• Sinh Hoạt,  Tin tức

    Tất Niên 2019 & 2021 NVNT

    2021

    Hình ảnh: PAUL (PHÚ) LEVAN

    https://photos.google.com/share/AF1QipOhGpArpbdFlwd7aHCSxr4iW5AJlX2euFnM0RmDItd-RTC96-cTBXMmWfw-SSG51A?key=X2tDeXpnMkNjb2dIM2pIYzRfWDdTTWduRTRfQUVn

    2019

    PAUL (PHÚ) LEVAN

    https://photos.google.com/share/AF1QipPwzgngc6prDH8IbrJnDav1Wn7hAMuDJFZxSXIxWSniipygWQ4PG6ks18eTYLvntQ?key=Y1hDSDBGSi1KQVhnOWs1Qkp4VldkTWNIdG5oVFBB

    Hình ảnh: Phạm Phan Lang

    https://photos.google.com/share/AF1QipP5QwtRAtFI0kEc2K4eHV3HWPUiUHAChLj1WwynIWMuXZedFzRM7z5cii4igPv3FA?key=U2EyNmhIYWVNZjdCMFlJTklCTGw3TFNwQXo0YmtB

  • Dương Viết Điền,  Tin tức

    Khi người nữ viết truyện trinh thám hình sự.

    Đôi Lời Phi Lộ

    Ai đã từng đọc những chuyện trinh thám đều biết rằng, bất kỳ câu chuyện nào cũng làm cho chúng ta say mê nhờ nội dung của các câu chuyện quá kỳ bí, hồi hộp, ghê rợn và lắm lúc kết cuộc thật đau lòng. Vì vậy, các tác giả của những chuyện trinh thám phải là những nhà văn có những đặc tính như thích phiêu lưu mạo hiểm, thích dấn thân, thích tò mò và nhất là trí tưởng tượng rất mạnh đến tuyệt vời, lắm lúc hơn cả tuyệt vời!. Họ thường rất thông minh, lanh lẹ, năng động, hoạt bát. Lắm lúc họ xông xáo vào đời một cách liều lĩnh, nhiều lúc rất ngoạn mục. Nhờ thế những tác phẩm của họ được thai nghén bằng những dữ kiện thật kỳ bí, hấp dẫn, thật ly kỳ và hồi hộp. Thế nên lắm lúc đọc các tác phẩm trinh thám của họ, ta cảm thấy như bị nghẹt thở, sởn da gà, cảm thấy như dựng tóc gáy, rụng rời tay chân! 

    Tuy nhiên, cho dù những người nào có năng khiếu thiên phú đi nữa, nhưng một khi muốn hành nghề thám tử để điều tra tôi phạm, người ta phải học qua những khoá học chuyên môn về nghiêp vụ này. Thế nên ngay từ đầu, tác giả đã cố ý trang bị cho nữ thám tử Lê Minh trong cốt chuyện bằng những khoá học như phải tốt nghiệp Cao học Criminal Justice, hoàn thành khoá đào tạo của Học viện Cảnh sát và sẽ gia nhập Lực Lượng Tư Pháp Tội Phạm Sát Nhân.

    Điểm qua một số nhà văn trên thế giới với những tác phẩm của họ viết về chuyện trinh thám, ta thấy rất nhiều nhà văn nam cũng như nữ, đã để lại cho đời những tác phẩm thật hấp dẫn và lâm ly, thật ngoạn mục và hồi hộp đến toát mồ hôi hột. Chẳng hạn như văn sĩ người Anh Ian Flaming với điệp viên 007 lừng danh nhất thế giới, văn sĩ Conan Doyle với tác phẩm nổi tiếng Sherlock Holmes, nữ văn sĩ Agatha Christie với tác phẩm Án Mạng Trên Sông Nile, nhà văn Da Brown với tác phẩm Mật Mã Davinci, tác giả Lôi Mễ với tác phẩm Đề Thi Đẫm Máu, nữ văn sĩ Gillian Flyn với Cô Gái Mất Tích, nhà văn Shannon Mc Kenna với Đứng Trong Bóng Tối, nhà văn Thomas Harris với Sự Im Lặng Của Bầy Cừu, nhà văn Thuỵ Điển Stieg Larsson với Cô Gái Có Hình Xăm Rồng, nhà văn Truman Capote với Máu Lạnh, nhà văn Nhật Minato Kanae với Thú Tội, nhà văn Nesbo với Chim Cổ Đỏ,  nhà văn Việt nam Phạm Cao Cũng với Chiếc Gối Đẫm Máu, Vết Tay Trên Trần, nhà văn Thế Lữ với tác phẩm Lê Phong và Mai Hương, Gói Thuốc Lá, Đòn Hẹn, Tay Đại Bợm.

    Đặc biệt trong bài đôi lời phi lộ này, tôi muốn đề cập đến những nhà văn nữ viết về chuyện trinh thám. Ai cũng biết rằng phái nữ thường được mệnh danh là phái liễu yếu đào tơ với những đặc tính nhu mì, hiền hậu thường chỉ thích đọc và viết về những chuyện tình yêu lãng mạn, những chuyện tình buồn vời vợi, khi thì nức nở sầu thương, khi thì giận hờn tiếc nuối để rồi biệt ly và xa nhau, chứ ít khi viết về những chuyện đánh đấm, võ thuật, múa may quay cuồng, đâm chém giết nhau, thịt rơi máu đổ; hay những tác phẩm liên quan đến hình sự, điều tra tội phạm, nói chung là các chuyện phản gián, chuyện gián điệp, chuyện tình báo.v v…Vậy mà trong những nhà văn nữ của thế giới nói chung và  của Việt nam nói riêng, có một nữ văn sĩ Việt nam ở hải ngoại đã dấn thân bất chấp thân phận là liễu yếu đào tơ đã quyết chí hoàn thành một tác phẩm về chuyện trinh thám để cống hiến cho độc giả một tác phẩm trinh thám tuyệt vời. 

    Đó là nữ văn sĩ Khánh Lan với tác phẩm“Tuyển Tập Truyện Trinh Thám”. Được biết nhà văn Khánh Lan đã tốt nhiệp Cử nhân …..Sau đó bà ta tiếp tục học và đã lấy luôn văn bằng Cao học về tâm lý và xã hội học. Nhờ thụ giáo được những kiến thức về tâm lý và xã hội học tại đại học, nhờ giàu óc tưởng tượng cực mạnh, nhờ sẵn có đặc tính thật bén nhạy trước những án mạng ngoại cảnh, cũng như nhờ có óc sáng tạo và rất thông minh, cùng với những lý luận thật sắc bén và vững chắc cho từng sự việc qua những phương pháp như tam đoạn luận, song quan luận, liên châu luận; cũng như những phương thức điều tra tôi phạm của một thám tử tác giả cũng đã thấm nhuần như Tư duy phản biện (Critical thinking); Giao tiếp bằng văn bản (Written communication); Giao tiếp bằng miệng (Oral communication); Hành vi đạo đức (Ethical behavior); Sự chú ý đến chi tiết (Attention to detail); Hiểu biết sâu sắc về hành vi và tâm lý con người (Keen understanding of human behavior and psychology), nên tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám” của nhà văn Khánh Lan đã trở thành bất hủ, có một không hai trong nền văn chương Việt nam hải ngoại hiện nay, đặc biệt về những chuyện trinh thám. Điểm qua 10 chuyện trinh thám trong tác phẩm này, ta thấy chuyện nào cũng thật hấp dẫn khiến độc giả đọc đến say mê. Càng đọc càng thấy hồi hộp đến sởn tóc gáy, nổi da gà. Nhiều tình tiết trong vài cốt chuyện thật éo le, khi thì hạnh phúc vô biên bỗng kết cuộc quá thảm sầu, khi thì giàu sang phú quý nhưng rồi lại rơi vào vòng lao lý vì ghen tỵ và muốn đoạt gia tài đến độ quá độc ác ( trong Hai Chị Em: Joey Rodriguez giết vợ chồng anh cột chèo Tara và Mathew Taylors rồi xô xuống biển), khi thì yêu nhau đắm đuối nhưng rồi phản bội đến kinh hoàng (trong Mối Tình Oan Nghiệt: Jimmy Smith và Roberto Rivera cắt cổ gia đình ông Christpher Adams 6 người, hay trong Tình Luỵ : Margarita Cruz phản bội Michael Albertini nên bị Michael giết bởi chất độc Antifreeze), khi thì tĩnh táo khám bệnh cho bệnh nhân vì là một bác sĩ đáng kính, nhưng ai ngờ bác sĩ ấy lại trở thành một kẻ sát nhân vì loạn trí nên không kiểm soát được hành động của mình khi mắc bệnh tâm thần (trong Điệp Vụ Cuối Cùng Với McBride: bác sĩ Allan Figuerola là kẻ đã giết hụt thám tử Lê Minh, thật kinh hoàng). Lắm lúc tìm ra được thủ phạm do gặp may (!) như nhờ báo mộng (trong Oan Hồn Báo Mộng: bà Sophia Garcia nằm mộng được bà Pamela cillpam Mơlan báo cho biết thủ phạm là ai). Riêng trong chuyện “Điệp Vụ Cuối Cùng Với McBride”, chúng ta mới biết tác giả rất thông thạo về một bệnh kỳ lạ mà ít khi ta nghe nói đến. Đó là bệnh “Rối Loạn Đa Nhân Cách hay Rối Loạn Nhận Dạng Phân Ly”. Theo tác giả thì: “Đây là một chứng bịnh tâm thần Rối loạn đa nhân cách (Multiple personality disorder/MPD) hay Rối loạn nhận dạng phân ly (dissociative identity disorder/DID). Một chứng tâm bịnh mà bệnh nhân không nhận biết được là mình đã làm gì và chuyện gì đã xẩy ra cho họ. Họ bị rơi vào tình trạng lẫn lộn (confuse) và không biết đâu là thật và đầu là giả. Có những nghi vấn cho rằng đây là bịnh giả vờ để chạy tội. MPD hay DID là sự mất kết nối giữa suy nghĩ, ký ức, cảm xúc, hành động hoặc ý thức của một người về con người của họ. Sự khác biệt giữa những hành vi phân ly hàng ngày và MPD hay DID gây ra bởi trải qua một kinh nghiệm đau thương, chẳng hạn như tai nạn, thảm họa hoặc nạn nhân của tội phạm. Sự phân ly có thể giúp tinh thần một người thoát khỏi nỗi sợ hãi, đau đớn và kinh hoàng, điều này khiến họ khó có thể nhớ hoặc kể lại chi tiết những hành vi hay kinh nghiệm đau thương sau này.”Ngoài những tình tiết éo le, oái ăm của từng câu chuyện, ta thấy tác giả rất thông thạo về những phương thức khám phá khác để tìm ra thủ phạm như xử dụng máy nói sự thật bằng một cuộc kiểm tra tiến hành với máy nói dối còn được gọi là bài kiểm tra PDD (psychophysiological detection of deception), lấy mẫu giảo nghiệm DNA, nhờ các nhân chứng tại hiện trường v v. Tác giả lại còn thông thạo về những chất hoá học trong nghiệp vụ ( trong chuyện Tình Luỵ) nên nhờ đó giúp cho thám tử  McBride và Lê Minh tìm ra được thủ phạm dễ dàng: thí dụ như chất độc Antifreeze tức là Mechanical coolant. Đây là một loại chất độc gồm chất Ethylene Glycol Methanol và Propylene. Hợp chất nầy không có màu, không mùi vị rất nguy hiểm. Hay là thuốc lắc estacy còn được gọi với nhiều tên khác nhau như Methylenedioxy-metham-phetamine hay MDMA. Theo tác giả, đây là một loại thuốc gây nghiện bất hợp pháp có tác dụng kích thích và gây ảo, tăng cường năng lực và sự tỉnh táo. Tuy nhiên chất MDMA có tác dụng làm cho não sản xuất quá mức lượng serotonin, dopamine và norepinephrine khiến người sử dụng có cảm giác hứng khởi, vui vẻ giúp giảm sự trầm cảm và lo âu. Tuy nhiên tác giả cũng cho biết nếu xử dụng loại thuốc này thường xuyên lại trở nên trầm cảm, lú lẫn, giấc ngủ bị rối loạn. 

    Đặc biệt trong câu chuyện trinh thám cuối cùng mang tựa đề “Giấc Mơ Hạnh Phúc”, tác giả đã làm cho độc giả cảm thấy bỡ ngỡ và ngạc nhiên rằng, tại sao thám tử McBride và người đẹp điệp viên Lê Minh lại không cùng nhau kết tóc xe tơ sau mấy mươi năm đi với nhau bên cạnh cuộc đời, đã cùng nhau vào sinh ra tử chia ngọt xẻ bùi với biết bao thăng trầm khắc khoải; khi thì hồi hộp lo âu, khi thì trầm tư mặc tưởng, khi thì thức khuya dậy sớm để cùng nhau giải quyết những điệp vụ đầy hiểm nguy. Đọc tiếp những dòng cuối cùng của câu chuyện, độc giả sẽ biết rằng có lẽ vì đã dấn thân vào nghề trinh thám này nên thám tử McBride và điệp viên Lê Minh đã thấy con người không thoát khỏi được tham sân si nên thường hay phạm tội, để rồi phải rơi vào vòng lao lý, lắm lúc kết thúc bằng những cái chết đầy oan nghiệt và thật đau lòng. Vì chứng kiến hằng ngày những cái chết chóc đau buồn đó nên quá chán ngán cho tình đời, hay chẳng nghe được lời ân ái nào từ người đẹp Lê Minh nên thám tử McBride đã quyết định từ giả cõi đời bằng một phát súng lúc tuổi đã “thất thập cổ lai hy”. Khi được tin McBride tự sát, người đẹp điệp viên Lê Minh đã ngỡ ngàng đến sửng sốt để rồi cuối cùng, nàng liền quyết định xuống tóc đi tu, có lẽ vì cảm thấy bơ vơ lạc lõng giữa cuộc đời vì hình bóng người mà nàng yêu thầm nhớ trộm cuối đời đã ra đi không bao giờ trở lại chăng? Với kết cuộc như trên, tác giả đã mượn triết lý của thi hào Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều để kết luận thật tuyệt vời cho tác phẩm “Tập Truyện Trinh Thám” của bà ta. Đó là: Tu là cõi phúc, tình là dây oan. 

