-
BUỔI RMS CỦA HAI HẬU DUỆ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN ĐƯỢC ỦNG HỘ NỒNG NHIỆT

NHÀ VĂN TỪ DUNG & NHÀ VĂN NGỌC CƯỜNG 
WESTMINSTER, California (NV) – Đông đảo độc giả tham dự buổi ra mắt sách của hai nhà văn Từ Dung và Ngọc Cường tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt trưa Chủ Nhật, 15 Tháng Năm do Nhóm Văn Học Nghệ Thuật/Tiếng Thời Gian tổ chức.

Ngồi, từ trái, nhà văn Từ Dung và nhà văn Ngọc Cường ký tên sách theo yêu cầu của độc giả. (Hình: Đằng- Giao/Người Việt) Nhà văn Từ Dung ra mắt sáng tác đầu tay của bà với tựa đề “Hồi Tưởng” và nhà văn Ngọc Cường ra mắt tác phẩm thứ tư của ông là “Ba Chị Em.”
Tham luận đoàn gồm có bảy người là Từ Dung, Ngọc Cường, Việt Hải, Vi Khiêm, Kiều My, Khánh Lan và Mộng Thủy với sự điều phối của Giáo Sư Quyên Di để cùng bàn thảo về hai tác phẩm này. Các tham luận viên cùng đồng ý rằng “Ba Chị Em” nói lên tâm trạng đầy mặc cảm mồ côi mẹ một cách chân thành và đầy tình cảm. Trong không khí thân mật và vui nhộn, tham luận đoàn chia sẻ cảm nhận và ấn tượng của mình về hai tác phẩm “Hồi Tưởng” và “Ba Chị Em.”

Tham luận đoàn gồm có bảy người là Từ Dung, Ngọc Cường, Việt Hải, Vi Khiêm, Kiều My, Khánh Lan và Mộng Thủy với sự điều phối của Giáo Sư Quyên Di. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt) “Hồi Tưởng” của nhà văn Từ Dung
“Hồi Tưởng” của Từ Dung được mô tả như một hồi ký được phần nào tiểu thuyết hóa nhưng vẫn giữ được những sự thật không theo một thứ tự thời gian nhất định nên có nét lung linh lấp lánh như một bức tranh diễm ảo. Người đọc được theo dõi cuộc đời trôi nổi khi hạnh phúc, lúc giông tố chiến tranh, khi bôn ba, chìm nổi từ Hà Nội đến Sài Gòn đến Hawaii của nhà văn.
Dù có khó khăn, chật vật đến đâu thì con tim kiên cường chan chứa yêu thương vẫn thúc dục bà phải gượng dậy, quên đi thù ghét để cứ mãi tin yêu. “Hồi Tưởng” của Từ Dung như muốn nhắc nhở mọi người rằng lòng tin yêu với con tim ngây thơ trinh trắng là điều duy nhất có thể khiến cho chúng ta cảm nhận được ý nghĩa đích thật của cuộc sống. Còn sống là còn yêu bởi vì thiếu lòng yêu thương kiên trì, cuộc đời vô vị như hư vô.
Tác phẩm “Hồi Tưởng” có bán tại Amazon.

(Đông đảo độc giả mua sách ủng hộ hai tác giả. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt) “Ba Chị Em” của nhà văn Ngọc Cường
Chưa đọc chữ nào trong “Ba Chị Em” thì người ta đã bàn đến hình bìa cuốn sách rồi. Nhà văn Ngọc Cường trình bày rằng ông muốn cho hình ảnh này mờ đi, không sắc nét. Ông nói: “Cứ coi như đây là ba nhân vật ở bất cứ đâu cũng được vì câu chuyện về ba chị em trong sách có thể là câu chuyện của bất cứ người nào.”
“Ba Chị Em” của Ngọc Cường là một tập truyện ngắn hư cấu và phần biên khảo về cái chết đầy uẩn khúc của nhà văn Nhất Linh. Nhà văn Ngọc Cường đã nắm bắt một mảng đau thương này trong cuộc sống và diễn tả được tình mẫu tử thiêng liêng không bao giờ phôi phai trong lòng những đứa con mồ côi mẹ.
Nhiều người cho rằng qua “Ba Chị Em” Ngọc Cường như muốn nhắn nhủ mọi người nên sống bằng tình thương chan hòa trong tình nhân ái. Ngay lập tức, nhà văn Ngọc Cường lại đính chính. Ông trình bày: “Tôi chỉ diễn tả lại cuộc đời theo cảm nhận của riêng mình chứ không dám cho mình có quyền khuyên ai hay nhắn nhủ gì cho ai. Tuy nhiên, nhiệm vụ của tôi chấm dứt khi viết xong cuốn sách. Vì vậy, độc giả có quyền có nhận thức riêng của mình.”
Về phần biên khảo, nhà văn Ngọc Cường cho biết cái chết bí ẩn của nhà văn Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam không thể là một quyết định bồng bột nhất thời. “Có bao nhiêu biến cố và áp lực xã hội trong một thời gian dài mới đưa đẩy nhà văn Nhất Linh đến quyết định tự kết liễu cuộc đời mình như vậy,” nhà văn Ngọc Cường khẳng định. “Tôi muốn độc giả đọc kỹ và tự tìm cho mình một nhận xét.”
Tác phẩm “Ba Chị Em” có bán tại nhật báo Người Việt.

Khách tham dự buổi ra mắt sách của Từ Dung và Ngọc Cường “chật rạp.” (Hình: Đằng-Giao/Người Việt) Sơ lược tiểu sử nhà văn Từ Dung
Nhà văn Từ Dung sinh năm 1946 tại Hà Nội, là con út nhà văn Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long) trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Từ Dung là tên do thân phụ của bà đặt cho. Năm 1954, gia đình bà di cư vào Nam và sống tại Tân Định. Năm 1970, bà tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Anh Văn tại Đại Học Sài Gòn và năm 1974 tốt nghiệp khóa sư phạm cấp tốc tại Đại Học Sài Gòn. Từ 1975 đến 1980, bà là giáo viên trung học ở Dĩ An. Năm 1990, bà định cư tại Hawaii. Bà hiện sống tại California.
Năm 1992, bà tốt nghiệp ngành sư phạm và dạy Anh ngữ (ESL).
Trong lãnh vực văn chương, Từ Dung viết nhiều truyện ngắn đăng trên nhật báo Người Việt và các tạp chí khác.
Ngoài ra, truyện ngắn của bà còn được in trong tập sách như “Hội Thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay & Tự Lực Văn Đoàn” (2013) “Tưởng niệm nhà báo Như Phong-Lê Văn Tiến (2016) và Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ” (2019).
Sơ lược tiểu sử nhà văn Ngọc Cường
Nhà văn Ngọc Cường sinh ra ở Hà Nội, di cư vào Nam năm 1951. Ông là cháu ruột nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) và Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long). Ông đậu tú tài năm 1964 và theo học nhiều ngành như dược khoa, luật khoa và khoa học nhưng sau cùng theo đường binh nghhiệp, phục vụ ở Quân Đoàn II Pleiku rồi được thuyên chuyển về Sài Gòn và làm việc ở Nha Báo Chí, Phủ Phó Tổng Thống. Năm 1971, ông làm việc tại Cục Tâm Lý Chiến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đài Phát Thanh Quân Đội.
Sau 1975, nhà văn Ngọc cường bị tù cải tạo rồi vượt biên đến Mỹ năm 1981, định cư ở tiểu bang Ohio. Ông theo học hóa học và làm việc cho Quận Hạt Dayton. Tác phẩm đầu tiên của ông là “Bèo Giạt” (xuất bản 2014), rồi “Hệ Lụy (2016), “Bâng Khuâng” (2016), và “Ba Chị Em” (2020). Bút hiệu Ngọc Cường là tên ghép của hai chữ “Ngọc” là tên con gái Bích Ngọc đã quá vãng của ông năm 1979 và “Cường” là tên ông.
Trong số quan khách tham dự, có Giáo Sư Dương Ngọc Sum, Giáo Sư Trần Huy Bích, Giáo Sư Quyên Di, nữ sĩ Dương Hồng Anh, nhà thơ Nguyên Nga (phu nhân cố nhạc sĩ Lê Trọng Tuyển), nhà văn Vi Khiêm, nhà văn Nguyễn Quang, nhà văn Long Khiếu, nhà văn Nhược Thu, nhà văn Khánh Lan, nhà văn Kiều My, Dược Sĩ Phạm Hồng Phúc, nhà thơ Lê Hân và nhóm bạn tù của nhà văn Ngọc Cường.

Hàng đứng, từ bên trái: Lâm Dung, Ái Liên, Lệ Hoa, Ngọc Quỳnh, Mộng Thủy, Ngọc Diệp, Khánh Lan, Anh Chị Hiếu, Thụy Lan, Michael, NAG Lê Hùng. Hàng Ngồi, từ bên trái: GS Dương Ngọc Sum, NV Từ Dung, NV Việt Hải, NT Lê Nguyễn Nga, NS Dương Hồng Anh, NV Nguyễn Quang, NV Ngọc Cường. Cả hai nhà văn Từ Dung và Ngọc Cường đều được mọi người công nhận xứng đáng là hậu duệ của các văn sĩ nhóm Tự Lực Văn Đoàn.
Đằng-Giao/Người Việt
Liên lạc tác giả: ngo.giao@nguoi-viet.com
XIN MỜI VÀO LINK DƯỚI ĐÂY ĐỂ XEM HÌNH DO NHIẾP ẢNH GIA LÊ HÙNG CHỤP NGÀY RMS CỦA HAI NHÀ VĂN TỪ DUNG & NV NGỌC CƯỜNG.
https://photos.app.goo.gl/qD3VuLV9tkw4Ka4r6
https://www.facebook.com/100014360580597/posts/1363123464176327/?d=n
-
RMS Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân
Vương Trùng Dương



Ban Tổ Chức Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian tổ chức buổi Ra Mắt Sách hai tác phẩm Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang tại hội trường Thư Viện Việt Nam, 10872 Westminster Ave. TP Garden Grove.
Nhà văn Nguyễn Quang là phu quân nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017). Tuy bước sang tuổi 90 nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn khỏe mạnh và hoàn thành tác phẩm thứ 9: Ôn Cố Tri Tân.
Nhà văn Nguyễn Quang sinh quán tại Phú Nổ, làng Khánh Hưng, Tỉnh Sóc Trăng, du học tại Pháp từ năm 1950, đỗ Cử Nhân Toán. Năm 1955-1962, theo học tại đại học Cambridge ở Anh, đỗ Cao Học Kinh Tế (nay gọi là Thạc Sĩ).
Ông trở lại Pháp, làm việc cho nhiều nhà xuất bản tuần báo ở Paris. Theo nhà văn Khánh Lan “Ông làm phó chủ bút cho tờ Paris Match. Ông ghi tiểu sử trên sách vài dòng, không ghi bằng cấp, khác với một số ít người có thói quen selfie trọng bằng. Nhà văn Nguyễn Quang được nhiều người quý mến vì bản tánh hiền hoà, khiêm nhường và luôn sinh hoạt với Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian”…
Tuy xa quê hương gần bảy thập niên nhưng nhà văn Nguyễn Quang vẫn nặng tình với quê hương vì vậy qua các tác phẩm của ông mang hình ảnh và tâm thức người Việt tha hương với cội nguồn dân tộc.
Cũng vào thời điểm nầy, Chủ Nhật,13-4-2014 tại hội trường Thư Viện Việt Nam, nhân dịp sinh nhật 83 tuổi, nhà văn Nguyễn Quang đã ra mắt tác phẩm Một Giấc Mơ. Nhà văn Nguyễn Quang cho biết: “Đây là tác phẩm để tưởng niệm các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân năm 1968. Bày tỏ sự tôn kính lòng kiên quyết của các bà vợ, của các Dân Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong ngục tù cộng sản”.
Năm 1980, nhà văn Nguyễn Quang sang Mỹ với người bạn đời là nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh.
Tác phẩm đã ấn hành: Văn Nghiệp & Cuộc Đời Minh Đức Hoài Trinh (2004), Nhập Gia (2007), Ông Giáo Làng (2009), Ốc Mượn Hồn (2012), Một Giấc Mơ (2013), Ngoại Tình (2016), Thần Giao Cách Cảm (2017), Ôn Cố Tri Tân (2020) và Phận Đàn Bà (2022).
Diễn giả trong buổi RMS Phận Đàn Bà và Ôn Cố Tri Tân với nhà văn Quyên Di, nhà văn Việt Hải và phái nữ: Khánh Lan, Thụy Lan, Kiều My, Mộng Thủy.
Về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân của nhà văn Nguyễn Quang ôn lại lịch sử nước Việt, từ thời Hồng Bàng với các vị vua Hùng Vương, rồi qua các triều đại Lý, Lê, Trần, Nguyễn… đất nước ta trải qua ngàn năm Bắc thuộc, gần 100 năm Pháp thuộc, chiến tranh Quốc Cộng, thời CSVN thống trị… Những bài học từ quá khứ để suy nghiệm hiện tại.
Trước đây, tôi có giới thiệu khái quát về tác phẩm Ôn Cố Tri Tân, trong đó có nhắc đến:
“Cụ Nguyễn Văn Ngọc (1890-1942) tự Ôn Như là nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam. Tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Hán, tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ.
Quyển Cổ Học Tinh Hoa (cùng Trần Lê Nhân) ấn hành năm 1928 đến nay gần một thế kỷ vẫn được ấn hành và lưu truyền. Hai vị biên soạn đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu những tinh hoa của nền cổ học phương Đông. Với 250 mẩu chuyện liên quan trong cuộc sông, con người, cách xử sự sao cho phù hợp với từng nơi từng lúc. Có thể nói đó là cuốn sách “dạy làm người” để biết nhìn nhận “cái xưa” để xử thế “cái nay” mà qua từng mẩu chuyện với lời bàn rất hữu ích.
Nhà văn, dịch giả Mộng Bình Sơn (1923–2011) đã viết nhiều tác phẩm, trong đó có quyển Ôn Cố Tri Tân gồm 3 tập, ấn hành năm 1967, Sống Mới xuất bản tại Sài Gòn.
Dẫn chứng hai quyển sách của người xưa của nước ta về Ôn Cố Tri Tân vẫn còn giá trị trong cuộc sống. Sau nầy nửa thế kỷ ở hải ngoại, tác giả Nguyễn Quang nay ở tuổi chín mươi vẫn mang hoài bão của bậc cao tuổi qua tác phẩm…”.
Vào thời điểm nầy, 47 năm về trước, tôi lang thang trên các bãi biển từ Bình Tuy đến Vũng Tàu để tìm thân nhân lưu lạc nhưng vô vọng. Nay tình hình chiến sự xảy ra khi Putin đem quân xâm chiếm Ukraine gây ra cuộc chiến tàn khốc, kinh hoàng… Vì vậy tôi dành hết thời giờ để theo dõi nên không tham dự vào sinh hoạt văn học nghệ thuật. Nhưng với nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian trong những năm qua trong tình văn nghệ với nhau và với nhà văn Nguyễn Quang, không thể nào từ chối trong buổi Ra Mắt Sách để ghi lại vài dòng.
Little Saigon, April 10, 2022
Vương Trùng Dương












-
TÁC GỈA SÀI GÒN NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ NAY VẮNG BÓNG

Nhà văn Văn Quang
(1933-2022)Khi nhà thơ (NT) Hà Nguyên Du thông báo tin “Nỗi buồn tháng ba” về sự ra đi của nhà văn Văn Quang. Tôi tình cờ xem lại email của nhà văn (NV) Dương Hoàng Mai chuyện trò cùng NV Trần Phong Vũ, cả hai NV đều sinh hoạt trong nhóm TS Tiếng Quê Hương. NV Dương Hoàng Mai bên Munich ghi nhận là Văn Quang là tác giả của khoảng 50 tiểu thuyết và ký sự nổi tiếng trong đó một số tác phẩm của ông đã được quay thành phim. NV Văn Quang đã mệnh chung vì tuổi già sức yếu, vào sáng Thứ Ba, ngày 15 Tháng Ba năm 2022 tại nhà riêng ở khu Chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Sài Gòn. Hưởng thọ 90 tuổi và ông đã để lại những tác phẩm sau:
- Chân trời tím (1964); thâu thành phim 1970; đoạt giải vàng Văn học Nghệ thuật.
- Đời chưa trang điểm
- Đường vào bến mê (1966)
- Lẩm cẩm Sài Gòn Thiên hạ Sự
- Lên đời – tiểu thuyết phóng sự
- Nét môi cuồng vọng (1964)
- Ngã tư hoàng hôn
- Ngàn năm mây bay (1963); thâu thành phim 1963
- Nguyệṭ áo đỏ (1963)
- Người lính hào hoa
- Người yêu của lính (1965)
- “Những ngày hoa mộng” – phóng sự trên báo Truyện phim
- Những tâm hồn nổi loạn
- “Sài Gòn tốc” – phóng sự trên nhật báo Chính luận
- Tiếng gọi của đêm tối
- Tiếng hát học trò (1969); thâu thành phim 1970
- Từ biệt bóng đêm
- Thùy Dương Trang (1957)
- Trong cơn mê này (1970)
- Vì sao cô độc
- Xuôi Dòng

Nhà văn Van Quang và tác phẩm Văn Quang tên thật là Nguyễn Quang Tuyến, sinh năm 1933 tại Thái Bình. Năm 1953, ông bị động viên và gia nhập Quân Đội Quốc Gia, phục vụ trong nhiều đơn vị tác chiến tại miền Bắc trước hiệp định Geneve năm 1954. Từ năm 1957 trở về sau, NV Văn Quang chuyển sang ngành Tâm Lý Chiến với nhiệm vụ Trưởng Phòng Báo Chí Quân Đội thuộc Cục Tâm Lý Chiến, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH và là Trưởng Ban Biên Tập của các tờ báo Quân Đội VNCH thời đó.
Từ năm 1969 cho đến tháng 04, ngày 30 năm 1975, Văn Quang là Quản Đốc đài Phát Thanh Quân Đội, cấp bậc Trung Tá. Tác phẩm đầu tay của Văn Quang là Tiếng Tơ Lòng được đăng trên nhật báo Than Dân, Hà Nội cuối năm 1953 và tác phẩm thứ nhì là tập truyện ngắn Thùy Dương Trang do Lạc Việt xuất bản tại Sài Gòn năm 1957. Đến năm tháng tư 1975, Văn Quang cộng tác thường xuyên với nhiều nhật báo, tuần báo, tạp chí tại Sài Gòn như Ngôn Luận, Chính Luận, Tiếng Chuông, Tin Sớm, Tiếng Vang, Kịch Ảnh, Truyện Phim, Điện Ảnh, Văn Nghệ Tiền Phong, Bách Khoa, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Tuần San, v.v…
Trong khoảng thời gian này, Văn Quang đã hoàn thành hơn 50 tác phẩm, được in trên các báo và đã có 28 tác phẩm được xuất bản. Các tác phẩm của ông hầu hết là truyện dài, trong số đó có những tác phẩm từng gây sôi nổi một thời trong giới độc giả trẻ như Nét Môi Cuồng Vọng, Nguyệt Áo Đỏ, Người yêu Của Lính… Đặc biệt có 4 tác phẩm được chuyển thành phim từ 1962 đến 1972 là Ngàn Năm Mây Bay, Chân Trời Tím, Đời Chưa Trang Điểm, Tiếng Hát Học Trò.
- Phim Chân trời tím được Quốc Phong chủ hãng Liên Ảnh chọn quay. Hùng Cường và Kim Vui thủ diễn vai chính trong phim với bài hát được chọn cho phim là “Nửa hồn thương đau” của Phạm Đình Chương do nữ danh ca Thái Thanh trình bày. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh cũng đã lấy nguồn cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết này để sáng tác nhạc phẩm “Chân trời tím” cùng tên.
- Phim “Ngàn năm mây bay” thì do Thái Lai phim thực hiện với Hoàng Anh Tuấn làm đạo diễn và sĩ quan quân đội Phạm Huấn thủ diễn.
- Kế đến là phim “Đời chưa trang điểm” của hãng phim Giao Chỉ do ông Hoàng Vĩnh Lộc đạo diễn.
- Và cuối cùng là phim “Tiếng hát học trò” do Thái Thúc Nha của hãng Alpha thực hiện, Thanh Lan diễn vai chính.
Các tác phẩm của Văn Quang có thể phân thành 4 nhóm có đề tài khác nhau: Nhóm thứ nhất mô tả cuộc sống tuổi trẻ; nhóm thứ hai kể lại đời sống quân ngũ; nhóm thứ ba phản ảnh thực đời sống thời chiến và nhóm thứ tư là những châm biếm về lề lối lố lăng thời thượng cổ thuộc nhiều lãnh vực sinh hoạt, đặc biệt là các giới làm nghệ thuật.

Việt Nam, ngày tháng cũ Sau ngà 30 tháng 4, 1975, Văn Quang cũng như các sĩ quan quân lực VNCH khác bị đưa qua nhiều trại tù cải tạo từ miền Nam Việt Nam tới miền Bắc Việt Nam trong thời gian dài hơn 12 năm. Tháng 09 năm 1987, Văn Quang được thả ra khỏi trại tù, ông trở về Sài Gòn và từ chối ra đi theo diện HO, quyết định tiếp tục ở lại Việt Nam.
Năm 1990, Văn Quang bắt đầu trở lại với việc sáng tác văn nghệ và Ngã Tư Hoàng Hôn là tác phẩm đầu tiên được hoàn thành sau nhiều năm bị “treo bút”. Tác phẩm này, đã được một số thân hữu của nhà Văn Quang tổ chức ra mắt tại Thung Lũng Hoa Vàng vào ngày 21 tháng 10, 2001. (Trích phần giới thiệu về tác giả trong Ngã Tư Hoàng Hôn). Tác phẩm cuối của ông đã được Tủ Sách TQH in vào năm 2021, Sài Gòn người muôn năm cũ, (Theo Dương Hoàng Mai).
Sau đây Khánh Lan và tôi đã đọc bài viết của Nhà văn Vương Trùng Dương. Chúng tôi xin trích đoạn những ý tưởng trong bài viết “Tưởng Nhớ Nhà Văn Văn Quang” của Vương Trùng Dương, ông nhận định như sau:
“Loạt bài feuilleton (bài báo dăng nhiều kỳ) Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự, ra hàng tuần với chủ đề nầy, NV Văn Quang chia sẻ: “Lẩm cẩm” là một lối viết có tính thời sự. Bởi tính cách “đặc thù” của thời hiện tại nơi tôi đang sống, nên buộc phải viết theo một cách nào đó để không bị gây phiền lụy. Tôi “xông” vào những đề tài xã hội “nóng” nhất, có tính điển hình nhất mà người dân đang chú ý. Một nhu cầu khác nữa là hướng đến độc giả hải ngoại, đang quan tâm tới điều gì? Nói cho rõ hơn, Việt kiều của chúng ta đang muốn biết điều gì đang xảy ra tại quê hương mình. Chắc ai cũng muốn có những thông tin chính xác, không bị vo tròn bóp méo bởi bất cứ lý do nào, đôi khi chỉ là sự “tam sao thất bản” nên thông tin thiếu độ trung thực. Tôi chọn lọc những sự kiện ấy, tìm kiếm thông tin chi tiết và làm thế nào càng chính xác được càng tốt. Nó không phải là một bản tin thuần túy mà đưa vào những nhận định, quan điểm của riêng mình như một lời bàn bạc, nói chuyện với độc giả một cách bình thường chứ không là lý luận. Từ đó bạn đọc có thể hiểu rõ vấn đề hơn và có thể suy luận, nhận định riêng. Do đó, người ở xa quê hương, vẫn có thể biết rõ những sự việc xảy ra tại quê nhà.
Tuy nhiên “Lẩm Cẩm Sài Gòn” không chỉ là những chuyện lẩm cẩm. Nó có cả những mặt trái, mặt phải của xã hội, chuyện khôi hài và chuyện đau thương, những bản tường trình thẳng thắn vượt qua mọi áp lực. Miễn là chuyện xảy ra có thật. Cái nhìn xoáy về phía sau những sự việc đã và đang xảy ra chứ không phải chỉ có “bề mặt” sự việc, tôi nghĩ đó mới thực sự cần thiết cho bạn đọc ở nước ngoài vốn không có nhiều thì giờ theo dõi.”
Tóm lại, bài tiếp: “Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự”, nếu tổng kết lại, nó sẽ là một bức tranh toàn cảnh của xã hội chúng ta đang sống. Nó phản ảnh được trung thực mọi vấn đề ở bề mặt đời sống của người dân thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội. Từ một anh nông dân “lừa được cả nước” đến một đại gia lương thiện và bất lương, từ lớp thanh niên đến các quan chức, từ cô gái tỉnh lẻ đến các cô gái chân dài thành thị. Từ nỗi đau thương cơ cực của “những người bị bỏ quên” như anh em Thương Phế Binh VNCH đến những cảnh trác táng cùng cực, hoang phí vô cùng của lớp người ăn trên ngồi trước… Cái khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, những điều phi lý bất công, những điều cần nói mà người dân không nói được… Tất nhiên, trong hoàn cảnh của tôi, có những hạn chế mà ai cũng hiểu được. Cho nên viết và “lách” vẫn là điều phải nghĩ tới. Tôi làm cái gì mà luật không cho phép cũng không cấm. Chúng tôi làm với lương tâm của một người cầm bút… Chúng tôi chỉ biết cầm bút, độc lập và hành xử theo tiếng gọi của lương tri…
Sài Gòn Người Muôn Năm Cũ, tác phẩm viết theo dạng bút ký này được Nhà xuất bản Tiếng Quê Hương ấn hành. Sài Gòn Người Muôn Năm Cũ, là một Tâm Bút của nhà văn Văn Quang vào cuối năm 2020. Tác phẩm Sài Gòn Người Muôn Năm Cũ tập hợp một số bài chọn lọc trong hơn 500 bài mà tác giả đặt tựa chung là Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự viết từ năm 2000 đến năm 2016. Các bài này đều được báo chí Việt ngữ hải ngoại từ Canada, Úc, Hoa Kỳ đăng tải…
Sài Gòn Người Muôn Năm Cũ dày 576 trang, hầu hết các bài về văn nghệ sĩ ở Sài Gòn đã từng quen biết nhau như Phi Thoàn, Nhật Bằng, Tạ Tỵ, Trần Thiện Thanh, Phạm Huấn, Huy Quang, Thái Tuấn, Hoàng Anh Tuấn, Thanh Nam, Thái Tủy, Tô Kiều Ngân, Nguyễn Xuân Hoàng, Phan Lạc Phúc…Khi nhận được tác phẩm nầy vào tháng 01,2021, chúng tôi định viết về NV Văn Quang như đã viết trong loạt bài Người Lính & Chiến Hữu Văn Nghệ nhưng lúc đó tình thế chính trị ở Mỹ gây xôn xao và dịch Covid-19 ám ảnh nỗi đau của mọi người nên tôi nghĩ viết về văn nghệ ví như “đàn lạc dây”!”
Vương Trùng Dương kể tiếp: “Tháng 03 năm 2022, tình hình chiến trận sôi động ở Ukraine khi Putin xua quân Nga xâm lăng là tin tức hàng đầu trên thế giới. Và, cũng vào thời điểm nầy 47 năm trước với sự xâm lược của Cộng quân ở miền Nam Việt Nam đã gây tang thương, chết chóc, kinh hoàng và phẫn uất với quân, dân miền Nam Việt Nam. Chiến tranh xảy ra ở Ukraine được các quốc gia trên thế giới nhiệt tình hỗ trợ trước bạo lực của Nga, còn miền Nam Việt Nam khi bị “đồng minh tháo chạy” thì hoàn toàn đơn độc để đối đầu với quân xâm lược! Khi đất nước rơi vào tay kẻ thù thì thì trại tù mọc lên khắp nơi từ Nam ra Bắc như “Quần Đảo Ngục Tù, Quẩn Đảo Gulag – The Gulag Archipelago” của NV Nga Alexander Solzhenitsyn. Đại Úy Solzhenitsyn bị bắt giam qua các trại tù khổ sai, và từ đó ông đã viết lên những tác phẩm phơi bày sự dã man, tàn bạo các trại tù của CS Liên Xô… Tác phầm đã đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1970.
Vài hình ảnh trong trại tù do Văn Quang viết như Cái Muỗng, Tết Trong Trại Tù… Khi ra tù, anh viết nhiều với hình ảnh “Bức tranh vân cẩu, vẽ người tang thương” (Nguyễn Gia Thiều) trong xã hội quê nhà với bạn đọc nơi hải ngoại. Sài Gòn ngày 21 tháng 6, 2017, NV Văn Quang viết Thư Từ Giã Bạn Đọc.
“Đây là bài sau cùng tôi viết hàng tuần cho các báo ở nước ngoài. Tôi sẽ ngưng viết loạt bài này vì lý do sức khỏe, không vì bất cứ lý do nào khác.
Hơn 60 năm cầm bút, tôi không có gì đáng tự hào bởi chỉ như người lính trên đường trường hành quân không biết mình đã bắn được bao nhiêu viên đạn. Tất cả chỉ vì ba lời thề “Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm” mà tôi đã thề trước khi trở thành người lính của Quân Đội VNCH. Tôi còn thua cả những đồng đội của tôi đã vĩnh viễn ra đi hoặc bỏ lại một phần thân thể mình trên chiến trường, trở về với cuộc sống vất vưởng nơi quê nhà.
Trong lá thư ngắn hôm nay, trước khi ngừng viết, tôi xin gửi lời cảm tạ đến tất cả bạn bè, các bạn đọc của các báo và các khán thính giả và các cơ quan truyền thông, các đài phát thanh truyền hình đã từng có thời gian dành cho tôi những tình cảm đặc biệt. Bây giờ đầu óc tôi không còn được minh mẫn nữa, khi nhớ khi quên… đã đến lúc phải biết mình nên dừng lại ở đâu. Tôi chắc chắn trong những bài viết của tôi có nhiều khiếm khuyết, mong được sự bao dung thông cảm của các bạn”.
Trước sự mất mát của nhà văn hơn hai mươi năm trong đời binh nghiệp của QLVNCH và hơn mười hai năm trong lao tù CS, tôi viết những dòng nầy để tưởng nhớ và cầu mong anh gặp lại thân hữu năm xưa nơi cõi vĩnh hằng.”
Vương Trùng Dương, Little Saigon, March 17, 2022

Thủ Đô Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông Khi Khánh Lan và tôi đọc bài viết của Văn Quang “60 Năm Sài Gòn Trong Tôi” trong nhung nhớ thủ đô Sài Gòn xưa mà ngậm ngùi thương tiếc cho một Hòn Ngọc Viễn Đông hoa lệ đã đổi thay, hiếp đáp trong buồn bã. Văn Quang thăm khu phố xá Lê Lợi – Nguyễn Huệ ngày cũ đã có bức Tượng đài Thủy Quân Lục Chiến giữa công viên Sài Gòn trước năm 1975 nay đã không còn. Văn Quang viết: “Tôi đứng trước Nhà Hát Thành Phố nhìn cảnh “vườn không nhà trống” đó mà ngậm ngùi nhớ tới pho tượng Thủy Quân Lục Chiến sừng sững đứng bảo vệ thành phố ngày nào, và nhớ tới những đồng đội TQLC đã ngã xuống hoặc giờ này đã ở khắp phương trời xa…”
Nỗi xót xa chung theo chúng ta là sau ngày 30 tháng 04, 1975, sự thay tên đổi họ những con đường nghe như có điều gì mâu thuẫn và của nước mắt rơi, thương tiếc cho thời gian đã mất. Sự mới mẻ và sự thay đổi của đất nước như là những biểu tượng của sự nghịch lý:
“Nam Kỳ Khởi Nghĩa, tiêu Công Lý
Đồng Khởi lên rồi, mất Tự Do”.
NV Văn Quang tâm tình: “Nhưng với tôi, Sài Gòn vẫn là Sài Gòn từ trong tâm thức mình, từ trong tận cùng tim óc mình. Thế là đủ và tôi lại phải sống cũng như những người Sài Gòn khác, bất chấp gian khổ.’
“Hai tuần nay người Sài Gòn xôn xao về một số công trình xưa cũ sẽ bị phá bỏ lấy đất làm tàu điện ngầm. Rầm rộ nhất là khu thương xá Tax đã bị “bao vây” bởi những hàng rào chắn chạy dài và tất cả các cửa hàng trong thương xá này phải dời đi vào tháng 10 này để làm một siêu thị 40 tầng văn minh hơn. Hầu như cả thành phố xôn xao, người ta kéo đến mua hàng giảm giá đông như hội. Và cũng có nhiều người đến để nhìn lại chút kỷ niệm xưa với một công trình kiến trúc được xây dựng từ xa xưa, khiến bất cứ ai dù chỉ sống ở thành phố này ít năm cũng cảm thấy tiếc nuối. Lứa tuổi già đã có từng hơn nửa thế kỷ với Sài Gòn bỗng nhận ra cái khu thương xá đó không chỉ gắn liền với thành phố mà còn gắn liền với cả gia đình mình. Hầu như gia đình nào cũng đã từng đưa nhau vào đây mua sắm vài thứ đồ dùng lặt vặt hoặc chỉ dạo quanh, ăn một ly kem, uống một ly cà phê. Nỗi buồn vẩn vơ có thật nhưng lại rất sâu sắc như người ta vừa lấy đi một phần đời mình. Bởi cái mất đi đã từng có những kỷ niệm với người thân quen không bao giờ tìm lại được nữa. Người mất kẻ còn, người ra đi, kẻ ở lại đã từng cùng nhau đến đấy.”
Ông nhớ Sài Gòn tỉ mỉ trong ký ức: “Đường Lê Lợi phía Thương Xá TAX chỉ còn một lối đi nhỏ…. Và còn một số công trình gắn liền với Sài Gòn chẳng phải chỉ là biểu tượng mà còn là da thịt của một thành phố từng được vinh danh là “hòn ngọc viễn đông” này cũng sắp mãi mãi biến mất để nhường chỗ cho công trình ga tàu điện ngầm đầu tiên của tuyến Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên. Dẫu biết vạn vật đổi dời không có gì là vĩnh cửu cả nhưng cái gì quá thân quen mất đi cũng thấy lòng trống rỗng. Có khi chỉ một cửa hàng như quán cơm bình dân Bà Cả Đọi, tiệm cắt tóc Đàm, nước mía Viễn Đông… mất tích vĩnh viễn, thay vào đó là những tòa nhà chọc trời, những cửa hàng choáng lộn cũng thấy nó lạnh lùng xa lạ. Người còn ở trong nước xót xa, người Việt ở nước ngoài tiếc nuối, đó là điểm những người thân quen gặp nhau ở nỗi nhớ nhung tiếc nuối này. Tôi đã đọc khá nhiều bài viết từ nước ngoài và e mail của bạn bè chia sẻ nỗi hoài niệm đó. Như Thế Hải từ Hawaii đã mượn hai câu thơ bất hủ của Bà Huyện Thanh Quan, chia sẻ cùng bè bạn khắp nơi khi nhớ về những cái sắp mất đi của Sài Gòn: “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.”.
Với một người còn ở lại như tôi, đã hơn nửa thế kỷ gắn bó với hòn ngọc viễn đông này, hai tuần nay càng thấy lòng hoài cổ dâng trào. Nhớ, nhớ đến từng chi tiết từ cái bước chân đầu tiên đặt lên đất Sài Thành, nhớ từng ngõ ngách, từng nhân vật thuộc về quá khứ ấy cho đến ngày nay. Mặc cho Sài Gòn đã có nhiều tang thương dâu biển, từ cái tên thành phố đến những con đường đã thay họ đổi tên, từ con người đến xã hội cho đến cả cái cách sống cũng đã khác xưa nhiều lắm. Chẳng trách khi xã hội đổi thay, người ta chép miệng than: “Trời làm một trận lăng nhăng, ông hạ xuống thằng, thằng nhảy lên ông, con đĩ đánh bồng nhảy lên bà lớn” cũng chẳng sai. Nhưng với tôi, Sài Gòn vẫn là Sài Gòn từ trong tâm thức mình, từ trong tận cùng tim óc mình. Thế là đủ và tôi lại phải sống cũng như những người Sài Gòn khác, bất chấp gian khổ. Có chăng chỉ là nỗi ngẩn ngơ khi những dấu tích xưa dần mất đi, chẳng bao giờ tìm lại được.
Tác giả Văn Quang kể Sài Gòn từ hoài niệm như một “người xưa” đếm bước trên vỉa hè bên hông Thương xá Tax…
“Trong nỗi hoài niệm sâu sắc ấy nhiều buổi chiều đứng trong hành lang hẹp chung cư, nhìn lên khung trời cao, hướng về ánh đèn đêm mơ hồ của thành phố, tôi cố tưởng tượng lại đó vẫn là khung trời xưa, tôi nhớ lại những năm tháng dài tôi sống ở Sài Gòn. Ở đây không chỉ có cảnh quan mà còn có cả những nhân vật là bạn hoặc là người tôi đã từng gặp, từng quen, từng biết đến. Người ở đâu bây giờ? Có biết Sài Gòn của chúng ta đang có rất nhiều người đang nhớ đang mong các “bạn ta” không?

