• Dương Viết Điền,  Tin tức

    TÌNH YÊUQUA THI CA VIỆT NAM

    Khi nói đến tình yêu, thông thường người ta hay đề cập đến sự rung động hai con tim của một cặp nhân tình. Nói khác đi, khi hai trái tim của một nam và một nữ đang cùng thổn thức bên nhau bất chấp cả thời gian lẫn không gian, người ta nói rằng họ đang yêu nhau. Như vậy ở đây chúng ta cần loại bỏ những trường hợp tình yêu không do sự rung động của hai con tim bắt nguồn từ một vài trường hợp nào đó, hay vì những hoàn cảnh khác tạo thành. Chẳng hạn như hai người thành vợ thành chồng nhưng không phải vì họ đã yêu nhau, mà do cha mẹ của hai gia đình đã hứa hẹn với nhau từ trước như ngày xưa qua mấy câu thơ sau:

    Chồng chị là ai

    Chị nào có biết

    Đợi đến ngày mai

    Dòm sang kẽ liếp

    Hay là trường hợp của hai nhà khoa học trong tổ chức “American Association for the Advancement of Science” đã tuyên bố nhân ngày Valentine năm 1997 tại Washington rằng, tình yêu lãng mạn của con người từ cổ chí kim, từ đông sang tây là do ảnh hưởng bởi những chuỗi phản ứng hoá học mà thôi. Sở dĩ chúng ta cần loại bỏ những trường hợp nói trên vì hai chữ tình yêu mang một ý nghĩa quá rộng lớn và cũng để cho phù hợp với đề tài vậy.

    Ai cũng biết rằng “Cái tình là cái chi chi, dẫu chi chi cũng chi chi với tình”. Cái chi chi ở đây là sự yêu nhau say đắm, là sự nhớ nhung chất ngất. Cái chi chi ở đây là những quằn quại đớn đau, là những năm tháng giận hờn. Chàng yêu nàng rồi thề non hẹn biển. Nàng yêu chàng để rồi nức nở sầu thương. Khi yêu nhau họ chẳng biết trời trăng mấy nước đâu cả. Đến lúc xa nhau vì không còn yêu nhau nữa, họ bắt đầu nhìn trời trăng mây nước mà lòng buồn vời vợi vì “nghìn trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười!”. Thật vậy, tình yêu đúng là “cái chi chi”. Lắm lúc yêu nhau để rồi nhớ nhau mất ngủ. Lắm lúc yêu nhau nhưng bỗng nhiên lại giận nhau để rồi khắc khoải đêm ngày. Yếu tố “thất tình” (vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ) luôn luôn ám ảnh cặp tình nhân khi hai trái tim họ đang cùng thổn thức.

    Theo y lý Đông phương, yếu tố “thất tình” đưa đến tình chí bị kích động, sang chấn về tinh thần. Điều này làm cho âm dương, khí huyết, tạng phủ, kinh lạc mất thăng bằng rồi sinh ra đủ thứ bệnh tật. Bởi vì khi hai người yêu nhau, chắc chắn những chuyện vui, giận, buồn, lo, nghĩ, kinh, sợ sẽ xuất hiện trong tâm hồn họ hằng ngày. Cứ thế, nếu chàng và nàng càng yêu nhau, yếu tố “thất tình” xuất hiện trong tâm hồn họ càng mãnh liệt. Và cũng theo thuyết Đông y, nếu vui quá sẽ hại tim, giận quá sẽ hại gan, suy nghĩ quá sẽ hại tỳ, lo lắng quá sẽ hại phổi, sợ hãi quá sẽ hại thận. Vì sự xuất hiện của “thất tình” khi họ đang yêu nhau nên nếu ta biểu diển tình yêu của họ trên một đồ thị, ta sẽ thấy đường cong khi lên khi xuống, khi cao khi thấp thất thường. Và một ngày nào đó nếu ta thấy đường cong ấy đâm thẳng xuống và đụng trục hoành, thế là xong: chàng và nàng vì một lý do nào đó không lấy nhau được nên đã cùng nhau nhảy xuống sông để vĩnh biệt cõi đời cho trọn tình trọn nghĩa, cho trọn vẹn lời thề. Anh chàng Roméo và nàng Juliete của Shakespear đúng là biểu tượng của đường cong này ở nơi có dòng sông tuyệt đẹp Adige chảy qua thành phố Verona bên bờ hồ Garda ở miền Bắc nước Ý đầy những di tích cổ kính nhiệm màu. Anh chàng Lương Sơn Bá và nàng Chúc Anh Đài cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó ở bên xứ Vạn Lý Trường Thành.

    Riêng tại nước ta, lịch sử tình yêu cũng đã cho ta thấy rất nhiều chuyện tình buồn vời vợi, mỗi khi nhớ lại ai ai cũng phải rơi lệ đến nghẹn ngào. Vậy thì qua thi ca Việt Nam, ta hãy xem “cái tình lá cái chi chi, dẫu chi chi cũng chi chi với tình”đó được diễn tả như thế nào?

    Vì hai chữ tình yêu quá rộng lớn nên để trình bày được dễ dàng, chúng ta tạm thời chỉ đề cập đến ba phần: lúc đang yêu nhau, tình yêu bất thành và tình yêu đã thành nhưng rồi phải xa nhau.

    A. Lúc đang yêu nhau:

    Một triết gia Tây phưong, ông Virgile, đã từng nói rằng ái tình còn mạnh hơn sự chết. Vì thế mà lúc đang yêu nhau, đôi tình nhân chẳng biết trời trăng mây nước hiện giờ nằm ở đâu. Họ chỉ biết yêu nhau thật say đắm, yêu nhau thật điên cuồng, miễn sao họ cảm thấy đê mê trong hồ bơi tình ái cho dù nếu có động đất xảy ra đến 9 hay 10 độ Richter, họ cũng vẫn yêu nhau đắm say vì “ái tình còn mạnh hơn sự chết” mà! Lúc mới bắt đầu yêu, đôi tình nhân nghe tim mình đập thình thịch. Thế rồi bốn mắt nhìn nhau như bị thôi miên vì đang say đắm và ngụp lặn trong men tình. Rồi môi bắt đầu run như bị cảm lạnh khi đi giữa đêm đông đầy giá rét. Cặp tình nhân cảm thấy như có cái gì chận ở cuống họng nên bị nghẹn lời. Vâng, họ đang yêu nhau đấy:

    Môi run, lời chẳng ngỏ,

    Mắt đắm trong men tình:

    Thì ra hai đứa chúng mình say yêu,

    Lòng phiêu phiêu.

    Ngợp trong cảm giác rất nhiều mến thương.

    Phải chăng giấc mộng yêu đương

    Hay cơn say tình bất thường là đây?

       (Trong bài “Say Yêu”của Nguyễn Thị Vinh)

    Tuy nhiên có nhiều đôi tình nhân không muốn trầm lặng, không muốn nghẹn ngào. Bởi vì chàng muốn nàng phải nói, phải nói và phải nói. Chàng muốn nàng phải nói yêu trăm bận đến nghìn lần. Chàng muốn nàng khi yêu thì tay phải riết, miệng phải cười, đầu phải ngả chứ đừng êm đềm và phẳng lặng như mặt nước hồ thu khi đứng gió. Yêu tha thiết như thế vậy mà vẫn thốt lên là chưa thấm vào đâu:

    Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ,

    Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần;

    Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm xuân,

    Đem chi bướm thả trong vườn tình ái.

    Em phải nói, phải nói và phải nói:

    Bằng lời riêng nơi cuối mắt, đầu mày.

    Bằng nét vui, bằng vẻ thẹn, chiều say,

    Bằng đầu ngả, bằng miệng cười, tay riết,

    Bằng im lặng, bằng chi anh có biết!