    Nếu sánh vai với một vài nữ văn sĩ viết chuyện trinh thám trên thế giới, ta thấy nữ văn sĩ Khánh Lan cũng có thể ngang hàng với họ không chừng. Thí dụ như nhà văn Tana French với tác phẩm In the woods, Edgar. Nhà văn Megan Abbott với những tác phẩm The fever, Dare me, The end of everything. Nhà văn Daphne Du Maurier với tác phẩm Rebecca. Nhà văn Camilla Lackberg với những tác phẩm Isprinsessan (the Ice Princess), Predikanten (the Preacher), Olycksfagelon.

    Nhà văn Tess Gerritsen với tác phẩm Call after Midnight, Peggy Sue Got Murdered, The Bone Garden.

    Nhìn chung, tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám” này là một tác phẩm rất có giá trị cho ngành tội phạm hình sự theo đó, những ai mới bắt đầu vào nghề hay đang hành nghề thám tử, gián điệp, cần nên đọc để trau giồi thêm kiến thức nghề nghiệp và rút tỉa kinh ngiệm quý báu trong lúc hành nghề.

    Tóm lại, với tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám”, nữ văn sĩ Khánh Lan đã để lại cho đời một kiệt tác về văn chương Việt nam tại hải ngoại, đặc biệt trong lãnh vực về chuyện trinh thám, rất hấp dẫn, thật hồi hộp, đọc xong sẽ nổi da gà và dựng tóc gáy ngay. Tôi xin trân trọng giới thiệu với độc giả khắp năm châu tác phẩm trinh thám thật tuyệt vời này.

    California, ngày 20 tháng 02 năm 2021.

    Dương viết Điền.

    (Hình ảnh trong bài lấy từ nguồn Wikipedia)

  • Thụy Lan,  Văn Thơ

    Tuỳ bút: Quá khứ và kỷ niêṃ của Thụy Lan

       TUỔ̉I THƠ TRONG BOM ĐẠN

    Tôi được sinh ra từ một gia đinh khá nghiêm khắc. Ông Ngoại tôi làm việc trong chính quyền của Tây, thời Pháp thuộc, không may mất sớm để lại vợ với tám người con, bốn nam bốn nữ. Bà ngoại tôi một mình tảo tần nuôi con ăn học thành tài: hai người con trai là Bác Sĩ, còn hai người kia thì phục vụ trong quân đội _ ngành không quân và cảnh sát. Con gái thì theo ngành giáo viên và y tá. Riêng mẹ tôi sau khi tôt nghiệp trung học trường Jeanne d’Arc thì kết hôn với cha tôi. Cả cuộc đời mẹ được bảo bọc bởi cha tôi, nên mẹ được mệnh danh là bà tướng nội trợ.

    Cha tôi sinh ra từ một gia đình rất nghèo, có người cha làm thợ rèn, mẹ thì làm rượu nếp, sinh sống tại Lào. Tuy khổ cực nhưng Ông Nội tôi luôn tìm cách cho ba tôi ăn học, mặc dù bà Nội không muốn rời xa con, nhưng ông Nội vẫn dứt khoát gởi ba tôi lên tỉnh xa để đi học khi mới tròn 10 tuổi. Thế là cuộc đời bé bỏng của cha tôi bắt đầu rời xa cha mẹ. Vì lòng hiếu thảo, cha tôi rất chăm học, mong sẽ giúp cho cha mẹ sau này. Nhưng không may Ông nội bị mất sớm vì bịnh lao phổi. Bà Nội phải đưa Cha tôi về làm ăn sinh sống tại Việt Nam. Nơi đây Cha tôi được ăn học thành tài, đậu thủ khoa chương trình trung học Pháp (Brevet Elementaire) vào năm 1949. Đến cuối năm 1950, cha tôi thi đậu bằng Thư Ký chánh ngạch và được bổ nhiệm vào làm thư ký tại bưu điện Nha Trang. Thời kỳ đó, cha tôi vẫn nuôi dưỡng ý chí theo học thêm lớp hàm thụ L’École Universelle par correspondance de Paris dưới sự đỡ đầu của Cha bề trên dòng Franciscain suốt gần 3 năm để dự thi và đổ Tú tài 1 chương trình Pháp tại Sàigon. Đến đầu tháng 5/1953, cha tôi nhận lịnh động viên khóa 3 Thủ Đức, phải ra Huế học về ngành kế toán để làm lương cho quân đội. Học xong, cha tôi được bổ nhiệm về Tiểu Đoàn 605 Khinh quân mới thành lập. Ngày mà mẹ tôi mới mang thai cặp sinh đôi đầu lòng, tin vui chưa trọn thì cha tôi được lịnh theo đơn vị hành quân, đổ bộ xuống Sông Cầu theo quân đội Pháp. Chiến trận lan tràn, Chiến Đoàn Lưu Động 100 của Pháp bị đánh tan tành tại đèo Mang Giang. Thoát chết trở về, cha tôi làm đơn xin học khóa 5 Thủ Đức và được chấp thuận để trình diện vào ngày 28/6/1954. Tháng sau thì được tin vui mẹ tôi vừa cho ra đời đôi nam song sinh giống nhau như hai giọt nước ngay dịp đình chiến 23/7/1954 phân ly giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam . Sau đó cha tôi được trở về Huế thăm gia đình với chức vụ Thiếu Úy trên cầu vai, và lần đầu tiên được nhìn thấy hai đứa con song sinh đầu lòng vừa tròn 6 tháng tuổi (ngày 30/1/1955). Nghỉ phép được 15 ngày, lại lên đường đi học lớp bổ túc ngành pháo binh.

    Sau đó được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 22 PḄ (Pháo Binh) đóng tại Nam Giao, Huế. Ngày 26/10/1955, đứa con thứ ba ra đời lại vắng mặt cha, vì cha tôi đang thụ huấn khóa Dẫn Đạo Chỉ huy tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Sau khi Tiểu Đoàn 22PB được đổi thành Tiểu Đoàn (TĐ) 26PB và di chuyển ra Quảng Trị cuối năm 1955 Sau 4 năm yên bình không chiến tranh, Tiểu Đoàn trở lại đóng đô tại Phú Bài gần Huế. Đến cuối năm 1959, lại thuyên chuyển qua TĐ 37PB tân lập ở Pleiku, rồi qua TĐ 27PB ở Dĩ An, Ban Mê Thuộc. Vào tháng 3/1961, Cha tôi lên đường đi du học về ngành pháo binh tại Mỹ gần 6 tháng. Sau đó du học lần thứ hai về Pháo Binh cấp cao từ 9/1965 đến tháng 6/1966. Trở về lại Việt Nam, cha tôi được bổ nhiệm chức Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 11PB tai Quãng Trị ngày 1/9/1966 dưới sự chỉ huy của Đại Tá Ngô Quang Trưởng.

    Vào đêm 30 biến cố Tết Mậu Thân 1968, đang cùng gia đình ăn Tết, tình thế cấp bách cha tôi vội vàng trở lại căn cứ Quảng Trị để phòng thủ vì nghe tin Cộng sản đang tấn công thành phố Huế. Trong thời gian gia đình tôi bỏ nhà chạy tản cư đến nơi an toàn hơn thì ngôi nhà đã bị pháo kích của CS tiêu hủy hoàn toàn. Gia đình đành phải ra trú tạm tại căn cứ đóng quân của cha tôi ở Quẩng Trị và trở lại Huế vài tháng sau đó khi tình hình chiến sự đã yên ổn.

    Thang 9/1969, cha tôi được thăng chức Tham Mưu Trưởng Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Đoàn 1 để nhận bàn giao căn cứ Đông Hà của Sư Đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ triệt thoái về nước. Tháng 1/1971, lại phải đi yểm trợ cho cuộc hành quân tại chiến trận Hạ Lào. Khi trở về từ Hạ Lào, Cha tôi lại tiếp tục lớp học Tham mưu cao cấp tại Đà Lạt thêm 6 tháng. Mãn khóa học, trờ về nhận chức Chỉ Huy Trưởng PB Sư Đoàn 2 Bộ Binh ở căn cứ Chu Lai, nơi doanh trại cuối cùng đóng sát bờ biển Quảng Ngãi.

    Mùa hè đỏ lửa 1972, chiến tranh lại bùng nổ, lần nữa gia đình tôi lại phải di tản từ Huế qua đèo Hải Vân để vào căn cứ Chu Lai nơi cha tôi trấn đóng sau khi nghe tin CS đã chiếm thành phố Quảng Trị. Đây là chặng đường để chuẩn bị cho một trận chiến khốc liệt giữa Bắc Nam khi mà quân đội Cộng Sản muốn cưỡng chiếm trọn miền nam Việt Nam của chúng ta. Đúng vậy, chưa tròn 3 năm sau đó, ngày 23/3/1975, theo lịnh cha tôi, gia đình phải khẩn cấp di tản ra Đà Nẵng bằng chiếc trực thăng của Sư Đoàn để tìm đường bay vào Saigon. Cuối cùng gia đình may mắn đến Saigon an toàn ngày 27/3/1975, hơn một tháng trước ngày mất Sài Gòn, hay mất nước VNCH.

    Nhưng Cha tôi không thể bỏ Sư Đoàn, bỏ nhiệm vụ để cùng gia đình bỏ trốn ra đi, và đành phải chia tay nhau tại phi trường Đà Nẵng để trở về lại căn cứ Chu Lai thu xếp mọi chuyện như phá hủy giấy tờ quan trọng, thủ tiêu súng đạn, chỉ huy thu xếp chỗ trên các chiến hạm để cho tất cả quân nhân của Sư Đoàn 2 và gia đình họ vĩnh viễn rời khỏi căn cứ Chu Lai sau đó. Cha tôi đã cùng đoàn ngườì di tản trên chiếc tàu hạm cập bến tai cảng Đà Nẵng để đi vào Nam ngày 3/4/1975, và cuối cùng tàu đã đến cảng Phan Rang an toàn trước ngày Phan Rang thất thủ 16/4/1975. Cha tôi đã thoát chết sau 8 ngày phải lẫn trốn, và băng rừng vượt suối, để cuối cùng gặp lại gia đình tại Saigon ngày 24/4/1975. Đến ngày 30/4/1975, Chính Phủ do ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng CS.

    Đó là những đoạn đường mà cuộc đời binh nghiệp đã đưa cha tôi qua không biết bao nhiêu gian truân, để cuối cùng thân xác bị lưu đày vào lao tù CS trong suốt 13 năm trời kể từ ngày mất nước.

    Với chức vụ cuối cùng là Đại tá pháo binh, họ đã đưa cha tôi cùng những sĩ quan cao cấp vào một trại tù gọi  là “tù cải tạo” tại một vùng núi đá vôi Hòa Binh, thuộc tỉnh Thái Bình_Lạng Sơn, cách biên giới Trung Cộng 25 km, nơi mà cha tôi kể lại là chẳng khác gì một vùng sa mạc hoang vu, không cây cối, nhà cửa, và nó là một trại tù xa nhất của miền bắc. Đó là nơi mà tôi đã một lần từ Sài Gòn đáp chuyến tàu lửa ra Huế để cùng bà Ngoại đi thăm nuôi cha tôi, vì lúc ấy mẹ tôi đang bị bịnh, và cha tôi thì đang rất đói khổ.

    Sau khi đáp xuống từ một chiếc xe đò để đến vùng núi gần nơi cha tôi đang bị giam giữ, Ngoại và tôi mới hay là không có xe đò nào để đi thẳng vào trại cả, và qua một người đàn ông địa phương đang đi xe đạp ở vùng đó cho biết. Ngoại và tôi phải cuốc bộ trên mười mấy cây số mớí đến nơi. Với một bao bố đựng đồ ăn thăm nuôi nặng hơn 50 kilo trên tay mà Ngoại đã chuẩn bị cho cha tôi, nặng không thể vác nổi trên đường đi. Người đàn ông đó cảm thấy tội nghiêp, quay lại và cho để nhờ bao đồ ăn đó lên yên xe đạp và cùng đi bộ, dẫn dăt́ chúng tôi đến trại tù để thăm nuôi. Nhưng chưa hết, đến nơi Ngoại và tôi còn phảỉ̉ leo lên dốc núi theo những con đường mòn, với bao đồ ăn khi lên dốc Ngoại phải đẩy tôi thì kéo. Khi Ngoại hết sức, tôi phải vác lên vai mình đi từng đoạn một cho đến khi tới trại thăm nuôi. Trên đường đi, thỉnh thoảng tôi nhìn thấy có mấy người đàn ông đang hứng nước để vò gạo qua những khe nước nhỏ đang chảy róc rách bên đường. Làm tôi nghĩ, vậy là cha mình cũng uống nước này như họ.

