• Việt Hải

    CHỦ ĐỀ XA QUÊ HƯƠNG

    Sáng nay cô em Khánh Lan gởi cho tôi nghe bài hát Xa Quê Hương do cô sáng tác qua giọng hát của ca nhạc sĩ Lâm Dung. Bài hát theo thể loại buồn và tha thiết gói trọn niềm nhung nhớ của tác giả, hồi tưởng về quá khứ của 46 năm trôi qua khi cô bỏ nước ra đi, và nỗi cảm xúc của người con Việt trở về thăm lại quê hương sau 17 năm viễn xứ. Sự diễn tả diêu luyện, nhẹ nhàng, êm ái của Lâm Dung như quyện vào từng chữ trên khung nhạc khiến diệu nhạc, lời ca trở nên xa vắng, chất chứa đầy nỗi đau thương, cô độc. Bài hát đã để lại ít nhiều cảm xúc cho người thưởng thức vì nó chính là tâm trạng, cảm nghĩ của nhiều người Việt Nam chúng ta.

    Tôi được biết Khánh Lan ngoài sở thích văn học và vũ nghệ thuật (choreography), cô còn theo đuổi ngành âm nhạc như lyricist (parolière), dùng piano sáng tạo nguồn cảm hứng tìm làn nhạc (Melody) và với sự giúp đỡ của bạn bè âm nhạc như Lâm Dung, HạĐỏBích Phượng, Thuỵ Lan trong phạm vi sáng tác âm nhạc: viết ký âm (solfège), hoà âm (harmonie), và sáng tác (composition). Đây là những chủ đề về kỹ thuật mà người viết nhạc cần biết. Ngoài ra Khánh Lan cũng thủ đắc một vốn liếng phong phú về thi văn và thêm một tâm hồn nhạy cảm với cuộc sống xung quanh, nhất là yêu âm nhạc, yêu văn học, mê thi ca… lợi điểm này có thể giúp Khánh Lan tìm được nguồn cảm hứng sáng tác thêm trong dài hạn. 

    Mời các bạn thưởng thức nhạc phẩm: 

    XA QUÊ HƯƠNG

    Nhạc & Lời: Khánh Lan

    Hòa Âm & tiếng hát: Lâm Dung

    Chủ đề về Quê Hương là đề tài được nhiều ca nhạc sĩ dùng trong âm nhạc, một trong những nhạc phẩm nổi tiếng mà chúng ta không thể không nhắc đến, đó là bản Tình Ca của nhạc sĩ Phạm Duy. 

    “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi

    Mẹ hiền ru những câu xa vời

    À à ơi! Tiếng ru muôn đời

    Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

    Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi

    Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi

    Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi…”

    Tôi đã thuộc mấy câu hát ấy từ lâu lắm rồi, thuở tóc húi cua thì phải và vẫn ngợi đong đầy là bài “Tôi yêu tiếng nước tôi”.  Quê hương trong tâm thức tôi gồm quê nội Tây Ninh, Trảng Bàng…. Có những khóm tre, bụi trúc, cánh đồng lúa vàng, đàn trâu cày cấy lúa, v.v… Tôi viết: “Gởi Trảng Bàng, Gò Dầu và Tây Ninh. Tùy Bút Nhung Nhớ Quê Hương…

     Xa quê hương thì ai lại không nhớ, khi quê hương ngụp lặn trong nghèo khó thì lòng ta quặn thắt xót xa. Tôi đọc những bài viết cũ về quê hương, nỗi nhớ quê hương cứ mãi tràn dâng. Dù tình thế chưa thuận tiện cho bao người tại hải ngoại phải từ chối trở về quê hương, không có nghĩa là họ chối từ quê hương, nhưng bởi lẽ họ không chấp nhận nhà cầm quyền độc đoán, bất tài bất xứng hiện nay mà thôi. Mọi người chúng ta khi sinh ra đời, rồi khi lớn lên chứa chất những hoài niệm về một góc trời quê hương trong trí nhớ nào đó, và quê hương chính là cái nôi sưởi ấm con tim, quê hương ru ta mỗi khi buồn vì lưu vong xa xứ, hay quê hương ru ta về những kỷ niệm xa xưa. Tôi nhìn những đám lục bình trôi trên sông Mississippi ngày nào mà chạnh nhớ về những dòng sông quê nhà như Vàm Cỏ Đông hay Cửu Long giang, nhớ bâng quơ rồi tim tôi bồi hồi xao xuyến. Rồi khi viếng cao nguyên Napa có những con đường rợp bóng mát do những cây sồi (oak) mà tàn cây to chụm vào nhau, đi giữa mùa hè mà không thấy ánh nắng dẫn vào thành phố Oakvillle của miệt Bắc Cali, như dạo nào tôi đi xuyên qua những con đường làng lối trúc ngõ tre ở Trảng Bàng, tôi còn nhớ hai hàng tre dọc hai bên đường che phủ rợp trời, che kín ánh nắng cho bóng mát tuyệt đối để hồn thơ trong tôi dâng trào:

    “Tôi đi giữa lòng quê hương

    Nắng Cali như bóng mát Trảng Bàng”

    Đó là quê hương mang theo, như những hành trang theo tôi, có lẽ đến hết cuộc đời này, ôi quê hương nuôi ta từng ngày, ta mơ quê hương như yêu người tình.

    “Tây Ninh nắng cháy da ngừơi,

    Phố đông thân thiết hỡi ngừơi Tây Ninh?”

    Link: https://dongsongcu.wordpress.com/2020/05/20/noi-nho-que-huong-viet-hai-los-angeles/

    Vẫn quê hương mang theo lãng vãng trong tâm trí….

    “Hè về trong ký ức cũ của tôi có những kỷ niệm quê hương không bao giờ quên, hè về cho ve sầu ca vang một góc trời, hè về cho hoa phượng đỏ nở rộ trên cành, hè cũng là mùa có mưa, có nhiều loài côn trùng bay bay trong gió, và hè về để tôi nhớ mãi bài ca của Thanh Sơn:

    “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn, 

    Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương….”

    Link:  http://chimviet.free.fr/quehuong/viethai/vhan107_KyNiemQueHuongToi.htm

    Bài khác nữa,

    “Trong bài hát Con Đường Việt Nam, tác phẩm chung của hai nhạc sĩ Anh Bằng và Trúc Hồ nói về khung cảnh miền quê Việt Nam có bóng dáng con trâu gặp cỏ đường chiều, một vài em bé vui chơi thả diều, Bản nhạc tả cả một bầu trời quê hương Việt Nam thanh bình đáng yêu

    “Nhớ xưa con đi học

    Đường quê biên biệt màu nắng

    Bướm bay như mây vàng

    Dập dồn vui lây xóm làng….”

    Phạm Duy thường dùng hình ảnh con trâu trong tác phẩm của ông, như trong bài Bình Ca:

    “Này em con trâu già

    Nhiều năm trâu vất vả

    Cùng với bác xã nơi đồng quê

    Này em con trâu già

    Nằm chơi trâu nhai cỏ….”

    Cái tình nghĩa con người với con vật suốt cuộc sống cực khổ lam lũ của trâu vì kiếp của chúng được tạo hóa cho ra đời dưới cung mạng của một vì sao lầm than, nhưng chú Sửu là người gần gũi với loài trâu….” 

    Link: http://chimviet.free.fr/quehuong/viethai/vhan087.htm

    Quê hương với tôi có Nguyễn Xuân Hoàng với Nha Trang dấu yêu, hiền hoà của miền cát trắng….

    “Văn phong của Nguyễn Xuân Hoàng nhắc nhớ tâm hồn tôi về chốn đẹp quê hương, văn chương của ông cho tôi chút xao xuyến, chút bâng khuâng, và chút bồi hồi khi moi góc nhớ quê hương từ tiềm thức cũ mà hinh như đã chìm sâu vào quên lãng. Bài viết “Nha Trang Trong Mắt Tôi” ghi nhận tiếp…. 

    “Tôi hiểu vì sao tôi yêu những khóm dương trên biển hơn ngôi nhà, yêu bãi cát trên biển hơn chiếc giường tôi nằm chung với một đứa khác mỗi đêm… Nha Trang, thành phố của biển xanh, và cát trắng, của rừng dương, rừng dừa, của Hòn Chồng, Cầu Đá, của cầu Hà Ra, Xóm Bống, của Tháp Bà, của Lương Sơn, Đồng Ðế, …Nha Trang, thành phố ấy bao giờ cũng dính chặt vào trí nhớ tôi….”

    Link: http://www.ninh-hoa.com/VietHai-VanChuongTrietHocVaNguyenXuanHoang.htm

    Quê hương trong tôi có Vũng Tàu quê ngoại…. “Quê ngoại tôi ở Vũng Tàu mà quê nội lại ở tỉnh Tây Ninh, nên ngày xưa khi hè về anh em chúng tôi được luân phiên chia làm 2 tốp, nếu tốp này về thăm nội, tốp kia thăm ngoại, như thế hoán chuyển mỗi mùa hè khi được bãi trường hay nghỉ học. Cả hai địa danh này đều cho tôi nhiều kỷ niệm êm đềm đáng nhớ về sông rạch, về biển cả và cá, đặc biệt cá có râu whiskers. Tôi còn nhớ những ngày hè trước năm 75, khi quân đội đồng minh Mỹ và Úc đến vùng biển Vũng Tàu, thì nơi đây có sinh hoạt kinh tế rất sinh động, phồn thịnh và tấp nập. Ở tuổi trẻ thích vui khi được về Cấp, tôi theo ông ngoại tôi ban đêm ra Cầu Đá trước Ty Bưu Điện ở bãi trước Vũng Tàu câu cá đến khuya 1 hay 2 giờ sáng. Miệt biển có loại cá dứa tương tự như cá bông lau sông rất ngon. Thú câu đêm rất vui, hai ông cháu đèo nhau trên xe gắn máy ra biển. Để phòng cái lạnh về khuya tôi nhớ tôi trang bị cho mình chiếc quần blue jean dầy và khoác áo xanh lá cây treillis thật ấm của quân đội Hoa Kỳ những lần câu đêm như vậy. Sau khi thả mồi nhìn biển cả xa xa tâm hồn thư thái, an nhàn vô cùng, gió biển vào hè mát lạnh khi trời càng về khuya, thỉnh thoảng tôi ngó phao xem có cá cắn câu chưa. Đèn pha của ngọn hải đăng từ trên núi thỉnh thoảng quạt một vệt sáng trên trời, không trung có hàng triệu vì sao lấp lánh, những tinh tú ẩn hiện tận chân trời xa xăm cho thấy vũ trụ thật bao la….” 

    Link:  http://www.ninh-hoa.com/VietHai-CaTamTinhvaKyNiem.htm

    Với Khánh Lan, việc cho ra 4 tác phẩm văn hoc vào tháng 9 này, cô đang dự trù cho ra 4 sách mới về triết học và xã hội học như ngành học và kinh nghiệm việc làm trong quá khứ của cô. Việc khuyến khích những đàn em sáng tác văn học hay âm nhạc cần thì giờ, chia sẻ kinh nghiệm, những giúp đỡ cần thiết, v.v… Cám ơn quý niên trưởng, quý đàn anh, những Nguyễn Quang, Dương Ngọc Sum, Trần Huy Bích, Quyên Di, Phạm Hồng Thái, Vương Trùng Dương, Võ Tá Hân. Tôn chỉ của nhóm (Group team):

    “Tri ân người đi trước, Sánh bước người đi sau”.

    Cám ơn và cám ơn.

    Việt Hải

    Los Angeles, 15/07/2021.

  • Khánh Lan

    Hải Âu Viễn Xứ

    Cầm mảnh bằng tú tài toàn phần trong tay, Khoa đi thẳng đến Trung Tâm Tuyển Mộ Hải Quân điền đơn xin gia nhập khóa 21 Sĩ Quan Hải Quân, mặc cho sự ngăn cản của bố mẹ.  Từ thuở ấu thơ Khoa đã yêu biển xanh cát trắng và khi khôn lớn anh yêu nếp sống hải hồ, phóng khoáng và mênh mông của đại dương bao la.  Chính vì vậy mà Khoa luôn ước mơ trở thành một chiến sĩ trong binh chủng Hải Quân, bộ quân phục màu trắng như có một mãnh lực thu hút tâm trí anh.  Ngày Khoa được Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ) nhận đơn gia nhập khóa 21 Sĩ Quan Hải Quân, mẹ anh đa khóc rất nhiều, nhưng bố anh với nét mặt nghiêm nghị khuyên anh. 

    • Con đã nghĩ kỹ rồi đấy chứ?  Đây là một quyết định quan trọng cho cuộc đời và tương lai của con. 
    • Vâng, thưa bố.  Con đã nghĩ rất kỹ.
    • Thế thì được. 

    Khóa 21 có 3 đại đội đi thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung gồm các đại đội 18C, 19D và 20E thuộc tiểu đoàn Trương Tấn Bửu, liên đoàn B, trại Châu Văn Tiếp, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.  Trại Châu Văn Tiếp và Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung thì chẳng có gì xa lạ đối với Khoa vì gia đình anh đã sống trong trại gia binh dành cho gia đình sĩ quan hiện đang phục vụ tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung hơn 8 năm.  Trại lính và nhà Khoa chỉ cách nhau một con đường nên thường ngày anh đã nhìn thấy những sinh hoạt của các chú lính.  Chẳng những thế, thỉnh thoảng Khoa vẫn thường là cậu bé đưa thư của mấy chú lính bên kia hàng rào kẽm gai cho chị Thu An.  Do đó ước mơ trở thành người lính đã in sâu trong tâm khảm của anh từ khi bố anh thuyển chuyển về vùng ngoại ô thành phố Sài Gòn và nhận chức trưởng trại ở đây.  

    Khoa thuộc đại đội 19D nên Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ) gửi đi học tại quân trường Bộ Binh Thủ Đức.   Sau 5 tháng khổ cực nơi quân trường, trải qua những giai đoạn huấn luyện về căn bản quân sự và kiến thức cá nhân chiến đấu đã đào tạo Khoa thành trung đội trưởng bộ binh gồm tấn công, phòng thủ, độn thổ, phục kích, dạ hành, vượt sông và nhị thức Bộ Binh Thiết Giáp.  Những bài học về địa hình gồm vòng cao độ, các loại đồi yên ngựa, đồi trọc, đường thông thủy, xác định điểm đứng bằng phương giác từ, lệnh hành quân và tham mưu cấp tiểu đoàn, v.v…

    Ngày ra trường đã đến, chiếc xe GMC Hải Quân thả Khoa và các đồng đội của anh xuống trại Bạch Đằng II, Khoa vẫn mang quân phục tác chiến Bộ Binh và Alfa Thủ Đức, đầu đội mũ sắt đen với huy hiệu “Cư An Tư Nguy”, Khoa theo bạn bè đi mua cặp lon.  Ngày mãn Khóa, bạn nào có vợ hoặc tình nhân thì được phép đến gắn lon cho tân khóa sinh, Khoa chưa có bạn gái nên chị Thu An đại diện gia đình lên gắn lon cho anh. 