Thành Phố Sài Gòn trước năm 1975 Bước chân đầu tiên trên đất Sài Gòn
“Thế mà 60 năm rồi đấy, kể từ ngày tôi mới đặt chân lên thành phố Sài Gòn. Tôi nhớ như in, ngày đầu tiên ấy. Cuối tháng 1 năm 1954, sau hai tháng học ở Trường Sĩ Quan Thủ Đức, ngày thứ bảy chúng tôi được đi phép ở Sài Gòn. Niềm mơ ước của tôi từ những ngày còn nhỏ ở trường trung học, ước gì có ngày mình được vào Sài Gòn. Niềm mơ ước ấy còn rộn ràng hơn khi khóa học sĩ quan khai giảng. Thủ Đức – Sài Gòn chỉ có hơn 10 cây số, tuy chỉ cách thành phố rất gần nhưng theo đúng chương trình khóa học, hai tháng sau chúng tôi mới được đi phép. Mấy anh “Bắc kỳ” nôn nao hỏi thăm mấy ông bạn “Nam Kỳ” về Sài Gòn. Từ cái xe taxi nó ra sao, đi thế nào, bởi hồi đó miền Bắc chưa hề có taxi, cho đến Chợ Lớn có những gì… Mấy ông bạn Nam Kỳ tha hồ tán dóc. Đấu óc tôi cứ lơ mơ về cái chuyến đi phép này”.
Trở thành người Sài Gòn từ bao giờ?
“Nơi tôi đến đầu tiên là Chợ Lớn. Một cuốc taxi từ giữa trung tâm TP đến cuối Chợ Lớn mất 12 đồng. Tôi tìm đến khách sạn rẻ tiền của mấy thằng bạn Bắc Kỳ ở đường Tản Đà, một con phố nhỏ, ba bốn thằng thuê chung một phòng cũng chẳng có “ông mã tà” nào hỏi đến. Chợ Lớn hồi đó tấp nập hơn ở Sài Gòn, con phố Đồng Khánh chi chít những khách sạn, hàng ăn, cửa tiệm tạp hóa lu bù tưởng như mua gì cũng có. Chúng tôi cũng biết cách chui vào Kim Chung Đại Thế Giới xem thiên hạ đánh bạc. Hôm đó có anh Nguyễn Trọng Bảo cùng Đại Đội tôi nhưng lớn hơn chúng tôi vài tuổi và là một cặp với Nguyễn Năng Tế (lúc đó mới là người yêu của nữ diễn viên điện ảnh Kiều Chinh). Anh thử đánh “tài xỉu”, may mắn làm sao, một lúc sau đó anh được khoảng vài trăm ngàn. Thế là chúng tôi xúi anh “ăn non”, không chơi nữa, rủ nhau đi ăn. Bắt đầu từ hôm đó chúng tôi đi “khám phá” Sài Gòn và rồi theo cùng năm tháng trở thành người Sài Gòn lúc nào không biết. Càng có nhiều thăng trầm chúng tôi càng gắn bó với Sài Gòn hơn.”
Tác giả Văn Quang sau ngày đổi đời 30 tháng 4, năm 1975, ông bị đi tù CSVN, khi ra tù “người xưa” tái ngộ chốn cũ…
Lần thứ hai trở lại Sài Gòn
“Tôi lại nhớ ngày trở về Sài Gòn sau hơn 12 năm đi tù cải tạo từ Sơn La đến Vĩnh Phú rồi Hàm Tân. Đó là vào buổi chiều tháng 09 năm 1987. Khi đoàn xe thả tù cải tạo bị giữ lại nhà giam Chí Hòa nghe các ông quan chức trấn an về số phận chúng tôi khi được trở về, khoảng hơn 5 giờ chiều chúng tôi mới được thoát ra khỏi cánh cửa sắt nhà tù Chí Hòa. Ngay từ cổng trại tù đã có đoàn quay phim đợi sẵn để quay cảnh “vui mừng đoàn tụ” của tù nhân, chắc là để chứng tỏ cái sự “khoan hồng bác ái” của nhà nước cho những thằng may mắn không chết trong ngục tù. Lại là lần thứ hai tôi đặt chân lên đất Sài Gòn nhưng với tư cách khác giữa một thành phố đã đổi chủ.
Thấy cái cảnh sẽ bị quay phim, Trần Dạ Từ kéo tôi lên vỉa hè đi lẫn trong đám thân nhân được vận động ra đón tù cùng những người dân tò mò nhình “cảnh lạ”. Tránh được cái máy quay phim, chúng tôi đi gần như chạy ra khỏi con phố nhỏ này. Ra đến đường Lê Văn Duyệt, chúng tôi đi chậm lại, nhìn đường phố mà cứ thấy đường phố đang nhìn chúng tôi với một vẻ xa lạ và xót thương? Trần Dạ Từ còn lại ít tiền, anh rủ tôi ghé vào đường Hiền Vương ăn phở. Chẳng biết là bao nhiêu năm mới lại được ăn tô phở Hiền Vương đây. Tôi chọn quán phở ngay sát cạnh tiệm cắt tóc Đàm mà mấy chục năm tôi cùng nhiều bạn bè vẫn thường đến cắt tóc. Có lẽ Trần Dạ Từ hiểu rằng anh về đoàn tụ cùng gia đình chứ còn tôi, vợ con đi hết, nhà cửa chẳng còn, sẽ rất cô đơn, nên anh níu tôi lại. Ngồi ăn tô phở tưởng ngon mà thấy đắng vì thật ra cho đến lúc đó tôi chưa biết sống ra sao giữa thành phố này.
Ở tiệm phở bước ra, chúng tôi đi bên nhau dưới ánh đèn chập choạng của con đường Duy Tân mà Phạm Duy gọi là con đường Đại Học “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt.” Đến ngã tư Phan Đình Phùng, tôi chia tay người bạn tù Trần Dạ Từ, đi lang thang trong cô đơn, trong bóng tối của chính đời mình. Bây giờ tôi mới hiểu hết nghĩa của sự cô đơn là thế nào. Tôi bắt đầu cuộc sống lưu lạc trên chính quê hương mình.”
Phải chăng “Hoài niệm” là một cảm xúc liên quan đến sự khao khát những gì thuộc về quá khứ và dĩ vãng thường là lý tưởng hóa những điều đó. Nostalgia là sự luyến tiếc quá khứ, lòng nhớ nơi chốn cũ, quê hương trong tâm tưởng, nỗi nhớ nhà khi ta không còn ở đó nữa. Như châm ngôn là “Cho dù bạn đã trải qua bao nhiêu đau khổ, bạn không bao giờ muốn bỏ đi những ký ức đó“, hay.” “Dĩ vãng từ hoài niệm đập trong ta như một trái tim thứ hai.“, và “Con người không phải địa điểm, tạo ra ký ức.” … “Quá khứ trở về trong tôi như một trái tim thứ hai.”, theo như ý tưởng nhà văn Ái Nhỉ Lan John Banville, viết trong quyển The Sea (tiểu thuyết Biển cả).
Nỗi nhớ (Nostalgia) được xem như một dấu hiệu bệnh lý được nhắc đến lần đầu năm 1688 bởi một sinh viên y khoa người Thụy Sĩ tên là Johannes Hofer (1669-1752). Tên căn bệnh này xuất phát từ tiếng Hy Lạp, nostos có nghĩa là trở về quê hương, còn algos có nghĩa là nỗi đau, niềm khao khát. Sự kiện xảy ra từ giữa thế kỷ 17 và 19, Cũng theo tư tưởng của văn hào Pháp Marcel Proust, tác giả của bộ tiểu thuyết “Đi Tìm Thời Gian Đã Mất” (À La Recherche du Temps Perdu, hay In Search of Lost Time). Marcel Proust, trong “Đi tìm thời gian đã mất” cho là …”hoài niệm ... ký ức về một hình ảnh cụ thể là những tiếc nuối cho một khoảnh khắc thời gian đã qua ..”
Trở lại với ý tưởng của Văn Quang về nhung nhớ hình xưa cảnh cũ của một Sài Gòn trong lưu niệm, ông viết tiếp…
“Tôi tìm về nhà ông anh rể đã từng nuôi nấng tôi suốt những năm tháng trong tù. Bắt đầu từ đó tôi trở thành người Sài Gòn khác trước. Và rồi với những cùng khổ, những khó khăn, tôi đã tự mình đứng lên. Bởi tôi thấm thía rằng thằng bạn đồng minh xỏ lá đã phản phé mình, lúc này không ai cứu mình cả, anh không vượt qua nó, nó sẽ đè chết anh. Vì thế cho đến bây giờ sống giữa Sài Gòn, tôi phải là người Sài Gòn và mãi mãi sẽ là người Sài Gòn. Làm được cái gì hay chết bẹp dí là do mình thôi”.

Photo Credit: Internet Đi tìm hoài niệm
“Tôi không lan man về chuyện cũ tích xưa nữa, bởi nói tới những ngày tháng đó chẳng biết bao giờ mới đủ. Cho đến hôm nay, 25 tháng Tám năm 2014, hơn 60 năm ở Sài Gòn, mọi người đang xôn xao về những đổi thay lớn của Sài Gòn, tôi không thể ngồi yên. Tôi muốn chính mắt mình được nhìn thấy những thay đổi ấy. Mặc dù qua 2 lần nằm bệnh viện và với cái tuổi trên tám mươi, tôi đã mất sức nhiều, hầu như suốt ngày ngồi nhà đã từ ba tháng nay. Tôi điện thoại cho Thanh Sài Gòn rủ anh đi thăm “cảnh cũ người xưa”. Chúng tôi vào phở Hòa, môt tiệm phở nổi tiếng từ trước năm 1975 cho đến nay. Con đường Pasteur đan kín xe cộ, tiệm phở Hòa có vẻ tấp nập hơn xưa. Bạn khó có thể tìm lại một chút gì đó của “muôn năm cũ”. Tô phở bị “Mỹ hóa” vì cái tô to chình ình và miếng thịt cũng to tướng, có lẽ ông bà chủ đã học theo phong cách những tiệm phở VN ở Mỹ. Nó “to khỏe” chứ không còn cái vẻ “thanh cảnh” như xưa nữa”.
“Sau đó, nơi tôi tìm đến đầu tiên chính là Thương Xá Tax. Vừa đến đầu hai con đường gặp nhau Pasteur – Lê Lợi đã nhìn thấy một hàng rào bằng tôn chạy dài. Đường Lê Lợi chỉ còn đủ một lối đi nhỏ dẫn đến Thương Xá Tax và công viên Lam Sơn. Chiếc xe gắn máy len lỏi cho đến tận cuối đường Lê Lợi sát mép đường Tự Do. Chúng tôi đứng trước cửa TX Tax đang bày ra cảnh vô cùng vắng vẻ, chỉ có tôi và anh bảo vệ nhìn nhau. Anh thừa biết tôi đến đây để làm gì. Anh bảo vệ cũng không còn làm cái nhiệm vụ cao quý là mở cửa đón khách, anh để mặc tôi tự do đẩy cánh cửa kính nặng chịch đi vào trong khu thương mại. Đèn đuốc vẫn thắp sáng choang, chiếc thang máy cuốn vẫn lặng lẽ chạy không một bóng người. Nó mang một vẻ gì như người ta vẫn lặng lẽ theo sau một đám tang….Vậy mà tôi vẫn còn đi vơ vẩn trong cái không gian như nghĩa trang sống đó. Tôi đi tìm hình bóng của một thời dĩ vãng, nào vợ con, nào bè bạn, nào những người xa lạ trong cái nhịp thở rộn ràng thân thiện của tất cả Sài Gòn xưa ở chốn này. Chẳng bao giờ trở lại. Tôi muốn gọi tên tất cả trong hoài niệm tận cùng sâu lắng”.
“Rồi tôi cũng phải bước ra. Trở về với thực tại, nhưng vẫn gặp cái vắng lặng của vỉa hè chạy dài theo đại lộ Nguyễn Huệ. Dường như chỉ còn có Thanh Sài Gòn ngồi ngất ngư với “người xưa trong ảnh” của một ô quảng cáo vuông vắn phía ngoài thương xá. Chúng tôi đi qua khu công viên Lam Sơn, lúc này đã được phá sạch, chỉ còn vài cây cổ thụ cao lêu nghêu bên cạnh “công trường” đang làm, dường như hàng cây đứng chờ giờ hành quyết như các “đồng nghiệp” của nó đã bị đốn hạ vài hôm trước. Các bác thợ quần áo xanh, dây đeo chằng chịt đã và đang dọn dẹp cho công trường trống rỗng. Tôi đứng trước Nhà Hát Thành Phố nhìn cảnh “vườn không nhà trống” đó mà ngậm ngùi nhớ tới pho tượng Thủy Quân Lục Chiến sừng sững đứng bảo vệ thành phố ngày nào và nhớ tới những đồng đội TQLC đã ngã xuống hoặc giờ này đã ở khắp phương trời xa.
“Chắc hẳn bạn còn nhớ ngay cạnh đó là góc bùng binh Nguyễn Huệ – Lê Lợi còn là nơi tổ chức đường hoa vào dịp Tết. Gia đình nào chẳng một lần kéo nhau đi giữa đường hoa với tâm trạng rộn ràng của một ngày hội hoa xuân. Từ năm nay sẽ mất hẳn, chẳng bao giờ thấy bóng dáng mùa xuân ở đây nữa. Cuối cùng tôi trở lại nơi mà lần đầu tiên tôi đặt chân lên TP Sài Gòn. Tôi đã nhảy xuống xe GMC ở đây, đúng nơi này, phía sau Nhà Hát Thành Phố, bây giờ là trụ sở của Tổng Công Ty Cấp Nước của TP. Mặt đường nhựa chẳng có gì thay đổi, nó cũng nhẵn mòn như những con đường nhựa khác, nhưng với tôi nó là một dấu son đáng nhớ nhất trong đời. Vậy mà đã đúng 60 năm rồi sao?”
“Mai này Sài Gòn sẽ còn mất đi nhiều thứ nữa như vòng xoay trước cửa Chợ Bến Thành, một biểu tượng mà bất cứ ai đã đến Sài Gòn dù chỉ một lần cũng không thể nào quên. Đó là những thứ sẽ mất đi để làm tuyến metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên. Ngoài tuyến metro số 1, còn xây dựng thêm 6 tuyến metro khác. Chúng ta sẽ mất đi nhiều di tích xưa cũ. Sài Gòn sẽ đổi khác rất nhiều, để lại trong người Sài Gòn dù ở đâu cũng thấy cảm thấy một nỗi bùi ngùi, nhớ tiếc. 60 năm Sài Gòn, hồn ở đâu bây giờ?
Văn Quang, Ngày 29 tháng Tám, 2014″.

Những Ngày cuối đời
Photo Credit: Internet
Bài viết cô đọng này mượn ý tưởng của những NV Dương Hoàng Mai, Vương Trùng Dương, Văn Quang, John Banville và Marcel Proust để nhớ đến tác giả của những Ngã Tư Hoàng Hôn, Ngàn Năm Mây Bay, Người Lính Hào Hoa, Người Yêu Của Lính, Sài Gòn Tốc…. 60 năm Sài Gòn Trong Tôi, Sài Gòn Người Muôn Năm Cũ, Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự, như một nén hương lòng tiễn đưa người về cõi trên.
Việt Hải & Khánh Lan, Mùa Tháng Tư đen 2022.
-
CHIA TAY HUY PHƯƠNG

Nhà Văn Huy Phương Bài viết do tác giả Nguyễn Toàn Đông, hay Bách Tùng Cao Nguyên viết ngày 28/6/2021 vốn là cựu học sinh ở trường Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long, sau lên vùng Cao nguyên Lâm Viên trong nhóm “Les Copains de Vinh Long” ở Đại học Chính trị Kinh doanh Đà Lạt. Ông nhận xét về nhà văn Huy Phương, bài viết mang tựa Nước Mỹ Lạnh Lùng: “Nhà văn Huy Phương… Nước Mỹ Lạnh Lùng là tên quyển sách đầu tiên tại hải ngoại của ông được xuất bản năm 2003. Đến nay, có 11 quyển tiếp theo đã được in ra. Ông cộng tác với nhiều tạp chí, đài truyền hình vùng Little Saigon, Nam California…. Hằng tuần, ông xuất hiện trên đài Người Việt trong chương trình Quê Nhà Quê Người. Nội dung là những gì thường ngày xảy ra với người Việt trên đất Mỹ. Hiểu là chuyện người Việt trên đất Mỹ cũng được. Nhất là ở những quyển đầu tiên…. Một hai năm, ông cho in ra một quyển. Đó là những bài viết tuần tự theo thời gian để làm truyền hình hay báo chí, được gom lại và in thành sách. Mỗi bài chỉ năm ba trang; rất tiện cho người muốn đọc. Trên tạp chí, mục này có tên là “Tạp Ghi Huy Phương.” … “Nhìn qua vài tựa sách đầu tiên: Nước Mỹ Lạnh Lùng (2003), Đi Lấy Chồng Xa (2006), Ấm Lạnh Quê Người (2007), Nhìn Xuống Cuộc Đời (2009)…Tựa sách nào cũng phảng phất tâm trạng một người vì sống xa quê nên nhớ thương quá khứ; thao thức về một cái gì đó không rõ ràng. Cộng thêm những lo toan hằng ngày ray rứt không nguôi.”.

Nguyễn Toàn Đông viết tiếp:
Và… quan trọng nhất trong câu chuyện hôm nay là tin không vui về nhà văn Huy Phương. Hiện, ông đang chống chọi lại căn bệnh ung thư hiểm nghèo. Bác sĩ muốn ông vào bệnh viện để điều trị. Nhưng ông từ chối. Ông nói ông muốn dưỡng bệnh tại nhà. Ông quyết định như vậy có lẽ vì ngôi nhà của ông là nơi ông yêu quý nhất. Ông muốn tất cả xảy ra ở đây. Bà Huy Phương luôn bên cạnh ông.
Tôi biết được tin trên do đọc được bài viết của cô Kiều Mỹ Duyên đăng trên tờ Việt báo. Cô nguyên là nữ phóng viên chiến trường thời VNCH, được chính phủ Úc cấp học bổng để theo học và tốt nghiệp Khoa Báo Chí tại Úc. Thời chiến tranh VN, cô là nữ ký giả trẻ từng ra vào những vùng giao tranh ác liệt của những đơn vị thiện chiến VNCH. Những thiên phóng sự của cô được chọn lại và in thành sách với tựa đề là “Chinh Chiến Điêu Linh.” Biết ông bệnh nhiều, cô Kiều Mỹ Duyên đến thăm như bạn cố tri một thời. Ngày xưa, nữ ký giả Kiều Mỹ Duyên và Đại Úy Huy Phương Tâm Lý Chiến hẳn không xa lạ gì nhau do môi trường làm việc. Nay, trong những ngày mong manh còn lại, hy vọng ông sẽ được an ủi nhiều. Tựa đề cho quyển sách mới nhất được ông đặt là “Ga Cuối Đường Tàu”…”

Tôi thường đọc mục Tạp ghi Huy Phương trên nét, nhiều bài viết thâm thuý, dưới dạng chuyện xã hội buồn bã, oan nghiệt như “An Tiệm, Kẻ Vô Ơn”, “Con Nhà Nghèo”, “Xót Thương Nước Mỹ”, “Món Nợ Lương Tâm” (thơ Huy Phương), “Con Cái Thời Nay”, “Những Người Bị Bỏ Quên Trong Viện Dưỡng Lão”, “Tình Già”, “Ga Cuối Đường Tàu”, “Nỗi Đau Của Tuổi Già”, “Không Phàn Nàn”, “Tuổi Già Và Chuyện Lái Xe”, … Tuy nhiên, phong văn Huy Phương cũng có nét vui tươi, dí dỏm, hóm hỉnh như trong bài viết “Văn Mình, Vợ Người”.
Như vậy thì Văn là gì nhỉ? Về Văn ví dụ như văn chương là khái niệm dùng để chỉ một ngành nghệ thuật, nghệ thuật ngôn từ. Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống. Khái niệm văn chương và văn học thường bị người đời dùng lẫn lộn. Còn Văn học là khoa học nghiên cứu về văn học, nó lấy các hiện tượng văn chương nghệ thuật làm đối tượng cho mình. Quan hệ giữa văn chương và văn học là sự tương quan giữa đối tượng và chủ thể, giữa nghệ thuật và khoa học; văn chương (nghệ thuật) là đối tượng của văn học (khoa học).
Chữ “Vợ” thì nôm na là người phụ nữ đầu ấp tay gối của ta, cũng là một danh từ để gọi người phụ nữ có vai trò hợp pháp trong một cuộc hôn nhân. Nhưng “Văn Mình” là sự thể dễ hiểu như “Văn ta“, còn “Vợ Người” lại là vợ của người ta, vợ của ông chòm xóm, hay vợ của ông láng giềng, khi cầm nhầm ta phạm pháp. Chiếu theo Luật Hình sự Tiểu bang New York Mục 255.17; Phạm tội ngoại tình khi đương sự có hành vi giao phối ngoại hôn có chứng cớ với người khác vào thời điểm người đó có vợ hoặc có chồng sờ sờ đang chung sống, hoặc người kia đã có vợ hoặc chồng chung sống. Ngoại tình là tội nhẹ loại B, có thể bị phạt đến 3 tháng tù giam hoặc một năm quản chế. Vì vậy, đối với những kẻ gian lận ăn vặt xơi vụng ở New York, hãy cẩn thận. Trong khi Trong khi California là tiểu bang “chịu chơi” tình cho không biếu không, 2 kẻ lầm lỡ chung vui thì không có lỗi gì cả và luật ngoại tình không bị trừng phạt, vẫn có những tiểu bang coi ngoại tình là tội bất hợp pháp. Ngoại tình được định nghĩa là sự “giao lưu long thể” hay “cớ sự mây mưa nem chả” giao phối tự nguyện giữa một người đã có vợ hoặc chồng với người không phải là vợ hoặc chồng của mình.
Theo bài viết “Văn Mình, Vợ Người”, Huy Phương ghi nhận như sau: “Về văn, người cậy tài cho mình là nhất thiên hạ, nhưng trái lại nói về vợ nhà, thì lại cho là thua sút vợ người. Đây chẳng qua là câu chuyện có mới nới cũ, cái gì lâu cũ rồi cũng sinh nhàm chán, như chiếc xe hơi cũ chúng ta lái mỗi ngày. Mỗi ngày lái “chiếc xe nhà” ra phố hay trên xa lộ chúng ta thấy có bao nhiêu chiếc xe đời mới, đẹp đẽ, lộng lẫy, đắt tiền chạy bên cạnh hay qua mặt mình. Chúng ta thật chưa biết máy móc nó hiện đại ra sao, ghế da hay vải có mềm mại không, tay lái và cần sang số có trơn tru không, nhưng chỉ cần nhìn cái body xe, và nhất là phần sau chiếc xe cũng thấy mê vì nước sơn bóng loáng, thiết kế mỹ thuật, bắt mắt, hai hàng đèn chớp khêu gợi và nhất là cái logo của hiệu xe đắt tiền cho biết đây là một loại xe hảo hạng. Rồi chúng ta thầm nghĩ, một ngày nào đó khi chúng ta giàu lên có tiền, có chức vị, thì chúng ta cũng có thể sở hữu một cái xe như thê! Cái xe cũ này, lúc mới mua ở hãng nó vẫn còn mới, chạy êm ru, ngồi vào cái xe thấy mát rượi, nhưng quả thật bây giờ sau bao nhiêu năm, nó đã bắt đầu…tả.”
Nhật báo Al-Watan ở Saudi Arabia cho biết một phụ nữ đã kiện ông chồng ra tòa để xin ly dị sau 17 năm chung sống, sau khi khám phá ra ông đã lưu giữ số điện thoại của mình trong cell-phone là “Guantanamo” tên một nhà tù nhốt khủng bố nổi tiếng của Mỹ ở Cuba. Quý bà nghĩ sao khi thấy quý ông memo số điện thoại của vợ là “Sư Tử”, “Bà La Sát” hay “Quản Giáo” nếu ông đã đi tù Cộng Sản về. Vì chê vợ nhà nên người ta mới thích đổi món, nói theo tiếng lóng thời thượng “cơm” và “phở”. Vì chán cơm mới thích phở, nhưng theo quy luật “vợ người” thì “vợ là…cơm nguội” của ta, nhưng là “phở tái” của cha giáng giềng!!! “
Tôi chạnh nhớ bài thơ dường thi trên nét như sau…
Văn Mình, Vợ Người
Văn mình ứng với vợ người ta…
Chân lý thường luôn đúng vậy à?
Cứ ngỡ lời kia không hiện hữu.
Ai dè lý đó chẳng phôi pha.
Ngày mơ cảnh viễn đam mê bởi…
Tối mộng hình bên đắm đuối và…
Trời bắt yêu thơ, trời lại bắt…
Đi vào không ổn lại đi ra…