    Cốt nhất là em chớ lạnh như đồng,

    Chớ thản thiên bên một kẻ cháy lòng,

    Chớ yên ổn như mặt hồ nước ngủ.

    Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ.

         (Trong bài: “Phải Nói” của Xuân Diệu)

    Để tiếp tục cuộc chiến tình yêu như đôi nhân tình nói trên, nhiều cặp tình nhân yêu nhau quá cuồng nhiệt. Tình yêu của họ được biểu lộ qua những động tác hết sức mãnh liệt đầy dục tình. Nhất là lúc họ đã trở thành đệ tử của Lưu Linh để cố say sưa cho quên đời mặc cho trời đất nghiêng ngửa, mặc cho mưa gào gió thét, cho dù đó chỉ là hư ảnh của nàng mà chàng đang ngồi mơ tưởng:

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – 

    Ánh đèn tha thướt

    Lưng mềm, não nuột dáng tơ

    Hàng chân lả lướt

    Đê mê hồn gởi cánh tay hờ.

    Âm ba gờn gợn nhỏ,

    Ánh sáng phai phai dần

    Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân

    Lui đôi vai, tiến đôi chân,

    Riết đôi tay, ngả đôi thân

    Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió

    Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ,

    Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta!

    Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa

    Tay mềm mại, bước còn chưa chếnh choáng.

    Chưa cuối xứ Mê Ly, chưa cùng trời Phóng Đãng

    Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men.

    Say đi em! Say đi em!

    Say cho lơi lả ánh đèn

    Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt.

    Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!

    Ta quá say rồi

    Sắc ngả màu trôi

    Gian phòng không đứng vững

    Có ai ghì hư ảnh sát kề môi.

    Chân rã rời

    Quay cuồng chi được nữa

    Gối mỏi gần rơi

    Trong men cháy, giác quan vừa bén lửa

    Say không còn biết chi đời

    Nhưng em ơi,

    Đất trời nghiêng ngửa

    Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ;

    Đất trời nghiêng ngửa

    Thành Sầu không sụp đổ em ơi!

      (Trong bài: “Say đi em” của Vũ Hoàng Chương)

    Ngược lại với chuyện tình trên, đôi uyên ương khác lại muốn khi yêu nhau hãy để cho tình yêu nằm lơ lửng giữa trời! Chàng không muốn gặp nàng để cho cuộc tình trở thành huyền thoại, để cho cuộc tình đẹp mãi nghìn đời. Em hẹn anh rồi nhưng đừng đến nghe em. Có như thế anh mới nhớ em đến điên cuồng và khờ dại, anh mới nhớ em đến điêu đứng, quay quắt để rồi rối loạn cả tâm hồn. Nếu đã trót lỡ đến thăm anh dù trời đang mưa hay nắng, em hãy cố gắng quay về đừng gặp anh nữa nghe em, để cho anh được rung cảm hồn anh theo một giai điệu trầm bổng tuyệt vời: Đời mất vui khi đã vẹn câu thề, tình chỉ đẹp những khi còn dang dở. Mấy vần thơ sau đây của thi sĩ Hồ Dzếnh đã diễn tả chuyện tình này thật diễm tuyệt:

    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!

    Để lòng buồn anh dạo khắp trong sân.

    Ngó lên tay thuốc lá cháy lụi dần,

    Anh nói khẽ: “Gớm, sao mà nhớ thế!”

    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!

    Em tôi ơi, tình có nghĩa gì đâu?

    Nếu là không lưu luyến lúc ban đầu,

    Thuở ái ân mong manh như nắng lụa.

    Hoa lá ngập ngừng, cỏ cây lần lữa,

    Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi

    Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi.

    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!

    Anh sẽ trách, cố nhiên, nhưng rất nhẹ:

    Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,

    Đời mất vui khi đã vẹn câu thề,

    Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở.

    Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,

    Cho nghìn sau lơ lửng…với nghìn xưa.

          (Bài “Ngập ngừng” của Hồ Dzếnh)

    Tuy nhiên có nhiều cặp tình nhân thật là rắc rối, mong người yêu đến từng giờ, từng phút, từng giây vì khi xa người yêu thì nhớ nhung chất ngất. Nhưng khi người yêu đã đến với nàng cũng vì nhung nhớ đến điên cuồng, nàng lại phủ nhận sự hiện hữu của chàng bên cạnh! Giận quá chàng không biết phải làm sao, chỉ biết thổ lộ tâm tình qua mấy vần thơ:

    Tao ở nhà tao, tao nhớ mi,

    Nhớ mi nên phải bước chân đi.

    Không đi mi nói rằng không đến,

    Đến thì mi nói đến làm chi.

    Làm chi tao đã làm chi được,

    Làm được chớ tao đã làm chi.

      (Bài “Bỡn tình nhân”của Nguyễn Công Trứ)

    B. Tình yêu bất thành:

    Không phải bao giờ yêu nhau cũng thành tựu cả. Biết bao nhiêu mối tình lúc đầu thật đẹp, thật nên thơ nhưng rồi vì một lý do nào đó đã làm cho họ bất thành, để rồi phải xa nhau đời đời không sống chung với nhau được nữa. Có lẽ lúc mới gặp nàng lần đầu, chàng ta còn bỡ ngỡ rụt rè, tim đập loạn nhịp vì chưa bao giờ yêu. Phần vì thẹn thùng, phần vì ngại ngùng nên chàng chỉ biết nhìn nàng mà không nói nên lời. Để rồi sau này khi nghe nàng trần tình, chàng mới tiếc quay quắt vì chỉ có “ba đồng một mớ trầu cay” là có thể làm chủ được trái tim nàng mà không biết:

    Trèo lên cây bưởi hái hoa

    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

    Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

    Em có chồng anh tiếc lắm thay

    Ba đồng một mớ trầu cay

    Sao anh không hỏi những ngày còn không

    Bây giờ em đã có chồng

    Như chim vào lồng như cá cắn câu

    Cá cắn câu biết đâu mà gỡ

    Chim vào lồng biết thưở nào ra.

                       (Ca dao Việt Nam)

    Tuy nhiên nhiều khi hai người mới gặp nhau có lẽ chỉ mới liếc mắt đưa tình mà trong lòng đã thấy bâng khuâng rồi nhung nhớ. Thế rồi sau đó họ đã xa nhau để rồi một trong hai người thấy buồn diệu vợi mà ngâm lên một giai điệu thật não nùng:

    Chim xa rừng thương cây nhớ cội

    Người xa người tội lắm người ơi!

    Thà rằng chẳng biết thì thôi

    Biết rồi mỗi đứa một nơi sao đành!

                                 (Ca dao Việt Nam)

    Cũng giống trường hợp như trên, nhưng chàng và nàng ở cùng tổng nhưng lại khác làng. Hai người đã gặp nhau đâu đó khi đi cấy đi cày, hay lúc ra đồng gặt lúa rồi bất chợt nhìn nhau liếc mắt trao tình để rồi hai con tim của chàng và nàng bỗng nghe xao xuyến, bâng khuâng. Thế rồi đêm khuya thanh vắng, nàng ngồi một mình mắt nhìn về làng nơi chàng đang ở mà nhớ, mà yêu, mà sầu, mà thảm, rồi cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi! Và nàng đã thốt lên trong cơn mê rằng thương chàng lắm lắm chàng ơi!:

    Đêm qua mưa bụi gió bay,

    Gió rung cành bạc, gió lay cành vàng

    Em với anh cùng tổng khác làng

    Nào em biết ngõ nhà chàng ở đâu!

    Một thương, hai nhớ, ba sầu,

    Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi.

    Thương chàng lắm lắm chàng ơi!

    Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than,

    Muốn than mà chẳng được than,

    Kìa như đá đổ bên ngàn lầu Tây,

    Đá đổ còn có khi đầy,

    Thương chàng biết thuở nào khuây hở chàng.