    Tháng 8 năm 1970, khóa của Khoa tập họp tại Câu Lạc Bộ Nổi để chọn đơn vị, đơn vị Khoa bị chỉ định theo nhu cầu ra Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang (TTHLHQ/NT) nhưng phòng Tổng Quản Trị gọi Khoa về học khóa Communications Officer do Hải Quân Mỹ huấn luyện.  Mãn khóa truyền tin, Khoa thuyên chuyển về Duyên Đoàn 28 (ZD 28) tại Phan Thiết.  khóa là sĩ quan tuần tiễu.  Từ ngoài biển, qua ống nhòm nhìn xa, Khoa có thể dễ nhận ra các đỉnh núi, các mũi hay hòn đảo, những khu rừng trùng điệp, các loại đồi yên ngựa, đồi trọc, các khe suối cao.  Những năm tháng chiến đấu trên các sông ngòi nguy hiểm đã biến Khoa trở nên một chiến sĩ dày dạn với phong sương và không còn vẻ ngơ ngáo của một anh tân khóa sinh như những ngày đầu tạm trú ở Bạch Đằng II.  

    Ở Duyên Đoàn 28 (ZD 28) một thời gian, lúc ấy Khoa mang lon trung úy, anh xin xuống Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư, HQ 4.  (Chiến hạm HQ 4 mới về từ đảo Guam, vừa oanh liệt bắn chìm chiếc tàu mang số 645 của Bắc Việt giữa vùng biển Phú Quốc và đảo Thổ Châu).  Khoa xin thuyên chuyển qua chiến hạm HQ 4 vì HQ 4 có một đội ngũ nhân viên cơ hữu rất hùng hậu và gương mẫu; các sĩ quan trưởng phiên đều thâm niên và kinh nghiệm; các hạ sĩ quan giỏi về chuyên nghiệp; nhân viên rất kỷ luật và thuần thục.  Chiến hạm HQ 4 là chiến hạm lớn, một trong hai khu trục hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, hải quy và truyền thống hải quân được áp dụng triệt để và nghiêm chỉnh trên chiến hạm HQ 4.  Trục tuần tiễu của chiến hạm tuần dương thường xa đất liền và Khoa có dịp đặt chân lên nhiều hòn đảo xa xôi của Việt Nam như Cù Lao Thu, Cù Lao Ré, quần đảo Côn Sơn, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

    Cuối tháng tư 1975, Khoa trở về Sài Gòn trong hoang mang lo sợ anh liên lạc với gia đình và nhắn chị Thu An mang bố mẹ ra bến tàu để cùng đi, nhưng Bố Khoa là sĩ quan trưởng trại nên ông không thể bỏ trại và binh lính của mình.  Mẹ Khoa và chị Thư An quyết định ở lại chờ cùng đi với bố Khoa.  Khoa biết mình không thể ở lại Việt Nam nên anh quyết định ra đi với đồng đội.  

    Tháng Tư, 1975 khi thủ đô Sài-Gòn và đất nước Việt-Nam-Cộng-Hòa hoàn toàn toàn sụp đổ, các chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa rời bến, khởi hành từ Sài Gòn lúc 7:00 giờ tối ngày 29 tháng 4 năm 75 đến và tập trung tại Côn Sơn chiều ngày 30 tháng Tư.  Khi các thủy thủ đoàn và các chiến hạm thi hành lệnh tập trung tại Côn Sơn thì việc đi di tản hay trở lại Sài Gòn chưa thành một vấn đề nan giải.  Nhưng từ lúc Đại tướng Dương Văn Minh tuyên bố buông súng thì tình hình trở nên sôi động vì mọi người nhận ra rằng đây là chuyến đi sau cùng của hạm đội và sẽ không có ngày trở lại.   

    Chiều ngày 30 tháng 4, ngay sau khi đến Côn Sơn, một buổi hội đã được triệu tập trên HQ 3 gồm các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp có mặt tại điểm tập trung và có quyết định:    

    1. Về mặt cá nhân:  Những cá nhân không muốn rời Việt Nam và muốn trở lại Sài Gòn sẽ được cung cấp phương tiện về lại Sài Gòn.  Một hỏa vận hạm được chọn đến từng tàu bốc người muốn trở về và được chuyển vận trở về Vũng Tàu. 
    2. Về mặt chiến hạm gồm thủy thủ đoàn sẽ không di tản, mà ở lại Việt Nam.   

    Sau khi xem xét tình hình chính trị và tình trạng hạm đội, mọi người đồng ý liên lạc với Hoa Kỳ và nhà giúp đỡ.   Sáng sớm ngày 1 tháng 5, ông Armitage đại diện Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đến HQ 3, Hoa Kỳ đồng ý tiếp nhận hạm đội Việt Nam và đề nghị hạm đội di chuyển đến Căn cứ Hải quân Hoa Kỳ tại đảo Guam đem theo tất cả những ai muốn di tản cùng hạm đội khởi hành đi Subic Bay.

    Từ Côn Sơn đến Guam xa gần 2 ngàn 500 hải lý sẽ gặp một số trở ngại về tình trạng kỹ thuật và chở quá đông dân chúng di tản, (ước lượng khoảng 30 ngàn người) sẽ gặp nhiều khó khăn về thực phẩm.  Do đó Bộ tham mưu đề nghị đưa hạm đội đến Subic Bay xa chỉ khoảng trên 900 hải lý.  Mặc dù ông Armitage nhấn mạnh là phải đi Guam, nhưng Phó Đô đốc quyết định đi Phi Luật Tân.

    Ngày giờ khởi hành di tản là sáng ngày 1 tháng 5 chấm dứt những hoang mang của mọi người trên chiến hạm.  Trưa ngày 1 tháng 5, 1975, hạm đội khởi hành đi Subic Bay, Phi Luật Tân sau khi nhận tiếp vận đầy đủ dầu, nước và thực phẩm trước khi rời Sài Gòn.  Đây là chuyến hải hành cuối cùng của Hải Quân VNCH mang theo được hơn 30,000 người Việt di tản.  Hôm ấy, nhờ thời tiết tốt, sóng yên, biển lặng nên chuyến di tản thuận buồm xuôi gió.  Hải quân Hoa Kỳ nhận lời trợ giúp phần thực phẩm và y tế trong trường hợp thật cần thiết với dự định sẽ đến Phi Luật Tân vào chiều ngày 7 tháng 5, 1975.

    Sau vài ngày hải hành, khi sắp gần đến Phi Luật Tân thì nhận được tin là chính phủ Phi Luật Tân không chấp thuận cho hạm đội VNCH vào vịnh Subic và ra lịnh người tỵ nạn Việt Nam phải rời khỏi Phi Luật Tân.  Các Hạm đội Hải Quân Việt-Nam-Cộng-Hòa cũng không được phép cập bến vì còn treo cờ vàng 3 sọc đỏ.  Bộ tham mưu Hải Quân họp và đưa ra giải pháp là hạm đội đi Guam trong đó Hoa Kỳ đưa 30 ngàn đồng bào đến Guam bằng các tàu dân sự.  Nhưng Bộ tham mưu đề nghị là Hạm đội của Hải quân VNCH nên trao trả chiến hạm cho Hải quân Hoa Kỳ vì như thế các chiến hạm Hoa Kỳ sẽ được vào căn cứ Hải quân của mình tại Subic Bay với điều kiện:   

    • Tất cả đạn dược phải được ném xuống biển.  
    • Cờ VNCH phải được thay bằng cờ Hoa Kỳ.

    Hoa Kỳ phải tổ chức làm lễ bàn giao các chiến hạm của Hải Quân VNCH lại cho Hải Quân Hoa Kỳ.  Mỗi chiến hạm sẽ tiếp nhận một toán sĩ quan liên lạc Hoa Kỳ và thực hiện lễ hạ quốc kỳ VNCH và trương quốc kỳ Hoa Kỳ.   Lễ hạ cờ VNCH được cử hành cùng một lúc trên tất cả chiến hạm vào đúng 12 giờ trưa ngày 7 tháng 5 năm 1975.  Buổi lễ hạ cờ lịch sử trong không khí trang nghiêm và đầy xúc động, xóa bỏ danh hiệu và danh số Việt Nam.   Chiều ngày 7 tháng 5, hạm đội VNCH vào thả neo trong vịnh Subic Bay.  Chuyến di tản an toàn và bình yên, 30 ngàn người di tản được các viên chức Hoa Kỳ hướng dẫn sang các thương thuyền để chuyển sang đảo Guam.  

    Sau 10 ngày ở đảo Guam, Khoa và một số bạn trong cùng đơn vị được chuyển đến trại tị nạn Ford Chafee, tiểu bang Kansas chờ ngày phỏng vấn để được bảo trợ đi định cư tại Hoa Kỳ.  Một tháng sau, Khoa được một nhà thờ tin lành ở tiểu bang Washington DC bảo trợ và giới thiệu đi làm cho một du thuyền của Âu Châu, Regal Princess.  Có lẽ đây là việc làm thích hợp nhất với Khoa trong lúc này vì anh không có kinh nghiệm gì khác ngoài việc “Làm lính thủy “.  Vả lại, làm việc trên du thuyền Khoa có thể để dành được một khoản tiền khá lớn cho những dự định trong tương lai.  

    Công việc đầu tiên của Khoa trên du thuyền là rửa chén, dọn bàn và đổ rác.  Những đống chén, đĩa, nồi, chảo thì cao như núi và rửa cả ngày lẫn đêm vẫn không hết.  Những thùng rác khổng lồ nặng và to gấp mấy chục lần Khoa nên anh phải dùng rất nhiều sức để có thể di chuyển nó.  Những hôm trời mưa to gió lớn thì việc di chuyển những thùng rác là một cực hình vì cái thùng sắt khổng lồ này cứ trượt lên trượt xuống trên sàn tàu, đưa đẩy theo luồng gió và sóng biển đánh khá mạnh vào mạn tàu.  Có những lúc Khoa cũng phải bật cười khi một vài người khách trên du thuyền cho anh xem những đoạn video clip của họ.  Trong video clip, Khoa đang mặc poncho màu trắng, phủ kín thân thể anh từ đầu đến chân và anh thì đang cố gắng đẩy một thùng rác khổng lồ.  Tối hôm ấy, trời mưa mặng hạt, biển động nên sóng lớn và gió thổi khá mạnh khiến áo poncho của anh tung bay trong gió, còn anh và cái thùng rác thì cứ chạy lên chạy xuống trên sàn tàu trơn trượt, chập chờn như một bóng ma.  Xem xong video clip, Khoa vừa buồn cười vừa cảm thấy tủi thân.   

    Trên du thuyền lúc nào cũng có việc để làm và làm luôn tay, cả ngày Khoa cứ loanh quanh với công việc của mình, từ sửa soạn đến dọn dẹp cho bốn bữa sáng, trưa, chiều, tối là hết ngày.  Có những lúc Khoa mệt đờ người và buồn ngủ khủng khiếp, nên phấn lớn khi hết giờ làm việc anh vùi đầu vào giấc ngủ và không còn thì giờ để nhớ nhà hay suy nghĩ vẩn vơ.  Đã nhiều lần, Khoa bỏ cả bữa ăn để ngủ bù, chính vì vậy mà anh đã xụt mất gần 5 ký trong hai tháng đầu, nhưng sau đó anh quen dần với công việc, giờ giấc và tự luyện tập cho thân thể của mình thay đổi để thích hợp với thời khóa biểu làm việc trên du thuyền…

    Sau 24 tháng làm việc trên du thuyền Regal Princess, Khoa để dành được một số vốn, anh xin nghỉ việc và quyết định dọn về tiểu bang California.  Tại Orange County, Khoa nộp đơn xin học tại đại học California State University, Long Beach đồng thời anh liên lạc được với hai người bạn cùng đơn vị và rủ nhau mướn một căn hộ (apartment) trong chung cư  gần trường.  Khoa cùng hai người bạn chung tiền mua một chiếc xe hơi hiệu Pinto cũ để tiện việc đi lại.  Ngoài việc xin học bổng của tiểu bang (Basic Grant) Khoa còn xin làm việc trong trường (Work Study) nên cuộc sống của Khoa trở nên dễ dàng và thoải mái hơn.   Sau bốn năm, Khoa ra trường với bằng kỹ sư cơ khí (Mechanical Engineer) và được nhận vào làm việc cho hãng máy bay Boeing ở thành phố Irvine, tiểu bang California.  Từ khi đi làm, Khoa miệt mài với công việc và cố dành dụm tiền để giúp gia đình còn ở lại Việt Nam nên quên cả nghĩ đến bản thân, Khoa lại vốn có tính hơi nhát gái nên anh chẳng quen ai, mặc dù anh đã gần 40.  Ngoài giờ làm việc, Khoa gặp bạn bè, đi coi hát, đọc sách và chơi tennis vào cuối tuần… 

    Thủy Tiên là em họ của Toại và là bạn cùng phòng (Roommate) với Khoa từ thời cả hai còn học tại đại học California State University, Long Beach.  Thủy Tiên còn độc thân, nàng bắt đầu sự nghiệp hơi trễ vì nàng vượt biển qua Mỹ năm 1982.  Thủy Tiên kém Khoa 5 tuổi nhưng nàng nhìn rất trẻ so với số tuổi 34 của nàng.  Thủy Tiên không đẹp nhưng xinh xắn, duyên dáng, da trắng, má lún đồng tiền và thân thiện.  Thỉnh thoảng Khoa vẫn đi theo Toại và gặp Thủy Tiên trong những bữa tiệc Giáng Sinh hay cuối năm tại nhà nàng, nhưng chưa bao giờ anh dám ngỏ lời làm quen với Thủy Tiên; mặc dù anh rất mến nàng.  Một hôm Toại hỏi đùa với Khoa.

    • Này Khoa, mày định ở vậy suốt đời thật đấy à?
    • Không… nhưng có ai muốn lấy tao đâu?
    • Có, để tao làm mai cho mày… được không?
    • Được, nhưng mà là ai mới được chứ?
    • Còn ai vào đây nữa?  Con bé em họ tao, Thủy Tiên ấy. 
    • Nhưng biết Thủy Tiên có muốn lấy tao không?
    • Tao nghĩ, muốn chết đi được là cái chắc kẻo không chỉ vài năm nữa thì… 
    • Thì sao?
    • Thì ế… chổng mông lên mà gào chứ còn sao nữa.  Gớm, sao mà mày ngây thơ thế?

    Chỉ có thế mà một ngày đẹp trời của mùa xuân năm sau, Thủy Tiên nhận lời cầu hôn của Khoa và đám cưới được tổ chức trên một du thuyền tại cảng Long Beach vài tháng sau đó.  Đám cưới xong, Khoa đưa vợ đi hưởng hai tuần trăng mật ở Âu Châu và để tạo một ngạc nhiên bất ngờ cho Thủy Tiên, Khoa đặt mua vé trên du thuyền Regal Princess, chiếc du thuyền mà anh đã từng làm việc khi mới qua Mỹ.   Nhưng lần này, Khoa sẽ cùng Thủy Tiên vui hưởng những giây phút êm đềm hạnh phúc và thưởng ngoạn những phong cảnh hữu tình của những thành phố cổ kính Âu Châu, nhất là ghé thăm thủ đô ánh sáng Paris, thành phố của tình yêu… 

    … Hai năm sau, Thủy Tiên và Khoa hân hoan chào đón đứa con trai đầu lòng, Nam Phong sau một thời gian dài chờ đợi và lo lắng vì Thủy Tiên đã lớn tuổi.  Nam Phong sanh ra thật hoàn mỹ, khỏe mạnh và giống Khoa như hai giọt nước, nhưng lại thừa hưởng hai cái lúm đồng tiền và đôi mắt to đen của Thủy Tiên.  Sau khi sanh Nam Phong, Thủy Tiên quyết định nghỉ làm việc một vài năm để ở nhà và có nhiều thời gian chăm sóc con.   Thấm thoát đã 5 năm trôi qua, Nam Phong vào lớp mẫu giáo và Thủy Tiên cũng chuẩn bị đi làm trở lại. 