Về Tuyển Tập Huy Phương: “Tuyển Tập Huy Phương” gồm 12 tuyển tập tạp ghi của Huy Phương, viết từ ngày ông sang Mỹ đến giờ gồm: Sau cuốn tạp ghi đầu tay “Nước Mỹ Lạnh Lùng” (1991-2003,) ông viết không mệt mỏi với “Đi Lấy Chồng Xa,” “Ấm Lạnh Quê Người,” “Hạnh Phúc Xót Xa,” “Quê Nhà – Quê Người,” “Những Người Thua Trận, “Nhìn Xuống Cuộc Đời, “Ngậm Ngùi Tháng Tư,” “Quê Hương Khuất Bóng,” “Nước Non Ngàn Dặm,” “Ga Cuối Đường Tàu” và “Sóng Vỗ Bèo Trôi”.
Năm 2014, Huy Phương viết bài “Người Việt tỵ nạn và món nợ thương binh VNCH” như sau: “Bây giờ đã gần 40 năm qua, chúng ta cũng không oán ghét gì những thương binh cụt què của ang ngũ cộng sản trước kia, vì họ cũng là nạn nhân của sự lừa bịp chính trị, hy sinh cho kết quả của lầm than dân tộc và chỉ xây dựng cơ đồ cho một nhóm thiểu số cầm quyền. Nếu chúng ta có khả năng giúp đỡ được cho họ thì chính nghĩa của người quốc gia còn tỏ sáng, rạng ngời, tuy vậy “lực bất tòng tâm,” hải ngoại không thể giúp hết cho cả nước Việt Nam, và cũng còn một chỗ, để cho, chính những người đã hy sinh cho chế độ ấy thấy rõ bộ mặt thật của chế độ cộng sản độc ác và bất nhân.
Trong cuộc chiến giữ miền Nam Việt Nam, chúng ta ước tính có đến 350,000 chiến sĩ hy sinh, số thương binh phải gấp con số tử vong sáu lần. Qua thời gian, kẻ còn người mất, có người trở lại đời sống bình thường, người lành lặn trở lại, người đã qua đời hay ly tán, tha hương, số thương binh không có khả năng làm việc mưu sinh tại quê nhà, ít nhất phải là con số trên ang nghìn. Chúng ta lại có 3 triệu người Việt ở hải ngoại hay gần một triệu đơn vị gia đình, ước tính có 500,000 gia đình đi ra từ miền Nam, chúng ta thừa sức bảo trợ cho một ang nghìn thương binh VNCH ở Việt Nam.”
Cũng năm 2014 trong bài viết “Thay Lời” Tựa cho tác phẩm “Chân Dung H.O. và Những Cuộc Ðổi Ðời”, bài do tác giả Huy Phương và nhà văn biên khảo Võ Hương An, mà Võ Hương An tác giả của những thư tác “Đường Xưa Thành Nội” và “Từ điển Nhà Nguyễn”, bạn tri kỷ của ông giáo Nguyễn Thanh Trang, tác giả biên khảo của “Những Bước Tiên Phong và Thành Quả của Đại Học Huế từ năm 1957 đến 1975”, “Luật Quốc Tế Nhân Quyền và Trách Nhiệm Nhà Nước”, “Sức Mạnh Của Truyền Thông”, những vị văn hữu gốc Huế của nhà văn Huy Phương.
Trích đoạn bài viết: “Khoảng thời gian 1990-1998 là lúc các gia đình H.O. đến định cư ở Mỹ nhiều nhất, cung cấp nhân lực cho các dịch vụ chăm sóc người già, nuôi người bệnh, giữ trẻ tại các tư gia. Các gia đình H.O. hiện nay đã ổn định khi con cái của họ đã lớn khôn, cho ta thấy hiện nay kiếm người phụ việc nhà như ngày trước rất khó ang. Một vấn đề xã hội khác, là vào những năm trước 1990, số thanh niên vượt biên nhiều hơn phái nữ, nên có tình trạng trai thừa gái thiếu trong cộng đồng Việt Nam. Những đợt gia đình H.O. đến Mỹ đã tạo được những cuộc hôn nhân tốt đẹp và điều hòa được vấn đề khó nghĩ này của xã hội di dân. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Trời sinh voi, sinh cỏ,” nên trong giai đoạn angm H.O. mới định cư tại Mỹ, nghề “nails” bắt đầu phát triển và thịnh hành đã đưa đến công ăn việc làm không ít cho nhiều gia đình di dân mới mẻ này, và với các đức tính “chịu khó, khéo tay, cần cù,” nhiều người đã có một đời sống khá sung túc.
Các gia đình H.O. đã cung cấp nhân công cho các shop may, người trẻ thì chạy máy, người già thì cắt chỉ, nhặm lẹ thì xếp ang, đóng gói, mà cho đến giờ này vẫn còn đứng vững với thời gian. Đúng là “Trời sinh voi, sinh cỏ,” “ở xứ Mỹ này có nghèo chứ không có đói.” Các gia đình có chồng, cha đi “”cải tạo”,” đã biết cái khổ của bữa rau, bữa cháo, nên sang đây, phần lớn các gia đình này đều “chịu thương, chịu khó,” chẳng mấy chốc mà đã có một cuộc sống ổn định.”
Rồi tôi đọc tiếp Huy Phương với “Bữa Ăn Một Mình“, chuyện Huy Phuơng kể sao tôi thấy tôi trong đó. “Tôi muốn có những bữa ăn đông người, vui vẻ, có tiếng cười nói rộn ràng, nhưng thường là phải ăn những bữa ăn một mình. Bữa ăn một mình thì đâu cần đến mâm bàn dọn ra ngay ngắn, tươm tất, mà sao cũng cho xong một bữa ăn. Một tô cơm trộn thức ăn, và một cái muỗng, ngồi trước máy computer hay trước máy truyền hình.
Bạn có nghĩ một bữa ăn như thế có dễ tiêu hoá, có lợi cho sức khoẻ hay không? Và một bữa ăn như thế có buồn không? Tôi không bao giờ quên được những bữa ăn gia đình thời thơ ấu. Tất cả mọi người trong gia đình đều chờ nhau vào mâm cơm một lượt, dù là buổi sáng giờ trưa hay bữa chiều tối. Bữa cơm có cả ông bà nội, cha mẹ, cả anh chị cùng mấy đứa em nhỏ, kể cả thành viên nhỏ bé của đại gia đình là con mèo vàng luẩn quẩn chờ miếng ăn trong lòng bà nội tôi. Rồi thời gian qua đi, kẻ còn, người mất, gia đình mỗi người một nơi. Tôi lớn lên, tạo lập một gia đình nhỏ, có những bữa ăn sum họp gia đình, nhưng không quên được những người đã đi xa, không còn hiện diện trên cuộc đời này nữa. Rồi chiến tranh, tù đày, xô đẩy con người mỗi người đi mỗi hướng.“.
Kế tiếp, một chuyện buồn vơi “Nỗi Đau Của Tuổi Già“, Huy Phương kể sự kiện con cái bòn rút tiền cha mẹ già, rồi bỏ bê, hất hủi cha mẹ. “Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off. Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời. Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá 1ớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dăm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm homework, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang gồi xem TV, nó hất hàm hỏi:
-“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?”
Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:
-“Bả ấy đi khỏi rồi!” …”
Riêng bài “Tình Già” vốn xao xuyến con tim tuổi hạc của tôi … hãy đọc vui như sau… “Người qua đường nghe chuyện này có người nói, “Già hết xí- quách rồi, lấy nhau làm chi nữa?” hay về phía cô dâu chú rể, người ta cũng có thể bình luận, “lấy nhau về để đổ bô cho ông (hay bà) ấy hay sao?”
Mỗi lần mở đài phát thanh nghe các nhà thuốc Tây quảng cáo bán nào ống dẫn tiểu, túi dựng phân, tã lót, xe lăn, gậy chống… nghe đã lạnh người, cứ tưởng tượng ra đem một ông già hay bà lão về để phục vụ, rồi lo “hậu sự” đã đủ khiếp. Ở đây hai ông bà già, chỉ mới biết nhau hai mươi năm về trước, không tình mà cũng chưa đủ nghĩa, lấy nhau tất nhiên phải có lý do. Ðó là hai tâm hồn cô đơn tìm đến với nhau trong những ngày cuối đời, cũng có lý lắm chứ!
Hình như tình yêu của người Tây phương kéo dài lâu hơn tình yêu của người Á Ðông. Chúng ta thấy những ông bà cụ già cầm tay nhau đi trong công viên, thủ thỉ bên nhau, hôn nhau dịu dàng là chuyện thường tình, trong khi các ông bà cụ của chúng ta, thường già trước tuổi, bà cụ mới vừa tắt kinh đã đỏ mặt khi đụng chạm với ông cụ, cứ giẫy nẩy lên, sợ lũ trẻ nó cười, sợ già mà “không nên nết.” Vì vậy, chúng ta lại cũng thường khắt khe đối với những người lớn tuổi chết vợ, mất chồng mà còn “bước qua dư luận” tục huyền hay tái giá. Văn chương bình dân thì mỉa mai chuyện “bà già đã tám mươi tư, ngồi trong cửa sổ viết thư tìm chồng”, hay kể chuyện “bà già ra chợ Cầu Ðông, xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng? Thầy bói xem quẻ nói rằng: Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn!” thật là “kỳ thị” hết chỗ nói.
Các cụ xưa thường đùa rằng, “Càng già càng dẻo càng dai, càng gãy chân chõng càng sai chân giường.” Nhưng theo các nhà y học, thì nói như vậy là trái với khoa học, có lẽ các cụ tiếc của trời, nói cho sướng miệng thế thôi. Nhưng bao nhiêu tuổi mới gọi là già, chưa nghe ai ấn định cho rõ ràng. Vả lại vợ chồng lấy nhau lúc trẻ, sống với nhau vì tình, về già nếu không còn tình, thì sống với nhau vì nghĩa, đâu phải cần đến chuyện chăn gối mà hạnh phúc vẫn vững bền, miễn là đừng bao giờ dập tắt sự chiều chuộng thương yêu.
Cuộc hôn nhân lâu bền nhất trên trái đất này thuộc về ông bà Arrowsmith ở Hereford, Anh Quốc. Ông cụ Percy Arrowsmith vừa mất hồi Tháng Sáu 2005 khi ông được 105 tuổi, và vợ ông 100 tuổi sau khi họ tổ chức lễ kỷ niệm 80 năm hôn nhân hai tuần lễ trước đó. Bí quyết của đôi vợ chồng già kỷ lục này họ không bao giờ cãi nhau lúc lên giường và thường hôn hay cầm tay nhau trước khi đi ngủ. Mới đây nhất thì hồi Tháng Năm 2009, cũng tại Anh Quốc, ông cụ Frank Milford 100 tuổi và bà Anita 99, vừa ăn mừng hôn lễ thứ 80. Họ cũng tiết lộ là họ luôn luôn hôn nhau trước khi đi ngủ (không nghe nói trước hay sau khi tháo răng giả).
Vậy thì những ông già chết vợ, những bà lão góa chồng, nếu cảm thấy trống lạnh trên cõi đời này, chẳng có ai hôn mình trước khi đi ngủ, sao lại không có quyền bước sang bước nữa. Ở nước ngoài này hay trong nước, thỉnh thoảng tôi vẫn nghe dư luận chê trách những cái đám cưới mà ông cũng “thất thập cổ lai hy”, bà cũng “lục thập đắc nhĩ thuận” và cho đó là chuyện bất thường, nhưng nếu không là người trong cuộc, làm sao hiểu nỗi chuyện của họ. Lúc về già, vợ hay chồng mất sớm, con cái đều lập gia đình, ra ở riêng, ông hay bà thui thủi cô đơn, “lúc tỉnh rượu, lúc tàn canh” cũng buồn lắm chứ, sao không kiếm về một nửa bên kia của ai đã bỏ lại trên đời này, để ráp nối lại chiếc phi thuyền cuối đời bay về… cõi chết.
Nếu không rồi đây “khi rượu sớm, khi trà trưa, khi xem hoa nở khi chờ trăng lên” lấy ai mà đối ẩm, lấy ai mà tri kỷ. Bạn thử nghĩ rồi đây, sáng thức dậy, bên ly cà phê nhỏ những giọt cô đơn, đọc một câu chuyện vui cũng chỉ biết cười một mình như thằng điên, buồn nỗi thế sự cũng không biết chia xẻ với ai, nghe một chuyện bất bình không có trái cam mà bóp nát trong tay, lấy ai làm người tri kỷ để chuyện trò, tâm sự. Gần đây, hải ngoại quả thật có nhiều cụ, để trả thù những ngày cơ cực, tù đày, áp bức đã qua, làm những cuộc hôn nhân bước sang bước nữa với những cô con gái còn quá trẻ, nhưng không biết lượng sức mình, đến nỗi “tinh khô, lực kiệt”, trở về trên chiếc xe lăn để người đời dè bỉu, châm biếm, mà con cháu cũng xấu hổ chê cười.
Những mối tình này được kết hợp một bên là khao khát dục vọng, một bên là đồng đô la, không thể gọi là tình yêu được. Vì vậy, người đời hay khắt khe châm biếm những ông già mà lấy vợ trẻ, lại mỉa mai “trâu già mà thích gặm cỏ non” trong lúc chính các cụ quá yếu, vẫn thường lựa thức ăn mềm mà ăn thì chẳng ai nói gì.
Thầy Mạnh Tử cho rằng đại trượng phu là phải “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất.” Trong ba thứ “bất năng” này, thứ bất năng đầu tiên coi bộ khó giữ, vì thấy ở phương Tây này, các ông tỷ phú già thì lại hay lấy vợ sexy như người mẫu hay là vũ nữ thoát y. Tỷ phú Joe Hardy 84 lấy người mẫu Kristin Georgi 23, tỷ phú J. Howard Marshall 89 còn lấy cô vũ nữ playboy Anna Nicole Smith 26 tuổi, chỉ 14 tháng sau là “đứt bóng”, gây nên một vụ án chia gia tài khá ồn ào.
Nhạc sĩ Trần Văn Trạch đã hát rằng, “Khi người ta yêu nhau , yêu trong lúc hai mươi tuổi đầu, thì không phải vì tiền đâu, nhưng mà chẳng được bao lâu…”, “Khi người ta yêu nhau, yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu, thì không phải vì tiền đâu, nhưng mà chẳng còn bao lâu…”
Cho nên, bây giờ nếu các bạn nghe tin một ông cụ 90 mà lấy một bà lão 85, mặc dầu “chẳng còn bao lâu”, nhưng chắc chắn là không phải vì tiền rồi. Không phải vì tiền thì chỉ có một đường là vì tình, tình này bạn muốn hiểu là “tình cao thượng”, “tình trong sáng”, hay “tình cuối”, “tình già” sao cũng được.
Khi người ta lập gia đình năm hai mươi hay hai mươi lăm tuổi, có thể vì tình yêu xốc nổi, vì bồng bột, nhưng ở tuổi bảy mươi, sau khi đã qua tuổi “tri thiên mệnh” đã hai mươi năm, việc cưới một người về chung sống phải là việc suy nghĩ, chính chắn không ai có thể chê trách hay nghi ngờ vào đâu được. Chưa ai biết ai đổ bô cho ai, chứ đêm nay trời trở lạnh, có hơi người cũng ấm, sống một mình, có người gãi lưng giùm cũng đỡ khổ. Trên giường có hai người bạn già nương tựa vào nhau, thì trong cái ly nước trên bàn ngủ, hai hàm răng giả cũng đang ngụp lặn bên nhau. Nói theo kiểu người Huế “Ðời còn vui không có răng mô!” (Ðời còn vui, không có sao đâu!). Xin chúc mừng và nhớ “giúp nhau” nhé!!! Kakakaaaa…

Love is… Supporting each other in the old age. Huy Phương viết bài ” Tuổi Trẻ và Lớp Già“. Tôi thích quá, và viết đáp lễ trong bài sau.
Huy Phương – “Tuổi Già Hay Trẻ?”, Trần Việt Hải.
Tôi biết nhà văn Huy Phương, tôi thích phong văn ông viết, và là người của nhiều nguồn gốc, như những gốc nhà binh, gốc nhà thơ, gốc nhà văn, gốc nhà báo, gốc nhà giáo, gốc tù nhân “Hát Ô” và là người gốc Quảng Trị. Tôi đọc cuốn “Đi Lấy Chồng Xa” xong, thích ngay lối viết của ông. Lúc thì đùa cợt theo khuynh hướng Voltaire hay Mark Twain trong văn phong châm biếm, sát xà phòng, satire, savonner, dũa nhẹ phiếm hài ý nhị, duyên dáng, lúc thì nghiêm túc đưa vấn đề đề nghị xây dựng sửa đổi. Huy Phương và Quỳnh Giao (vocalist, pianist) là 2 cây bút tạp ghi tôi canh me đọc văn của nhị vị này, tôi nghĩ đây là 2 nhà văn tại hải ngoại có phong văn đặc biệt được nhiều người mến mộ.
Nhà văn Huy Phương chọn khuynh hướng tạp ghi rất đúng cho các lãnh vực văn chương và báo chí (cùng truyền thông). Lý do vì ông dùng khả năng sẵn có hay lợi điểm viết văn chuyển tải sang viết những câu chuyện tạp ghi thời sự, quan điểm về chính trị, xã hội, hay đạo đức nhân tâm, triết lý… hay sử liệu cho báo chí hay truyền thông. Những tác phẩm in ra cô đọng những bài tạp ghi đó khi 10, 20 hay 30… năm sau sẽ ích lợi lợi cho độc giả tìm về những chuyện cũ đã qua. Ví dụ như các bài trong Nhìn Xuống Cuộc Đời, Ấm Lạnh Quê Người, Nước Mỹ Lạnh Lùng trong tủ sách ở phòng đọc sách của tôi. Những câu chuyện như NƯỚC MỸ ĐÁNG THƯƠNG, MỘT NÉN HƯƠNG CHO HUẾ, NIỀM TIN VÀ LÒNG THÙ HẬN, GIỌT LỆ TRI ÂN, NHỮNG NHÀ TÙ LỚN, RỐI BỜI CHỮ NGHĨA… cho thấy Huy Phương viết gì, và những chuyện gì đã xảy ra.

Nhà văn Huy Phương.
Huy Phương còn là nhà thơ, ông làm thơ nhiều về quê hương, thân phận con người, cuộc đời người lính, những đề tài mà cuộc đời ông đã kinh qua để ngòi bút biến chất thơ theo như những suy nghĩ ở bên văn. Hình như thơ của ông gần gũi với đề tài về Huế, ví dụ như các bài: Nhớ Huế, Huế Oan Khiên, Chiều Chiều, Chiều Xuân Xa Nhà, Cát Lạnh, Chúc Thư, Nửa Đời Lưu Lạc…
“Xin gọi trăng soi khe Đá Mài
Thời gian rêu phủ mảnh đầu ai
Bãi Dâu đau xót hồn Gia Hội
Phú Thứ tóc vương trảng cát dài”.
(Huế Oan Khiên – Huy Phương)
hay
“… Mùa này Huế có còn phượng đỏ
Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa
Nơi này cả một trời hoa tím
Nhớ em xưa tiếng guốc học trò.
Mùa này Huế có còn áo trắng
Em hiện thân làm bướm tan trường
Thương ngày tháng một thời niên thiếu
Huế bây giờ – Huế đã mù sương!
Huế của tôi giờ đâu còn nữa
Cảnh vô hồn khuất nẻo người xưa
Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế
Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ…”
(Nhớ Huế – Huy Phương)

Hôm nay lại đọc tạp ghi Huy Phương, qua bài viết “Tuổi trẻ và lớp già“, Huy Phương già hay trẻ? Có lẽ ông có dư điều kiện cho số tuổi hưởng “thọ”, sẽ vào hàng niên lão không bao lâu nữa. Tôi quen với Huy Phương đủ để khẳng định ông thương mến tuổi trẻ, khi tuổi trẻ đứng lên chống CS, Huy Phương yễm trợ qua ngòi bút của ông. Huy Phương nếu có đạt đích điểm lão niên thượng thọ, tôi tin tưởng tâm tư ông vẫn cảm thông vói giới trẻ, các em trẻ xông xáo vì danh dự cộng đồng, vì tiền đồ của dân tộc.
Bài Trần Việt Hải. Link:
Đọc lại bài tạp ghi của Huy Phương- Tuổi Trẻ và Lớp Già:
https://aihuubienhoa.com/p125a4721/1/tuoi-tre-va-lop-gia-tap-ghi-huy-phuong

“Ga Cuối Đường Tàu”: Như bài hành trình đi hoả xa, nếu cuộc đời chúng ta như là những chuyến tàu xe hoả thì cuối cùng xe sẽ đến một nhà ga đích diểm. Dù thời gian sớm hay muộn chúng ta tất cả sẽ nghe tiếng xe hoả hụ còi đến phiên mình. Đây như bài chia tay cùa nhà văn Huy Phương rất thích hợp cho bài viết này để gởi đến anh, nhà văn Huy Phương, “Sống hạnh phúc, chết bình an“, là một trong nhiều bài tạp ghi của tác giả đã đăng trên tờ Người Việt như sau:
“Quả tình là không ai biết mình sẽ giã từ cuộc đời này vào lúc nào, kể cả những bệnh nhân ung thư đến thời kỳ cuối, đã được bác sĩ thông báo ngày chết. Mới vài ngày trước đây thôi, người bạn trẻ của tôi đang khỏe mạnh, nói nói cười cười, thế mà hôm nay, qua một cuộc phẫu thuật tim, thông thường sau vài ba tiếng đồng hồ sẽ tỉnh lại, anh đã không bao giờ mở mắt ra để nhìn cuộc đời này nữa. Cũng trong lúc này tôi có những người bạn nằm trong “nursing home” đã trên 10 năm dài, có người phải dùng thức ăn lỏng bơm thẳng vào dạ dày, có người đôi mắt đã hư, chỉ còn nhận ra người quen qua tiếng nói. Nghĩ cho cùng, cái chết là tất yếu, nhưng ai biết được bao giờ mình sẽ chết? Và cũng vì không ai biết trước được ngày mình chết, nên mỗi người đều đi tìm cho mình một cách sống. Ví như loài người trên trái đất này đến tuổi 60 tất cả đều phải chết, thì không còn ai phải sửa soạn hay dành dụm cho mình để lo cho những ngày chưa chết. Chính vì cái điều mà người ta thường gọi là số mệnh, cuộc sống lâu mau của mỗi người đã làm nên, mỗi người một hoàn cảnh, không ai giống ai. Khoa tử vi cũng không giải thích được cuộc đời của hai người song sinh, cùng cha mẹ, chào đời trong một giờ, một ngày, một năm, một tháng giống nhau.
Có ai bỏ lại được mọi sự lo lắng lại cho cuộc đời này để thanh thản ra đi. Phải chăng vì sự lo, sợ cung tần mỹ nữ sẽ không trung thành với mình hay ích kỷ muốn mang theo những vật sở hữu của mình, mà vua Khang Hy (1654-1722) đã “chôn theo” mình toàn bộ 48 phi tần của ông. Có người chết đi, “yêu mình” đến nỗi lo sợ sự nghiệp của mình không ai nhớ đến, nên lo đúc tượng mình khi còn sống. Nhà thơ Hàn Mặc Tử lãng mạn than khóc vì cuộc đời vốn đã bất hạnh của mình, sợ rồi khi mình nằm xuống, “không có nàng tiên mô đến khóc, đến hôn anh và rửa vết thương tâm!”
Nguyễn Du cũng ngậm ngùi “bất tri tam bách dư niên hậu, thiện hạ hà nhân khấp Tố Như?” Làm chính trị cũng lo lắng chuyện dở dang, bất thành: – “Tôi chết thì trả thù cho tôi!” Nhà văn Võ Phiến trước khi qua đời cũng băn khoăn: – “Anh nghĩ ở trong nước bây giờ người ta có đọc tôi không, hả anh?” (Nguyễn Hưng Quốc, 1 Tháng Mười, 2015). Thì ra, trước khi qua đời, ai cũng có cái lo, mỗi người lo một cách.
Chết rồi, có người chẳng muốn thiêu vì sợ nóng, nhưng cũng có người không muốn chôn, vì nằm đó, mà chẳng có đứa con nào viếng thăm, “thì buồn chết được!” Chết thì hẳn đã chết rồi, mà người chết rồi làm sao biết buồn nữa! Có người đã lớn tuổi, đau ốm quanh năm, muốn về Việt Nam thăm bà con một chuyến, nhưng bắt các con hứa, nếu lỡ có mệnh hệ nào, thì các con nhớ mang cha trở lại Mỹ. Có người ở tù Cộng Sản năm bảy năm, sang được Mỹ, bây giờ chết lại đòi mang quan tài về Việt Nam. Như vậy, chết vẫn chưa là hết, chết cũng còn nằm trong kế hoạch, chương trình, sau khi nắp quan tài được đậy lại.
Có những cái chết mang lại thương tiếc cho tất cả mọi người, có những tấm lòng và công việc của những người chết mà không ai có, không ai thay thế được, nhưng trái lại, có những người sống lâu, bị người đời nguyền rủa. Trong những cái “chẳng khoái ư!” của ông Lâm Ngữ Đường, tác giả kể chuyện ông Kim Thánh Thán, sáng sớm thức giấc, nghe đêm qua con người giảo quyệt, mưu mô nhất trong làng vừa chết, ông bèn “chẳng khoái ư?” Thoạt đầu, tôi trộm nghĩ, đã là con người với nhau, thằng xảo quyệt ấy chết, mình không buồn thì cũng dửng dưng, có đâu lòng dạ lại cảm thấy sung sướng được, như thế chẳng hóa ra bất nhân! Nhưng nghĩ lại, nếu mình không là nạn nhân, không là người chịu đựng những nỗi khổ đau trầm luân của người trong cuộc, thì không thể thông cảm với cái “vui” khi thấy người khác chết! Một con người hay một chế độ cũng vậy!
Sống bao lâu là đủ, chết lúc nào là vừa?
Phải chăng câu trả lời còn tùy theo sự sống của mỗi người. Lợi ích của cây đa, cây (bồ) đề là còn cho con người bóng mát, chứ không phải là nơi người ta gửi những cái ông bình vôi sứt mẻ để tạo ra một hình ảnh tôn kính quá đáng. Chúng ta chọn hình ảnh người tướng lãnh chết giữa trận tiền hay sống tàn tạ, chết già nua trong sự quên lãng của mọi người. Đối với một người lính, chúng ta chọn giữa cái chết hay sự sống dần dần phai nhạt?
Chưa có ai từ cõi chết trở lại cõi sống để mô tả cho con người biết cái chết, cũng không có bằng chứng khoa học về ý thức sự sống sau cái chết của một sinh vật, nhưng hầu hết tôn giáo đều cho rằng nếu chúng ta hình dung cái chết như là một sự biến mất, một sự chấm dứt, không còn lưu lại gì cả thì nhất định đó là một sự sai lầm. Nhưng có một điều chúng ta ai cũng phải nghĩ đến là có sinh thì có diệt, có sống tất phải có cái chết!
“Chẳng ai sống đời đời, kiếp kiếp, chẳng cái gì vĩnh viễn không phai. Này, anh em nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống…” “Thi nhân, riêng mình, nào phải viết bài thơ trường cửu. Hoa nở rồi tàn. Và, ai đó đã cài hoa lên áo, cũng chẳng cần khóc thương mãi mãi làm gì. Đấy, anh em, nhớ kỹ điều đó, và vui lên mà sống.” (Rabindranath Tagore – Đỗ Khánh Hoan dịch) …”
Ngoài thể văn xuôi, Huy Phương còn sáng tác thi ca. Bài thơ “Chúc Thư” của Huy Phương rất thương cảm cho thân phận người lính chiến, vì thơ khá dài, nên xin trích đoạn như sau:
“Tôi người lính già ở xa tổ quốc
Xa chiến trường lưu lạc tới đây
Nơi quê người sương pha tuyết đổ
Mang nỗi đau con ngựa lạc bầy.
…..
Không phải chỉ chịu ơn người đã chết
Tôi như còn mang món nợ nước non.
Chết không nghĩa là đã tắt hơi thở
Sống đôi khi cũng có nghĩa chết mòn.
Khi tôi chết ván hòm xin đậy nắp
Có vui chi nhìn người lính chết già
Hổ thẹn đã không tròn ơn nước
Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa.
Hãy quên tôi, người lính già lưu lạc
Đừng phủ lá cờ tổ quốc cho tôi
….
Anh em tôi trong những giờ tuyệt lộ
Nằm lại bờ lúc chiến hạm ra khơi.
Chiến hữu tôi chết đầu sông cuối biển
Ngày tan hàng đành nằm lại quê hương
Không ai trổi cho khúc kèn truy điệu
Không có ai phủ giúp ngọn cờ vàng.
Hãy phủ cờ lên nấm mồ tử sĩ
Xác bị xới đào trong nghĩa trang xưa
Hãy rải hoa trên con đường thấm máu
Phút lui binh phải gãy súng buông cờ”.
Nếu Jean-Paul Sartre cho là mục tiêu của nhà văn là đi tìm ý nghĩa cho cuộc đời, tương tự Albert Camus cho là mục đích của nhà văn là giữ cho cuộc đời không bị huỷ diệt, không bị mai một ý nghĩa sống. Và như Gabriel Marcel cho là làm cho cuộc sống này có một ý nghĩa tích cực hơn. Hay như Ernest Hemingway cho là công việc của một nhà văn là hãy nói lên sự thật. Trong khi ý tưởng của Mark Twain nghĩ là phần lớn các nhà văn coi sự thật là điều sở hữu quý giá nhất của ngòi bút của họ. Còn Nelson Mandela lại cho cảm tưởng bàn tay bạn tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho tất cả chúng ta ở trong đó. Tất cả ý tưởng trên tôi muốn quy về ý tưởng sau cùng để tiễn đưa nhà văn Huy Phương khi mà ông đã sống và sáng tác văn chương, tạp ghi Huy Phương dựa trên sự thật của đời sống, phong văn và ý tưởng của ông phục vụ những điều chân thiện mỹ của cuộc đời, phụng sự thế giới xung quanh ta bằng những mẫu chuyện mẫu mực, lành mạnh và đức hạnh.

Vẫy tay tiễn chào nhà văn Huy Phương! Chia tay và xin cảm ơn nhà văn Huy Phương đã để lại cho đời những tác phẩm quý giá. Những tác phẩm sống với những ý tưởng trên của Mandela, Mark Twain, Hemingway, Marcel, Camus và JP Sartre.
Trần Việt Hải, Los Angeles. California, Febuary 2022.
-
BOLERO TÍM, Thơ: Hồng Thúy.
-
ĐÔI LỜI CẢM TẠ

Mạnh Bổng & Khánh Lan chân thành cám ơn Quý Thầy Cô, Qúy Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị em và thân hữu đã gởi lời chia buồn đến tang gia của chúng tôi trong những ngày qua. Tang gia chúng tôi xin ghi nhớ mãi những lời chia sẻ thân tình ấy trong tâm khảm. Mạnh Bổng & Khánh Lan cũng xin cám ơn NV Việt Hải đã bỏ nhiều thời gian để đăng tải tin buồn và phân ưu trên facebook và các website. Đặc biệt cám ơn GS Phạm Thái đã thiết kế những poster cáo phó và phân ưu thật đẹp cho cố TS Việt Cường Lưu Tấn Lâm, thân phụ của Mạnh Bổng & Khánh Lan.

NT VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM (1930-2022) Mạnh Bổng & Khánh Lan vô cùng cảm động và ghi nhận sự hiện diện của GS Dương Ngọc Sum, Nữ Sĩ Dương Hồng Anh, NV Nguyễn Quang và các anh chị em trong Liên Nhóm NVNT & TTG: Thanh Châu & Hoài Anh, Tuyết Nga, Thanh Hương, Thụy Lan, Hùng Ngọc, Ngọc Quỳnh, John Tạ, Minh Nguyễn, Henry Lương. Các anh chị cựu sinh viên của trường Đại Học Kinh Thương Minh Đức, Saigon: Các anh Nguyễn văn Viễn, Ninh Anh Nguyễn; Các chị: Tố Đoan Ngọc Phượng, Hoa Vinh. Các anh em & bạn hữu: Bá Thu & Ánh Tuyết, Hạnh Nguyễn, Vee Hương, Tú Anh, Mỹ Hạnh, Gia Quang, Rũng Trương & Ngoan Nguyễn, Tam Quang, Minh Tuấn & Ngọc Phượng, Chiêu & Ngọc, Thanh Toàn, Thành (con trai NS Dương Hồng Anh) trong ngày Lễ Cầu Siêu tại Chùa Phổ Đà. Đặc biệt cám ơn đến Cô Kiều Mỹ Duyên đã thông tin cáo phó trong chương trình Ana Real Estate của Cô trên đài Little Saigon TV.


Trong lúc tang gia bối rối, nếu chúng tôi có điều gì sơ xuất xin Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu thông cảm và bỏ qua cho gia đình chúng tôi.
Mạnh Bổng & Khánh Lan cùng tang gia kính chào.


LƯU MẠNH BỔNG 
Tang Gia: Anthony, Alex, Thanh Lan, Stephen Chong, Thiên Kim, Khánh Lan,
Tú Anh, Vee Hương, Mạnh Bổng, Tam Quang, Ngoan Nguyễn, Chiêu Lưu, Ngọc.LIÊN NHÓM NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN

Mạnh Bổng, Khánh Lan, Thanh Châu, Hoài Anh. 
John Tạ, Khánh Lan, Ánh Tuyết, Bá Thu. 
Hùng Ngọc, Tuyết Nga, Khánh Lan, GS Dương Ngọc Sum 
Hạnh Nguyễn, Khánh Lan, GS Dương Ngọc Sum,
NS Dương Hồng Anh, NV Nguyễn Quang
Từ trái sang phải: NV Nguyễn Quang, Ngọc Quỳnh, John Tạ, GS Dương Ngọc Sum, Thanh Hương, Khánh Lan, Henry Lương, Minh Nguyễn, Hùng Ngọc. CỰU SINH VIÊN KINH THƯƠNG MINH ĐỨC, SAIGON

Từ trái sang phải: Nguyễn Văn Viễn (K5), Tố Đoan (K2), (K4) Ngọc Phượng, Hoa Vinh, An Ninh. GIA ĐÌNH

Từ trái sang phải: Gia Quang, Thanh Toàn, Ngoan Nguyễn, Rũng Trương,
Stephen Chong, Thiên Kim, Mỹ Hạnh, Minh Tuấn, Ngọc Phượng. -
VĨNH BIỆT NHÀ THƠ VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM

NHÀ THƠ VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM (1930-2022) 
Vài hàng về nhà thơ Việt Cường-Lưu Tấn Lâm.
Thi nhân Lưu Tấn Lâm lấy bút hiệu là Việt Cường, ông sinh năm 1930 tại làng Hương Cát, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Việt Nam. Ông sáng tác thơ từ thuở lên 10 và gồm nhiều thể loại thơ khác nhau như thơ lục bát, thơ thất ngôn bát cú, thơ tự do và Đường thi. Năm 1954, ông cùng vợ và các con di cư vào Nam, an cư lập nghiệp tại phố Hòa Hưng, Sài Gòn. Năm 1992, ông sang đoàn tụ tại miền Nam California và sống cùng với vợ chồng người con trai lớn là Lưu Mạnh Bổng.
Ông là em trai út trong gia đình có năm chị em, với bốn người chị lớn. Mẹ ông mất sớm từ khi ông mới bốn tháng tuổi và vợ ông mất năm bà 49 tuổi khi ông ở tuổi 53. Chính vì vậy mà trong thơ của ông luôn phần nào phảng phất sự mất mát và hình bóng của người mẹ với sự khao khát tình mẫu tử và nỗi lòng thương tiếc người vợ hồng nhan bạc phận… Thi nhân có 8 người con và 22 đứa cháu nội & ngoại.Ngày 26 tháng 01, 2022, thi nhân qua đời trong giấc ngủ an bình lúc 1:50 chiều trên tay người con trai trưởng Mạnh Bổng và sự hiện diện của con dâu Khánh Lan, khiến người viết chạnh nhớ đến một bài thơ ông sáng tác năm 1988 với tựa đề “CHẾT” trích trong Tuyển tập 30 Nhà thơ Việt Nam, do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian ấn hành được cho là bài thơ định mệnh của Nhà thơ Việt Cường-Lưu Tấn Lâm.
CHẾT
Xuôi tay nhắm mắt thế là thôi
Danh trả non sông, lợi trả đời
Thân thể chẳng còn vương tục lụy
Tâm hồn chắc hẳn thoát trần ai
Không gian vơi dịu không yêu ghét
Chẳng nợ nần chi, chẳng khóc cười
May, rủi, hơn, thua không dại hết
Thiền quang phó mặc tháng ngày trôi.
(Tháng Năm, 1988)Thi nhân tưởng nhớ đến người vợ bạc mệnh qua bài thơ “Tấm Ảnh”.