     Một hình ảnh nữa thật khó phai trong tôi… trong lúc đứng trông chờ giờ thăm cha trên một ngọn đồì cao, nhìn xuống tận dướí đồi, tôi đã chứng kiến trước mắt hình ảnh những đoàn người sĩ quan “tù cải tạo” sắp hàng một dài, đang bước đi mệt mỏi với chiếc nón lá trên đầu và cuốc xẻng trên tay khi họ đang trở về trại nghỉ ngơi sau một ngày lao động. Hầu hết họ gầy ốm tiều tụy, quần áo rách rưới, nhìn thật đau lòng. Ai có thân nhân thăm nuôi thì được mặc áo quần đàng hoàng để ra tiếp xúc với thân nhân. Thật không có giây phút hồi hộp nào khi được gặp lại cha mình sau nhiều năm xa cách. Nhưng tới giờ thăm nuôi, trong lúc Bà Ngoai và Cha tôi đang trò chuyện hỏi thăm nhau, tôi cứ nhỉn cha tôi gầy ốm, hom hem mà tôi không nói nên lời vì nghẹn và cứ phải ngước mặt lên trời để cho nước mắt mình chảy ngược vào trong. Lý do, nếu người cai tù thấy tôi khóc họ sẽ đánh đập cha tôi sau đó hoặc không cho thăm nuôi nữa, và tôi phải thực hiện những gì cha tôi đã dặn trước khi ngồi vào bàn trò chuyện. Chiều hôm ấy ra về, trên đường đi bộ dài hơn 17 cây số, đi trong đêm vắng với bà ngoại cùng đoàn người thăm nuôi, nước mắt tôi được tự do rơi tuôn tả và cứ rơi mãi vì thương cho số phận của cha tôi, không biết cha mình sẽ có ngày về hay không? Hay sẽ chết như người Chú của tôi đã chết trong tù vì bịnh. Bóng đêm đã làm nỗi buồn trong tôi thật nặng nề. Chiến tranh đã lấy đi cuộc sống hạnh phúc gắn bó giữa vợ chồng và cha con. Suốt cuộc đời cha tôi, còn nhỏ bé đã sống xa cha mẹ để ăn học, lớn lên lại sống xa vợ xa con vì binh nghiệp và vì quê hương. Một con người thật đáng thương đáng kính, và đáng được tôn thờ. Một người anh hùng, tài đức vẹn toàn, và đầy lòng yêu nước. Ông lấy lẽ sống là phục vụ quê hương.

    Đó là lý do tại sao tôi lớn lên trong bom đạn? Được sinh ra tại thành phố La Vang, Quẩng Trị, nơi địa dầu chiến tuyến, và là nơi Cha tôi đang trấn giữ một căn cứ cốt lõi với chức vụ Thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 11 pháo binh vào thời đó. Thật không bao giờ tôi quên được tiếng đạn pháo bắn đi hằng đêm từ đồn căn cứ của cha tôi mỗi khi được theo mẹ ra Quảng Trị thăm cha. Có những lần tôi phải ngủ dưới những căn hầm kiên cố, những công sự chiến đấu vững chắc.do cha tôi thiết kế, kiến trúc mô hình khi xây. Vì còn bé nên tôi chỉ giưt mình khi nghe tiếng súng nổ vang rền, chứ chẳng biết gì cả. Sau này lớn lên, được cha tôi kể lại là tại căn cứ này đã có lần bi VC tấn công đánh sáp lá cà bất ngờ vào một đêm tối. Qua máy truyền thanh và ống loa, cha tôi đã chi huy và ra lệnh cho cả tiểu đoàn sẵn sàng chiến đấu, ai ở đâu phải nằm yên tại chỗ, hễ thấy ai chạy thì có quyển bắn ngay, nhờ đó Ba tôi đã đẩy lui quân CS, cứu cả tiểu đoàn thoát nạn một cách thành công.

    Tết Mậu Thân là một ký ức thật khó quên trong đời tôi. Tôi đã chứng kiến từng đoàn lính Việt Cộng đang đi trước ngôi nhà của mình vào ngày mồng một tết hôm đó, họ đội nón cối, ở trần chỉ mang quần cụt đen, và đi dép cao su đen, trên vai mang băng đạn chéo ngang lưng, tay cầm súng AK. Tôi chỉ biết họ là VC. Không ngờ sau ngày đó, nghe tiếng đạn bay vèo vèo khắp nơi, mẹ tôi vội đưa chúng tôi vào trốn trong một cái hầm do cha tôi đã chuẩn bị, xung quanh được chất đầy bao cát, nơi mà tôi đã dấu cái bóp nhỏ xinh xinh, hình con thỏ màu xanh lá cây với một số tiền ba mẹ tôi đã lì xì cho ngày Tết. Sau đó VC đã pháo kích dữ dội và nghe họ đang đi lùng bắt tất cả đàn ông và những người lính về phép ăn Tết trong vùng. Mẹ tôi sợ quá liền gom đồ ăn vào hai cái giỏ và gánh chạy với bầy con 8 đứa kể cả đứa con còn sơ sinh trên tay của mẹ. Trên đường chạy, đạn bay tứ tung, vừa chạy vừa phải cúi đầu xuống né. Thỉnh thoảng tôi nhìn thấy lí́nh cộng hòa và lính VC chết lăn lóc, kẻ ngồi người nằm dọc hai bên lề đường. Thật là một cảnh tượng thật kinh hoàng trong đời khi tôi còn nhỏ. Gia đình tôi chạy đến nhà Bà ngoại tôi để trú ẩn vì gần căn cứ của Bộ Tư Lịnh Sư đoàn I tại khu Măng Cá trên đường Đinh Bộ Lĩnh, Huế. Cha tôi thì đang chiến đấu trấn giữ Quảng Trị, không biết ra sao. Căn nhà thân yêu của tôi thì bị VC pháo kích tàn rụi chỉ còn cái nền nhà. Từ khi rời căn cứ Quảng Trị tạm trú vài tháng nơi cha tôi đóng, gia đình trở về lại Huế ở tạm trong một căn lều dựng ngoài vườn trong khi Ba tôi đang cho xây lại ngôi nhà mới.

    Sau 4 năm sống yên vui bên sách đèn của bậc trung học, chiến tranh lại xảy đến. Mùa hè đỏ lửa 1972, gia đình tôi phải di tản vào Căn cứ Chu Lai nơi cha tôi đóng quân tại tỉnh Quảng Tín. Thấy cha tôi đi bay hành quân ngày đêm, tôi thật thương cha. Là một vị chí huy trưởng trong ngành pháo, từng được huấn luyện tai Hoa Kỳ, tính toán chính xác đã hỗ trợ các đơn vị bộ binh bạn đẩy lùi nhiều cuộc tẩn công dữ dội của VC như trận chiến đẫm máu Sa Huỳnh, thuộc quận Đức Phổ, nằm phía Nam thành phố Quảng Ngãi, giáp ranh tỉnh Bình Định, chiến thắng đã đem lại thành tích vẻ vang cho quân đội Việt Nam.

    Tôi còn nhớ vào tuần cuối cùng của tháng 3/1975, cha tôi thấy tình hình không ổn, khẩn cấp đưa cả gia đình từ Chu Lai bay ra Đà Nẵng trong ngôi nhà của cha tôi mới cho cất xong. Tôi đâu ngờ đó là ngày mà tôi vĩnh viễn xa mái nhà thân yêu, bạn bè, và thầy cô của xứ Huế cổ kính mãi mãi.

    Trong khi cha tôi đang bận rộn sắp xếp lại quân đội vì các tướng lãnh đã bỏ chạy. Mẹ tôi tìm cách đưa chúng tôi vào phi trường Đà Nẵng khi nghe VC đã chiếm thành phố Huế. Khi đến phi trường, vào được sân bay, tôi thấy hàng ngàn ngườì dày đặc khắp nơi trên phi đạo. Lần đầu tiên trong đời, tôi được chứng kiến cảnh con người chạy đua với máy bay. Vì vậy phi công không thể nào hạ cánh được, và phải bay qua phi đạo phía bên kia đồi của phi trường.

    Trong lúc gia đình tôi đang tìm cách leo lên chiếc máy bay L19 đang sắp sửa cất cánh, nhưng vì số người chen lấn nhiều quá, mẹ tôi vội đưa đứa con út mới được ba tháng tuổi nhờ người ta ẵm dùm để leo lên, nhưng đã quá trễ vì sự hỗn loạn chen lấn càng lúc càng tệ, nên máy bay phải cất cánh thẳng lên, thấy vậy mẹ tôi vội kêu gào “làm ơn quăng con tôi xuống dùm”, và họ đã quăng em út tôi xuống trên những bàn tay của chúng tôi đang dang ra để chụp. Thật là một cảnh tượng thật kinh hoàng. Sau đó nhờ một người anh họ của tôi đang làm việc trong phi trường Đà Nẵng, hướng dẫn qua một chiếc máy bay khác cũng đang chuẩn bị cất cánh, gia đình tôi ṿội leo lên máy bay đó thì thấy có một người lính đang chĩa súng muốn bắn vào đầu một vị sĩ quan, hoảng sợ quá tôi vội nhảy xuống. Thế là cả gia đình tôi cùng nh̉ảy xuống theo. Đang cảm thấy vô vọng, thì cha tôi xuất hiện, nhờ qua sự liên lạc vơí người anh họ đó. Sau khi nghe tin còn một phi vụ cuối cùng chỉ rước gia đình không quân đi thôi. Người anh họ và cha tôi vội đến cầu cứu Ông Đại Tá Vàng, người đang điều hành cả phi trường hôm đó, xin giúp cho gia đình được bay theo vào Saigon. Ông Vàng đã đồng ý và cung cấp một chiếc xe zeep có lính bảo vệ đưa cả gia đình tôi qua bên kia ngọn đồi để lên chiếc C130 vừa mới hạ cánh, nơi mà chưa ai qua được vì có lính gác ngăn chận. Gia đình tôi thật may mắn được leo lên chiếc máy bay này đầu tiên ṃột cách thoải mái. Mẹ tôi thì thúc dục Ba tôi leo lên theo với gia đình, nhưng không hiểu sao Ba tôi không chịu đi theo. Sau này tôi mới biết ra vì cha tôi còn trách nhiệm với cả một sư đoàn lính, cha ở lại để tiêu hủy tài liệu mật, những giấy tờ quan trọng, súng ống, vả chi huy tàu thủy đưa lính và gia đình họ trốn thoát vào Phan Rang. Thật là một người cha đầy tình ngưởi và trách nhiệm, cha tôi thật xứng đáng là một vị chỉ huy kiên cường.

    Chiếc máy bay C130 đã đưa gia đình tôi và gia đình không quân vào phi trường Tân Sơn Nhất tại Saigon đêm đó an toàn mặc dù bị đạn bắn vào máy bay tứ tung từ bên dưới do sự hỗn loạn trong khi cất cánh ra khỏi  phi đaọ. Qua một đêm nằm chờ người thân đến đón về Saigon tại phi trường Tân Sơn Nhất, thì được tin còn một chuyến bay sau cùng nữa từ Đà Nẵng vừa đáp xuống phi trường này. Những người trong chuyến bay cho biết là hàng ngàn người còn lại trong phi trường Đà Nẵng đêm ấy đã chết vì bị VC pháo kích tơi bời. Vừa nghe tin xong tôi bật khóc thành tiếng vì quá thương xót cho họ cùng với nổi hoảng sợ vẫn còn ám ảnh trong tôi. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn rơi nước mắt mỗi khi nghĩ đến những ngày khó quên.

    Phần cha tôi, sau khi được nghe kể lại sau này thì suýt bị chết trong lúc leo lên chiếc chiến hạm mà Cha tôi đã cho lịnh cập bến tại cảng Đà Nẵng để đón những người lính và gia đình họ tản cư vào Nam. Nhưng vì cảnh tượng quá hỗn loạn và kinh hoàng khi dân chúng chen lấn đạp đè lên nhau, rồi có người ném lựu đạn vào đám đông để dọn đường leo lên tàu, miệng khoang tàu liền được đóng lại nhanh để rời bến, trong lúc ấy thì cha tôi đang cố bám víu miệng tàu ở bên hông để leo lên thì bị một người nào đó đạp chìm xuống nước để lấy thế leo lên. Cha tôi liền ngước lên thấy người đó chính là lính thân cận của mỉnh, vội la cứu, và họ đã vớt cha tôi lên trong giây phút giữa sự sống và chết của cuộc đời. Cuối cùng cha tôi theo tàu đến cảng Phan Rang an toàn. Do sợ bi VC nhận dạng, cha tôi phải vất bỏ bộ quân phục, chỉ còn chiếc áo thun lót và quần đùi trên người băng rừng lội suối suốt 10 ngày đêm để tìm đến một căn cứ quân đội Cộng Hòa để trình diện nhờ giúp đỡ. Nhờ đó cha tôi liên lạc được với một người lính thân cận và họ cho biết gia đình tôi đang sống trên đường Công Lý (sau 75 là Nam kỳ khởi nghĩa) tại Quận 1, Saigon. Gặp lại cha tôi với chiếc áo thun trắng, quần đùi ngắn dơ bẩn, mặt mày bơ phờ như một phép nhiệm màu vì mẹ tôi nằm mơ thấy cha tôi đã chết nên mẹ  như người không hồn và đã ngã bịnh.

    Hình ảnh của cha tôi trong quân phục bộ binh là môt hình ảnh mà tôi tôn thờ, ngưỡng mộ, và yêu quí nhất đời mình. Vì vậy, tôi luôn tôn kính và yêu thương những người lính đã hy sinh vì hạnh phúc và sự sống còn của quê hương và dân tộc, cũng như những ai đang phục vụ trong quân đội. Tất cả là từ hình ảnh tuyệt vời của cha tôi, người đã cho tôi thấy những nổi đau, sự chịu đựng, và lòng hy sinh quên mình vì dân tộc.  Tôi nhớ câu nói của tướng Patton là “Người lính thuộc quân đội. Không có quân đội nào tốt đẹp hơn những người binh sĩ đó. Người lính cũng là một công dân. Trên thực tế, nghĩa vụ và đặc quyền công dân cao cả nhất là cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương  đất nước của họ”, (The soldier is the army. No army is better than its soldiers. The soldier is also a citizen. In fact, the highest obligation and privilege of citizenship is that of bearing arms for one’s country. by Gen. George S. Patton Jr.)

    Và sau cùng, cũng để kết thúc bài tuỳ bút này, tôi xin mượn lời của vị Tổng Thống  thứ 16 của Hoa Kỳ để  vinh danh những người chiến binh xả thân cho quê hương xứ sở chúng ta. “Hãy tôn vinh người  chiến sĩ cũng như thủy thủ ở khắp mọi nơi, những người lính dũng cảm gánh vác giang sơn đất nước. Ngoài ra, hãy tôn vinh lo cho người công dân lo lắng cho người chiến sĩ dồng đội của mình trên các trận mạc mà ông ta đã hết sức phục vụ cho một mục đích như vậy” (“Honor to the soldier and sailor everywhere, who bravely bears his country’s cause. Honor, also, to the citizen who cares for his brother in the field and serves, as he best can, the same cause.”— Abraham Lincoln).