           (Bài “Thương nhớ anh”, ca dao Việt Nam)

    Có nhiều cặp tình nhân đang yêu nhau tha thiết thì chiến tranh bùng nổ. Chàng phải lên đường để bảo vệ non sông vì quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Thế rồi cảnh biệt ly sao mà buồn da diết. Chàng và nàng bắt đầu nhớ thương nhau. Chàng ở chốn biên thùy đang say khói súng giữa chiến địa hoang tàn, nhưng lòng vẫn buồn vời vợi và mắt luôn luôn vọng về cố quận xa xăm vì mỗi người mỗi ngã, đôi ngã đôi ta. Nàng ở quê nhà cũng buồn da diết vì nhớ thương chàng để rồi dòng lệ dạt dào tuôn trào trên má vì đôi bờ ngăn cách:

    Xa quá rồi em người mỗi ngã

    Bên này đất nước nhớ thương nhau

    Em đi áo mỏng buông hờn tủi

    Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

        (Trong bài: “Đôi Bờ” của Quang Dũng)

    Hay là cái thưở ban đầu lưu luyến ấy vào một đêm vừa gió lại vừa mưa, hai mươi bốn năm xưa, trong một gian nhà nhỏ, chàng và nàng ngồi nhìn nhau bên ngọn đèn dầu hiu hắt để rồi cùng nhau than vắn thở dài rằng, tình thương nhau thì vẫn nặng, nhưng lấy nhau thì cả hai người biết chắc rằng không đặng. Có lẽ chàng và nàng đều biết cha mẹ sẽ không bằng lòng. Nhưng khi chàng và nàng đã quấn quýt bên nhau giữa một đêm mưa gió bão bùng thì buông nhau làm sao cho nỡ. Thôi thì chàng và nàng thương nhau được chừng nào thì thương nhưng rồi phải liệu tìm cách mà xa nhau vì không bao giờ thành vợ thành chồng làm sao mà tính việc thủy chung:

    Hai mươi bốn năm xưa

    Một đêm vừa gió lại vừa mưa

    Dưới ngọn đèn mờ

    Trong gian nhà nhỏ

    Hai cái đầu xanh kề nhau than thở

    “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,

    Mà lấy nhau hẳn là không đặng.

    Để đến nỗi tình trước phụ sau,

    Chi cho bằng sớm liệu mà xa nhau!”

    Hay:

     “Nó mới bạc làm sao chớ.

    Buông nhau làm sao cho nỡ?

    Thương được chừng nào hay chừng ấy.

    Chẳng qua ông trời bắt ta phải vậy:

    Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng.

    Mà tính việc thủy chung?”

    Hai mươi bốn năm sau,

    Tình cờ đất khách gặp nhau,

    Đôi cái đầu đều bạc,

    Nếu chẳng quen lưng đố có nhìn ra được!

    Ôn chuyện cũ mà thôi

    Liếc đưa nhau đi rồi!

    Con mắt còn có đuôi.

          (Bài “Tình già” của Phan Khôi)

    Tuy nhiên không phải ai ai cũng yêu nhau để rồi tính việc chung thủy đời đời mà trái lại nhiều khi mới yêu nhau, nhưng nàng lại tìm cách xa chàng vì tiếng sét ái tình từ duyên mới. Điều này làm cho chàng bơ vơ lạc lõng giữa dòng đời để rồi vết thương lòng triền miên tê tái khiến chàng đã phải thốt lên một giai điệu đắng cay:

    Sao em hờ hững thế cho đành,

    Duyên mới cùng người hất hủi anh.

    Tội nghiệp cho đời anh biết mấy!

    Trăm năm chưa chắc vết thương lành”.

         (Trong bài “Hờ hững” của Tế Hanh)

    Và cũng thế, chàng và nàng khi đã yêu nhau cứ tưởng sẽ yêu nhau mãi mãi trọn đời để rồi họ cùng nhau đắm say dưới ánh trăng vàng trong đêm khuya thanh vắng. Ngờ đâu chỉ vì một lỗi lầm nho nhỏ chạm tự ái nhau, chàng và nàng cuối cùng đã phải xa nhau khiến chàng ôm hận muôn đời khi biết nàng đang điên trên gối mộng người thương:

    Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu.

    Em cười, em nói suốt trăng thâu;

    Yêu nhau những tưởng yêu nhau mãi,

    Tình đến muôn năm chửa bạc đầu

    .……………………………………………………

    Tình ái hay đâu mộng cuối trời…

    Nhầm nhau giây lát hận muôn đời

    Kẻ ra non nước người thành thị,

    Đôi ngã tình đi, người mỗi nơi.

    Hôm nay ngồi ngắm ở bên sông,

    Ta được tin ai mới lấy chồng;

    Cười chưa dứt câu tình đã vội…

    Nàng điên trên “gối mộng” người thương

         (Trong bài “Tình điên” của Lưu Trọng Lư)

    Nhưng nhiều khi nàng yêu chàng đến say đắm, điên cuồng và luôn luôn ước mơ xây dựng một lâu đài chung thủy nghìn năm. Nhưng rồi nàng đã vỡ mộng vì gia đình bắt nàng phải lấy một người chồng mà con tim nàng chưa bao giờ có một mảy may rung động hay thổn thức. Cuối cùng nàng đành phải ngậm đắng nuốt cay trước những ái ân lạt lẽo của người chồng qua biết bao nhiêu mùa lá rụng, để rồi lặng lẽ dệt mấy vần thơ thật nghẹn ngào đầy nước mắt:

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi

    Mà từng thu chết, từng thu chết

    Vẫn giấu trong tim một bóng người.

                                             (T.T.K.H)

    Khi đọc mấy vần thơ trên của người yêu cũ, chàng thấy nhức nhối con tim để rồi đầm đìa giọt lệ vì thương nhớ nàng. Đêm đêm ngồi khắc khoải sầu thương khóc cho tình yêu sao mà đầy khổ lụy, chàng cũng liền dệt mấy vần thơ rồi gởi cho nàng để an ủi đời nàng:

    …………………………………………………………………………………………………………………………………………

    Thôi em nhé! Từ đây anh cất bước,

    Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui

    Đừng buồn thương, nhớ tiếc, hoặc ngậm ngùi,

    Muôn việc thảy đều do nơi số kiếp.

            (Bài “Dang dở” của Thâm Tâm tặng T.T.K.H)

    Hay là:

    ……………………………………………………………………………………………………………………………………….

    K. hỡi! Người yêu của tôi ơi!

    Nào ngờ em giết chết một đời!

    Dưới mồ đau khổ anh ghi nhớ

    Hình ảnh em hoài, mãi thế thôi.

        (Bài “Màu máu Ti gôn” của Thâm Tâm gởi T.T.K.H)

    Tuy nhiên có nhiều trường hợp không phải vì chàng và nàng yêu nhau, mà tình yêu chỉ xảy ra đơn phương cho chàng mà thôi. Vâng, chàng thấy nàng thấp thoáng bên cạnh nhà năm ba lần rồi bắt đầu thương nhớ. Chàng nhớ cô hàng xóm, chàng thương cô láng giềng. Hai người sống giữa cô đơn, nhưng chàng lại không bao giờ chịu qua thăm nàng:

    Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,

    Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn.

    Hai người sống giữa cô đơn,

    Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi

    Giá đừng có dậu mùng tơi,

    Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.

