo tuổi tác của ông) là niềm vui và cũng là niềm khích lệ trong sinh hoạt đời sống và văn nghệ. Mọi cuộc sinh hoạt trong nhóm nầy đều có sự hiện diện của ông. Khi nữ sĩ Minh Dức Hoài Trinh qua đời (chiều Thứ Sáu, 9 tháng Sáu, tại bệnh viện Huntington Valley Healthcare Center, Huntington Beach. Hỏa táng tại Peek Funeral Home, Chủ Nhật 25/6). Để an ủi nỗi buồn sống cô đơn của ông, nhóm nầy cũng thường đến hội ngộ tại tư gia của ông (tôi nhớ khoảng cuối năm 1990, vài lần ghé ngôi nhà của ông bà có hàng trúc phía trước nên gọi là “đường trúc thư quán” sau nầy chuyển về khu người già gấn đó cũng thuộc Midway City – Thị Trấn Giữa Đàng).

    Theo nhà văn Việt Hải con chim đầu đàn, trong phần phát biểu và cám ơn quan khách, ông đã chia sẻ như sau: “Nói đến nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, năm 2015 khi đó chúng tôi chỉ có 5 người. Tôi, GS Trần Mạnh Chi, HS Lưu Anh Tuấn, Ngô Thiện Ðức và Lý Tòng Tôn. Ngày nay, bao gồm thành viên và các thân hữu ở khắp nơi chúng tôi có khoảng 4, 5 trăm người. Chủ trương chính của chúng tôi tập trung trên hai mảng văn học nghệ thuật và âm nhạc. Bên VHNT thì lo về in ấn, tưởng niệm và ra mắt sách của một số các nhà văn nổi tiếng và một số đã khuất núi. Bên Tiếng Thời Gian lo phần âm nhạc cho các buổi ra mắt sách. Ngoài ra chúng tôi cũng thành lập một khoá giảng dạy âm nhạc căn bản cho thành viên của nhóm…”

    Nhà ăn Khánh Lan, người đảm trách blogpot NVNT & TTG từ tháng 5/2018 cho đến nay đã phổ biến vài trăm bài viết, sơ lược các sinh hoạt trong quá khứ của nhóm như tổ chức các buổi ra mắt sách của các văn, thi, nhạc sĩ… vinh danh và chúc thọ các vị tiền bối, tổ chức các buổi party và mừng sinh nhật.

    Trong 9 năm qua, mỗi năm thường tổ chức 5, 6 lần từ Tất Niên đến Giáng Sinh trong đó có vài lần ra mắt sách, sinh nhật, chúc thọ… Với “cây nhà lá vườn” nhiều ca sĩ trong nhóm đóng góp cho chương trình văn nghệ đa dạng, phong phú vì vậy việc tổ chức dễ dàng.

    Hơn ba thập niên làm báo, tôi đã tham dự nhiều lần sinh hoạt nhưng với nhóm nầy tôi cảm thấy sự đồng tình, thân thiện “mỗi người một tay” cùng nhau góp sức và tài chánh cho việc chung, rất quý. Với tinh thần tự nguyện và tự lập nên nhóm NVNT & TTG đã đóng góp nhiều lần sinh hoạt không bị tai tiếng…

    Trở lại với nhà văn Nguyễn Quang, với tác phẩm Một Giấc Mơ (2013, RMS tại Thư Viện Việt Nam, tháng 5/2014) ông cho biết: “Đây là tác phẩm để tưởng niệm các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968. Bày tỏ sự tôn kính lòng kiên quyết của các bà vợ, của các Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong ngục tù cộng sản”.

    Hình bìa tác phẩm với cô gái mặc  áo dài trắng với một bông hồng, tôi rất thích.

