NGHIÊN CỨU,  Viet-Hải

QUÊ HƯƠNG LÀ GÌ? Ý NGHĨA

Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My nghiên cứu và sưu tầm

Việt Hải khởi đầu với thi tập “Quê Hương Còn Đó” của Nữ Sĩ Dương Hồng Anh

Tôi nhận thi phẩm mới của nữ sĩ Dương Hồng Anh là Quê Hương Còn Đó, tôi miên man nghiền ngẩm, cuộc sống ly hương hơn nửa thế kỷ, trong tận đáy lòng ngậm ngùi thương nhớ. Như vậy, chúng ta hãy tự tìm hiểu về ý niệm quê hương.

Trong ý tưởng chung chung, quê hương hiện tại mang theo trong tâm tưởng  của đại chúng: Quê hương có thể được xem như nơi ta mở mắt chào đời, nơi nuôi ta khôn lớn. Quê hương tiềm ẩn trong ký ức nên rất khó quên. Lòng yêu mến quê hương trong danh tác “Tâm Hồn Cao Thượng” (Les Grands Coeurs, Cuore (Heart), 1886) của văn hào người Ý, Edmondo de Amicis, tác giả kể về lòng yêu nước và thương quê hương của cậu bé Thành Padova đã để lại một dấu ấn sâu sắc của một thuở đã qua cho chúng ta.

Đi xa hơn nữa khi nghĩ về vai trò của quê hương qua ba yếu tố sau:

  • Quê hương là mảnh đất chúng ta sinh ra, lớn lên, trau dồi bản thân và mang trong mình nhiều ước mơ, khát vọng để giúp đời, giúp người.
  • Mỗi quê hương có nền văn hóa riêng, giao thoa độc đáo của văn hóa từng vùng miền, đóng góp vào đa dạng nền văn hóa của dân tộc.
  • Quê hương là nơi con người trở về sau những khó khăn, mang lại cảm giác thanh thản và yên bình.

Quê hương không chỉ là nơi chúng ta lớn lên, mà còn là nơi mà chúng ta trở về sau những khó khăn và sóng gió trong cuộc sống. Mỗi người khi xa quê đều cảm nhận được sự thanh thản, yên bình bởi không khí quen thuộc và con người chân chất tại quê hương. Mỗi quê hương mang một bản sắc riêng, nuôi dưỡng tâm hồn con người với sự đa dạng phong phú. Mỗi quê hương cũng có một nền văn hóa riêng. Khi ta trưởng thành, ta mang theo nét đặc trưng của quê hương đi nơi khác, sẽ có sự giao thoa độc đáo giữa các nền văn hóa từng vùng miền, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.

Sự nhớ nhung, suy tưởng miên viễn về quê xưa, ấy là một tình yêu quê hương. Đất nước là tình cảm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, nó đã trở thành mạch nguồn, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài văn học dân tộc. Quê hương là nơi ta sinh ra, lớn lên và để trở về. Qua từng trang văn, trang thơ, chúng ta đã cảm nhận được những dòng cảm xúc chân thành, mộc mạc, tình yêu quê hương tha thiết của các nhà thơ nhà văn. Mỗi con người sau khi lớn lên, trưởng thành, vươn mình đến những vùng đất mới nhưng tấm lòng luôn hướng về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Biểu hiện của tình yêu quê hương thực sự rất nhiều.

Hãy xem thơ Dương Hồng Anh:

Tháng Tư nhớ quê hương

Mặt trời đi vắng hôm nay

Hoa cam hoa bưởi đếm ngày tha hương

Năm mươi năm mấy đoạn trường

Bể dâu biến đổi còn vương suối hồn

Nhìn theo vách cỏ mờ sương

Lao xao nghe gió bên đường gọi thơ

Bên hiên thanh vắng thẫn thờ

Đem tâm tình dệt ước mơ cuối mùa

Tháng tư cây cỏ ngóng chờ

Mai về thềm cũ ươm thơ thanh bình

Tháng tư khung cửa buồn tênh

Cánh chim xa xứ bồng bềnh nhớ quê

Biển Đông gợn sóng sơn khê

Bâng khuâng tâm sự đường về hỏi ai

Vần thơ lục bát trải dài

Nhớ thương nguồn cội u hoài cung tơ

Quê hương: Tiếng gọi thân thương ấy mỗi khi cất lên đều gợi ra những kỷ niệm tuổi thơ tươi đẹp, khơi dậy những cảm xúc bình dị, thân thuộc nhưng cũng thiêng liêng, đẹp đẽ nhất trong tâm hồn và trái tim của mỗi con người. Quê hương là miền nhớ, miền thương và là thế giới tình cảm đong đầy, ấm áp. Quê hương là nơi chúng ta được sinh ra ra và lớn lên, bởi vậy mà khi nhắc đến quê hương người ta thường nhớ về những gì thân thuộc, gần gũi nhất.

Dù cuộc sống có bao đổi thay, cuộc đời xoay vần khiến con người trở nên mệt mỏi thì quê hương vẫn thủy chung ở đó, mãi là chùm khế ngọt, là con đường đến trường thân thương và là vòng tay ấm áo, che chở đón chúng ta trở về. Và quê hương luôn là mảnh đất mà chúng ta gắn bó trong suốt cuộc đời, mang trong mình những kỷ niệm đẹp khó quên. Mỗi người có một quê hương riêng, và mỗi quê hương có một bản sắc khác nhau, nuôi dưỡng những tâm hồn con người đa dạng và phong phú. Tình yêu quê hương không phải là tình cảm trừu tượng, nó được biểu hiện rất cụ thể và rõ nét.

Theo nhà văn người Mỹ Dos Parsons đã từng nói một câu rất hay:

“Bạn có thể khiến mọi người rời bỏ quê hương họ,

nhưng bạn không thể cướp mất quê hương trong trái tim họ.”

Thật vậy, quê hương trong miền ký ức của mỗi người có luôn là những gì giản đơn, mộc mạc nhưng cũng đầy thiêng liêng và đẹp đẽ. Tình yêu quê hương không ngọt ngào, trong trẻo mà nó nhẹ nhàng, sâu lắng nhưng vẫn khiến con người ta phải dâng lên những niềm xúc cảm khôn nguôi, khắc khoải mỗi khi nhắc đến. Tình yêu quê hương không hơn không kém là thứ tình cảm mật thiết và thiêng liêng nhất của mỗi người. Khi nữ sĩ mơ về quê xưa trong bài thơ:

MƠ VỀ HÀ NỘI

Hà Nội ơi! Hà Nội đâu

Nắng lên cho sáng tươi mầu mắt xưa

Cho thơ nở giữa vườn thơ

Lăn theo ngọn bút hương xưa gieo vần

Hướng về cố lý xa xăm

Ngàn phương gió lộng cung đàn rung tơ

Tơ đàn xao xuyến hồn thơ

Vẫn còn đêm trắng thẫn thờ gió bay

Vẫn còn gối mộng trên tay

Cỏ cây hoa lá nhắc ngày tha hương

Tình quê lãng đãng thềm sương

Mơ về Hà Nội, một phương tâm tình.