    Đầu năm 1987, một số cơ quan du lịch do người Mỹ làm chủ đã tổ chức những chuyến du lịch về Việt Nam nhưng Khoa cũng chưa dám nghĩ đến những chuyến du lịch mạo hiểm này.  Vinh là một trong hai người bạn cùng phòng với Khoa trước kia quyết định về thăm gia đình vì anh ấy còn kẹt vợ và con ở Sài Gòn trước năm 1975.  Khoa nhờ Vinh chuyển một ít tiền kèm theo một lá thơ về cho bố mẹ và chị Thu An.  Từ khi biết tin về gia đình, Khoa bắt đầu làm thủ tục giấy tờ để bảo lãnh bố mẹ và chị Thu An qua Mỹ đoàn tụ cùng vợ chồng anh.  Bố của Khoa cũng đã trở về sống với gia đình sau 12 năm tù đày và chị Thu An vẫn chưa lấy chồng. 

    Như thường lệ, mỗi năm, Khoa và Thủy Tiên thường xin nghỉ phép vài tuần để đưa Nam Phong đi nghỉ mát trong mấy tháng hè.  Lần này, Khoa mua vé xe lửa đi xuyên tiểu bang chơi, ngắm cảnh và tiện thể thăm vài người bạn còn đang sống ở tiểu bang Washington DC.  Nhưng Khoa đâu biết rằng đó là chuyến tàu định mệnh đã cướp đi một nửa đời anh.  Chuyến xe lửa bị trật đường rầy và lật xuống vực thẳm mang theo hơn 100 hành khách trong đó có Thủy Tiên.  Khoa bị văng ra khỏi toa xe và bị thương nặng trong lúc Nam Phong may mắn còn kẹt lại trong toa.  Khoa bị thương nhưng anh vẫn còn tỉnh đủ để có thể quan sát và nhận thức chuyện gì đang xảy ra.  Nằm bất động trên lề đường, Khoa thấy Nam Phong đang cố đẩy khung cửa sổ của toa xe như đang tìm cách để thoát ra ngoài với nét hoảng sợ và tái nhợt hiện rõ trên mặt.  Khoa muốn đứng dậy để giúp con nhưng toàn thân anh cứng dơ và tay chân anh không thể cử động được.   Khoa cố gọi tên con nhưng cổ họng anh như nghẹn lại, cố gắng lắm anh mới thều thào được hai tiếng “Nam Phong” nhưng giọng anh lại bị át đi bởi tiếng la hét chen lẫn tiếng khóc của hành khách và những nạn nhân kém may mắn như gia đình anh… Tiếng ồn càng lúc càng nhỏ dần… nhỏ dần rồi tắt lịm…

    Khi Khoa tỉnh dậy, anh biết mình đang nằm trong bệnh viện, tay và ngang lưng băng bột cứng đơ.  Bắc sĩ cho Khoa biết anh bị gãy tay và xương sườn phía bên trái, còn Nam Phong đang được tạm nuôi dưỡng trong trung tâm giữ trẻ.  Thủy Tiên đã không qua khỏi, nàng trút hơi thở cuối cùng trên trực thăng và trên đường đến bệnh viện. 

    Sau đám tang của Thủy Tiên, Nam Phong được ông bà ngoại đem về nuôi dưỡng trong thời gian Khoa chưa lành hẳn.   Sau sáu tháng điều trị Khoa đã hoàn toàn bình phục và đi làm trở lại, tuy nhiên Nam Phong vẫn được ông bà ngoại chăm sóc ban ngày nhưng Khoa đến đón con về nhà mỗi tối.  Mất mẹ khi Nam Phong còn quá bé nên Khoa muốn dành hết tình thương cho con, anh giữ vai trò vừa là cha vừa làm mẹ nên không còn thời gian để nghĩ đến bản thân.   Càng lớn, Nam Phong càng trở nên yếu đuối về mặt tinh thần, dễ bị hốt hoảng, hay xúc động, sợ bị bỏ rơi, luôn bám sát theo người lớn và nhất là không muốn ở một mình trong phòng hay ngồi trong xe hơi đóng kín cửa.  Nam Phong thường xuyên bị ám ảnh bởi những giấc mơ kinh dị nên Khoa quyết định đưa con đi gặp một cố vấn tâm lý chuyên môn cho trẻ em và nhờ bà giúp.  Bác sĩ cố vấn tâm lý cho biết là Nam Phong có triệu chứng Chứng Rối Loạn Do Căng Thẳng Sau Chấn Thương (Post-Tramatic Stress Disorder), một hội chứng của những nạn nhân từng chứng kiến những chuyện bi thương hay những việc chẳng an lành trong quá khứ.   Biết rõ về bịnh trạng của Nam Phong đã giúp Khoa hiểu và có thể hỗ trợ tinh thần cho con một cách hữu hiệu hơn.  Thương con, Khoa đã gạt bỏ mọi đam mê vật chất, hy sinh cả những tình cảm riêng tư của mình để chú tâm vào việc chăm sóc và nuôi dưỡng Nam Phong.  Phần Nam Phong, mỗi khi biết Khoa có bạn gái thì Nam Phong lại tỏ vẻ buồn bã, giận hờn và đôi khi còn nổi nóng với Khoa, nên Khoa thầm nhủ:  Đã hy sinh thì hy sinh cho trọn, Khoa quyết định “Độc thân tại chỗ” và giữ trọn vẹn ý tưởng “Gà trống nuôi con”…

    …15 năm sau, khi Nam Phong 18 tuổi và tốt nghiệp trung học thì Khoa đã ngoài 60.  Nam Phong nộp đơn và được nhận vào trường đại học Johns Hopkins, một đại học tư chuyên về lãnh vực nghiên cứu ở Baltimore, Maryland.  Có lẽ đây là lúc mà Nam Phong cảm nhận ra sự ích kỷ của mình và sự hy sinh cao cả của Khoa trong bao năm qua.  Như thường lệ, hai cha con Khoa hay đi ăn, đi nghe hòa nhạc vào tối thứ sáu, đi coi phim vào cuối tuần, v.v… Một hôm, đang ăn bữa tối với Khoa, Nam Phong buông đũa nhìn bố.   Khoa thấy lạ, anh cũng ngừng ăn và hỏi con.

    • Nam Phong, con có chuyện cần bàn với bố à?
    • Bố ạ, có lẽ đã đến lúc bố cần tìm cho mình một “Lady”.

    Khoa không trả lời con, anh nhìn con mỉm cười.  Thấy Khoa ngồi im lặng, Nam Phong nói. 

    • Thật đấy, một tuần nữa là con đi Maryland rồi. 
    • Thì có sao đâu. 
    • Từ nay bố sẽ ở nhà có một mình thôi đấy, con đi học xa, ít nhất là 4 năm. 
    • Nam Phong sợ bố cô đơn à? 

    Nam Phong ngồi im không trả lời Khoa.  Khoa cũng ngồi trong yên lặng, đã từ lâu anh không nghĩ đến hạnh phúc của riêng mình, bỗng hôm nay khi nghe Nam Phong hỏi, Khoa giật mình.  Một nỗi buồn da diết kéo đến trong tâm tư đánh thức cái cảm giác cô đơn, lẻ bóng từ bấy lâu nay đã ngủ yên khiến anh rùng mình.  Phải, 15 năm trôi qua như một giấc mơ, Khoa vì quá bận rộn với công việc tại sở làm và lo chu toàn trách nhiệm làm cha ở nhà, anh đã không có dư thời gian để đối diện với cuộc sống cô quạnh, đơn độc, trống vắng và thiếu hình bóng của người phụ nữ trong tim. 

    …Căn nhà trở nên trống vắng từ ngày Nam Phong rời nhà, bây giờ Khoa lại có quá nhiều thời gian rảnh rỗi mà không biết làm gì cho hết.  Đi ra đi vào cũng chỉ có một mình, coi TV, nghe nhạc mãi cũng chán, Khoa sách xe chạy lòng vòng quanh phố rồi ghé tiệm café Starbuck ngồi ngắm ông đi qua bà đi lại cho đỡ buồn.  Ngồi không chẳng có ai quen để tán gẫu, Khoa đảo mắt nhìn quanh và dừng lại nơi cuối phòng.  Trong một góc tối, người đàn bà trẻ đang ngồi nhìn ra ngoài song cửa kính, ly café trước mặt còn đầy nguyên, mái tóc dài ngang vai, rũ xuống che gần nửa khuôn mặt.  Thỉnh thoảng Khoa thấy nàng đưa khăn lên lau những giọt nước mắt đang lăn dài trên khuôn mặt xinh đẹp thoáng nét buồn.  Tò mò, Khoa quan sát nàng kỹ hơn, mắt anh như bị thu hút bởi hình dáng của người đàn bà trẻ ấy, nàng trông hao hao giống Tố Đoan em gái của Huy, bạn học của anh thời còn là sinh viên ở trường đại học Khoa Học tại Sài Gòn. 

    Do dự cả nửa tiếng Khoa đánh bạo tiến đến gần phía bàn của người đàn bà trẻ rồi dừng lại trước mặt nàng.  Người đàn bà trẻ vẫn ngồi yên, mắt vẫn không rời khoảng không gian tối đen như mực bên ngoài khung cửa kính và hình như nàng cũng chẳng hề quan tâm đến sự hiện diện của Khoa. 

    • Xin lỗi… trông cô quen quá, có phải tên cô là Tố Đoan em gái Trần Quang Huy không? 

    Người đàn bà trẻ quay lại, lau vội giọt nước mắt còn đọng trên khóe mắt. 

    • Vâng, Tố Đoan đây, anh là bạn anh Huy?
    • Anh Khoa đây, Đoan nhớ không?

    Tố Đoan đứng bật dậy, giọng reo vui.

    • Anh Khoa, Pham Nam Khoa? 
    • Đúng.  Anh Khoa “Cồ” đây. (Khoa có biệt hiệu Khoa “Cồ” vì anh to con)
    • Bao năm không gặp lại anh nên Đoan không nhận ra.
    • Đoan nhìn vẫn vậy, chi bớt xí xọng thì phải.

    Gặp lại Tố Đoan, Khoa mừng lắm, anh tự kéo ghế ngồi xuống đối diện với nàng.  Hình ảnh cô bé có mái tóc đuôi gà, nghịch ngợm, lén lỉnh, vòi vĩnh, thích làm nũng và làm dáng hiện ra trong ký ức Khoa.  Ngày ấy, mỗi lần đến học thi với Huy, Khoa không thể nào quên được nụ cười tươi tắn nở trên khuôn mặt trái soan của cô bé.  Có những lúc trái tim Khoa như bị rung động bởi vẻ đẹp ngây thơ trong trắng của Tố Đoan, nhưng anh giữ kín tình yêu đơn phương ấy vì “Tuổi nàng chỉ mới 13“. 

    Lần cuối Khoa gặp lại Tố Đoan, cách đây ít nhất hơn 10 năm, khi nàng cùng chồng đi dự buổi hòa nhạc của ca đoàn Ngàn Khơi, tổ chức tại Saigon Performing Arts Center, thành phố Fountain Valley, California.  Hôm ấy Khoa đi nghe nhạc cùng với vợ chồng Huy, anh không nhận ra Tố Đoan vì nàng không còn là cô bé tuổi 13 mà trước mặt anh, một Tố Đoan vô cùng xinh đẹp, quý phái và thanh nhã.  Mái tóc dài ngang vai, khuôn mặt thanh tú, ánh mắt đa tình và nụ cười như thu hút người đối diện khiến Khoa lại một lần nữa giấu kín mối tình đơn phương…

    …Thấy Tố Đoan ngồi một mình trong quán café, Khoa hỏi.

    • Phương đâu mà Đoan lại ngồi ở đây một mình thế này?

    Tố Đoan không trả lời, nàng đưa mắt nhìn ra cửa sổ như để che dấu giọt nước mắt đang muốn tuôn trào trong khóe mắt thoáng nét buồn.  Một lúc sau, Tố Đoan quay lại, nụ cười như muốn khóc nở trên môi. 

    • Đoan và anh Phương ly dị một năm nay rồi anh ạ.
    • Anh xin lỗi Đoan, Huy không nói gì nên anh không biết. 
    • Anh Huy không hề biết là Đoan và anh Phương xa nhau.  Em không muốn anh Huy buồn vì anh ấy rất quý Phương. 

    Cả hai im lặng một lúc thật lâu, Khoa trở nên lúng túng, vụng về, anh không biết phải làm gì, nói gì để xoa dịu vết thương trong tim Tố Đoan, một lúc sau, anh nói trong ngập ngừng.

    • Đoan ạ, em đừng buồn nữa, chuyện gì rồi cũng sẽ qua đi.  Phải mạnh mẽ lên thì mới có thể vượt qua những khổ đau và vết thương trong lòng mới lành lại được. 

    Tố Đoan vẫn ngồi yên, nét hồn nhiên yêu đời của ngày xưa đã biến mất để nhường chỗ cho vẻ u sầu bi thương trên khuôn mặt mệt mỏi.  Khoa ngồi yên lặng nhìn Tố Đoan, anh cảm thấy xót xa cho thân phận của những người con gái mang kiếp”Hồng nhan“.  

    • Trời đã khá khuya, Đoan có muốn anh đưa em về không?
    • Cám ơn anh, Đoan về một mình được. 
    • Đoan cho anh xin số điện thoại để tiện việc liên lạc được chứ? 
    • Vâng. 

    Trao đổi số điện thoại xong.  Khoa cùng Tố Đoan đi ra xe, anh đợi cho xe Tố Đoan đi khuất sau rặng thông nơi cuối đường rồi lặng lẽ bước vào xe.  Ngồi trong xe, Khoa không nổ máy xe ngay, đầu anh cứ luẩn quẩn hình bóng của Tố Đoan…

    Sau buổi tối hôm ấy, Khoa thường xuyên gặp và trở nên gần gũi với Tố Đoan hơn, nhưng chưa bao giờ nàng kể cho anh nghe về sự đổ vỡ giữa nàng và Phương.  Phần Khoa, anh cũng chẳng thắc mắc duyên cớ vì sao họ xa nhau, mà anh chỉ nhận thấy Tố Đoan rất dễ bị xúc động khi nàng nhắc đến tên Phương.  Đã một năm trôi qua nhưng Khoa vẫn e dè và chưa dám vượt qúa ranh giới của tình bạn.  Khoa cảm thấy như giữa anh và Tố Đoan có một khoảng cách vô hình ngăn cản bước tiến của hai con tim cô độc.  Điều mà Khoa biết rõ là càng lúc anh càng bị thu hút bởi vẻ u sầu, buồn bã và lạnh lùng của Tố Đoan.  Ở Tố Đoan như toát ra một vẻ quyến rũ lạ kỳ mà anh không thể nào giải thích được.  