    Nhạc sĩ Lê Văn Khoa là người Cần Thơ, khi giới thiệu tác giả đã nhắc đến phu nhân của tác giả là nhà thơ Minh Ðức Hoài Trinh mà ông rất ngưỡng phục từ lâu nay. Nhắc đến tác phẩm của Nguyễn Quang được ra mắt, ông nói: “Một Giấc Mơ” của Nguyễn Quang là một giấc mơ không chỉ của cá nhân tác giả, mà là một giấc mơ vừa thương đau vừa thơ mộng của cả một dân tộc, lồng trong một cuộc tình của đôi nam nữ thời chinh chiến”

    Nhà giáo Lưu Trung Khảo nói: “Nhà văn Nguyễn Quang, xuất ngoại, xa đất nước từ năm 1950, hết ở Pháp, đến ở Anh rồi qua Hoa Kỳ mà vẫn còn nhớ đến tiếng Việt, không chỉ nhớ mà còn viết nên những tác phẩm cho các thế hệ sau muốn tìm hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của đất nước. Văn ông viết xuất sắc. Ngôn ngữ Việt Nam mà còn tồn tại được là chính từ những nhà văn của chúng ta còn sáng tác. Là một nhà giáo, tôi xin được trân trọng cảm ơn sự đóng góp của nhà văn Nguyễn Quang vào kho tàng văn học Việt Nam hải ngoại”

    Tuy xa quê hương hơn bảy thập niên, nhà văn Nguyễn Quang vẫn luôn nặng tình với quê hương vì vậy qua các tác phẩm của ông mang hình ảnh và tâm thức người Việt tha hương với cội nguồn dân tộc. Đó cũng là tâm thức của nữ sĩ MĐHT, cùng tâm hồn, đồng cảm, lý tưởng với nhau cuộc tình.

    Hiện nay, theo tôi, chỉ có nhóm NVNT & TTG mới đủ tài liệu và gần gũi nhà văn Nguyễn Quang để thực hiện tác phẩm Nhà Văn Nguyễn Quang, Cuộc Đời, Tình Yêu & Sự Nghiệp để góp mặt trong văn đàn Việt Nam hải ngoại.

    Vương Trùng Dương, Little Saigon , June 12, 2024

    From Giáo Sư Trần Huy Bích

    Tôi xin góp thêm một ý: Chúng ta không nên quên sự kiện từ nhiều năm nay, nhà văn Nguyễn Quang vẫn tích cực hoạt động trong Mạng Lưới Nhân Quyền VN (Vietnam Human Rights Network):

    (Vietnam Human Rights Network.

    vietnamhumanrights.net/viet/aboutus.htm

    Tố chức này theo dõi và lên tiếng mạnh mẽ mỗi khi nhà cầm quyền CS vi phạm, rồi đàn áp những tiếng nói bênh vực cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở trong nước, soạn các bản Báo cáo hàng năm về tình trạng nhân quyền ở VN, và cấp Giải thưởng cho những chiến sĩ tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền.

    Trong tổ chức này, nhà văn Nguyễn Quang giữ chức vụ Thủ Quỹ. Có nghĩa nếu chúng ta (hay bất cứ ai) ký một chi phiếu để ủng hộ các hoạt động của Mạng Lưới Nhân Quyền, thì người thay mặt tổ chức ấy ký bức thư cám ơn chúng ta, không ai khác hơn là nhà văn Nguyễn Quang:

    vietnamhumanrights.net/English/aboutus.htm

    vietnamhumanrights.net/viet/aboutus.htm
  • Âm nhạc,  Khánh Lan

    DÒNG NHẠC BOLÉRO

    BOLERO VÀ NGUỒN GỐC

    Sánchez (guitar, left) and Emiliano Blez (tres) with three singers (standing)

    Bolero là một thể loại âm nhạc, kèm theo nhạc cụ và khiêu vũ, bắt nguồn từ thành phố Santiago de Cuba và lan rộng khắp Cuba. Santiago là một thành phố phía đông nam đảo quốc Cuba, nơi thịnh hành những nghệ sĩ du ca dùng guitar đàn hát để lưu diễn và kiếm sống trong ba thập niên cuối của thế kỷ 19.  Những sáng tạo đầu tiên của bolero đều từ Santiago. Một trong những người tiên phong, chủ xướng, định hình phong cách đặc trưng cho bolero là Pepe Sánchez (1856 – 1918), một nghệ sĩ – thầy giáo, người đã sáng tác bản bolero đầu tiên Tristezas (Những niềm đau) vào khoảng năm 1883.