Quê hương còn là những miền ký ức đẹp đẽ của tuổi thơ, nơi đó luôn hiện hữu hình ảnh của cha, của mẹ, của những con người mà ta vẫn hằng yêu quý và nhớ đến. Tình yêu quê hương là thứ tình cảm bản năng, tự nhiên, xuất phát từ sự gắn bó và tình cảm sâu nặng, da diết của mỗi người đối với quê hương. Đó là thứ tình cảm đầu tiên được hình thành trong tiềm thức của mỗi người ngay từ lúc ta chỉ vừa mới biết nói, biết đi. Yêu quê hương là yêu những gì giản đơn, bình dị nhất, yêu gốc rễ, cội nguồn, và là những nét chấm phá đầy tính thi vị trong những bài thơ thấm đượm tình quê hương như bài “Quê hương” của Tế Hanh, “Hà Tiên” của Lê Dinh, “Quê tôi” của Nguyễn Bín…

“Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người.”

Tình yêu quê hương, đất nước luôn hiện hữu trong trái tim mỗi người, trở thành mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy văn học dân tộc, theo ý nghĩa sâu sắc và thiêng liêng. Quê hương là nơi mỗi con người cất tiếng khóc chào đời, là miền đất đầu tiên nâng bước ta trên hành trình làm người. Trong dòng chảy không ngừng của cuộc sống hiện đại, con người có thể đi rất xa, sống ở nhiều vùng đất khác nhau, nhưng quê hương vẫn luôn hiện diện như một phần máu thịt, âm thầm chi phối suy nghĩ, tình cảm và cách sống của mỗi người. Bởi vậy, vai trò của quê hương đối với cuộc đời con người là vô cùng sâu sắc và bền vững. Tình yêu quê hương không chỉ là nỗi nhớ thầm lặng mà còn là động lực thúc đẩy con người sống có ích. Ý thức về nguồn cội khiến mỗi người biết trân trọng những gì mình đang có và mong muốn đóng góp cho cộng đồng nơi mình sinh ra.

Bây giờ, thử xem bài viết này như sự tản mạn thi ca Dương Hồng Anh khi đọc thi tập Quê Hương Còn Đó của bà. Do đó yếu tố thi ca sẽ được bàn rất nhiều qua nhiều góc cạnh, và tư tưởng khác nhau. Theo định nghĩa thơ ca, đó là thể loại văn học, sử dụng phương thức trữ tình, nhưng lại sử dụng những từ ngữ biểu cảm đa dạng để thể hiện lên tiếng nói, tâm hồn của người viết. Biết bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu nhà thơ đã từng đã thể ước nguyện, tấm lòng chân thành đẹp đẽ của nhà thơ khi gieo các vấn thơ hay cho đời.

Còn nói về nguồn gốc của thơ thì thơ cũng như bất cứ một loại hình nghệ thuật nào khác là tấm gương phản chiếu hiện thực đời sống, qua đó thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả. Các nhà thơ làm thơ khi tình cảm dâng trào mãnh liệt trong trái tim, họ có nhu cầu muốn được sẻ chia, tìm được sự đồng điệu từ phía người đọc. Thơ là tiếng nói của tình cảm mãnh liệt đã được ý thức. Nhà thơ không chỉ muốn chia sẻ, bộc lộ tình cảm của cá nhân mình, mà muốn lan truyền những xúc cảm ấy tới trái tim người đọc, đem đến cho họ những xúc cảm mới. Từ đó, thơ kết nối những tâm hồn người đọc đến với nhau, cùng hướng đến những giá trị tốt đẹp. Bởi thế mà mỗi bài thơ phải mở tới tình yêu, đưa con người đến gần với nhau hơn.

Hồng Anh nữ sĩ trong thi tập này còn cho thi ca dưới phạm trù thiền thi. Thơ thiền rất thi cảm, mang chất thiền tĩnh, trầm mặc. Thơ Thiền cũng được hiểu như là một thể loại thơ được hình thành từ triết lý Thiền, nơi người viết tìm kiếm sự bình yên và sự kết nối sâu sắc với thế giới xung quanh thông qua từng vần thơ. Những bài thơ Thiền không tập trung vào hình thức, mà chú trọng vào cảm xúc và suy tư của tác giả về cuộc sống, sự vô thường và bản chất thật sự của con người.

Trong một ý nghĩa khác; Thơ thiền thiên về thiên nhiên thủy mặc, hay Thiền tính tâm linh. Thơ Thiền có thể là các bài kệ là thi phú bao hàm cả kệ và thơ, nêu lên một triết lý, một quan niệm thiền hay một bài học thiền nào đó hoặc vừa ảnh hưởng thiền vừa mang rung động thi ca có tính trần thế. Thơ thiền là thơ của các nhà sư và của cả những người không tu hành nhưng am hiểu, yêu thích triết lý Phật học, bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếp giáo lý, hoặc cảm xúc hay tâm lý Thiền tĩnh.

Trích thơ Hồng Anh nữ sĩ:

DƯỚI TRỜI XUÂN ẤM

Gió reo sóng hát hoa cười

Dưới trời xuân ấm tôi ngồi se tơ

Xuân đi trên những vần thơ

Tình người lữ khách giấc mơ xa vời

Rung rinh sợi nắng vàng rơi

Đón xuân pháo nổ đầy trời sắc hương

Khai xuân nâng chén rượu nồng

Nghiêng tay bút thảo mấy giòng thơ say

Hoa tươi thắm nở trời mây

Bay bay theo gió giăng đầy ước mơ

Trở về năm tháng xa xưa

Khung trời bỏ ngỏ giấc mơ chập chờn…

Kế tiếp xin dẫn chứng cổ thi thiền triết, thiết tưởng nên có chút ghi nhận về Mãn Giác Thiền Sư. Ngài sinh năm 1052 và mất năm 1096, Mãn Giác thiền sư được xem là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thời Lý Trần. Ngài xuất gia từ nhỏ và rất được vua Lý Nhân Tông mến chuộng. Năm bốn mươi lăm tuổi, ngài gọi tăng chúng đến nghe ngài đọc bài kệ. Đọc xong, ngài ngồi kiết già thị tịch. Bài kệ có tên Cáo Tật Thị Chúng.

Cáo Tật Thị Chúng không chỉ là một thi kệ xuất sắc, mà còn được xem là một tuyên ngôn triết học tiêu biểu thuộc thế kỷ XI của nước ta. Bài thơ mượn cảnh thị tình, miêu tả thực tại bằng hình ảnh đơn giản, sinh động, là cái nhãn tiền, sờ sờ trước mắt, tự nhiên, như nhiên, trực chỉ tâm chí, khai phóng nhân sinh.

Cáo Tật Thị Chúng là bài kệ chỉ vỏn vẹn sáu câu. Hai câu đầu, đăng đối, mô tả quy luật tuần hoàn của thời gian, của thay đổi bốn mùa. Hai câu kế, viết theo cấu trúc biền ngẫu, bàn về chuyện đời, chuyện người. Hai câu kết là tư tưởng, là quan niệm về vạn vật, về cuộc sống cõi nhân gian:

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tùng đầu thiện lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Dịch nghĩa

Xuân đi, trăm hoa rụng

Xuân đến, trăm hoa nở

Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt

Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu

Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết

Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân.

Dịch Thơ

Xuân đi, trăm hoa rụng

Xuân đến, trăm hoa cười

Trước mắt, việc đi mãi

Trên đầu, già đến rồi

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai.