    Doris Thụỵ Lan.

    Song thân của tác giả Thụy Lan

    Đại tá Lê Thương, Sư Đoàn I BB, cùng phu nhân.

    ( Ảnh #1 trích:http://www.generalhieu.com/dt_lethuong.htm)

    —————————————————–

    Ảnh #2 chụp năm 1967 tại La Vang, Quảng Trị Thiếu tá Lê Thương SĐIBB

    cùmg Trung tướng Lew Walt Hoa Kỳ (*).

    (*): chỉ huy trưởng Lực lượng Đổ bộ Thủy quân lục chiến III và Sư đoàn 3  Thủy quân Lục chiến đóng tại miền Nam Việt Nam.

    (Commander of III Marine Amphibious Force and 3rd Marine Division in the South Vietnam)

  • Khánh Lan,  Thụy Lan,  Viet-Hải

    Nhà văn giải Nobel Abdulrazak Gurnah

    Theo tin Reuters giải Nobel văn chương 2021 đã được trao cho tiểu thuyết gia người Tanzania là Abdulrazak Gurnah, một tên tuổi mà hình như nằm ngoài sự dự đoán của nhiều người. Tiểu thuyết gia sinh ra ở Tanzania được trao giải Nobel Văn học, đã có một sự nghiệp 35 năm, được giới phê bình đánh giá cao bắt nguồn từ chủ nghĩa thực dân và nhập cư sau khi đến Anh tị nạn.Ông sinh ra trên hòn đảo Zanzibar của Ấn Độ Dương, ngoài khơi bờ biển phía đông châu Phi, vào năm 1948, và bắt đầu viết văn sau khi di chuyển đến Anh lưu vong, nơi ông hiện đang sống ở thành phố Canterbury, Vương quốc Anh. Canterbury nằm ở phía đông vùng Kent, cách London khoảng 55 dặm (89 km) về phía đông-đông nam.

    Giải Nobel văn học năm nay đã được trao cho nhà văn gốc Phi châu này, vì sự hội nhập dù khó hoà giải và nhân ái của ông đối với những hệ luỵ của chủ nghĩa thực dân và số phận của những người tị nạn trong hố sâu ngăn cách giữa các nền văn hóa và lục địa trên thế giới. Khi quần đảo Zanzibar được Anh quốc trao trả độc lập vào năm 1963, và sáp nhập với lục địa để trở thành nước Tanzania. Vị lãnh tụ Abeid Karume, tổng thống Tanzania thời đó tiến hành một cuộc đàn áp khốc liệt và ra tay khủng bố những công dân Tanzania gốc Ả Rập. Nhà văn Gurnah thuộc nhóm chủng tộc này bị buộc phải bỏ học, trốn đi đến định cư ở Anh xin tị nạn vào cuối thập niên 1960, lúc đó ông mới 18 tuổi. Ông theo học tại trường Christ Church College ở Canterbury, về sau chuyển sang học ở University of Kent, tại đây ông lấy bằng tiến sĩ với luận án “Tiêu chuẩn về việc phê bình tiểu thuyết Tây Phi” (Criteria in the Criticism of West African Fiction) vào năm 1982. Từ 1980 đến 1983, ông giảng dạy ở trường Đại Học Kano tại xứ Nigeria. Sau đó, ông trở về làm giáo sư tại Đại Học Kent, thuộc Canterbury, ông dạy Anh Văn và Văn Chương Hậu-Thuộc-Địa (Postcolonial Literature) cho đến khi về hưu.

    Về số lượng sách thật ra không nhiều, ông đã xuất bản 10 tiểu thuyết cũng như một số truyện ngắn. Ông Anders Olsson, vị chủ tịch ủy ban Nobel cho rằng tiểu thuyết của Gurnah đi từ tác phẩm đầu tay “Hồi Ức Ngày Ra Đi” (Memory of Departure) kể về một cuộc nổi dậy thất bại, cho đến cuộc nổi dậy gần đây nhất của ông trong tác phẩm mới nhất, Những Mảnh Đời Lưu Lạc (Afterlives). Truyện kể về những tiểu tiết rập khuôn mẫu và mở rộng cái nhìn của chúng ta đến một Đông Phi đa dạng về nét văn hóa xa lạ đến nhiều nơi khác trên thế giới.

    Nội dung của những tác phẩm khác của Abdulrazak Gurnah như Pilgrims Way (1988) và Dottie (1990), ghi lại trải nghiệm của người nhập cư ở Anh từ những khía cạnh khác nhau. Năm 1994, quyển tiểu thuyết thứ tư của Abdulrazak Gurnah được xuất bản với tựa đề Paradise lấy bối cảnh ở Đông Phi thuộc địa trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Quyển này cũng nhận được đề cử cho giải Booker năm đó.

    Admiring Silence (1996) kể câu chuyện về một thanh niên rời Zanzibar di cư đến Anh, nơi anh kết hôn và trở thành một giáo viên. Một chuyến trở lại quê hương 20 năm sau ảnh hưởng sâu sắc đến thái độ của anh đối với cả bản thân và cuộc hôn nhân của mình. By the Sea, quyển sách xuất bản năm 2001, là câu chuyện được kể lại bởi Saleh Omar, một người lớn tuổi xin tị nạn sống ở một thị trấn ven biển nước Anh.

    Tác phẩm Con Đường Hành Hương (Pilgrims Way) từ năm 1988, Gurnah khám phá thực tế nhiều mặt của cuộc sống lưu vong. Nhân vật chính tên là Daud, phải đối mặt với không khí phân biệt chủng tộc ở quê hương mới của anh, nước Anh. Sau khi cố gắng che giấu quá khứ của mình, tình yêu với một người phụ nữ đã lôi kéo Daud kể câu chuyện của mình. Sau đó, anh ta có thể kể lại những gì đã xảy ra trong quá trình bi thảm trưởng thành của mình và những ký ức đau buồn về cuộc chính biến hỗn loạn ở Tanzania đã buộc anh ta phải bỏ xứ trốn đi. Cuốn tiểu thuyết kết thúc với chuyến thăm của Daud đến nhà thờ Canterbury, nơi anh suy ngẫm về sự tương đồng giữa những người hành hương Cơ đốc giáo đã đến thăm nơi này trong quá khứ và cuộc hành trình đến nước Anh của chính anh ấy. Trước đây anh ta đã thách thức chống lại tất cả những gì mà quyền lực thuộc địa cũ đã gây ra, nhưng rồi tự nhiên dường như anh đã đạt được cuộc sống tốt.

    Cuốn tiểu thuyết định hình thành một phiên bản thế tục của một cuộc hành hương cổ điển, sử dụng các tiền thân lịch sử và văn học làm vai đối thoại trong các vấn đề về danh tính, ký ức và tương quan họ hàng,…

    Gurnah thường cho dựng những câu chuyện được cấu tạo cẩn thận của mình dẫn đến một cái nhìn sâu sắc khó đạt kết quả. Một ví dụ điển hình là cuốn tiểu thuyết thứ ba, Dottie (1990), chân dung của một phụ nữ da đen có nguồn gốc nhập cư lớn lên trong điều kiện khắc nghiệt ở nước Anh năm 1950 bị phân biệt chủng tộc, và vì sự im lặng của mẹ cô mà thiếu mối liên hệ với lịch sử gia đình của chính cô. Đồng thời cô cảm thấy không có nguồn gốc ở Anh, đất nước cô sinh ra và lớn lên. Nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết cố gắng tạo ra không gian và bản sắc của riêng mình qua sách vở và truyện viết, những thứ cho cô ấy cơ hội để xây dựng lại bản thân. Không ít thì cái tên và những lần đổi tên đóng vai trò trung gian trong một cuốn tiểu thuyết biểu hiện lòng trắc ẩn sâu sắc và bản lãnh tâm lý của Gurnah, hoàn toàn lại không có tình cảm gì cả.

    Cuốn tiểu thuyết thứ tư của Gurnah là Paradise (1994), bước đột phá của anh với tư cách là một nhà văn, phát triển từ một chuyến đi nghiên cứu đến Đông Phi vào khoảng năm 1990. Cuốn tiểu thuyết có liên quan rõ ràng đến Joseph Conrad trong cuộc hành trình của anh hùng trẻ ngây thơ Yusuf như non dạ. Nhưng đó cũng là một câu chuyện về tuổi non nớt mới lớn và một câu chuyện tình buồn trong đó các thế giới và hệ thống tín ngưỡng khác nhau bị va chạm. Truyện kể lại câu chuyện về Joseph trong Kinh Qur’an, dựa trên bối cảnh mô tả chi tiết và bạo lực về quá trình thuộc địa của Đông Phi vào cuối thế kỷ 19. Trong phần đảo ngược lại ở phần kết thúc lạc quan của câu chuyện Kinh Qur’an, nơi Joseph được tưởng thưởng vì sức mạnh đức tin của mình. Rồi Yusuf cảm thấy buộc phải từ bỏ Amina, người phụ nữ anh yêu anh, để gia nhập quân đội Đức mà anh khinh thường trước đây. Đặc điểm của Yusuf Gurnah là làm thất vọng sự mong đợi của người đọc về một kết thúc có hậu ở phần chót của truyện phù hợp với thể loại văn.

    Trong cách ứng xử của Gurnah qua những trải nghiệm đời người tị nạn, trọng tâm là bản sắc và hình ảnh bản thân, đặc biệt rõ ràng là trong tác phẩm Admiring Silence (1996) và By the Sea (2001). Trong cả hai cuốn tiểu thuyết này thì góc nhìn thứ nhất là sự im lặng được bày tỏ như một cách thức chính của người tị nạn để bảo vệ danh tính của mình để tránh khỏi sự kỳ thị chủng tộc và định kiến, nhưng cũng là một phương tiện để tránh va chạm giữa quá khứ và hiện tại, tạo ra sự thất vọng và sự tự lừa dối lòng rất tai hại. Trong phần đầu tiên của hai cuốn tiểu thuyết này, người kể chuyện có thành kiến ​​chọn cách che giấu chuyện quá khứ của mình khỏi bị gia đình người Anh giúp mình dị nghị và tạo ra một câu chuyện cuộc đời phù hợp hơn với thế giới thường nhật của họ. Nhưng đó là một sự im lặng đồng nghĩa vì anh ta cũng đang che giấu cuộc sống lưu vong của mình xa gia đình ở Zanzibar, không ai biết rằng anh ta có một gia đình mới ở Anh và một cô con gái mười bảy tuổi.

    Trong quyển By the Sea mô tả một màn kịch thất vọng và tự lừa dối khác xảy ra ngay sau đó. Saleh, người kể chuyện của phần đầu tiên, vốn là một người Hồi giáo già từ Zanzibar xin tị nạn ở Anh với một chiếu khán giả mạo dưới danh nghĩa của một kẻ thù không đội trời chung. Khi anh ta gặp con trai của kẻ thù, Latif, người kể chuyện của phần thứ hai của cuốn sách, đó chỉ là vì tình cờ Latif được giao nhiệm vụ giúp Saleh thích nghi với quê hương mới của anh ta. Trong những cuộc cãi vã căng thẳng giữa họ với nhau, quá khứ bị đè nén của Saleh ở Zanzibar hiện lên trong anh, khi mà Saleh bất chấp tất cả cố gắng nhớ lại thì ngược lại Latif lại làm mọi cách để quên đi. Chính điều đó tạo ra một sự căng thẳng đặc biệt trong cuốn tiểu thuyết. Do vậy mà việc lựa chọn hai người kể chuyện giải toả ẩn khúc câu chuyện và cốt truyện của tiểu thuyết, cũng như vai trò và sự tự giác linh hoạt của người kể chuyện (tức tác giả). Các nhân vật linh động của Gurnah thấy mình bị chơi vơi gián đoạn giữa các nền văn hóa và lục địa, giữa một cuộc sống đang tồn tại và một cuộc sống đang trỗi dậy; nó là một trạng thái bất toàn mà không thể giải quyết được. Sự kiện kế đến qua một phiên bản mới của sự gián đoạn này trong cuốn tiểu thuyết thứ bảy đã đề cập ở trên của Gurnah, Desertion.

    Cuốn Desertion được chia làm 3 phần, trong đó tác giả viết chân dung chi tiết về con người, địa điểm và cuộc sống ở Zanzibar vào cuối thế kỷ 19 cho phần đầu tiên, vào những năm 1950 cho phần hai và nửa sau thế kỷ 20 vừa qua trong phần cuối. Tác giả đã tạo truyện rất hay khi đưa ra một bức tranh đầy đủ về những người khác nhau sống ở Zanzibar vào cuối thế kỷ 19. Hassanali một thương nhân địa phương bình thường với nhiều chủng tộc hỗn hợp, Rehana một phụ nữ địa phương, Frederick quản lý thuộc địa Anh và Pearce nhà thám hiểm người Anh. Tuy nhiên, những bức chân dung này có thể là do tác giả cho rập khuôn có chủ đích và những nhân vật đó không có điều gì thú vị hoặc có điều gì đó đặc biệt về họ. Trong Desertion, tác giả ấp ủ một niềm đam mê bi thảm được sử dụng để làm sáng tỏ sự khác biệt lớn về văn hóa ở Đông Phi thuộc địa. Cốt truyện mô tả cách người Anh Martin Pearce, bị té ngã bất tỉnh trên đường phố, được một thương gia địa phương giúp đỡ và đưa qua mê cung của thành phố (city’s labyrinth) vào một thế giới nơi văn hóa và tôn giáo xa lạ. Nhưng Pearce nói được tiếng Ả Rập, một trong những điều kiện tiên quyết để tiếp xúc gần gũi hơn với gia đình và để anh yêu người con gái Rehana của họ. Gurnah biết rõ rằng thời đại mà anh ta đang miêu tả không phải như đã nói trong cuốn tiểu thuyết, “thời đại của Pocahontas khi một cuộc tình lãng mạn với một công chúa man rợ có thể được mô tả như một cuộc phiêu lưu” (the age of Pocahontas when a romantic fling with a savage princess could be described as an adventure). Đây là câu truyện tình yêu và sự phản bội ở bối cảnh Châu Phi Thuộc địa. Cuốn sách thứ bảy của Abdulrazak Gurnah, Desertion, kể lại chủ đề lưu vong và mở rộng cốt truyện sang các mối tương quan như giữa những người yêu nhau, giữa các gia đình, giữa các quốc gia. Desertion cuối cùng tác giả cho hay câu chuyện không phải về mình: “Đó là về cách một câu chuyện chứa nhiều mẫu chuyện mà chúng không thuộc về chúng ta mà là là một phần của dòng đời ngẫu nhiên trong thời đại của chúng ta, và về cách kể lại những câu chuyện thu hút chúng ta và luôn lôi cuốn chúng ta. Theo nhà phê bình văn học Bruce King cho rằng, trong văn chương của Abdulrazak Gurnah, người châu Phi luôn là một phần của thế giới. Một thế giới rộng lớn hơn và đang thay đổi. Các nhân vật của ông phải từ bỏ gốc gác, lăn lộn ở nước ngoài, chịu nhiều miệt thị và chống chọi trong cô đơn.