    Mỗi tuần Khoa đều đón Tố Đoan đi dạo phố, đi ăn hoặc đi ngắm cảnh, những buổi gặp nhau như thế Khoa đều kín đáo quan sát Tố Đoan, anh nhận thấy Tố Đoan như một người với hai bản tính hoàn toàn trái ngược nhau, có những lúc nàng yêu đời, duyên dáng và cười nói líu lo như con chim họa mi nhưng đôi khi nàng trở nên trầm ngâm, dè đặt và xa vắng như một kẻ xa lạ.  Rõ ràng nhất là những buổi tối cùng anh đi dạo mát trên biển, là những lúc Tố Đoan trở nên dụt dè như một con sên thu mình trong vỏ ốc và hình như nàng không màng nhận biết đến sự hiện diện của anh đang đi bên cạnh.  Có lẽ đây là giây phút mà Tố Đoan nhớ lại những kỷ niệm êm ái giữa nàng và Phương, chỉ nghĩ đến điều ấy đã làm tim Khoa thắt lại, anh lặng lẽ bước bên Tố Đoan và cảm thấy thương cho mối tình đơn phương của mình.  Đã bao lần Khoa tự hỏi lòng mình, phải chăng anh chỉ là bóng mát khi trời đổ nắng, là mái trú an toàn trong cơn bão ái tình để Tố Đoan nương tựa trong những khoảng khắc cô đơn?  Và phải chăng Khoa chỉ là cái phao ngoài đại dương cho Tố Đoan bám víu trong trận cuồng phong?  Nhưng điều này cũng không mạnh đủ và làm cho Khoa dũ áo ra đi, có lẽ anh đã thực sự yêu Tố Đoan với một tình yêu thanh cao, một tâm hồn trong sạch.  Những suy nghĩ ấy khiến Khoa mỉm cười vu vơ và tự hỏi.   Đã ngoài 60 mà sao anh vẫn còn khờ khạo đến thế nhỉ?

    Phần Tố Đoan, nàng biết Khoa yêu mình tha thiết nhưng nàng không thể không nhận ra con tim mình đã chẳng cùng nhịp đập với Khoa.  Có nhiều lúc Tố Đoan cảm thấy hối hận vì hình như mình đang dùng tình cảm chân thành của Khoa để lấp đầy khoảng trống và nỗi cô đơn trong tâm hồn, nhưng Tố Đoan không hiểu tại sao nàng không thể dừng lại hoặc từ chối lời mời của Khoa.  Tại sao Đoan không thể chấp nhận được tình yêu của Khoa, chẳng lẽ nàng vẫn còn yêu Phương?  Hay chỉ vì Phương là người đầu tiên và duy nhất đi qua cuộc đời nàng?  Hay vì sự phản bội của Phương đã giết chết niềm tin nơi Đoan?  Với Khoa, Tố Đoan coi anh như một người bạn tri kỷ mà nàng có thể chia sẻ mọi cảm xúc, tâm tư mà không sợ hiểm nguy hay đau khổ, anh là tia sáng của những ngày u ám, là cơn mưa trên cánh đồng khô cạn và là niềm vui, sự vỗ về an ủi cho Tố Đoan trong cơn ác mộng “Nửa chừng xuân”…

    Khánh Lan 

    California, December 2020

    Tài liệu:

    1. Hải Quân VNCH Di Tản Sau 30 Tháng Tư 1975, Phó đề đốc Đinh Mạnh Hùng.
    2. Phạm Viết Khiết, Đại Đội 19D, Tiểu Đoàn Trương Tấn Bửu, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung (năm 1970)
    3. http://www.nytimes.com/…/thieu-is-reported-arriving-in-taip…
    4. https://dongsongcu.wordpress.com/…/khi-sa-co-moi-biet-ai-l…
  • Khánh Lan

    THỦY CHUNG

    Uyển Diễm soi bóng mình trong gương một lần cuối trước khi bước ra cửa, chiều nay nàng có hẹn cùng Vy Hương đi xem buổi diễn binh nhân ngày Quân Lực 19 tháng 06 tại đại lộ Trần Hưng Đạo.  Anh Hùng, anh của Diễm đang theo học khóa 27 của trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.  Vy Hương là bạn thân của Diễm từ khi còn học lớp đệ tam trường Thiên Phước.  Ba má Vy Hương là bạn của bố mẹ Diễm nên ông bà coi nàng như con cháu trong nhà và nàng thường xuyên đến nhà Vy Hương chơi.  Trái hẳn với bản tính ngổ ngáo, vui vẻ, mạnh mẽ và lanh lẹn của Vy Hương, Uyển Diễm lại qúa nhút nhát, hay mằc cở và yếu đuối nên Vy Hương luôn luôn là người “bảo vệ” Diễm những lúc có ai đó “ăn hiếp” nàng.  Hai đứa thân nhau như hình với bóng, nơi đâu có Vy Hương là nơi ấy có Diễm, có nhiều lúc anh Hùng nói, “Lạ thật, hai đứa bay tính tình như mặt trời với mặt trăng mà sao lại có thể thân nhau như thế nhỉ?”  

    Vừa quẹo chìếc xe Yamaha vào sân nhà Vy Hương, Diễm đã nghe cô nàng la lên.

    • Nhanh lên Diễm, đi sớm dành được chỗ tốt.”
    • Ba má Hương không đi à?  Diễm hỏi.
    • Không, nắng qúa, bà “Bô” sợ bịnh, còn ông “Bô” tao còn phài đi đặt tiệc cho bữa chiều, anh Hùng được phép về nhà chơi tối nay.

    Nói xong, hai đứa chạy ra đường rồi nhảy vội vào chiếc taxi đang đậu chờ khách bên đường.  Đúng như Vy Hương nói, hai đứa đến sớm nên dành được chỗ đứng xem thật tốt, ngay phía đằng trước.  Vy Hương nói như hét vào tai Diễm.

    • Tí nữa thấy ông Hùng, mày hét phải hét to lên nhé.

    Càng gần đến giờ diễn hành, con đường Trần Hưng Đạo chật cứng người đến xem, chen chúc xô đẩy nhau, Diễm như càng lúc càng bị đẳy lùi ra phía sau.  Vy Hương nắm chặt tay Diễm kéo ngược về phía nàng, miệng lẩm bẩm, giọng đanh đá.

    • Mấy người này làm gì mà chen lấn dữ vậy.  Đến sau thì ra sau mà đứng, tôi xí chỗ này từ sáng sớm mà.

    Một tiếng sau, từng binh chủng diễn hành chen lẫn tiếng nhạc quân hành nối tiếp nhau đi qua chỗ Hương và Diễm đứng.  Những lá cờ tung bay trong gió, những tìếng hát vang trời và những tiếng giầy oai hùng nện vang trên đường, Diễm thấy lòng mình xúc động trong niềm hân hoan.  Diễm ngẩn người nhìn theo đoàn thanh niên đang đi theo tiếng gọi của tổ quốc làm nhiệm vụ của người trai trong thời loạn, chấp nhận thử thách lớn lao trong giai đoạn đầu của cuộc đời binh nghiệp.  Diễm bùi ngùi nhớ câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm. 

                “Chàng trẻ tuổi vốn dòng hào kiệt

                Xếp bút nghiên theo việc đao cung.”

    Khi trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt đi ngang, Diễm không rõ là Vy Hương có nhìn thấy anh Hùng không, nhưng miệng cô la to nhất.  Diễm đưa mắt nhìn theo những chàng trai trẻ oai hùng trong bộ quân phục của trường, màu trắng oai nghiêm với cầu vai và giây lưng viền đỏ kiên cường, nét mặt cương quyết khiến nàng như bị mê hoặc.  Có lẽ đây là lần đầu tiên Diễm bị thu hút bởi hình ảnh của người chiến sĩ.  Tấm huy hiệu của trường Võ Bị thật đẹp với hình thể dải đất hình chữ S nổi bật trên một tấm kiên màu xanh đậm.  Ôm vòng theo bản đồ Việt Nam là hình một con rồng màu vàng trên khung viền màu đỏ, hàm răng con rồng ngậm chật thanh kiếm.  Thật là một huy hiệu rất có ý nghĩa.

    Sau buổi diễn hành, Vy Hương rủ Diễm ở lại để dự bữa cơm gia đình tại nhà hàng Đồng Khánh và cũng chính bữa tiệc này đã là chiếc cầu định mệnh nối liền cuộc đời của nàng và Bảo.  Buổi chiều hôm ấy, anh Hùng về nhà mang theo một người bạn cùng khóa, Trịnh Gia Bảo với ý định giới thiệu cho em gái Vy Hương.  Chiều hôm ấy, Vy Hương và Diễm đang ngồi trong phòng học nghe nhạc và tâm sự thì anh Hùng và Bảo bước vào.  Vy Hương thật tự nhiên, nàng đứng lên tươi cười bắt tay Bảo theo lối tây phương vì Vy Hương theo học chương trình pháp thời trung học đệ nhất cấp nên rất dạn.  

    Trái ngược hẳn với Diễm, nàng được giáo dục bởi gia đình nho giáo nên rụt rè và nhút nhát.  Diễm đứng dậy, mặt đỏ gay, cúi đầu chào anh Hùng và Bảo rồi e thẹn ngồi xuống, thu gọn người vào một góc ghế sa-lông.  Suốt cả buồi chiều hôm ấy, Diễm chẳng biết nói gì nên ngồi cười trừ để Vy Hương tha hồ ngồi đấu khẩu cùng Bảo và anh Hùng…Và sau lần gặp gỡ ấy, Diễm lần lượt nhận được những lá thơ của Bảo từ Đà Lạt gởi về và chẳng bao lâu, Diễm trở thành người yêu của Bảo.  Đó là lý do Vy Hương thường đùa với Diễm câu:  “Tình Hương duyên Diễm” là thế.

    Từ đầu năm thứ ba, trường Võ Bị bắt đầu phân chia thành ba quân chủng, Hải, Lục và Không quân.  Anh Hùng và Bảo chọn đại đội Lục Quân đảm nhiệm công tác thông tin chiến tranh chính trị tại quân khu 1.  Chương trình rút gọn trong 4 tháng để có thể tốt nghiệp đúng ngày đã quy định nên các sinh viên phải học cả ngày thứ Bảy và Chủ Nhật.  Chương trình gồm chiến thuật và vũ khí trang bị cấp đại đội, súng cối, pháo binh, viễn thám, huấn luyện nhẩy dù, hành quân không trợ, v.v…nên Bảo rất bận rộn và không có thì giờ nhiều dành cho người yêu.  Diễm đón nhận những lá thư viết vội, ngắn nhưng chan chứa yêu thương và nhung nhớ mà không hề kêu ca hay trách móc người yêu.  Cuối năm 1973, Diễm thi đậu tú tài toàn phần và xin bố mẹ lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ lý do chính là để được ở gần Bảo. 

    Năm thứ ba cũng là năm mà các sinh viên sĩ quan của trường Võ Bị tổ chức lễ trao nhẫn truyền thống kỷ niệm thời gian thụ huấn tại trường.  Trong ngày hôm ấy các sinh viên sĩ quan được quyền chọn người trao nhẫn cho mình.  Diễm như chìm đắm trong niềm hân hoan và xúc động khi Bảo báo tin và mời nàng lãnh nhận nhiệm vụ cao qúy ấy.  Tháng 02, 1974, khóa 27 tiểu đoàn 1 về Sài Gòn học khóa 329 nhảy dù và nhảy biểu diễn tại sân Cù Đà Lạt.  Nhưng Diễm và Bảo ít được gặp nhau vì Bảo bận học.  Tuy nhiên, những dịp đặc biệt như thế, Diễm và Vy Hương luôn có mặt để khích lệ Bảo và anh Hùng.

    Ngày 27 tháng 12, 1974 là ngày lễ tốt nghiệp và mãn khóa của các sinh viên Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt tại Vũ Đình Trường Lê Lợi dưới sự chủ tọa của cố TT Nguyễn Văn Thiệu và được đặt tên là khóa Chuẩn Tướng Trương Hữu Đức.  182 tân sĩ quan tốt nghiệp, được cấp bằng cử nhân khoa học ứng dụng và văn bằng tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, gồm 24 sĩ quan Hải Quân, 148 sĩ quan Lục Quân và 10 sĩ quan Không Quân.   Trong ngày mãn khóa, các sinh viên sĩ quan được gắn cấp bậc Thiếu Úy, trao kiếm và cung tên, được tuyên dương công trạng trước quân đội Võ Bị Quốc Gia Việt Nam và gắn anh dũng bội tinh với nhành dương liễu cho quân kỳ của trường.  Ngày Bảo tốt nghiệp trường Võ Bị, Diễm là khách mời danh dự của trường vì Bảo đậu thủ khoa.  Bảo bước ra nhận lon thiếu uý và đại diện cho khóa 27 sĩ quan Võ Bị đọc bài diễn văn khai mạc.  Bảo oai phong, chững chạc trong bộ quân phục đại lễ.  Còn Diễm, nàng như chìm đắm trong niềm hãnh diện.  Những sinh viên tốt nghiệp trong lãnh vực văn hóa, quân sự, thể chất và lãnh đạo chỉ huy, họ sẵn sàng lên đường phục vụ tổ quốc, quân đội và dân tộc.  Diễm bỗng rùng mình qua bốn chữ “sẵn sàng phụ vụ”, nó có nghĩa là nàng có thể mất Bảo qua hòn tên mũi đạn.  Hai câu thơ trong bài thơ “Phận Làm Trai” của Nguyễn Công Trứ như xoáy vào tim óc Diễm, khiến Diễm không ngăn được xúc động, hai hàng nước mắt lăn dài trên má từ bao giờ.

                “ Có trung hiếu nên đứng trong trời đất

                Không công danh thà nát với cỏ cây.”

    Diễm giật mình quay lại khi nhận thấy một bàn tay đặt nhẹ lên vai nàng, Bảo đã đứng sau lưng nàng tự bao giờ, thấy mắt Diễm mờ lệ, anh ôm bờ vai gầy của Diễm, hôn nhẹ lên tóc người yêu, thì thầm như chỉ đủ để nàng nghe.

    • Em khóc đấy à?

    Diễm lau vội những giọt nước mắt, quay lại nhìn Bảo, nàng tựa đầu vào vai Bảo, mặc cho con tim mình thổn thức…

    …Bảo chọn Sư Đoàn 25/Bộ Binh,06 Biệt Cách 81 nhẩy dù và sau khi thụ huấn những khóa huấn luyện có liên quan đến binh chủng của mình.  Ngày 31 tháng 12, 1974 Bảo cùng 144 tân binh sĩ Lục Quân lên đường đến Dục Mỹ, Nha Trang để thụ huấn một khóa hành quân biệt động rừng núi, sình lầy trong vòng 4 tuần và khóa bảo trì quân trang quân dụng thêm một tuần trước khi kết thúc khóa học ngày 04 tháng 01, 1975.  Rời Dục Mỹ, Nha Trang các sĩ quan khóa 27 Lục Quân trở về Sài Gòn tham dự khóa phát triển hiệu năng quân lực thêm ba tuần nữa từ ngày 20 tháng 02 đến ngày 12 tháng 03, 1975.  Tại đây, các khóa sinh được phát bằng cử nhân khoa học ứng dụng, chứng chỉ tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Bằng nhảy dù.  Sau ngày ra trường, Diễm run lên vì sợ khi nghe Bảo quyết định gia nhập binh chủng “BIỆT HẢI”, phòng 7, nha kỹ thuật, nhưng đó là giấc mơ của Bảo, nên nàng đành in lặng.  Chỉ vài ngày sau, Bảo từ giã gia đình và Diễm để ra đơn vị.