          (Trong bài “Cô hàng xóm” của Nguyễn Bính)

    Vì không chịu qua thăm nàng nhưng thỉnh thoảng lại nhớ nàng đến quằn quại nên chàng đành phải nhờ một người trung gian, qua một giấc mơ, để liên lạc đêm ngày: con bướm trắng. Khi con bướm trắng bay vào nhà chàng, chàng muốn hỏi con bướm tại sao chả bao giờ thấy nàng cười mỗi khi nàng ra hong tơ ướt ở ngoài mái hiên, mà chỉ thấy mắt nàng đăm đắm trông lên. Nhưng chưa hỏi kịp thì con bướm đã bay về bên kia rồi. Thế rồi mấy hôm nay vì tầm tầm trời cứ đổ mưa nên chàng chẳng thấy nàng ra hong tơ nữa, nhớ ơi là nhớ! Nhưng mấy ngày sau, bầu trời đã quang đãng rồi, mưa cũng đã tạnh, nhưng chàng vẫn không thấy bóng nàng thấp thoáng sau cái dậu mùng tơi, chàng cũng vẫn không thấy con bướm trắng bay sang nhà chàng nữa. Thì ra đêm qua nàng đã chết rồi, khiến chàng đớn đau quằn quại để rồi rưng rưng chàng gục xuống bàn rưng rưng. Nghẹn ngào chàng khóc đến điên cuồng, khờ dại vì chàng đã yêu nàng da diết, yêu nàng đến đắm say:

    ……………………………………………………………………………………………………

    Tầm tầm trời cứ đổ mưa

    Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm.

    Cô đơn buồn lại thêm buồn,

    Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?

    Hôm nay mưa đã tạnh rồi!

    Tơ không hong nữa bướm lười không sang,

    Bên hiên vẫn vắng bóng nàng,

    Rưng rưng… tôi gục xuống bàn rưng rưng…

    Nhớ con bướm trắng lạ lùng!

    Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng.

    Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!

    Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!

    Đêm qua nàng đã chết rồi,

    Nghẹn ngào tôi khóc… Quả tôi yêu nàng.

    Hồn trinh còn ở trần gian?

    Nhập vào bướm trắng mà sang bên này?

         (Trong bài “Cô hàng xóm” của Nguyễn Bính)

    Và rồi cũng chỉ đơn thương độc mã, một mình một ngựa, chàng cũng chỉ đơn phương yêu nàng nhưng không phải yêu cô hàng xóm mà yêu một người ở xa tận cuối thôn Đông. Cho dù thôn Đông là thôn nàng ở, và thôn Đoài là thôn chàng cư ngụ, nhưng hai thôn cùng thuộc một làng nên chàng và nàng cách nhau chẳng xa gì cho lắm. Vậy mà nàng chẳng bao giờ sang bên này cho chàng được thấy dung nhan, để rồi chàng thương, chàng nhớ, khiến chàng đã tương tư thức mấy đêm rồi, biết cho ai biết, ai người biết cho:

    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

    Mộng người chín nhớ mười mong một người.

    Gió mưa là bệnh của trời,

    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

    Hai thôn chung lại một làng,

    Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này,

    Ngày qua ngày lại qua ngày,

    Lá xanh nhuộm đỏ thành cây lá vàng.

    Bảo rằng cách trở đò giang,

    Không sang là chẳng đường sang đã đành

    Nhưng đây cách một đầu đình

    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi

    Tương tư thức mấy đêm rồi,

    Biết cho ai biết, ai người biết cho.

    Bao giờ bến mới gặp đò,

    Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau.

    Nhà em có một giàn trầu,

    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

    Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?

             (Bài “Tương tư” của Nguyễn Bính)

    C. Tình yêu đã thành rồi xa nhau:

    Trong mục này, tình yêu đã thành có nghĩa là hai người đã lấy nhau thành vợ thành chồng rồi, nhưng cuối cùng rồi phải xa nhau vì số phận đã được an bài: chàng và nàng đành phải ly biệt vì chiến tranh hay vì chiến tranh triền miên kéo dài quá lâu ngày, hoặc là một trong hai người đã thành người thiên cổ.

    Chúng ta ai cũng biết rằng vua Tự Đức là một thi sĩ nổi tiếng vang bóng một thời. Khi bà Bằng Phi qua đời, ông đã biểu lộ tâm tư của mình qua bài “Khóc Bằng Phi” thật là não nùng ai oán.

    Nhớ bà Bằng Phi quá đến nỗi ông muốn đập vỡ kính ra để tìm bóng “nàng”, rồi xếp mấy tấm áo quần cũ của bà ta lại để dành hơi!:

    Ới Thị Bằng ơi! Đã mất rồi,

    Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ơi!

    Mùa hè nắng chái oanh ăn nói,

    Sớm ngõ trưa sân liễu đứng ngồi.

    Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,

    Xếp tàn y lại để dành hơi.

    Mối tình muốn dứt càng thêm bận,

    Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.

         (Bài “Khóc Bằng Phi” của vua Tự Đức)

    Ngược lại với sự ra đi của nàng là chàng. Ở đây chàng đã qua đời lúc nàng còn quá trẻ, khiến cho nàng bàng hoàng rồi xúc động đến nghẹn ngào. Đó là nữ sĩ Tương Phố Đỗ Thị Đàm.

    Nữ sĩ Tương Phố lấy chồng năm 17 tuổi, xa chồng năm 19 tuổi và trở thành góa phụ năm 21 tuổi. Khi nghe chồng là bác sĩ Thái Văn Du qua đời, bà đã vào Huế rồi ôm con ngồi khóc bên mộ chồng đến khô cả dòng lệ. Sau đó bà đã nức nở sầu thương thật lâm ly bi thảm, thật thống thiết ngậm ngùi qua thi tập GIỌT LỆ THU đến nỗi một nữ sĩ Pháp, bà Jeanne Duclossalesses quá xúc động nên đã dịch sang Pháp ngữ với tựa đề “Larmes d’Automme”. Sau này khi về lại Huế thăm mộ chồng, bà vẫn ngậm ngùi thương tiếc qua mấy dòng thơ trong bài “Bình hương lỗi nguyện”:

    ………………………………………………………………………..

    Bỗng một phút bình tan gương vỡ

    Để tình này dang dở, dở dang;

    Thề duyên thôi đã phụ phàng,

    Non sông trăng nước bẽ bàng vì ai.

    Nay trở lại ngậm ngùi cảnh cũ;

    Người xưa say giấc ngủ ngàn năm!

    Tử sinh xé giải đồng tâm,

    Trước mồ, lã chã không cầm hàng châu.

    Khóc nhau, dễ gặp nhau đâu nữa,

    Tìm nhau đành tìm ở chốn nầy;

    Tro vàng lẫn khói hương bay,

    Tro tàn, khói tỏa bao khuây hận tình!

    Trên đây là chuyện tình đầy nước mắt cùa nàng và chàng để rồi cuối cùng nàng chỉ biết ngồi khóc trên mộ chàng qua những năm tháng còn lại của cuộc đời đầy đau khồ.

    Tuy nhiên có nhiều người vì quá nhớ thương yêu người mình đã chết, liền ra ngồi bên nấm mộ mà nức nở sầu thương, rồi như muốn đánh thức hồn ma dậy để nói chuyện và chàng muốn xuống dưới mộ để thăm nàng! Ta hãy nghe nhà thơ Đinh Hùng nói chuyện với hồn ma dưới đáy mộ giữa đêm khuya thanh vắng với những vần thơ thật ghê rợn qua bài “Gởi người dưới mộ”:

    Trời cuối thu rồi em ở đâu?

    Nằm trong đất lạnh chắc em sầu?

    Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,

    Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.

    Em mộng về đâu?

    Em mất về đâu?

    Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu

    Đây màu hương khói là màu mắt xưa

    Em đã về chưa?

    Em sắp về chưa?

    Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,

    Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn

    Em hãy cười lên, vọng cõi âm

    Khi trăng thu lạnh bước đi thầm

    Những hồn phiêu bạt bao năm trước

    Nay đã vào chung một chỗ nằm,

    Cười lên em!

    Khóc lên em!

    Đâu trăng tình sử

    Nép áo trần duyên?

    Gót sen Tố nữ

    Xôn xao đêm huyền

    Ta đi lạc xứ thần tiên

    Hồn trùng dương hiện bóng thuyền u minh

    Ta gởi bài thơ anh linh

    Hỡi người trong mộ có rung mình!