    Trong tác phẩm The Last Gift (Món Quà Cuối Cùng, từ năm 2011, có chủ đề liên quan đến Con Đường Hành Hương và kết thúc bằng một thứ gì đó có cùng vị đắng khi người tị nạn đau yếu Abbas qua đời và để lại món quà tựa đề cuốn sách, bao gồm một đoạn băng ghi lại một lịch sử tàn khốc mà gia đình còn sống không biết đến. Còn trong Gravel Heart (2017), Gurnah tiếp tục phát triển chủ đề của mình về cuộc đối đầu của một người trẻ với những điều xấu xa, mà không thể hiểu nổi xung quanh cậu ta. Câu chuyện kể lại ở góc nhìn thứ nhất đầy thú vị và khắc khổ này mô tả số phận của chàng trai trẻ Salim cho đến khi kết thúc tiết lộ đáng sợ về một bí mật gia đình được giữ kín về cậu ấy, nhưng vấn dế có tính quyết định đối với toàn bộ cuộc sống của Salim như người sống lưu vong. Câu đầu tiên của cuốn sách là một tuyên bố thẳng thừng: “Cha tôi không muốn tôi.” Tiêu đề có liên quan đến bộ phim truyền hình Measure for Measure của Shakespeare và lời nói của Công tước trong cảnh thứ ba của màn thứ tư: “Sống chết mặc bay! Hỡi trái tim sỏi đá “. Chính sự bất lực kép này đã trở thành số phận của Salim. Một câu truyện cảm động, thương tâm rất hay.

    Như đã đề cập, cuốn tiểu thuyết mới nhất của Gurnah, Những Mảnh Đời Lưu Lạc (Afterlives) nơi tuyệt mỹ từ năm 2020, kể về nơi kết thúc của Paradise. Và như trong tác phẩm đó, bối cảnh là đầu thế kỷ 20, thời điểm trước khi người Đức kết thúc quá trình đô hộ Đông Phi vào năm 1919. Hamza, một thanh niên gợi nhớ đến Yusuf in Paradise, bị buộc phải tham chiến với quân Đức ‘ và phải lệ thuộc vào một viên sĩ quan bóc lột tình dục anh ta. Anh ta bị thương trong một cuộc đụng độ nội bộ giữa các binh sĩ Đức và được đưa vào bệnh viện dã chiến để chăm sóc. Nhưng khi trở về nơi sinh của mình trên bờ biển, anh không tìm thấy gia đình và bạn bè. Quy luật của những cơn gió thất thường trong lịch sử và như trong Desertion, chúng ta theo dõi cốt truyện qua nhiều thế hệ, cho đến khi kế hoạch tái lập Đông Phi của Đức Quốc xã chưa được thực hiện. Gurnah đã một lần nữa sử dụng cách đổi tên khi câu chuyện chuyển hướng và cho con trai của Hamza, Ilias trở thành Elias dưới sự cai trị của Đức. Sự kiện gây sốc bất ngờ cho người đọc. Cốt truyện nhà văn Abdulrazak Gurnah cho thấy trên thực tế tạo chúng ta suy nghĩ tương trùng, trùng lặp liên tục trong cuốn sách, vì khi cá nhân không thể tự vệ nếu ý thức tư tưởng bị thống trị, ở đây có nghĩa là sự phân biệt chủng tộc, đòi hỏi sự phục tùng và hy sinh của cá nhân.

    Loạt tiểu thuyết của Abdulrazak Gurnah là những suy ngẫm về sức mạnh đáng lo ngại trước những thách thức mà biểu lộ đối với các giả định về bối cảnh chủng tộc trong viễn cảnh thuộc địa, người dân bị trị bị thực dân Anh hóa, bị đồng hóa, phải hội nhập, chịu đựng những va chạm của văn hóa để giành được một lá cờ đất nước và một bài quốc ca. Khi được được độc lập, thế lực cầm quyền mới trỗi tên như lãnh tụ Abeid Karume, tổng thống Tanzania cai trị đất nước khắc nghiệt, hung bạo, khiến tác giả lưu vong sống ly hương. Theo trang mạng văn học Anh, British Council Literature, các nhân vật của truyện của Gurnah bị kẹt giữa các nền văn hóa và lục địa, và luôn sống trong trạng thái mất an toàn mà họ không bao giờ ra khỏi được nỗi thống khổ bị trị. Họ phải liên tục đổi mới bản thân để phù hợp với môi trường mới của họ. Họ không ngừng tìm cách hội nhập giữa cuộc sống mới và cũ trong quá khứ. Bản thân Gurnah, giống như các nhân vật của mình, đã phải rời xa quê hương Zanzibar và thoát sang nước Anh khi mới 17 tuổi, và danh tính là một vấn đề luôn thay đổi. Các nhân vật chính của ông, ông cho truyện như tìm cách để xáo trộn, khai giả mạo danh tính cố định khi nhân vật sang nơi định cư mới.

    Nhà phê bình văn học Paul Gilroy đã nhận xét: “Một khi bản sắc quốc gia và dân tộc được biểu hiện là thuần khiết, việc tiếp xúc với sự khác biệt sẽ đe dọa những bản sắc này, làm mờ loãng và ảnh hưởng đến sự thuần khiết quý báu của chúng, khiến chúng có khả năng bị ô nhiễm. Một điểm giao nhau như hỗn hợp và chuyển động cần được đề phòng.” Các nhân vật chính trong tiểu thuyết của Gurnah tỏ rõ nét ô nhiễm của sự nổi tiếng. Tính cách của những người khác xuyên qua sự khác biệt của họ”. Thật vậy, Abdulrazak Gurnah có ý thức phá vỡ quy ước, thay đổi quan điểm thuộc địa để làm nổi bật quan điểm của các cộng đồng bản địa. Ví dụ qua cuốn tiểu thuyết Desertion (2005) của ông về việc ngoại tình đã trở thành một sự mâu thuẫn thẳng thừng với cái mà ông gọi là “mối tình lãng mạn”.

    Đọc những câu chuyện về những người thuộc các chủng tộc, nền văn hóa và tôn giáo khác nhau đến với nhau do tình cảm mà họ dành cho nhau. Những mối tình bị ngăn cấm này chuẩn bị một bối cảnh trong đó các vấn đề quan trọng về lịch sử, văn hóa và chính trị trong thời gian được tác giả bày biện, giải quyết qua cốt truyện. Khi đọc Desertion, chúng tôi thích thú lối văn xuôi trôi chảy và bản chất tinh tế của tác giả, và mong đợi những tác động sâu rộng của tình yêu và sự dè chừng trong cuộc sống đối với những con người đơn thuần bị trị, đặt trong bối cảnh của chủ nghĩa thực dân.

    Nhà phê bình văn hóa Paul Gilroy đã nêu ra ý tưởng: “Khi bản sắc quốc gia và dân tộc được đại diện và thể hiện là thuần khiết, thì việc tiếp xúc với sự khác biệt sẽ đe dọa những bản sắc này, pha loãng và làm ảnh hưởng đến sự tinh khiết quý báu của chúng, khiến chúng có khả năng bị ô nhiễm. Phải đề phòng sự giao thoa như hỗn hợp và chuyển đổi”. Các nhân vật chính trong tiểu thuyết của Gurnah thể hiện sự ô nhiễm danh tính của người khác qua những khác biệt của họ.

    Nhìn chung, là một người nhập cư đến một đất nước xa lạ, Gurnah thố lộ rằng: “Đối với một số độc giả tiềm năng của tôi, có một cách nhìn nhận về tôi mà tôi phải nghĩ đến. Tôi nhận thức được rằng tôi sẽ đại diện cho bản thân mình trước những độc giả có lẽ coi bản thân là chuẩn mực, không có văn hóa hay sắc tộc, không có sự khác biệt theo tôi”. Abdulrazak Gurnah có ý thức phá vỡ quy ước, thay đổi quan điểm thuộc địa để làm nổi bật quan điểm của các cộng đồng bản địa. Vì vậy, cuốn tiểu thuyết Desertion (2005) của ông về việc ngoại tình đã trở thành một sự mâu thuẫn thẳng thừng với cái mà ông gọi là “mối tình lãng mạn”. Một ý tưởng độc đáo của Abdulrazak Gurnah cần nhắc lại.

    Với chúng ta lịch sử nước Việt Nam bị Pháp đô hộ hà khắc, bóc lột dã man, xong lại chịu nạn chủ nghĩa Cộng Sản chuyên chế tàn bạo. Chúng ta phải ly hương sống lưu vong. Đọc Abdulrazak Gurnah những cảm thông, những san sẻ và những ý nghĩ tương đồng cùng ông rất dễ. Nhà văn Christine Rose Elle, trong tác phẩm “The Happy Empath”, bà viết:

    “Chia sẻ sự đồng cảm là một trong những khía cạnh tuyệt vời nhất của trải nghiệm con người”. (Sharing empathy is one of the most wonderful aspects of the human experience. Christine Rose Elle, The Happy Empath). Thật như thế, giữa chúng ta và Abdulrazak Gurnah có nhiều mẫu số chung bởi sự đồng cảm.

    Việt Hải Song Lan (*), tháng 11, năm 2021.(*): Khánh Lan và Thuỵ Lan.

    Nguồn:

    • Trang văn học báo Anh The Guardian.
    • Các bản tin của Reuters, AP, NPR, CNN.
    • Trang mạng The Nobel Prize, Wikipedia, The Swedish Academy, France 24.
    • Desertion, Abdulrazak Gurnah, Bloomsbury Publishing.

    Theo British Council Literature. Lindau Nobel Laureate Meetings, Foundation.

  • Lê Nguyễn Nga,  Video

    Mời nghe nhạc, nhân ngày 9 tháng Giêng là kỷ niệm Lê Trọng Nguyễn qua đời (năm 2004)

    le-trong-nguyen-1.jpg

    Bài hát NẮNG CHIỀU của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn

           NẮNG CHIỀU là tên một ca khúc của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, được sáng tác năm 1952. Bài hát không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà còn nổi tiếng ở Nhật Bản, Đài Loan và Hồng Kông. Tại các nước nói tiếng Hoa, bài hát được biết đến với tên 越南情歌 (Việt Nam tình ca) hay 南海情歌 (Nam hải tình ca) do Thận Chi (慎芝) đặt lời.

           Trong một lần phỏng vấn, Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã nói: “Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 5 năm 1945, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!”

           Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Ðúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm, ban nhạc Toho Geino có nhờ người chọn ra 12 bản nhạc Việt Nam đang nổi tiếng thời đó để chuẩn bị tập dượt và trình diễn tại Sài Gòn lẫn Nhật Bản, trong đó có bản “Nắng Chiều” và bản này đã được cô ca sỹ nhật Midori Satsuki hát. Năm 1960 Kỷ Lộ Hà 紀露霞, một nữ ca sĩ ngôi sao người Đài Loan, cô yêu mến bản Nắng Chiều nên viết sang lời Hoa ngữ và phổ biến bản này sang Ðài Loan bằng lời ca của tiếng Phúc Kiến, là tiếng nói phổ biến ở Đài Loan; sau đó được nữ nghệ nhân Thận Chi 慎芝 (Khưu Tuyết Mai 邱雪梅) viết lại lời bằng âm Quan Thoại phổ biến ở Hồng Kông và các nơi khác. Nhờ những may mắn đó mà “Nắng Chiều” cứ thế được biết tới tại các nước ở vùng Đông Nam Á và sau năm 1975 lại theo người Việt và người Việt gốc Hoa đi khắp thế giới như hiện nay.