    Pepe Sánchez (1856 – 1918)

    Với giai điệu sang trọng, tinh tế, những bài bolero với sức hấp dẫn của âm nhạc nhảy chậm buồn và lãng mạn, giai điệu bolero nhanh chóng lan truyền sang Mexico và các quốc đảo ở vùng Caribe cũng như các quốc gia Nam Mỹ như Brazil, Argentina, Colombia, Chile, Venezuela, Ecuador, Bolivia và Tây Ban Nha.

    Thời kỳ hoàng kim của bolero ở các quốc gia Mỹ Latin bắt đầu từ những năm 1930 và kéo dài liên tục trong suốt ba thập kỷ, với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như: Antonio Machin, cặp song ca Los Compadres (Cuba), nhóm nhạc Los Panchos, Los Hermanos Martínez Gil và Trío Tarácuri, Agustín Lara (Mexico),… , Lucho Gatica (Chile)… Thời kỳ này, bolero cũng ảnh hưởng sang thế giới nói tiếng Anh, được biểu diễn bởi nhiều nghệ sĩ Mỹ như: Bing Crosby, Nat King Cole hay Frank Sinatra.

    Bolero du nhập vào các quốc gia vùng Caribe và Nam Mỹ được đón nhận nồng nhiệt bởi nó gần gũi với kiểu chơi nhạc lãng mạn, trữ tình và phóng khoáng của người Mỹ Latin và đương nhiên Bolero trở thành âm nhạc của quần chúng. Những bản bolero nổi tiếng bậc nhất thế giới, minh chứng cho những đỉnh cao và sự bền bỉ của một trong những dòng nhạc đứng vững như một biểu tượng văn hóa đại chúng của các nước Mỹ La Tinh. Theo hai tác giả Lisa Shaw, Stephanie Dennison của cuốn sách Pop Culture Latin America: Media, Arts, and Lifestyle (Văn hóa đại chúng Mỹ La Tinh: Truyền thông, Nghệ thuật và Lối sống), hầu hết giới nghiên cứu cho rằng nhạc bolero xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 19. Những bài bolero đầu tiên khởi sinh từ Cuba, nhanh chóng lan tỏa sang các đảo quốc ở vùng biển Caribbean và Mexico.

    THĂNG TRẦM CỦA TRĂM NĂM

    Nhạc sĩ hai nước Cuba và Mexico có công phát triển bolero, biến tấu nó với các giai điệu tương tự viết theo phép ký âm 4/4, tạo ra một dòng nhạc bolero mới; xôn xao hơn, rực rỡ hơn, lãng mạn hơn và đậm chất Latin. Dòng nhạc bolero này bao gồm các điệu bolero, rumba, rumba bolero, mambo, calypso, baiao; kể cả tango, tango habanera, chachacha. Mẫu số chung là kiểu viết nhạc 4/4 tương tự nhau; chỗ khác nhau là cách thức biểu diễn ca khúc.

    Như các thể loại khác, bolero được cho là từ một điệu nhạc nhảy theo nhịp ¾ ở Tây Ban Nha vào thế kỷ 18, nhưng điệu bolero mới này đã thay đổi nhịp thành 2/4, và sau đó là nhịp 4/4. Tuy nhiên, nó cũng bị pha trộn bởi nhiều điệu nhạc gốc Châu Âu và Châu Phi như danza, habanera, trova, son bởi tiếng đệm đàn guitar ảnh hưởng lên giai điệu.

    Los Panchos là một trong những nhóm nhạc bolero nổi tiếng khu vực châu Mỹ La tinh vào những năm 30 của thế kỷ 20. Những bản tình ca sang đã làm rung động hàng triệu con tim như “Besame Mucho”, “Guantanamera”, “My Heart Will Go On” hay thậm chí “Yesterday” của nhóm nhạc lừng danh. Có lẽ bản bolero nổi tiếng nhất trong lịch sử chính là Bésame mucho (Hãy hôn em thật nhiều, 1941), được nữ nghệ sĩ người Mexico Consuelo Velásquez sáng tác vào năm cô chỉ mới 15 tuổi.