    Nắm xương khô lạnh còn ân ái?

    Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?

    Hỡi hồn tuyết trinh!

    Hỡi người tuyết trinh!

    Mê em ta thoát thân hình,

    Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.

    Em có vui thêm?

    Em có buồn thêm?

    Ngồi bên cửa mộ

    Kể cho ta biết nỗi niềm.

    Thần chết cười trong bộ ngực điên,

    Ta nghe em thở tiếng ưu phiền,

    Nỗi lòng xưa dậy tan thanh vắng,

    Hơi đất mê người! Trăng hiện lên!

             (Bài “Gởi người dưới mộ” của Đinh Hùng)

    Nói chung, cũng như tất cả các dân tộc khác trên thế giới qua thi ca, nước Việt Nam ta cũng có rất nhiều chuyện tình buồn vời vợi, nhiều chuyện tình thật cay đắng, nghẹn  ngào đầy nước mắt trong lịch sử tình yêu như ta đã thấy.

    Dương viết Điền

    California, mùa Valentine

  • Dương Viết Điền,  Tin tức

    BIỆT LY QUA THI CA VIỆT NAM

    Nói đến biệt ly là nói đến xa cách không gặp nhau nữa, là nói đến chia ly mỗi người một ngã. Nhiều khi sau một thời gian sẽ gặp nhau lại, nhưng cũng có thể xa nhau nghìn năm hay vĩnh biệt nghìn đời.

    Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, chưa bao giờ ta nghe nói đến cuộc biệt ly nào vui cả. Đã nói đến biệt ly là nói đến xa nhau, xa nhau thường hay nhớ nhau mà nhớ nhau thì lòng luôn luôn buồn vời vợi. Khi thì khắc khoải sầu thương giữa đêm khuya thanh vắng, khi thì nức nở lệ sầu lúc tiễn nhau đi.

    Chính sự biệt ly thường đem đến khổ đau cho con người nên các thi nhân Việt Nam đã từng than mây khóc gió mỗi khi gặp sự ly biệt. Biết rằng khổ đau là điều cay đắng, đau thương là những quằn quại trong tâm hồn. Thế mà nhiều thi nhân lại thích đắng cay và quằn quại để dệt nên những dòng thơ ly biệt bất hủ ngàn năm.

    Chính những quằn quại và cay đắng đó đã làm cho nhiều thi nhân thích thú nên mới có bài “Thú đau thương” xuất hiện trong thi ca Việt Nam. Nếu ngày xưa ở bên xứ sương mù Anh Quốc, thi sĩ Lord Byron đã rên rỉ về sự biệt ly qua bài “When we two parted”:

    “When we two parted

    In silence and tears

    Half broken hearted

    To sever for years”.

    mà một thi sĩ nào đó đã dịch là:

    “Giờ phút chia ly đã điểm rồi

    Nghẹn ngào lặng nuốt lệ thầm rơi

    Mang mang nửa cõi lòng tan tác

    Ly biệt xui chi tủi trọn đời”.

    Thì tại Việt Nam, các thi nhân cũng rên rỉ về sự ly biệt còn ai oán lâm ly hơn nhiều. Sự biệt ly ta thấy nghẹn ngào nhất là sự ly biệt của người vợ tiễn chồng ra ngoài mặt trận vào “thưở trời đất nổi cơn gió bụi, khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên” trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn. Không ai mà không rơi lệ trước cảnh người vợ đưa tiễn chồng ra ngoài mặt trận vì biết rằng ngày về của chồng chỉ độ đào bông và lắm lúc cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi. Chính vì xưa nay mấy khi đi đánh giặc mà trở lại nhà, nên người vợ cảm thấy quá khổ đau như có linh tính là sẽ vĩnh biệt chồng ngàn năm. Thảo nào mỗi bước đi là một bước sầu tê tái, tâm hồn như choáng váng, lý trí không điều khiển được con tim khiến người vợ quá xúc động nên sắp xỉu phải vin vào áo chàng:

    “Ngoài đầu cầu nước trong như lọc

    Đường bên cầu cỏ mọc còn non

    Đưa chàng lòng dặc dặc buồn

    Bộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyền

    Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa

    Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên

    Nhủ rồi tay lại trao liền

    Bước đi một bước lại vin áo chàng”.

                                   (Đặng Trần Côn)

    Thật đúng là “Ôi! cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”. Chàng ra đi không hẹn ngày về khiến nàng đêm đêm trằn trọc bên chiếc gối, nhìn trăng không tài nào ngủ được vì cứ miên man suy nghĩ hoài về “Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”:

    “Người lên ngựa, kẻ chia bào

    Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san

    Dặm hồng bụi cuốn chinh an

    Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh

    Người về chiếc bóng năm canh

    Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

    Vừng trăng ai xẻ làm đôi

    Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”.

                                              (Nguyễn Du)

    Sự biệt ly giữa người vợ và người chồng khi tiễn chồng ra ngoài mặt trận là sự biệt ly khổ đau nhất trong thi ca Việt Nam vì người về chiếc bóng năm canh, vó câu muôn dặm sơn khê mịt mù. Để rồi từng đêm, từng đêm, người vợ hiền thao thức nghĩ về người chồng và biết đâu một ngàn năm, một vạn năm không bao giờ thấy chồng trở lại quê nhà nữa.

    Sau sự biệt ly của người vợ tiễn chồng ra mặt trận là sự ly biệt khổ đau của đôi tình nhân vừa mới yêu nhau đành phải tạm thời xa nhau vì hoàn cảnh.

    Ở đất khách quê người bên dòng sông Seine tuyệt đẹp, chàng mới yêu nàng chưa được bao lâu thì nàng lại muốn về thăm quê mẹ, khiến chàng cảm thấy lòng buồn vời vợi đến nỗi mùa đông ở Paris suốt đời là cả một cuộc biệt ly, khi chàng tiễn người yêu về thăm quê mẹ:

    “Lên xe tiễn em đi

    Chưa bao giờ buồn thế

    Trời mùa đông Paris

    Suốt đời làm chia ly

    Tiễn em về xứ mẹ

    Anh nói bằng tiếng hôn

    Không còn gì lâu hơn

    Một trăm ngày xa cách

    Ga Lyon đèn vàng

    Tuyết buông cuồng mênh mang

    Cầm tay em muốn khóc

    Nói chi cũng muộn màng”.

                        (Cung Trầm Tưởng)

    Đây là sự biệt ly của đôi tình nhân tại ga xe lửa. Nhưng nhiều người cũng tại ga xe lửa, không phải họ đến để tiễn biệt người yêu, mà để xem sự biệt ly của kẻ đi người ở. Ở đây không phải nơi đất khách quê người mà ngay tại nơi quê nhà yêu dấu, chàng thường đón những chuyến tàu đi đến những ga xe lửa để đứng bơ vơ xem tiễn biệt, rồi tâm hồn cảm thấy ngẩn ngơ và nhớ thương lan xa mấy dặm trường:

    “Những ngày nghỉ học tôi thường tới

    Đón chuyến tàu đi đến những ga

    Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt

    Lòng buồn đau xót nỗi chia xa

    … …

    Người về không nói bước vương vương

    Thương nhớ lan xa mấy dặm trường

    Lẽo đẽo tôi về theo bước họ

    Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương”.

                                                    (Tế Hanh)

    Tuy nhiên, hầu hết những đôi tình nhân đến ga xe lửa thường là để tiễn nhau đi và luôn luôn ước mơ sẽ gặp nhau lại trong một thời gian rất gần. Nhưng nếu lúc biệt ly, chàng biết chắc chắn rằng sẽ không bao giờ gặp lại người yêu nữa, nên chàng khuyên nàng đừng quay lại nhìn chàng nữa:

    “Anh biết em đi chẳng trở về

    Dặm ngàn liễu khuất với sương che

    Em đừng quay lại nhìn anh nữa

    Anh biết em đi chẳng trở về”.