                “Ra trường danh lợi vinh liền nhục

                Vào cuộc trần ai khóc trước cười”

                         (Con đường làm quan, Nguyễn Công Trứ.)

    …Đầu tháng tư năm 1975, tình hình chiến tranh càng ngày càng căng thẳng.  Những trận chiến ác liệt diễn ra hàng ngày và khắp nơi.  Bố mẹ Diễm muốn nàng trở về Sài Gòn và khi miền Nam Việt Nam thất thủ, đơn vị của Bảo cũng được lệnh tan hàng, anh tìm đường trở về Sài Gòn gặp Diễm.  Đám cưới của Bảo và Diễm tổ chức giản dị trong lúc đất nước đang trong cơn loạn lạc, chỉ hai tuần trước ngày biến cố 1975.  Diễm lại chính là người khuyên chồng nên ra trình diện vì nàng tưởng Bảo chỉ phải đi học tập cải tạo có một tháng rồi về, như lời hứa của chính phủ Bắc Việt trên máy phóng thanh.  Diễm có ngờ đâu, đó cũng là lần cuối cùng hai vợ chồng được ở bên cạnh nhau…

    …Lần cuối cùng Diễm đi thăm chồng ở trại tù cải tạo tỉnh Thanh Hóa, Bắc Việt, Diễm làm một cái bánh ga-tô, nàng nhét vào đó một ít tiền và vài chỉ vàng để Bảo tiêu dùng trong thời gian xa vắng Diễm.  Bảo ra hiệu cho Diễn nên theo gia đình đi vượt biên và hẹn gặp lại nàng sau khi mãn tù.  Bảo trao cho Diễm một chiếc lược bằng nhôm mà anh đã khéo léo mài gọt trong nhưng ngày trong lao lý, trên cán của chiếc lược, anh khắc hai chữ Bảo & Diễm.  Đó là kỷ vật và cũng là lần cuối cùng Diễm gặp chồng trước khi rời Việt Nam…

    …15 năm chờ đợi đã được đền bù thật xứng đáng.  Diễm như người sống trong mộng ảo khi nghe tin Bảo trốn thoát khỏi trại tù cải tạo, vượt biên và đang ở trại tị nạn bên Philippine.   Diễm vội vã đáp máy bay đi thẳng qua Philippine để làm thủ tục bảo lãnh cho chồng.  Gặp chồng, Diễm đứng lặng người, Bảo sau bao năm tù đầy, chàng đã thay đổi khá nhiều.

    Ba tháng trôi qua, Diễm đếm từng ngày, mong từng giờ, sửa soạn và chuẩn bị từ tâm hồn đến thể xác, chờ ngày ra phi trường đón Bảo.  Nghĩ đến ngày đoàn tụ, Diễm thầm cám ơn Thương Đế, nàng nhắm mắt để tận hưởng những giây phút hạnh phúc tuyệt vời xắp sửa đến cho cuộc đời mình.

    Mùa xuân đến thật đúng lúc, những bông hoa muôn mầu nở rộ trên khắp đường phố, cũng như những cánh hoa yêu thương đang nhảy múa trong lòng Diễm, khi nàng được tin Bảo sẽ đáp chuyến bay quốc tế Boeing 747, rời Philippine và sẽ đến phi trường LAX lúc 11 giờ sáng ngày mai.  Diễm muốn hét lên thật to, “Thôi nhé Uyển Diễm, giã từ những ngày cô đơn lẻ bóng.”  Diễm lục tung tủ áo, cẩn thận chọn cho mình một cái áo dài thật đẹp, mầu tím hoa tigon nhạt mà cả hai đứa vẫn yêu.  Cả đêm hôm ấy, Diễm thao thức và không thể nào nhắm mắt được, nàng chỉ mong trời mau sáng để được ngã vào vòng tay yêu thương của Bảo, đền bù cho những ngày xa cách…

    …Một năm sau, Bảo và Diễm hân hoan chào đón đứa con trai đầu lòng, cả hai đều đồng ý đặt tên con là Trịnh Bảo Gia Đoàn,có nghĩa là sự kết hợp giữa hai dòng họ Trịnh & Đoàn và cũng là để ghi nhớ ngày đoàn tụ (Gia Đoàn là gia đình đoàn tụ) của vợ chồng Diễm và Bảo.

    20 năm trôi qua, Gia Đoàn đã 20 tuổi và đang theo học ngành y khoa tại trường đại học UCLA.  Diễm không còn muốn ao ước thêm gì nữa, vì nàng biết, vợ chồng nàng đang chìm đắm trong hồng phúc mà Thượng Đế đã ban cho gia đình nàng.  Nào ngờ, hai tháng sau ngày kỷ niệm ngày cưới của hai vợ chồng, Diễm bàng hoàng khi nghe bệnh viện báo hung tin là Bảo bị đột khụy ngay trong sở làm và đang nằm trong phòng hồi sinh (ICU).  Diễm vội vã bỏ sở chạy thẳng đến bệnh viện.  Trong phòng hồi sinh, Bảo nằm bất động trên giường, hai mắt nhắm chật, trên người chàng chẳng chịt những giây, máy thở, máy trợ tim.  Diễm lao người đến bên giường của Bảo, nâng bàn tay của chồng lên, áp nhẹ vào má, hai hàng nước tuôn trào trên má như một dòng suối.

    Hơn sáu tháng điều dưỡng ở trung tâm phục hồi, sức khỏe của Bảo có phần khả quan hơn, nhưng cơn tai biến mạch máu đã ảnh hưởng đến một phần thân thể và trí nhớ của Bảo, chàng trở nên ngây ngô như một đứa trẻ thơ.  Diễm quyết định mang Bảo về nhà, nàng xin nghỉ việc và ở nhà để tự mình chăm sóc cho chồng… 

    …Đã bao năm trôi qua, sáng nào Diễm cũng đẩy chồng trên chiếc xe lăn, đưa chồng tới một công viên gần nhà, đến bờ hồ năm xưa, nơi mà Diễm và Bảo thường hay đi dạo mỗi buổi chiều để ngắm hàng cây phượng tím cạnh bờ hồ, để nhìn theo đàn thiên nga tung tăng bơi lội, đùa vui trên mặt hồ.  Đây cũng là nơi đã chôn vùi bao nhiêu kỷ niệm của hai vợ chồng khi Bảo còn khỏe.  Diễm dua Bảo đến đây mỗi ngày với hy vọng phục hồi lại  trí nhớ của Bảo, nhưng có lẽ đó chỉ là một giấc mơ trong Diễm vì càng ngày bịnh mất trí nhớ của Bảo lại càng nặng thêm.  Phải, chứng bịnh “Alzheimer” quái ác kia đã tàn phá hoàn toàn bộ óc của Bảo, chàng không nhận biết những gì xẩy ra quanh mình.  Thậm trí, Bảo không còn nhớ Diễm là vợ của anh nữa…

    Tiếng hát của cô ca sĩ hàng xóm, Tuyết Hồng từ phía nhà bên cạnh vọng ra bài nhạc kích động.

                “Nếu có yêu tôi 

                Thì yêu tôi bây giờ

                Đừng để ngày mai

                Đến lúc tôi qua đời…”

    Bảo đang ngồi trên ghế chờ vợ, anh lắng tai nghe, mắt nhìn về hướng có tiếng hát vọng lại, thỉnh thoảng mỉm cười một mình.  Diễm từ trong phòng ngủ bước ra, nàng đỡ Bảo ngồi lên chiếc xe lăn rồi với tay lấy cái mũ “phớt” đội lên đầu chồng, xong nói nhỏ vào tai Bảo.

    • Em đưa mình đi dạo mát nhé. 
    • Đi chơi à. 
    • Vâng, đi xuống đồi hóng gió cho khỏe anh ạ.

    Không thấy Bảo trả lời, Diễm với tay lấy cái giỏ trên bàn, khoác lên vai, rồi đẩy chiếc xe lăn của chồng ra khỏi nhà.   Chỉ khoảng năm phút sau là họ đến một công viên ở gần đấy.  Diễm đẩy chiếc xe lăn về hướng hồ sen, tiến gần đến một băng ghế dài đặt dưới gốc cây phượng tím.  Diễm dừng chiếc xe lăn lại, rồi đi vòng ra phía trước của chiếc xe lăn, nàng cẩn thận khóa cái thắng của xe lăn lại trước khi ngồi xuống cạnh bên chồng.  Diễn đưa tay gỡ cái nón trên đầu Bảo, vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trên trán chồng, nàng cầm nón, phe phẩy trước mặt chồng cho mát, rồi ghé tai Bảo, nhẹ nhàng nói:  

    • Mình ngồi đây cho mát, anh nhé.

    Bảo ngước mặt lên nhìn vợ, tay chàng giữ chật lấy cánh tay Diễm, với một giọng run run, lo lắng, Bảo hỏi. 

    • Chỗ này là chỗ nào vậy chị?  Tôi chưa đến đây bao giờ. 

    Diễm mỉm cười, gỡ tay Bảo ra, rồi với tay lấy trong giỏ sách một bình nước lọc nhỏ, đưa cho Bảo.  Giọng dịu dàng. 

    • Anh uống nước cho đỡ khát. 

    Bảo đưa tay đỡ lấy chai nước, đưa lên miệng. 

    • Đây là Parata park gần nhà, mình ra đây mỗi buổi sáng, anh không nhớ sao?
    • Thế à…

    Rồi Bảo quay mặt ra phía hồ nước, không nói gì, mắt nhìn đăm đăm vào khoảng không.  Diễm đưa mắt nhìn dọc theo con đường nhỏ chạy vòng quanh bờ hồ, hàng cây phượng tím vẫn nở rộ, phản chiếu trên mặt hồ tạo nên một bức tranh thủy mạc tuyệt đẹp.  Trên mặt hồ, từng cặp thiên nga đang bơi cạnh nhau như những cặp tình nhân đang thưởng ngoạn phong cảnh hữu tình, gợi nhớ trong tâm trí Diễm những ngày thơ mộng và hạnh phúc của hai vợ chồng tựa như một cuốn phim đang quay chậm, nàng buông tiếng thở dài.  Bỗng tiếng nói của Bảo, khiến Diễm giật mình quay lại.

    • Đây là đâu vậy chị? 
    • Mình đang ở ngoài công viên gần nhà, anh không nhớ à? 
    • Thế à. 
    • Vâng, anh có nhớ chúng mình vẫn hay đi dạo ở đây mỗi buổi chiều để ngắm hàng cây phượng tím.

    Diễm chỉ tay về phía hàng cây phượng vĩ.  Bảo nhìn theo chỉ tay của Diễm.

    • Thế à…
    • Có khi, đúng ngày rằm, khoảng 15 tháng 10, rằm Trung Thu, anh hay đưa em ra đây ngắm trăng.

    Ngừng một chút, Diễm nói tiếp giọng nàng nghẹn lại như muốn khóc.

    • Hoặc ngày Bốn tháng Bẩy là ngày lễ Độc Lập, mình cũng hay ra xem pháo bông ở đây.  
    • Thế à.
    • Vâng, anh có nhớ chúng mình hay ngồi ở cái ghế này, ngắm đàn thiên nga đang bơi đó…
    • Thế à.

    Hai người lại ngồi yên trong lặng lẽ, bỗng dưng Bảo quay lại, đập nhè nhẹ vào tay Diễm hỏi. 

    • Chị ơi, chỗ nầy là ở đâu?

    Như đã quen với những câu hỏi của Bảo và như đã thuộc lòng câu trả lời.  Diễm trả lời chồng như một cái máy đã được ghi âm sẵn. 

    • À, mình đang ngồi tại bờ hồ của Parata Park đấy. 
    • Thế à.

    Ngừng một chút, Diễm quay sang Bảo, khẽ nói. 

    • Nắng đã lên cao, mình về thôi anh ạ.  

    Không thấy Bảo nói gì, Diễm đứng dậy, đội cái mũ lên đầu cho chồng, rồi đẩy chiếc xe lăn hướng về nhà.  Về gần đến nhà, Diễn gặp hai vợ chồng hàng xóm cũng trên đường ra công viên.   Họ dừng lại chào Diễm và Bảo.  Người vợ vui vẻ chào Diễm 

    • Chào chị Diễm, chị đưa anh đi hóng gió?

    Diễm mỉm cười, đứng lại trả lời hai vợ chồng Hưng và Tuyết Hồng, nàng nói. 

    • Vâng, hôm nay ông bà được nghỉ làm hay sao mà đi “dung giăng dung dẻ” thể này?
    • Vâng, lâu lâu tụi em lấy một ngày nghỉ ở nhà cho thoải mái. 

    Trong lúc Diễm đang nói chuyện với người vợ, Hưng đi vòng lên phía trước xe lăn của Bảo, anh cúi hẳn người xuống, bắt tay Bảo.  Họ chào hỏi và trao đổi một vài câu chuyện xong từ giã Diễm và Bảo rồi tiếp tục đi về phía bờ hồ.  Diễm cũng đi lại sau lưng Bảo, đẩy nhẹ chiếc xe lăn đi về nhà. 

    Về đến nhà, Bảo quay lại nhìn Diễm, hỏi. 

    • Lúc nẫy chị nói chuyện với ai vậy?
    • À, anh Hưng và cô ca sĩ Tuyết Hồng ở cạnh nhà mình đấy. 
    • Thế à. 
    • Cô bé ấy ca hay đáo để, anh vẫn nghe cô ta nghêu ngao mỗi ngày ngoài patio sau nhà đấy thôi.
    • Thế à, tôi chưa nghe cô ấy hát bao giờ?
    • Ồ, tại anh không nhớ đấy thôi. 

    Hơn 10 năm chăm sóc cho Bảo, Diễm không còn nghĩ đến mình, cả ngày nàng quanh quẩn bên Bảo và cắt dứt tất cả liên lạc với bạn bè.  Diễm muốn dành tất cả thời gian còn lại ở bên chồng và không nhờ sự giúp đỡ của gia đình.  Có lẽ chính vì vậy mà sức khỏe của Diễm càng ngày càng kiệt quệ, nàng không còn đủ sức để lo cho chính mình.  Diễm điện thoại gọi cho con, nhắn Gia Đoàn về gấp.  Diễm nhờ vợ chồng một người bạn HO của Bảo, anh Tâm chăm sóc cho Bảo và vợ anh, chị Thu giúp việc nhà.  Tin Diễm bịnh nặng đã làm gia đình Diễm và bạn bè từ xửng xốt đến bàng hoàng.  Chỉ vỏn vẹn vài tháng sau, Diễm qua đời…

    Từ ngày Diễm qua đời, Gia Đoàn trở về sống với bố, những khi anh phải đến trường hoặc vắng nhà, vợ chồng anh Tâm ở lại coi sóc Bảo.  Phần Bảo, sự ra đi vĩnh viễn của Diễm cũng không có gì khác lạ đối với anh, thỉnh thoảng, anh nhìn tấm di ảnh của Diễm nhưng chẳng nói năng gì.  Có lẽ Bảo cũng không biết tại sao Diễm không đến đưa anh đi dạo mát mỗi buổi sáng. 