    BOLERO TẠI VIỆT NAM

    Bolero du nhập vào Việt Nam, khoảng đầu thập niên 1950, lúc phong trào tân nhạc Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Nhiều nhạc sĩ bắt đầu sử dụng giai điệu phương Tây thay cho giai điệu truyền thống. Nền tân nhạc của Việt Nam đã nhanh chóng thẩm thấu giai điệu bolero và biến nó thành một dòng nhạc tình ca. Bolero được sử dụng phổ biến nhất trong các bài nhạc tại miền Nam Việt Nam, và trở thành một phần quan trọng của văn hóa âm nhạc dân gian Việt Nam.

    Đặc điểm của điệu Bolero trên thế giới được các nhạc sĩ áp dụng sáng tác trong cả nhạc cổ điển lẫn nhạc đại chúng. Ở Việt Nam, bolero được áp dụng để sáng tác cho loai nhạc nhẹ bởi khi Bolero du nhập vào Việt Nam được Việt hóa cho hợp với lối nói phát âm của người Việt. Boloro Việt Nam hát theo kiểu truyền thống, ngân rung, làm cho bài hát trở nên vừa dễ hát, vừa dễ thuộc. Ngoài ra nó còn rất hợp với chất cải lương, để hát tân cổ giao duyên.

    ĐẶC ĐIỂM QUAN TRỌNG CỦA NHỮNG BÀI HÁT VIẾT BẰNG ĐIỆU BOLERO VIỆT NAM LÀ:

    • Nhiều bài hát mang đậm chất dân ca Nam Bộ.
    • Giai điệu cấu trúc đơn giản, tiết tấu đều đều, chậm, thường là nhịp 4/4, ít biến đổi nhịp, ít quãng cao, dễ hát, khi hát thường luyến láy, cho mềm mại và mùi mẫn.
    • Lời ca bình dân, có nhiều vần và dễ thuộc, dễ nhớ.
    • Có các đặc điểm như khái quát, buồn.

    Nhạc Bolero rất phổ biến tại miền Nam Việt Nam, và trở thành một phần quan trọng của văn hóa âm nhạc dân gian Việt Nam. Một nhạc sĩ tài hoa kiêm nhà nghiên cứu âm nhạc đã thành công bài rumba bolero đầu tiên, và trở thành bài tình ca nổi tiếng trong thế kỷ 20. Đó là nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn với ca khúc Nắng chiều, NS Anh Hoa là người đã nối gót NS Lê Trọng Nguyễn với ca khúc “Trăng phương Nam”, và tiếp theo là “Chiều trong rừng thẳm” của Anh Việt sáng tác trước 1954.

    NẮNG CHIỀU QUA THỂ LOẠI BOLERO

    Nắng Chiều là tên của một nhạc phẩm nổi tiếng của NS Lê Trọng Nguyễn viết trước năm 1950 và hoàn tất năm 1953. NS Lê Trọng Nguyễn với bài tình ca viết dưới thể điệu rumba bolero đầu tiên có sức chinh phục, cuốn hút người nghe đã đem đến một sự thành công vượt bực bởi những ca từ trong Nắng chiều giàu tính văn học, giàu chất thơ, nhẹ nhàng và lãng mạn. Nó thoát ra hẳn phong cách xôn xao, rực rỡ và khá nhanh của dòng bolero Mỹ Latin; tạo nên một phong cách bolero Việt Nam chậm và kể lể (lento recitativo), chậm và diễn cảm (lento expressivo). Nắng chiều với phong cách rumba bolero đã trở thành bài tình ca đẹp của thế kỷ thứ 20 trong âm nhạc Việt Nam. Nắng chiều không chỉ chinh phục khán thính giả Việt mà còn vươn ra ngoài biên giới.