                                          (Thái Can)

    Nói đến ly biệt là nói đến buồn bã, là nói ảo não sầu thương. Thế mà lúc biệt ly lại gặp mưa rơi gió thổi thì cảnh ly biệt càng thêm đau khổ nghẹn ngào.

    Nếu cổ thi có câu: “Hoàng điệp hoàng hoa cổ thành lộ. Thu phong thu vũ biệt ly nhân”. “Hoa vàng lá úa thành xưa. Nẻo đường ly biệt gió đưa tiễn người”, thì ngày nay, các thi nhân cũng đưa mây gió vào thơ để làm cho sự ly biệt thêm não nùng; để rồi “nước” và “trời” cả hai đều đượm màu hương sắc của sự biệt ly:

    “Đương lúc hoàng hôn xuống

    Là giờ viễn khách đi

    Nước đượm màu ly biệt

    Trời vương hương biệt ly

    Mây lạc hình xa xôi

    Gió than niềm trách móc

    Mây ôi và gió ôi

    Chớ nên làm họ khóc

    Buổi chiều ra cửa sổ

    Bóng chụp cả trời tôi

    Ôm mặt khóc rưng rức

    Ra đi là hết rồi”.

                      (Xuân Diệu)

    Thật thế, nhiều khi “ra đi là hết rồi”, biệt ly lắm lúc là ngàn đời vĩnh biệt. Sự ly biệt làm cho lòng người tê tái vì kẻ ở người đi nên nhiều lúc cả hai đều khóc nức nở như mưa rơi:

    “Thùng thùng trống đánh ngũ liên

    Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa”.

    Chính sự lưu luyến càng làm thêm đau khổ cho người ra đi và cũng tạo nên những khổ đau quằn quại cho người ở lại. Bởi vì khi nghĩ đến tương lai, ai nấy đều cảm thấy nhớ nhung đau buồn, cô đơn và hiu quạnh. Vì thế, giây phút bịn rịn lúc chia tay là phút giây gần nhau nhất mà kẻ ở người đi không ai muốn rời nhau, không muốn nghĩ đến ngày mai vì “ngày mai chàng ruổi xa, mặc kẻ nước mắt sa”. Nhà thơ Phan Văn Dật đã cho ta thấy rõ những sự khổ đau quằn quại đó lúc chia tay:

    “Đừng nghĩ đến ngày mai

    Hôm nay biết hôm nay

    Thiếp đây mà chàng đó

    Chừng ấy là đủ rồi

    Ngày mai chàng ruổi xa

    Mặc kẻ nước mắt sa

    Yên ngựa rong đường thẳng

    Thức dậy lúc canh gà”.

                                 (Tiễn Đưa)

    Vì biệt ly là u buồn, vì xa nhau thường nhung nhớ rồi đưa đến sự khổ đau triền miên qua những năm tháng dài lê thê trong hiu quạnh. Vì thế mà các thi nhân cũng như các nhạc sĩ đã dệt những tình khúc biệt ly thật lâm ly bi đát như “nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi. Còn gì đâu nữa mà khóc với cười” hay “Biệt ly, nhớ nhung từ đây” hoặc là “Bến cũ, ngày xưa, người đi vấn vương biệt ly. Gió cuốn, muôn phương, về đây. Bến ấy, người về hay chăng”.

    Chính vì sự biệt ly là đau buồn chua xót, là thê thảm não nùng. Chính vì sự biệt ly là khổ đau để rồi nức nở quằn quại bên nhau khiến nhiều người không dám nhắc lại sự ly biệt, vì nếu khơi lại chuyện lòng xa nhau ấy sẽ thêm buồn đau cho cuộc đời.

    Ta hãy nghe nhà thơ T.T. KH diễn tả ý nghĩ ấy qua những vần thơ bảy chữ thật buồn:

    “Đã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly

    Càng khơi càng thấy lụy từng khi

    Trách ai mang cánh ‘tigôn’ ấy

    Mà viết tình em được ích gì”.

    Tóm lại, qua thi ca Việt Nam, ta thấy các thi nhân đã sáng tác rất nhiều bài thơ liên quan đến sự biệt ly và chính sự ly biệt đã làm cho các nhà thơ đau buồn rồi xúc động mà dệt nên những dòng thơ lâm ly não nuột nghìn năm.

    Dương Viết Điền

  • Dương Viết Điền,  Tin tức

    MÙA THU QUA THI CA VIỆT NAM

    Ai đã từng đọc bài thơ nổi tiếng “Chansons D’automne” của thi sĩ lừng danh Pháp quốc Paul Verlaine đều cảm thấy lòng mình bồi hồi và xúc động. Không xúc động sao đựơc khi nhà thơ đa tình này đã rung cảm hồn mình thành những dòng thơ bất hủ sau đây để nức nở về tình thu bên bờ sông Seine tuyệt đẹp năm nào:

    Les sanglots longs

    Des violons

    De l’automne

    Blessent mon coeur

    D’une langueur monotone

    Tout suffocant

    Et blême, quand

    Sonne l’heures

    Je me souviens

    Des jours anciens

    Et je pleure

    Et je m’en vais

    Au vent mauvais

    Qui m’emporte

    Decà delà

    Pareil à la

    Feuille morte

    Tiếng đàn ai đó lê thê

    Vĩ  cầm réo rắt ê chề lòng đau

    Bơ vơ chuông đổ đồng hồ

    Lòng như héo hắt thu tàn năm xưa

    Bao kỷ niệm, theo gió đưa

    Cuốn theo lệ đổ chưa vừa xót xa

    Bao năm lữ thứ xa nhà

    Giang hồ phiêu bạt lá vàng tả tơi…”

                                            (Lãng Du)

    Thật vậy, mùa thu là mùa của tình yêu, mùa của lá vàng rơi rụng. Mùa thu là mùa của những cặp tình nhân dìu nhau đi dưới nắng thu để thưởng thức bầu không khí mát mẻ trong lành, rồi trao cho nhau những nụ hôn nồng cháy để rồi cùng nhau nhìn lá vàng rơi, rơi mãi tận cuối chân trời.

    Mùa thu là mùa các thi nhân đi tìm những vần thơ để sáng tác thành những tuyệt phẩm bất hủ nghìn năm.

    Ai đã từng đi qua phố vắng dưới ánh nắng chiều thu khi lá vàng bay bay khắp trời rồi lác đác rơi qua mái đầu và rớt xuống đất, mới cảm thấy được cái đẹp tuyệt vời của mùa thu, mới rung cảm theo nhịp của lá vàng đang rơi, rung cảm theo những tia nắng thu dịu hiền vươn mãi đến tận chân trời xa thăm thẳm. Nói đến mùa thu là nói đến mùa của lá vàng bay bay, mùa của lá vàng rơi rơi, mùa của lá vàng khô rụng khắp mọi nẻo đường. “Thu đi cho lá vàng bay, lá rơi cho đám cưới về”. Ta hãy nghe các thi nhân Việt nam nói về lá vàng rơi mỗi độ thu về qua những dòng thơ trữ tình sau đây.

    Hình ảnh nổi bật nhất về lá rụng giữa mùa thu là hình ảnh trong hai câu thơ sau đây của thi sĩ Tản Đà:

    Trận gió thu phong rụng lá vàng

    Lá bay hàng xóm lá bay sang.