    Cũng như mọi ngày, Bảo ngồi bất động trên chiếc xe lăn, mắt chàng như dán chật vào tấm di ảnh của Diễm, bỗng nhiên hôm nay, anh lăn chiếc xe tiến đến gần bàn thờ của vợ.  Khi chiếc xe chạm vào mép bàn, Bảo đưa tay với lấy tấm ảnh của Diễm trên bàn thờ, ngắm nhìn tấm ảnh một lúc thật lâu, rồi ôm vào lòng.  Một lúc sau, Bảo như chợt nhớ ra điều gì, anh lẩm bẩm thật nhỏ trong miệng, xong anh đặt tấm di ảnh của Diễm xuống đùi, lăn bánh xe thẳng về phía cửa ra vào.  Bảo dừng xe lại trước ngưỡng cửa, hai tay ôm chật tấm di ảnh của Diễm, mắt nhìn ra hướng bờ hồ, đoạn anh đưa tấm ảnh lên môi, hôn nhẹ lên mặt kiếng của tấm hình rồi hạ tấm hình xuống ngực.   Bảo ghì chật tấm ảnh vào lòng, anh nhắm mắt lại, hai giọt nước mắt lăn dài trên má.   Bảo đưa hai tay ôm lấy ngực, có lẽ cơn đau tim kéo đến dồn đập, tấm di ảnh của Diễm rơi xuống đất, mặt kiếng vỡ tan tạo nên âm thanh dòn dã.  Đầu Bảo từ từ gục xuống, rồi ngã hẳn về phía trước, hai tay anh buông thõng, bất động…

    Chiều nay, ông Tâm vừa nấu xong bữa cơm chiều, từ dưới bếp chạy lên nhà trên mời Bảo vào ăn cơm chiều, nhưng quá trễ, Bảo đã gục chết từ bao giờ…

    Bên nhà hàng xóm, tiếng hát của ca sĩ Vũ Khanh vang lên, nghẹn ngào như tiếng khóc.

    Yêu em như thuở nào
    Tình yêu còn biên đầy trang giấy
    Yêu em như thuở nào
    Tình yêu còn đong đầy trang sách.

    Dù biết trái tim đã già
    Mà những thiết tha chẳng nhòa
    Tình cũ vẫn nghe ấm nồng
    Gọi tên nhau lúc cô đơn
    Để nghe sưởi ấm tâm hồn.

     Em ơi đây tiếng đàn,
    Lời ca dệt ân tình năm tháng
    Câu ca hay khúc nhạc
    Tình yêu còn đong đầy khao khát.

    Dù có cách xa mỏi mòn
    Mà những dấu yêu mãi còn
    Sưởi ấm xác thân héo gầy
    Tình yêu như gió đem mây
    Gọi mưa giăng kín khung trời.

    Này em hỡi, ta mơ ngày sẽ tới

    Khi tương phùng, em khóc cho niềm vui vì hạnh phúc.
    Ngọt hay đắng, trong cuộc đời mưa nắng
    Ta luôn cười trong giấc mơ hạnh phúc xưa tuyệt vời
    Riêng ta nơi núi rừng
    Về đêm càng nghe hồn băng giá
    Câu ca hay khúc nhạc
    Càng thêm sầu cho tình tan nát.

    Dù biết cách xa với đời
    Dù biết thủy chung chẳng rời
    Mà vẫn xót xa tháng  ngày
    Chờ ta chi nữa em ơi
    Còn đâu giây phút tuyệt vời.

    Khánh Lan

    California, November 2020 

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Văn Hóa Vụ trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
    2. Trường Võ Bĩ Quốc Gia Đà Lạt Wikipedia.
    3. Hai người đậu thủ khoa khóa 27 là sinh viên sĩ quan Hoàng văn Nhuận và Lê Mạnh Khoa
  • Khánh Lan

    THÁM TỬ LÊ MINH: Điệp Vụ Thứ Nhất

    Từ thuở nhỏ Lê Minh không hề thắc mắc về cái tên của mình cho đến khi cô bước vào ngưỡng cửa trung học thì hẳn cái tên Phan Lê Minh trở thành một vấn đề và là mục tiêu cho các bạn bè cùng lớp trêu chọc.  Ấy thế, chẳng phải chỉ có một mình Lê Minh có cái tên “nam giới” như vậy mà cô khám phá ra hai đứa bạn cùng trường cũng có cái tên “dễ làm cho người nghe hiểu lầm“.  Đó là Nguyễn Thúy Hùng và La Sơn Hải.  

    Lê Minh hơi bực mình, tức giận và không thể nào quên được ngày tựu trường để vào lớp 6 (Đệ thất), khi cô nhìn thấy tên mình trên danh sách của lớp 6A dành cho nam học sinh và bị tụi con trai chọc ghẹo.  Trong thời gian ấy, lớp học được chia thành lớp 6A và lớp 6B, lớp 6A là cho học sinh nam và 6B dành cho học sinh nữ.  Các nhân viên của trường giải thích là họ xắp xếp học sinh vào lớp học 6A hay 6B dựa theo tên của học sinh.  Chính vì lý do ấy mà Nguyễn Thúy Hùng sẽ đi vào lớp 6B nữ còn Phan Lê Minh và La Sơn Hải sẽ qua lớp 6A nam là lẽ tất nhiên.  Nhưng điều này chẳng làm Lê Minh khó chịu vì cô luôn được ngồi hàng đầu và được chiếu cố tận tình bởi các thầy cô và các bạn nam trong lớp.  Chẳng những thế, Lê Minh lại cảm thấy thích thú với cái tên “ngược đời” của mình vì bỗng nhiên cô trở thành người “được ngưỡng mộ” (popular) nhất trong trường mà ai cũng muốn tìm đến nhìn mặt xem con bé Phan Lê Minh là ai?   

    Lê Minh là con gái út trong một gia đình có 4 anh trai, có lẽ vì vậy mà cô cũng rất là “tinh nghịch như con trai” (tomboyish).  Thoạt nhìn, Lê Minh có vẻ giống như người lai Ấn hơn là người Việt, cô có dáng người dong dỏng cao, nước da bánh mật, đôi mắt phượng to tròn dưới hàng lông mi dài cong vút, cặp lông mày thon đậm, cái mũi dọc dừa, nụ cười tươi tắn giữa hai lún đồng tiền sâu hoắm làm tăng thêm phần duyên dáng trên khuôn mặt trái xoan xinh xắn.  

    Mặc dù là phận nữ nhưng Lê Minh lại chẳng có dáng điệu của một nàng thục nữ, cô ngổ ngáo như một đứa con trai, cô ghét cay đắng nếu phải mặc áo dài, đi giày kiểu, sách bóp đầm, v.v… Đã thế, Lê Minh thích cắt tóc kiểu demi garçon, mặc quần jean, đội mũ đội mũ lưỡi trai (fat cap hay snapback), v.v…

    Lê Minh sống và chơi với các anh trai từ thuở nhỏ nên cô chịu ảnh hưởng cũng như bị lôi cuốn bởi những trò chơi và hay dùng ngôn ngữ bạo miệng của các anh mình.  Lê Minh thích chơi đá banh, bắn súng, đánh võ, xem phim bạo động hay trinh thám (action, detective movies) và đọc truyện chưởng (kiếm hiệp). 

    … Vào học được hai tuần, một hôm Lê Minh đang ngồi xem đá banh trong giờ thực tập thể thao (PE) thì Nguyễn Thúy Hùng và La Sơn Hải đến tìm cô. 

    • Này, bạn là Phan Lê Minh phải không?
    • Ừ, hai bạn là ai?  Mà tìm tôi làm gì?
    • Có làm gì đâu, tụi tui chỉ tò mò muốn biết bạn là ai thôi.   Tui là La Sơn Hải, còn bạn này là Nguyễn Thúy Hùng.    

    Đúng là “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” Lê Minh nghĩ thầm.  Sơn Hải nói xong, cô nàng kéo Thúy Hùng ngồi xuống cái ghé dài cạnh Lê Minh, rồi cả ba chăm chú ngồi im xem trận đấu banh giữa hai trường trung học:  Lý Thường Kiệt và Văn Hóa Quân Đội.  Tuy ngồi coi đá banh nhưng thỉnh thoảng Lê Minh liếc mắt quan sát hai đứa bạn mới để nhận xét xem chúng thuộc thành phần nào?  Hiền lành dễ chịu hay cần phải đề phòng. 

    Cái tên La Sơn Hải thật đúng như con người của cô, với đáng người cao lớn, giọng nói sang sảng, ồn ào vui tính.  La Sơn Hải càng hay nói và nói nhiều bao nhiêu thì Nguyễn Thúy Hùng lại rất hiền, ít nói và nhút nhát bấy nhiêu.  Thúy Hùng với làn da trắng hồng như con gái, lại hay mắc cỡ nhất là mỗi khi bị bạn bè trêu chọc là mặt anh đỏ gay như trái cà chua… Sau phần giới thiệu, ba đứa Minh, Sơn, Hùng  trở thành 3 người bạn thân cho đến ngày gia đình Lê Minh vượt biên qua Mỹ định cư.  Năm ấy, Lê Minh vừa đúng 14 tuổi… 

    … Ngay từ khi qua Mỹ, Lê Minh đã có ý định trở thành thám tử điều tra những vụ án mạng bí ẩn, cô thường theo dõi hằng ngày những tin tức về tội phạm trong xã hội, cô bị thu hút bởi những phim gián điệp như Silence Of The Lamb, Talented Mr. Ripley, The Girl On The Train, v.v… Cô say mê xem những loạt TV Show như Unsolved Mysteries, The American Most Wanted, Forensic Files, v.v… Chính vì vậy mà sau khi tốt nghiệp bằng trung học phổ thông Lê Minh thi tuyển vào University of California, ra trường với bằng cao học Criminal Justice và xin vào làm việc cho Ban Tư Pháp Tội Phạm Sát Nhân (Criminal Justice  Homicide Department).

    Để trở thành thám tử điều tra tội phạm sát nhân (Homicide Detective) Lê Minh phải trải qua rất nhều thời gian luyện tập, bởi cơ quan này thực hiện các công việc quan trọng trong việc thực thi pháp luật như điều tra các trường hợp tử vong do tội phạm gây ra, khám nghiệm hiện trường vụ án, phỏng vấn nhân chứng và truy lùng nghi phạm.  Trước khi gia nhập lực lượng Tư Pháp Tội Phạm Sát Nhân (Criminal Justice  Homicide Department) và để trở thành thám tử điều tra tội phạm sát nhân, Lê Minh phải hoàn thành khóa đào tạo của học viện cảnh sát, sau đó áp dụng những gì đã học vào khóa đào tạo thám tử điều tra tội phạm sát nhân…  

    … Ông bà Lê Phan bàng hoàng đến hoảng hốt khi nghe con gái báo tin là cô được nhận vào khóa đào tạo của học viện cảnh sát thuộc thành phố Los Angeles, Police LAPD Police Academy/Elysian Park.  Sự cương quyết của Lê Minh khiến ông bà Lê Phan đành phải chấp nhận và tôn trọng quyết định của cô.   

    Sau khi Lê Minh tham dự chương trình đào tạo các sĩ quan cảnh sát và thám tử điều tra tội phạm sát nhân tại Học viện Cảnh Sát bao gồm các môn học:  Thực hành và nghiên cứu về thể chất và tâm lý, thực hành điều tra sự việc, thấu hiểu luật lệ giao thông, điều khiển xe cơ giới, quy trình tuần tra, kỹ thuật lái xe khẩn cấp, luật hình sự, chiến thuật phòng thủ và súng.  Tiếp theo, Lê Minh cần phải hoàn thành “chương trình đào tạo” gồm tích lũy kinh nghiệm trong công việc, thực tập và lấy kinh nghiệm thực tế tại đơn vị điều tra tội phạm sát nhân của sở cảnh sát địa phương, hợp tác với các cơ quan khác tùy thuộc vào thể loại vụ án đang điều tra.  

    Ngày Lê Minh tốt nghiệp khóa sĩ quan cảnh sát và thám tử điều tra tội phạm sát nhân, ông bà Lê Phan vô cùng hãnh diện khi thấy đứa con gái út của mình trở thành một sĩ quan cảnh sát đứng hiên ngang trên bục đọc bài diễn văn đại diện cho toàn khoa và tuyên thệ trung thành với tổ quốc, bảo vệ người dân.  Sau buổi lễ ra trường, Lê Minh được bổ nhiệm làm việc tại thị xã Westminster thuộc quận Cam, tiểu bang California, nơi cư ngụ của nhiều người Á đông mà cô lại là người thông thạo cả ba ngôn ngữ:  Việt, Anh và Tây Ban Nha.  Công việc của Lê Minh là cô có thể bắt và giam giữ những cá nhân vi phạm pháp luật, luật giao thông, ứng phó với các trường hợp khẩn cấp và tuần tra các khu vực có tội phạm xảy ra.  

    … Sau vài năm làm việc tại sở cảnh sát và có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực điều tra, Lê Minh mộp đơn để được thăng chức vào vai trò thám tử điều tra tội phạm sát nhân.  Lê Minh được gởi đi học thêm khóa thực thi pháp luật, ghi nhận và tiếp xúc với các tình huống khó lường.   Chức vụ thám tử điều tra tội phạm sát nhân đòi hỏi người thám tử phải phản ứng nhanh, bén nhậy, thông minh, quyết đoán và hiệu quả đích thực khi điều tra một án mạng gây chết người.  Sau khi đã đoạt được các kỹ năng đòi hỏi để trở thành thám tử điều tra tội phạm sát nhân, Lê Minh đoạt được chức vụ mà cô hằng mơ ước:  Thám tử Lê Minh.  

    Sáng hôm sau, Thám tử Lê Minh đến trình diện Ban Tư Pháp Tội Phạm Sát Nhân (Criminal Justice Homicide Department) và bổ nhiệm phụ tá (partner) cho Thám tử McBride.  Thám tử McBride khoảng 50 tuổi, ông đã giữ chức vụ này hơn 20 mươi năm, nổi tiếng là một thám tử suất sắc, thông minh, có khả năng quan sát, đánh giá hiện trường hiệu quả và đích thực.  Thám tử McBride lại có biệt tài phân tích bằng chứng do CSI (Crime Scene Investigator) thu thập được, ông ghi nhận định khu vực, xử lý đúng nghi thức và ghi lại rõ ràng các chi tiết trong tờ báo cáo.  Tuy nhiên, Thám tử McBride cũng nổi tiếng là khó tính, gàn, quyết đoán và bất cần khiến ít ai dám làm thân với ông, mặc dù họ rất kính nể tài năng của ông. 

    Vừa nhận được lệnh đến trình diện Thám tử McBride, Lê Minh không hề nao núng vì cô nghĩ cô có đủ bản lĩnh để đối diện với những người như Thám tử McBride.   Từ sáng sớm, Lê Minh đã chuẩn bị sẵn sàng từ y phục, phong cách đến thực tập những điều cần thiết để trình diện cơ quan điều tra tội phạm sát nhân và gặp Thám tử McBride.  Để không bị trễ giờ, Lê Minh đến sớm nửa tiếng, cô muốn chứng tỏ với Thám tử McBride rằng cô rất đúng giờ và nghiêm túc trong công việc.  Vừa bước vào phòng đợi, Lê Minh chưa kịp nói gì thì anh nhân viên ngồi ở bàn giấy đã giơ tay chào cô và nói. 

    • Chào buổi sáng Thám tử Lê Minh.  Thám tử McBride đang đợi cô trong phòng số 18.
    • Chào buổi sáng hạ sĩ Johnson.  Sao anh biết tôi là Lê Minh. 
    • Thưa, tôi đã được báo cáo của cấp trên về Thám tử từ tuần trước. 