Nhất chi mai, hay Nhị Độ Mai… “Nhất chi mai” trong bài thơ được dịch ra là “một nhành mai”. Nhưng Nhất Chi Mai, còn là tên của một loại hoa rất đặc biệt, chúng có đến hai lần nở hoa trong mùa xuân. Lần nở hoa đầu tiên là lúc giáp Tết, và đó được xem là lần nở phụ. Mùa hoa chính là vào tháng hai âm lịch. Khi những cành hoa mai, hoa đào đã tàn phai và rụng hết, thì Nhất Chi Mai, hay còn gọi là Nhị Độ Mai, lại thay áo mới, nở ra những bông hoa trắng muốt, lần thứ hai.

Là tư tưởng Nhất Chi Mai.

Mãi xuân. Hay nói khác đi, mùa xuân của đất trời, mùa xuân trong lòng người, bất diệt!

Khi mùa xuân về là thời gian cho không gian dất trời khai mở, bông hoa khoe hương, phô sắc, thi ca Hồng Anh như sau trong bài thơ Cội Mai Già.

Ngày ngắn đêm dài nghe gió rơi

Thềm xưa ngõ nhỏ vắng môi cười

Cội mai già có còn ngồi đợi

Cố nhân về nâng cánh hoa tươi

(Dương Hồng Anh)

Thi ca về 2 loai hoa mai và dào của Hồng Anh nữ sĩ như sau:

Cáo tật thị chúng 告疾示眾

Cách đây hơn một nghìn năm, Mãn Giác thiền sư nước Việt đã viết:

   “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

   Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”.

Nghĩa là:

   “Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết

   Đêm qua sân trước một nhành mai”.

告疾示眾 

春去百花落,

春到百花開。

事逐眼前過,

老從頭上來。

莫謂春殘花落盡,

庭前昨夜一枝梅。

Cáo tật thị chúng

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tùng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Dịch nghĩa

Xuân đi, trăm hoa rụng,

Xuân đến, trăm hoa nở.

Việc đời theo nhau ruổi qua trước mắt,

Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu.

Đừng cho rằng xuân tàn thì hoa rụng hết,

Đêm qua, một cành mai đã nở trước sân.

Nhành mai ấy đã để lại một khoảng lặng thi ca từ thế kỷ XI đến bây giờ. Hiện vẫn còn đang nở trước cửa Hoàng thành Hà Nội. Cái khoảng lặng ấy dù cách xa ngàn vạn dặm thời gian vẫn làm nên sự bất ngờ với người đọc bình thản nhất.

Xuân qua, trăm hoa rụng,

Xuân tới, trăm hoa cười.

Trước mắt, việc đi mãi,

Trên đầu, già đến rồi.

Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết,

Đêm qua sân trước một nhành mai.

Hay, Hồng Anh nữ sĩ có bài thơ ở nơi trang (96) rất ý nghĩa nghe tựa như thiền thi thủy mặc:

CỘI MAI GIÀ (老梅樹)

Ngày ngắn đêm dài nghe gió rơi

Thềm xưa ngõ nhỏ vắng môi cười

Cội mai già có còn ngồi đợi

Cố nhân về nâng cánh hoa tươi

Dương Hồng Anh (楊紅英)

Đấy là thơ về Hoa Mai của Nữ sĩ Dương Hồng Anh. Trong làng thi ca Việt, còn có những danh thi nhân sáng tác thơ hoa mai khác nữa. Hoa Mai trong thơ Lê Thánh Tôn, Mãn Giác thiền sư, Chu Mạnh Trinh, Trần Nhân Tông hay Sương Nguyệt Anh mang thanh âm hoa của mùa xuân, hoa chuyển mùa, hay hoa về thiền triết tính, về thiên nhiên, và cuộc sống.

Cây Mai Già là bài thơ của nhà thơ (vua) Lê Thánh Tông như sau:

CÂY MAI GIÀ (老梅樹)

Dòng dõi Giang Lăng tiếng đã đồn,

Già còn hơn nữa thuở còn non.

Xuân thêm cốt cách, hương càng bội,

Tuyết giúp tinh thần ngọc hãy còn

(黎聖宗)

Bài thơ khác của vua Lê Thánh Tông thuộc loại thiền thi:

Hoa Mai (梅花)

Trội cành mai chiếm một chồi,

Tin xuân mây mẩy điểm cành mai.

Tinh thần sáng thủa trăng lạnh,

Cốt cách đông khi gió thôi.

(黎聖宗)

Hay, Thi khảo dị:

Trội cành nam chiếm một chồi,

Tin xuân mãi mãi điểm cây mai.

Tinh thần sáng, thuở trăng tĩnh,

Cốt cách đông khi gió thôi.

Thềm xưa vẫy gọi mấy vần thơ reo

Lênh đênh ngày tháng rong rêu

Tao nhân mặc khách đàn ca đón chào

Trời mây lãng đãng, hương đưa ngạt ngào

Tình người lữ khách giấc mơ xa vời

Đón xuân pháo nổ đầy trời sắc hương

Nữ sĩ Dương Hồng Anh cho những áng thơ mang âm hưởng tựa như thi triết tính hay thiền thi về thiên nhiên môi trường xung quanh.

BÂNG KHUÂNG DÁNG CHIỀU

Thu đi dệt sợi tơ vàng

Mang theo nỗi nhớ mơ màng xa xăm

Mở trang thơ cũ tần ngần

Hướng về cố lý bâng khuâng dáng chiều

THƠ TÔI

Thơ tôi là những hao gầy

Những đêm trăn trở, những ngày vẩn vơ

Nhìn đời nửa thực nửa mơ

Nghiêng tay mực rỏ vần thơ cuối mùa

CHUYỂN MÙA

Bóng chiều nhè nhẹ lướt bên song

Nhạt nắng xuyên qua mấy bụi hồng

Se lạnh hàng cây thưa thớt lá

Thì thào gió mách sắp sang đông

ĐỐT NẾN LÀM THƠ

Tuổi đời lắng đọng sương pha tóc

Nhạc thơ tao nhã truyện hàn huyên

Bốn mùa hoa lá duyên văn nghệ

Đời có gì hơn có bạn hiền…

Mark Twain ví von:

“Tuổi tác là vấn đề của tâm trí hơn là thể chất.

Nếu bạn không bận tâm, thì nó không thành vấn đề.”

Hiểu được sự khôn ngoan trong câu nói mới là quan trọng. Những lời của Twain thách thức sự ám ảnh của xã hội chúng ta về tuổi trẻ. Trong khi nhiều nền văn hóa đẩy người lớn tuổi ra rìa, Twain cho rằng cách chúng ta nghĩ về tuổi già quan trọng hơn những thay đổi về thể chất. Câu nói của ông nhắc nhở chúng ta rằng tuổi tác không chỉ nên được đánh giá dựa trên vẻ bề ngoài hay những định kiến. Điều đáng nói là tuổi già không tự động dẫn đến sức khỏe tâm thần kém, bất chấp những gì nhiều người nghĩ.

Những người cao tuổi chấp nhận cách suy nghĩ này, và rồi các nghiên cứu cho thấy người lớn tuổi phát triển các kỹ năng theo thời gian để nhận được sự tự chăm sóc cần thiết. Họ cũng có nhiều thời gian hơn để tập trung vào sức khỏe tinh thần của mình do sự bương chải, tự thích ứng, như qua thi ca, hay những sở thích lành mạnh cùng bằng hữu.