    • Nhạc phẩm Nắng Chiều được các nhà xuất bản An Phú (Sài Gòn), Tinh Hoa Sài Gòn và Huế in ra nhiều lần thành bài rời; mỗi lần in khoảng 3.000 bản.
    • Ca khúc Nắng Chiều được thu thanh lần đầu tiên năm 1953 bằng đĩa do Hãng đĩa Việt Nam (Sài Gòn) sản xuất với tiếng hát của danh ca Minh Trang và NS Lê Trọng Nguyễn là người đã soạn hòa âm và phối khí cho dàn nhạc chơi bài này.
    • Năm 1958, nữ ca sĩ Nhật Bản Satsuki Midori gặp Lê Trọng Nguyễn và đã dịch bài hát sang tiếng Nhật với tựa đề Việt Nam tình ca, thu thanh ở Tokyo. Cũng trong năm 1958, nhạc sĩ Nguyễn Hiền là người điều hợp viên chương trình văn nghệ của Hội Chợ Thị Nghè, ông đã giới thiệu nhạc phẩm này với Midori Satsuki trong đoàn Ca Vũ Nhạc Nhật Bản Toho và mời cô sang trình diễn lần đầu tiên tại Hội Chợ liên tiếp trong hai tuần lễ.
    • Năm 1960, nữ ca sĩ Đài Loan Kỷ Lộ Hà cũng đã hát và thu thanh bài Nắng Chiều bằng tiếng Quan thoại, tựa đề là Tịch dương hay Việt Nam Tình Ca hay Nam Hải Tình Cado Thận Chi đặt lời. Nhạc phẩm này đã được dân chúng Đài Loan và Hồng Kông đón nhận nồng nhiệt cũng như báo chí tại hai nơi này đăng tin Nắng Chiều là một trong những bài tình ca hay nhất.
    • Sau đó, Nắng chiều còn được dịch qua tiếng Anh, tiếng Thái, tiếng Khmer và trở thành một bài Á châu tình ca!
    • Năm 1971, bài hát là nguồn cảm hứng cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Lê Mộng Hoàng.
    • Ngày 20 tháng 8 năm 2005, “Nắng Chiều” được nữ ca sĩ trẻ Doanh Doanh trình bày bằng tiếng Trung Hoa trong chương trình video có thu hình của trung tâm Asia tại thành phố Houston.
    • Sau này,Nắng chiều được phát liên tục trên Đài phát thanh Sài Gòn, Đài Pháp Á và Đài phát thanh Huế qua các giọng ca của các ca sĩ nổi tiếng như Quỳnh Giao, Mai Hương, Kim Tước, Hà Thanh, Anh Ngọc, Ngọc và được người yêu nhạc tán thưởng.

    VÌ SAO NHẠC PHẨM NẮNG CHIỀU TRỞ NÊN NỔI TIẾNG?

    Bởi những ca từ trong nhạc phẩm Nắng Chiều giàu tính văn học, giàu chất thơ, chứng tỏ NS Lê Trọng Nguyễn là con người từng thấu hiểu một cách sâu đậm văn chương Việt Nam. Nắng chiều được viết dưới phong cách rumba bolero và đã trở thành bài tình ca đẹp của thế kỷ thứ 20 trong âm nhạc Việt Nam. Bolero Việt Nam với phong cách chậm và kể lể (lento recitativo), chậm và diễn cảm (lento expressivo). Sau này, Lê Trọng Nguyễn tiếp tục lối sáng tác ấy để viết hai ca khúc Bến giang đầu (Nắng chiều 2) và Chim chiều không tổ. Hai ca khúc này đều viết với cung “re trưởng” với chất bolero thật đậm nét. Ông còn là người dung hợp các điệu nhạc đặc trưng của Mỹ và đảo Hawaii như jazz, blue, boston rock, slow để viết những bài tình ca khác. Cho đến ngày nay, nhạc phẩm Nắng Chiều vẫn giữ một vị trí ưu ái trong lòng khán giả mến yêu âm nhạc và đó là những điểm son của nhạc phẩm Nắng Chiều theo dòng thời gian.

    Tóm lại, Bolero đã trở thành một phần quan trọng của nền văn hóa âm nhạc Việt. Đem đến những giai điệu và lời bài hát sâu sắc, thể hiện những cảm xúc chân thành và tình yêu đích thực. Hy vọng qua bài viết trên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nhạc bolero và những giá trị mà dòng nhạc bolero mang sắc thái bolro tình tự dân tộc Việt Nam.

    Khánh Lan sưu tầm (May 25, 2024)