    Lê Minh nhìn đồng hồ, còn 15 phút nữa mới đến giờ hẹn thế mà Thám tử McBride đã có mặt ở đây rồi, không biết ông ta đã đến từ bao giờ?  Nghĩ vậy, Lê Minh đi thẳng vào phòng số 18.  Bước vào phòng số 18, Lê Minh nhận thấy Thám tử McBride ngồi sau cái bàn bừa bộn giấy tờ, hai chân gác lên bàn, hai tay cầm tờ báo đưa lên cao, che khuất khuôn mặt của ông nên ông không hề biết là Lê Minh đang đứng trước mặt. 

    • Lê Minh trình diện Thám tử McBride. 

    Thám tử McBride ngồi nhổm dậy, đưa mắt nhìn Lê Minh một lúc rồi từ từ đứng dậy, ông đưa tay về phía cái ghế đối diện với ông. 

    • Thám tử Lê Minh, cô ngồi xuống ghế đi. 
    • Vâng, cám ơn Thám tử McBride. 
    • Hừ… hừ… từ này gọi tôi là McBride hay Joe.
    • Này Lê Minh, cô biết gì về tôi? 

    Lê Minh chưa kịp trả lời, McBride đã nói tiếp. 

    • Hừ… hừ… những gì cô nghe nói về tôi, kể ra cũng gần đúng đấy, cô có ngại không?  Nếu có, cô có thể xin đổi một người khác, chắc được đấy, cũng chưa muộn lắm đâu. 
    • Thưa ông, điều ấy không quan trọng đối với tôi, tôi thiết nghĩ, tôi sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm hữu ích dưới sự hướng dẫn của ông, tôi hứa tôi sẽ không làm ông thất vọng.  Vả lại, tôi nghĩ, không có gì bỗng nhiên hay tự nhiên từ trời rơi xuống cho ta một cách vô tư.  Mà để đoạt được cái gì hay việc gì ta muốn hay ao ước, thì ta phải trả với một giá rất đắt mới có thể có được.  Đó là sự nhẫn nhục, cố gắng và phải biết nắm giữ lấy cơ hội khi nó đến vì có thể nó sẽ không trở lại với ta lần thứ hai.  Thưa ông. 

    Thám tử McBride gật gù, cười vang:

    • Hahaha… được, tốt, tốt.  Lý luận khá hay đấy.

    Nói xong, ông chỉ tay qua một chồng hồ sơ để sẵn trên một chiếc bàn kê song song với cái bàn của ông. 

    • Lê Minh, đó là bàn làm việc của cô.  Hừ… hừ… chưa thấy ai báo cáo gì cả nên cô có thể coi những hồ sơ tôi để sẵn trên bàn của cô.   Nếu thắc mắc điều gì, cô có thể hỏi tôi, bất cứ lúc nào, cô hiểu chứ? 

    Nói xong, Thám tử McBride bước ra phía cửa, nhưng hình như vừa nhớ ra điều gì, ông ngoái đầu qua phía Lê Minh hỏi. 

    • Này, Lê Minh.  Đã có ai dẫn cô đi lòng vòng, quanh cơ sở này chưa?
    • Thưa ông chưa.  Tôi mới đến là vào gặp ông ngay.
    • Thế thì đi theo tôi. 

    Hai người bước ra khỏi phòng, Thám tử McBride vừa đi vừa nói. 

    • Hôm nay, ta không phải vội vã làm việc gì cả, đợi đến ngày mai cũng chẳng muộn gì.  Cô cứ thư giãn, ngoại trừ ai báo cáo là đang có án mạng xảy ra, lúc ấy, cô sẽ đi với tôi.  Thực hành bao giờ cũng học hỏi được nhiều, gặt hái được những kinh nghiệm hữu hiệu hơn là học như con mọt sách… chán lắm.  Thế cô đã học được những gì trong khóa học vừa qua? 
    • Thưa ông, sau khóa học điều tra tội phạm sát nhân về khả năng để giải quyết vấn đề, tôi đã được học qua lý thuyết về: Tư duy phản biện (Critical thinking); Giao tiếp bằng văn bản (Written communication); Giao tiếp bằng miệng (Oral communication); Hành vi đạo đức (Ethical behavior); Sự chú ý đến chi tiết (Attention to detail); Hiểu biết sâu sắc về hành vi và tâm lý con ngườiProblem solving (Keen understanding of human behavior and psychology).

    Thám tử McBride mỉm cười, gật gù.

    • Tốt lắm.  Kể như cô đã xong phần lý thuyết, nhưng trên thực tế, khi một vụ giết người được báo cáo, đơn vị CSI và các thám tử điều tra tội phạm sát nhân được gọi đến để thu thập bằng chứng và tìm hiểu xem vụ giết người đó diễn ra như thế nào.  Công việc của một thám tử điều tra tội phạm sát nhân thật nghiệt ngã, vất vả, liên quan đến việc đối phó với một số trường hợp hoàn toàn khủng khiếp và không có vụ án nào giống vụ án nào.  Các thám tử điều tra tội phạm giết người phải có khả năng xử lý hiệu quả theo từng tình huống.  

    Nói xong, Thám tử McBride quay sang Lê Minh hỏi.

    • Thế cô đã sẵn sàng đối diện với những thử thách đó chưa?
    • Thưa ông, một khi tôi đã quyết định gia nhập lực lượng cảnh sát, tôi đã tự quyết với lòng mình là phải vượt qua mọi trở ngại để đi đến thành công, không chùng bước trước gian nguy, làm tròn nhiệm vụ được giao phó, trung thành với tổ quốc và bảo vệ tự do, công bằng cho toàn dân.  Đó là lời thề và cũng là ước nguyện của tôi.  Chính vì vậy mà tôi xin thưa với ông rằng:  Lê Minh này không những đã sẵn sàng bắt tay vào việc từ hôm nay mà tôi đã sẵn sàng từ hai ba năm trước.
    • Khá, khá lắm.  Cô thật sự là một người có bản lĩnh.  Chúc mừng cô, tôi rất hãnh diện được làm chung với cô như một người bạn đồng hành (partner).  Chào mừng, chào mừng, hoan hô cô. 

    Nghỉ một chút ông tiếp:

    • Công việc của các thám tử điều tra tội phạm sát nhân bắt đầu tại hiện trường vụ án, nơi họ làm việc cùng với các điều tra viên hiện trường vụ án, chịu trách nhiệm phân tích bằng chứng liên quan được thu thập từ CSI, chẳng hạn như lấy dấu tay để có thể xác định nghi phạm trong các vụ án giết người và thu thập thông tin về tội phạm.  Các thám tử điều tra tội phạm sát nhân dành một khoảng thời gian đáng kể để phỏng vấn các nghi phạm, các nhân chứng và những cá nhân có liên quan đến nghi phạm.
    • Sau đó, các thám tử điều tra tội phạm sát nhân có thể sử dụng thông tin thu thập được để trình bày các giả định hoặc khuyến nghị cho các chuyên gia pháp lý thông qua báo cáo chi tiết.  Trong một số trường hợp, các thám tử điều tra tội phạm sát nhân có thể làm chứng tại các phiên tòa để mô tả các bằng chứng và lời khai đã thu thập được nhằm làm sáng tỏ thêm vụ án.

    Lê Minh đang ngồi nghiên cứu đống hồ sơ trên bàn, cô ngừng đọc, trố mắt nhìn McBride hối hả bước vào phòng với dáng điệu vội vã, nét mặt nghiêm nghị, ông nói như hét.

          –  Lê Minh, đi với tôi ngay, nhanh lên. 

    Xong ông vừa đi vừa nói, giọng khẩn trương.   

    • Tôi vừa được cú điện thoại báo cáo về một án mạng xẩy ra ở quán rượu Majestic tọa lạc trên đường Beach, thành phố Westminster.  Nạn nhân là một người đàn bà Mỹ lai Tây Ban Nha và là chủ một quán rượu, bà Gloria Gonzales.  Tôi không rõ là gia đình có nói tiếng anh không? Có thể tôi cần cô trong việc lấy lời khai của gia đình nạn nhân.  Vào xe đã, chúng ta sẽ bàn tiếp. 

    Trên đường đi đến hiện trường, Lê Minh hỏi. 

    • Thưa ông, ai là người đầu tiên tìm thấy nạn nhân?
    • Juan Martinez, anh là nhân viên quét dọn của quán rượu Majestic, một người Tây Ban Nha cư ngụ tại Mỹ bất hợp pháp.  Chính ra, Jose Lopez mới là nhân viên quét dọn tại quán rượu, nhưng những khi Jose bận không đến làm thì Juan được mướn để làm thế chỗ cho Jose.   Tiếng mỹ của Juan rất giới hạn, tính tình lầm lỳ và ít nói, hình như anh ta không có thân nhân hay người quen ở sống đây.
    • Vậy Juan sống ở đây với ai, thưa ông?
    • Tôi không rõ, nếu tôi không lầm thì hình như anh ta sống nay đây mai đó, hầu như vô gia cư thì phải.
    • Ai đã giới thiệu Juan đến làm cho bà chủ quán rượu?
    • Có thể là Jose.  Ý kiến hay, hy vọng Jose sẽ giúp chúng ta tìm ra manh mối hoặc ít nhất biết thêm về con người của Juan chăng?

    Cuộc đổi thoại bỗng dừng lại và cả hai người đều im lặng, có lẽ họ đang theo đuổi những nghi vấn riêng trong đầu.  10 phút sau, xe dừng lại trước quán rượu Majestic đã được niêm phong bởi những sợi ribon màu vàng.  Xe cảnh sát thuộc thành phố Westminster đã có mặt, xe cứu thương và xe cứu hỏa cũng được gọi đến.   Lê Minh và McBride rẽ đám đông đi vào trong quán rượu.   

    Trên sàn nhà, người đàn bà lõa thể nam co quắp trên một vũng máu, miệng bị dán băng keo màu xám, tay và chân đều bị trói ngược ra phía sau bởi một sợi giây thừng bằng ni-lông màu đỏ thẫm, thi thể được che phủ bằng một tấm vải màu trắng, nạn nhân là bà Gloria Gonzales.  Kết quả ghi nhận bà Gloria Gonzales đã bị quấy nhiễu tình dục và hiếp dâm trước khi bà chết bởi nhiều nhát dao đâm vào ngực, bụng và vết cắt rất sâu nơi cổ.  Có lẽ nạn nhân đã tắt thở bởi mất quá nhiều máu.   

    Tại hiện trường không cho thấy sự đột nhập bất thình lình hay cửa ra vào bị phá, điều này cho biết hung thủ là người quen biết với nạn nhân.  Ly tách, bàn ghế và tất cả mọi đồ vật trong quán không hề bị hư hại.  Cái tủ sắt kê trong phòng làm việc của bà Gonzales còn nguyên nhưng trống rỗng bên trong.  Cái bóp hiệu Louis Vuitton trong ngăn kéo bàn giấy của bà Gonzales có một ít tiền lẻ, đếm được $114.28. 

    Bên cạnh quán rượu Majestic là một tiệm ăn đại hàn do ông bà Choi Kim làm chủ.  Ông bà Choi Kim thỉnh thoảng vẫn hay qua nói chuyện với bà Gloria Gonzales hoặc những khi bà Gloria Gonzales qua ăn trưa.  Theo bà Choi Kim, bà Gloria Gonzales sanh trưởng tại Mỹ, chưa từng lập gia đình nhưng có rất nhiều tình nhân.  Quán rượu Majestic rất đông khách và nổi tiếng là quán rượu tiếp đón nồng hậu, lịch sự và có nhiều chiêu đãi viên trẻ đẹp.  Thường thì giờ mở cửa là từ 4 giờ chiều đến 1 giờ sáng ngoại trừ những ngày lễ lớn thì kéo dài đến 2 giờ sáng.   Mỗi tối, sau khi các nhân viên đã ra về bà Gloria Gonzales là người cuối cùng rời khỏi quán rượu cùng với anh bảo vệ Martin Cruz, nhưng thỉnh thoảng bà Gonzales cũng cho anh bảo vệ về trước.  Bà Choi Kim cho biết bà Gloria Gonzales là một người mẹ độc thân, bà sống một mình tại tiểu bang California và gởi đứa con trai 10 tuổi cho bố mẹ chăm nuôi ở tiểu bang Texas. 

    Án mạng tại quán rượu Majestic không có nhân chứng ngoại trừ Juan Lopez là người duy nhất đã phát hiện ra thi thể của bà Gloria Gonzales trong quán rượu.  Vì thế, sau khi mọi thủ tục được ghi nhận, các dữ kiện thiết yếu tại hiện trường đã thu nhập đầy đủ chi tiết.  Juan Martinez được mời về văn phòng để phỏng vấn và lấy thêm chi tiết.  Trước khi ra về, Lê Minh nhận thấy quán rượu Majestic có để hai máy thu hình ở hai góc.  Một cái hướng về phía bãi đậu xe, cái còn lại hướng về phía cửa ra vào và Lê Minh có nhiệm vụ duyệt qua hai cuộn băng trong máy thu hình.  

    Trên đường về sở, Thám tử McBride hỏi.

    • Chúng ta phải tiến hành việc phỏng vấn những người bị tình nghi là có liên quan đến vụ án mạng ngay.  Cô nghĩ gọi ai trước?
    • Còn ai khác hơn là Juan Martinez, nhân chứng duy nhất mà chúng ta có.  Rồi đến Jose Martinez, xong gia đình của bà Gloria Gonzales, tiếp theo là người đi đường, hàng xóm của cô ta, v.v… Cuối cùng có thể phải nhờ đến truyền thanh, báo chí, thậm trí dùng tiền thưởng để mua tin tức…

    Về đến sở, Thám tử McBride và Lê Minh bắt đầu cuộc phỏng vấn với Juan Martinez kéo dài khoảng 4 tiếng đồng hồ.  Juan Martinez là một thanh niên khỏe mạnh và lực lưỡng, không rượu chè hay nghiện hút.  Juan Martinez bị tạm lưu trữ vì anh là dân đi cư bất hợp pháp từ Mexico đến.  Juan Martinez ở nhờ nhà của một người bà con tại thành phố Santa Ana và làm nhiều nghề từ quét dọn vườn, chặt cây, xây tường, v.v… kiếm sống qua ngày.  

    Theo lời khai của Juan Martinez, anh quen Jose Lopez cách đây vài tháng khi anh đang được thuê dọn vườn cho một người hàng xóm cạnh nhà của Jose Lopez.  Hôm đó đang là mùa hè, khí trời rất nóng, Jose Lopez thấy Juan Martinez làm việc cực nhọc, mồ hôi nhễ nhại thì tỏ ra thương hại tình cảnh của người đồng hương, nên Jose Martinez mời anh một lon nước ngọt.  Sau vài lần nói chuyện, Jose Lopez hỏi Juan Martinez là anh có muốn đi làm không?  Nếu Juan Martinez đồng ý thì Jose Lopez sẽ giới thiệu Juan Martinez với bà chủ quán rượu mà anh đang làm để xin việc cho Juan Martinez. 