NGƯỞI VỢ NĂM NAO TẤM ẢNH
Vẫn là tấm ảnh năm nào
Quê hương hai chữ nói sao nên lời
Gần thì gang tấc đó thôi
Quan san cách trở phương trời xa xăm
Mẹ hiền nay đã biệt tăm
Ánh tà dương mãi chiếu nhằm trước sân
Chậu hoa đó phong trần mấy độ
Cụm phong lan dãi gió dầm mưa
Ra đi để lại vần thơ
Bao nhiêu năm trước bây giờ còn đây.

NT VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM & CÁC CON Trong những ngày xa vắng các con (1975-1992) thi nhân ở lại Việt Nam khi các con đã vượt biên và định cư tại Hoa Kỳ, trong nỗi thương nhớ các con ông đã sáng tác nhiều bài thơ, bài “Nhớ Con” là một trong số ấy. Đây là bài thơ ông viết ngày mùng sáu Tết 1983, viết cho Mạnh Bổng khi con trai đi di tản tháng Tư 1975.
NHỚ CON
Gửi trong câu hát tiếng đàn
Nỗi tâm tư với muôn vàn nhớ mong
Chiều chiều tựa cửa ngóng trông
Chim trời cá nước trăng lồng bóng sân
Trăng ơi trăng sáng vô ngần
Nhớ con nhớ cả dấu chân hôm nào
Bạn cố tri ơi! hỡi con ơi!
Ra đi chẳng được một lời hỏi han
Ngồi đây nước mắt chứa chan
Thương mình thì một, thương con thì mười
Thôi thế cũng xong một kiếp người, Việt Hải thay mặt toàn thể các thành viên trong Liên nhóm NVNT & TTG, nguyện cầu hương linh bác sớm an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng.
Việt Hải, California Jan. 28, 2022
LÁ THƯ CẢM TẠ TỪ MẠNH BỔNG & KHÁNH LAN
Kính Thưa Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu,
Chúng em, Mạnh Bổng & Khánh Lan vô cùng cảm động và chân thành cám ơn Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh chị Em và Thân Hữu đã gởi lời chia buồn cũng như gọi phone cho chúng em để chia sẻ với chúng em về sự mất mát lớn lao trong gia đình. Thân phụ chúng em, tức nhà thơ Việt Cường Lưu Tấn Lâm đã ra đi trong an bình thanh thản trên tay của anh Mạnh Bổng lúc 1:50 chiều ngày 26 tháng 01, 2022. Nhà thơ Việt Cường đã chung sống với chúng em gần 20 năm nay, Cụ rất khỏe mạnh và không hề có bệnh gì cho đến khoảng một năm nay, sức khỏe của Cụ yếu dần nhất là một tháng trước khi mất.
Những lời chia buồn, những điện thoại gọi đến chia sẻ thân tình của Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh chị Em và Thân Hữu là nguồn an ủi tinh thần sâu đậm đối với gia đình chúng em mà chúng em sẽ luôn ghi nhớ mãi trong ký ức.
Christmas 2021 là bữa tiệc cuối cùng Nhà thơ Việt Cường đến chung vui cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Có lẽ đây cũng là lời từ biệt của Nhà thơ Việt Cường gởi gấm đến tất cả chúng ta bởi khi còn sinh tiền, Cụ rất yêu mến Liên Nhóm và nhắc đến chúng ta luôn.
Mạnh Bổng & Khánh Lan xin gởi đến Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu tấm hình sau cùng nhà thơ Việt Cường chụp trong bữa tiệc Christmas 2021 của Liên Nhóm.

NVNT & TTG’S CHRISTMAS PARTY 12/12/2021 (Khánh Lan, Mạnh Bổng, NT Việt Cường) Trong ba ngày qua đã có rất nhiều email gởi đến, thông báo trên TV, Radio, Báo chí và điện thoại từ mọi nơi gọi chia buồn cũng như Cô Kiều Mỹ Duyên đã cho phát thanh trên đài Little Saigon TV. Tất cả lời phân ưu thân tình của quý GS, quý Văn Thi Sĩ, các anh chị em và thân hữu đều quý và quan trọng đối với Mạnh Bổng & Khánh Lan, MB & KL xin khắc ghi vào tâm khảm. Tuy nhiên, nếu ghi nhận hết tất cả các email phân ưu vào trang Website này thì không đủ chỗ, vì thế Mạnh Bổng & Khánh Lan chỉ xin chia sẻ và ghi lại đây hai bài thơ “tiễn đưa” vô cùng cảm động, chắc hằn lời và ý thơ trong hai bài này sẽ làm rơi lệ những người con vừa tiễn bước chân CHA hoặc MẸ về nơi an nghỉ ngàn thu.
Mạnh Bổng & Khánh Lan xin cám ơn đến những thân tình của bạn bè & thân hữu đã dành cho gia đình chúng tôi.
NV Việt Hải là bạn đồng môn với Mạnh Bổng tại trường Đại Học Kinh Thương Minh Đức, Saigon từ năm 1972-1975 và họ giữ mãi tình bạn cho đến nay, thấm thoát đã 50 năm qua (1972-2022). NV Việt Hải rất mến NT Việt Cường bởi nụ cười hiền hòa, thân thiện luôn nở trên môi, bởi những dòng thơ “Có hồn” chứa chất vị ngọt ngào, tha thiết của yêu thương. Phải nói họ rất hợp nhau về lãnh vực thơ phú. NV Việt Hải đã nhiều lần trao đổi về ý thơ với NT Việt Cường và ông cho rằng: “Áng thơ của thi sĩ Việt Cường rất có ý nghĩa.”
Dưới đây là hai bài thơ TIỄN BIỆT BÁC VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM/TIỄN BÁC VIỆT CƯỜNGcủa NV Việt Hải:
TIỄN BIỆT BÁC VIỆT CƯỜNG LƯU TẤN LÂM
Tiễn chân từ giả vạn sầu
Biệt ly xa cách nhớ nhau nghìn trùng
Bác đi thanh thản ung dung
Việt Nam quê mẹ trùng phùng kiếp sau
Cường nhân thi phú thuở nào
Lưu danh chữ nghĩa thơ trao thi tài
Tấn Lâm, kính bác chia tay
Lâm danh thi sĩ hôm nay giã từ!
TIỄN BÁC VIỆT CƯỜNG
Tiễn Bác quá cửu thập niên qua
Luật trời sinh ký tử quy gia
Âm dương cách biệt nay giã từ
Một kiếp vui buồn chỉ sát na
Sinh bệnh lão tử thiên thu định
Nghiệp duyên ba sinh kiếp gần xa
Đời vô thường phù vân phiêu lãng
Khấn nguyện bác khỏi chốn ta bà.
Việt Hải, California Jan. 28, 2022

Nhà thơ Việt Cường thứ #2 hàng ngồi bên phải (đội mũ nồi/béret casquette plate), giữa Lưu Mạnh Bổng và Trần Việt Hải. NT Tha Nhân đã họa bài thơ “VÔ THƯỜNG AI BIẾT” để tiễn đưa Hương Hồn thi nhân về cõi vĩnh hằng.
Kính Gởi Thi Nhân Việt Cường Hưởng Đại Thọ 92 Tuổi
Trước nỗi mất mát to lớn này của KHÁNH LAN và Phu Quân Lưu Mạnh Bổng. Tha Nhân thành thật chia buồn với gia đình hai em cùng tang quyến. Nguyện cầu Hương Linh cụ Ông Việt Cường LƯU TẤN LÂM sớm về cõi vĩnh hằng.
Trong phần Tiểu Sử của cụ ông nhà thơ VIỆT CƯỜNG, có bài thơ thất ngôn Đường luật ’Ngày Xuân Khai Bút’’, Tha Nhân rất thích vì đã có những đồng cảm nên không thể không họa.Bởi vậy Tha Nhân có bài họa sau đây, như một nén tâm nhang đưa tiễn Hương Hồn Cụ VIỆT CƯỜNG về cõi vĩnh hằng:
Bài xướng:
NGÀY XUÂN KHAI BÚT
Xuân về khai bút để mua vui
Cũng chẳng ham khen, chẳng ngại cười
Phú quý tặng riêng phường trắng mắt
Uy quyền chớ để bọn thâm môi
Ngựa cày không nhuyễn, trâu chê dở
Trâu chạy chưa hay, ngựa bảo tồi
Trái ngược chuyện đời xuân có biết?
Xuân tô nhân thế bớt màu vôi
(Việt Cường-Lưu Tấn Lâm)
Bài họa:
VÔ THƯỜNG AI BIẾT!!
Đôi chữ chào Xuân chúc cứ vui
Nghe qua bỏ hết miệng mỉm cười!
Công danh gió thoảng ngoài tầm mắt
Phú quí mây bay thoáng nhếch môi
Ghen ghét thói đời hay hóa dở
Thị phi nhân thế giỏi thành tồi
Vô thường cõi tạm nào ai biết
Mọi chuyện đỏ đen chẳng khác vôi!!
(Tha Nhân Kính phụng họa Cam thành Jan 27th, 2022)

Một lần nữa Mạnh Bổng & Khánh Lan chân thành cám ơn Quý Thầy Cô, Quý Văn Thi Sĩ, Các Anh Chị Em và Thân Hữu.
Kính Quý,
Mạnh Bổng & Khánh Lan
-
Tất Niên 2019 & 2021 NVNT
2021
2019
-
Khi người nữ viết truyện trinh thám hình sự.
Đôi Lời Phi Lộ
Ai đã từng đọc những chuyện trinh thám đều biết rằng, bất kỳ câu chuyện nào cũng làm cho chúng ta say mê nhờ nội dung của các câu chuyện quá kỳ bí, hồi hộp, ghê rợn và lắm lúc kết cuộc thật đau lòng. Vì vậy, các tác giả của những chuyện trinh thám phải là những nhà văn có những đặc tính như thích phiêu lưu mạo hiểm, thích dấn thân, thích tò mò và nhất là trí tưởng tượng rất mạnh đến tuyệt vời, lắm lúc hơn cả tuyệt vời!. Họ thường rất thông minh, lanh lẹ, năng động, hoạt bát. Lắm lúc họ xông xáo vào đời một cách liều lĩnh, nhiều lúc rất ngoạn mục. Nhờ thế những tác phẩm của họ được thai nghén bằng những dữ kiện thật kỳ bí, hấp dẫn, thật ly kỳ và hồi hộp. Thế nên lắm lúc đọc các tác phẩm trinh thám của họ, ta cảm thấy như bị nghẹt thở, sởn da gà, cảm thấy như dựng tóc gáy, rụng rời tay chân!
Tuy nhiên, cho dù những người nào có năng khiếu thiên phú đi nữa, nhưng một khi muốn hành nghề thám tử để điều tra tôi phạm, người ta phải học qua những khoá học chuyên môn về nghiêp vụ này. Thế nên ngay từ đầu, tác giả đã cố ý trang bị cho nữ thám tử Lê Minh trong cốt chuyện bằng những khoá học như phải tốt nghiệp Cao học Criminal Justice, hoàn thành khoá đào tạo của Học viện Cảnh sát và sẽ gia nhập Lực Lượng Tư Pháp Tội Phạm Sát Nhân.
Điểm qua một số nhà văn trên thế giới với những tác phẩm của họ viết về chuyện trinh thám, ta thấy rất nhiều nhà văn nam cũng như nữ, đã để lại cho đời những tác phẩm thật hấp dẫn và lâm ly, thật ngoạn mục và hồi hộp đến toát mồ hôi hột. Chẳng hạn như văn sĩ người Anh Ian Flaming với điệp viên 007 lừng danh nhất thế giới, văn sĩ Conan Doyle với tác phẩm nổi tiếng Sherlock Holmes, nữ văn sĩ Agatha Christie với tác phẩm Án Mạng Trên Sông Nile, nhà văn Da Brown với tác phẩm Mật Mã Davinci, tác giả Lôi Mễ với tác phẩm Đề Thi Đẫm Máu, nữ văn sĩ Gillian Flyn với Cô Gái Mất Tích, nhà văn Shannon Mc Kenna với Đứng Trong Bóng Tối, nhà văn Thomas Harris với Sự Im Lặng Của Bầy Cừu, nhà văn Thuỵ Điển Stieg Larsson với Cô Gái Có Hình Xăm Rồng, nhà văn Truman Capote với Máu Lạnh, nhà văn Nhật Minato Kanae với Thú Tội, nhà văn Nesbo với Chim Cổ Đỏ, nhà văn Việt nam Phạm Cao Cũng với Chiếc Gối Đẫm Máu, Vết Tay Trên Trần, nhà văn Thế Lữ với tác phẩm Lê Phong và Mai Hương, Gói Thuốc Lá, Đòn Hẹn, Tay Đại Bợm.
Đặc biệt trong bài đôi lời phi lộ này, tôi muốn đề cập đến những nhà văn nữ viết về chuyện trinh thám. Ai cũng biết rằng phái nữ thường được mệnh danh là phái liễu yếu đào tơ với những đặc tính nhu mì, hiền hậu thường chỉ thích đọc và viết về những chuyện tình yêu lãng mạn, những chuyện tình buồn vời vợi, khi thì nức nở sầu thương, khi thì giận hờn tiếc nuối để rồi biệt ly và xa nhau, chứ ít khi viết về những chuyện đánh đấm, võ thuật, múa may quay cuồng, đâm chém giết nhau, thịt rơi máu đổ; hay những tác phẩm liên quan đến hình sự, điều tra tội phạm, nói chung là các chuyện phản gián, chuyện gián điệp, chuyện tình báo.v v…Vậy mà trong những nhà văn nữ của thế giới nói chung và của Việt nam nói riêng, có một nữ văn sĩ Việt nam ở hải ngoại đã dấn thân bất chấp thân phận là liễu yếu đào tơ đã quyết chí hoàn thành một tác phẩm về chuyện trinh thám để cống hiến cho độc giả một tác phẩm trinh thám tuyệt vời.
Đó là nữ văn sĩ Khánh Lan với tác phẩm“Tuyển Tập Truyện Trinh Thám”. Được biết nhà văn Khánh Lan đã tốt nhiệp Cử nhân …..Sau đó bà ta tiếp tục học và đã lấy luôn văn bằng Cao học về tâm lý và xã hội học. Nhờ thụ giáo được những kiến thức về tâm lý và xã hội học tại đại học, nhờ giàu óc tưởng tượng cực mạnh, nhờ sẵn có đặc tính thật bén nhạy trước những án mạng ngoại cảnh, cũng như nhờ có óc sáng tạo và rất thông minh, cùng với những lý luận thật sắc bén và vững chắc cho từng sự việc qua những phương pháp như tam đoạn luận, song quan luận, liên châu luận; cũng như những phương thức điều tra tôi phạm của một thám tử tác giả cũng đã thấm nhuần như Tư duy phản biện (Critical thinking); Giao tiếp bằng văn bản (Written communication); Giao tiếp bằng miệng (Oral communication); Hành vi đạo đức (Ethical behavior); Sự chú ý đến chi tiết (Attention to detail); Hiểu biết sâu sắc về hành vi và tâm lý con người (Keen understanding of human behavior and psychology), nên tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám” của nhà văn Khánh Lan đã trở thành bất hủ, có một không hai trong nền văn chương Việt nam hải ngoại hiện nay, đặc biệt về những chuyện trinh thám. Điểm qua 10 chuyện trinh thám trong tác phẩm này, ta thấy chuyện nào cũng thật hấp dẫn khiến độc giả đọc đến say mê. Càng đọc càng thấy hồi hộp đến sởn tóc gáy, nổi da gà. Nhiều tình tiết trong vài cốt chuyện thật éo le, khi thì hạnh phúc vô biên bỗng kết cuộc quá thảm sầu, khi thì giàu sang phú quý nhưng rồi lại rơi vào vòng lao lý vì ghen tỵ và muốn đoạt gia tài đến độ quá độc ác ( trong Hai Chị Em: Joey Rodriguez giết vợ chồng anh cột chèo Tara và Mathew Taylors rồi xô xuống biển), khi thì yêu nhau đắm đuối nhưng rồi phản bội đến kinh hoàng (trong Mối Tình Oan Nghiệt: Jimmy Smith và Roberto Rivera cắt cổ gia đình ông Christpher Adams 6 người, hay trong Tình Luỵ : Margarita Cruz phản bội Michael Albertini nên bị Michael giết bởi chất độc Antifreeze), khi thì tĩnh táo khám bệnh cho bệnh nhân vì là một bác sĩ đáng kính, nhưng ai ngờ bác sĩ ấy lại trở thành một kẻ sát nhân vì loạn trí nên không kiểm soát được hành động của mình khi mắc bệnh tâm thần (trong Điệp Vụ Cuối Cùng Với McBride: bác sĩ Allan Figuerola là kẻ đã giết hụt thám tử Lê Minh, thật kinh hoàng). Lắm lúc tìm ra được thủ phạm do gặp may (!) như nhờ báo mộng (trong Oan Hồn Báo Mộng: bà Sophia Garcia nằm mộng được bà Pamela cillpam Mơlan báo cho biết thủ phạm là ai). Riêng trong chuyện “Điệp Vụ Cuối Cùng Với McBride”, chúng ta mới biết tác giả rất thông thạo về một bệnh kỳ lạ mà ít khi ta nghe nói đến. Đó là bệnh “Rối Loạn Đa Nhân Cách hay Rối Loạn Nhận Dạng Phân Ly”. Theo tác giả thì: “Đây là một chứng bịnh tâm thần Rối loạn đa nhân cách (Multiple personality disorder/MPD) hay Rối loạn nhận dạng phân ly (dissociative identity disorder/DID). Một chứng tâm bịnh mà bệnh nhân không nhận biết được là mình đã làm gì và chuyện gì đã xẩy ra cho họ. Họ bị rơi vào tình trạng lẫn lộn (confuse) và không biết đâu là thật và đầu là giả. Có những nghi vấn cho rằng đây là bịnh giả vờ để chạy tội. MPD hay DID là sự mất kết nối giữa suy nghĩ, ký ức, cảm xúc, hành động hoặc ý thức của một người về con người của họ. Sự khác biệt giữa những hành vi phân ly hàng ngày và MPD hay DID gây ra bởi trải qua một kinh nghiệm đau thương, chẳng hạn như tai nạn, thảm họa hoặc nạn nhân của tội phạm. Sự phân ly có thể giúp tinh thần một người thoát khỏi nỗi sợ hãi, đau đớn và kinh hoàng, điều này khiến họ khó có thể nhớ hoặc kể lại chi tiết những hành vi hay kinh nghiệm đau thương sau này.”Ngoài những tình tiết éo le, oái ăm của từng câu chuyện, ta thấy tác giả rất thông thạo về những phương thức khám phá khác để tìm ra thủ phạm như xử dụng máy nói sự thật bằng một cuộc kiểm tra tiến hành với máy nói dối còn được gọi là bài kiểm tra PDD (psychophysiological detection of deception), lấy mẫu giảo nghiệm DNA, nhờ các nhân chứng tại hiện trường v v. Tác giả lại còn thông thạo về những chất hoá học trong nghiệp vụ ( trong chuyện Tình Luỵ) nên nhờ đó giúp cho thám tử McBride và Lê Minh tìm ra được thủ phạm dễ dàng: thí dụ như chất độc Antifreeze tức là Mechanical coolant. Đây là một loại chất độc gồm chất Ethylene Glycol Methanol và Propylene. Hợp chất nầy không có màu, không mùi vị rất nguy hiểm. Hay là thuốc lắc estacy còn được gọi với nhiều tên khác nhau như Methylenedioxy-metham-phetamine hay MDMA. Theo tác giả, đây là một loại thuốc gây nghiện bất hợp pháp có tác dụng kích thích và gây ảo, tăng cường năng lực và sự tỉnh táo. Tuy nhiên chất MDMA có tác dụng làm cho não sản xuất quá mức lượng serotonin, dopamine và norepinephrine khiến người sử dụng có cảm giác hứng khởi, vui vẻ giúp giảm sự trầm cảm và lo âu. Tuy nhiên tác giả cũng cho biết nếu xử dụng loại thuốc này thường xuyên lại trở nên trầm cảm, lú lẫn, giấc ngủ bị rối loạn.

Đặc biệt trong câu chuyện trinh thám cuối cùng mang tựa đề “Giấc Mơ Hạnh Phúc”, tác giả đã làm cho độc giả cảm thấy bỡ ngỡ và ngạc nhiên rằng, tại sao thám tử McBride và người đẹp điệp viên Lê Minh lại không cùng nhau kết tóc xe tơ sau mấy mươi năm đi với nhau bên cạnh cuộc đời, đã cùng nhau vào sinh ra tử chia ngọt xẻ bùi với biết bao thăng trầm khắc khoải; khi thì hồi hộp lo âu, khi thì trầm tư mặc tưởng, khi thì thức khuya dậy sớm để cùng nhau giải quyết những điệp vụ đầy hiểm nguy. Đọc tiếp những dòng cuối cùng của câu chuyện, độc giả sẽ biết rằng có lẽ vì đã dấn thân vào nghề trinh thám này nên thám tử McBride và điệp viên Lê Minh đã thấy con người không thoát khỏi được tham sân si nên thường hay phạm tội, để rồi phải rơi vào vòng lao lý, lắm lúc kết thúc bằng những cái chết đầy oan nghiệt và thật đau lòng. Vì chứng kiến hằng ngày những cái chết chóc đau buồn đó nên quá chán ngán cho tình đời, hay chẳng nghe được lời ân ái nào từ người đẹp Lê Minh nên thám tử McBride đã quyết định từ giả cõi đời bằng một phát súng lúc tuổi đã “thất thập cổ lai hy”. Khi được tin McBride tự sát, người đẹp điệp viên Lê Minh đã ngỡ ngàng đến sửng sốt để rồi cuối cùng, nàng liền quyết định xuống tóc đi tu, có lẽ vì cảm thấy bơ vơ lạc lõng giữa cuộc đời vì hình bóng người mà nàng yêu thầm nhớ trộm cuối đời đã ra đi không bao giờ trở lại chăng? Với kết cuộc như trên, tác giả đã mượn triết lý của thi hào Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều để kết luận thật tuyệt vời cho tác phẩm “Tập Truyện Trinh Thám” của bà ta. Đó là: Tu là cõi phúc, tình là dây oan.
Nếu sánh vai với một vài nữ văn sĩ viết chuyện trinh thám trên thế giới, ta thấy nữ văn sĩ Khánh Lan cũng có thể ngang hàng với họ không chừng. Thí dụ như nhà văn Tana French với tác phẩm In the woods, Edgar. Nhà văn Megan Abbott với những tác phẩm The fever, Dare me, The end of everything. Nhà văn Daphne Du Maurier với tác phẩm Rebecca. Nhà văn Camilla Lackberg với những tác phẩm Isprinsessan (the Ice Princess), Predikanten (the Preacher), Olycksfagelon.
Nhà văn Tess Gerritsen với tác phẩm Call after Midnight, Peggy Sue Got Murdered, The Bone Garden.
Nhìn chung, tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám” này là một tác phẩm rất có giá trị cho ngành tội phạm hình sự theo đó, những ai mới bắt đầu vào nghề hay đang hành nghề thám tử, gián điệp, cần nên đọc để trau giồi thêm kiến thức nghề nghiệp và rút tỉa kinh ngiệm quý báu trong lúc hành nghề.
Tóm lại, với tác phẩm “Tuyển Tập Truyện Trinh Thám”, nữ văn sĩ Khánh Lan đã để lại cho đời một kiệt tác về văn chương Việt nam tại hải ngoại, đặc biệt trong lãnh vực về chuyện trinh thám, rất hấp dẫn, thật hồi hộp, đọc xong sẽ nổi da gà và dựng tóc gáy ngay. Tôi xin trân trọng giới thiệu với độc giả khắp năm châu tác phẩm trinh thám thật tuyệt vời này.
California, ngày 20 tháng 02 năm 2021.
Dương viết Điền.
(Hình ảnh trong bài lấy từ nguồn Wikipedia)
-
Kỷ Niệm Sau Cùng Với GS-NS Trần Quang Hải trên màn ảnh Jimmy Show
-
Nhớ Trần Quang Hải
Việt Hải Los Angeles
Tôi xúc động khi Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo thông báo hung tin GS. TS. Trần Quang Hải đã ra đi ở Paris được 3 tiếng, tôi nghe tin mà lòng se thắt, dù biết là căn bệnh anh mang là loại nan y. Tôi và Trần Quốc Bảo trao đổi những kỷ niệm trong chuyến Cali du 2019 do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian mời tham dự buổi lễ vinh danh người nhạc sĩ tài hoa được thế giới công nhận về ngành Âm nhạc Dân tộc học (L’ethnomusicologie). Sự nghiệp âm nhạc học và nghiên cứu âm nhạc học của Giáo sư Trần Quang Hải vượt ra ngoài giới hạn của đất nước Việt Nam, nơi ông chào đời. Loại nhạc bao bao gồm Âm nhạc Việt Nam, tức Phương Đông, từ Âm nhạc truyền thống Việt Nam thuộc mọi thể loại, đến nền âm nhạc của người Thượng ở vùng Tây Nguyên Việt Nam. Nhạc đã vượt ra ngoài biên giới xứ sở để phổ biến những khía cạnh tuyệt vời của Di sản âm nhạc của các quốc gia khác nhau trải dài từ Đông Nam Á đến Trung Á để vươn xa đến tận nước Do Thái, rồi Trung Âu đến Tây Âu.

GS. TS. Trần Quang Hải (1944-2021)
GS. Phạm Hồng Thái đã phỏng vấn và thu thập tài liệu về GS. Trần Quang Hải để ấn hành bộ sách song ngữ Anh Việt để đời Trần Quang HẢi-50 Năm NghiÊn Cứu Nhạc Dân Tộc Việt / 50 Years of Research in Vietnamese Traditional Music and Overtone Singing.
Ngoài ra GS.Quyên Di của đại học California State University at Long Beach cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi lễ ra mắt sách Trần Quang Hải thật trang trọng vào ngày 10 tháng 2, 2019 tại trường đại học CSU-Long Beach, California.

Lời Nói Đầu
Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm NVNT và TTG đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới. Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc Việt Nam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu.
Với cuộc sống ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra dòng chính thế giới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa vào các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo, về những nghiên cứụ và tham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong phạm vi dân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là thành viên SACEM (Society of Authors, Composers and Publishers of Music) và ông cũng được trao tặng bảo quốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp.
Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón nhận như một tác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người nhạc sĩ độc đáo của chúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầu truyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau. Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần Quang Hải.



NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH
Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019
PHAN ANH DŨNG biên soạn :
Link tham khảo: https://tranvankhe-tranquanghai.com/2020/05/27/phan-anh-dung-bien-soan-nhac-si-tran-quang-hai-ra-mat-sach-o-nam-california-thang-2-2019/
Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải giúp tôn vinh âm nhạc Việt Nam Trần Quang Hải là một nhạc sĩ tài năng sống ở Pháp và đã tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại 65 quốc gia trên thế giới. Với cha mình, giáo sư nổi tiếng Tiến sĩ Trần Văn Khê, và vợ ông, ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến, ông đã đóng góp trong nhiều năm để nghiên cứu, quảng bá và tôn trọng âm nhạc Việt Nam. Trần Quang Hải sinh ra trong một gia đình có năm thế hệ nhạc sĩ ở miền Nam Việt Nam. Cha của ông, Giáo sư Trần Văn Khê, nổi tiếng vì đã giúp quảng bá âm nhạc Việt Nam truyền thống trên khắp thế giới và tôn vinh nó trong các lĩnh vực nghiên cứu và biểu diễn.
Ông Hải tốt nghiệp từ Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn trước khi định cư tại Pháp để học tập và nghiên cứu âm nhạc tại Đại học Sorbonne và nhạc dân tộc học tại Đại học Khoa học Xã hội ở Paris. Ông bắt đầu nghiên cứu về âm nhạc phương Đông tại Bảo tàng Man vào năm 1968.
Năm sau, ông Hải được bổ nhiệm vào vị trí tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia trong khi vẫn còn là sinh viên. Anh quyết định tập trung vào kỹ thuật ca hát âm nhạc, mà anh đã phát hiện vào năm 1969. Nghệ thuật, bao gồm cả việc sản xuất hai âm thanh đồng thời từ cổ họng, khiến anh nổi tiếng trên toàn thế giới như chuyên gia số một trong ca hát âm nhạc.
« Sau nhiều tháng nghiên cứu, tôi đã phát triển một hệ thống các phương pháp để ca hát âm nhạc, » nhà âm nhạc dân tộc học nói. « Cho đến nay, tôi đã có 8.000 người học cho chủ đề này ở 65 quốc gia. »
Giáo sư Quang Hải đã nhận được hơn 30 giải thưởng quốc tế cho các nghiên cứu âm nhạc của mình. Năm 2002, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã trao Huân chương Danh dự cho Tiến sĩ Hải để ghi nhận những đóng góp của ông cho nghiên cứu về ca hát âm nhạc trên thế giới. Một bậc thầy về âm thanh, nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng hầu như có thể chơi nhiều nhạc cụ truyền thống Việt Nam như đàn tam thập lục 16, violin hai chord, sáo và thậm chí cả cái muỗng. (Anh ấy đã mang lại rất nhiều cải tiến cho kỹ thuật trò chơi muỗng.)
Tiến sĩ Quang Hải thấy mình là một sự pha trộn của một số loại âm nhạc – Đông và phương Tây, truyền thống và đương đại. Âm nhạc của anh ấy không có biên giới. Anh nói anh đã tạo ra một tầm nhìn toàn cầu về thế giới và âm nhạc Việt Nam. Nó nhằm mục đích kết hợp tất cả các thể loại âm nhạc truyền thống trong một thế giới âm nhạc điển hình.
Mặc dù ông đã sống ở nước ngoài được 45 năm, ông Hải luôn nhìn về quê hương của mình với một cảm giác đặc biệt. Ông thực hành lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Phiên dịch viên soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống một cách nhiệt tình mà còn nỗ lực bảo tồn nó. Anh đã tổ chức 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của đất nước. Người đàn ông chuyên dụng cũng đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại Pháp, Ý và Hoa Kỳ.
Giáo sư Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc các loại, bao gồm ca hát và âm nhạc cho các nhạc cụ truyền thống Việt Nam.
Nhà khoa học nổi tiếng đã viết nhiều bài báo và sách cho các tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được xuất bản trên từ điển New Grove.
Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (Mỹ) và Kế hoạch chính thức ( Pháp).
Xin xem link sau:
Cảm nhận của GS. Quyên Di khi nghe tin:
Anh Việt Hải ơi,
Nhớ về anh Trần Quang Hải. Anh thêm giúp tôi ngày tổ chức và những người dự buổi lễ vinh danh anh Trần Quang Hải nhé. Đừng quên Giáo sư Hikoki Tahara bay từ Nhật sang dự lễ.
“Nhạc sĩ Trần Quang Hải là một nhân tài của nền tân nhạc Việt Nam. Ông xuất sắc cả về lý thuyết âm nhạc lẫn sử dụng nhạc cụ. Ai đọc qua tiểu sử rút gọn của ông cũng thấy ông nhận được quá nhiều giải thưởng quốc tế về âm nhạc.
Chính vì muốn vinh danh những nhân tài gốc Á châu, phân khoa Nghiên Cứu về Người Á Châu và Người Mỹ Gốc Á Châu của Đại Học CSU Long Beach đã quyết định trao bằng vinh danh Nhạc Sĩ Việt Nam Trần Quang Hải trong một buổi lễ long trọng được tổ chức tại giảng đường khoa Tâm Lý Học vào ngày lễ.
Bà khoa trưởng, giáo sư tiến sĩ Teri Yamada đã cử tôi đại diện phân khoa trao bằng vinh danh cho ông. Hầu hết các thành viên của liên nhóm Nhân Văn Nghệt Thuật và Tiếng Thời Gian đã có mặt trong buổi lễ vinh danh này, trong đó phải kể đến….”
Bạn bè ra đi nhiều quá! Buồn!
Quyên Di, Đại học California State Long Beach.