         Nhớ lại khoảng thập niên 1960 của thế kỷ trước, hội Văn Hóa Hoa Việt ở vùng Quận 5 Chợ Lớn có cho phổ biến một tập nhạc Việt đã được dịch ra lời Hoa để cho con em người Hoa có thể hát nhạc Việt được. Tập nhạc này chỉ được in dưới hình thức “quay ronéo” nên không được phổ biến rộng rãi. Tôi còn nhớ trong đó các bản nhạc như “Ai Về Quê Tôi”(Tiến Đạt) Mạnh Phát, “Ngày Trở Về” của Phạm Duy, “Lúa Mùa Duyên Thắm”, “Trăng Soi Duyên Lành”, “Lối Về Xóm Nhỏ” của Trịnh Hưng, “Về Dưới Mái Nhà” của Xuân Tiên, Y Vân, “Duyên Kiếp” của Lam Phương… và tôi thích nhất là bài “NẮNG CHIỀU” của Lê Trọng Nguyễn với lời tiếng Hoa thật hay, không biết là một nhân sĩ nào đó đã dịch thật tài tình, vừa sát nghĩa với lời Việt của Lê Trọng Nguyễn lại vừa có tính cách văn chương và nhất là vừa hợp với các âm giai lên xuống của bản nhạc khi hát  không bị gượng ép chút nào cả ! Lời ca rất tự nhiên nên thơ như được sáng tác bằng tiếng Hoa nguyên gốc vậy ! Và cũng vì thế mà cho đến nay, hơn 60 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ như in lời ca mượt mà gợi cảm đó. Xin được chép lại dưới đây để người Việt gốc Hoa nào đó thích bản nhạc “NẮNG CHIỀU” cùng hát cho vui (Nhớ là hát bằng âm “Quan Thoại”, chữ có màu đỏ bên dưới, chớ không phải âm Việt Hán):

                夕陽                                       TỊCH DƯƠNG là Nắng Chiều

               xi yáng

            回到渡頭夕陽斜照,                     Hồi đáo độ đầu, tịch dương tà chiếu,

       Huí dào dù tóu, xi yáng xié zhào.   (Qua bên nước xưa lá hoa về chiều)  

            金光疏落花葉飄搖。                     Kim quang sơ lạc, hoa diệp phiêu diêu.

       Jin guang shu luò hua yè piao yao.(Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa)

            來到村莊舉步徬徨,                     Lai đáo thôn trang, cử bộ bàng hoàng,

       Lái dào cun zhuang, ju bù páng huáng.(Khi đến cuối thôn chân bước không hồn)

            多麼懷念舊時人兒。                     Đa ma hoài niệm, cựu thời nhân nhi.

       Duo me huái niàn, jìu shí rén ér.     (Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ)

      *  Từ phần hai của lời ca, sẽ bỏ đi phần phiên âm Việt Hán cho khỏi rườm rà !

            記得妹妹身材稍廋,                     Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy,

           Jì dé meì meì shen cái shao sou,

            柔和望我雙眸閃爍。                     Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh.

           Róu hé wàng wo shuang móu shan shuo.

            記得當年妳過庭前,                     Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm,

           Jì dé dang nián ni guò tíng qián,

            粉頰緋紅秀髮輕飄。                     Má em mầu ngà tóc thề nhẹ vương.

          Fen xia fei hóng xiù fa qing piao.

    – 我回來過庭前,想起誓言,心冰冷,Nay anh về qua sân nắng, chạnh nhớ câu thề, tim tái tê,

       Wo huí lai guò tíng qián, xiang qi shì yán, xin bing leng,

      不知如今,情妹呀,移戀何方?      Chẳng biết bây giờ người em gái,duyên ghé về đâu?

       Bù zhi rú jin, qíng meì ya, yí liàn hé fang?

    – 我回來桑田黃,山歌對答,不再唱,Nay anh về nương dâu úa, giọng hát câu hò, thôi hết đưa

      Wo húi lai sang tián huáng, shan ge dùi dá, bù zài cháng,

      苗條俏影,紫花前,往何處尋?      Hình bóng yêu kiều kề hoa tím biết đâu mà tìm?

      miáo tiáo qiào jing, zi hua qián, wảng hé chù xún?

            沉痛記起竹蔭底下,                         Anh nhớ xót xa dưới tre lá ngà,

           Chén tòng jì qi, zhù yin di xià,

            含愁望我妳說”愛我”。                      Gợn buồn nhìn anh em nói “mến anh !”.

           Hán chóu wàng wo, ni shuo “ai wo”

            白雲浮飄夕陽殘照,                         Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi,

           Bái yún fú piao, xi yáng cán zhào,

            想妳柔情晚霞留停!                         Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi !

           Xiang ni róu qíng, wan xía líu tíng!

                         
                                     Bài hát NẮNG CHIỀU chép tay của Đỗ Chiêu Đức

         Mặc dù một số từ được dịch thoát ý, không có “mot à mot” hay “word by word” gì cả, nhưng đã lột tả được hết ý của tác giả muốn gởi gấm trong lời ca.

          Dưới đây là lời ca bằng tiếng Phước Kiến  (tiếng nói thông dụng ở Đài Loan) với giọng hát của ca sĩ Kỷ Lộ Hà như đã nói ở phần trên :

                            紀露霞 越南情歌

                                     
                                                      Ca sĩ Kỷ Lộ Hà của 1960 và hiện nay

              Hiện nay, mặc dù đã ở tuổi 80, nhưng trong một Đại Nhạc Hội với “Ban nhạc Nhi Tôn Mãn Đường 兒孫滿堂” (Ban nhạc có nghĩa “Con Cháu Đầy Nhà”) nữ ca sĩ Kỷ Lộ Hà còn kể lại chuyện của đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, khi mình đến Việt Nam trình diễn và đã cảm nhận được bài hát “Nắng Chiều” như thế nào và sau đó đã viết nó lại thành lời Hoa bằng tiếng Phước Kiến để hát và phổ biến ở Đài Loan.  Mời nghe giọng hát ở tuổi 80 (2016) của ca sĩ Kỷ Lộ Hà  theo link dưới đây :

                                     紀露霞feat.兒孫滿堂 – 越南情歌

    紀露霞feat.兒孫滿堂 – 越南情歌

              Mới đây nhất, bài hát “Nắng Chiều” của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn sau khi được nữ ca sĩ Kỷ Lộ Hà phổ biến và lưu hành rộng rãi ở Đài Loan; đã được một nhạc sư Saxophone nổi tiếng biểu diễn hồi đầu tháng 5-2021 nầy. Mời bấm vào link dưới đây để nghe :

                271、越南情歌 / 紀露霞 ( 越南民歌 /Nắng Chiều ) ( 阿亮薩克斯風演奏 Sax ) 國語老歌

    271、越南情歌 / 紀露霞 ( 越南民歌 /Nắng Chiều ) ( 阿亮薩克斯風演奏 Sax ) 國語老歌

         Còn dưới đây là … Ca sĩ Hoàng Thanh Nguyên của Tân Gia Ba  hát bài Nắng Chiều (Tình Ca Việt Nam) với lời ca viết lại như sau :

                    黃清元 越南情歌

    黃清元 越南情歌

    黃清元 越南情歌 Hoàng Thanh Nguyên hát VIỆT NAM TÌNH CA (Nắng Chiều)

     Lời Việt dịch từ lời Hoa có thể hát được

    我又來到湄公河邊,  Tôi đến bên bờ Mê-Kông ngày nào,

    晚風依舊吹動河面,  Chiều buồn dòng sông gợn sóng lao xao. 

    那樣美麗那樣迷戀,  Sông nước mơ màng sông nước năm nào,

    情人己離去多年。     Thấy đâu người cũ bóng hình ngày nao…

    我又來到舊日河邊,  Tôi đến bên bờ bến sông ngày nào,

    晚霞嬌艷吻著河面,  Hoàng hôn nhẹ buông theo sóng lao xao.

    那樣美麗那樣迷戀,  Sông nước êm đềm sông nước mơ màng,

    情人己失去多年。     Nhưng sao người cũ vắng rồi chẳng sang…

    Điệp khúc…

    * 往事一幕幕回到我眼前,Ôi bóng hình xưa yếu dấu, thấp thoáng bên dòng sông nước xưa… 

    是夢景令人常懷念,夢景令人懷念。 Giờ ở nơi nào, người yêu hỡi, duyên ghé về đâu ? 

    * 何日夢境再回到我眼前, Biết bao giờ ta chung bước, chung bóng chung hình chung ước mơ…

    是真情令人長留戀,真情令人懷念。Lưu luyến chẳng rời, tình đôi lứa, thiết tha trọn đời !… 

    我又來到湄公河邊,  Tôi đến bên bờ Mê-Kông ngày nào,

    晚風依舊吹動河面,  Chiều buồn dòng sông gợn sóng lao xao. 

    那樣美麗那樣迷戀,  Sông nước mơ màng sông nước năm nào,

    情人己離去多年。     Thấy đâu người cũ bóng hình ngày nao…

    我又來到舊日河邊,  Tôi đến bên bờ bến sông ngày nào,

    晚霞嬌艷吻著河面,  Hoàng hôn nhẹ buông theo sóng lao xao.

    那樣美麗那樣迷戀,  Sông nước êm đềm sông nước mơ màng,

    情人己失去多年。     Nhưng sao người cũ vắng rồi chẳng sang…

                             Ca sĩ Hoàng Thanh Nguyên của 1960 và hiện nay

         Còn sau đây là lời HOA của bản nhạc NẮNG CHIỀU của Lê Trọng Nguyễn với tựa đề là :VIỆT NAM TÌNH CA  do nữ nghệ nhân Thận Chi viết lời  (Thận Chi tên thật là Khưu Tuyết Mai 邱雪梅, bà đã cùng chồng là Quan Hoa Thạch 關華石 tổ chức Đại nhạc hội “Quần Tinh Hội 羣星會” ở Đài Loan suốt gần 3 thập niên 1950-1980)

    作詞:慎芝                     Viết lời : Thận Chi
    作曲:越南民歌              Nhạc   : Việt Nam Tình Ca  (Nắng Chiều)
    編曲:陳志遠                  Hòa âm : Trần Chí Viễn

    我又來到昔日海邊          Tôi đến bên bờ biển của ngày nào,
    海風依舊吹皺海面          Rạt rào từng cơn sóng bủa lao xao.
    那樣熟悉 那樣依戀         Sóng nước mê hồn như những năm nào

    只有舊日人兒不見          Thấy đâu người cũ biết giờ về đâu  ?


    不敢來到昔日海邊          Không dám quay về biển xưa thuở nào,
    海霞嬌艷擁著海面          Nhìn lại biển xanh sóng bủa lao xao 
    那樣熟悉 那樣依戀         Xao xuyến nhớ người yêu cũ năm nào
    只有故人離去多年          Biết nay lạc bước chốn nào tìm em !

     Điệp Khúc 

    那往事 一幕幕到我眼前           Chuyện xưa còn như trước mắt , lòng luống ngậm ngùi, thương nhớ ai,
    是夢境還是幻想 令人常懷念    Tình thiết tha hoài, người yêu dấu, duyên ghé về đâu ?
    那夢境 何日能回到眼前           Mộng xưa còn trong tâm thức, biết đến bao giờ thôi hết mơ,

    你又在我的身邊 無限情纏綿    Người cũ quay về tròn nguyện ước, ngất ngây tình nồng.

    不敢來到昔日海邊          Không dám quay về biển xưa thuở nào,
    海霞嬌艷擁著海面          Nhìn lại biển xanh sóng bủa lao xao 
    那樣熟悉 那樣依戀         Xao xuyến nhớ người yêu cũ năm nào
    只有故人離去多年          Biết nay lạc bước chốn nào tìm em !

    越南情歌 – Nắng Chiều Bài hát nầy hát giống như lời trên đây.

    越南情歌 – Nắng Chiều

              Ca nhạc hải ngoại Việt Nam, trong Asia 48 cũng chọn bản Nắng Chiều cho 2 nữ ca sĩ chuyên hát tiếng Việt và tiếng Hoa KIM ANH và DOANH DOANH biểu diễn. Mời bấm vào link dưới đây để xem :

    Nắng Chiều | NS Lê Trọng Nguyễn | Kim Anh, Doanh Doanh | Asia 48

    Nắng Chiều | NS Lê Trọng Nguyễn | Kim Anh, Doanh Doanh | Asia 48

           … và Nắng Chiều với tiếng hát của ca sĩ Thế Sơn, một ca sĩ trụ cột của Thúy Nga – Paris by night hiện nay  :

                          Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn) – Thế Sơn – NhacCuaTui

    Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn) – Thế Sơn – NhacCuaTui Thế Sơn Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn) – Thế Sơn | Sáng tác: Lê Trọng Nguyễn Qua bến nước xưa lá hoa về chiều lạnh lùng mề…

    費玉清 ~ 越南情歌

    費玉清 ~ 越南情歌

             Còn dưới đây là bài hát Nắng Chiều của ca sĩ Dương Yến, lời hát đúng với bản nhạc chép tay của ĐCĐ kèm theo bên dưới và cũng đúng với những tập nhạc xuất bản ở Đài Loan được bày bán trên các dĩa hè của Quận 5 Chợ Lớn trong thập niên 60 -70 của thế kỷ trước.

    【Official Audio】楊燕 – 越南情歌   Dương Yến – Việt Nam Tình Ca

    【Official Audio】楊燕 – 越南情歌

              “Việt Nam Tình Ca” (NẮNG CHIỀU) bản viết tay của Đỗ Chiêu Đức

    Cuối cùng mời tất cả cùng nghe NẮNG CHIỀU của Lê Trọng Nguyễn với tiếng Nhật Bản:

    Nắng Chiều (Lê Trọng Nguyễn) – Satsuki Midori (tiếng Nhật)

    Nắng Chiều (Lê Trọng Nguyễn) – Satsuki Midori (tiếng Nhật)

     Kính chuyển tiếp.

     Tài liệu sư tầm

           Chúc các bạn nghe nhạc VUI VẺ, THOẢI MÁI !

                                                                                 Đỗ Chiêu Đức 

                                                                     (viết lại theo sưu tầm trên mạng)

  • Tin tức

    Nhớ Trần Quang Hải

    Việt Hải Los Angeles

    Tôi xúc động khi Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo thông báo hung tin GS. TS. Trần Quang Hải đã ra đi ở Paris được 3 tiếng, tôi nghe tin mà lòng se thắt, dù biết là căn bệnh anh mang là loại nan y. Tôi và Trần Quốc Bảo trao đổi những kỷ niệm trong chuyến Cali du 2019 do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian mời tham dự buổi lễ vinh danh người nhạc sĩ tài hoa được thế giới công nhận về ngành Âm nhạc Dân tộc học (L’ethnomusicologie). Sự nghiệp âm nhạc học và nghiên cứu âm nhạc học của Giáo sư Trần Quang Hải vượt ra ngoài giới hạn của đất nước Việt Nam, nơi ông chào đời. Loại nhạc bao bao gồm Âm nhạc Việt Nam, tức Phương Đông, từ Âm nhạc truyền thống Việt Nam thuộc mọi thể loại, đến nền âm nhạc của người Thượng ở vùng Tây Nguyên Việt Nam. Nhạc đã vượt ra ngoài biên giới xứ sở để phổ biến những khía cạnh tuyệt vời của Di sản âm nhạc của các quốc gia khác nhau trải dài từ Đông Nam Á đến Trung Á để vươn xa đến tận nước Do Thái, rồi Trung Âu đến Tây Âu.