Bài “Đốt Nến Làm thơ” (trang 87) phản ảnh tư tưởng của Mark Twain cững như John Lennon trong những ý nghĩ như sau. Quan điểm vượt thời gian của Mark Twain về tuổi già: Twain đã chia sẻ nhiều suy nghĩ về tuổi già, làm tăng thêm chiều sâu tâm hồn cho câu nói nổi tiếng của ông. Ông nói rằng:

“Nếp nhăn chỉ nên cho thấy những nơi nụ cười đã từng hiện diện”.

Điều này cho thấy chúng ta nên xem những dấu hiệu lão hóa như những dấu ấn của một cuộc sống trọn vẹn chứ không phải là những khuyết điểm cần che giấu. Twain cảm thấy rằng:

“Cuộc sống từng là một câu chuyện cổ tích, nhưng giờ đây tôi nhận ra điều đó cho thấy rằng thời gian trôi qua nhưng vẫn cảm thấy trẻ trung bên trong”.

Theo Frank Lloyd Wright.

“Càng sống lâu, cuộc sống càng trở nên tươi đẹp hơn.”

Câu nói của nhà tư tưởng Lloyd Wright mang một chân lý sâu sắc đối với những người cao tuổi đang tìm kiếm nguồn cảm hứng. Câu nói này nằm trong số những thông điệp truyền cảm hứng nhất dành cho những người đã bước sang tuổi xế chiều. Nó cho thấy quá trình lão hóa có thể giúp chúng ta nhìn thấy vẻ đẹp theo những cách không ngờ tới. Vẻ đẹp mà Wright nói đến xuất hiện trong những khoảnh khắc đơn giản:

Ánh sáng buổi sáng chiếu qua cửa sổ

Những cuộc trò chuyện với người thân yêu

Sự thay đổi của các mùa trong tự nhiên

Điều này cho ta thấy: Triết lý về cuộc sống và tuổi già của Wright và Hồng Anh nữ sĩ dường như chia chung tư tưởng.

Thi sĩ John Lennon chia sẻ tư duy như là:

“Hãy đếm tuổi bằng bạn bè, chứ không phải bằng năm tháng. Hãy đếm cuộc đời bằng nụ cười, chứ không phải bằng nước mắt”.

Nhạc sĩ Lennon cho cảm nghĩ hãy xây dựng các mối tưong quan bạn bè sẽ có ý nghĩa trong những năm tháng tuổi già, trong cuộc sống bằng những khoảnh khắc vui vẻ cho chính mình.

Khánh Lan với sự xuất hiện của thơ trong cuộc sống

Thơ được sinh ra từ trong hiện thực cuộc đời, cái đẹp trong thơ phải mang dấu ấn của cái đẹp trong sự thật đời sống.

Cuộc sống là điểm xuất phát, là đề tài vô tận, gợi nhiều cảm xúc phong phú cho người sáng tác cũng như người thưởng thức nó.

Thơ chính là đối tượng khám phá chủ yếu và cũng là cái đích cuối cùng của thi ca nghệ thuật. Điều này cho ta thấy:

  • Thơ nghệ thuật luôn vận động và phát triển trong sự ràng buộc tự nhiên với đời sống xã hội. Những giá trị nghệ thuật chân chính xưa nay đều là những sáng tác bắt rễ sâu xa trong mảnh đất thực tế của thời đại mình. Thơ chỉ có ý nghĩa thẩm mỹ, chỉ chinh phục trái tim người đọc khi thể hiện những vấn đề, những cảm xúc mà con người hằng quan tâm, trăn trở.
  • Nếu thơ không bắt nguồn từ hiện thực, xa rời cuộc đời, thoát ly thực tại, thơ sẽ không thể đến với người đọc, không thể tồn tại trong cuộc đời, khi ấy thơ đã tự đánh mất chức năng cao quý nghệ thuật vị nhân sinh của mình.
  • Đối tượng của thơ là thế giới tâm hồn, là tình cảm của con người bộc lộ qua trang giấy. Những cảm xúc, rung động, những suy tư, trăn trở… đều có thể trở thành đối tượng khám phá và thể hiện qua thơ. Vẻ đẹp của thơ thể hiện ở những tư tưởng, tình cảm mà tác phẩm hàm chứa, bởi không có chất liệu trong đời sống thì không làm nên nội dung và giá trị của tác phẩm.
  • Những sự việc trong đời sống mà không âm vang vào tâm hồn, không lay động sâu xa cảm xúc của người nghệ sĩ thì không thể hóa thân thành cái đẹp của nghệ thuật. Chính vì vậy, thơ là cuộc đời nhưng phải được cảm nhận và thanh lọc qua tâm hồn, trí tuệ của thi nhân để thành thơ.

Vì thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, như Ngô Thì Nhậm nhận định rằng: Là thi sĩ phải biểu lộ “xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần”. Xuân Diệu lại khẳng định: “Thơ hay, lời thơ chín đỏ trong cảm xúc”. Thơ trong văn học vốn dĩ phản ảnh đời sống con người, với thơ cuộc sống không chỉ là hiện thực xã hội bên ngoài mà còn là đời sống tâm hồn, tình cảm phong phú của nhiều nhà thơ. Thơ gắn liền với thế giới nội tâm, vẻ đẹp mềm mại của tình cảm con người biểu hiện trong những trang thơ của Puskin như sau qua bài “Mùa xuân mùa của tình yêu” “Весна, весна, пора любви” Thơ Nga – Aleksandr Pushkin:

Mùa xuân mùa đẹp của tình yêu

Mà sao lòng nặng nỗi tiêu điều

Rã rời ngơ ngác trong tâm trí

Hồn lười chẳng thiết thú vui chi

Nguồn thơ xuất phát từ trong tâm hồn của người nghệ sĩ, là những rung động, những cảm nhận tự nhiên. Đó là cả một quá trình thai nghén ý tưởng trong ký ức, nuôi dưỡng cảm xúc trong tâm tư, khiến cho thi nhân “xuất khâu thành thơ” và gởi ý thơ ấy thành lời trên trang giấy. Thơ có khả năng biến những điều bình dị trở nên phi thường. Trong khối óc tinh túy lỗi lạc và tâm hồn lãng mạng, thi nhân đã chuyển đổi cánh hoa, làn gió, giọt mưa trở thành chủ thể của những vần thơ bất hủ.

Thật vậy, qua con mắt của thi sĩ, thế giới hiện ra lung linh, huyền ảo, thậm chí, mỗi vật thể đều có linh hồn, mỗi sự kiện đều ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa. Ta có thể nói: Ngôn từ trong thơ còn có sức mạnh kiến tạo, nó không chỉ mô tả hiện thực mà còn tạo ra một hiện thực mới, một thế giới riêng trong tâm trí người đọc.

Nhận định về thơ, Voltaire cho rằng:

“Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”

Vậy ta có thể kết luận rằng: Thơ là hình ảnh của đời sống tươi nguyên được tái hiện qua lăng kính tình cảm của người nghệ sĩ. Bởi nếu thơ không có tư tưởng, không có tình cảm trong ấy, thì đó chỉ là những lời sáo rỗng, nhạt nhẽo, vô vị, tầm thường, chỉ là những ngôn từ vụng không ý nghĩa. Thơ không chỉ đơn thuần là một nghệ thuật thi ca mà còn là tiếng nói của tâm hồn, nơi những rung động chân thật nhất được cất lên qua ngòi bút, chữ viết.