Nhà thơ Hà Nguyên Du xem tin buồn trên Facebook kể kỷ niệm vui khi đến thăm NS.Trần Quang Hải tại căn resort house của GS. Trần Mạnh Chi gần biển Huntington Beach, hôm ăn phở 54, uống cà phê Starbucks, những kỷ niệm vui. Nhà văn Nguyễn Quang, Chinh Nguyên, Khánh Lan, Nhạc trưởng Nguyên Hồng kể kỷ niệm. Họp mặt tiếp Trần Quang Hải tại tư gia Melinda Lan và Lưu Mạnh Bông, party tại tư gia NS. Lam Phương, rồi tư gia Nguyễn Quang, tư gia Việt Hải, những hôm chuyện trò bù khú ở cửa tiệm HanaMaru Japanese Sushi Bars, Hủ tiếu Triều Châu, Mì La Cay, Habit Burger Grill,…
Hôm nay bạn bè được tin anh Trần Quang Hải, anh chị em Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và thân hữu văn nghệ sĩ xúc động, buồn lưu luyến, xin chia buồn cùng chị Bạch Yến và cháu Minh Tâm, cùng anh Trần Quang Minh và gia quyến. Nguyện cầu hương linh anh Trần Quang Hải sớm về cõi Vĩnh Hằng an bình ngàn thu.
Trần Việt Hải, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian.
——————————————————————–
Giáo sư Trần Quang Hải qua đời ở tuổi 78 tại Pháp.

GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến chụp ảnh cùng Tổng thống Pháp Jacques Chirac năm 200 
Theo thông tin từ gia đình Giáo sư – tiến sĩ Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải, giáo sư vừa qua đời lúc 0h ngày 29-12, tại Pháp.
Kiến trúc sư Trần Quang Minh – em trai Giáo sư, tiến sĩ Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải – thông tin với Tuổi Trẻ Online, giáo sư Trần Quang Hải mất lúc 0h ngày 29-12, tại Pháp, hưởng thọ 78 tuổi.
Ông Trần Quang Minh cho biết, anh trai ông lúc tối đi ngủ, và ngủ luôn không dậy nữa.
Giáo sư Trần Quang Hải đang trong thời gian điều trị bệnh ung thư máu. Trước đó, ngày 23-12, trong lễ ra mắt Quỹ học bổng Trần Văn Khê tại Trường đại học Văn Lang (quận Bình Thạnh, TP.HCM) nhân kỷ niệm 100 năm sinh giáo sư Trần Văn Khê; giáo sư Trần Quang Hải có quay clip gửi về Việt Nam chia sẻ về tâm nguyện mong muốn lập quỹ học bổng của cha mình.
Giáo sư Trần Quang Hải sinh ngày 13-5-1944 tại làng Linh Đông Xã – Gia Định. Ông là con trai trưởng của Giáo sư Trần Văn Khê và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn Trường nữ trung học Gia Long.
Giáo sư Trần Quang Hải qua đời ở tuổi 78 tại Pháp .
Ông Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17-6-1978 tại Paris (Pháp). Sau khi thành hôn với ông Trần Quang Hải, bà Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới. Giáo sư Trần Quang Hải là cựu học sinh Trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Sài Gòn với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), ông sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại Trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở Trường cao đẳng Khoa học xã hội (École des Hautes Etudes en Sciences Sociales).
GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến chụp ảnh cùng Tổng thống Pháp Jacques Chirac năm 2002. Giáo sư Trần Quang Hải bắt đầu làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với êkip nghiên cứu tại Viện Dân tộc nhạc học của Viện Bảo tàng con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ năm 1968 cho tới 2009 thì về hưu. Ông đã trình diễn trên 3.500 buổi tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại.
Giáo sư Trần Quang Hải cũng thực hiện 23 đĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết 3 quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới.
“Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng, jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ” – Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ trên blog cá nhân của ông.
Xuất thân trong một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và Trần Quang Hải là nhạc sĩ đời thứ năm, ông đã theo gót cha, Giáo sư Trần Văn Khê, trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học, tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh.
Giáo sư Trần Quang Hải bị bệnh ung thư máu năm 2017 và tích cực điều trị đến nay. Năm 2019, ông bệnh trở nặng và được chẩn đoán bệnh sưng phổi và suy thận. Bên cạnh đó, ông còn mắc bệnh tiểu đường mãn tính.
(Tin VN).
Việt Hải, Los Angeles
12/2021 -
TRẦN QUANG HẢI & QUÁCH VĨNH THIỆN
(Nhờ bạn Mùi chuyển cho hai chị BẠCH YẾN & THANH VÂN! Cám ơn bạn!)ĐỂ THƯƠNG, TRỌNG & BIẾT ƠN
TRẦN QUANG HẢI & QUÁCH VĨNH THIỆN
HAI BẠN HỌC Ở TRƯỜNG PETRUS KÝ
Quách Vĩnh Thiện & Trần Quang Hải năm 2005
Vương Đằng
Sáng 29/12 (tin báo không chính xác!) tôi đã khóc trong khi thông báo điện thoại cho bạn Lê Trường Xuân, trưởng nhóm hay đại diện lớp 1956-1963 Petrus Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn và một bạn khác không muốn đề tên, về sự ra đi vĩnh viễn của bạn Trần Quang Hải, giáo sư tiến sĩ nổi tiếng khắp thế giới (nhứt là ở Pháp).
Nhân tiện, tôi viết bài lưu niệm nầy cho cả hai bạn học của tôi ở Petrus Ký là Trần Quang Hải và Quách Vĩnh Thiện mà hai năm trước bạn Hải và vợ là nữ ca sĩ Bạch Yến đã đưa bạn Thiện về cõi hư vô và có gởi hình cho tôi.
Bạch Yến, Trần Quang Hải và Thanh Vân (vợ của QVT)
Tuy nhiên, tôi xin phép viết về bạn Thiện trước theo thứ tự thời gian ra đi và sự quen biết của tôi với bạnThiện trước bạn Hải và dùng chữ “bạn” trước tên họ dù rằng thuở xưa chúng tôi gọi nhau bằng “mầy” và xưng “tao” vì cả ba chúng tôi đều là người miền Nam.
Quách Vĩnh Thiện
Chúng tôi học chung hai lớp 7F và 6F ở trường Petrus Ký trong hai năm 1956-1958. Nhưng qua tháng 3, 1957 tôi mới dọn nhà về Gia Định ở gần nhà của bạn Thiện. Tôi nhỏ hơn bạn Thiện một tuổi và bạn tôi cao và mập mạp hơn tôi nhiều thuở bấy giờ.
Nhà của bạn Thiện ở đường Ngô Tùng Châu (như một biệt thự đơn giản trên đất rộng khoảng 30m x 50m, hàng rào kẽm sơ sài) cách Ngã Ba Cầu Cống (Gia Định) độ 1km và hồ tắm Chi Lăng độ 1km5; nhà tôi ở khu Xóm Đình, vô sâu đến chỗ Xóm Ruộng, nhà tôi ở cuối xóm. Tuy nhà của chúng tôi cách nhau non 3 cây số nhưng tôi rất thích đạp xe đến để nói chuyện âm nhạc, nhạc cụ và thỉnh thoảng tôi khoái thọt hay leo lên hái vài trái trứng cá chín mùi mà bạn Thiện còn nhớ nên nhắc ở E-mail hồi âm từ bên Pháp sau hơn 50 năm hai chúng tôi không thấy nhau.
Tôi chỉ biết tổng quát ba má bạn Thiện là công chức và có dịch vụ tương đối khá giả, có xe hơi. Thuở bấy giờ, sống chung trong nhà bạn Thiện có anh trai là anh Quách Vĩnh Trường (mà thỉnh thoảng tôi cũng có nói chuyện đôi chút, về sau anh trở thành thương phế binh anh hùng nổi tiếng trước 1975 và chắc hiện còn sống ở Gia Nã Đại hay Hoa Kỳ), một em gái kế và hai em trai. Hai người mà bạn Thiện thường hãnh diện nói đến và cho coi hình ảnh là hai cậu Lương Vinh Sanh và Lương Vinh Diệu đều là nhạc sĩ và dạy nhạc ở Mỹ Tho và tôi tin chắc rằng tài nghệ âm nhạc nổi danh của bạn Thiện về sau là cũng nhờ ơn dạy dỗ chút ít của hai cậu khi Thiện chưa qua lớp đệ nhị cấp trung học (lớp Đệ Tam hay lớp 10 bây giờ). Bấy giờ tôi chỉ mới bắt đầu học măng cầm với giáo sư Trần Anh Tuấn nổi tiếng nhứt về đàn nầy ở lớp nhạc tư trong phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện gần sau lưng rạp hát Nguyễn Văn Hảo và sau đó học tiếp môn nầy với nhạc sĩ Hương Tử vốn tốt nghiệp môn nầy với thầy Tuấn trước kia; còn bạn Thiện thì đã đàn khá cả măng cầm và Tây ban cầm.
Bạn Thiện tuy là con nhà giàu, nhưng ăn nói và đối xử với bạn học bình dân và chân thật bởi thế tôi, con nhà nghèo và trong hoàn cảnh không may (ba bạo lực và có dì ghẻ khó chịu—xin xem đính kèm!) đã chơi thân với bạn Thiện. Trung bình mỗi tháng tôi đạp xe lên nhà bạn Thiện ít nhứt một lần để nói chuyện văn nghệ, tập đàn với nhau; thỉnh thoảng bạn Thiện san sẻ cho tôi bánh, trái trong gia đình mà một học trò nghèo như tôi gần như lúc nào cũng cần thiết; tình bạn học và văn nghệ giữa tôi và bạn Thiện càng ngày càng thân. Ngoài ra, vì nhà nghèo, tôi làm gì có tiền mua dĩa nhạc ngoại quốc để nghe (tôi đã rồi biết nghe nhạc ngoại quốc từ khi mới 4-5 tuổi khi sống với má tôi ở Thị Nghè bên kia Sở Thú Sài Gòn) nên nhà bạn Thiện là nơi tôi may mắn có dịp để nghe.
Kể từ tháng 9, 1958, tôi lên lớp 5C, còn bạn Thiện lên lớp Đệ Ngũ nào tôi không nhớ nên chúng tôi gần như không còn cơ hội gặp nhau. Tôi không biết gia đình bạn Thiện dọn về đường Vườn Chuối bên hông chợ Vườn Chuối năm nào; mãi đến năm 1962 tôi mới biết và đôi khi tôi có ghé thăm bạn Thiện ở nhà mới và cũng còn gặp anh Quách Vĩnh Trường. Sau khi thành lập ban nhạc Les Fanatiques với các ca sĩ Công Thành, Tới, Helena, v.v., bạn Thiện trở thành thần tượng của tôi, nhứt là khi bạn Thiện trổ tài biểu diễn cây ghi-ta điện sau lưng. Trong đặc san Tết Quí Mão (1963) mà tôi là trưởng ban báo chí toàn trường Petrus Ký (vì tôi học lớp duy nhứt 1C chuyên ban văn chương và sinh ngữ), tôi thích nhứt bài “Chất Học Sinh” (trang 9-10) của bạn Thiện.
Đến cuối mùa Hè 1964, bạn Thiện qua Pháp du học. Trước khi đi, bạn có cho tôi địa chỉ sẽ sang cư ngụ ở Paris mà tôi còn giữ đến bây giờ (nhưng để bên Hoa Kỳ trong khi tôi viết bài nầy ở Sài Gòn!). Năm 1979, từ thành phố Nữu-Ước tôi qua Pháp lần đầu tiên để thăm má tôi, tôi có kiếm nhà của bạn Thiện nhưng bạn đã dọn đi nơi khác nên tôi không có dịp tái ngộ với người bạn xa xưa.
Mãi đến khoảng năm 2013, tôi mới có dịp liên lạc lại với bạn Thiện qua E-mail, và mỗi tuần Thiện chắc đã nhận những tài liệu hữu ích mà tôi sưu tầm, phổ biến và tôi cũng đã gởi những tác phẩm do tôi sáng tác như thơ, văn và nhạc đã đăng trên Google , Youtube và vài mạng khác. Tôi cũng đã giới thiệu tựa của hơn 10 cuốn sách của tôi đã được xuất bản ở Hoa Kỳ và Việt Nam, nhưng tôi chắc bạn Thiện quá bận sáng tác và trình diễn văn nghệ nên không có thì giờ cho các tác phẩm của tôi.
Dù là kỹ sư toán, nhưng Quách Vĩnh Thiện đã được người Pháp công nhận tài năng âm nhạc nên được phong chức Viện sĩ của Viện Hàn Lâm Âm Nhạc (?) Pháp. Tôi rất khâm phục bạn Thiện hy sinh, kiên nhẫn trong 5 năm (2005-2009) cho công trình phổ nhạc Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du gồm 7 CDs, được Unesco xem như di sản văn hóa nhân loại và phổ nhạc thi phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc của bà Đoàn Thị Điễm qua 2 CDs trong 2 năm 2010-2011. Ngoài ra, bạn Thiện còn sáng tác nhiều CDs nhạc tâm linh, v.v..
Tóm lại, bạn Thiện và tôi đã học chung lớp và san sẻ bao nhiêu kiến thức âm nhạc trong non 2 năm (thật ra, tôi học nhiều ở bạn Thiện trong giai đoạn nầy); sau đó, dù ít gặp nhau và sau 1964 thì không còn gặp nhau nữa, nhưng tình bạn chung lớp và văn nghệ vẫn luôn gần nhau. Có một điều tôi phải công nhận là tài âm nhạc của Quách Vĩnh Thiện hơn tôi quá xa và lý tưởng phục vụ âm nhạc của bạn Thiện cũng hơn tôi nhiều và rất đáng trọng.
Trần Quang Hải
Bạn Hải và tôi học chung lớp 5C, 4C và nửa năm lớp 3C cho đến khi bạn được ba là giáo sư Trần Văn Khê rước sang Pháp.
Khi còn học chung 2 lớp đầu, tôi thật sự không biết ba của Hải là ai mà chỉ biết má của Hải đang làm giám thị ở trường nữ trung học Gia Long thời đó.
Nhà của Hải ở trong hẽm Xóm Chùa (bấy giờ chưa đặt tên đường cho hẽm nầy), đâm ra đường Trần Quang Khải độ 200m và cách đường Hai Bà Trưng độ 250m. Từ tháng 9, 1958 (tôi học lớp 5C) đến tháng 1, 1959, đang đi hoang, sống tự lập, buổi sáng tôi lo bán bắp rang trong khu vực đường Nguyễn Tri Phương và Lý Thái Tổ nên coi như tôi không biết hay không quan tâm đến bạn Hải học chung lớp. Từ tháng 2, 1959 (đã trở về nhà trong tháng 1, 1959), tôi nhớ là có thì giờ đi đây đó nên tôi có đến nhà của bạn Hải chơi khoảng 2-3 lần, một lần được bạn kéo vĩ cầm cho tôi nghe khá hay nhưng tôi không hề biết bạn đang học ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc về môn nầy; bạn cũng mời tôi ăn bánh trái trong nhà và tôi thích nhứt là được bạn Hải cho nghe ké dăm dĩa nhạc ngoại quốc phổ thông và cổ điển như khi ở nhà bạn Thiện. Từ đầu tháng 9 năm 1959 đến Hè 1960, ngoài giờ học tôi quá bận với chuyện mưu sinh trong Giải Trí Trường Thị Nghè nên không còn thời gian để giao du với bạn bè, bởi thế chúng tôi chỉ thấy nhau trong giờ học mà thôi.
Qua tháng 9, 1960, tôi không còn mưu sinh ở Giải Trí Trường Thị Nghè nữa, chúng tôi vẫn học chung lớp 3C, nhưng tôi lại quá lo việc học hành nên mỗi tuần ba bốn lần vào Thư Viện Quốc Gia cũ ở góc đường Gia Long (bây giờ là Lý Tự Trọng) và Tự Do (bây giờ là Đồng Khởi) để sưu tầm và học hỏi nên gần như chúng tôi không còn gặp nhau cho đến một ngày các bạn trong lớp cho biết rằng bạn Hải đã qua Pháp.
Mùa Hè 1979, tôi sang Pháp để thăm má tôi và các em lần đầu tiên và tôi vô cùng ngạc nhiên và thán phục thấy và nghe những dĩa cổ nhạc Miền Nam do giáo sư Trần Văn Khê và bạn Hải trình bày, khi thì độc tấu, khi thì song tấu hay toàn ban hòa âm. Bấy giờ tôi cũng có phần nào hãnh diện có người bạn học giỏi và tài tình như thế. Tôi đem các dĩa giới thiệu với bà con ở bên Pháp, chứ không có thời gian để đi tìm gặp bạn Hải hay Thiện vì tôi đang làm việc ở thành phố Nữu-Ước, chỉ được nghỉ phép qua Pháp 2 tuần thôi.
Độ đầu năm 2011, giáo sư Trần Văn Khê có tổ chức một buổi văn nghệ ngay tại tư gia của ông ở gần chợ Bà Chiểu với sự tham dự của bạn Hải và vợ là ca sĩ Bạch Yến từ bên Pháp về. Tôi được bạn Hải thông báo nên đã mướn xe tắc-xi để đi với bạn gái ở thành phố Biên Hòa xuống. Biệt thự của giáo sư tuy rộng rải nhưng phòng trình diễn thì quá nhỏ cho một buổi văn nghệ có tiếng tăm. Tôi và bạn gái đến đúng giờ nhưng vẫn phải đứng nghe ở ngoài hành lang. Bạn Hải và tôi có gặp nhau ở ngoài sân sau, nhưng chỉ trau đổi một hai câu xã giao rồi bạn Hải phải trở vô tiếp tục trình diễn. Quá mõi chân cho một người ở tuổi đã về hưu như tôi phải đứng coi nên khoảng nửa tiếng sau thì tôi và bạn gái tự động kêu xe đã mướn trở về Biên Hòa.
Đầu tháng 2, 2015, bạn Hải nhờ tôi dịch bài về “Hát Bài Chòi” từ Việt văn qua Anh văn (13 trang) và tôi đã giúp. Mỗi tuần bạn Hải đều nhận ít nhứt 5 E-mails của tôi và thỉnh thoảng tôi cũng nhận một E-mail của bạn Hải. Ngày 20/12/21 tôi nhận E-mail trong đó bạn Hải mặc đồ Ông Già hát và thổi “the Jew’s harp” bài “We wish you a merry Christmas and a happy New Year” và ngày 21/12/21 tôi lại nhận E-mail của Hải với tựa “meilleurs voeux pour un joyeux NOEL” trong đó bạn Hải hát bài “JINGLE BELLS WITH THE OVERTONE SINGING”. Nước mắt của tôi trào ra khi nghe bạn hát bài thứ hai nầy vì không ngờ đời quả vô thường và từ nay tôi không bao giờ thấy hay gặp bạn Hải của mình nữa.
Những ai quan tâm đến cổ nhạc, nhứt là cổ nhạc Nam phần, hãy tin rằng chúng ta sẽ KHÔNG bao giờ tìm lại được một Trần Quang Hải thứ hai với di truyền gia đình, tài nghệ, kiên nhẫn và tấm lòng và chúng ta nên biết nhớ ơn giáo sư, tiến sĩ Trần Quang Hải (cộng với sự phụ tá của vợ là ca sĩ Bạch Yến) đã trình diễn và truyền bá cổ nhạc Việt Nam khắp bốn phương trời trong hơn 40 năm qua.
*
Tôi trọng cả hai bạn học của tôi vì căn cứ vào tiểu sử cũng như hoạt động suốt đời, tôi tin rằng bạn Quách Vĩnh Thiện và bạn Trần Quang Hải là hai cá nhân sống lương thiện mà với tôi ai sống lương thiện là người được sự kính trọng của tôi bất kỳ người đó giàu, nghèo, có tài hay bất tài.
Tạ ơn Trời, Phật, Chúa hay Thượng Đế đã cho tôi có hai người bạn học như Quách Vĩnh Thiện và Trần Quang Hải để tôi thương, trọng và nhớ ơn; và chắc chắn sớm muộn gì tôi cũng nối gót theo hai bạn Thiện và Hải.
Vương Đằng
(Trưa Thứ Ba 04/01/22 là lúc dự định hỏa thiêu bạn Hải ở Pháp)
—
NGUYEN Van Mui– -
Nhớ Trần Quang Hải

GS. TS. Trần Quang Hải (1944-2021) Tôi xúc động khi Nhạc sĩ Trần Quốc Bảo thông báo hung tin GS. TS. Trần Quang Hải đã ra đi ở Paris được 3 tiếng, tôi nghe tin mà lòng se thắt, dù biết là căn bệnh anh mang là loại nan y. Tôi và Trần Quốc Bảo trao đổi những kỷ niệm trong chuyến Cali du 2018 do Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian mời tham dự buổi lễ vinh danh người nhạc sĩ tài hoa được thế giới công nhận về ngành Âm nhạc Dân tộc học (L’ethnomusicologie). Sự nghiệp âm nhạc học và nghiên cứu âm nhạc học của Giáo sư Trần QuangHải vượt ra ngoài giới hạn của đất nước Việt Nam, nơi ông chào đời. Loại nhạc bao bao gồm Âm nhạc Việt Nam, tức Phương Đông, từ Âm nhạc truyền thống Việt Nam thuộc mọi thể loại, đến nền âm nhạc của người Thượng ở vùng Tây Nguyên Việt Nam. Nhạc đã vượt ra ngoài biên giới xứ sở để phổ biến những khía cạnh tuyệt vời của Di sản âm nhạc của các quốc gia khác nhau trải dài từ Đông Nam Á đến Trung Á để vươn xa đến tận nước Do Thái, rồi Trung Âu đến Tây Âu.
GS. Phạm Hồng Thái đã phỏng vấn và thu thập tài liệu về GS. Trần Quang Hải để ấn hành bộ sách song ngữ Anh Việt để đời Tran Quang Hai-50 Nam Nghien Cuu Nhac Dan Toc Viet. Book Cover 10-7-18.jpg, by Lulu Printing.
Ngoài ra GS.Quyên Di của đại học California State University at Long Beach cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian đã tổ chức buổi lễ ra mắt sách Trần Quang Hải thật trang trọng.
cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian tổ chức
Ngày ra mắt sách 10 tháng 2, 2019 tại trường đại học CSU-Long Beach, California, USA
Tháng 2, 2018 Chiều Văn Hóa CSU-LB (Sunday) và vinh danh GS. TQH Paris.

Ngày 2 thàng 10, năm 2018
Lời Nói Đầu
Ban Biên Tập chúng tôi thật hân hạnh thay mặt cho liên nhóm NVNT và TTG đứng ra thực hiện Tuyển Tập Trần Quang Hải mang tên là « Trần Quang Hải : 50 năm nghiên cứu nhạc dân tộc Việt »; để vinh danh và tri ân người nhạc sĩ đã có những đóng góp quý giá vào kho tàng dân tộc nhạc thế giới và đã đào tạo nhiều môn đệ tiếp nối bước chân ông ở nhiều đại học trên thế giới. Nhạc sĩ kiêm giáo sư tiến sĩ Trần Quang Hải đã đưa chi nhánh âm nhạc Việt Nam trong dòng dân tộc nhạc học góp mặt ở khắp năm châu.
Với cuộc sống ở nước ngoài gần nửa thế kỷ, GS. Hải luôn muốn đưa cái hay của Việt Nam ra dòng chính thế giới. Ông làm phiên dịch viên khi soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống mà còn chủ trương nỗ lực bảo tồn nó. Ông góp mặt tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra ông đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại hải ngoại. Giáo sư Trần Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc về các loại như thanh nhạc ca hát và âm nhạc dựa vào các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. GS. Hải còn viết nhiều bài biên khảo, về những nghiên cứụ và tham luận về âm nhạc dân tộc học cho nhiều tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết này của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được ghi nhận lại trong từ điển New Grove. Trong phạm vi dân tộc nhạc học GS. Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (ở Mỹ và Pháp). Giáo sư Trần Quang Hải còn là thành viên SACEM (Society of Authors, Composers and Publishers of Music) và ông cũng được trao tặng bảo quốc huân chương (Ordre National de la Légion d’Honneur) của Pháp.
Do vậy Ban Biên Tập chúng tôi hoàn thành tập sách này với mục tiêu ghi nhận sự đóng góp quý báu của GS/TS Trần Quang Hải. Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật và Tiếng Thời Gian mong rằng quyển sách này sẽ được quý độc giả các nơi đón nhận như một tác phẩm tham khảo trong kho tàng văn hóa Việt Nam về người nhạc sĩ độc đáo của chúng ta, với công trình tích cực là duy trì và bảo tồn văn hóa Việt, hầu truyền đạt đến những thế hệ tiếp nối bản sắc dân tộc Việt cho ngày sau. Trong tinh thần đó, Ban biên tập chúng tôi chân thành tri ân ông: GS/TS Trần Quang Hải.
Thay mặt,
GS. Dương Ngọc Sum, Cố vấn.
NHÂN VĂN NGHỆ THUẬT & TIẾNG THỜI GIAN.



PHAN ANH DŨNG biên soạn : NHẠC SĨ TRẦN QUANG HẢI RA MẮT SÁCH Ở NAM CALIFORNIA – Tháng 2, 2019 Link tham khảo: https://tranvankhe-tranquanghai.com/2020/05/27/phan-anh-dung-bien-soan-nhac-si-tran-quang-hai-ra-mat-sach-o-nam-california-thang-2-2019/
Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải giúp tôn vinh âm nhạc Việt Nam Trần Quang Hải là một nhạc sĩ tài năng sống ở Pháp và đã tổ chức hơn 3.000 buổi hòa nhạc tại 65 quốc gia trên thế giới. Với cha mình, giáo sư nổi tiếng Tiến sĩ Trần Văn Khê, và vợ ông, ca sĩ nổi tiếng Bạch Yến, ông đã đóng góp trong nhiều năm để nghiên cứu, quảng bá và tôn trọng âm nhạc Việt Nam. Trần Quang Hải sinh ra trong một gia đình có năm thế hệ nhạc sĩ ở miền Nam Việt Nam. Cha của ông, Giáo sư Trần Văn Khê, nổi tiếng vì đã giúp quảng bá âm nhạc Việt Nam truyền thống trên khắp thế giới và tôn vinh nó trong các lĩnh vực nghiên cứu và biểu diễn.
Ông Hải tốt nghiệp từ Nhạc viện Quốc gia Sài Gòn trước khi định cư tại Pháp để học tập và nghiên cứu âm nhạc tại Đại học Sorbonne và nhạc dân tộc học tại Đại học Khoa học Xã hội ở Paris. Ông bắt đầu nghiên cứu về âm nhạc phương Đông tại Bảo tàng Man vào năm 1968.
Năm sau, ông Hải được bổ nhiệm vào vị trí tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia trong khi vẫn còn là sinh viên. Anh quyết định tập trung vào kỹ thuật ca hát âm nhạc, mà anh đã phát hiện vào năm 1969. Nghệ thuật, bao gồm cả việc sản xuất hai âm thanh đồng thời từ cổ họng, khiến anh nổi tiếng trên toàn thế giới như chuyên gia số một trong ca hát âm nhạc.
« Sau nhiều tháng nghiên cứu, tôi đã phát triển một hệ thống các phương pháp để ca hát âm nhạc, » nhà âm nhạc dân tộc học nói. « Cho đến nay, tôi đã có 8.000 người học cho chủ đề này ở 65 quốc gia. »
Giáo sư Quang Hải đã nhận được hơn 30 giải thưởng quốc tế cho các nghiên cứu âm nhạc của mình. Năm 2002, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã trao Huân chương Danh dự cho Tiến sĩ Hải để ghi nhận những đóng góp của ông cho nghiên cứu về ca hát âm nhạc trên thế giới. Một bậc thầy về âm thanh, nhà nghiên cứu âm nhạc nổi tiếng hầu như có thể chơi nhiều nhạc cụ truyền thống Việt Nam như đàn tam thập lục 16, violin hai chord, sáo và thậm chí cả cái muỗng. (Anh ấy đã mang lại rất nhiều cải tiến cho kỹ thuật trò chơi muỗng.)
Tiến sĩ Quang Hải thấy mình là một sự pha trộn của một số loại âm nhạc – Đông và phương Tây, truyền thống và đương đại. Âm nhạc của anh ấy không có biên giới. Anh nói anh đã tạo ra một tầm nhìn toàn cầu về thế giới và âm nhạc Việt Nam. Nó nhằm mục đích kết hợp tất cả các thể loại âm nhạc truyền thống trong một thế giới âm nhạc điển hình.
Mặc dù ông đã sống ở nước ngoài được 45 năm, ông Hải luôn nhìn về quê hương của mình với một cảm giác đặc biệt. Ông thực hành lòng yêu nước theo cách riêng của mình. Phiên dịch viên soạn nhạc không chỉ nghiên cứu âm nhạc truyền thống một cách nhiệt tình mà còn nỗ lực bảo tồn nó. Anh đã tổ chức 3.000 buổi hòa nhạc tại hơn 60 quốc gia để giới thiệu âm nhạc đa dạng của đất nước. Người đàn ông chuyên dụng cũng đã sản xuất hơn 30 đĩa CD âm thanh và video về âm nhạc Việt Nam tại Pháp, Ý và Hoa Kỳ.
Giáo sư Quang Hải đã sáng tác hơn 400 bài hát và âm nhạc các loại, bao gồm ca hát và âm nhạc cho các nhạc cụ truyền thống Việt Nam.
Nhà khoa học nổi tiếng đã viết nhiều bài báo và sách cho các tạp chí nổi tiếng thế giới như The World of Music (UNESCO), Tạp chí Xã hội Âm nhạc Châu Á (Đại học Cornell, Hoa Kỳ), Cahiers de Musiques Tradionnelles (Thụy Sĩ) và Tạp chí Koukin (Tokyo, Nhật Bản). Các bài viết của ông về âm nhạc Việt Nam và châu Á cũng đã được xuất bản trên từ điển New Grove.
Nhà âm nhạc dân tộc Trần Quang Hải là một thành viên của nhiều hiệp hội nghiên cứu âm nhạc tại Hoa Kỳ, Pháp, Anh và Bỉ. Ông đã từng là diễn giả khách mời tại hơn 100 trường đại học trên khắp thế giới và đã trao hơn 1.500 bài phát biểu cho sinh viên ở các trường châu Âu. Tiến sĩ Hải cũng đã tham dự hơn 130 lễ hội âm nhạc quốc tế. Tên của ông đã xuất hiện trong nhiều cuốn sách, bao gồm cả Từ điển Tiểu sử Quốc tế (Anh), Quốc tế Ai là Âm nhạc (Anh), 500 Lãnh đạo Châu Âu cho Thế kỷ Mới (Mỹ) và Kế hoạch chính thức ( Pháp).
Xin xem link sau:
Cảm nhận của GS. Quyên Di khi nghe tin:
Anh Việt Hải ơi,
Nhớ về anh Trần Quang Hải. Anh thêm giúp tôi ngày tổ chức và những người dự buổi lễ vinh danh anh Trần Quang Hải nhé. Đừng quên Giáo sư Hikoki Tahara bay từ Nhật sang dự lễ.
“Nhạc sĩ Trần Quang Hải là một nhân tài của nền tân nhạc Việt Nam. Ông xuất sắc cả về lý thuyết âm nhạc lẫn sử dụng nhạc cụ. Ai đọc qua tiểu sử rút gọn của ông cũng thấy ông nhận được quá nhiều giải thưởng quốc tế về âm nhạc.
Chính vì muốn vinh danh những nhân tài gốc Á châu, phân khoa Nghiên Cứu về Người Á Châu và Người Mỹ Gốc Á Châu của Đại Học CSU Long Beach đã quyết định trao bằng vinh danh Nhạc Sĩ Việt Nam Trần Quang Hải trong một buổi lễ long trọng được tổ chức tại giảng đường khoa Tâm Lý Học vào ngày lễ.
Bà khoa trưởng, giáo sư tiến sĩ Teri Yamada đã cử tôi đại diện phân khoa trao bằng vinh danh cho ông. Hầu hết các thành viên của liên nhóm Nhân Văn Nghệt Thuật và Tiếng Thời Gian đã có mặt trong buổi lễ vinh danh này, trong đó phải kể đến….”
Bạn bè ra đi nhiều quá! Buồn!
Quyên Di, Đại học California State Long Beach.