    Cũng Theo lời khai của Juan Martinez, tối hôm thứ Sáu khoảng 8:00 giờ tối, anh nhận được điện thoại của bà Gonzales bảo anh đến quét dọn quán rượu sáng hôm sau vì Jose Lopez xin nghỉ mấy ngày để về Mexico thăm gia đình.  Hôm sau, khoảng 11:00 giờ sáng Juan Martinez đến quán rượu để làm việc, như mọi khi, bà Gloria Gonzales là người ra mở cửa cho anh vào nhưng sáng nay anh bấm chuông mãi mà không thấy bà Gloria Gonzales ra mở cửa.  Juan Martinez gõ cửa nhiều lần cũng không thấy bà Gloria Gonzales trả lời, tò mò, anh đưa tay xoay cái nắm cửa và ngạc nhiên khi cửa không khóa.  Juan Martinez đẩy cửa, rồi anh lên tiếng gọi nhưng cũng không nghe bà Gloria Gonzales trả lời nên anh bước hẳn vào bên trong và phát hiện thi thể của nạn nhân trên sàn nhà.  Juan Martinez khai, anh không biết xác của ai nằm trên nền nhà, sợ quá anh chạy ra ngoài gọi 911.

    Thám tử McBride hỏi.

    • Thế anh làm việc cho bà Gloria Gonzales được bao lâu rồi?
    • Chỉ khoảng 4 tháng nay, thường là mỗi sáng thứ Bảy và những hôm Jose Martinez xin nghỉ làm. 
    • Lần cuối cùng anh gặp bà Gloria Gonzales là ngày nào?
    • Thứ Bảy tuần trước. 
    • Anh thấy bà Gloria Gonzales thế nào?
    • Bà ta rất tốt với nhân viên, tử tế và rất khuyến rũ. 
    • Anh có bị thu hút bởi vẻ đẹp của bà Gloria Gonzales không?
    • Thú thật, một người đẹp như bà Gloria Gonzales thì ai mà chẳng thích nhìn nhưng tôi thì tôi không bao giờ dám nghĩ đến điều ấy.  Tôi rất quý trọng bà Gloria Gonzales, bà ta giúp đỡ tôi rất nhiều, 
    • Thế tối hôm thứ Sáu, sáng thứ Bảy anh ở đâu và làm gì?
    • Tối hôm ấy, tôi với mấy đứa bạn ngồi ở vỉa hè nhà thằng Luis Cervantes, tụi tôi uống bia với một ít đồ nhậu.  Tôi chưa uống bia bao giờ nên bị say.  Xong rồi ngủ luôn ở đó đến sáng thứ Bảy tôi đến quán rượu quét dọn thì phát hiện ra thi thể của bà Gloria Gonzales. 
    • Anh có đồng ý thử DNA và máy truy tầm nói dối (lie detector) không?
    • Tôi sẵn sàng. 

    Juan Martinez vượt qua thử nghiệm của máy truy tầm nói dối và kết quả của DNA trở về không trùng hợp với DNA ghi nhận tại hiện trường và trên người của bà Gloria Gonzales nên Juan Martinez không bị giam giữ nhưng bị trục xuất về Mexico.  Nhưng nhờ có tin tức của Juan Martinez cung cấp, Lê Minh liên lạc được với Jose Lopez.

    Theo lời khai của bố mẹ cô Gloria Gonzales thì cô là một đứa con gái hư hỏng, có cuộc sống rất hoang đàng, nghiện hút, trốn học và bỏ nhà đi hoang từ khi cô 16 tuổi.  5 năm sau, cô Gloria Gonzales trở về nhà với một đứa bé mới có 2 tháng tuổi, đưa cho bố mẹ nuôi và tiếp tục cuộc sống ngày đây mai đó.  Khi đứa con trai của cô Gloria Gonzales lên 6 tuổi, cô nói với bố mẹ cô rằng cô muốn gởi con cho ông bà nuôi để đi qua tiểu bang California làm ăn.  Thậm chí, bố mẹ cô Gloria Gonzales cũng không hề biết cô là chủ của một quán rượu, ông bà cứ ngỡ là cô Gloria Gonzales đang làm việc cho một cơ quan bất động sản.  Mỗi năm cô Gloria Gonzales về thăm bố mẹ và con trai vào dịp lễ Giáng Sinh nhưng tháng nào cô cũng gởi tiền về cho cha mẹ để nuôi con trai.  

    Bố mẹ cô Gloria Gonzales nói từ khi cô Gloria Gonzales chuyển sang California sinh sống, ông bà rất vui vì cô Gloria Gonzales có vẻ thay đổi khá nhiều và trở nên tốt hơn từ nhân cách đến trang phục, khiến ông bà không hề ngờ vực điều gì và hoàn toàn đặt niềm tin vào con gái mình một cách tuyệt đối, mà ông bà cho là mù quáng và đã đưa đến hậu quả không thể lường được.

    Sáng hôm sau, Thám tử McBride và Lê Minh bắt đầu kiểm soát hai cuộn băng ghi âm an toàn (security video camera) của quán rượu Majestic.  Lê Minh xem lại rất nhiều lần hai cuộn băng nhưng vẫn không có kết quả gì khác lạ.  Trong cuộn băng ghi nhận cô Gloria Gonzales rời quán rượu một mình lúc 2 giờ sáng, rồi đi về phía bãi đậu xe và lái chiếc BMW convertible màu đỏ ra khỏi bãi đậu xe lúc 2 giờ 10 phút sáng.  Trong hình Lê Minh không thể nhìn rõ mặt của cô Gloria Gonzales mà chỉ thấy phía sau lưng của bà. 

    Hôm sau, Lê Minh vào sở và duyệt lại hai cuộn băng vì cô khẳng định rằng người đàn bà trong cuộn băng không phải là cô Gloria Gonzales mà đó chính là kể sát nhân đội lốt cô Gloria Gonzales để đánh lạc hướng cảnh sát và cơ quan điều tra.  Người đàn bà trong cuộn băng mặc một cái áo khoác có mũ màu đen, hai tay bỏ vào túi áo khoác, mái tóc vàng dài ngang vai, chiếc khăn quàng cổ che gần hết khuôn mặt khiến sự nhận diện hình mạo trở nên khó khăn thêm. 

    • Lê Minh, cô có tìm thấy gì lạ không?

    Lê Minh giật mình quay lại. 

    • McBride, ông ngồi xuống đây, tôi muốn ông xem màn hình này.  Rồi cho tôi biết là ông nghĩ gì?
    • Đồ chó má…. nó chính là thủ phạm giả dạng bà Gloria Gonzales .
    • Đúng… nhưng nó là ai?
    • Ông có tin tức gì về chiếc xe BMW của cô Gloria Gonzales không?
    • Tối qua có người báo cáo là nhìn thấy chiếc xe BMW convertible màu đỏ của cô Gloria Gonzales đậu trên một bãi cát hoang trên đường đi Las Vegas, quốc lộ 15.

    Cuộc điều tra về cái chết của cô Gloria Gonzales trở nên bí tắc khi kết quả DNA của Jose Lopez có kết quả âm tính và anh cũng vượt qua thử nghiệm của máy truy tầm nói dối.  Sáu tháng trôi qua, Thám tử McBride và Lê Minh vẫn không nhận được một tin tức gì mới nên hồ sơ về cái chết của bà Gloria Gonzales dành gác lại.  Thám tử McBride và Lê Minh quyết định nhờ cơ quan truyền thông giúp đăng trên TV, báo chí và bảng hiệu được treo lên với giải thưởng $30,000.00 cho ai có tin tức mới về hung thủ. 

    … Một tuần, hai tuần rồi một tháng, hai tháng trôi qua không một ai gọi điện thoại đến văn phòng.  McBride và Lê Minh hoàn toàn thất vọng, cho đến một buổi sáng ngày thứ Sáu, Lê Minh và McBride vừa bước vào phòng làm việc, cả hai chưa kịp ngồi xuống ghế thì điện thoại đã reo lên.  Lê Minh vội vàng chộp lấy cái điện thoại trong lúc McBride vừa đi vừa nhìn Lê Minh, cười lớn như chế nhạo. 

    • Gớm, mới sáng sớm mà cô đã có người gọi mời cô đi ăn trưa chắc?

    Đầu giây bên kia, giọng có vẻ hơi run và ngập ngừng của một phụ nữ.

    • Tôi muốn nói chuyện với Thám tử McBride hay Thám tử Lê Minh. 
    • Tôi, Thám tử Lê Minh. 
    • Thưa Thám tử Lê Minh, tôi có tin tức mới về vụ án mạng xảy ra tại quán rượu Majestic.

    Lê Minh vẫy tay ra hiệu để McBride để ông cùng nghe điện thoại.  Bên đầu giây bên kia, người phụ nữ nói. 

    • Tôi nghĩ chồng cũ của tôi có liên quan đến cái chết của bà Gloria Gonzales. 
    • Thưa bà, chồng cũ của bà tên gì và hiện ông ta đang ở đâu?
    • Tôi không rõ vì chúng tôi đã xa nhau hơn một năm nay.  Tôi hiện đang sống tại thành phố Fountain Valley.  Tôi có một số tang vật mà tôi nghĩ thám tử cần.
    • Vâng, cám ơn bà, chúng tôi đến gặp bà ngay bây giờ được không?
    • Có lẽ để tôi đến gặp hai thám tử thì tốt hơn. 

    Một tiếng sau, người đàn bà đến gặp McBride và Lê Minh, bà tên là Victoria Handerson.  Bà Victoria Handerson khoảng 60 tuổi, dáng người cao to với nét mặt hiền hậu, đem theo với bà là một cái túi da màu đen chứa những tang vật.  Trong đó gồm một bộ quần áo màu đen, một dao nhọn, một cặp găng tay đen, một bộ tóc giả màu vàng, một khăn quàng cổ màu đỏ, một số hóa đơn mua hàng của tiệm Walmart và một chiếc lắc tay bằng vàng với hai chữ viết tắt GG rất nhỏ phía bên trong.

    Theo lời khai của người phụ nữ, chồng cũ của bà là ông Michael Handerson, 55 tuổi.  Bà và ông Handerson ly dị hơn một năm nay, hai đứa con gái đã lớn của ông bà đã có gia đình và ở riêng.  Bà Victoria Handerson lớn hơn ông Michael Handerson 5 tuổi và đã nghỉ về hưu hơn một năm, bà định dọn về tiểu bang Washington State để sống tiện thể chăm xóc cho bố mẹ già.  Trước khi ly dị, ông Michael Handerson và bà Victoria Handerson có mướn một chỗ để chứa đồ không dùng (storage) nhưng bà ít khi đến đó.  Trái lại ông Michael Handerson là người thường xuyên ra vào chỗ để chứa đồ.  Bà Victoria Handerson nói, đôi khi ông Michael Handerson ở đó cả ngày mà bà cũng chẳng thắc mắc vì bà nghĩ ông Michael Handerson chỉ xắp xếp lại mọi thứ cho gọn gàng.   Khi bà Victoria Handerson quyết định dọn về tiểu bang Washington State, bà đến chỗ chứa đồ, dọn dẹp để trả căn phòng cho chủ và không mướn nữa.  Trong lúc dọn dẹp bà Victoria Handerson đã tìm thấy những tang vật này.  

    • Thưa bà Victoria Handerson, xin bà cho chúng tôi biết là bố mẹ của ông Michael Handerson có còn sống và hiện đang ở tiểu bang nào không?
    • Ông cụ vừa qua đời vì bịnh đau tim, còn bà cụ cũng đã lớn tuổi, hiện sống chung với con gái út ở Hawaii.

    Những tang vật do bà Victoria Handerson đem đến đã giải thích rõ ràng về người đàn bà trong cuộn băng ghi hình ở quán rượu Majestic.   Người đàn bà ấy chính là ông Michael Handerson đội lốt của bà Gloria Gonzales, và ông cũng chính là thủ phạm lái chiếc xe BMW của bà Gloria Gonzales và bỏ xe của bà lại ở bãi hoang trên quốc lộ 15.  Vấn đề ở đây là ai đã cho ông Michael Handerson quá giang hay chở ông về lại quận Cam?  Bà Handerson hay ba Webbs?  Động lực gì đã khiến ông Michael Handerson giết bà Gloria Gonzales?  Vì tiền hay vì tình hay vì ghen tuông?  Những tấm hóa đơn trả tiền tại Walmart ghi nhận ông Michael Handerson trả tiền cho cuộn dây thừng bằng ni-lông và cuộn băng keo.  Máy quay phim an ninh tại tiệm Walmart cũng ghi nhận rằng ông Handerson đã đến tiệm Walmart mua các vật dụng trên hai ngày trước khi án mạng xảy ra tại quán rượu Majestic. 

    Kết quả của DNA của những tang vật trở về từ trung tâm khám nghiệm trùng hợp 99.9% với kết quả dương tính.  Trát tòa được ban hành và lệnh truy nã ông Michael Handerson bắt đầu.  Thám tử McBride liên lạc với cơ quan điều tra tội phạm sát nhân ở Hawaii và nhờ sự giúp đỡ của Thám tử Takahashi.   Thế nhưng ba tháng trôi qua, thám tử Takahashi vẫn không có tin tức về ông Handerson, ông cho biết là ông đã phỏng vấn mọi người trong gia đình mà không có kết quả khả quan. 

    Thám tử McBride và Lê Minh quyết định nhờ chương trình American Most Wanted và truyền thông, báo chí đăng tải hình của ông Michael Handerson.  Chỉ trong vòng hai tuần sau đã có rất nhiều người gọi lại cho tin tức về nơi trú ngụ của ông Handerson.   Nhưng chỉ một người đàn bà ở vùng quê hẻo lánh của tiểu bang Kansas là đúng nhất.   Người đàn bà này tên là Doris Webbs, hiện là tình nhân của ông Michael Handerson.  Bà Doris Webbs nói rằng ông Michael Handerson hiện đang sống trong một trung tâm phục hồi ở tiểu bang Kansas, The University of Kansas Health System Acute Inpatient Rehabilitation.  Bà Doris Webbs nói, ông Michael Handerson đang được điều trị tại nhà thương với bịnh ung thư phổi, giai đoạn cuối.  Hai hôm trước, ông Michael Handerson đã thú tội với bà và xin bà tha lỗi cho ông vì ông đã lừa dối bà.  Ông Handerson nói khi ông chết, ông nhờ bà Doris Webbs điện thoại cho bà Victoria Handerson và nhờ bà ấy vào kho chứa đồ đặc không dùng đến, lấy một chiếc lắc vàng rồi tìm cách trả lại cho gia đình của cô Gloria Gonzales hiện đang sống ở tiểu bang Texas.

    Thám tử McBride và Lê Minh vô cùng xửng xốt khi nghe bà Doris Webbs nhắc đến chiếc lắc vàng, vì chiếc lắc vàng này chưa hề được công bố ra ngoài và chỉ có 4 người biết về chiếc lắc vàng này là hung thủ, bà Handerson, McBride và Lê Minh.  Không còn nghi ngờ gì nữa, ông Michael Handerson chính là hung thủ giết chết bà Gloria Gonzales.

    Được tin từ bà Doris Webbs, Thám tử McBride và Lê Minh lấy vé máy bay sáng hôm sau đến Kansas nhưng đã quá muộn và chỉ kịp vuốt mắt ông Micheal Handerson lần cuối trước khi ông từ giã cõi đời… Ông Michael Handerson qua đời đã đem theo với ông nhiều nghi vấn và bí ẩn không giải quyết được (Unsold mystery) và nỗi oan ức của bà Gloria Gonzales không được bạch hóa…

    Khánh Lan  

    California, January 2021