Thơ gắn liền với nhịp đập của con tim, cảm xúc của tâm hồn. Thơ khẳng định vai trò quan trọng trong việc sáng tạo thơ. Một bài thơ chỉ thực sự có sức sống khi nó được sinh ra từ những rung động mãnh liệt, từ một tâm hồn nhạy cảm biết yêu thương, trăn trở trước cuộc đời.

Về nghệ thuật thì ngôn ngữ trong thơ phải là ngôn ngữ trau chuốt, chính xác, giàu hình tượng và biểu cảm, vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ là vẻ đẹp của toàn bộ hình thức nghệ thuật. Thơ là tình đời, tình người ngân lên trong âm vang ngôn ngữ, kết cấu, hình ảnh, giọng điệu, nhịp điệu…

Chính vì thế, phải chăng: “Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn”

Dưới đây là những nhận định về thi ca của một số danh nhân:

Thơ ca là sự bộc lộ cảm xúc bằng ngôn ngữ. Edgar Allan Poe

Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn. Voltaire

Thơ ca là nơi mà ý nghĩa của lời nói bị phá vỡ để tạo ra ý nghĩa khác. Jacques Derrida

Thơ ca là sự nỗ lực làm cho ngôn ngữ trở nên đáng nhớ hơn. W. H. Auden

Thơ ca là sự giải phóng những nỗi đau thầm kín của con người qua những từ ngữ đẹp đẽ. – Johann Wolfgang von Goethe

Thơ ca là sự vĩnh cửu của khoảnh khắc. – Wallace Stevens

Thơ ca là sự giao tiếp giữa linh hồn và vũ trụ. – Rabindranath Tagore

Thơ ca là sự giải thoát của nỗi buồn. – Charles Baudelaire

Thơ ca là ngôn ngữ của tình yêu. – William Shakespeare

Kiều My nhận định thể loại thơ và thơ trong tâm tư của thi nhân

Thơ là thể loại thiên về gợi ý nên nó phải gắn với sự cô đúc, trong một diện tích ngôn từ ít mà mở ra nhiều cảm xúc rộng lớn. Những điều nhà thơ muốn bộc lộ, ký thác được co nén lại trong ngôn từ giàu sức gợi, hình ảnh giàu biểu tượng.

Chính độc giả trong quá trình khám phá tác phẩm thơ sẽ khôi phục lại những khoảng trống, những chỗ bị “co” lại ấy.

Xuân Diệu mới trong tư tưởng, mới trong cách nghĩ và mới cả trong cách cảm nhận rõ nét nhất qua tác phẩm “Vội Vàng” ông viết năm 1938:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

Hay,

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”.

Thi sĩ đã cố ý đưa vào trong thơ một sáng tạo rất mới, phá bỏ những khuôn khổ, những luật lệ cũ trong thơ xưa. Thường thì người ta khi miêu tả vẻ đẹp của con người, sẽ lấy thiên nhiên làm thước đo chuẩn mực, nhưng Xuân Diệu thì khác, ông mạnh dạn lấy con người làm khuôn mẫu để đo đếm vẻ đẹp của thiên nhiên.

Thơ phải có óc tưởng tượng phong phú. Nhà thơ trong quá trình sáng tác phải có đặc điểm này để không chỉ phản ảnh hiện thực có sẵn mà còn nói lên những điều cần phải nói, để thể hiện ước mơ, hy vọng… Vì thơ là sự thể hiện của trái tim và thế giới tâm hồn, tình cảm phức tạp của con người mà nhà thơ buộc phải liên tưởng, vận dụng triệt để trí tưởng tượng để làm hữu hình hóa những logic tình cảm ấy bằng hình ảnh, hình tượng trong trang viết như R.Tagore đã cho rằng:

“Giống như nụ cười và giọt nước mắt,

bản chất của thơ phản ánh điều gì đó hoàn hảo từ bên trong”.

Hay còn có rất nhiều danh nhân dưới đây đã nhận định:

Thơ chớm nở từ trái tim con người”. (Lê Quý Đôn)

Hãy để tâm hồn thơ xúc động cho cây bút mang đậm linh hồn”. (Ngô Thì Nhậm)

Thơ là sự giao thoa giữa âm nhạc và tư tưởng”. Stéphane Mallarmé

Thơ là cuộc đối thoại giữa linh hồn và lịch sử”. Pablo Neruda

Thơ là ngôn ngữ của trái tim”. William Hazlitt

Thơ là tiếng lòng của một dân tộc”. Victor Hugo

Thơ là sự cô đọng của trí tuệ và cảm xúc”. Aristotle

Thơ là một sự kiện của ngôn ngữ”. Paul Celan

Thơ là sự khám phá những điều kỳ diệu trong cuộc sống thường nhật”. Mary Oliver

Thơ là ánh sáng của trí tưởng tượng”.  Percy Bysshe Shelley

Huy Cận đi lượm nhặt những chút buồn rơi rác trong nhân gian, để rồi sáng tạo nên những hồn thơ ảo não, nhưng ai có ngờ đâu, chỉ với một chút ít cát bụi tầm thường đó, thi sĩ đã đắp lên biết bao nhiêu là châm ngọc. Thật vậy, nỗi buồn trong thơ Huy Cận là châm là ngọc, là nỗi buồn tinh tế và điều ấy được thể hiện rõ nét nhất qua bài thơ “Tràng Giang”:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”

(Tràng giang, Huy Cận » Lửa thiêng, năm 1940)

Hay trong bài thơ Mắt em dưới đây.

Mắt em anh chẳng dám nhìn lâu

Em đẹp, lòng anh bỗng thấy đau

Mới gặp sao mà như nhớ lại.

Hay dan díu tự kiếp xưa nào?

(bài Bâng khuâng, Huy Cận)

Vậy có phải:

Thơ là sự thật làm đẹp lòng”. Khalil Gibran

Thơ là tiếng vọng của vũ trụ”. Rabindranath Tagore

Thơ là khoảnh khắc sự thật”. Virginia Woolf

Thơ là một giấc mơ được viết ra”. Federico García Lorca

Thơ là nụ cười của trí tuệ”. Joseph Joubert

Cái buồn của sự cô độc càng lớn, càng làm nhân lên nỗi nhớ nhà nhớ quê hương từ sâu trong lòng tác giả:

“Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Sở dĩ nói Huy Cận là một nhà thơ đa sầu đa cảm là bởi nếu như Thôi Hiệu trong thơ xưa nhìn bóng chiều, nhìn khói sóng mà động lòng nhớ quê hương, thì ở đây, dù không có tác động của ngoại cảnh, “không khói hoàng hôn” thì Huy Cận của chúng ta vẫn nhớ nhà đến da diết. Có lẽ là bởi, nỗi nhớ ấy vẫn luôn thường trực, vẫn luôn đau đáu trong lòng tác giả bấy lâu nay.

Huy Cận và Xuân Diệu là hai nhà thơ có hai phong cách viết hoàn toàn trái ngược, nhưng đều mang trong từng nét bút những tình cảm sâu sắc muốn gửi gắm đến người đọc. Như vậy người nghệ sĩ phải sống sâu sắc, gắn bó hết mình với cuộc đời chung để những tình yêu mở ra trong ô cửa thơ ca là những tình cảm mang ý nghĩa nhân văn. Đồng thời, người nghệ sĩ cũng phải có thực tài, thực tâm, không ngừng trau dồi năng lực nghệ thuật, phẩm chất thẩm mĩ của mình để mỗi bài thơ không chỉ dạt dào, lắng đọng triết ly, tình cảm mà còn đạt đến độ cô đúc, độc đáo của ngôn từ.