Nhà thơ Hà Nguyên Du xem tin buồn trên Facebook kể kỷ niệm vui khi đến thăm NS.Trần Quang Hải tại căn resort house của GS. Trần Mạnh Chi gần biển Huntington Beach, hôm ăn phở 54, uống cà phê Starbucks, những kỷ niệm vui. Nhà văn Nguyễn Quang, Chinh Nguyên, Khánh Lan, Nhạc trưởng Nguyên Hồng kể kỷ niệm. Họp mặt tiếp Trần Quang Hải tại tư gia Melinda Lan và Lưu Mạnh Bông, party tại tư gia NS. Lam Phương, rồi tư gia Nguyễn Quang, tư gia Việt Hải, những hôm chuyện trò bù khú ở cửa tiệm HanaMaru Japanese Sushi Bars, Hủ tiếu Triều Châu, Mì La Cay, Habit Burger Grill,…

Hôm nay bạn bè được tin anh Trần Quang Hải, anh chị em Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian và thân hữu văn nghệ sĩ xúc động, buồn lưu luyến, xin chia buồn cùng chị Bạch Yến và cháu Minh Tâm, cùng anh Trần Quang Minh và gia quyến. Nguyện cầu hương linh anh Trần Quang Hải sớm về cõi Vĩnh Hằng an bình ngàn thu.

Trần Việt Hải, Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian. Giáo sư Trần Quang Hải qua đời ở tuổi 78 tại Pháp.

GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến chụp ảnh cùng Tổng thống Pháp Jacques Chirac năm 2002. Theo thông tin từ gia đình Giáo sư – tiến sĩ Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải, giáo sư vừa qua đời lúc 0h ngày 29-12, tại Pháp.

Kiến trúc sư Trần Quang Minh – em trai Giáo sư, tiến sĩ Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải – thông tin với Tuổi Trẻ Online, giáo sư Trần Quang Hải mất lúc 0h ngày 29-12, tại Pháp, hưởng thọ 78 tuổi.
Ông Trần Quang Minh cho biết, anh trai ông lúc tối đi ngủ, và ngủ luôn không dậy nữa.
Giáo sư Trần Quang Hải đang trong thời gian điều trị bệnh ung thư máu. Trước đó, ngày 23-12, trong lễ ra mắt Quỹ học bổng Trần Văn Khê tại Trường đại học Văn Lang (quận Bình Thạnh, TP.HCM) nhân kỷ niệm 100 năm sinh giáo sư Trần Văn Khê; giáo sư Trần Quang Hải có quay clip gửi về Việt Nam chia sẻ về tâm nguyện mong muốn lập quỹ học bổng của cha mình.
Giáo sư Trần Quang Hải sinh ngày 13-5-1944 tại làng Linh Đông Xã – Gia Định. Ông là con trai trưởng của Giáo sư Trần Văn Khê và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn Trường nữ trung học Gia Long.
Giáo sư Trần Quang Hải qua đời ở tuổi 78 tại Pháp .
Ông Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17-6-1978 tại Paris (Pháp). Sau khi thành hôn với ông Trần Quang Hải, bà Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới. Giáo sư Trần Quang Hải là cựu học sinh Trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Sài Gòn với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), ông sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại Trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở Trường cao đẳng Khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales).
GS Trần Quang Hải và danh ca Bạch Yến chụp ảnh cùng Tổng thống Pháp Jacques Chirac năm 2002. Giáo sư Trần Quang Hải bắt đầu làm việc cho Trung tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với êkip nghiên cứu tại Viện Dân tộc nhạc học của Viện Bảo tàng con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ năm 1968 cho tới 2009 thì về hưu. Ông đã trình diễn trên 3.500 buổi tại 70 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng, hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại.
Giáo sư Trần Quang Hải cũng thực hiện 23 đĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết 3 quyển sách, làm 4 DVD, 4 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới.
“Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng, jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ” – Giáo sư Trần Quang Hải chia sẻ trên blog cá nhân của ông.
Xuất thân trong một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời và Trần Quang Hải là nhạc sĩ đời thứ năm, ông đã theo gót cha, Giáo sư Trần Văn Khê, trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học, tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh.
Giáo sư Trần Quang Hải bị bệnh ung thư máu năm 2017 và tích cực điều trị đến nay. Năm 2019, ông bệnh trở nặng và được chẩn đoán bệnh sưng phổi và suy thận. Bên cạnh đó, ông còn mắc bệnh tiểu đường mãn tính.
(Tin VN).

-
Giáo sư âm nhạc Trần Quang Hải qua đời

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Hải. Ảnh: Facebook Trần Quang Hải Trần Quang Hải sinh năm 1944 tại TP HCM, là hậu duệ đời thứ năm của nhạc sĩ cung đình Huế Trần Quang Thọ. Bố ông là Giáo sư, Tiến sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Trần Văn Khê. Chịu ảnh hưởng gia đình, ông sớm theo đuổi âm nhạc, tốt nghiệp khoa violin trường Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, sau đó tiếp tục sang Pháp học nâng cao về nhạc cụ này. Ở Pháp, ông chuyển hướng nghiên cứu các loại nhạc cụ dân tộc khác nhau, sau đó lấy bằng tiến sĩ. Ông từng làm việc cho Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Con người (Musée de l’Homme) ở Paris.
Nhạc sĩ có nhiều nghiên cứu đặc biệt về hát đồng song thanh, phát triển kỹ thuật gõ muỗng, biểu diễn đàn môi. Ông gắn bó đặc biệt với muỗng, được đặt danh hiệu vua muỗng sau khi chiến thắng một cuộc thi gõ trong khuôn khổ Đại nhạc hội dân nhạc tại Cambridge (Anh) năm 1967. Ông từng biểu diễn gõ muỗng trong hơn 1.000 chương trình. Năm 2012, ông được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục người trình diễn đàn môi tại nhiều quốc gia nhất thế giới.

Ông Trần Quang Hải bên vợ – danh ca Bạch Yến.
Ảnh: Facebook Trần Quang HảiÔng kết hôn với danh ca Bạch Yến ở Pháp năm 1978. Cùng vợ, ông thực hiện hơn 3.000 buổi giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở 70 nước trên thế giới. Ông bà chung sống hòa thuận 43 năm, không có con chung. Ông có một con gái riêng tên Minh Tâm, cũng từng học nhạc.
Năm 2009, khi về nước biểu diễn, Bạch Yến tâm sự, bà vốn ảnh hưởng văn hóa phương Tây nhưng đam mê nhạc dân tộc nhờ tác động từ chồng. Những năm cuối đời, vợ luôn đồng hành ông chống lại bệnh tật. Dịp kỷ niệm 40 năm ngày cưới năm 2018, ông từng viết thơ tặng vợ:
“Bốn mươi năm hạnh phúc bên nhau
Kỷ niệm hôm nay lắm ngọt ngào
Chồng vợ ngày ngày chung cuộc sống
Tình yêu gìn giữ suốt đời sau!”.Nhật Thu
-
Đêm Hội Ngộ Mừng Giáng Sinh ngày 12 tháng 12, 2021 Tuyệt Vời của nhóm NVNT & TTG. Một kỷ niệm khó quên.

Kính thưa quý anh chị em,
Vui quá. Qúa vui, vui cùng các anh chị em gần như mệt nghỉ.
Cho đến hôm nay (12/15/2021) dư âm của buổi Hội Ngộ Mừng Giáng Sinh 2021 vẫn còn vương vấn trong lòng mọi người. Khai mạc cho bữa tiệc, con chim đầu đàn Việt Hải chào mừng quan khách với một trí nhớ phi thường, anh giới thiệu từng nhân vật tham dự và than gia trong đêm Hội Ngộ. Một cách lạ thường, anh đã không hề bỏ sót tên của bất cứ một vị khách nào hiện diện trong bữa tiệc.
Các vị cố vấn tham dự buổi tiệc gồm có: GS Dương Ngọc Sum, GS Quyên Di, GS Kỹ Thuật Phạm Hồng Thái.

GS Cố Vấn Kỹ Thuật Phạm Hồng Thái, GS Quyên Di, NV Nguyễn Quang, NV Việt Hài, GS Dương Ngọc Sum 
Ban Điều Hành & Tổ Chức Sau phần tổng kết về những thành quả trong năm 2021 và những dự định trong tương lai cho năm 2022 qua sự trường trình của nhà văn Việt Hải và Khánh Lan, ba MC duyên dáng: Mộng Thủy, Thụy Vy, Bích Trâm phụ trách phần giới thiệu những nhạc phẩm mừng Giáng Sinh và những bản nhạc sống động cho buổi dạ vũ. Số ca sĩ “Cây Nhà Lá Vườn” hùng hậu và một dàn nhạc gồm trống, đàn, keyboard do ban nhạc của anh Thọ Lâm bảo trợ khiến cho đêm Hội Ngộ vô cùng linh động.

Văn Nghệ Tiếng Thời Gian Một chiếc bánh mừng Giáng Sinh 2021 và mừng sinh nhật của toàn thể hội viên thuộc Liên Nhóm NVNT & TTG hòa với tiếng hát mừng một ngày vui. Sau cùng, tôi cũng không quên nhắc đến tám món ăn ngon do nhà hàng Diamond Seafood Palace đảm trách, vừa ngon vừa rẻ ($30 một phần ăn).
Nói tóm lại, đây là một đêm hội ngộ của NVNT & TTG rất thành công. Tuy nhiên, sự thành công này là do Ban Tổ Chức phải bỏ nhiều công sức và thời gian để thực hiện. Riêng về phần cá nhân tôi, tôi xin gởi đến ban tổ chức một tiếng BRAVO thật to như cái đình.

LIÊN NHÓM NVNT & TTG Nguyễn Quang
Midway City, Dec. 14, 2021
-
GÂY QUỸ YỂM TRỢ THƯƠNG PHẾ BINH VNCH, ngày 04/12/2021.
Mời các niên trưởng và các anh chị xem video (Live Stream) thu ngày 04 tháng 12, 2021 tại đài VietMedia, 57.14 do Cơ sở Hy Vọng cùng Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian gây quỹ với chủ đề “Một chút quà gởi đến các anh thương phế binh VNCH để bày tỏ lòng tri ân và sự trân trọng của chúng ta đối với các anh chiến sĩ, đã hy sinh cả cuộc đời trai trẻ để lao mình vào chiến cuộc. Dấu giầy của các anh đã in khắp 4 vùng chiến thuật, chốn rừng sâu, đèo cao, dốc hiểm, gian lao khổ cực để bảo vệ mảnh đất tự do miền nam Việt Nam.
Khánh Lan
-
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG QUA ÂM NHẠC CỦA NHẠC SĨ LÊ VĂN KHOA

Nhạc Sĩ Lê Văn KHoa & Nhà văn Dương Viết Điền Được biết nhạc sĩ Lê Văn Khoa sinh ngày 10 tháng 06 năm 1933 tại tỉnh CầnThơ. Tháng 05 năm 1975, ông sang tỵ nạn tại Mỹ sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam. Ông là một người đa năng đa hiệu trong nhiều lãnh vực. Vừa là một nhà giáo rất tận tâm, đức độ, vừa là một nhạc sĩ tài ba lỗi lạc đã từng đoạt luôn một lần hai giải thưởng sáng tác âm nhạc toàn quốc năm 1953 và giải văn học nghệ thuật toàn quốc, vừa là một nhiếp ảnh gia xuất sắc của Việt nam đã từng đoạt luôn ba giải thưởng toàn quốc trong ba năm liên tiếp 64-65. Là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, ông là người đứng ra sáng lập Hội Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật năm 1968 tại Việt Nam. Hội này cũng đã đoạt được huy chương vàng tại Áo quốc. Nhiếp ảnh gia Lê Văn Khoa là người Việt Nam đầu tiên có hình ảnh triển lãm tại Quốc Hội Hoa kỳ. Từ năm 1976 đến 1977, ông là giáo sư dạy môn nhiếp ảnh tại đại học Salisbury State College ở Maryland. Để đi vào đề tài, tôi xin được viết riêng phần “Tình yêu quê hương qua âm nhạc” của nhạc sĩ Lê Văn Khoa.
Nếu nhà soạn nhạc Ludwig Van Beethoven của Đức có rất nhiều bản nhạc ngợi ca tình yêu đôi lứa và mang nặng tình yêu quê hương như Egmont, Wellington’s Victory, Zur Namensfeier, Consecration of the House, hay Franz Peter Schubert của Áo với 600 Lieder, 9 bản Symphonis, nhạc cho Operas và cả 1000 tác phẩm chan chứa tình tự dân tộc, Richard Georg Strauss của Đức với Till Eulenspiegel’s Merry Prank, Also Sprach Zarathustra, Don Quixote, Sinfonia Domestica, An Alpine Syphony, Salome, Der Rosen Kavaliervv… bàng bạc tình hoài hương, và Dvorak của Tiệp Khắc viết rất nhiều những tấu khúc dành cho quê hương,thì những tác phẩm của nhạc sĩ Lê Văn Khoa cũng biểu lộ rất chân thật tình yêu nồng nàn quê cha đất tổ, tình tự dân tộc, tình hoài hương cũng như thường xuyên khắc khoải âu lo cho tổ quốc, quằn quại nhớ nhung chất ngất quê mẹ Việt Nam qua những tác phẩm trong các tập nhạc như “GỌI NHỚ”, “NHẠC VIỆT MẾN YÊU”, “THE BEAUTIFUL BAMBOO”, và tập “DÂN CA VIỆT NAM”. Đặc biệt trong tập nhạc “HÁT CHO NGÀY MAI” xuất bản năm 1982, ông sáng tác rất nhiều bản nhạc hướng về quê hương dân tộc với những lời ca thật chân tình chứa chan niềm thương nỗi nhớ vô biên về nước Việt Nam yêu dấu. Chẳng hạn như những lời ca “…Nếu có ai hỏi: “Em là người nước nào?” Em sẽ xin thưa rằng: “Em là người Việt nam trong máu xương; hồn linh em, gan, ruột em, óc, tim từng tế bào đây: Việt Nam” trong bài “NẾU CÓ AI HỎI”, hay là những lời như “Diệt hết lũ ác ra oai, phục hồi uy danh đất nước ngày mai. Đem bình an cho đất nước Việt Nam” trong bài “TÔI ƯỚC”, hoặc là những lời ca như “Từ khắp bốn phương trời lớp lớp đi. Tìm đến quê hương về đắp xây. Dù lắm khó khăn nào ai sá chi. Thề quyết hiến dâng tổ quốc mến yêu. Giải phóng quê hương mình”. Ngoài ra, ông còn phổ nhạc những bài ca dao Việt Nam đầy xúc động lòng người, đầy tình tự quê hương tình yêu dân tộc để nhắc nhở mọi người ở quê người đất khách luôn luôn nhớ về quê nhà đã nghìn trùng xa cách. Chẳng hạn như bài “TRÂU ƠI”, bài “CON CÒ MÀ ĐI ĂN ĐÊM”, hay bài “LẠY TRỜI MƯA XUỐNG” v.v… Tuy nhiên ta thấy rất nhiều bài, là một nhạc sĩ, ông sáng tác rất nhiều thể loại như nhạc dân ca, nhạc phổ thông và đặc biệt là những tấu khúc cho ban nhạc Đại Hợp Xướng Ngàn Khơi và Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ trình diễn. Có lẽ ông ta là người đầu tiên lồng nhac Việt Nam vào nhạc Tây phương, để cho nhạc phương Tây quyện với nhạcViệt Nam làm cho thế giới có thể biết nhạc Việt ta như thế nào, Đây là một vấn đề rất khó thực hiện và rất công phu. Ông chuyên môn sáng tác và soạn hoà âm cho dàn nhạc giao hưởng, đại hoà tấu.Vậy mà ông ta đã thành công thật tuyệt vời! Nếu ai đã từng tham dự những đêm hoà nhạc tại Fullerton năm 1978 với bài “SE CHỈ LUỒN KIM”, năm 1979 với bài “VIETNAMESE RHAPSODY”, năm 1995 với bài SYMPHONIC SUITE 1.9.7.5”, năm 1996 và 1997 với hai bài “TRĂNG RẰM” và “NGÀY HỘI” mới biết nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã tốn không biết bao nhiêu công sức để soạn hoà âm như thế nào. Sự vỗ tay hoan hô, tán thưởng nhiêt liệt của tất cả khán giả trong rạp là bằng chứng hùng hồn về sự thành công của nhạc sĩ Lê Văn khoa vậy. Tổng số những tác phẩm của ông trên dưới 600 bài. Đây là một công trình thật vĩ đại. Đặc biệt là “LULLABY” của Nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Ngoại trừ những tác phẩm diễn tả lại tình cảm của cuộc đời, tình yêu nồng nàn của cuộc sống, hai ca khúc “Dawn of my country” và “Dream of Homeland” trong “LULLABY” là những ước mơ, hoài vọng cho một quê mẹ Việt Nam được sáng ngời, một đất nước sẽ được yên vui trong thanh bình thịnh vượng. Tuy nhiên trong dòng nhạc chảy như suối nguồn của nhạc sĩ Lê Văn Khoa, nổi bật và vĩ đại nhất vẫn là SYMPHONY “VIET NAM 1975”, một đại tấu khúc viết nửa chừng rồi lại ngưng, rồi lại viết, rồi lại ngưng. Nhưng với sự quyết tâm và kiên trì theo năm tháng, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã hoàn thành xong tác phẩm vĩ đại này sau 10 năm miệt mài bên đàn piano (1985-1995) và phải đợi thêm 10 năm nữa mới được xuất hiện trên vòm trời âm nhạc hải ngoại. Và những ước mơ, những khắc khoải đêm ngày của nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa đã được toại nguyện khi SYMPHONY “VIET NAM 1975” xuất hiện như diều gặp gió và đã tha hồ lướt gió tung trời trên vòm trời âm nhạc hải ngoại như ta đã thấy; vì Kyiv Symphony Orchestra And Chorus của xứ UKRAINE đã bằng lòng thu thanh CD SYMPHONY “VIET NAM 1975” cho nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Điều nầy đã làm cho tác giả “phỉ chí tang bồng”, hạnh phúc triền miên vì ông ta đã từng ước mơ, đã từng ôm ấp hoài bão này trong một thời gian dài đằng đẳng đến 20 năm trời ròng rã. Vì thế, đây là một niềm hãnh diện vô biên cho nhạc sĩ Lê Văn Khoa nói riêng và cho nền âm nhạc Việt Nam nói chung.

Từ trái: Dương Viết Điền, Nhạc sĩ Anh Bằng, Việt Hải, nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Chính vì “Symphony Việt Nam 1975” là một đại tấu khúc tuyệt vời như vậy nên rất nhiều nhạc sĩ ngoại quốc không ngớt ca ngợi. Nhạc trưởng của dàn nhạc Kyiv Symphony Orchestra và dàn nhạc The National Ukranian Opera and Ballet là Alla Kulbaba viết: “Nhạc của Lê Văn Khoa thật tinh vi, đầy xúc động, rất mực nhân hậu thân thiết… Qua tác phẩm “Symphony Việt Nam 1975”, Lê văn Khoa chứng tỏ là nhà viết đại tấu khúc có tài. Ông dùng thể loại Tây phương nhưng đặt trên căn bản nguồn gốc quốc gia”. Riêng Tiến sĩ Nghệ Thuật Âm Nhạc Vũ Tôn Bình, ông nhận xét về nhạc sĩ Lê Văn Khoa như sau: “Đối với người cùng thời, Lê Văn Khoa luôn luôn ở đầu giới tuyến; là người đưa cao ngọn đuốc và ánh sánh của ngọn đuốc ấy sưởi ấm lòng nhiều người ở các ngã rẽ của xã hội và những khúc quanh quan trọng trong lịch sử dân Việt”. Ta hãy nghe thêm một nhạc sĩ nổi tiếng của xứ Ukraine, nữ nhạc sĩ NINA RODIONOVA, nói về nhạc sĩ Lê Văn Khoa như sau: “…You are a talented painter and a composer in one person. Each piece of your album is a picture. When I listen, I see Vietnam with its wonderful rich nature… But most important, in this music I can hear composer’s feelings, I can feel his soul. It always excited me. I’m very thankful to you for your light charming music”. (Trích từ bức thư gởi cho nhạc sĩ Lê Văn Khoa).
Ai cũng biết rằng, Richard Georg Strauss là một nhà soạn nhạc vĩ đại của Đức. Đến khi Nazi lên nắm chính quyền, rất nhiều nhà soạn nhạc không muốn cộng tác với Nazi. Nhưng Richard Georg Strauss lại hợp tác với chế độ độc tài Nazi tại hạt Third Reich và đã được Joseph Goebbels bổ nhiệm làm giám đốc Âm Nhạc Viện The Reichs-musik-kammer. Thế rồi ông ta chơi thân với các sĩ quan cao cấp của Nazi. Chính điểm này đã khiến cho rất nhiều nhà soạn nhạc không muốn nhìn ông ta nữa. Bởi vậy có lần nhà soạn nhạc đương thời là Arturo Toscanni nói về Richard Georg Strauss như sau:
“Đối với nhà soạn nhạc Strauss, tôi kính cẩn ngả nón chào. Nhưng đối với Strauss là con người, tôi lại ngoảnh mặt không nhìn ông ta nữa” (To Strauss the Composer, I take off my hat. To Strauss the Man, I put it back on again”).
Vậy thì đối với nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa, vì ông ta dứt khoát bỏ nước ra đi tìm tự do ở quê người đất khách, quyết không hợp tác với chế độ độc tài tại Việt Nam. Cho dù ở đất khách quê người, ông vẫn luôn luôn hướng về quê mẹ để rồi ngày đêm sáng tác những ca khúc hiến dâng cho quê mẹ mến yêu. Đã thế ông ta còn chống lại chế độ độc tài tại Việt Nam với bất cứ giá nào. Vì vậy tôi có thể nói giống như Arturo Toscanni nói về Strauss như đã nêu ở trên, nhưng câu thứ hai thì tôi đổi lại khác hẳn. Tôi xin được trang trọng nói rằng:
“Đối với nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa, tôi xin kính cẩn ngả nón chào. Còn đối với Lê Văn Khoa là con người, tôi cũng xin được kính cẩn ngả nón chào luôn vậy” (To Khoa Van Le the Composer, I take off my hat. To Khoa Van Le the Man, I take off my hat too).
California ngày 10 tháng10 năm 2009.
Dương Viết Điền.
-
XUÂN “TẾT” TRONG THI CA VÀ ÂM NHẠC

“Khu vườn cổ tích” Keukenhof tại thành phố Lisse của Hoà Lan
(Photo Credit: An Nhiên)Câu hỏi được đặt ra là tại sao phần lớn các thi sĩ, nhạc sĩ lại có khuynh hướng chọn mùa thu và mùa xuân để sáng tác? Phải chăng cảnh lá vàng rơi trong buổi chiều vàng đã mang đến sự rung động trong tâm hồn người sáng tác, một cảm giác rạo rực chen lẫn thổn thức của trái tim hay bởi phong cảnh hữu tình của mùa thu đã là nguồn cảm hứng cho hồn thơ lai láng vốn có sẵn trong tâm tư người thi sĩ như trong bài thơ “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư.
“Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh người chinh phu
Trong lòng người cô phụ.
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.”Và cũng bởi cái không khí tươi mát của ngày đầu xuân với cái “se se” lạnh của buổi sáng sương mù, của tia nắng ban mai ấm áp, của những bông hoa muôn màu khoe sắc thắm, của những lá non đâm cành, nở nhụy chào đón một ngày mới, đã là nguồn cảm hứng cho những tâm hồn nghệ sĩ và mơ mộng như Xuân Diệu, một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới với phong thơ mang đầy tính chất nồng nàn, thiết tha và khát khao chen lẫn hương vị ngọt ngào, ca ngợi tình yêu bằng âm thanh lãng mạn pha chút vẻ đắng cay, tuy có phần chua chát nhưng không kém phần dí dỏm. Áng thơ của Xuân Diệu luôn bộc lộ những cảm xúc mãnh liệt, rạo rực trong cảnh thiên nhiên của mùa xuân cũng như trong buổi giao mùa, không nhiều thì ít chúng ta thấy có sự ẩn hiện hình bóng của tình yêu. Chính vì thế, cái ngơn ngữ tình yêu đã làm cho những bài thơ về mùa xuân của Xuân Diệu trở nên tuyệt diệu, nhẹ nhàng và êm ái, điển hình là qua hai bài thơNụ cười xuân và Xuân Không Mùa sau đây:
“… Thiếu nữ bâng khuâng đợi một người
Chưa từng hẹn đến – giữa xuân tươi
Cùng chàng trai trẻ xa xôi ấy
Thiếu nữ làm duyên, đứng mỉm cười.”(Nụ cười xuân)
Hay:
“… Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước.
Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trời
Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi,
Như được nắm một bàn tay son trẻ…”Thật vậy, cả hai mùa thu và mùa xuân đều đáng yêu, một đề tài phong phú, một nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca, tuy nhiên trong bài viết này, tôi chỉ xin bàn về “Mùa xuân trong thi ca và âm nhạc” bởi Chúa Xuân xắp đến và mang theo hơi ấm trên toàn vũ trụ, nàng sẽ biến những ngày đông lạnh giá thành những ngày nắng ấm êm, nàng sẽ đem theo lộc non, trẩy lá xanh trên những cành cây khô trơ trụi, nàng nang đến một vườn hoa đầy hương sắc để chào đón một không gian mới. Xuân về khiến lòng người như rộn lên niềm vui, háo hức mong chờ một một năm mới với nhiều điều tốt đep.
Thơ cũng như nhạc và văn, là những nguồn giải trí lành mạnh giúp thi vị hóa cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Không những thế, văn, thơ và nhạc là nơi an toàn nhất để chúng ta ghi lại những cảm xúc qua các hình thức và tâm trạng khác nhau như hỷ, nộ, ái, ố, vốn đã tiềm ẩn sâu trong ký ức của chúng ta từ lâu. Nói một cách khác thì văn, thơ và nhạc chính là nơi để chúng ta gởi gấm niềm tâm sự như Edgar Allan Poe cho rằng “Thơ là sự sáng tạo nhịp nhàng của cái đẹp” hayJakobsom đã định nghĩa: “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh” và thi sĩ Phùng Quán của chúng ta thì lại cho rằng thơ là cứu cánh của con người những khi vấp ngã trên trường đời và điều này được tỏ rõ trong câu thơ sau đây của ông:
“Có những lúc ngã lòng.
Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy.”
Thế còn nhạc thì sao? Xin thưa, nhạc cũng chẳng khác gì thơ, Ludwig Van Beethoven, một thiên tài về âm nhạc giao hưởng (Symphony) đã tuyên bố: “Âm nhạc khiến tinh thần của con người bộc phát ra những đốm lửa.” hay Robert Schumann là một nhà soạn nhạc, một nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng của Đức và là một trong những nhà soạn nhạc lãng mạn lừng danh nhất thế kỷ 19, ông đã nhận xét về âm nhạc như sau: “Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người.” Trong làng âm nhạc Việt Nam, các nghệ sĩ sáng tác nhạc qua nhiều trạng thái khác nhau khi nói về mùa xuân hay về TẾT. Phần lớn nhà soạn nhạc thường dùng những ngôn từ hoa mỹ, vui tươi để diễn tả vẻ đẹp của mùa xuân, riêng nhạc sĩ Canh Thân (*) thì khác hẳn, ông dùng lời nhạc để nói về cảnh thiếu thốn của dân nghèo trong mỗi độ xuân về, lời lẽ chua chát, cay đắng, mỉa mai như trong nhạc phẩm Xuân Nghèo:
“… Tiền không gạo hết!
Xuân hỡi xuân! Lấy gì mà mừng xuân?
Tết với nhất không tiền cũng nhạt phèo
Xuân ơi xuân! Ơi là xuân buồn teo!
Rõ đến gớm ghê là cái mạng nghèo
Cứ ám mãi luôn bò theo…”Sau đây, chúng ta cùng nhau bàn về hai lãnh vực được các thi nhạc sĩ chú ý nhiều nhất. Đó là Xuân trong thi ca và âm nhạc.
- Xuân trong Thi ca:
Huy Cận là một trong những nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam và là một trong những thi sĩ xuất sắc nhất của phong trào thơ mới. Trong sự nghiệp văn học, ông là người đầu tiên được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn Lâm Thơ Thế giới và Chủ tịch Ủy ban Liên hiệp các Hiệp hội Văn học Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1984 đến năm1995. Phong thơ của ông mang hai trạng thái khác nhau và có khuynh hướng triết lý. Trong khoảng 1936-1940, thơ của ông mang nặng một nỗi buồn mênh mang, da diết, sầu não, hiu quạnh, buồn thương cho cuộc đời, kiếp người cũng như cho quê hương đất nước, nhưng sau này thơ của ông chuyển hướng sang nét vui tươi, yêu đời và trong sáng hơn, điều này thể hiện rõ rệt trong bài Hồn Xuân.
“… Anh khắp rừng cao xuống lũng sâu,
Tìm em, đi hái lộc xuân đầu.
Trồng đâu chân đẹp tròn như cột?
Em đẹp son ngời như cổ lâu.Nghe nhịp đời lên, em bỏ anh,
Đua theo xuân nở rộn trăm cành.
Ý mùa cũng rộn trong thân mới,
Tóc rủ bờ tơ sợi liễu mành.”Chế Lan Viên bắt đầu làm thơ khi ông còn rất trẻ, năm 17 tuổi ông xuất bản tập thơ đầu tay Điêu tàn và trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn có biệt hiệu là “Bàn thành tứ hữu” của Bình Định.
Phong cách thơ của Chế Lan Viên rất rõ nét, độc đáo, đa dạng, phong phú và phảng phất những suy tưởng nghiêng về triết lý. Một bài thơ nổi tiếng của Chế Lan Viên được nhiều người biết đến và để lại một dấu ấn khó phai trong lịch sử thi ca Việt Nam. Đó là bài thơ với tựa đề “Xuân” với hồn thơ điên loạn, vừa kinh dị vừa thần bí như tiếng khóc của đứa con trung thành với tổ quốc, như lời than cho sự rối bời bế tắc, những ngày tận cùng của một vương quốc.
Trong bài thơ “Xuân” ông nhắc đến sự điêu tàn của tháp Chàm như gởi gấm một nỗi niềm hoài cổ của Chế Lan Viên khi đối diện với xương máu, sọ người. Ẩn hiện quanh ông sự chết chóc, đau thương, mất mát của những phế tích đổ nát, diêu tàn của một triều đại. Bài thơ “Xuân” là một trong những bài thơ tiêu biểu, một cảm nhận về mùa xuân hoàn toàn khác biệt với phong thơ của các nhà thơ khác. Mùa xuân qua cái nhìn của Chế Lan Viên là những đắng cay và đau khổ, những khắc khoải đau thương, một cảm xúc mãnh liệt đang len lỏi trong mùa xuân của ông. Chính đại văn hào Nguyễn Du đã từng viết một câu thơ bất hủ khi mùa xuân không trọn vẹn, khi con người đang sống trong trạng thái u sầu và khung cảnh buồn bã:
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”
Câu thơ trên đã được thể hiện rất rõ qua tâm trạngcủa Chế Lan Viên trong bài thơ với tụa đề “Xuân” dưới đây. Trong bài thơ này, ông đã trải lòng mình trong những áng thơ bi ai, sầu thảm khi chứng kiến sự điêu tàn của tháp Chàm (thuộc kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng Hindu, Phật giáo) của dân tộc Chàm và sự xụp đổ của triều đại, đã một thời vang bóng. Chính vì thế mà có nghi vấn cho rằng ông cũng là dân tộc Chàm.
“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?
Với tôi tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã,
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Ý thu góp lại cản tình xuân?
Có một người nghèo không biết Tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn!…”Trong giai đoạn phong trào Thơ Mới phát triển với những nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Thế Lữ, v.v… thì cái tên của chàng thi sĩ tài hoa Hàn Mặc Tử xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như một hiện tượng vô cùng đặc biệt, áng thơ của ông mang một phong cách riêng, lạ và rất độc đáo. Thơ của ông là một thế giới hư hư, thực thực, u uất, một thế giới liêu trai nhuốm màu kinh thánh. Những vần thơ như ám ảnh người đọc bởi cuộc đời nhiều truân chuyên và bất hạnh của ông. (***)
Non sông ngàn dặm ngắm càng xinh
Ừ, tết năm nay thật hữu tình
Pháo nổ, nổ tan luồng thất nghiệp
Xuân về, về ghẹo khách ba sinhHoa tươi sách với Thiên Kiều gái
Cảnh đẹp dường như thuỷ mặc tranh
Cao hứng đã toan cầm bút vịnh
Đào nguyên đâu lại thoáng qua mành(Xuân Hứng)
Tết nhứt nhà ai khéo khéo bày,
Cỗ bàn sắm sửa áo quần may.
Cành bông ba bữa mang công nợ,
Tốt mặt mấy ngày phải mượn vay.Cô nọ đủ lưng chờ bóc sách,
Cậu kia móc đít được ba tây.
Ai vui cười thiệt ta cười gượng,
Lãnh đạm thà mang tiếng chẳng hay.(Ăn Tết)
Riêng tớ xuân về dạ héo von
Xa nhà xa vợ với xa con.
Hoa đào trên áo gây hương nhớ,
Tiếng pháo bên tai giục nỗi buồn.Thoi én như thêu tranh cách biệt,
Gió xuân càng lạnh kẻ cô đơn.
Người vui tấp nập mòi sung sướng,
Riêng tớ xuân về dạ héo von…(Ngày Tết Xa Nhà)
Dựa theo người viết Phù Vân-Đức Quốc, thế giới trong thơ của Thái Tú Hạp là một cõi không gian huyền diệu, u trầm, tĩnh mặc, là dấu chân hoài niệm, là ánh nắng lung linh, là tiếng suối róc rách và là nhịp rung động của trái tim. Thế giới trong thơ Thái Tú Hạp là bóng mát để ta dừng chân tạm nghỉ trên một chuyến hành trình đi tìm cõi vĩnh hằng, một chốn an lành vĩnh cửu của cỏi Thiền và trên cõi thâm sâu của Phật Giáo”.
“Sáng nay
Nghe tiếng chuông ngân thánh thiện
Mùa xuân mời gọi thiêng liêng
Như chính lòng ta vô nhiễm
Vừa thức dậy bàng hoàng…”(Vẫn Yêu Em, Mùa Xuân)
Thơ xuân của Thái Tú Hạp là những mầm xanh lá mới trong vườn thơ hạnh ngộ, xin thưởng thức đoạn thơ sau.
Trong vườn xuân hạnh ngộ
Hoàng lan hiu hắt tàn
Dấu chân về cuối phố
Nghe sầu vỡ trăm năm(Trong Vườn Xuân Hạnh Ngộ)
Xuân về nhớ Nguyễn Bính với nhưng vần thơ thấm đậm hồn quê, nỗi lòng chờ mong với những khắc khoải, nhớ thương mưa xuân trên đất Bắc, ông đã dành rất nhiều thời gian, cảm xúc và tâm tình để viết về mùa xuân. Thơ Nguyễn Bính không kén chọn độc giả và không phân biệt giai cấp, từ giới thượng lưu hay bần cùng, từ người thành thị đến kẻ thôn quê đều có cảm giác như hình bóng của mình lúc ẩn lúc hiện ở trong lời thơ của ông. Bởi chính vì thế, thơ Nguyễn Bính trở nên gần gũi và luôn được mọi người yêu chuộng.
Nguyễn Bính viết bài thơ “Mưa xuân” khi ông 18 tuổi-cái tuổi bắt đầu biết nhớ nhung và chập chững bước vào đời. Có lẽ trong cuộc đời của ông, ông yêu cũng đã nhiều và đã từng trải qua không ít thất vọng trong tình yêu, nên thơ xuân của ông có mang một chất giọng buồn bã, sầu bi. Trong bài thơ “Mưa xuân”, Nguyễn Bính đã vẽ lên một phong cảnh một làng quê thanh bình, yên vui với những sinh hoạt hàng năm trong ngày hội đầu xuân. Lồng vào trong lời thơ, ông không quên nhắc đến nỗi lòng thương con của người mẹ già và những ước mơ thầm kín của người con gái ở tuổi xuân thì. Lời thơ giản dị, chân thành, êm ái, thiết tha và man mác buồn đã làm vấn vương lòng người thưởng thức thơ, bởi chính sự diễn tả tài tình của ông qua lời trách móc nhẹ nhàng, u sầu của người con gái khi người yêu lỗi hẹn. Bài thơ này đã được nhạc sĩ Huy Thục phổ nhạc thành bài hát cùng tên và do Ca sĩ Bích hồng trình bày với giọng “Huế”. Chúng ta hãy cùng thưởng ngoạn vẻ đẹp trong nét thơ của Nguyễn Bính qua bài thơ “Mưa Xuân” dưới đây.
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay.
Lòng thấy giăng tơ một mối tình.
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh.
Hình như hai má em bừng đỏ,
Có lẽ là em nghĩ đến anh.
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn,
Em ngửa bàn tay trước mái hiên.
Mưa thấm bàn tay từng chấm lạnh,
Thế nào anh ấy chẳng sang xem.
Chờ mãi anh sang anh chả sang,
Thế mà hôm nọ hát bên làng.
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn,
Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng…
………………………………..
“… Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày!
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ Hội Đặng đi ngang ngõ,
Để mẹ em rằng hát tối nay?”Trong bài “Rượu xuân”, Nguyễn Bính đã gởi gấm niềm tâm sự qua những câu thơ thật buồn khi nâng chén rượu hồng, tiễn người yêu sang ngang. Bài thơ này đã được nghệ sĩ Thúy Mùi ngâm.
Cao tay nâng chén rượu hồng,
Mừng em, em sắp lấy chồng xuân nay.
Uống đi! Em uống cho say!
để trong mơ, sống những ngày xuân qua.
Thấy tình duyên của đôi ta,
đến đây là … đến đây là … là thôi!
Em đi dệt mộng cùng người.
Lẻ loi xuân một góc trời riêng anh.Trong những bài thơ xuân của Nguyễn Bính, chúng ta không thể nào không nói đến bài “Gái Xuân”. Đây là một bài thơ nổi tiếng của ông và đã được nhạc sĩ Từ Vũ phổ nhạc thành bài hát cùng tên và ca sĩ Quang Lê trình bày. Cũng bài hát này cũng được Paris By Night 124-Anh Cho em Mùa Xuân thực hiện qua tiếng hát của ca si Hoàng Nhung cùng sự phụ họa của đoàn vũ Thúy Nga.
“Em như cô gái hãy còn xuân,
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần,
Xuân đến, hoa mơ, hoa mận nở.
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân.
Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng.
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng,
Đôi tám xuân đi trên mái tóc.
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?”Trong bài “Xuân về nhớ cố hương” nghe như tiếng khóc của đứa con xa quê nhà trong những ngày đầu năm, nỗi cô đơn, lòng thương nhớ gia đình. Trong một bài thơ khác với chủ đề “Xuân tha hương” là một điển hình của một bài thơ hội tụ tất cả các phong cách giang hồ, tha hương, lỡ dở nhưng ông vẫn giữ được bản chất giản dị, mộc mạc của hương đồng cỏ nội, của những lễ hội trong những ngày xuân ở quê nhà (Nam Định). Nổi tiếng là một nhà thơ sáng tác những bài thơ tình đầy tính chất lãng mạn, Nguyễn Bính đã để lại cho hậu thế một sự nghiệp văn học với trên 10 tập thơ, hàng trăm bài thơ hay cũng như nhiều tập truyện thơ của các thể loại khác nhau, truyện ký và nhiều vở kịch có giá trị trong suốt 30 năm cầm bút (1936-1966). Đặc biệt là thơ của Nguyễn Bính mang đậm sắc thái dân tộc, gần gũi với những câu ca dao trong dân gian, nên rất dễ đi vào lòng người và được nhiều người Việt mến mộ.
“…….. Trót đà mang số sinh ly
Bao giờ tôi mới được về cố hương
Xuân về những nhớ cùng thương
Trời ơi! Muôn vạn dậm đường xa xôi!
Chiều ba mươi hết năm rồi
Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà
Tôi còn lận đận phương xa
Để ăn cái tết thật là vô duyên.(Xuân về nhớ cố hương)