    GS. TS. Trần Quang Hải (1944-2021)

    GS. Phạm Hồng Thái đã phỏng vấn và thu thập tài liệu về GS. Trần Quang Hải để ấn hành bộ sách song ngữ Anh Việt để đời Trần Quang HẢi-50 Năm NghiÊn Cứu Nhạc Dân Tộc Việt / 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing.

    Ngoài ra GS.Quyên Di của đại học California State University at Long Beach cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi lễ ra mắt sách Trần Quang Hải thật trang trọng vào ngày 10 tháng 2, 2019 tại trường đại học CSU-Long Beach, California.

    Lời Nói Đầu

    Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm NVNT và TTG đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng  góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới. Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc Việt Nam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu. 

    Với cuộc sống ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra dòng chính thế giới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa vào các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo, về những nghiên cứụ và tham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong phạm vi dân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là thành viên SACEM (Society of Authors, Composers and Publishers of Music) và ông cũng được trao tặng bảo quốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp.

    Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón nhận như một tác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người nhạc sĩ độc đáo của chúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầu truyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau. Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần Quang Hải.

    NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH

    Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019

    PHAN ANH DŨNG biên soạn :

                         Link tham khảo: https://tranvankhe-tranquanghai.com/2020/05/27/phan-anh-dung-bien-soan-nhac-si-tran-quang-hai-ra-mat-sach-o-nam-california-thang-2-2019/

    Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải giúp tôn vinh âm nhạc Việt Nam Trần Quang Hải là một nhạc sĩ tài năng sống ở Pháp và đã tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại 65 quốc gia trên thế giới. Với cha mình, giáo sư nổi tiếng Tiến sĩ Trần Văn Khê, và vợ ông, ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến, ông đã đóng góp trong nhiều năm để nghiên cứu, quảng bá và tôn trọng âm nhạc Việt Nam. Trần Quang Hải sinh ra trong một gia đình có năm thế hệ nhạc sĩ ở miền Nam Việt Nam. Cha của ông, Giáo sư Trần Văn Khê, nổi tiếng vì đã giúp quảng bá âm nhạc Việt Nam truyền thống trên khắp thế giới và tôn vinh nó trong các lĩnh vực nghiên cứu và biểu diễn.

    Ông Hải tốt nghiệp từ Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn trước khi định cư tại Pháp để học tập và nghiên cứu âm nhạc tại Đại học Sorbonne và nhạc dân tộc học tại Đại học Khoa học Xã hội ở Paris. Ông bắt đầu nghiên cứu về âm nhạc phương Đông tại Bảo tàng Man vào năm 1968.

    Năm sau, ông Hải được bổ nhiệm vào vị trí tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia trong khi vẫn còn là sinh viên. Anh quyết định tập trung vào kỹ thuật ca hát âm nhạc, mà anh đã phát hiện vào năm 1969. Nghệ thuật, bao gồm cả việc sản xuất hai âm thanh đồng thời từ cổ họng, khiến anh nổi tiếng trên toàn thế giới như chuyên gia số một trong ca hát âm nhạc.

    « Sau nhiều tháng nghiên cứu, tôi đã phát triển một hệ thống các phương pháp để ca hát âm nhạc, » nhà âm nhạc dân tộc học nói. « Cho đến nay, tôi đã có 8.000 người học cho chủ đề này ở 65 quốc gia. »

    Giáo sư Quang Hải đã nhận được hơn 30 giải thưởng quốc tế cho các nghiên cứu âm nhạc của mình. Năm 2002, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã trao Huân chương Danh dự cho Tiến sĩ Hải để ghi nhận những đóng góp của ông cho nghiên cứu về ca hát âm nhạc trên thế giới. Một bậc thầy về âm thanh, nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng hầu như có thể chơi nhiều nhạc cụ truyền thống Việt Nam như đàn tam thập lục 16, violin hai chord, sáo và thậm chí cả cái muỗng. (Anh ấy đã mang lại rất nhiều cải tiến cho kỹ thuật trò chơi muỗng.)

    Tiến sĩ Quang Hải thấy mình là một sự pha trộn của một số loại âm nhạc – Đông và phương Tây, truyền thống và đương đại. Âm nhạc của anh ấy không có biên giới. Anh nói anh đã tạo ra một tầm nhìn toàn cầu về thế giới và âm nhạc Việt Nam. Nó nhằm mục đích kết hợp tất cả các thể loại âm nhạc truyền thống trong một thế giới âm nhạc điển hình.

    Mặc dù ông đã sống ở nước ngoài được 45 năm, ông Hải luôn nhìn về quê hương của mình với một cảm giác đặc biệt. Ông thực hành lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Phiên dịch viên soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống một cách nhiệt tình mà còn nỗ lực bảo tồn nó. Anh đã tổ chức 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của đất nước. Người đàn ông chuyên dụng cũng đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại Pháp, Ý và Hoa Kỳ.

    Giáo sư Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc các loại, bao gồm ca hát và âm nhạc cho các nhạc cụ truyền thống Việt Nam.

    Nhà khoa học nổi tiếng đã viết nhiều bài báo và sách cho các tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được xuất bản trên từ điển New Grove.

    Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (Mỹ) và Kế hoạch chính thức ( Pháp).

    Xin xem link sau: 

    Cảm nhận của GS. Quyên Di khi nghe tin:

    Anh Việt Hải ơi,

    Nhớ về anh Trần Quang Hải. Anh thêm giúp tôi ngày tổ chức và những người dự buổi lễ vinh danh anh Trần Quang Hải nhé. Đừng quên Giáo sư Hikoki Tahara bay từ Nhật sang dự lễ.

     “Nhạc sĩ Trần Quang Hải là một nhân tài của nền tân nhạc Việt Nam. Ông xuất sắc cả về lý thuyết âm nhạc lẫn sử dụng nhạc cụ. Ai đọc qua tiểu sử rút gọn của ông cũng thấy ông nhận được quá nhiều giải thưởng quốc tế về âm nhạc.

    Chính vì muốn vinh danh những nhân tài gốc Á châu, phân khoa Nghiên Cứu về Người Á Châu và Người Mỹ Gốc Á Châu của Đại Học CSU Long Beach đã quyết định trao bằng vinh danh Nhạc Sĩ Việt Nam Trần Quang Hải trong một buổi lễ long trọng được tổ chức tại giảng đường khoa Tâm Lý Học vào ngày lễ.

     Bà khoa trưởng, giáo sư tiến sĩ Teri Yamada đã cử tôi đại diện phân khoa trao bằng vinh danh cho ông. Hầu hết các thành viên của liên nhóm Nhân Văn Nghệt Thuật và Tiếng Thời Gian đã có mặt trong buổi lễ vinh danh này, trong đó phải kể đến….”

    Bạn bè ra đi nhiều quá! Buồn!

    Quyên Di, Đại học California State Long Beach.


     

     
    Nhà thơ Hà Nguyên Du xem tin buồn trên Facebook kể kỷ niệm vui khi đến thăm NS.Trần Quang Hải tại căn resort house của GS. Trần Mạnh Chi gần biển Huntington Beach, hôm ăn phở 54, uống cà phê Starbucks, những kỷ niệm vui. Nhà văn Nguyễn Quang, Chinh Nguyên, Khánh Lan, Nhạc trưởng Nguyên Hồng kể kỷ niệm. Họp mặt tiếp Trần Quang Hải tại tư gia Melinda Lan và Lưu Mạnh Bông, party tại tư gia NS. Lam Phương, rồi tư gia Nguyễn Quang, tư gia Việt Hải, những hôm chuyện trò bù khú ở cửa tiệm HanaMaru Japanese Sushi Bars, Hủ tiếu Triều Châu, Mì La Cay, Habit Burger Grill,… 

    Hôm nay bạn bè được tin anh Trần Quang Hải, anh chị em Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và thân hữu văn nghệ sĩ xúc động, buồn lưu luyến, xin chia buồn cùng chị Bạch Yến và cháu Minh Tâm, cùng anh Trần Quang Minh và gia quyến. Nguyện cầu hương linh anh Trần Quang Hải sớm về cõi Vĩnh Hằng an bình ngàn thu.

    Trần Việt Hải, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.

    ——————————————————————–

    Giáo sư Trần Quang Hải qua đời ở tuổi 78 tại Pháp.

    GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến chụp ảnh cùng Tổng thống Pháp Jacques Chirac năm 200

    Theo thông tin từ gia đình Giáo sư – tiến sĩ Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải, giáo sư vừa qua đời lúc 0h ngày 29-12, tại Pháp.

    Kiến trúc sư Trần Quang Minh – em trai Giáo sư, tiến sĩ Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải – thông tin với Tuổi Trẻ Online, giáo sư Trần Quang Hải mất lúc 0h ngày 29-12, tại Pháp, hưởng thọ 78 tuổi.

    Ông Trần Quang Minh cho biết, anh trai ông lúc tối đi ngủ, và ngủ luôn không dậy nữa.

    Giáo sư Trần Quang Hải đang trong thời gian điều trị bệnh ung thư máu. Trước đó, ngày 23-12, trong lễ ra mắt Quỹ học bổng Trần Văn Khê tại Trường đại học Văn Lang (quận Bình Thạnh, TP.HCM) nhân kỷ niệm 100 năm sinh giáo sư Trần Văn Khê; giáo sư Trần Quang Hải có quay clip gửi về Việt Nam chia sẻ về tâm nguyện mong muốn lập quỹ học bổng của cha mình.

    Giáo sư Trần Quang Hải sinh ngày 13-5-1944 tại làng Linh Đông Xã – Gia Định. Ông là con trai trưởng của Giáo sư Trần Văn Khê và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn Trường nữ trung học Gia Long.

    Giáo sư Trần Quang Hải qua đời ở tuổi 78 tại Pháp .

    Ông Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17-6-1978 tại Paris (Pháp). Sau khi thành hôn với ông Trần Quang Hải, bà Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới. Giáo sư Trần Quang Hải là cựu học sinh Trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Sài Gòn với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), ông sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại Trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở Trường cao đẳng Khoa học xã hội (École des Hautes Etudes en Sciences Sociales). 

    GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến chụp ảnh cùng Tổng thống Pháp Jacques Chirac năm 2002. Giáo sư Trần Quang Hải bắt đầu làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với êkip nghiên cứu tại Viện Dân tộc nhạc học của Viện Bảo tàng con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ năm 1968 cho tới 2009 thì về hưu. Ông đã trình diễn trên 3.500 buổi tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại. 

    Giáo sư Trần Quang Hải cũng thực hiện 23 đĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết 3 quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới.

    “Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng, jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ” – Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ trên blog cá nhân của ông.

    Xuất thân trong một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và Trần Quang Hải là nhạc sĩ đời thứ năm, ông đã theo gót cha, Giáo sư Trần Văn Khê, trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học, tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh.

    Giáo sư Trần Quang Hải bị bệnh ung thư máu năm 2017 và tích cực điều trị đến nay. Năm 2019, ông bệnh trở nặng và được chẩn đoán bệnh sưng phổi và suy thận. Bên cạnh đó, ông còn mắc bệnh tiểu đường mãn tính.

    (Tin VN).

    Việt Hải, Los Angeles
    12/2021

  • Tin tức

    TRẦN QUANG HẢI & QUÁCH VĨNH THIỆN

    (Nhờ bạn Mùi chuyển cho hai chị BẠCH YẾN & THANH VÂN!  Cám ơn bạn!)ĐỂ THƯƠNG, TRỌNG & BIẾT ƠN

    TRẦN QUANG HẢI & QUÁCH VĨNH THIỆN

    HAI BẠN HỌC Ở TRƯỜNG PETRUS KÝ

    Inline image

    Inline image

    Quách Vĩnh Thiện & Trần Quang Hải năm 2005

    Vương Đằng

         Sáng  29/12 (tin báo không chính xác!) tôi đã khóc trong khi thông báo điện thoại cho  bạn Lê Trường Xuân, trưởng nhóm hay đại diện lớp 1956-1963 Petrus Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn và một bạn khác không muốn đề tên, về sự ra đi vĩnh viễn của bạn Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ nổi tiếng khắp thế giới (nhứt là ở Pháp).

         Nhân tiện, tôi viết bài lưu niệm nầy cho cả hai bạn học của tôi ở Petrus Ký là Trần Quang Hải và Quách Vĩnh Thiện mà hai năm trước bạn Hải và  vợ là nữ ca sĩ Bạch Yến đã đưa bạn Thiện về cõi hư vô và có gởi hình cho tôi.

    Inline image

    Bạch Yến, Trần Quang Hải và Thanh Vân (vợ của QVT)

         Tuy nhiên, tôi xin phép viết về bạn Thiện trước theo thứ tự thời gian ra đi và sự quen biết của tôi với bạnThiện trước bạn Hải và dùng chữ “bạn” trước tên họ dù rằng thuở xưa chúng tôi gọi nhau bằng “mầy” và xưng “tao” vì cả ba chúng tôi đều là người miền Nam.

    Quách Vĩnh Thiện

         Chúng tôi học chung hai lớp 7F và 6F ở trường Petrus Ký trong hai năm 1956-1958.  Nhưng qua tháng 3, 1957 tôi mới dọn nhà về Gia Định ở gần nhà của bạn Thiện.  Tôi nhỏ hơn bạn Thiện một tuổi và bạn tôi cao và mập mạp hơn tôi nhiều thuở bấy giờ.