Ngược lại, người đọc cũng phải thực sự sống cùng tác phẩm, mở rộng tâm hồn để trái tim cùng giao thoa nhịp đập với trái tim thi sĩ. Bên cạnh đó, phẩm chất nghệ thuật, sự nhạy bén với cái đẹp và tinh thần sáng tạo không chỉ đòi hỏi ở nhà thơ mà chính bạn đọc trong quá trình khám phá tác phẩm cũng cần đến để cảm thụ vẻ đẹp nghệ thuật một cách hiệu quả nhất, góp phần hoàn thiện đời sống của thi phẩm.

Với người làm thơ, bài thơ là phương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng. Chỉ có cảm xúc chân thành, mãnh liệt mới là cơ sở cho sự ra đời một tác phẩm nghệ thuật chân chính. Cảm xúc càng mãnh liệt, càng thăng hoa thì thơ càng có nhiều khả năng chinh phục, ám ảnh trái tim người đọc. Nhận xét rằng những cảm xúc trong thơ cũng không phải thứ cảm xúc nhàn nhạt. Đó phải là tình cảm ở mức độ mãnh liệt nhất thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút sáng tạo. Nhà thơ phải sống thật sâu với cuộc đời mới có thể viết nên những vần thơ có giá trị của sự trải nghiệm.

Những sinh động sáng tác thơ khi người thi sĩ trước hết phải là người có tâm hồn giàu rung cảm, sống sâu sắc, trọn vẹn với từng khoảnh khắc cuộc đời để có những cảm xúc mãnh liệt, dồi dào trên mỗi trang thơ; cội nguồn của sáng tác văn học, chính là cảm hứng đột khởi trong lòng của nhà văn. Nhu cầu giải thoát và bộc lộ tình cảm chính là nhu cầu thôi thúc đầu tiên của quá trình sáng tác của nhà thơ qua cây cầu ngôn ngữ.

Lamáctin, nhà thơ Pháp tâm sự: “Thế nào là thơ? Đó không phải chỉ là một nghệ thuật, đó là sự giải thoát của lòng tôi”. Thơ là “sự giải thoát của lòng tôi”, thơ là tiếng nói tâm hồn, tình cảm của nhà thơ với bao buồn, vui, ước mơ, hi vọng…Thơ không chỉ là sản phẩm kỳ diệu của nghệ thuật ngôn từ mà thơ là phương tiện giao tiếp, bộc bạch tình cảm của người nghệ sĩ với đời.

Trong ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi cũng khẳng định: “Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói, tức là chữ – để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển khác thường”. Hay theo M. Gorki: “Lời và những dấu hiệu thay cho lời nói”, tức là chữ, chính là phương tiện hữu hiệu nhất, đắc dụng nhất để kết thành thơ vì “yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ”; để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển khác thường: nhà thơ ghi lại trạng thái tâm hồn mình đang có những biến chuyển, rung động sâu sắc, mạnh mẽ, căng thẳng nhưng say mê khác thường.

Những linh động sáng tác thơ nói riêng cũng như sáng tác văn học nói chung là một trạng thái tâm lý, nét thẩm mỹ phong phú và phức tạp, quá trình sáng tạo nghệ thuật đã chuyển tất cả những rung động, nhận thức của người nghệ sĩ về đời sống trở thành những hình tượng nghệ thuật ngôn từ. Đây là một quá trình lao động thầm lặng song cũng đầy vất vả, gian nan trong một niềm say mê vô tận của người nghệ sĩ.

Thơ ca là hơi thở của niềm tin. – Lý Bạch

Thơ ca là tiếng nói của lương tri. – Voltaire

Thơ ca là sự sống. – Octavio Paz

Thơ ca là sự tự do. – Emily Dickinson

Thơ ca là sự đổi mới. – Wallace Stevens

Thơ ca là tình yêu. – William Shakespeare

Thơ ca là trí tưởng tượng. – Samuel Taylor Coleridge

Sáng tạo sẽ đem đến cái mới, công phu tâm huyết sẽ tạo nên sự hoàn hảo và chiều sâu. Văn chương tồn tại bởi nội dung tư tưởng song tồn tại bằng ngôn từ nghệ thuật. Nếu chất liệu ngôn từ không được lựa chọn và gọt giũa, sức biểu đạt của nó kém đi sẽ khiến tư tưởng, tâm huyết của nghệ sĩ không thể hiện được trọn vẹn, tính nghệ thuật của tác phẩm giảm sút, sức hấp dẫn nghệ thuật kém sẽ khiến những giá trị còn lại dù có cũng khó phát huy tác dụng.

Thơ lại càng đòi hỏi điều này vì nó có những đặc trưng mang tính loại biệt (trong phạm vi dung lượng giới hạn, thơ cần biểu đạt một cách sâu sắc, tinh tế tư tưởng, tình cảm, khát vọng bằng hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mỹ và có sức mê hoặc mạnh mẽ). Nguyễn Công Trứ tâm sự: “Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời”, “nợ” vừa là duyên nợ, vừa là trách nhiệm của người cầm bút với thơ ca, “chuốt” là chỉnh sửa, lựa chọn một cách công phu sao cho đạt tiêu chuẩn cao nhất về mặt thẩm mỹ. “Chuốt lời” vì thế sẽ là sự thể hiện của tài năng, cũng là sự thể hiện trách nhiệm của nhà thơ với thơ và với người đọc. Nói tóm lại: người nghệ sĩ phải sáng tác từ những xúc cảm chân thành nhất, tha thiết nhất, phải lựa chọn ngôn từ chính xác nhất, tinh lọc nhất.

Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo, cho nên vì thế, thơ ca cũng đòi hỏi nhà thơ phải in dấu tâm hồn, trí tuệ mình vào đó thật sâu sắc, càng cá thể càng độc đáo, càng hay. Nhờ khả năng sáng tạo tuyệt vời mà các thi nhân luôn tìm ra những cách nói mới về những điều đã cũ. Nếu không có sáng tạo, không có phong cách riêng thì tác phẩm và tác giả đó sẽ không thể tồn tại trong văn chương. Những sáng tạo về hình thức biểu hiện rất phong phú qua thẻ loại, cấu tứ tác phẩm, ngôn ngữ thơ, hình ảnh thi phú.

Thơ ca là sự tĩnh lặng giữa tiếng ồn ào. – Lao Tử

Nhà thơ là người thắp lên ngọn lửa trong tâm hồn người khác. – Victor Hugo

Thơ ca là bản ngã được cất tiếng. – John Keats

Nhà thơ là người giữ gìn vẻ đẹp của ngôn ngữ. – T. S. Eliot

Thơ ca là sự khám phá. – Robert Frost

Thơ có tác dụng nuôi dưỡng tâm hồn con người cho nên ngoài là nơi dừng chân của tâm hồn thì nó còn có tác dụng sâu xa hơn nuôi dưỡng và hình thành nhân cách. Đọc thơ, làm thơ người ta là truyền tải những bài học bằng tình cảm nên có có tác dụng lay chuyển con người làm con người ta vươn tới cái chân, thiện, mỹ; nó tác động cải tạo tư tưởng, đạo đức của con người.