Càng về sau này, thơ xuân càng trở nên phổ thông hơn trong dân gian, người ta làm thơ để chúc Tết, đón tân niên, chúc an lạc:
Cung chúc tân niên một chữ nhàn.
Chúc mừng gia quyến đặng bình an
Tân niên đem lại niềm Hạnh Phúc.
Xuân đến rồi hưởng trọn niềm vuiThơ chúc Tết, tài lộc, an khang, vạn sự lành:
Năm mới Tết đến
Rước hên vào nhà
Quà cáp bao la
Mọi nhà no đủ
Vàng bạc đầy hũ
Gia chủ phát tài
Già trẻ gái trai
Sum vầy hạnh phúc
Cầu tài chúc phúc
Lộc đến quanh năm
An khang thịnh vượng.Thơ chúc Tết An bình – Tài lộc – Vinh quang:
Đầu xuân năm mới chúc BÌNH AN
Chúc luôn TUỔI TRẺ chúc AN KHANG
Chúc sang năm mới nhiều TÀI LỘC
Công thành danh toại chúc VINH QUANGThơ chúc Tết dành cho đấng sinh thành:
Công ơn cha mẹ biển sâu
Con sao trả hết mái đầu phơ phơ
Xuân về cho phép con thơ
Kính chúc cha mẹ thọ như tiên trời.Thơ chúc Tết cho bạn “già”:
Năm mới chúc nhau sức khỏe nhiều
Bạc tiền rủng rỉnh thoải mái tiêu
Gia đình hạnh phúc bè bạn quý
Thanh thản vui chơi mọi buổi chiềuThơ chúc Tết chúc mừng hạnh phúc chan hòa:
NĂM tròn xin tiễn tiết đông qua
MỚI đón xuân tươi đến mọi nhà
CHÚC tặng trên đời thêm chữ Hỷ
MỪNG vui khắp chốn cất lời ca
HẠNH dung lễ nghĩa ngời tâm ngọc
PHÚC lộc, công danh rạng ánh ngà
CHAN chát trống kèn, Lân hợp cảnh
HÒA đàn, tấu sáo rộn ràng ca
(Photo Credit: Nhật Linh) - Xuân trong âm nhạc:
Mùa xuân trong âm nhạc luôn cho ta cái cảm giác vui tươi, hạnh phúc và khát vọng, chính vì thế mà những tâm hồn nghệ sĩ như Phạm Duy, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, v.v… đã ưu ái dành cho nó những ngôn từ lãng mạn, sinh động, đáng yêu trong những ca khúc của họ. Có phải chăng, âm nhạc không thể thiếu trong đời sống của con người bởi nó có tác dụng xoa dịu và hàn gắn mọi vết thương trong lòng ta, nó là nơi an toàn cho ta giải bày niềm tâm sự, nó là động lực kích thích bộ óc sáng tạo của ta và là nguồn cảm hứng phát xuất từ những cảm xúc đích thực của ta trong những khi vui, lúc buồn.
Nói đến âm nhạc thì nó rất bao la, phong phú nhưng nếu nghiên về thiên nhiên của vũ trụ hay phong cảnh hữu tình của trời đất, thì chúng thường đi theo mùa như Xuân, Hạ, Thu, Đông để ca tụng vẻ đẹp đặc thù của từng mùa và tùy thuộc vào những cảm xúc, những rung động của từng cá nhân theo sự thay đổi của tạo hóa. Chính vì thế mà các nhạc sĩ đã sáng tác nhiều thể loại nhạc khác nhau như: Nhạc phản chiến thì theo lý tưởng chống lại bạo hành, nhạc kháng chiến thì hướng về tiền tuyến, nhạc quê hương mang một tình cảm sâu nặng yêu quê hương và nhạc tình thì mang một sắc thái lãng mạn và nghiêng về tình yêu đôi lứa, v.v… Trong bài viết này tôi xin chỉ bàn về những bài hát thuộc về mùa xuân. Arthur Rubenstein cho rằng:
Xuân ở thơ ca. Thơ ca vào xuân.
(Spring in verses, Verses in spring.)
Như đã đề cập ở phần trên, mùa xuân trong âm nhạc luôn có giai điệu lãng mạn, vui tươi, lạc quan, yêu đời và gián tiếp vẽ lên trên mốt nhạc một bức tranh sống động, khởi đầu cho một năm mới với nhiều ước vọng. Mùa xuân đã mang đến nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhạc sĩ sáng tác bởi cái ấm áp của mùa xuân, đã khiến tâm hồn của người nghệ sĩ rạo rực lên một niềm vui, một tia hy vọng cho một tương lại tốt đẹp. Mùa Xuân mang đến tâm hồn các nhạc sĩ, nghệ sĩ những xúc cảm, những rung động và chính những rung động ấy là động lực cho các nhạc sĩ sáng tác và để lại cho làng âm nhạc Việt Nam những ca khúc bất hủ. Có rất nhiều ca khúc viết về mùa xuân mà khi nhắc đến mùa xuân thì hẳn chúng ta không thể không nhắc đến ca khúc “Anh cho em mùa xuân” của nhạc sĩ Nguyễn Hiền.
“Anh cho em mùa xuân
Nụ Hoa vàng mới nở …”
……………………………..
“… Anh cho em mùa xuân
Mùa xuân này tất cả
Lộc non vừa trẩy lá…”Nhạc sĩ Minh Kỳ trước năm 1975 nổi tiếng với ca khúc Xuân đã về để ca tụng mùa xuân tươi thắm.
“Xuân đã về, xuân đã về
Kìa bao ánh xuân về tràn lan mênh mông
Trên cánh đồng chim hót mừng
Đang thiết tha từng đàn cùng bay vui say
Xuân đã về, xuân đã về
Ngàn hoa hé môi cười tươi đón gió mới
Xuân đã về, xuân đã về
Ta hát vang lên câu ca mừng chào xuân…”Cũng nói về xuân, ông cùng nhạc sĩ Lê Dinh đã sáng tác nhạc phẩm “Mùa Xuân Gửi Em” để nhớ về ngưởi em gái hậu phương trong những ngày xuân.
“Nghe gió Xuân hay rằng Xuân đã về.
Gói tâm tình vào trong bao ý thơ.
Thương nhớ về người em nơi chốn cũ
năm tháng xa xôi không buồn vì đơn côi…”“Mùa xuân đầu tiên” là một nhạc phẩm nổi tiếng của nhạc sĩ Tuấn Khanh sáng tác vào năm 1966 và được coi là một trong những bài nhạc vàng trong vườn hoa âm nhạc. Bài hát viết theo điệu Boléro nói lên sự đoàn tụ của người lính trong thời chinh chiến, nỗi mong chờ của gia đình, của người yêu nơi hậu phương và miềm hân hoan trong niềm vui sum họp trong trong những ngày đầu xuân.
“Bao nhiêu thương nhớ gom nhặt đầy anh trở về thăm em
Bao lần ngồi thâu đêm nghe mùa Xuân vừa đến
Em ơi hoa thắm rơi ngập đường trời nắng xế vương vương
Lòng nhớ tới em luôn khi chiều tàn chim gọi đàn….”Lời nhạc chan chứa yêu thương, tha thiết và đong đầy nỗi nhớ chen lẫn niềm vui, mơ ước, hứa hẹn cho một ngày về mà ông đã viết qua hai đoạn nhạc dưới đây.
“… Người yêu ơi! Biết chăng anh về?
Người yêu ơi! Nhớ chăng lời thề
Anh say sưa nhịp bước trên hè
Anh nâng niu nụ hoa vừa hé
Đôi môi xinh người em nhỏ bé mộng mơMùa Xuân ơi! Biết tôi yêu đời
Mùa Xuân ơi! Nói sao nên lời
Em ơi em, dù nhớ vơi đầy
Bao lâu nay, đợi nhau là mấy
Anh đâu ngờ bến bờ hạnh phúc là đây…”Nhạc sĩ Từ Công Phụng nổi tiếng với những nhạc phẩm trữ tình chen lẫn âm hưởng buồn bã, chán chường, chua xót điển hình là trong bài Mùa xuân trên đỉnh bình yên. Gói ghém trong lời nhạc ẩn hiện một hứa hẹn sẽ có một ngày ông sẽ đưa người bạn tình dấu yêu về thăm lại vùng đất bình yên hiền hòa vào buổi chiều mùa xuân rạng rỡ với nắng ấm, chim hót líu lo.
“Rồi mai có một lần tôi đưa em
Về trên đỉnh yên bình, hiền hòa…
…………………………………..Rồi mai, có một lần tôi đưa em
Đưa em về miền nắng ấm
Những con chim thôi ngủ………
…………………………………
Hát lên gọi mùa Xuân rạng rỡ
Đem mặt trời tô mắt dại tuổi xuân.Xin đỉnh yên bình
Một mùa Xuân ôm kín khung trời
Của tuổi thơ thôi rã thôi rời
Xin đừng làm bão tuổi đôi mươi
Để vòng tay khắc khoải ôm xuôi
Từng niềm vui bay theo biển gió…”Ngô Thụy Miên với những bài tình ca bất hủ theo thời gian và sống mãi trong lòng người yêu nhạc và là một đóng góp giá trị cho nền âm nhạc Việt Nam. Hầu hết những tình khúc của ông đều được viết từ tim óc như ông đã cho rằng “Ý nhạc đến từ trí tưởng và lời ca từ con tim”. Trong những sáng tác của ông, bài “Em còn nhớ mùa xuân”, đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng rất nhiều người trong số ấy có cả tôi. Mở đầu bài hát là một câu hỏi “Em có bao giờ còn nhớ mùa xuân” nghe như một lời trách móc người yêu, nghe vừa nhẹ nhàng, vừa tha thiết, nhưng trong lời nhạc ấy chan chứa sầu muộn, nuối tiếc và thương cho thân phận của mình. Tuy bài hát nói về mùa xuân, nhưng không có nét nhộn nhịp của mùa xuân mà thay vào đó lời than thở của hai kẻ yêu nhau mà phải xa nhau.
“… Nơi ấy bây giờ còn có mùa xuân
Có dáng nghiêng nghiêng nụ cười thật gần
Có mắt nai vàng ngời sáng tình xanh…”
Theo lời tâm sự của Ngô Thụy Miên, Em còn nhớ mùa xuân là tình khúc duy nhất ông viết khi còn lại ở Sài gòn sau năm 1975, giòng nhạc êm ái với nét buồn nhẹ nhàng quyến rũ trong nỗi nhớ người bạn gái ông yêu đã ra đi, giữa những đổi thay của đất nước với những mất mát xảy ra quanh ông. Bài hát đã nhắc đến những kỷ niệm đẹp của ông và người yêu trong bối cảnh của Sàigòn-Đàlạt, của một thời thơ mộng.
“Trời Sài gòn chiều hôm nay còn nhiều mây bay
Nhiều niềm đαυ thương bi hận tràn đầy
Gượng nụ cười giọt lệ trên môi
Nhìn đất nước tơi bời một thời em có hay”
Nơi trời tây xa xôi ấy, em còn nhớ mùa xuân, có lẽ đây là câu hỏi mà ông dành để hỏi người yêu trong tâm trạng nhung nhớ. Được biết, đây là nhạc phẩm duy nhất mà ông sáng tác trong suốt ba năm, từ năm 1975-1978. Cuối năm 1978, Ngô Thụy Miên hoàn tất bản nhạc và hát lần đầu tiên trong một đêm văn nghệ tổ chức trên đảo Bidong trước khi lên đường đi Canada. Cuối năm 1979, ông đã gặp lại và thành hôn với người bạn gái năm nào. (dựa theo lời tâm sự của Ngô Thụy Miên.)
“… Những thành phố em sẽ đi qua
Đây Ba-Lê, đây Luân Đôn, đây Vienne
Nhưng có đâu bằng Sài Gòn hôm qua
Nhưng có đâu bằng Sài Gòn mai sau
Em có mơ ngày hát câu hồi hương…”Tóm lại, tôi hoàn toàn đồng ý với Schumann và Mattie.
“Thi ca là một cách hay để thể hiện nỗi xúc cảm như vui, buồn, giận dữ, lo lắng.” (Mattie)
Và:
“Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người.” (Schumann)
Khánh Lan
Xuân Nhâm Dần, 2022
GHI CHÚ:
(*) nhạc sĩ Canh Thân xuất thân từ nghệ sĩ cải lương, sau trở thành ca nhạc sĩ tân nhạc, ông sáng tác những bài tình ca nổi tiếng như bài Cô hàng cà phê, “Khúc ca mùa hè”, “Anh còn cây đàn”. Ông còn là một nhạc công đa tài và là một trong những nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc Việt Nam (1928 – 1975). Ông tham gia hội ái hữu Tino, lấy biệt danh là Tino Thân, ngoài ra, ông tham gia vào nhóm Đồng Vọng và cùng nhóm sáng tác những bản hùng ca.
(**) Vũ Thị Thường, Chế Lan Viên toàn tập, NXB Văn học, 2002.
(***) Quách Tấn, Thơ Hàn Mặc Tử, NXB Đông Phương, 1942.Tôn Thảo Miên, Hàn Mặc Tử – Tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, 2007.
***** Tinh tuyển văn học Việt Nam (tập 7: Văn học giai đoạn 1900-1945), Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, NXB Khoa học xã hội, 2004.
***** Wikipedia
-
NGƯỜI VỢ THỦY CHUNG
Nói về sự thuỷ chung trong hôn nhân, bài này xin chú trọng về chủ đề “Người vợ thuỷ chung“, như nhà thơ Thái Tú Hạp đề nghị tôi viết. Xét về nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng nhìn từ những góc nhìn luân lý xã hội và pháp lý thì vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững là điều được khuyến khích, đề cao. Trong văn hoá Việt, chung thuỷ là vẫn một lòng trước sau như một, vẫn có tình cảm gắn bó không thay đổi. Như vậy, khái niệm chung thuỷ là khái niệm rộng. Trong tương quan vợ chồng thì chung thuỷ được hiểu là vợ chồng phải luôn chung tình, gắn bó tình cảm yêu thương chỉ với nhau mà thôi. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, những quan niệm về sự chung thuỷ của vợ chồng cũng có sự khác nhau cơ bản. Trong thời kỳ nguyên thuỷ của xã hội loài người khi con người vừa thoát thai từ loài vật. Dần dần con người tiến bộ, Ý niệm về tương quan hôn nhân và gia đình được đặt thành luật lệ.
Suy ngẫm chuyện đời thì duyên nợ và định mệnh đều có trong hôn nhân. Bởi vì người xưa có câu: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên tương diện bất tương phùng”. Chính vì vậy nên mọi sự đến và đi trong cuộc đời đều là duyên phận, chúng ta không cần phải cưỡng lại đâu. Tình yêu quả thật kỳ diệu. Sống ở đời này, dù chúng ta ý thức được rằng, khi yêu là đầy khổ đau. Nhưng hầu hết người ta lại muốn yêu một lần cho biết nó ra sao chứ. Yêu là duyên, vượt duyên đến nợ, an nhiên với định mệnh ấy thôi. Phật dạy: “Là duyên, có xa cách mấy cũng gặp lại, là nợ, có trốn tránh cũng chẳng thể thoát ra“. Cũng nói theo đạo Phật, vợ chồng là do duyên số, có nghiệp, có nợ với nhau, chứ không phải khi không mà lấy nhau được. Phần lớn là do duyên số quyết định. Tuy nhiên, nếu chỉ đổ thừa cho duyên số thì không thực tế. Chúng ta phải chọn lựa, mà trong sự chọn lựa của chúng ta có nghiệp, có nhân quả chi phối bên trong.
Trong tác phẩm Phận Đàn Bà, nhà văn Nguyễn Quang cho rằng: “Hai chữ định mệnh thường được dùng để khỏi phải tìm hiểu những gì xảy ra như đã được an bài mà con người không sao giải thích được, cho nên phải chấp nhận đó là định mệnh! Tất cả những gì xảy ra, có lớp lang trong cuộc đời của mỗi cá nhân của chúng ta, là những chuyện vui buồn, bất hạnh đều có thể xảy ra, không thiên vị bất cứ một ai, vì nó là định mệnh! Trong định mệnh có cả duyên số, không đơn thuần như người ta thường nghĩ“. Thật sự theo khoa tử vi số mệnh, hôn nhân là định mệnh đấy. Bởi vì 2 người có “duyên số“, hay “hợp số” mới có thể lấy nhau được. Hợp số chính là cùng có Số tương đồng nhau về cung Phu thê, tương đồng về vận hạn, 2 người có cùng năm kết hôn, cùng năm có con, cùng những biến cố giống nhau trong hôn nhân, những sự kiện người chồng có thể xem trên Số người vợ và ngược lại. Vợ chồng có phương vị kết hôn trên Tứ Trụ hợp nhau. Hôn nhân và số mệnh luôn tiềm tàng trong đời sống chúng ta, thật như vậy.
Vợ chồng thủy chung, sống với nhau tình nghĩa, chia chung trọn vẹn trách nhiệm. Tình yêu hôn nhân là yếu tố quan trọng bậc nhất trong sự hình thành và phát triển bền vững của gia đình. Đây là vấn đề cốt lõi nhu cầu tình cảm tinh thần của đời sống vợ chồng, nó chi phối mọi thành viên trong gia đình và tác động trực tiếp tới việc chăm sóc người già, nuôi dạy con nhỏ. Nghĩa vợ chồng gắn bó với lòng nhân ái, nhân hậu tự nhiên của con người khiến đôi vợ chồng gắn bó với nhau suốt đời, dù khi tình yêu bồng bột của tuổi trẻ không còn, nghĩa vợ chồng giúp họ vượt qua những mâu thuẫn, bi kịch rất khó tránh khỏi trong cuộc sống nhiều năm của một gia đình. Hạnh phúc gia đình phụ thuộc vào mối quan hệ tình cảm giữa đôi vợ chồng, cùng với sự đòi hỏi của họ về tự do cá nhân, về hạnh phúc cá nhân và sự riêng tư trong đó tình yêu là tình nghĩa là yếu tố cơ bản nhất.
Tôi nhớ trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, Vũ Nương là người vợ thủy chung, người mẹ hiền và nàng dâu hiếu thảo. Câu truyện cảm động ở thế kỷ thứ 15. Những ngày xa xưa trong xã hội khép kín phong kiến đã khắc nghiệt đưa đẩy bao số phận, bao con người, bao gia đình vào hoàn cảnh éo le, đau thương, bi đát. Nội dung sách Nguyễn Dữ đã viết về họ, đặc biệt là người phụ nữ với tấm lòng son sắt, hết mực yêu thương và sự cảm thông tận tuỵ, hy sinh cho gia đình.
Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương” ta thấy tác giả tả chân hình ảnh thân phận bị chà đạp của người phụ nữ thời phong kiến. Vũ Nương chính là nhân vật chính của câu chuyện, nàng nổi bật với những nét phẩm chất tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam đảm đang, tháo vát, chung thủy và khát khao hạnh phúc gia đình. Nhưng cái xã hội nam quyền khắt khe đã đẩy cuộc đời nàng đến cảnh trái ngang, oan khiên u uất, đầy bất hạnh. Nàng là người vợ thủy chung, người mẹ hiền và nàng dâu hiếu thảo. Thật vậy, khi Trương Sinh đi lính chỉ để lại Vũ Nương bụng mang dạ chửa với người mẹ già, Vũ Nương đã luôn chăm sóc mẹ chồng chu đáo khiến bà cũng phải cảm động. Khi mẹ chồng chết, Vũ Nương cũng lo ma chay cho bà cũng như lo cho chính chính cha mẹ mình vậy. Không những là một người con hiếu thảo, Vũ Nương còn là một người mẹ hết mực yêu thương con. Vì không muốn bé Đản nghĩ mình không có cha mà Vũ Nương đã nghĩ cách chỉ trỏ bóng mình trên vách tường và nói đó là cha của bé Đản. Ta thấy Vũ Nương là một người mẹ yêu thương con vô hạn. Và nổi bật trong văn bản ta thấy Vũ Nương là một người vợ hết mực yêu thương chồng. Khi Trương sinh đi lính, nàng chẳng mong chàng áo gấm trở về mà chỉ muốn chồng được bình yên nơi chiến trường. Nàng lo lắng cho Trương Sinh ở nơi biên ải chịu khó khăn vất vả không có người nương tựa. Khi bị Trương Sinh nghi oan nàng có nhân tình cũng chỉ hết mực giải thích để níu kéo giữ hạnh phúc gia đình. Đến khi chết đi rồi, Vũ Nương cũng chẳng một lời trách móc, oán than Trương Sinh mà còn muốn về gặp chàng lần cuối. Qua tác phẩm này, Nguyễn Dữ đã vẽ ra trước mắt chúng ta là một người phụ nữ tài đức vẹn toàn.
Gương vợ chồng thủy chung khác là người vợ Ukraine trải qua 20 năm ở Việt Nam chăm nuôi chồng đột quỵ, khi chồng về nước được một năm thì bị chứng tai biến mạch máu não, bị liệt toàn thân, Svetlana bán hết nhà cửa ở Kiev và bay sang Việt Nam, một mình xoay xở đủ cách chăm sóc chồng và nuôi con tại Hà Nội. Cuộc sống vất vả tại miền đất xa lạ chăm sóc chồng với bao nhiêu thử thách trong cuộc đời, muôn trùng khó khăn không buông tha người phụ nữ Ukraine. Hai mươi năm trôi qua, ông Thắng đã có hàng chục lần nhập viện, vài lần thập tử nhất sinh và 4 lần bị đột quỵ, hai lần liệt toàn thân nhưng sau tập luyện lại đi đứng được. Vào tháng 2 năm 2021, ông bị suy tim, tụ máu não, chuẩn bị phẫu thuật lại bị tai biến ngay tại viện. Dịch Covid-19 bùng phát tại Hà Nội cuối tháng 4, người nhà không được vào phòng bệnh chăm sóc. Nằm liệt nhiều ngày, ông bị viêm loét lưng, tiếp tục phải chuyển viện để chữa vết thương trước khi ca mổ chính diễn ra. Người phụ nữ Ukraine luôn luôn hy vọng sẽ có ngày chồng khỏe mạnh lại, hai người cùng quay lại thăm thành phố Kiev là nơi nhiều năm trước họ đã gặp và yêu nhau.
Gương phụ nữ thủy chung qua chuyện tình Hàn Mặc Tử cùng Mai Đình: Mai Đình là một hiện tượng lạ trong văn học và ở ngoài đời. Bà là người đi trước thời đại nhiều bước, là người nhất định không vâng theo khuôn phép ngàn xưa dành cho phụ nữ, đã bỏ nhà ra đi vì không muốn về nhà người chồng do cha mẹ chọn, ta sống vì tình yêu đích thực, khuôn mẫu của Françoise Sagan và Jean-Paul Sartre, con cái đặt đâu cha mẹ huề tiền.
Theo bài net của ông Tư Cao Lãnh, cũng may là bà có vốn liếng học hành và giỏi nữ công gia chánh nên bà có thể thân tự lập thân, không như những phụ nữ cùng thời phải đeo ba cái gông tòng phụ, tòng phu, tòng tử, mấy cái gông do một ông Nho gia vốn cổ xuý trọng nam khinh nữ sống từ hơn 26 thế kỷ trước bày ra, tròng lên cổ người đàn bà bắt buộc phải phục tòng đàn ông. Đức Phật, người sinh ra đồng thời, thì ngược lại, làm một cuộc cách mạng vô tiền khoáng hậu, không những giải phóng cho phụ nữ mà còn phá tan xiềng xích giai cấp xã hội của Ấn Độ thời bấy giờ. Với thuyết nhân quả luân hồi thì cho rằng mọi người sinh ra phải được bình đẳng là rất hợp lý. Con người ta sinh ra khác giới tính, giàu nghèo sang hèn khác nhau là vì nhân quả nhiều đời, trùng trùng duyên khởi duyên sinh. Vậy mà cái ông Nho gia giáo điều bị bác Trump cho dẹp tiệm, cổ hũ kia độc đoán cho rằng đàn bà sinh ra là để phục vụ đàn ông: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử!” nhưng mà nhà thơ Mai Đình của chúng ta đã tháo gỡ được gông cùm xiềng xích nô lệ này. Bà đã thoát ly được ba chữ tòng để tự làm chủ đời mình.
Ông anh Vương Trùng Dương biết bà nhà tôi gốc Bông Kiều, vốn gần nhà cụ Tra Lương Dung, tức Kim Dung Kiếm Hiệp. Vương Trùng Dương viết bài “Thủy Chung trong tác phẩm Kim Dung” như sau: Đông, Tây, kim, cổ trong văn chương qua bao nhiêu tác phẩm đã đề cập và lưu lại những mối tình thủy chung của nhân loại. Ở đây, tôi đề cập khái quát đến tác phẩm hư cấu trong kiếm hiệp, điển hình với nhà văn Kim Dung với những mối tình ngang trái nhưng thủy chung với nhau khi trải qua bao nhiêu nghịch cảnh.
Những mối tình đó bước vào tình sử võ lâm, như Quách Tĩnh với Hoàng Dung, Dương Quá với Tiểu Long Nữ, Kiều Phong với A Châu, Trương Thiếu Sơn với Hân Tố Tố, Trương Vô Kỵ với Ân Tố Tố, Lệnh Hồ Xung với Nhậm Doanh Doanh, Trương Vô Kỵ với Triệu Minh (Triệu Mẫn). Trong tác phẩm Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Hiệp Lữ, hai nhân vật Quách Tĩnh và Hoàng Dung được xem như hai nhân vật chính giữa chính phái và tà giáo. Họ đã vượt qua bao nhiêu ngang trái để sống trọn vẹn với cuộc tình.
Trong Thần Điêu Hiệp Lữ, Dương Quá và sư phụ Tiểu Long Nữ trong Cổ Mộ. Dương Quá gọi Quách Tĩnh và Hoàng Dung là bá phụ và bá mẫu. Vượt qua lễ nghi, Dương Quá và Tiểu Long Nữ yêu nhau, thế nhưng trong lúc hiểu lầm, Tiểu Long Nữ rời Cổ Mộ phiêu bạt, Dương Quá đi tìm suốt 16 năm… Dương Quá đi đến đâu cũng có những cô nương yêu kiều theo đuổi nhưng chàng vẫn một mực chung tình với Tiểu Long Nữ. Đã cùng với Tiểu Long Nữ tạo nên một trong những mối tình đẹp nhất của thế giới võ hiệp.
Trong quyển Thiên Long Bát Bộ thì mối tình của Kiều Phong (gốc Khiết Đan) với A Châu (người Hán) tuy kết cuộc rất bi thảm nhưng nói lên lòng thủy chung của Kiều Phong với A Châu trong khi đó có nhiều bóng hồng trong chốn cao thủ võ lâm quyết tâm theo đuổi chàng. Trong Ỷ Thiên Đồ Long ký (Cô Gái Đồ Long) Trương Thiếu Sơn của phái Võ Đang, trên bước đường giang hồ hành hiệp gặp Ân Tố Tố, con gái của giáo chủ Thiên Ưng Giáo… Với bao nhiêu tai họa ập đến nên Trương Thiếu Sơn phải nhận cái chết và Ân Tố Tố cùng quyên sinh theo chồng để được sống trọn kiếp với nhau ở bên kia thế giới.
Cũng trong tác phẩm nầy, Trương Vô Kỵ, con của Trương Thiếu Sơn vì nhận Tạ Tốn làm nghĩa phụ và tận tình bảo vệ thân phận nên bị cả hai bên chính tà quyết tâm truy đuổi. Trương Vô Kỵ có số đào hoa với những bóng hồng như Chu Chỉ Nhược, Tiểu Chiêu, Ân Ly sắc tài nổi tiếng quyết dành lấy trái tim, trong khi đó Triệu Mẫn (Triệu Minh) quận chúa của Mông Cổ bất chấp mọi hiểm nguy, mọi đối thủ lợi hại để cuối cùng cho chàng sống bên nhau “kẻ lông mày” cho nàng. Trong tác phẩm của Kim Dung có rất nhiều mối tình ngang trái xảy ra giữa hắc bạch, giữa trung nguyên và sắc tộc khác trong chốn võ lâm nhưng tình yêu đã vượt qua mối thù truyền kiếp, hận thù hai mặt… chấp nhận sự hy sinh để chấp nhận cuộc tình.
Mỗi mùa xuân về khi đọc thơ yêu của ông anh Thái Tú Hạp tặng bà chị Ái Cầm, tôi thích quá xin “dựa hơi” bài tình thơ sau đây. Bởi vì hai vợ chồng chúng tôi đã có “Nhân Duyên Nghiệp Dĩ“, và hai chúng tôi cũng có “Luân Hồi Có Nhau“, y chang như hai thi sĩ Thái Tú Hạp và Ái Cầm…
Luân Hồi Có Nhau
Tác giả: Thái Tú Hạp
Ta về tịch mặc ngàn hoa
lá cao vút đẫm mây qua đỉnh trời
nhân gian dành trọn cuộc chơi
ta cùng em hát bên đồi xuân xưa
nhất quán rồi- mộng mai sau
tâm vô lượng mở – có nhau luân hồi
cảm ơn thơ, cảm ơn đời
trăm năm nhật nguyệt, đầy vơi nghĩa tình
Thái Tú Hạp
(Hạt Bụi Nào Bay Qua)
Để kết thúc bài Người Vợ Thuỷ Chung, tôi xin gởi bà nhà Tăng Lệ Hoa, 唐樂和, Người Tình Trăm Năm của tôi.
Trẫm Vẫn Yêu Em…
Trẫm yêu em bằng tim tuổi hạc
Nặng nợ ân tình kiếp ba sinh
Mến chốn ta bà trẫm mãi yêu
Chung bước đường dài trẫm cùng em
Trẫm gọi tên em bằng sếp nhỏ
Soi bóng dặm trường có ai hơn?
Đếm bước thời gian dù chết rũ
Những nỗi u sầu ta với ta
Căng-xe Xì-trốc là chuyện nhỏ
Kiếp người hữu hạn sá chi đâu
Ôi sống lâu chi cho chật đất
Sống anh hùng cho đất phì nhiêu
Hỏi trăng cô liêu sầu vạn cổ
Mỏi mòn cánh hạc bay vẫn bay
Gõ con chữ nghĩa đêm khuya khoắt
Nhãn tròng mờ nhạt trẫm yêu em
Trẫm vẫn yêu em yêu muôn thuở
Tuổi tóc xanh sang màu lấp lánh
Cho mãi thời gian hồn lịm giấc
Trẫm vẫn yêu em trẫm yêu em!
Trần Việt Hải
Los Angeles, Nov. 9th, 2021.
-
CHẮT CHIU KỶ NIỆM VỚI GIÁO SƯ LÊ VĂN KHOA.
(Theo lời yêu cầu của Giáo Sư Lê Văn Khoa, tôi sẽ dùng chữ Ông thay cho chữ Giáo Sư trong bài viết này. Nhưng để tỏ lòng kính quý tôi xin được phép dùng chữ Ô hoa “Ông”).