    Nhưng hình ảnh trữ tình và lãng mạn nhất là hình ảnh con nai vàng ngơ ngác giữa rừng thu qua bài “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư với những câu thơ năm chữ nghe thật êm đềm như khúc nhạc tình thu trong rừng vắng:

    Em không nghe rừng thu

    Lá thu kêu xào xạc

    Con nai vàng ngơ ngác

    Đạp trên lá vàng khô

    Không phải chỉ có Tản Đà hay Lưu Trọng Lư mới nói đến lá vàng khi mùa thu tới; hầu hết các thi nhân Việt Nam đều ca ngợi cái đẹp của mùa thu bằng cách diễn tả hình ảnh của lá vàng rơi giữa trời thu. Sau đây là những dòng thơ diễn tả về lá vàng mùa thu của một số thi nhân Việt Nam.

    Sắc trời trôi nhạt dưới khe

    Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh lùng

                                              (Huy Cận)

    Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

    Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

    Đây mùa thu tới mùa thu tới

    Với áo mơ phai dệt lá vàng

                                      (Xuân Diệu)

    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

    Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

    Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

                                (Nguyễn Khuyến)

    Ai đâu trở lại mùa thu trước

    Nhặt lấy cho tôi những lá vàng

                             (Chế Lan Viên)

    Chẳng được như hoa vướng gót nàng

    Cõi lòng man mác giá như sương!

    Ta về nhặt lấy hoa thu rụng

    Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương

                                         (Thái Can)

    Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ

    Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa

    Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm

    Rừng phong lá rụng tiếng như mưa

                                   (Ngô Chi Lan)

    Đêm thu khắc lậu canh tàn

    Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm sương

                                          (Nguyễn Du)

    Ngoài lá vàng rơi là biểu tượng của mùa thu, ta còn phải đề cập đến ánh trăng thu huyền ảo. Nói đến mùa thu mà không đề cập đến ánh trăng thu mờ ảo sau áng mây trời giữa đêm khuya thanh vắng là một sự thiếu sót lớn lao đối với mùa thu.

    Không phải đêm thu nào ánh trăng cũng vằng vặc giữa trời trong khi lá vàng rơi nhè nhẹ giữa đêm khuya cô tịch mà trái lại, có những đêm thu trăng buồn ảo não, gió heo may thổi về làm cho lòng người cảm thấy u buồn man mác trước cái lạnh không làm tê buốt con tim như mùa đông, nhưng lắm lúc làm cho hồn ta bâng khuâng giá rét, làm cho hồn ta nhung nhớ lạnh lùng.

    Nếu thi sĩ Thượng Quan Nghi đời Đường bên Trung Quốc đã diễn tả cái đẹp của ánh trăng thu qua hai câu thơ:

    “Thước phi sơn nguyệt thự

    Thuyền táo đã phong thu”

    “Sườn non trăng sáng chim bay

    Đồng thu gió lộng, ve say nhạc sầu”.

                                  (Chi Điền dịch)

    Thì tại Việt Nam, rất nhiều nhà thơ đã tốn không biết bao nhiêu mực và giấy để diễn tả chị Hằng giữa đêm thu huyền diệu. Thật vậy nếu bài “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư không đề cập đến ánh trăng mờ thì toàn bài thơ mất đi rất nhiều ý nghĩa về mùa thu:

    Em không nghe mùa thu

    Dưới trăng mờ thổn thức

    Riêng nhà thơ Xuân Diệu đã nhân cách hóa ánh trăng thu khiến những dòng thơ trở thành bất tử:

    Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ

    Non xa khởi sự nhạt sương mờ

    Đã nghe rét mướt luồn trong gió

    Đã vắng người sang những chuyến đò.

    Tuy nhiên nói đến trăng nhất là ánh trăng thu mà không nói đến thi sĩ Hàn Mạc Tử là một sự thiếu sót vô cùng trọng đại.

    Ta hãy nghe Hàn Mạc Tử nói về trăng thu qua những câu thơ bảy chữ với lối nhân cách hóa làm cho ta có cảm tưởng như người đẹp Hằng Nga đang rón rén dời gót ngọc vào nhà ai giữa đêm thu trăng sáng:

    Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối

    Gió thu lọt cửa cọ mài chăn

    hay là:

    Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm

    Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe

    Ngoài Lưu Trọng Lư, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu ra, ta cũng thấy rất nhiều nhà thơ nói về ánh trăng thu. Sau đây là một số bài thơ của một vài thi nhân đều ca tụng ánh trăng thu qua những dòng thơ đủ các thể loại:

    Lòng anh giếng ngọt trong veo

    Trăng thu trong vắt, biển chiều trong xanh

    Lòng em như bụi kinh thành

    Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe.

                                              (Nguyễn Bính)

    Nước biếc trông như tầng khói phủ

    Song thưa để mặc bóng trăng vào

                             (Nguyễn Khuyến)

    Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

    Trần thế em nay chán nữa rồi

                                       (Tản Đà)

    Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,

    Bừng mắt trông sương gội cành ngô

    Lạnh lùng thay, bấy chiều thu,

    Gió may hiu hắt trên đầu tường vôi

         (Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch)

    Vi lô san sát heo may

    Một trời thu để riêng ai một người

    Dặm khuya ngất tạnh mù khơi

    Thấy trăng mà thẹn những lời non sông

    Rừng thu từng biếc chen hồng

    Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn!

                                              (Nguyễn Du)

    Đêm thu gió lọt sông đào

    Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời

                                            (Nguyễn Du)

    Hoa xuân nọ, còn phong nộn nhị,

    Nguyệt thu kia, chưa hé hàn quang

                                    (Ôn Như Hầu)

    Nếu mùa thu có lá vàng rơi rụng, có trăng thu huyền ảo thì cũng có nắng thu nhẹ lướt trên đồi. Nắng mùa thu không gay gắt rực lửa như mùa hạ trái lại rất mát dịu trong lành, nhất là những lúc trời xanh mây trắng nắng hồng. Đi dưới nắng thu người ta thấy tâm hồn rất thoải mái lâng lâng, nhất là những lúc trời chiều nhạt nắng có lá vàng bay bay rồi rụng khắp phố phường. Nhiều cặp tình nhân thích đi dưới nắng thu để thưởng thức cái vẻ đẹp của mùa thu, nhặt những lá vàng rơi rồi nhìn những hàng cây khẳng khiu chỉ còn những cành trụi lá dọc hai bên đại lộ lúc chiều tà.

    Ai cũng biết rằng các thi nhân khi nói về mùa thu thường không quên đề cập đến nắng thu. Nhà thơ Chế Lan Viên đã làm cho ta ngạc nhiên khi viết mấy câu thơ liên quan đến nắng thu như sau:

    Chao ôi! thu đã tới rồi sao?

    Thu trước vừa qua mới độ nào

    Mới độ nào đây hoa rạn vỡ

    Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao.

    Nhưng ngạc nhiên hơn nữa là hai câu thơ đầy nhạc tính của nhà thơ Bích Khê sau đây làm cho ta cảm thấy thích thú khi đọc lên vì nghe như một giai điệu tuyệt vời:

    Ô hay buồn vương cây ngô đồng

    Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.

    Dĩ nhiên, mỗi nhà thơ diễn tả vẻ nắng thu một cách khác nhau, nhưng hầu hết đều ca ngợi nắng thu như là hình ảnh tuyệt đẹp giữa gió chiều.

    Nhà thơ Xuân Diệu cũng nói về nắng thu với hai câu thơ thất ngôn đầy lưu luyến trữ tình:

    Nõn nà sương ngọc quanh thềm dậu

    Nắng nhỏ bang khuâng chiều lỡ thì

    Nhưng nếu ai đã đọc mấy câu thơ sau đây của nhà thơ Trúc Ly đều cảm thấy hồn mình xao xuyến bâng khuâng:

    Tôi đứng bên nầy bờ dĩ vãng

    Thương về con nước ngại ngùng xuôi

    Những người con gái bên kia ấy

    Ai biết chiều nay có nhớ tôi

    Tôi muốn hôn bằng môi của em

    Mùa thu tha thiết nắng hoe thềm

    Ngoài ra ta còn thấy rất nhiều nhà thơ khác cũng đã nói về nắng thu với những dòng thơ thật đẹp và thật buồn:

    Chiều nay nắng nhạt luyến chân đồi

    Hơi lạnh tàn thu giục lá rơi

    Sương xuống chiều đi lòng vắng vẻ

    Thê lương thêm bận khúc ly hoài.

    hay là:

    Hát bài hát ngô nghê và êm ái

    Bên sườn non mục tử cưỡi trâu về

    Nắng chiều rây vàng bột xuống dân quê

    Lúa chín đỏ theo gió nồm sắp mái.