Thơ ca là nơi mà nỗi đau biến thành bài ca. – Kahlil Gibran

Nhà thơ là người biết lắng nghe tiếng thì thầm của gió. – Percy Bysshe Shelley

Thơ ca là sự tinh tế của tâm hồn. – Johann Wolfgang von Goethe

Nhà thơ là người mang đến hy vọng. – Maya Angelou

Xét về nội dung bài thơ này của nữ sĩ Dương Hồng Anh, bà dùng tạo nên giá trị đặc trưng của thơ, là nội dung tình cảm, cảm xúc của thơ. Từ ý nghĩa cụ thể của từ ngữ, có thể hiểu ý kiến của những danh nhân đề cập đến giá trị của thơ từ góc nhìn của người thưởng thức, tiếp nhận thơ: giá trị của thơ là giá trị của những tư tưởng tình cảm được biểu hiện trong thơ. Tình cảm, cảm xúc càng sâu sắc mạnh mẽ, càng lớn lao đẹp đẽ sẽ càng khiến thơ lay động lòng người. Do đó với người làm thơ, bài thơ là phương tiện biểu đạt tình cảm, tư tưởng. Chỉ có cảm xúc chân thành, mãnh liệt mới là cơ sở cho sự ra đời một tác phẩm nghệ thuật chân chính.

Thơ ca là những gì ta thì thầm vào tai vũ trụ. – Rumi

Thơ ca là ánh trăng trên đỉnh núi. – Matsuo Bashō

Thơ ca là bản giao hưởng của ngôn ngữ. – Pablo Neruda

Thơ ca là nơi mà mọi thứ đều có thể xảy ra. – Jorge Luis Borges

Thơ ca là sự tinh túy của nỗi buồn. – Charles Baudelaire

Thơ ca là tiếng chuông của tâm hồn. – Edgar Allan Poe

Thơ ca là cuộc cách mạng của ngôn từ. – Octavio Paz

Thơ ca là sự giải thoát khỏi nỗi sợ hãi. – Audre Lorde

Thơ ca là sự tĩnh lặng của tâm hồn. – Lao Tử

Thơ ca là ánh sáng của trí tưởng tượng. – Samuel Taylor Coleridge

Thơ ca là sự thật làm đẹp lòng. – Kahlil Gibran

Từng tiếng nói trong thơ ca tạo nên sự sống động cho nhũng năng lực mới rất diệu kỳ. Thơ là những rung động và cảm xúc của con người trước cuộc sống được bộc lộ một cách chân tình, tự nhiên. Nhà thơ viết lên những câu trữ tình say đắm làm si mê gây lưu luyến với trái tim tràn đầy tình yêu, với những tâm hồn tình cảm. Nhà văn Vissarion Belinsky đã từng nói: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật. Thơ phát sinh từ những tâm tư, nỗi niềm về cuộc đời. Nhà thơ là những người có tâm hồn vô cùng nhạy cảm, trái tim họ rất dễ rung động.

Thơ ca là sự cảm thông. – John Donne

Thơ ca là sự thật không lời. – Rumi

Thơ ca là tiếng nói của tình người. – Pablo Neruda

Thơ ca là sự biến đổi. – Carl Sandburg

Thơ ca là vẻ đẹp thuần khiết nhất. – Oscar Wilde

Thơ ca là sự thanh lọc tâm hồn. – Plato

Thơ ca là ánh sáng của buổi bình minh. – Lord Byron

Thơ ca là sự thật không cần chứng minh. – William Shakespeare

Thơ ca là sự tự do của tư tưởng. – Emily Dickinson

Những cảm xúc trong thơ luôn là lẽ chân thật hất, vui buồn yêu ghét rõ ràng. Cũng như lòng người có những cũng bậc cảm xúc khác nhau tùy theo hoàn cảnh, thì thơ cũng vậy. Dùng bằng tấm lòng để viết thơ, nên nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã khẳng định, “thơ là tiếng nói thứ nhất”. Nhà thơ là con ong hút nhụy từ những bông hoa của đời sống, không có sự tái tạo tài tình của con ong thì phấn hoa cũng không thể thành mật ngọt. Vì thế nói cho cùng thi thơ ca chính là tiếng nói của  đời sống thực tại của nhân dân, nhập tâm được bao nhiêu là nhờ ở cuộc đời của mình gắn bó bao nhiêu.

Thơ ca là sự thật được viết bằng mực nước mắt. – George Sand

Thơ ca là ánh sáng trong bóng tối của cuộc đời. – Victor Hugo

Thơ ca là tiếng thì thầm của thiên nhiên. – Henry David Thoreau

Thơ ca là sự bay bổng của trí tưởng tượng. – Samuel Taylor Coleridge

Thơ ca là nguồn cảm hứng vĩnh cửu. – Percy Bysshe Shelley

Thơ ca là sự tinh tế của cảm xúc. – Johann Wolfgang von Goethe

Sức Mạnh Của Ngôn Từ Trong Thơ Ca, là ngôn từ là vật liệu cơ bản, là trái tim của thơ ca. Nhưng không phải ngôn từ nào cũng có thể trở thành thơ. Những câu nói hay về thơ thường xuyên đề cập đến cách mà các nhà thơ biến những từ ngữ đời thường thành những viên ngọc quý. Sức mạnh của ngôn từ trong thơ không chỉ nằm ở nghĩa đen mà còn ở nghĩa bóng, ở khả năng gợi hình, gợi cảm, ở nhịp điệu, âm hưởng và những khoảng lặng đầy ý nghĩa.

Thơ ca là lời ca của cuộc sống. – Maya Angelou

Thơ ca là tiếng lòng của nhân loại. – Lỗ Tấn

Thơ ca là phép màu của ngôn ngữ. – Jorge Luis Borges

Thơ ca là sự thật ẩn giấu. – Edgar Allan Poe

Thơ ca là sự hài hòa của âm thanh và ý nghĩa. – Aristotle

Thơ ca là tiếng hát của trái tim, là nơi dừng chân của tinh thần

Thật vậy, mỗi bài thơ đều như một bản nhạc, một bản tình ca sâu lắng, hay một khúc tráng ca hào hùng. Voltare cũng từng nói: “Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cạm” Thơ ca là niềm cảm nhận ban đầu, như là xúc cảm giâu phút chợt dến thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm tới cuộc sống. Như từng nốt nhạc du dương trầm mặc của Bản Sonate Ánh trăng đều khiến lòng người lặng đi vì xúc động. Phải chăng Beethoven đã viết bản nhạc bằng những xúc cảm tinh tế mà mãnh liệt nhất ngay khi nhìn thấy cảnh sống của cha con cô gái mù. Quy luật của nghệ thuật nói chung là bắt nguồn từ dòng tình cảm. Thơ ca cũng thế.

Thơ Ca Như Một Tấm Gương Phản Chiếu Cuộc Đời: Một trong những vai trò quan trọng nhất của thơ ca, được nhiều những câu nói hay về thơ nhấn mạnh, là khả năng phản ánh chân thực cuộc đời. Thơ không đứng ngoài cuộc sống mà hòa mình vào dòng chảy của nó, ghi lại những khoảnh khắc, những cảm xúc, những suy tư của con người trước vũ trụ rộng lớn. Thơ ca là nơi con người tìm thấy sự đồng điệu, tìm thấy chính mình trong những vần thơ của người khác. Khi đọc một bài thơ về tình yêu, nỗi buồn, hay sự cô đơn, chúng ta có thể nhận ra những cảm xúc tương tự trong tâm hồn mình.