         Nhà của bạn Thiện ở đường Ngô Tùng Châu (như một biệt thự đơn giản trên đất rộng khoảng 30m x 50m, hàng rào kẽm sơ sài) cách Ngã Ba Cầu Cống (Gia Định) độ 1km và hồ tắm Chi Lăng độ 1km5; nhà tôi ở khu Xóm Đình, vô sâu đến chỗ Xóm Ruộng, nhà tôi ở cuối xóm.  Tuy nhà của chúng tôi cách nhau non 3 cây số nhưng tôi rất thích đạp xe đến để nói chuyện âm nhạc, nhạc cụ và thỉnh thoảng tôi khoái thọt hay leo lên hái vài trái trứng cá chín mùi mà bạn Thiện còn nhớ nên nhắc ở E-mail hồi âm từ bên Pháp sau hơn 50 năm hai chúng tôi không thấy nhau.

         Tôi chỉ biết tổng quát ba má bạn Thiện là công chức và có dịch vụ tương đối khá giả, có xe hơi.  Thuở bấy giờ, sống chung trong nhà bạn Thiện có anh trai là anh Quách Vĩnh Trường (mà thỉnh thoảng tôi cũng có nói chuyện đôi chút, về sau anh trở thành thương phế binh anh hùng nổi tiếng trước 1975 và chắc hiện còn sống ở Gia Nã Đại hay Hoa Kỳ), một em gái kế và hai em trai.  Hai người mà bạn Thiện thường hãnh diện nói đến và cho coi hình ảnh là hai cậu Lương Vinh Sanh và Lương Vinh Diệu đều là nhạc sĩ và dạy nhạc ở Mỹ Tho và tôi tin chắc rằng tài nghệ âm nhạc nổi danh của bạn Thiện về sau là cũng nhờ ơn dạy dỗ chút ít của hai cậu khi Thiện chưa qua lớp đệ nhị cấp trung học (lớp Đệ Tam hay lớp 10 bây giờ).  Bấy giờ tôi chỉ mới bắt đầu học măng cầm với giáo sư Trần Anh Tuấn nổi tiếng nhứt về đàn nầy ở lớp nhạc tư trong phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện gần sau lưng rạp hát Nguyễn Văn Hảo và sau đó học tiếp môn nầy với nhạc sĩ Hương Tử vốn tốt nghiệp môn nầy với thầy Tuấn trước kia; còn bạn Thiện thì đã đàn khá cả măng cầm và Tây ban cầm.

         Bạn Thiện tuy là con nhà giàu, nhưng ăn nói và đối xử với bạn học bình dân và chân thật bởi thế tôi, con nhà nghèo và trong hoàn cảnh không may (ba bạo lực và có dì ghẻ khó chịu—xin xem đính kèm!) đã chơi thân với bạn Thiện.  Trung bình mỗi tháng tôi đạp xe lên nhà bạn Thiện ít nhứt một lần để nói chuyện văn nghệ, tập đàn với nhau; thỉnh thoảng bạn Thiện san sẻ cho tôi bánh, trái trong gia đình mà một học trò nghèo như tôi gần như lúc nào cũng cần thiết; tình bạn học và văn nghệ giữa tôi và bạn Thiện càng ngày càng thân. Ngoài ra, vì nhà nghèo, tôi làm gì có tiền mua dĩa nhạc ngoại quốc để nghe (tôi đã rồi biết nghe nhạc ngoại quốc từ khi mới 4-5 tuổi khi sống với má tôi ở Thị Nghè bên kia Sở Thú Sài Gòn) nên nhà bạn Thiện là nơi tôi may mắn có dịp để nghe.

         Kể từ tháng 9, 1958, tôi lên lớp 5C, còn bạn Thiện lên lớp Đệ Ngũ nào tôi không nhớ nên chúng tôi gần như không còn cơ hội gặp nhau.  Tôi không biết gia đình bạn Thiện dọn về đường Vườn Chuối bên hông chợ Vườn Chuối năm nào; mãi đến năm 1962 tôi mới biết và đôi khi tôi có ghé thăm bạn Thiện ở nhà mới và cũng còn gặp anh Quách Vĩnh Trường.  Sau khi thành lập ban nhạc Les Fanatiques với các ca sĩ Công Thành, Tới, Helena, v.v.,  bạn Thiện trở thành thần tượng của tôi, nhứt là khi bạn Thiện trổ tài biểu diễn cây ghi-ta điện sau lưng.  Trong đặc san Tết Quí Mão (1963) mà tôi là trưởng ban báo chí toàn trường Petrus Ký (vì tôi học lớp duy nhứt 1C chuyên ban văn chương và sinh ngữ), tôi thích nhứt bài “Chất Học Sinh” (trang 9-10) của bạn Thiện.

         Đến cuối mùa Hè 1964, bạn Thiện qua Pháp du học.  Trước khi đi, bạn có cho tôi địa chỉ sẽ sang cư ngụ ở Paris mà tôi còn giữ đến bây giờ (nhưng để bên Hoa Kỳ trong khi tôi viết bài nầy ở Sài Gòn!).  Năm 1979, từ thành phố Nữu-Ước tôi qua Pháp lần đầu tiên để thăm má tôi, tôi có kiếm nhà của bạn Thiện nhưng bạn đã dọn đi nơi khác nên tôi không có dịp tái ngộ với người bạn xa xưa.

         Mãi đến khoảng năm 2013, tôi mới có dịp liên lạc lại với bạn Thiện qua E-mail, và mỗi tuần Thiện chắc đã nhận những tài liệu hữu ích mà tôi sưu tầm, phổ biến và tôi cũng đã gởi những tác phẩm do tôi sáng tác như thơ, văn và nhạc đã đăng trên Google , Youtube và vài mạng khác.  Tôi cũng đã giới thiệu tựa của hơn 10 cuốn sách của tôi đã được xuất bản ở Hoa Kỳ và Việt Nam, nhưng tôi chắc bạn Thiện quá bận sáng tác và trình diễn văn nghệ nên không có thì giờ cho các tác phẩm của tôi. 

        Dù là kỹ sư toán, nhưng Quách Vĩnh Thiện đã được người Pháp công nhận tài năng âm nhạc nên được phong chức Viện sĩ của Viện Hàn Lâm Âm Nhạc (?) Pháp.  Tôi rất khâm phục bạn Thiện hy sinh, kiên nhẫn trong 5 năm (2005-2009) cho công trình phổ nhạc Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du gồm 7 CDs, được Unesco xem như di sản văn hóa nhân loại và phổ nhạc thi phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc của bà Đoàn Thị Điễm qua 2 CDs trong 2 năm 2010-2011.  Ngoài ra, bạn Thiện còn sáng tác nhiều CDs nhạc tâm linh, v.v..

         Tóm lại, bạn Thiện và tôi đã học chung lớp và san sẻ bao nhiêu kiến thức âm nhạc trong non 2 năm (thật ra, tôi học nhiều ở bạn Thiện trong giai đoạn nầy); sau đó, dù ít gặp nhau và sau 1964 thì không còn gặp nhau nữa, nhưng tình bạn chung lớp và văn nghệ vẫn luôn gần nhau.  Có một điều tôi phải công nhận là tài âm nhạc của Quách Vĩnh Thiện hơn tôi quá xa và lý tưởng phục vụ âm nhạc của bạn Thiện cũng hơn tôi nhiều và rất đáng trọng.

    Trần Quang Hải

         Bạn Hải và tôi học chung lớp 5C, 4C và nửa năm lớp 3C cho đến khi bạn được ba là giáo sư Trần Văn Khê rước sang Pháp.

         Khi còn học chung 2 lớp đầu, tôi thật sự không biết ba của Hải là ai mà chỉ biết má của Hải đang làm giám thị ở trường nữ trung học Gia Long thời đó.

         Nhà của Hải ở trong hẽm Xóm Chùa (bấy giờ chưa đặt tên đường cho hẽm nầy), đâm ra đường Trần Quang Khải độ 200m và cách đường Hai Bà Trưng độ 250m.  Từ tháng 9, 1958 (tôi  học lớp 5C) đến tháng 1, 1959, đang đi hoang, sống tự lập, buổi sáng tôi lo bán bắp rang trong khu vực đường Nguyễn Tri Phương và Lý Thái Tổ nên coi như tôi không biết hay không quan tâm đến bạn Hải học chung lớp.  Từ tháng 2, 1959 (đã trở về nhà trong tháng 1, 1959), tôi nhớ là có thì giờ đi đây đó nên tôi có đến nhà của bạn Hải chơi khoảng 2-3 lần, một lần được bạn kéo vĩ cầm cho tôi nghe khá hay nhưng tôi không hề biết bạn đang học ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc về môn nầy; bạn cũng mời tôi ăn bánh trái trong nhà và tôi thích nhứt là được bạn Hải cho nghe ké dăm dĩa nhạc ngoại quốc phổ thông và cổ điển như khi ở nhà bạn Thiện. Từ đầu tháng 9 năm 1959 đến Hè 1960, ngoài giờ học tôi quá bận với chuyện mưu sinh trong Giải Trí Trường Thị Nghè nên không còn thời gian để giao du với bạn bè, bởi thế chúng tôi chỉ thấy nhau trong giờ học mà thôi.

         Qua tháng 9, 1960, tôi không còn mưu sinh ở Giải Trí Trường Thị Nghè nữa, chúng tôi vẫn học chung lớp 3C, nhưng tôi lại quá lo việc học hành nên mỗi tuần ba bốn lần vào Thư Viện Quốc Gia cũ ở góc đường Gia Long (bây giờ là Lý Tự Trọng) và Tự Do (bây giờ là Đồng Khởi) để sưu tầm và học hỏi nên gần như chúng tôi không còn gặp nhau cho đến một ngày các bạn trong lớp cho biết rằng bạn Hải đã qua Pháp.

         Mùa Hè 1979, tôi sang Pháp để thăm má tôi và các em lần đầu tiên và tôi vô cùng ngạc nhiên và thán phục thấy và nghe những dĩa cổ nhạc Miền Nam do giáo sư Trần Văn Khê và bạn Hải trình bày, khi thì độc tấu, khi thì song tấu hay toàn ban hòa âm.  Bấy giờ tôi cũng có phần nào hãnh diện có người bạn học giỏi và tài tình như thế.  Tôi đem các dĩa giới thiệu với bà con ở bên Pháp, chứ không có thời gian để đi tìm gặp bạn Hải hay Thiện vì tôi đang làm việc ở thành phố Nữu-Ước, chỉ được nghỉ phép qua Pháp 2 tuần thôi.

         Độ đầu năm 2011, giáo sư Trần Văn Khê có tổ chức một buổi văn nghệ ngay tại tư gia của ông ở gần chợ Bà Chiểu với sự tham dự của bạn Hải và vợ là ca sĩ Bạch Yến từ bên Pháp về.  Tôi được bạn Hải thông báo nên đã mướn xe tắc-xi để đi với bạn gái ở thành phố Biên Hòa xuống.  Biệt thự của giáo sư tuy rộng rải nhưng phòng trình diễn thì quá nhỏ cho một buổi văn nghệ có tiếng tăm.  Tôi và bạn gái đến đúng giờ nhưng vẫn phải đứng nghe ở ngoài hành lang.  Bạn Hải và tôi có gặp nhau ở ngoài sân sau, nhưng chỉ trau đổi một hai câu xã giao rồi bạn Hải phải trở vô tiếp tục trình diễn.  Quá mõi chân cho một người ở tuổi đã về hưu như tôi phải đứng coi nên khoảng nửa tiếng sau thì tôi và bạn gái tự động kêu xe đã mướn trở về Biên Hòa.

         Đầu tháng 2, 2015, bạn Hải nhờ tôi dịch bài về “Hát Bài Chòi” từ Việt văn qua Anh văn (13 trang) và tôi đã giúp.  Mỗi tuần bạn Hải đều nhận ít nhứt 5 E-mails của tôi và thỉnh thoảng tôi cũng nhận một E-mail của bạn Hải.  Ngày 20/12/21 tôi nhận E-mail trong đó bạn Hải mặc đồ Ông Già hát và thổi “the Jew’s harp” bài “We wish you a merry Christmas and a happy New Year” và ngày 21/12/21 tôi lại nhận E-mail của Hải với tựa “meilleurs voeux pour un joyeux NOEL” trong đó bạn Hải hát bài “JINGLE BELLS WITH THE OVERTONE SINGING”.  Nước mắt của tôi trào ra khi nghe bạn  hát bài thứ hai nầy vì không ngờ đời quả vô thường và từ nay tôi không bao giờ thấy hay gặp bạn Hải của mình nữa.

         Những ai quan tâm đến cổ nhạc, nhứt là cổ nhạc Nam phần, hãy tin rằng chúng ta sẽ KHÔNG bao giờ tìm lại được một Trần Quang Hải thứ hai với di truyền gia đình, tài nghệ, kiên nhẫn và tấm lòng và chúng ta nên biết nhớ ơn giáo sư, tiến sĩ Trần Quang Hải (cộng với sự phụ tá của vợ là ca sĩ Bạch Yến) đã trình diễn và truyền bá cổ nhạc Việt Nam khắp bốn phương trời trong hơn 40 năm qua.

    *

         Tôi trọng cả hai bạn học của tôi vì căn cứ vào tiểu sử cũng như hoạt động suốt đời, tôi tin rằng bạn Quách Vĩnh Thiện và bạn Trần Quang Hải là hai cá nhân sống lương thiện mà với tôi ai sống lương thiện là người được sự kính trọng của tôi bất kỳ người đó giàu, nghèo, có tài hay bất tài.

         Tạ ơn Trời, Phật, Chúa hay Thượng Đế đã cho tôi có hai người bạn học như Quách Vĩnh Thiện và Trần Quang Hải để tôi thương, trọng và nhớ ơn; và chắc chắn sớm muộn gì tôi cũng nối gót theo hai bạn Thiện và Hải.

    Vương Đằng

    (Trưa Thứ Ba 04/01/22 là lúc dự định hỏa thiêu bạn Hải ở Pháp)
    —
    NGUYEN Van Mui–