                        (Nam Trân Nguyễn Học Sỹ)

    Nếu những hình ảnh đẹp của mùa thu là lá vàng rơi, là ánh trăng thu giữa đêm khuya thanh vắng, và nắng chiều thu trong buổi hoàng hôn, thì hình ảnh buồn nhất của mùa thu là mưa thu. Chính những giọt mưa thu đã làm cho lòng người lạnh lẽo, u buồn, làm cho lòng người hoang vắng sầu thương, bơ vơ giữa thế giới mưa rơi buồn bã.

    Trước cảnh mưa thu ảm đạm ở ngoài bệnh viện, nhạc sĩ tài hoa Đặng Thế Phong đã xúc động rồi sáng tác ngay bản nhạc “Giọt mưa thu” trước khi vĩnh biệt trần gian để lại cho đời những giọt lệ thu sầu thương nức nở, những giọt lệ tình ai oán lâm ly: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ… …”

    Bởi vậy nói đến mưa thu là nói đến một trong những cảnh vật buồn bã nhất của trần thế. Đọc mấy câu thơ sau đây của Bà Huyện Thanh Quan, ta thấy cảnh mưa thu thật là tiêu điều buồn bã:

    Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa

    Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ

    Xanh um cổ thụ tròn xoe tán

    Trắng xóa tràng giang phẳng lặng tờ.

    Hay hai câu thơ sau đây của nhà thơ Xuân Diệu cũng cho ta thấy cảnh lặng lẽ u buồn:

    Gió thầm, mây lặng, dáng thu xa

    Mới tạnh mưa trưa chiều đã tà

    Tuy nhiên nếu trăng thu, nắng thu, mưa thu là những đề tài bất hủ cho các văn thi sĩ, nhạc sĩ lấy đó để sáng tác thì sương thu là một đề tài không kém quan trọng để các thi nhân dệt thành thơ. Vào những lúc trời sáng tinh sương, ai đã từng ra sau vườn, đều trông thấy những giọt sương đọng trên cành cây, ngọn cỏ giống như những hạt kim cương lóng lánh đẹp tuyệt vời. Cho đến ngày hôm nay, rất nhiều người Việt nam đã thuộc lòng đoạn văn của nhà văn Thanh Tịnh tả về cảnh sương thu: “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi, dẫn tôi đi trên con đường làng dài và hẹp”. Một nhà thơ nổi tiếng như sóng cồn một thời vang bóng đã ca ngợi sương thu qua bài thơ “Sương rơi”. Đó là thi sĩ Nguyễn Vỹ với bài thơ hai chữ đã để lại cho đời một tác phẩm bất hủ về sương thu:

    Sương rơi

    Nặng trĩu

    Trên cành

    Dương liễu…

    Nhưng hơi

    Gió bấc

    Lạnh lùng

    Hiu hắt

    Thấm vào

    Em ơi,

    Trong lòng

    Hạt sương

    Thành một

    Vết thương!..

    Rồi hạt

    Sương trong

    Tan tác

    Trong lòng

    Tả tơi

    Em ơi!

    Từng giọt

    Thánh thót,

    Từng giọt

    Điêu tàn

    Trên nấm

    Mồ hoang!..

    Rơi sương

    Cành dương…

    Liễu ngã

    Gió mưa

    Tơi tả

    Từng giọt,

    Thánh thót..

    Từng giọt,

    Tơi bời,

    Mưa rơi,

    Gió rơi,

    Lá rơi,

    Em ơi!…

    Như đã được trình bày ở trên, mùa thu là mùa có lá vàng rơi lác đác, có trăng thu mờ ảo giữa đêm buồn, có những giọt mưa rơi thánh thót thật lâm ly. Đã thế, nhiều lúc ánh nắng chiều thu làm cho người lữ hành thêm cô độc bâng khuâng, luôn luôn cảm thấy như xa vắng lạc loài như biệt ly hiu quạnh.Vì thế mà nhiều người đã cho rằng, mùa thu là mùa của biệt ly, của xa cách nên tình thu thường nức nở nghẹn ngào. Mùa thu là mùa nhớ nhung từ đó và cũng là nhung nhớ từ đây. Thế nên nói đến mùa thu là nói đến biệt ly nhung nhớ, là nói đến ngăn cách xa nhau, là nói đến chia ly buồn bã và lắm lúc nói đến vĩnh biệt ngàn đời để rồi “nghìn trùng xa cách người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười”.

    Sau đây, ta hãy nghe các thi nhân Việt nam nói về sự biệt ly, sự nhung nhớ cũng như những nỗi u buồn giữa mùa thu:

    Mây vẫn từng không chim bay đi

    Khí trời u uất, hận chia ly

    Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

    Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.

                                    (Xuân Diệu)

    Hay những dòng thơ lục bát đầy vẻ âm u, tiêu điều của Huy Cận:

    Non xanh ngây cả buồn chiều

    Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.

    Hoặc những câu thơ đầy nhung nhớ quằn quại giữa mùa thu:

    Chao ôi! mong nhớ! ôi mong nhớ

    Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.

                                   (Chế Lan Viên)

    Hay hình ảnh xa vắng biệt ly của người chinh phu trong lòng người cô phụ:

    Em không nghe rạo rực

    Hình ảnh kẻ chinh phu

    Trong lòng người cô phụ.

                     (Lưu Trọng Lư)

    Hoặc là những câu thơ đầy nỗi nhớ thương của thi nhân:

    Chẳng được như hoa vướng gót nàng 

    Cõi lòng man mác giá như sương!

    Ta về nhặt lấy hoa thu rụng

    Đặng giữ bên lòng nỗi nhớ thương.

                                         (Thái Can)

    Nhưng sự biệt ly đớn đau nhất hay nỗi nhớ nhung quằn quại triền miên cũng như sự khổ đau cay đắng suốt đời mà ta có thể thấy được là những dòng thơ nức nở lệ nhòa của nữ thi sĩ T.T.KH, một nhà thơ đã sáng tác nên những bài thơ bất hủ ngàn năm và đã trở thành huyền thọai trong thi ca Việt Nam. Ta hãy nghe nhà thơ T.T.KH nức nở những điệp khúc tình thu sau đây:

    Anh ạ, tháng ngày xa quá nhỉ?

    Một mùa thu cũ một lòng đau

    Ba năm ví biết anh còn nhớ

    Em đã câm lời có còn đâu!.

    hay là:

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi

    Mà từng thu chết từng thu chết

    Vẫn giấu trong tim một bóng người.

    Tóm lại qua thi ca Việt Nam, ta thấy hầu hết các thi nhân nước Việt đều nói đến mùa thu, ca ngợi mùa thu vì mùa thu có những đêm trăng mờ ảo, có những lá vàng rơi tuyệt đẹp, có những giọt mưa thu thánh thót rơi thật lâm ly, bi thảm v.v… Và cũng vì mùa thu là mùa của ngăn cách, của ly biệt, là mùa của nức nở nghẹn ngào nên các thi nhân Việt Nam không ai mà không xúc động khi thấy mùa thu đến. Vì vậy, qua thi ca Việt Nam, ta thấy nhiều nhà thơ đã để lại cho đời những bài thơ trữ tình bất hủ về mùa thu.

    Dương Viết Điền