Thơ ca cũng là một công cụ mạnh mẽ để ghi lại lịch sử, văn hóa của một dân tộc. Nhiều bài thơ không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mà còn là tài liệu quý giá về đời sống xã hội, phong tục tập quán, và những biến động của thời đại. Goethe từng nói:

“Thơ ca là sự giải phóng những nỗi đau thầm kín

 của con người qua những từ ngữ đẹp đẽ.”

Câu nói này cho thấy thơ ca có vai trò như một liệu pháp tinh thần, giúp con người đối diện và hóa giải những nỗi niềm sâu kín.

Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm. Vậy trước hết, ta hãy cùng nhau tìm hiểu về khái niệm thi ca, vì thơ là tiếng nói của tri âm”. Với Bibolay: “Thơ là thư kí trung thành của trái tim”. Thơ ca là các loại hình sáng tác văn học có đặc điểm ngắn gọn, súc tích. cô đọng. Một bài văn cũng có thể là một bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó súc tích và gây cảm xúc cho người đọc một cách nhanh chóng.

Vì sao lại nói “thơ ca là âm nhạc của tâm hồn”? Là vì vần điệu của nó hay là còn lý do sâu xa nào khác? Phải chăng là bởi, người ta chỉ chọn lọc những gì tinh túy nhất để đưa vào một khúc ca.

Thơ ca là sự tinh khiết của vẻ đẹp. – Oscar Wilde

Thơ ca là sự khám phá những điều chưa biết. – Robert Frost

Thơ ca là sự đồng điệu giữa người và người. – T. S. Eliot

Thơ ca là sự bình yên trong tâm hồn. – Lao Tử

Thơ ca là nghệ thuật của cảm xúc. Mọi những câu nói hay về thơ đều không thể bỏ qua khía cạnh này. Thơ có khả năng nắm bắt những cảm xúc thoáng qua nhất, những rung động sâu kín nhất của trái tim con người và lưu giữ chúng lại một cách vĩnh cửu. Từ niềm vui hân hoan đến nỗi buồn man mác, từ tình yêu nồng cháy đến sự cô đơn tột cùng, sự vĩnh cửu của cảm xúc trong thơ ca còn nằm ở khả năng truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Những bài thơ tình hàng trăm năm trước vẫn lay động trái tim người đọc hôm nay, những bài thơ về quê hương, đất nước vẫn khơi gợi lòng yêu nước mãnh liệt. Điều này chứng tỏ rằng, dù thời đại có đổi thay, dù ngôn ngữ có phát triển, những cảm xúc cốt lõi của con người vẫn không hề thay đổi. Thơ ca là minh chứng sống động cho sự bất biến của tình yêu, nỗi nhớ, niềm hy vọng và cả nỗi đau trong dòng chảy vô tận của thời gian. Nó là di sản tinh thần quý giá mà nhân loại mãi mãi trân trọng.

Thơ ca là sự thấu hiểu. – Mary Oliver

Thơ ca là sự kiên cường. – Langston Hughes

Thơ ca là những giọt nước mắt của linh hồn. – Kahlil Gibran

Thơ ca là sự bất tử của cảm xúc. – John Keats

Thơ ca là cầu nối giữa các thế giới. – Rumi

Thơ ca là tiếng gọi của sự thật. – Walt Whitman

Thơ ca là ánh sáng trên con đường đời. – Victor Hugo

Thơ ca là sự tự do của tâm hồn. – Emily Dickinson

Thơ Ca: Nguồn Cảm Hứng Bất Tận Cho Đời Sống. Thơ ca không chỉ là để đọc, để chiêm nghiệm mà còn là nguồn cảm hứng dồi dào cho mọi mặt của đời sống. Những câu nói hay về thơ thường khắc họa thơ ca như một ngọn hải đăng dẫn lối, một chất xúc tác cho sự sáng tạo và đổi mới. Đối với các ngành nghệ thuật khác, thơ ca cũng là một nguồn cảm hứng vô tận.

Âm nhạc thường lấy lời thơ làm ca từ, biến những giai điệu thành những bản tình ca bất hủ. Hội họa, điêu khắc cũng tìm thấy ý tưởng từ những hình ảnh, biểu tượng trong thơ.

Tóm lại: Thơ ca, với vai trò là tiếng nói của tâm hồn, tấm gương phản chiếu cuộc đời và nguồn cảm hứng bất tận, đã và đang tiếp tục khẳng định vị trí không thể thay thế của mình trong kho tàng văn hóa nhân loại. Mỗi khi ta dừng lại để chiêm nghiệm những câu nói hay về thơ, ta không chỉ thấy được sự phong phú trong cách nhìn nhận về thể loại nghệ thuật này mà còn cảm nhận được sức mạnh vĩnh cửu của ngôn từ trong việc chạm đến những tầng sâu nhất của cảm xúc và tư duy con người.

Thơ ca mãi mãi là cầu nối giữa các thế hệ, là nơi mà vẻ đẹp và sự thật được tôn vinh, nuôi dưỡng tâm hồn và làm cho cuộc sống trở nên đáng sống hơn.

Kết Luận: Qua nhận định của Việt Hải

Nhận định trên đã khẳng định bản chất và giá trị thực sự của thơ ca không chỉ là nghệ thuật của ngôn từ mà còn là tiếng nói của cảm xúc, là bản nhạc vang lên từ những tâm hồn nhạy cảm. Một bài thơ hay không chỉ để đọc mà còn để cảm, để sống cùng nó, để tìm thấy sự đồng điệu trong từng con chữ. Thơ ca sẽ mãi có sức sống nếu còn những con người biết yêu cái đẹp, biết lắng nghe những thanh âm tinh tế của tâm hồn qua từng vần thơ.

Thơ ca, suy cho cùng, chính là tiếng nói của tâm hồn, là giai điệu được cất lên từ những rung động chân thành của con người trước cuộc sống. Một bài thơ chỉ thực sự chạm đến trái tim người đọc khi nó mang theo cảm xúc mãnh liệt, sự đồng cảm sâu sắc và những suy tư tinh tế về nhân sinh. Ý kiến “Thơ ca là âm nhạc của tâm hồn” đã khẳng định rõ bản chất của thơ – một loại hình thức nghệ thuật không chỉ truyền tải ý nghĩa mà còn gợi lên những thanh âm đẹp đẽ trong tâm hồn mỗi người.

Khi đọc một bài thơ, ta không chỉ thưởng thức câu chữ mà còn lắng nghe những giai điệu xúc cảm vang vọng trong từng dòng thơ, để từ đó thêm yêu cuộc sống, thêm trân trọng những giá trị tinh thần mà thơ ca mang lại. Có lẽ, chính nhờ những tâm hồn đa cảm, những trái tim biết rung động với đời, thơ mới có thể trường tồn, trở thành một phần không thể thiếu trong hành trình tâm hồn của nhân loại.

Việt Hải, Khánh Lan, Kiều My nghiên cứu và sưu tầm

Xuân Bính Ngọ, 2026