(Ảnh Lê Hùng)
HỒN VIỆT VÀ ƯỚC MƠTôi chọn lời tựa “Chắt Chiu Kỷ Niệm” bởi tôi không có nhiều kỷ niệm với Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa như Nhà Báo Băng Huyền, Nhà Văn Việt Hải, Ca Sĩ Quỳnh Giao, Nhạc Trưởng Nguyễn Khánh Hồng, v.v… Chính vì thế mà khi tôi được Nhà Văn Việt Hải ủy thác cho trọng trách viết về Giáo Sư Lê Văn Khoa trong tác phẩm “Hồn Việt và Ước Mơ” với chủ đề hoàn toàn mới lạ đối với tôi: Đó là hai truyện ngắn của ông. Tôi đã nhận lời Nhà Văn Việt Hải, nhưng tôi không ngần ngại thú nhận rằng nỗi cảm xúc trong tâm hồn tôi đi từ hãnh diện đến lo sợ. “Hãnh diện” vì tôi được cái vinh hạnh viết về một thiên tài như Giáo Sư Lê Văn Khoa và “lo sợ” vì kể từ hôm nay tôi sẽ phải “chắt chiu” tìm lại trong ký ức những kỷ niệm mà tôi đã có được với ông. Để có thể “Chắt chiu kỷ niệm với Giáo Sư Lê Văn Khoa” trước tiên, tôi tự hỏi lòng mình là “Cơ duyên nào đã cho tôi gặp Ông?”.
Xin thưa, lần đầu tiên tôi có vinh hạnh gặp và biết Ông Lê Văn Khoa nhân buổi ra mắt sánh của ông với tựa đề “Lê Văn Khoa, một người Việt Nam” được chính thức giới thiệu với đồng hương tại vùng Little Saigon, do nhóm Nhân Ảnh Tân Văn đứng ra tổ chức tại Saigon 9 Restaurant, ngày 19 tháng 09, 2015. Hôm ấy, tôi đã cùng một người bạn mua quyển sách dày 695 trang vì biết rằng đây là một tài liệu có gía trị, xong cẩn thận cất vào tủ sách gia đình và rồi để cho một người bạn mượn đọc trước (dài hạn mà mãi đến hôm nay vẫn chưa hoàn trả lại). Kế đến là trong buổi tổ chức sinh nhật thứ 78 cho nhạc sĩ Lam Phương ngày 6 tháng 12, 2015 do Nhóm Chủ Trương Nhân Ảnh Tân Văn đã tổ chức. Đây cũng là buổi kỷ niệm 60 năm âm nhạc của nhạc sĩ Lam Phương và ra mắt sách, quyển “Lam Phương, Nhạc và Đời” tại Moonlight Seafood Restaurant thuộc thành phố Westminster, Nam California… Rồi sau những lần gặp kế tiếp, thứ hai, thứ ba, thứ tư, v.v… và bẵng đi gần hai năm tôi không gặp lại Ông và Cô Ngọc Hà bởi đại dịch COVID 19 đã làm gián đoạn mọi sinh hoạt văn hóa cũng như xã hội trên toàn thế giới… cho mãi đến ngày ra mắt sách của tôi, ngày 19 tháng 09, 2021 tại NT Studio thuộc thành phố Westminster.

Giáo Sư Lê Văn Khoa & Khánh Lan
Trong buổi ra mắt sách ngày 19 tháng 09, 2021(Ảnh Lê Hùng)Đặc biệt nhất là trong buổi nói chuyện với Ông Lê Văn Khoa trên “Zoom Meeting” ngày 02 tháng 10 năm 2021, do nhiếp ảnh gia Nguyễn Thiều Minh sáng lập cho Liên Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian (vào mỗi ngày đầu tháng) đã tạo cơ hội cho chúng tôi gần gũi và bàn luận thân mật với Ông hơn. Với nét mặt hiền hòa, nụ cười thân thiện nở trên môi, thật đúng như Nhà Văn Dương Viết Điền nhận xét “Anh Lê Văn Khoa lúc nào cũng cười, trông rất yêu đời” hay Thi Sĩ Cát Biển ghi trong bài viết của ông: “Lê Văn Khoa, một biểu tượng của nụ cười“. Trong buổi họp “Zoom”, Ông thật duyên dáng trả lời chi tiết những thắt mắc của mọi người, như Nhà Văn Việt Hải hỏi về câu: “Do you see what I see?” hay về những ước vọng và hoài bảo cũng như giấc mơ của ông: “Bằng cách nào để chúng ta có thể lưu truyền và phổ biến nền âm nhạc giao hưởng (kết hợp âm thanh cho hài hòa) cho thế hệ trẻ trong tương lai”.
Lê Văn Khoa dưới lăng kính của tôi thì Ông là người mà Thượng Đế đã dành nhiều ưu ái và ban cho nhiều tài năng, từ viết nhạc cho dàn nhạc giao hưởng, biên khảo về âm nhạc, nhiếp ảnh, dịch thuật, v.v… bút pháp của ông sâu sắc, nhẹ nhàng, chi tiết và dễ hiểu. Ngoài những tài năng trên, nghệ thuật nhiếp ảnh của Ông nghiêng về phương diện chụp ảnh nghệ thuật trừu tượng do sự kết hợp hài hòa trong thiên nhiên mà ít ai nhìn thấy. Vâng đúng thế, “Do you see what I see?” Thật vậy, Ông đã khéo léo áp dụng những kỹ thuật riêng để tạo những tác phẩm nghệ thuật nhiếp ảnh có giá trị và truyền cảm. Nhà Văn Việt Hải có lần đã viết trong bài “Đôi nét về Lê Văn Khoa” như sau: “Có người hỏi rằng nhà biên khảo họ Lê đã viết nhiều về âm nhạc, về nhiếp ảnh, phóng tác, dịch thuật sách ngoại ngữ, Lê Văn Khoa cho ấn hành nhiều sách loại học làm người, nhưng Lê Văn Khoa có viết loại truyện về tình yêu không?
Thưa có! Xin cho tôi được phép trả lời câu hỏi ấy bởi tôi cũng vô cùng ngạc nhiên và thích thú khi khám phá ra rằng chẳng những Ông viết một truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt”, nhân khi ông đi dự buổi triển lãm ảnh của hội ảnh Val de Bièvres tại Viện Văn Hóa Pháp Sài Gòn (Institut Français de Saigon) chiều ngày 19-11-1970, mà ông còn viết một truyện ngắn thứ hai là “Nocturne” (đã được ghi lại trong tác phẩm “LÊ VĂN KHOA, Một Người Việt Nam”)khi ông từ Đông Âu do công tác âm nhạc trên chuyến bay băng Đại Tây Dương trở về California. Thể loại truyện ngắn của Ông rất độc đáo và khác lạ. Sau đây, tôi xin được phép lần lượt ghi lại hai truyện ngắn của Ông.
- TRUYỆN NGẮN THỨ NHẤT: “SAY TRONG ÁNH MẮT”.
“Say Trong Ánh Mắt” là một câu chuyện kể của người viết truyện về một cuộc gặp gỡ hy hữu giữa một cô gái Pháp trẻ đẹp, vốn đam mê nghệ thuật nhiếp ảnh, đến Sài Gòn từ Paris. Ngay từ phút gặp gỡ đầu tiên trong buổi triển lãm ảnh, cô gái ấy đã để lòng mến và phục tài nhìn xa hiểu rộng của một nhiếp gia Việt Nam tên Tuấn. “Say Trong Ánh Mắt” là một câu chuyện được diễn tả với văn phong nhẹ nhàng, dễ thương và thu hút người đọc. Chuyện kể nàng tên “Diễm” đại diện cho nhóm ảnh Val de Bièvres, một nhóm ảnh chủ lực của giới nhiếp ảnh Pháp quốc trong tổ chức Photeurop, Âu Châu.
“Diễm”, có lẽ cái tên đã đủ nói lên tất cả về con người nàng: Đẹp, thông minh, bặt thiệp, tự nhiên, kiến thức cao và ăn nói trôi chảy, đã hớp hồn Tuấn, người nhiếp ảnh tài ba, bởi sự duyên dáng và thông minh của nàng. Với một phong cách khiêm nhường, người nhiếp ảnh giới thiệu về mình và những sinh hoạt nhiếp ảnh của quê hương mình. Đọc đến đây, tôi phải công nhận tác giả đã khéo léo dùng nội dung của tác phẩm tình cảm xã hội để giới thiệu cũng như giải thích về nghệ thuật hình ảnh như “dùng màu nước tô thêm lên ảnh để biến đổi màu chính hầu tạo không khí thích hợp cho ảnh” hay “ảnh kỹ thuật là căn bản của mỹ thuật và nghệ thuật, chú trọng nội dung, áp dụng kỹ thuật để làm sáng tỏ nội dung”. Mặt khác, tác giả đã khéo léo lợi dụng lời đối thoại với “người đẹp” trong câu chuyện để giải thích quan điểm cũng như nhận xét về thể loại ảnh kỹ thuật của người bản xứ Việt Nam, điển hình qua câu nói của “Diễm” như sau:
“Về điểm nội dung thì các ảnh nổi bật. Nhưng xin lỗi, cũng vì điểm ấy mà bộ ảnh của các anh nặng nề, gò bó quá. Ðó là chưa kể các anh cố tạo những tâm trạng khổ sở, buồn thảm, ray rứt, băn khoăn, chán chường của kiếp sống đầy máu và nước mắt, nên thiếu hẳn nét thơ mộng của bộ ảnh mình đi”.
Cũng trong câu chuyện, qua lời đối thoại, người viết truyện giải thích về kỹ thuật chớp sáng (solarization), phân sắc độ (postarization), vừa tân kỳ vừa độc đáo và điểm chính là dùng kỹ thuật để gửi gấm tâm sự. Tôi xin trích dẫn đoạn mà tác giả nói về kỹ thuật và sáng tạo: “Người làm nghệ thuật tức người sáng tạo; mà muốn sáng tạo phải tìm tòi khai phá; mà tìm tòi khai phá tức tạo một lối đi mới.”
Qua phong cách diễn tả trong những câu đối thoại trên, Ông Lê Văn Khoa đã muốn gởi gấm thông điệp gì trong truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt?” Phải chăng đây là một lối dạy học vô cùng thích thú vì càng đọc tôi càng thấy bị thu hút bởi cung cách giải thích cũng như nêu ra được những nhược điểm của nghệ thuật một cách tế nhị mà không làm phiền lòng người đọc hay nói rõ hơn là làm bực mình người cần máy ảnh. Đúng là một lối giảng dạy thật tâm lý khi lồng môn học vào tính cách thuật truyện, nó không làm cho người học trò cảm thấy nhàm chán, buồn ngủ và nhất là lại kích thích được sự tò mò muốn biết của con người. Phải, con người lúc nào cũng ưa thích học hỏi cái mới lạ, chính vì vậy mà loại ảnh chớp sáng đã xuất hiện trên 60 năm và đã đến điểm cực thịnh vào khoảng 1960-1961.
Trong câu truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt” Ông giải thích, trong khoảng thời gian 1960-1961, Edith Gerin đã sáng tạo ra một loại ảnh mới nhằm diễn tả những gì mà các loại ảnh thường không làm được. Ðó là lối chập nhiều phim vào với nhau rồi đem phóng ra ảnh, được áp dụng để đi đến một sự diễn tả siêu thực. Mấy năm sau, ý tưởng này lan tràn khắp Âu Châu và xuất hiện những nhóm “tự do diễn tả”. Thời đại 70 là thời đại của loại ảnh siêu thực, trừu tượng, nó tạo ảo giác cho người xem phải phân vân, không biết mộng hay thực.

Lê Văn Khoa đang chụp hình thân cây
(Ảnh trích báo Thế Giới Tự Do 1963)Càng đi sâu vào câu chuyện, tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả, “Nước mắt có tạo nên con người không? Tại sao chúng ta chỉ biết nhìn vào bi thảm, tàn úa, chết chóc mà không đoái hoài đến khía cạnh phấn khởi, tươi vui hơn? Hay chúng ta cho rằng nét bi ai trong tác phẩm dễ gây xúc động cho giám khảo, cho người xem? Một người đứng ngoài nhìn vào khác hơn một người ở trong cuộc, làm sao thấu suốt được để diễn tả? Người làm nghệ thuật là chứng nhân, nhưng đồng thời cũng là người làm lịch sử, vì thế không phải chỉ nhìn về quá khứ mà cũng nhìn vào tương lai.” Có phải đây là lời nhắn nhủ, lời giải thích, sự giải bay niềm tâm sự hay đúng hơn là một phương cách độc đáo để hướng dẫn thế hệ sau này đừng chỉ biết bước vào con đường cũ kỹ, bảo thủ của tiền bối mà chúng ta thấy rất rõ trong câu nói của Diễm: “Anh bối rối điều gì? Sợ mình sai lầm trong đường lối sáng tạo à? Hay sợ bị quần chúng bỏ rơi? Thật ra làm nghệ thuật cũng tương tự như làm chính trị. Nói đến chính trị ta thấy có hai hạng người. Hạng thứ nhất tìm hiểu để theo đuôi quần chúng. Còn hạng thứ hai, tìm hiểu để dìu dắt, để nâng đỡ, để hướng dẫn quần chúng tiến lên mực độ cao hơn ... em nghĩ rằng ta cần phải chấp nhận một sự hy sinh để chọn hướng đi mình thấy thích hợp và lợi ích hơn. Nói đến hy sinh tức ta phải chấp nhận sự từ bỏ một cái gì quý báu, tha thiết dường như không thể thiếu được trong đời ta”.
Ai dám bảo Ông Lê Văn Khoa của chúng ta không lãng mạn, không ngọt ngào, không đam mê và không rung động bởi người đẹp tên “Diễm” chứ? Xin hãy lắng nghe trái tim si tình thổn thức qua đoạn văn sau: “Tôi không làm theo lời Diễm, lại nhìn thẳng vào cặp mắt xanh trong veo như mặt hồ nước không đáy. Cặp mắt ấy có lúc như ngơ ngác, lúc như có ma lực quyến rủ lạ lùng, chỉ nhìn đã thấy cả thần hồn ngây ngất như say mà mãi đến bây giờ tôi mới dám nhìn thẳng vào. Ðôi mắt ấy giờ đây lại đượm vẻ buồn mênh mông làm cho lòng tôi xao xuyến khác thường. Trong xao xuyến đượm một mối bâng khuâng nhẹ nhàng như vừa đánh rơi giọt sương mai óng ả ánh mặt trời, như vừa làm đứt một đường tơ để màng nhện tuyệt mỹ phải rách và tạo một lỗ hổng đen ngòm sâu hút ngàn đời không khỏa lấp. Nỗi hối hận len vào hồn tôi và lần đầu tiên tay tôi tìm bàn tay nàng, siết mạnh”.
Bây giờ thì tôi dám quả quyết rằng, câu chuyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt” không phải là một câu chuyện bình thường, mà đó là một tác phẩm kinh điển về nghệ thuật nhiếp ảnh, một “Bible” cho những ai chập chững bước vào lãnh vực này, bởi nó giải thích quá rõ ràng mục đích và phương hướng của nó. Tôi xin dẫn chứng qua đoạn văn sau đây:
“Tôi cảm thấy mình thua sút người ta quá nhiều, quá xa. Tại sao? Có phải do óc kỳ thị, thiếu tự tin, nhưng tự tôn hòa với tự ti, mãi nghĩ rằng mình còn bán khai, chậm tiến nên chỉ đợi cái gì người ngoài nghiên cứu rồi tuyên bố, bấy giờ mới hân hoan tiếp đón, ca tụng những sáng kiến ngoại lai mới mẻ, nhưng trong khi ấy vẫn nghĩ mình là trùm thiên hạ, mà hỡi ôi, nó là cái gì đã ăn sâu vào huyết mạch, là cái gì tạo nên dân tộc, là nguồn gốc của văn minh, là căn bản của truyền thống mình. Hỡi thằng người nhỏ nhen ta ơi, mày ngu lắm mà cứ tưởng mày thông minh vượt bực. Mày vốn hèn mà cứ tưởng mày cao sang! Tồi ơi là tồi!”

Đường Nét,
(Ảnh Lê Văn Khoa)Chúng ta đã nhìn thấy gì trong bức ảnh trên? Do you see what I see? Thật là một tác phẩm nghệ thuật trừu tượng. Hãy nhìn thật kỹ bức ảnh trên, Ông Lê Văn Khoa cho rằng: Tại sao chúng ta không ghi nhận đường nét đẹp trên thân hình thiếu nữ mà Tạo Hóa đã ban cho họ mà lại đi tìm đường nét chết trên đồi cát, bãi biển, đường mòn? Phải chăng chúng ta cho rằng đó là… là việc… tồi bại mà con người có đạo đức không được nghĩ đến? Có lẽ, nếu cứ bỏ lớp đạo đức giả mà nhìn thẳng vào con đường nghệ thuật nó không phải ảnh khiêu dâm, nó phụng sự cho chân, thiện, mỹ, cho vĩnh cửu chứ chẳng phải cho dục vọng thấp hèn, để bị xuyên tạc, chống đối và khinh miệt. Có lẽ Ông Khoa đã nói đúng. Đã đến lúc người làm nghệ thuật phải vị nghệ thuật, hãy thức tỉnh cơn mê muội, hãy lột bỏ lớp mặt nạ giả nhân giả nghĩa đã khéo che đậy từ bao năm qua, hãy đối diện với sự thật, một sự thật đã bị chôn giấu dưới lớp mặt nạ đạo đức, cao thượng, xây dựng, phủ lên mớ kiến thức quá kém, tư tưởng quá hẹp hòi để che đậy cái dốt của mình bằng lời nói bóng bẩy mong được người đời suy tôn. Hỡi ôi, hư không trở về hư không! Thảy đều hư không! (dựa theo lời của người viết)
“Diễm hôn phớt qua má tôi rồi vụt biến vào bức ảnh khỏa thân rất đẹp đang treo trên tường. Tôi chới với đôi tay để giữ nàng lại nhưng không kịp, đành ôm mối tiếc thương nương theo luồng sáng của ngọn đèn quay phim lễ cắt băng khai mạc phòng triển lãm mà tan biến vào bóng tối vừa trùm xuống bên ngoài”. Thật là một kết luận xuất sắc và đồng thời chứng minh cho những suy nghĩ của tôi về nội dung của câu chuyện “Say Trong Ánh Mắt”. Tóm lại, tôi hoàn toàn đồng ý với Nhà Văn Việt Hải là “Chủ điểm của bài viết là đề cao cái nhìn mới, nghệ thuật sáng tạo trong nhiếp ảnh mà Ông Lê Văn Khoa đã đeo đuổi và khai phá từ trước cho đến nay, gần nhất là bộ ảnh “Do You See What I See?” của ông. Đoạn kết đã chứng minh cho những gì Ông Khoa đã nhắn nhủ chúng ta, những người trẻ của thế hệ tương lai… Hãy nhớ lời ông nói:
“Do you see what I see?”

Sự Cám Dỗ Cuối Cùng (bàn gốc) – Ảnh Lê Văn Khoa – Sự Cám Dỗ Cuối Cùng Vậy thì “Nghệ thuật” là gì và thế nào là “Nét nghệ thuật”? Có phải “Nghệ Thuật” là ở chỗ xắp xếp như thế nào cho hợp lý và đẹp mắt? Và “Nghệ thuật” theo Ông Khoa, thì “Nghệ thuật” phải đến từ tâm, từ óc hòa trộn vào nhau để rồi tỏa ra một nét đẹp có chiều sâu, có ý nghĩa. Đó mới chính là nghệ thuật. Vì thế mà trong lãnh vực nhiếp ảnh, Ông chia nhiếp ảnh ra làm 2 phần:
- Nhiếp ảnh Mỹ Thuật là chụp ảnh đẹp hay còn được gọi là “Pictorial Photography“.
- Nhiếp ảnh Nghệ Thuật hay Artistic Photography phải từ lòng mình mà ra, phải nghiên cứu trước và mục đích của nó nói lên cái gì?
- TRUYỆN NGẮN THỨ HAI: “NOCTURNE”.
Đọc qua câu chuyện trong tác phẩm truyện ngắn “Say Trong Ánh Mắt” đã đưa tôi từ thắc mắc (wonder) này đến thắc mắc kia. Nguồn cảm hứng nào đã khiến Ông Lê Văn Khoa sáng tác thêm một truyện ngắn thứ hai với tựa đề “Nocturne?” Có phải những năm trước đây chỉ vì sự ích kỷ, lòng ham muốn chiếm đoạt, tham vọng trở thành cường quốc vững mạnh nhất trên thế giới mà hai nước NGA, MỸ trở nên thù nghịch như mọi người thường nghĩ? Phải chăng Ông Lê Văn Khoa đã dùng âm nhạc và ngòi bút của mình để mong kéo hai quốc gia này lại gần nhau hơn? Và có phải niềm đam mê âm nhạc cổ điển đã tạo cơ hội cho con người quên hận thù và trở nên yêu thương, gắn bó bên nhau? Hay chủ ý của Ông là dùng câu chuyện để diễn giảng một bài học quan trọng về thể loại âm nhạc không lời, nhạc hàn lâm và bác học, một thể loại ít người hưởng ứng và đòi hỏi một kiến thức âm nhạc ở trình độ cao để hiểu và thưởng thức? Chẳng khác gì tác phẩm thứ nhất “Say Trong Ánh Mắt,” Ông Lê Văn Khoa đã dùng ngòi bút của mình để chuyên chở những ý nghĩ nhiếp ảnh, thì qua tác phẩm thứ hai“Nocturne,“ Ông dùng lời văn để gởi gấm những tinh túy, đặc thù trong âm nhạc không lời.
“Nocturne” là một câu chuyện mà Ông Lê Văn Khoa dựa trên trải nghiệm khi qua Ukraine để tìm người thu thanh những bài nhạc giao hưởng của ông. Trong chuyến đi ấy, ông đã được giới thiệu đến người độc tấu violin trong một bối cảnh vô cùng lãng mạn nơi công viên, với không khí lạnh giá của ngày đầu tháng ba, khi tuyết vẫn còn rơi, phủ đầy trên mặt đất một màu trắng xóa và đọng trên cành cây những hạt tuyết hóa đá chồng chất lên nhau, lấp lánh như những hạt kim cương. Tất cả đã được Ông lưu lại trong tác phẩm “Nocturne” và đây cũng là nguồn cảm hứng khiến Ông sáng tác câu chuyện tình cảm này.
Bối cảnh của câu chuyện xảy ra tại Moskova, thủ đô của Nga, một quốc gia có nhạc viện Tchaikowsky (Tchaikowsky Conservatory) nổi tiếng. “Nocturne” là một truyện ngắn mà thoat nghe thì tưởng đây là một câu chuyện tình yêu lãng mạn như Nhà Văn Việt Hải đã đặt tên cho nó là “Chuyện tình Nga-Mỹ” bởi đây là một chuyện tình éo le, sôi động giữa cô nhạc sĩ người Nga, tên Anastasiya Smirnoff và anh nhạc sĩ đến từ Mỹ tên Alex Anderson. Như bao nhiêu câu chuyện tình yêu khác, Anastasiya và Alex yêu nhau say đắm, họ chia sẻ cho nhau những giây phút mặn nồng, chan chứa những yêu đương nóng bỏng như Ông Lê Văn Khoa đã diễn tả qua ngòi bút của ông (Lê Văn Khoa, Một Người Việt Nam, trang 100): “Môi chàng đã bị khóa kín bởi những nụ hôn nồng nàn, nóng bỏng, những tình cảm rạt rào của hai trái tim lạnh giá bị đè nén từ lâu nay đột nhiên được khơi dậy, bùng nổ như núi lửa, như nước vỡ bờ…”
Viết như thế này thì ai dám bảo rằng Ông Lê Văn Khoa chỉ yêu âm nhạc và nhiếp ảnh chứ? Theo tôi ông chẳng những là một thiên tài của âm nhạc, một nhiếp ảnh gia tài ba, một người đáng yêu của nhân loại mà còn là một nhà văn. Thật vậy, càng đi sâu vào câu chuyện “Nocturne” tôi lại càng bị thu hút bởi nghệ thuật dùng văn chương để diễn tả một mô thức giảng dạy rất tinh vi về âm nhạc, một lối truyền bá tinh thông mà chẳng ai nghĩ đến trước kia.
“Dream” và “Nocturne” là hai nhạc phẩm được lồng vào trong tác phẩm văn học có cùng tên với bài nhạc. Khi được hỏi tại sao Ông chọn hai nhạc phẩm Nocturne và Dream. Ông trả lời: Hai bài nhạc được chọn vì hai bài này có nhiều diễn tả mà người nghe có thể theo dõi không khó lắm.
Ông Lê Văn Khoa đã dùng một nhạc sĩ độc tấu violin, một tài năng vượt trội đã chiếm giải thưởng quán quân của toàn liên bang Sô-Viết khi cô 16 tuổi và hiện là giáo sư của nhạc viện Tchaikowsky (Tchaikowsky Conservatory of Ukraine) và được mời đi dạy nhiều nơi trên thế giới, để trình diễn tác phẩm “Nocturne” và “Dream” của Ông. Chính vì thế mà nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa muốn lồng bài nhạc vào trong câu chuyện cho thêm phần ướt át và ông muốn diễn tả tâm trạng này qua những đoạn hết sức gay cấn.

Ban Chủ Trương và Thân Hữu
Cùng Ông Bà Lê Văn Khoa




